1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm hình thức và nội dung phần giới thiệu văn bản trên tư liệu văn bản khoa học xã hội

104 996 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm hình thức và nội dung phần giới thiệu văn bản (trên tư liệu văn bản khoa học xã hội)
Tác giả Võ Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 429 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Lời cảm ơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy giáo: PGS.TS Phan Mậu

Cảnh đã tận tình hớng dẫn, động viên, giúp đỡ trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Nhân dịp kết thúc chơng trình Cao học, tác giả xin bày tỏ lòngbiết ơn sâu sắc tới BGH, Khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Ngữ Văn,các giảng viên trong tổ Lý luận Ngôn ngữ của trờng Đại học Vinh đãnhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quátrình học tập

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn tới những ngời thân,các đồng nghiệp và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ để luận văn đ-

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học Vinh

-oOo -võ thị thu thủy đặc điểm hình thức và nội dung phần giới thiệu văn bản (trên t liệu văn bản khoa học xã hội)

luận văn Thạc sĩ ngữ văn Vinh, 2008 Mục lục Trang Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tợng 4

4 Phơng pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 6

6 Cấu trúc của luận văn 6

Chơng 1 MộT Số KHáI NIệM LIÊN QUAN ĐếN Đề TàI 7

1.1 Khái niệm văn bản 7

1.2 Đơn vị mở đầu văn bản 16

Trang 3

1.3 Phần giới thiệu văn bản 19

1.4 Phân biệt phần giới thiệu văn bản với các phần mở đầu văn bản 29

1.5 Tiểu kết 31

Chơng 2 Đặc điểm hình thức phần giới thiệu văn bản 32

2.1 Hình thức phần giới thiệu văn bản 32

2.1.1 Về phạm vi, vị trí của phần giới thiệu văn bản 32

2.1.2 Về dung lợng phần giới thiệu văn bản 33

2.2 Cấu tạo của phần giới thiệu văn bản 34

2.2.1 Tiêu đề 37

2.2.2 Phần mở đầu 39

2.2.3 Phần triển khai 43

2.2.4 Phần kết thúc 45

2.3 Các phơng tiện liên kết hình thức của phần giới thiệu văn bản 48

2.3.1 Phép nối 48

2.3.2 Phép thế 49

2.3.3 Phép lặp 50

2.4 Tiểu kết 52

Chơng 3 Đặc điểm nội dung phần giới thiệu văn bản 54

3.1 Nội dung phần giới thiệu văn bản qua lời tác giả 54

3.1.1 Phần giới thiệu tóm tắt văn bản chính văn 54

3.1.2 Phần giới thiệu trình bày những thông tin liên quan đến chính văn 58

3.2 Nội dung phần giới thiệu văn bản qua lời ngời khác 68

3.2.1 Phần giới thiệu nêu vấn đề, định hớng đối tợng đối tợng nghiên cứu 68

3.2.2 Phần giới thiệu nêu nhận xét, đánh giá về chính văn 69

3.3 So sánh phần giới thiệu trong văn bản khoa học xã hội với phần giới thiệu của các loại văn bản khác 73

3.3.1 Phần giới thiệu trong văn bản khoa học xã hội với lời đề từ trong văn bản nghệ thuật 73

3.3.2 Phần giới thiệu trong văn bản khoa học xã hội với phần giới thiệu trong văn bản báo chí 82

3.4 Tiểu kết 86

Kết luận 87

Các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận văn 90

Trang 4

Tài liệu tham khảo 91Tài liệu trích dẫn 94Phụ lục

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

- Về mặt lý luận: nghiên cứu ngôn ngữ ở phạm vi văn bản đang là xu hớng

mới đợc các nhà nghiên cứu quan tâm từ nhiều góc độ, nhằm góp phần bổsung việc nghiên cứu sự hành chức của ngôn ngữ trong hoạt động thực tiễn.Trong văn bản, đặc biệt là ở những văn bản lớn phần giới thiệu mở đầu làmột phần đáng chú ý, đợc gọi với những cái tên khác nhau nh: Lời tựa, lời mở

đầu, lời nhà xuất bản, lời nói đầu, lời giới thiệu, tựa, mở đầu, Đây là nhữnglời phát ngôn của chính tác giả hoặc của ngời khác nói về văn bản chính văn

Và đây cũng là một phần liên quan đến nội dung toàn bộ văn bản Tùy theocác kiểu loại văn bản, phần giới thiệu có những đặc điểm khác nhau về hìnhthức cấu tạo và nội dung chức năng Trong văn bản khoa học, phần giới thiệu

ở các cuốn sách giáo khoa, giáo trình, các công trình nghiên cứu in thànhsách, các chuyên luận, dờng nh là phần không thể thiếu Vì vậy, nghiên cứuphần giới thiệu văn bản sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về đặc điểm của đơn

vị này trong văn bản nói chung và trong văn bản khoa học xã hội nói riêng.Việc tìm hiểu phần giới thiệu mở đầu, góp phần tìm hiểu quy tắc phân tích vàtạo lập văn bản, ý thức đợc vai trò của đơn vị này đối với chính văn, lý giảimối quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong tổng thể văn bản

- Về mặt thực tiễn: đề tài này cũng góp phần làm rõ thêm những vấn đề về

thực tiễn đọc văn bản Trong thực tế giảng dạy bộ môn ngữ văn ở nhà trờng vàthực tế đọc sách của độc giả, của giáo viên, học sinh dờng nh cha chú trọng

đến phần giới thiệu mở đầu trong các cuốn sách, giáo trình hay các bài viết,cha ý thức đúng vai trò của phần này đối với toàn bộ văn bản Trớc khi đọcmột cuốn sách, một cuốn giáo trình, một chuyên luận, việc đọc phần giớithiệu văn bản sẽ giúp ngời đọc tìm thấy ở đó những lời nhận xét, sự định hớng,tóm tắt ý chính, sẽ đợc trình bày trong phần tiếp theo

Trang 5

Đó là những lý do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài "Đặc điểm hình thức

và nội dung phần giới thiệu văn bản (trên t liệu văn bản khoa học xã hội)".

2 Lịch sử vấn đề

Khi nghiên cứu, tìm hiểu văn bản với t cách là một đơn vị ngôn ngữ, đơn

vị giao tiếp, một số công trình nghiên cứu, một số luận án, luận văn đã cónhững khảo sát, phân tích về đơn vị mở đầu trong đó có đoạn văn mở đầu vàphần mở đầu văn bản

I.R.Galperin (1981), trong khi bàn về tính khả phân của văn bản có nói

đến đặc trng của phần mở đầu mà ông gọi là tiền văn bản: "Đặc trng văn bản của những lời nói đầu, nhập đề, mào đầu là tính tự nghĩa tơng đối của chúng.

Có thể tạm gọi chúng là tiền văn bản (predtekst) Tuy nhiên chúng vẫn là một

bộ phận của chỉnh thể, tách khỏi bản thân tác phẩm thì không tồn tại lời nói

đầu" [17; 123] ở Việt Nam, Nguyễn Quang Ninh (1997) đã có sử dụng thuật ngữ “đoạn mở đầu” và đề cập đến những chức năng của đoạn mở đầu, các

kiểu mở đầu [20; 36] Diệp Quang Ban (1998) khi bàn đến việc phân đoạn vănbản cũng đề cập đến đoạn văn, trong đó có đoạn mở đầu Theo tác giả, trongvăn bản cỡ vừa đoạn văn mở làm nhiệm vụ phần mở [3; 213] Phan Mậu Cảnh(2008) thì bàn về vai trò, cấu trúc hình thức và cấu trúc nội dung của đoạn văn

mở đầu trong văn bản; về tính đặc thù và thống nhất của các đoạn mở đầutrong các loại văn bản khác nhau [11; 149 - 172]

Trong các văn bản nghệ thuật, phần mở đầu cũng đợc các nhà nghiên cứunhìn nhận ở các góc độ khác nhau nh: Trần Đình Sử nghiên cứu phần mở đầutruyện ngắn Nguyễn Công Hoan dới góc độ thi pháp Tác giả thừa nhận kếtcấu ba phần của văn bản và từ mô hình kết cấu này chỉ ra các phơng tiện tu từvăn bản đợc thể hiện trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nh: rút gọn phần

mở đầu, mở rộng phần mở đầu, [29; 35]; Đinh Trọng Lạc từ góc độ tu từ

văn bản đã phân tích đặc điểm của “lốc mở đầu” Ông cho rằng: trong văn học

dân gian truyền miệng, phần mở đầu luôn có nội dung đầy đủ, trọn vẹn và cô

đúc Trong văn xuôi hiện đại, thể kí thờng có phần mở đầu khá đầy đủ và trọnvẹn [23; 12, 13]

Gần đây, có một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ tìm hiểu về đoạn văntrong văn bản nghệ thuật, trong đó có đoạn văn mở đầu Chẳng hạn, “Đặc

điểm ngôn ngữ phần mở đầu trong ca dao trữ tình Việt Nam”(Võ Huy Vân,

Trang 6

Đại học Vinh, 2002); “Đặc điểm đoạn văn mở đầu và kết thúc trong truyệnngắn Thạch Lam” (Nguyễn Thị Hồng Phợng, Đại học Vinh, 2005); “Đặc điểm

đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn” (Lê Thị Thu Bình, Luận án tiến sĩ, Đạihọc Vinh, 2007)

Các tác giả đã khảo sát, thống kê các kiểu đoạn văn mở đầu, nêu lên một

số đặc điểm cơ bản về cấu tạo và nội dung của đoạn văn mở đầu, mà chủ yếu

là trong các văn bản nghệ thuật Nhìn chung cha có công trình nào đi sâu tìmhiểu kỹ phần giới thiệu trong các văn bản khoa học, hoặc nếu có đề cập đếncũng chỉ ở mức độ bớc đầu tìm hiểu Trong công trình "Văn bản với t cách là

đối tợng nghiên cứu của ngôn ngữ học" I R.Galperil có nhắc đến: “Lời mở

đầu, lời tựa, lời tác giả, nhập đề, mào đề, là những phần tùy ý khác với những phần nêu trên của văn bản mang tính cách khối lợng thực tế, vốn gắn vào tác phẩm và là những bộ phận không thể tách rời khỏi nó Trớc hết chúng

có đặc điểm là độc lập chừng mực nào đó với toàn bộ văn bản, thế nhng lại gắn bó chặt chẽ với nó Những phần này dờng nh hòa hợp trong bản thân những đặc điểm phân chia theo khối lợng thực tế vì đợc tách khỏi văn bản bằng tên gọi Chúng tác động cộng nhiên vào bạn đọc và vào sự phân chia theo biến thể văn cảnh vì chúng là những suy ngẫm của riêng tác giả về nội dung toàn bộ tác phẩm ” [17; 117, 118] Trong một công trình gần đây nhất

(2008), Phan Mậu Cảnh khi bàn về đoạn văn mở đầu trong văn bản, tác giả có

mở rộng ra phần giới thiệu mở đầu văn bản : “Nếu nhìn rộng ra, phần mở đầu văn bản (thuộc các văn bản cỡ lớn: công trình nghiên cứu khoa học, tác phẩm văn học ) bao gồm: lời nói đầu, lời giới thiệu, lời tựa, lời bạt Đây là những lời phát ngôn của chính tác giả hoặc của ngời khác nói về chính văn”

[11;148] Mặc dù không đi sâu vào tìm hiểu phần này nhng tác giả có khẳng

định vai trò của nó:

"Phần này là cần thiết, đóng vai trò nh ngời dẫn chuyện, nó giúp cho

ng-ời đọc bớc đầu tiếp xúc với văn bản Có công trình, nhờ phần mở đầu mà giá trị đợc nâng lên, có sức nặng hơn, thu hút hơn; hay chút ít thì phần này cũng giúp cho ngời đọc hiểu rõ thêm những thông tin xung quanh văn bản; ” [11;

148]

Trang 7

Tóm lại, có thể nói các công trình nghiên cứu, các luận văn, luận án đã cónhững khảo sát, phân tích về đơn vị mở đầu văn bản nhng cha có điều kiệnnghiên cứu về đơn vị giới thiệu văn bản.

3 Mục đích, nhiệm vụ và đối tợng nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu phần giới thiệu văn bản trên t liệu là văn bản khoa học xã hội,luận văn nhằm những mục đích sau:

a) Nhằm góp phần tìm hiểu đặc điểm, vai trò của phần giới thiệu văn bảntrong mối quan hệ với văn bản

b) Giúp ngời đọc rút ra đợc những nét tơng đồng và khác biệt về phần giớithiệu trong văn bản khoa học xã hội với phần giới thiệu trong các loại văn bảnkhác

c) Nghiên cứu tìm hiểu đoạn văn mở đầu nói chung và phần giới thiệu vănbản trong văn bản khoa học xã hội nói riêng, góp phần vào việc dạy học môntập làm văn ở nhà trờng đợc tốt hơn, cụ thể là việc phân tích và tạo lập vănbản khoa học Đồng thời giúp giáo viên và học sinh ý thức đúng hơn vai tròcủa phần giới thiệu trong các văn bản

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đợc mục đích đề ra, luận văn cần phải thực hiện các nhiệm vụsau:

a) Xác định các khái niệm liên quan nh: Khái niệm văn bản, sự phân loại,

đoạn văn mở đầu và phần giới thiệu mở đầu văn bản

b) Nêu các đặc điểm về hình thức cấu tạo của phần giới thiệu văn bản trêncác phơng diện: phạm vi, vị trí, dung lợng, cấu tạo và các phơng tiện liên kếthình thức của phần giới thiệu văn bản

c) Phân tích, miêu tả nội dung thể hiện trong phần giới thiệu văn bản khoahọc xã hội, so sánh đặc điểm của phần giới thiệu trong văn bản khoa học xãhội và các loại văn bản khác

3.3 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là các kiểu giới thiệu trong văn bảnkhoa học xã hội và một số loại văn bản khác nh văn bản nghệ thuật, văn bảnbáo chí Nguồn t liệu để miêu tả, phân tích là các lời nói đầu, lời giới thiệu, lời

Trang 8

nhà xuất bản, ở sách giáo khoa, giáo trình, chuyên luận, các công trìnhnghiên cứu in thành sách, (luận văn quy ớc gọi tất cả là sách) xuất bản bằngTiếng Việt.

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp sau:

- Phơng pháp thống kê, miêu tả, phân loại: Luận văn tiến hành thống kê,miêu tả, phân loại các phần giới thiệu mở đầu trên t liệu văn bản khoa học xãhội theo các mặt: hình thức cấu tạo, nội dung chức năng và các mối quan hệ

- Phơng pháp so sánh, đối chiếu: Sau khi khảo sát các phần giới thiệu vănbản chúng tôi tiến hành so sánh đặc điểm phần giới thiệu văn bản khoa học xãhội với phần giới thiệu trong văn bản khoa học nghệ thuật và văn bản báo chínhằm làm rõ đặc trng phần giới thiệu trong văn bản khoa học xã hội

- Phơng pháp phân tích, tổng hợp: Trong quá trình xử lý t liệu, chúng tôitiến hành phân tích phần giới thiệu văn bản trên phơng diện hình thức, nộidung từ đó tổng hợp khái quát rút ra những nhận xét về đặc trng cơ bản củaphần giới thiệu văn bản khoa học xã hội

5 Đóng góp của luận văn

Việc nghiên cứu phần giới thiệu văn bản góp phần làm rõ thêm đặc điểmcủa đoạn văn mở đầu nói chung và phần giới thiệu văn bản khoa học xã hộinói riêng trong việc phân tích và tạo lập văn bản

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tài liệu trích dẫn và phần phụlục, luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1: Một số khái niệm lý thuyết liên quan đến đề tài

Chơng 2: Đặc điểm hình thức của phần giới thiệu văn bản

Chơng 3: Đặc điểm nội dung của phần giới thiệu văn bản

Trang 9

Chơng 1 MộT Số KHáI NIệM LIÊN QUAN ĐếN Đề TàI

định” [Dẫn theo 8; 8] N X Paxpelôp thì cho rằng: “Khi nghiên cứu cơ cấu cú pháp của lời nói liên kết cần xuất phát không phải trực tiếp từ câu là đơn vị vốn không có tính độc lập đầy đủ trong lời nói liên kết, mà phải xuất phát từ một chỉnh thể cú pháp phức hợp nh một đơn vị cú pháp ít phụ thuộc hơn vào văn cảnh bao quanh của lời nói liên kết” [Dẫn theo 8; 8] Chỉnh thể cú pháp phức hợp mà Paxpelôp nhắc đến đây có đặc trng nh là một “cấu trúc cú pháp khép kín”, đó là một nhóm các câu “hợp nhất về mặt cú pháp bởi những ph-

ơng tiện và phơng pháp khác nhau, kiểu nh liên từ liên hợp trong chức năng nối kết, các liên hệ nối không liên từ các loại, những kết hợp khác nhau của các câu hai thành phần và một thành phần, sự tơng ứng trong việc sử dụng các hình thái của vị ngữ theo ý nghĩa thời của chúng” Tuy thời kỳ này khái

niệm ngôn ngữ học văn bản đã xuất hiện khá nhiều nhng nó cha đợc nhận thức

nh một khái niệm xuất phát cho hớng nghiên cứu mới Khái niệm "chỉnh thể

cú pháp phức hợp" là để áp dụng trong nghiên cứu văn học Đến những năm

60 của thế kỷ XX có thể xem đây là giai đoạn hình thành và khẳng định củangôn ngữ học văn bản, nhiều công trình nghiên cứu về văn bản xuất hiện,nhiều tạp chí chuyên đề về văn bản ra đời, các hội nghị về văn bản đợc tiến

hành ở nhiều nớc Năm 1965, H Harmann đa ra ý kiến: “Các ký hiệu ngôn ngữ chỉ bộc lộ mình chừng nào chúng là những cái gắn bó với nhau trong văn bản [ ] Mọi ngời dùng ngôn ngữ [ ] chỉ nói bằng các văn bản, chứ không phải bằng các từ và bằng các câu, ít ra là cũng bằng các câu làm thành các từ nằm trong văn bản” [Dẫn theo 3; 5] H Weinrich (1966) cho rằng: “đơn vị ngôn ngữ học cao nhất, ít lệ thuộc nhất, không phải là câu mà là văn bản”

[Dẫn theo 3; 5] Từ đây văn bản trở thành đối tợng của ngôn ngữ học, kéo

Trang 10

theo hệ quả là sự ra đời của một môn học mới trong ngôn ngữ học: ngôn ngữhọc văn bản.

Đa văn bản vào làm đối tợng nghiên cứu đã là một bớc tiến của khoa họcngôn ngữ, mặc dù để có đợc kết quả ấy là cả một quá trình dài khó khăn.Cũng nh các đơn vị ngôn ngữ khác, văn bản là một trong những đơn vị phứctạp, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau, xuất phát từ những góc nhìn

và quan điểm nghiên cứu không giống nhau

- Từ góc độ nghiên cứu Văn học: Nghiên cứu văn học có nhiệm vụ chủ

yếu là nghiên cứu đặc điểm và các quy luật phát triển của văn học nghệ thuật,chỉ ra nội dung đặc thù cũng nh các hình thức biểu hiện tơng ứng Một trongnhững đối tợng nghiên cứu của nó là các tác phẩm văn học, cụ thể là các vănbản nghệ thuật

Nh vậy, từ góc độ nghiên cứu văn học, văn bản ở đây cũng chỉ đợc xem

xét trong tác phẩm văn học

- Từ góc độ nghiên cứu Thi pháp học: Thi pháp học (poetics) là khoa học

nghiên cứu cấu trúc nội dung và hình thức của tác phẩm văn học, trong đó có

hệ thống các phơng tiện tiêu biểu của văn bản Nó nghiên cứu cấu tạo của vănbản nghệ thuật về mọi mặt: từ mặt âm thanh, từ ngữ, câu chữ, mạch kết cấucho đến mặt hình tợng (hình tợng nhân vật, môtíp, cốt truyện, ) Đây là bộmôn khoa học giáp ranh giữa văn học và ngôn ngữ học Tuy nhiên, đối tợngnghiên cứu của Thi pháp học cũng chỉ là những văn bản nghệ thuật

- Từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học: Những tri thức về văn bản không

chỉ đợc đa ra từ nghiên cứu văn học, thi pháp học, mà chủ yếu đợc đa ra từngôn ngữ học văn bản Sự ra đời của ngành ngôn ngữ học văn bản đánh dấumột bớc chuyển biến đáng kể của t duy ngôn ngữ học trong việc nhận thức đốitợng nghiên cứu của mình Lần đầu tiên ngời ta thừa nhận một cách rộng rãirằng văn bản không phải là một phép cộng đơn thuần của các câu, mà là mộtcái gì đó khác hẳn về chất ở cả mặt nội dung lẫn mặt hình thức

1.1.2 Các định nghĩa về văn bản

Cũng nh các đơn vị khác (từ và câu), văn bản là đơn vị có nhiều cách hiểu.

Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, các hớng tiếp cận sẽ cho ra đời những địnhnghĩa khác nhau Sau đây là một số hớng thể hiện các quan niệm tiêu biểu vềvăn bản

Trang 11

- Hớng nhấn mạnh mặt hình thức

+ Văn bản đợc xét nh một lớp phân chia đợc thành các khúc đoạn (L.Hjelmslev, 1953)

+ Văn bản đợc hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có liênkết, có tính độc lập và đúng về ngữ pháp (W Koch, 1966)

+ Văn bản là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ đợc làm thành bởi mộtdây chuyền của các phơng tiện thế có hai trắc diện (R Harweg, 1968)

+ Tôi sử dụng thuật ngữ văn bản để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết củamột sự kiện giao tiếp (D Nunan, 1993) [các định nghĩa trên dẫn theo 11; 27]

- Hớng nhấn mạnh mặt nội dung

“Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trng tính hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và thái độ nhất định của tác giả đối với điều đ ợc thông báo [ ] về phơng diện cú pháp, văn bản là một hợp thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phơng tiện từ vựng - ngữ pháp”

(L M Loseva, 1980)

Văn bản nh là một đơn vị ngữ nghĩa : một đơn vị không phải của hình thức

mà là của ý nghĩa (M Halliday, 1976 - 1994) [các định nghĩa đợc dẫn theo 3;16]

- Hớng phân biệt văn bản và diễn ngôn

Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải đợc ở mặt hình thức, bên ngoài ngữcảnh Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ đợc nhận biết là trọn nghĩa, đợchợp nhất lại và có mục đích (Cook, 1989) [3; 16]

“Văn bản là sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, đợc nhận dạng vì những mục đích phân tích.

Nó thờng là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác

định đợc, ví dụ nh một cuộc thoại, một tờ áp phích” (D Crysatl, 1992) [3; 16].

- Hớng tổng hợp

Theo I R Galperin: “Văn bản - đó là sản phẩm của quá trình sáng tạo lời

mang tính cách hoàn chỉnh, đợc khách quan hóa dới dạng tài liệu viết, đợc trau chuốt văn chơng theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu

đề) và một loạt đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu) hợp nhất lại bằng những liên hệ khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, lôgíc, tu từ, có một hớng nhất

Trang 12

định và một mục tiêu thực dụng” [17; 38]; Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ

là phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mỗi quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lới của những quan hệ và liên hệ ấy” [31; 19].

- Ngoài ra, ta còn có thể bắt gặp những cách định nghĩa về văn bản nh làmột sự quy ớc xác định một đối tợng để tiện cho việc nghiên cứu nh:

“Chúng ta sẽ sử dụng văn bản nh một thuật ngữ chuyên môn, để nói đến việc ghi lại bằng ngôn từ của một hành động giao tiếp” (G Brown và G Yule,

ớc hết đợc coi nh một tài liệu viết thờng đồng nghĩa với sách, 3, Trong phântích diễn ngôn, đôi khi đợc đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì đ-

ợc dành cho ngôn ngữ nói hoặc diễn ngôn đợc dùng bao hàm cả văn bản (Báchkhoa ngôn ngữ và ngôn ngữ học, 1996, tập 10, trang 5180) [Dẫn theo 3; 17,18]

Từ những quan niệm về văn bản của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng

nh ở Việt Nam, chúng ta thấy quả thật khái niệm văn bản là một khái niệm hếtsức phức tạp

Tóm lại, ta có thể hiểu văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là đơn vị đợc tạo lập bởi sự liên kết của các câu, các đoạn văn, tạo thành một thể thống nhất, một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức

và có tính độc lập.

1.1.3 Phân loại văn bản

Nh trên đã nói, văn bản là một đối tợng hết sức phức tạp vì thế mà việcphân loại văn bản cũng không phải là một việc làm dễ dàng Xuất phát từ cáccơ sở, góc độ tiếp cận khác nhau sẽ cho ta cách phân loại khác nhau:

Trang 13

1.1.3.1 Dựa vào hình thức thể hiện

Có hai dạng văn bản: Văn bản nói và văn bản viết

- Văn bản nói: đợc tạo lập bởi âm thanh, lời nói phát ra (ví dụ: bài nói

chuyện, lời phát biểu ); có tính chất tức thời trong không gian và thời gian,ngời nói không có cơ hội gọt giũa, trau chuốt; tác động trực tiếp tới đối tợngtiếp nhận; mang đặc trng phong cách khẩu ngữ (ví dụ nh: dùng từ địa phơng,các kiểu câu rút gọn ); nhìn chung văn bản nói có tính cụ thể và rõ ràng

- Văn bản viết: có hình thức và chất liệu là hệ thống ký hiệu, văn tự đợc in

ra hay viết ra (ví dụ: bài báo, bài văn ); không diễn ra tức thời trong khônggian và thời gian; tác động gián tiếp lên đối tợng tiếp nhận; có tính định hình

và ổn định trong trật tự, kết cấu nội dung; mang đặc trng phong cách viết;ngôn ngữ, lời văn có sự chuẩn bị

1.1.3.2 Dựa vào cấu trúc văn bản

Có những loại văn bản sau: văn bản đơn thoại và văn bản đối thoại; văn bảnbình thờng và văn bản đặc biệt

- Văn bản đơn thoại: là loại văn bản bao gồm một "chuỗi tuyến tính các

câu" bao gồm lời ngời kể chuyện, lời nói bên trong nhân vật,

- Văn bản đối thoại: là "một chuỗi luân chuyển các câu đợc tạo nên bằng

sự chuyển đổi các phát ngôn của hai hoặc một số thành viên tham gia hành vinói năng; mỗi thành viên tham gia vào quá trình hành vi nói năng lúc thì ở c-

ơng vị ngời nói, lúc thì ở cơng vị ngời nhận nói" [21; 177] Đây là loại văn bản

có hình thức hỏi đáp không liên tục, có nhiều vai xuất hiện

- Văn bản bình thờng: là loại văn bản có nhiều câu, nhiều đoạn, mỗi đoạn

biểu thị một nội dung tơng đối hoàn chỉnh, có hình thức rõ ràng, chúng liênkết với nhau tạo thành một chỉnh thể Đây là loại văn bản phổ biến trong giaotiếp

- Văn bản đặc biệt: là loại văn bản chỉ có một câu hoặc một cụm từ, thậm

chí một từ hết sức ngắn gọn

1.1.3.3 Dựa vào mục đích xây dựng văn bản

- Văn bản tự sự: đây là loại văn bản trình bày (kể lại, thuật lại) sự việc diễn ra

trong hiện thực hoặc trong tởng tợng Nội dung sự việc đợc trình bày mangtính khách quan (trình bày theo diễn biến trình tự thời gian, không gian nhất

Trang 14

định) đồng thời cũng có tính chủ quan thể hiện ở sự nhận xét, đánh giá đối sựviệc đợc nêu ra Các loại văn bản tự sự thờng gặp nh: các truyện kể, các bản t-ờng trình, các loại biên bản,

- Văn bản miêu tả: đây là loại văn bản dùng ngôn ngữ để tả lại sự vật, sự

việc trong hiện thực nhằm làm cho ngời nghe, ngời đọc hình dung đợc rõ ràng,

cụ thể Văn bản miêu tả gồm: văn tả cảnh, tả ngời, sự vật

- Văn bản trữ tình: là loại văn bản bày tỏ thái độ, tình cảm của ngời viết,

phản ánh thế giới nội tâm của tác giả Văn bản trữ tình đợc thể hiện rõ nétnhất trong thơ ca, tùy bút, th từ

- Văn bản lập luận: là loại văn bản thể hiện mục đích của ngời viết thông

qua các lý lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết phục ngời nghe, ngời đọc đến một kếtluận nào đó Các loại văn bản thể hiện rõ nhất quan hệ lập luận là: văn bảnchính luận, văn bản khoa học

1.1.3.4 Dựa vào phong cách chức năng

Phong cách chức năng là những biến thể của ngôn ngữ đợc hình thành và

định hình ổn định trong hoạt động giao tiếp Khi phân loại ngôn ngữ nóichung, văn bản nói riêng theo tiêu chí phong cách chức năng, ngời ta chiathành các loại: phong cách khẩu ngữ và phong cách sách vở Trong phongcách sách vở có 5 phong cách chức năng đợc xác lập là: phong cách hànhchính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báochí và phong cách nghệ thuật ở đây còn có sự phân loại văn bản từ chung đếnriêng theo trình tự sau: kiểu loại văn bản, thể loại văn bản (bên trong kiểu loạivăn bản)

- Văn bản hành chính công vụ: là những văn bản dùng để trao đổi công

việc sự vụ hành chính hàng ngày giữa các cơ quan hành chính, đoàn thể trongquản lý nhà nớc; nó có tính khuôn mẫu đồng loạt (các mẫu in ấn sẵn); có sắcthái trung hòa (thể hiện ở từ ngữ, kiểu câu, ), nội dung đơn nghĩa mang tính

rõ ràng, chính xác; có tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất

Phong cách hành chính công vụ có các kiểu loại văn bản nh: các văn bảnchỉ đạo, pháp lý, quân sự, ngoại giao, thơng mại, kinh tế Và trong các kiểuloại này chúng lại bao gồm các thể loại, ví dụ, kiểu văn bản quân sự: mệnhlệnh, báo cáo, điều lệnh, huấn lệnh, chỉ thị,

Trang 15

- Văn bản khoa học: là văn bản dùng trong lĩnh vực khoa học, với chức

năng chủ yếu là thông tin - nhận thức những vấn đề liên quan đến việc nghiêncứu, trao đổi khoa học Những thông tin mà văn bản khoa học đa ra khôngphải là những tri thức có sẵn mà là những tri thức mới (ở một mức độ nhất

định) mà ngời viết đa ra, và một điều quan trọng là ngời viết phải chứng minhcho tính đúng đắn của tri thức ấy Văn bản khoa học thông báo bằng chứngminh và chứng minh nội dung thông báo ấy Và nhờ những nội dung thôngbáo của văn bản khoa học mà nhận thức về một lĩnh vực nào đó của con ngời

đợc nâng cao hoặc đợc thay đổi Đối tợng giao tiếp chủ yếu là những ngời làmcông tác nghiên cứu, học tập có trình độ học vấn nhất định Dạng thức chủyếu là văn bản viết Đặc trng cơ bản của văn bản thuộc phong cách khoa học

là tính trừu tợng - khái quát cao, tính lôgic và tính chính xác, khách quan.Phong cách khoa học có văn bản thuộc khoa học xã hội và khoa học côngnghệ Trong các kiểu loại này chúng bao gồm các thể loại: sách giáo khoa,chuyên luận, bài báo, luận án, tóm tắt luận án, [Dẫn theo 3; 85 - 89]

- Văn bản báo chí: là loại văn bản có chức năng truyền tin, thông báo

những vấn đề có tính thời sự diễn ra trong thực tiễn trên các phơng tiện thôngtin đại chúng (bằng các hình thức: ấn phẩm, phát thanh, truyền hình) Đặc trngcơ bản của văn bản thuộc phong cách báo chí là tính thông tin để phản ánh kịpthời những vấn đề nổi bật trong đời sống xã hội và tính mục đích - báo chí cómục đích rất rõ ràng, qua việc cung cấp thông tin văn bản báo chí nhằm tuyêntruyền, định hớng t tởng và tác động đến d luận làm cho ngời đọc hiểu đợcbản chất sự thật, phân biệt đúng sai, phải trái

- Văn bản chính luận: là loại văn bản trình bày ý kiến, giải thích các vấn

đề chính trị - xã hội Văn bản chính luận thể hiện rõ thái độ nhận thức, thái độbình giá của ngời viết nên nó mang tính chủ quan Tuy nhiên, sự đánh giá,nhận xét này mang tính công khai, trực tiếp Nhiều khi sự đánh giá này khôngcòn là tiếng nói của riêng cá nhân ngời viết mà còn là tiếng nói của tập thể.Văn bản chính luận không những cung cấp cho độc giả thông tin, sự kiện màcòn cung cấp một thái độ, một cách nhìn

- Văn bản nghệ thuật: là loại văn bản phản ánh cuộc sống và thể hiện t

t-ởng, tình cảm thông qua hình tợng nghệ thuật nhằm phục vụ cho nhu cầu đờisống tinh thần của con ngời Chức năng cơ bản của phong cách nghệ thuật là

Trang 16

tác động vào nhận thức thẩm mỹ (tình cảm và những rung động thẩm mỹ) củangời đọc qua hình tợng và các yếu tố biểu cảm Chính điều này đã làm nênmột sắc thái riêng của văn bản nghệ thuật Tính biểu trng là một đặc điểm nổibật của văn bản nghệ thuật vì thế hệ thống từ ngữ giàu hình ảnh, tính biểu trng

và ớc lệ cao

1.2 Đơn vị mở đầu văn bản

1.2.1 Các quan niệm về đơn vị mở đầu văn bản

1.2.1.1 ý kiến gọi đơn vị mở đầu văn bản là phần mở đầu

Dựa vào sự liên kết và tính hoàn chỉnh của văn bản, I.R.Galperil cho rằng:

“Trong dạng thức đúng đắn, văn bản có mở đầu và kết thúc Văn bản không

có mở đầu và kết thúc chỉ có thể tồn tại nh sự sai lệch với mẫu văn bản đã xác

định loại hình” [17; 262] Tìm hiểu một số loại văn bản nh văn kiện ngoại

giao, công ớc, hiệp định, tác giả gọi đơn vị mở đầu văn bản là phần mở đầu

văn bản: “Đa số văn kiện ngoại giao đều có cái gọi là phần mở đầu Chính thuật ngữ phần mở đầu theo từ điển thì có nghĩa là chỉ ra một giá trị thông tin: phần nhập đề, giải thích, của một hiệp định quốc tế, một đạo luật hay một văn bản pháp luật khác Trong nhiều công ớc, hiệp định hiến chơng, nghị định

th, phần mở đầu có thể đợc coi nh bao hàm để khởi chính thông tin” [17; 71] O.I Moskalskaja quan niệm về phần mở đầu nh sau: “Phần mở đầu của văn bản đợc đánh dấu bằng việc sử dụng các tên gọi hoàn chỉnh và sự vắng mặt của các từ thay thế ” [21; 60].

ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng chia văn bản thành ba phần: phần mở đầu,phần phát triển, phần kết thúc Diệp Quang Ban trong cuốn "Văn bản và liên

kết trong Tiếng Việt" cho rằng: "kết cấu của văn bản có khuôn hình thờng dùng gồm có ba phần, có thể gọi tên tuần tự nh sau: phần mở, phần thân (hay phần luận giải), phần kết (kết thúc)" [3; 105]; Phan Mậu Cảnh cho rằng:

"Thông thờng cấu trúc văn bản (đợc biểu lộ thành bố cục trên bề mặt) có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung khai triển và phần kết luận" [11; 147].

Ngoài ra, các tác giả còn chỉ ra một số nhiệm vụ của phần mở đầu nh sau:phần mở đầu có nhiệm vụ giới thiệu chủ đề, xác lập mối quan hệ giữa tác giảvới đối tợng giao tiếp; chỉ ra hệ thống vấn đề và phạm vi khảo sát [15; 56]

1.2.1.2 ý kiến gọi đơn vị mở đầu là đoạn văn mở đầu

Dựa vào cách phân chia đoạn văn theo chức năng, Nguyễn Quang Ninh(1997) phân chia đoạn văn thành các loại nh sau: đoạn văn mở, đoạn văn kết,

Trang 17

đoạn văn nối, đoạn văn phát triển Tác giả chỉ ra chức năng, nhiệm vụ của

đoạn văn mở tơng ứng với các kiểu mở đầu: mở trực tiếp và mở gián tiếp.Trong luận án tiến sĩ Ngữ văn năm 2007, tác giả Lê Thị Thu Bình cũng chorằng: đơn vị mở đầu truyện ngắn là đoạn văn mở đầu và đã đi sâu nghiên cứucấu trúc và chức năng của đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn [7; 43 - 164]

Nh vậy, từ các quan niệm của các tác giả trên, chúng tôi thấy: phần lớncác tác giả đều thừa nhận đơn vị mở đầu văn bản và gọi đó là phần mở đầuhoặc đoạn văn mở đầu

1.2.2 Quan niệm của luận văn về đơn vị mở đầu văn bản

Nhìn chung, các văn bản có dung lợng bình thờng (lớn hơn hai đoạn văn)

đều có phần mở đầu ở mỗi loại văn bản, phần mở đầu có dung lợng khácnhau và có thể có nhiệm vụ cụ thể khác nhau

Theo chúng tôi, có hai loại đơn vị mở đầu văn bản là: đơn vị mở đầu vănbản thuộc cấu trúc nội tại của văn bản; đơn vị mở đầu văn bản nằm ngoài cấutrúc nội tại của văn bản

Đơn vị mở đầu văn bản thuộc cấu trúc nội tại của văn bản là đơn vị mở

đầu gắn bó chặt chẽ, không tách rời văn bản chính văn; là một bộ phận trongkết cấu hoàn chỉnh (phần mở, phần thân (phần triển khai), phần kết) Đó là,

đoạn văn mở đầu trong các văn bản cỡ nhỏ và vừa (nh: truyện ngắn, bàivăn, ), và phần mở đầu trong các văn bản nh văn bản hành chính; văn bảnkhoa học (phần mở đầu các luận văn, luận án, ) Về đoạn văn mở đầu có thểhiểu: đó là một phần trong bố cục của văn bản, đứng ở vị trí đầu tiên thể hiệnmột chủ đề tơng đối trọn vẹn đợc tách biệt với phần còn lại của văn bản Ví

dụ: “Thanh lách cánh cửa gỗ để khép, nhẹ nhàng bớc vào Chàng thấy mát hẳn cả ngời; trên con đờng gạch bát tràng rêu phủ, những vòm ánh sáng lọt qua vòm cây xuống nhảy múa theo chiều gió Một mùi lá tơi non phảng phất trong không khí Thanh rút khăn lau mồ hôi trán - bên ngoài trời nắng gắt - rồi thong thả đi bên bức tờng hoa thấp chạy thẳng đến đầu nhà Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ trong căn vờn, tựa nh bao nhiêu sự ồn ào ở ngoài kia đều ngừng lại trên bực cửa”.

(Thạch Lam - Dới bóng hoàng lan)

Đây là đoạn văn mở đầu cho truyện ngắn "Dới bóng hoàng lan" của ThạchLam Đoạn văn này nằm ở vị trí đầu tiên trong cấu trúc nội tại của truyện ngắn

"Dới bóng hoàng lan", làm nhiệm vụ của một đoạn văn mở đầu; Còn phần mở

Trang 18

đầu văn bản, chúng gồm nhiều phần, nhiều đoạn văn cùng thực hiện chứcnăng và nhiệm vụ của một đơn vị mở đầu văn bản Ví dụ, phần mở đầu củamột văn bản hành chính gồm các phần:

3 Mục đích nghiên cứu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

5 Đối tợng nghiên cứu

6 Phơng pháp nghiên cứu

7 Đóng góp của luận văn

8 Cấu trúc luận văn

Đơn vị mở đầu văn bản nằm ngoài cấu trúc nội tại của văn bản, là đơn vị

mở đầu văn bản dù có quan hệ nhất định với nội dung chính văn nhng đơn vịnày vẫn có tính độc lập tơng đối rõ ràng, dứt khoát với văn bản chính văn Đốivới chính văn đây là một đơn vị không bắt buộc (có thể có hoặc không), vàkhông phải văn bản nào cũng có Chúng không làm nhiệm vụ thay thế cho đơn

vị mở đầu nói trên mà chỉ đóng vai trò bổ sung thêm Vì thế, nhiều văn bản

đồng thời có cả hai loại đơn vị mở đầu này Ví dụ nh: lời cảm ơn (trong cácluận văn), lời cam đoan (trong các luận án), lời nói đầu, lời giới thiệu, lờitựa, (trong các cuốn sách) là những đơn vị mở đầu nằm ngoài cấu trúc nội

tại của văn bản - chúng tôi gọi chung đơn vị này là phần giới thiệu văn bản

1.3 Phần giới thiệu văn bản

Một văn bản hoàn chỉnh (chẳng hạn nh: lá đơn, bài báo, chuyên luận, giáotrình, ) bao giờ cũng có kết cấu nội tại của nó Kết cấu tại thể hiện rõ nhất tínhhoàn chỉnh của một văn bản là loại kết cấu ba phần: mở đầu, triển khai, kết luận

Trang 19

Đây là phần chính văn Tuy nhiên, trong một số loại văn bản (ở đây nói đến loạivăn bản có dung lợng lớn cỡ một cuốn sách, nh: sách giáo khoa, giáo trình, ),bên cạnh cấu trúc nội tại ấy, ta còn có thể gặp những phần nằm bên ngoài nó, cóthể tạm gọi những phần nh vậy là cấu trúc "ngoại biên" - những phần phụ thêmcho chính văn Nh vậy, có thể hình dung: trong một cuốn sách có hai khối, gọi

là hai lốc (lốc từ bloc (tiếng Anh): lốc chính văn (văn bản chính văn, cấu trúc nội tại) và lốc ngoại biên (phần phụ, cấu trúc ngoại biên)

Lốc ngoại biên gồm nhiều loại, có các tên gọi thờng gặp nh: Lời giới thiệu, lời nói đầu, lời tựa, đề từ, (đứng ở vị trí đầu văn bản); lời bạt, thay lời kết, phụ lục, tài liệu tham khảo, (đứng ở vị trí cuối văn bản) Ngoài ra, còn

phải kể đến các phần phụ khác cũng gắn bó "máu thịt" với lốc chính văn nh:

tiêu đề cuốn sách, lời cam đoan, lời cảm ơn, Điều đó cho thấy, để góp phần

chuyển tải nội dung - chủ đề ở lốc chính văn đến với ngời đọc, còn có cả một

hệ thống phần phụ "đi kèm" phục vụ cho chính văn, tất cả đều nằm trong cơcấu chung một cuốn sách Khi tìm hiểu văn bản, lẽ đơng nhiên ngời đọc, ngờinghiên cứu sẽ chú trọng phần lốc chính văn, những kết quả về văn bản cũngdựa vào đó Còn các phần phụ trong lốc ngoại biên, ngời đọc có thể xem qua,tham khảo thêm nếu thấy cần

Trong quá trình tìm hiểu văn bản, chúng tôi thấy lốc ngoại biên này xuấthiện trong nhiều loại văn bản (báo chí, chính luận, nghệ thuật, ), nhng thờngxuyên nhất là loại văn bản khoa học, nhất là đối với những văn bản có quymô, đợc in thành một cuốn sách Lốc ngoại biên vừa có tính độc lập nhất định(vì có những dấu hiệu hình thức và cấu tạo tách khỏi lốc chính văn), vừa cómối quan hệ chặt chẽ với lốc chính văn (vì phần phụ là phần đi kèm chínhvăn); nó có đợc vai trò lớn trong việc góp phần mang lại những thông điệp đầy

đủ nhất cho văn bản

Trong cái gọi là lốc ngoại biên, các phần có vị trí và chức năng khônggiống nhau, có những phần ở đầu sách và có những phần ở cuối sách Cấu trúcchung của một cuốn sách nh vậy, có thể gặp nhiều thành phần tham gia ở đầucuốn sách (tạm gọi là lốc ngoại biên mở đầu), nhng có quan hệ với lốc chínhvăn ở mức độ khác nhau Trong lốc ngoại biên mở đầu, có phần thiên về hình

thức (mang tính chất thủ tục, không liên quan đến chính văn), nh: lời cảm ơn, lời đề tặng, lời cam đoan, ; có phần thiên về nội dung (có liên quan trực tiếp

đến nội dung lốc chính văn), nh: lời nói đầu, lời giới thiệu, tựa, lời mở đầu, ;

Trang 20

có phần bắt buộc (tiêu đề trang bìa), có phần không bắt buộc (lời cảm ơn, lời cam đoan, ) Đối tợng tìm hiểu của luận văn này là phần mở đầu thiên về nội

dung, phần này chúng tôi quy ớc gọi là phần giới thiệu mở đầu văn bản (gọi

tắt là Phần giới thiệu văn bản) Phần giới thiệu văn bản, dù có quan hệ nhất

định với nội dung văn bản thì phần này vẫn có tính độc lập, rõ ràng, dứt khoátvới lốc chính văn, khác với phần mở đầu và đoạn văn mở đầu đã trình bày ởtrên gắn bó chặt chẽ vào cấu trúc nội dung và hình thức của chính văn Có thểnói, phần giới thiệu văn bản giống nh một dạng "văn bản ký sinh" vào chínhvăn

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm phần giới thiệu văn bản

1.3.1.1 Khái niệm

Từ những điều trình bày trên đây, qua quá trình khảo sát và phân tích t

liệu, chúng ta có thể hiểu: Phần giới thiệu văn bản là một phần có hình thức

nh một văn bản, xuất hiện ở đầu sách sau trang bìa, phụ bìa và mục lục (nếu có), là lời tác giả hay lời ngời khác có nhiệm vụ giới thiệu, làm rõ thêm văn bản chính văn

1.3.1.2 Đặc điểm phần giới thiệu văn bản

Với cách hiểu này ta có thể thấy phần giới thiệu mở đầu văn bản có những

đặc điểm chính sau đây:

a) Về hình thức và cấu tạo: phần giới thiệu văn bản có vị trí rất dễ nhận

biết: sau trang bìa và có thể sau các mục khác nh: mục lục, cam đoan, cảm ơn(nếu có) Phần giới thiệu cũng dễ nhận biết vì nó có những tên gọi đánh dấu,

định danh rõ ràng: lời giới thiệu, lời nói đầu, lời tác giả, mấy lời đầu sách, cùng bạn đọc, lời tựa, Về dung lợng, phần giới thiệu văn bản, dù đó là lời

tác giả hay lời của ngời khác thì nói chung phần này thờng ngắn gọn, cỡ trungbình khoảng 2 - 3 trang in

Về cấu tạo, phần giới thiệu này có hình thức cấu tạo của một văn bản hoàn

chỉnh, có mô hình kết cấu thờng gặp bao gồm: tiêu đề (lời nói đầu, lời giới thiệu, ), phần mở đầu (thờng là một đoạn văn), phần triển khai (gồm một số

đoạn văn), phần kết thúc; ở cuối có địa danh, ngày tháng viết và họ tên ngờiviết Đây thực sự là một văn bản nằm bên cạnh một văn bản (chính văn), tạothành một loại liên văn bản

Trang 21

b) Về nội dung: Nội dung cơ bản trong phần này, đúng nh tên gọi, là giới

thiệu với ngời đọc những thông tin xung quanh chính văn Tuy nhiên nội dung

giới thiệu lại tùy thuộc chủ thể là ai Nếu đó là lời nói đầu, cùng bạn đọc thì

ngời viết ở đây cũng chính là tác giả của văn bản chính văn (có thể quy ớc gọi

đó là Lời tác giả); nếu đó là lời giới thiệu, lời tựa thì ngời viết ở đây là một cá

nhân khác với tác giả chính văn (thờng là ngời có uy tín, có hiểu biết về lĩnh

vực mà cuốn sách đề cập), hay lời Nhà xuất bản - có thể quy ớc gọi đây là Lời ngời khác) Nh thế, cách trình bày, giọng điệu, nội dung của hai loại chủ thể trong Phần giới thiệu cũng sẽ có những thông tin khác nhau, tuy rằng đều có

một mục đích chung là giới thiệu văn bản

Cấu trúc nội dung của phần giới thiệu bao gồm:

- Lời tác giả thờng có các nội dung: nêu lý do, mục đích (mở đầu); trình

bày các thông tin liên quan đến nội dung chính văn, bao gồm: thông tin cơ bản

về các vấn đề của chính văn, quy ớc cách thức trình bày, nói thêm về hớngtriển khai, (phần triển khai); lời cảm ơn, lời mong muốn (phần kết thúc).Giọng điệu của lời tác giả thờng là khiêm nhờng, cầu thị Tác giả thì thiên vềtrình bày, phân tích, thuyết minh, tức là cố gắng làm rõ hơn nội dung trongcông trình để mong ngời đọc hiểu rõ ý đồ, mục đích của mình khi viết cuốnsách

- Lời ngời khác thờng có các nội dung: giới thiệu vấn đề, đề dẫn (mở đầu);

giới thiệu các nội dung của chính văn, những bình luận, phân tích có tích chất

định hớng, đánh giá tốt, đề cao cuốn sách (phần triển khai); phát biểu cảm ởng, lời nhắn gửi ngời đọc về cuốn sách (kết thúc) Giọng điệu của lời ngờikhác thờng có xu hớng khuyếch trơng, cổ vũ cho cuốn sách Lời ngời khác thìthiên về dẫn dắt, nhận xét, bình luận, tức là cố gắng làm rõ hơn nội dung trongcông trình, nhằm đề cao, gây sự chú ý của độc giả đối với cuốn sách

t-1.3.2 Chức năng của phần giới thiệu mở đầu văn bản

Chức năng cơ bản nhất của phần giới thiệu văn bản, dù đó là lời tác giảhay lời ngời khác, chính là: cung cấp những thông tin bổ sung xung quanh nộidung cuốn sách (chính văn), nh: cuốn sách đợc viết dựa trên cơ sở nào, hoàncảnh nào; vấn đề cuốn sách viết có ý nghĩa, mục đích gì; cách viết, cơ cấu,quy cách, quy ớc trong công trình nh thế nào; công trình đã làm đợc những gì,những mong muốn, hy vọng gì;

Trang 22

Với chức năng đó, phần giới thiệu còn đóng vai trò nh là lời đề dẫn, thuyếtminh, làm cầu nối giữa ngời đọc với cuốn sách, nhằm làm cho ngời đọc hiểu

rõ thêm về chính văn, nắm đợc những thông tin cần thiết để đi vào tìm hiểunội dung cuốn sách Đúng nh tên gọi của phần này, chức năng cơ bản đợc xác

định chính là giới thiệu

1.3.2.1 Chức năng giới thiệu

Phần giới thiệu văn bản là phần cung cấp cho ngời đọc những thông tin bổsung về những điều có liên quan đến nội dung trình bày trong chính văn

- Thông tin về sự cần thiết của cuốn sách: Chẳng hạn, trong Lời nói đầu

cuốn sách “Dẫn luận ngôn ngữ học” (Nguyễn Thiện Giáp chủ biên) tác giả

nói thêm về khái niệm ngôn ngữ và ngôn ngữ học, sự cần thiết phải biết ngôn ngữ “Những tri thức về ngôn ngữ học là hữu ích cho bất kỳ một ai [ ] Để có thể bớc vào ngôn ngữ học một cách thuận lợi, sinh viên cần nắm vững một số khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ học Những tri thức ấy đ-

ợc trình bày trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học” Tác giả Phan Ngọc trong

Lời nói đầu về công trình “Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học” lại

trình bày quá trình viết cuốn sách (thời gian viết, quá trình hình thành ý tởng

chính khi viết cuốn sách) Tác giả Nguyễn Văn Đạm trong Lời nói đầu “Từ

điển tờng giải và liên tởng Tiếng Việt” giải thích: “ Quyển Từ điển này gồm vào khoảng 35 ngàn từ thuộc Tiếng Việt cơ bản từ những năm 30 thế kỷ này (khi văn xuôi Việt Nam hình thành và ổn định) cho đến ngày nay” Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong Lời nói đầu cuốn “Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp” nêu vai trò của tục ngữ: "Mặc cho mọi biến thiên của lịch sử và xu thế nghiên cứu, hàng ngày tục ngữ vẫn cứ không ngừng đợc bổ sung, đợc tái hiện trong đời sống các cộng đồng ngôn ngữ, trong tất cả những ai dùng tiếng Việt"; "Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp ở trung học cơ sở" (Lời nói đầu, Ngữ văn 10)

- Giới thiệu cho ngời đọc biết quy cách trình bày trong công trình: “Biên soạn giáo trình này, chúng tôi tuân theo những định hớng sau đây (nêu các

định hớng) (Trích lời nói đầu, Dẫn luận ngôn ngữ học); Hoặc giới thiệu chủ

đề cho ngời đọc: “Công trình này trình bày những suy nghĩ của tôi về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa Việt Nam" (Lời nói đầu, Thử xét văn hóa, văn học bằng ngôn ngữ học); Giới thiệu cách biên soạn: "Mỗi mục từ gồm có

Trang 23

định nghĩa và một hay nhiều thí dụ minh họa " (Lời nói đầu, Từ điển tờng giải và liên tởng Tiếng Việt)

- Đề dẫn cho cuốn sách: Cũng giống nh vai trò “dẫn chuyện” của đoạnvăn mở đầu trong một văn bản, phần giới thiệu văn bản có vai trò dẫn dắt ngời

đọc bớc đầu tiếp xúc với văn bản ở đây tác giả muốn hớng dẫn cho ngời đọc

phơng pháp để tiếp cận văn bản chính một cách hữu hiệu nhất Ví dụ: " VĂN Bản Và LIÊN Kết TRONG Tiếng Việt đợc trình bày theo bài mục để tiện dùng cho ngời đọc: cần bài nào đọc bài mục ấy theo lối tra cứu, không nhất thiết phải đọc phần trớc mới hiểu phần sau Mỗi bài mục có tính chất trọn vẹn tơng đối Nhiều bài mục đợc chia thành hai phần: phần giới thiệu những kiến thức phổ biến và phần tham khảo dành riêng cho những ai muốn tìm hiểu sâu thêm vấn đề đang bàn, " (Lời nói đầu, Văn bản và liên kết Tiếng Việt).

Qua lời nói đầu, bạn đọc có thể định hớng đợc điều gì là cần cho mình vàmình nên tham khảo chúng ở chơng nào Điều này không những giúp chúng ta

có thể nhanh chóng nắm bắt đợc vấn đề, tiết kiệm thời gian mà còn nắm vấn

đề một cách đúng trọng tâm, chính xác

Với vai trò nh vậy cho nên, nhiều khi đọc phần giới thiệu mở đầu văn bản,

có những văn bản ngời đọc đã có thể hình dung, đánh giá chất lợng văn bản ấy

nh thế nào; độc giả có thể tiếp nhận và thấy rõ t tởng, nhận thức, quan niệm vànói chung là trình độ của tác giả

1.3.2.2 Chức năng dự báo

Chức năng này biểu hiện cụ thể ở việc cung cấp các thông tin về bố cục

của công trình (tức là thông báo về trình tự nội dung cuốn sách) Trong vănbản khoa học nội dung thờng đợc chơng trình hóa trớc, bạn đọc có thể đoán đ-

ợc điều gì sẽ đợc trình bày ở những phần tiếp theo Và phần đảm nhiệm vai trò

dự báo này là phần giới thiệu mở đầu văn bản văn bản Khi bàn về vai trò dự

báo của văn bản, I R Galperin nhận xét: “Lời tựa thờng báo trớc nội dung thông tin, quan niệm, trong một số trờng hợp, cả thông tin nội dung sự kiện nữa ở bình diện dự báo, lời mào đầu tạo cho tác giả khả năng mở lối giúp bạn đọc tiếp thu thỏa đáng t tởng của tác phẩm” [3; 118,119]

Trong phần giới thiệu mở đầu văn bản ta dễ nhận ra tính dự báo, hớng

véctơ dự báo đợc biểu hiện một cách hiển ngôn Điều này cũng có nghĩa là

bạn đọc tiếp thu văn bản theo đờng hớng định trớc Nh vậy, trong một chừng

Trang 24

mực nào đó phần giới thiệu mở đầu văn bản đã hạn chế khả năng lý giải thôngtin nội dung quan niệm theo sáng tạo của cá nhân Nhng thiết nghĩ đối với vănbản khoa học điều này không ảnh hởng lắm bởi do đặc thù của phong cách:văn bản khoa học thể hiện nhận thức quan niệm của ngời viết về vấn đề nào

đó

Trong lời nói đầu của văn bản khoa học quy mô lớn, thông thờng ngời tatrình bày ngắn gọn nội dung cơ bản của các phần cụ thể, trình tự và sự quy

định lẫn nhau của chúng Véctơ dự báo đã hớng bạn đọc vào việc tiếp thu điều

trình bày theo khuôn khổ những cái do tác giả đã nêu dới dạng đề cơng

Chẳng hạn, trong lời dẫn cuốn “âm tiết và loại hình ngôn ngữ", tác giả giới thiệu đợc sơ lợc bố cục, nội dung của năm chơng trong tập sách: "Theo đó, nội dung của cuốn sách sẽ đợc dàn dựng và trình bày thành 5 chơng nh sau: - Chơng Một Chơng Năm là chơng cuối cùng của cuốn sách, trong đó tác giả

đề xuất một cách phân loại các ngôn ngữ (Trích lời dẫn, Â m tiết và loại hình Tiếng Việt) ở lời dẫn này, hớng véctơ của dự báo đợc thể hiện rõ trong từng

câu; nó không chỉ có dự báo từ góc độ thông tin sự kiện, nghĩa là thông tin

đ-ợc rút ra trong quá trình đọc, mà còn thông tin nội dung quan niệm vì ở đây đãnêu rõ cách giải quyết vấn đề đặt ra theo hớng chủ quan của tác giả

Đây cũng là phần giới thiệu bố cục của cuốn sách: "Cuốn sách này gồm

có các chơng: (Đinh Trọng Lạc, Lời nói đầu “Phong cách học tiếng Việt”).

"Mỗi cuốn trong bộ sách đợc tổ chức theo bố cục sau: 1) Lời giới thiệu 2) Tác phẩm: sử dụng văn bản chuẩn 3) Phần bình giảng: chọn những lời bình, những ý kiến về tác phẩm 4) Phần phụ lục: Cung cấp những thông tin tham khảo về tác giả và tác phẩm " (Lời nói đầu, Ông già và biển cả)

1.3.2.3 Chức năng quảng cáo

Chức năng này biểu hiện cụ thể ở vai trò quảng cáo, đề cao công trình, bổ

sung những thông tin xung quanh văn bản

- Phần giới thiệu có xu hớng khẳng định giá trị, đề cao tính khoa học củacông trình Phần giới thiệu mở đầu văn bản là một phần tùy ý, không phải vănbản nào cũng có nh một tất yếu Trong phần giới thiệu mở đầu văn bản ngời ta

thờng nêu thông tin có chức năng đề cao tính khoa học của văn bản nh: chỉ ra

những ngời đã tham gia nghiên cứu, thời gian và tính chất công việc đã tiếnhành trong quá trình nghiên cứu đảm bảo cho độ tin cậy và vững chắc của các

Trang 25

kết luận Lời giới thiệu cuốn “Ngữ pháp Tiếng Việt” của Trung tâm khoa học

xã hội và nhân văn Quốc gia đã viết: " Việc biên soạn Ngữ pháp Tiếng Việt

đã đợc sự chỉ đạo của một Hội đồng do Bộ trởng Trần Quang Huy đợc cử làm Chủ tịch và gồm những ủy viên là các ông: Tạ Phong Châu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Lơng Ngọc, Nguyễn Kim Thản, Hoài Thanh, Phạm Huy Thông ".

Những thông tin nh vậy mặc nhiên đã khẳng định giá trị, độ tin cậy của

công trình Có khi đó là sự liệt kê những góp ý, kiểu nh: “Trong quá trình biên soạn , chúng tôi đã nhận đợc nhiều ý kiến đóng góp quý báu của " (kể

tên các nhà khoa học, kèm theo chức danh) Những thông tin này cũng giántiếp khẳng định về độ tin cậy của văn bản viết

Thông qua việc giới thiệu này mà ngời viết phần giới thiệu mở đầu vănbản (thông thờng không phải tác giả của chính văn) có thể nêu lên những nhậnxét, đánh giá của mình đối với cuốn sách, với nhiều từ ngữ khẳng định, tán

đồng Những phần này nh là lời khẳng định trực tiếp và nóng hổi nhất về giátrị của công trình, nó “tiếp sức” cho chính văn, thu hút độc giả Chẳng hạn,

đây là lời giới thiệu về một cuốn sách: Cuốn "Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt" của Phó giáo s tiến sĩ Trần Ngọc Thêm là:

"Cuốn sách đầu tiên của của Việt Nam nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản Tác giả đã có những kiến giải sâu sắc về hệ thống liên kết văn bản trong tiếng Việt Sự thành công của cuốn sách này còn ở chỗ nó mở đờng cho hàng loạt công trình nghiên cứu khác về ngôn ngữ học văn bản ở Việt Nam và nó

đã thúc đẩy tích cực việc đa môn ngữ pháp văn bản vào trong chơng trình giảng dạy tiếng Việt ở nhà trờng phổ thông nh hiện nay " (GS Nguyễn Đức Dân, Lời giới thiệu “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”).

- Có khi đây có khi là lời giới thiệu nhằm tạo tính hấp dẫn, niềm tin cho

công trình do một cá nhân có uy tín khoa học (thờng là giáo s, tiến sĩ ) haycủa nhà xuất bản về tác giả cuốn sách Lời lẽ ở đây thiên về hớng biểu dơng,

khẳng định: "Đối với chúng ta, giáo s Vũ Ngọc Khánh không phải là ngời xa lạ Ông là một nhà giáo đã từng dạy ở nhiều trờng ông là tác giả của nhiều cuốn sách giáo khoa Một ngời am hiểu nền văn hóa chung, lại có nhiều năm viết văn, dạy văn nh giáo s Vũ Ngọc Khánh mà nói chuyện về văn học và làm văn, chắc chắn là có nhiều thú vị, bổ ích ở tập sách này, tác giả đa ra nhiều t liệu phong phú " (Lời giới thiệu, Bí quyết giỏi văn) Lời giới thiệu

Trang 26

quyển sách “Nét đẹp thơ” của Nhà xuất bản Giáo dục có đoạn: “Cố tác giả Nguyễn Đức Quyền là một ngời yêu thơ và suốt đời đi tìm nét đẹp trong những vần thơ Tập hợp những bài viết của ông về những bài thơ đợc học trong ch-

ơng trình phổ thông thành tập Nét đẹp thơ, Nhà xuất bản Giáo dục muốn gửi

đến bạn đọc một cách tiếp cận thơ Bạn đọc có thể tìm thấy nhiều điều thú

vị mà tác giả đã trăn trở tìm kiếm, phát hiện những nét đẹp của thơ ca".

Cuối phần giới thiệu, ta thờng hay thấy những mẫu câu nh: “Chúng tôi (Nhà xuất bản ) vui mừng giới thiệu với độc giả cuốn hay là “Nhân dịp này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc công trình "

1.3.2.4 Chức năng biểu cảm

Phần giới thiệu không chỉ chuyển tải thông tin về tính khoa học chính

thống, thông qua giới thiệu, ngời viết còn bộc lộ những thông tin cá nhân,những phần nói thêm, liên tởng, có khi mang khẩu khí tùy bút, có lời lẽ nhúnnhờng (thờng là lời tác giả), khuyếch trơng, đề cao (lời ngời khác) Những

điểm này có liên quan đến tính biểu cảm của phần giới thiệu Chức năng biểucảm thể hiện cụ thể ở các mặt sau

- Nhận thiếu sót: Điều này thể hiện lời tác giả mang tính khiêm nhờng,

th-ờng gặp những từ ngữ nh: do khả năng có hạn, vấn đề rộng lớn, phức tạp, thờigian eo hẹp, thiếu sót Kế tiếp là lời cầu thị, kiểu nh; mong đợc góp ý, mong

đợc chỉ bảo Chẳng hạn, “Trong quá trình biên soạn, do những hạn chế nhất

định, tập sách khó tránh khỏi khiếm khuyết Chúng tôi mong sự góp ý của độc giả."

- Bày tỏ tình cảm: Lời bày tỏ tình cảm thờng hớng đến: nhà xuất bản, ngời

đọc bản thảo, độc giả góp ý với những từ ngữ thờng gặp nh: bày tỏ lòng biết

ơn, lời cảm ơn chân thành

- Lời mong muốn, hứa hẹn, hy vọng: Những lời này có thể gửi đến ngời

đọc, chẳng hạn nh: hy vọng bạn đọc tìm thấy ở cuốn sách những điều bổ ích,mong có dịp gặp lại ở tái bản lần sau, sẽ bổ sung, sửa chữa ngày càng hoàn

thiện hơn Có thể nêu một ví dụ tổng hợp về những thông tin trên: "Nhân cuốn sách đợc xuất bản, chúng tôi xin xin gửi đến các nhà khoa học và bạn

đọc đã góp ý, các tác giả có công trình mà cuốn sách đã tham khảo, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội lời cảm ơn chân thành nhất Cuốn sách là những thu hoạch bớc đầu; những hạn chế, khiếm khuyết của cuốn sách là

Trang 27

không tránh khỏi Chúng tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của độc giả." (Trích lời nói đầu, Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt).

1.4 Phân biệt phần giới thiệu văn bản với các phần khác mở đầu văn bản

1.4.1 Phần giới thiệu văn bản với phần mở đầu văn bản

Trong văn bản các phần mở đầu văn bản có thể có nhiều loại, nhng có hai

thành phần cần phải phân biệt, vì rất dễ có hiện tợng nhầm lẫn, đó là: Phần giới thiệu văn bản với Mở đầu văn bản.

Trớc hết, Phần mở đầu văn bản thuộc lốc chính văn Nếu văn bản có có cỡ

lớn thì gọi là Mở đầu (nh luận văn, luận án), nếu văn bản cỡ nhỏ thì đó là đoạn

văn mở đầu Còn Phần giới thiệu văn bản (gồm: lời giới thiệu, lời nói đầu, lời tựa, ) thuộc lốc ngoại biên, và không phải văn bản nào cũng có, vì nó không

thuộc vào cấu trúc nội tại của văn bản nh phần Mở đầu Phần này chỉ thờngxuất hiện trong các văn bản nh: sách giáo khoa, giáo trình, các công trìnhnghiên cứu khoa học đợc in thành sách, các chuyên luận, mà ít khi có trongcác văn bản cỡ nhỏ (nh: bài nghiên cứu, báo cáo khoa học )

Thứ hai, phần mở đầu văn bản là một bộ phận không tách rời của văn bản,

nó thuộc cấu trúc nội dung của lốc chính văn Chẳng hạn, trong luận văn, luận

án hay các công trình nghiên cứu khoa học khác thì phần Mở đầu là phần bắt

buộc nằm trong thể thức quy định về trình bày công trình khoa học Phần này

có nhiệm vụ cung cấp các thông tin định hớng đề tài (lý do chọn đề tài, mục

đích, nhiệm vụ, phơng pháp nghiên cứu) và các nội dung khác (đóng góp của

đề tài, bố cục của công trình, ) Đoạn văn mở đầu văn bản, cũng thuộc phần

mở đầu văn bản, nhng nó có quy mô nhỏ hơn, gắn chặt với cấu trúc nội dung

và hình thức của chính văn, thuộc vào một trong ba phần của văn bản (mở

-thân - kết) Còn Phần giới thiệu văn bản, dù có quan hệ nhất định với nội

dung văn bản thì phần này vẫn có tính độc lập rõ ràng, dứt khoát với lốc chínhvăn, khác với phần mở đầu trên đây Ngay các tên gọi của phần này đã nói rõ

nội dung và chức năng của nó, đó là: lời nói đầu, lời giới thiệu, lời mở đầu, lời tựa, lời dẫn, Phần này giống nh một dạng “văn bản ký sinh” vào chính văn.

1.4.2 Phân biệt phần giới thiệu với các phần phụ khác trong lốc ngoại biên

mở đầu

Trang 28

Bên cạnh việc phân biệt phần giới thiệu văn bản với phần mở đầu văn bản

nh trên, ta còn cần phân biệt phần giới thiệu văn bản với các phần phụ khác có

những tên gọi nh: lời cam đoan (đối với luận án), lời cảm tạ, tóm tắt,

Điểm giống nhau giữa các phần phụ này với phần giới thiệu văn bản là:

đều thuộc diện lốc ngoại biên mở đầu, phụ thêm vào lốc chính văn, có tính

độc lập với chính văn Nhng khác nhau ở vai trò, nội dung thể hiện: các phầnphụ thờng là phần có tính chất đa đẩy (lời cảm ơn), phần thủ tục (lời cam

đoan, tóm tắt), phụ chú Còn phần giới thiệu văn bản có quy mô hơn về dunglợng và tổng hợp hơn về nội dung, điều đó đợc thể hiện rõ ở đặc điểm và chứcnăng của phần giới thiệu

Qua đây có thể thấy rằng, trong một văn bản lớn (ở dạng một cuốn sách),bên cạnh lốc chính văn còn có lốc ngoại biên, tức các phần phụ khác, đi kèm,làm rõ cho chính văn, chúng đều thuộc cấu trúc chung của văn bản - côngtrình, tuy nhiên mỗi phần với nội dung và chức năng đặc thù riêng đã tạo nênnhững điều khác biệt giữa chúng

1.5 Tiểu kết

Từ những vấn đề đã trình bày ở chơng 1, có thể rút ra một số kết luận sau

Về khái niệm văn bản: có rất nhiều ý kiến xung quanh khái niệm này, nhngchúng ta có thể hiểu: văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ, là đơn vị đợc tạo lập bởi sự liên kết của các câu, các đoạn văn, tạo thànhmột thể thống nhất, một đơn vị hoàn chỉnh về nội dung và hình thức Việc phânloại văn bản xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác nhau sẽ cho ta các cáchphân loại khác nhau

Có hai loại đơn vị mở đầu văn bản, đó là : đơn vị mở đầu văn bản thuộc cấutrúc nội tại của văn bản, bao gồm: đoạn văn mở đầu và phần mở đầu; đơn vị mở

đầu văn bản nằm ngoài cấu trúc nội tại của văn bản, bao gồm: lời nói đầu, lờigiới thiệu, lời cảm ơn, lời cam đoan,

Phần giới thiệu văn bản là một đơn vị mở đầu văn bản nằm ngoài cấu trúc nộitại của văn bản Phần này có hình thức nh một văn bản, xuất hiện ở đầu sách sautrang bìa, phụ bìa và mục lục (nếu có), là lời tác giả hay lời ngời khác có nhiệm

vụ giới thiệu làm rõ thêm văn bản chính văn Phần giới thiệu văn bản có chứcnăng giới thiệu, chức năng dự báo, chức năng quảng cáo và chức năng biểu cảm

Chơng 2 Đặc điểm hình thức phần giới thiệu văn bản

Trang 29

2.1 Hình thức phần giới thiệu văn bản

2.1.1 Về phạm vi, vị trí của phần giới thiệu văn bản

- Về phạm vi: trớc hết phần giới thiệu văn bản là một phần nằm trong cơ

cấu chung của một cuốn sách, cuốn giáo trình, Nhìn chung, một văn bản cỡlớn thờng gặp nhiều thành phần tham gia, ở đây chúng tôi tạm chia thành haiphần cơ bản: phần cấu trúc nội tại (còn gọi là lốc chính văn - đây là văn bảnchính văn) và cấu trúc ngoại biên (còn gọi là lốc ngoại biên - đây là văn bảnphụ, kèm theo văn bản chính văn) Trong lốc ngoại biên gồm có nhiều loại, cóloại đứng đầu văn bản nh: tiêu đề, phần giới thiệu (lời nói đầu, tựa, lời giớithiệu, ), lời cam đoan, lời cảm ơn, lời đề tặng, (chúng tôi gọi là lốc ngoạibiên mở đầu) và có loại đứng sau văn bản nh: lời bạt, lời cuối sách, vĩ thanh,mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục, (gọi là lốc ngoại biên kết thúc) Trongphần lốc ngoại biên mở đầu có phần thiên về nội dung, có phần thiên về hìnhthức Phần giới thiệu văn bản là một phần thiên về nội dung Ta có thể hìnhdung rõ hơn về điều này bằng sơ đồ sau:

Cấu trúc chung của cuốn sách

triển khai

Phần kết luận

Nội dung (lời kết, lời bạt, lời cuối cuốn sách,…)

Sơ đồ 2.1 Cấu trúc cuốn sách

Trang 30

Từ sơ đồ trên, ta thấy phần giới thiệu văn bản là một phần thuộc lốc ngoạibiên mở đầu thiên về nội dung trong cấu trúc chung của cuốn sách.

- Về vị trí: phần giới thiệu văn bản có một vị trí rất dễ nhận biết: sau trang

bìa, phụ bìa và các mục nh mục lục, lời cam đoan, lời đề từ, lời đề tặng (nếucó) Phần giới thiệu đợc trình bày tách riêng ra không lẫn lộn với bất cứ phầnnào của văn bản bằng một tên gọi riêng (xem sơ đồ 2.2)

Bìa sách(Tên tác giả, Tiêu đề, Nhà xuất bản)

Bìa phụMục lục, lời cam đoan, lời đề tặng, (nếu có)

2.1.2 Về dung lợng của phần giới thiệu văn bản

Phần giới thiệu văn bản đợc tách ra thành một phần riêng trong kết cấu vĩmô của văn bản Tuy nhiên, so với văn bản chính văn thì phần này chiếm mộtdung lợng không lớn, khoảng từ 1 trang đến 20 trang in Nhìn chung 2 - 3trang là độ dài phổ biến, còn số lợng trên 4 trang rất ít gặp, thờng xuất hiệntrong lời giới thiệu ở các cuốn sách dịch từ các công trình nghiên cứu khoahọc của nớc ngoài Cũng nh phần kết thúc văn bản (lời bạt, lời cuối sách, ),dung lợng phần giới thiệu mở đầu văn bản nói chung là ngắn gọn

2.2 Cấu tạo của phần giới thiệu văn bản

Phần giới thiệu văn bản có cấu tạo nh một văn bản hoàn chỉnh, gồm có:

Tiêu đề (Lời giới thiệu, lời nói đầu, lời tựa, ), (1); phần mở đầu (gồm đoạn

văn mở đầu), (2); phần triển khai (gồm một số đoạn văn), (3.1 - 3.n); phần kếtthúc (đoạn văn kết thúc) và chú thích (thời gian, địa điểm, họ tên ngời viếtphần giới thiệu), (4) Giữa các phần này có sự liên kết với nhau để tạo thành

Trang 31

một phần giới thiệu hoàn chỉnh về hình thức và nội dung Ví dụ sau là một lờinói đầu hoàn chỉnh:

(1) Lời nói đầu

(2) Hiện nay việc nâng cao chất lợng dạy học trong các bậc học từ phổ thông tới đại học đang là vấn đề bức thiết của nhà trờng và xã hội Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ơng Đảng khóa VIII về định hớng chiến lợc phát triển giáo dục từng chỉ rõ: "Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con ngời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý t- ởng độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có

ý chí kiên cờng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đất nớc; gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; " Môn văn học cùng với các môn học khác trong nhà trờng góp phần quan trọng vào việc đào tạo con ngời phát triển toàn diện Không chỉ có văn học Việt Nam, văn học nớc ngoài cũng đã đợc dạy từ lâu trong các nhà trờng Trong sự hòa nhập đổi mới đất nớc, sự giao lu văn hóa giữa Việt Nam và thế giới đang đợc mở rộng, việc dạy và học văn học nớc ngoài đợc xem nh là một bộ phận kiến thức quan trọng cần đợc truyền thụ cho học sinh và đợc quan tâm đích đáng Nhằm giúp giáo viên và học sinh có một tài liệu học tập, nghiên cứu thiết thực khi dạy và học văn học nớc ngoài, cuốn Tác gia và tác phẩm văn học nớc ngoài trong nhà trờng đã đợc biên soạn.

(3.1) Cuốn sách chỉ giới hạn những nền văn học đang có trong chơng trình đào tạo của các bậc học Văn học phơng tây gồm Anh, Pháp, Nga, Mỹ,

Đức, ; văn học phơng Đông gồm Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản, ảrập, Ba T

và Đông Nam á Từ khi Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, việc nghiên cứu, tìm hiểu, giảng dạy văn học các nớc Đông Nam á trở nên cần thiết Sách

có giới thiệu thêm một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của các nớc này Tùy dung lợng của chơng trình học mà số tác giả, tác phẩm có trong sách ít nhiều khác nhau Ngoài ra chúng tôi biên soạn thêm một số tác giả, tác phẩm dùng

để tham khảo mà trong sách giáo khoa, giáo trình có chú thích hoặc bài học

sẽ liên hệ đến.

(3.2) Khi biên soạn cuốn sách này, chúng tôi đã cố gắng tìm tòi những t liệu, sách báo, các công trình mới, giúp đỡ chúng tôi nhiều nhất là các sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo từ tiểu học cho đến đại học Chúng tôi cũng đã tham khảo các Từ điển văn học thông dụng hiện nay nh Từ điển

Trang 32

văn học (2 tập) do Giáo s Đỗ Đức Hiệu chủ biên xuất bản năm 1983 - 1984,

Từ điển tác gia văn học và sân khấu nớc ngoài do nhà xuất bản văn hóa Hữu Ngọc chủ biên xuất bản năm 1982 và một số từ điển nớc ngoài khác Nhân

đây chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn các tác giả trong những sách trên.

(3.3) Trong sách chúng tôi đã cố gắng trình bày nội dung ngắn gọn nhằm

đa đến bạn đọc một lợng thông tin cần thiết để hiểu biết về tác giả và tác phẩm Các tác giả và tác phẩm đợc sắp xếp theo thứ tự a, b, c, Mục từ tác giả trình bày vài nét về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, điểm những tác phẩm chính và cuối cùng nhận xét, vị trí, vai trò của tác giả đó trong nền văn học dân tộc và thế giới Mục từ tác phẩm trình bày năm ra đời, hoàn cảnh xuất xứ, tóm lợc nội dung và nhận xét giá trị nội dung t tởng và nghệ thuật Dới mỗi mục từ có ghi tên ngời viết.

(3.4) Cuốn sách đợc phân công biên soạn nh sau:

1 Lu Đức Trung (ĐHSPHNI) chủ biên, viết các mục từ thuộc văn học ấn Độ, Nhật Bản và một số nớc Đông Nam á và một số mục từ thuộc văn học Trung Quốc hiện đại.

2 Trần Lê Bảo (ĐHSPHNI) văn học Trung Quốc, Lào và Cămpuchia.

3 Lê Nguyên Cẩn (ĐHSPHNI) văn học phơng Tây.

4 Phạm Gia Lâm (ĐHSPHNI) văn học Nga - SNG.

5 Hà Thị Hòa (ĐHSPHNI) văn học Nga - SNG.

6 Nguyễn Văn Mỳ (ĐHSPHNII) văn học Trung Quốc.

7 Nguyễn Ngọc Thi (ĐHSPHNII) văn học phơng Tây

8 Trần Hồng Vân (Viện văn học) văn học ảrập - Ba T.

(3.5) sách gồm 3 phần:

Phần I: Lời nói đầu, vài điều quy ớc.

Phần II: Nội dung tác giả, tác phẩm văn học nớc ngoài.

Phần III: Phụ lục: bảng tra cứu tác giả, tác phẩm và tên nớc.

(4) Nhân cuốn sách đợc xuất bản, chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:

- GS Nguyễn Nh ý đã quan tâm và khích lệ chúng tôi hoàn thành cuốn sách.

- GS Nguyễn Khắc Phi và GS Phạm Đức Dơng đã góp nhiều ý kiến quý báu.

- Ban biên tập Văn của Nxb đã tận tình giúp đỡ chúng tôi trong lúc biên soạn Mặc dầu đã có nhiều cố gắng nhng do biên soạn lần đầu, chắc chắn cuốn sách không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận đợc những ý

Trang 33

kiến đóng góp quý báu của bạn đọc xa gần để khi tái bản sách đợc hoàn thiện hơn.

Hà Nội, tháng 4 năm 1999

TM các soạn giả

Lu Đức Trung

2.2.1 Tiêu đề

Tiêu đề là câu đầu đề, tựa đề, nhan đề, là tên gọi của văn bản Tiêu đề

phần giới thiệu văn bản đợc định danh bởi các từ, cụm từ nh: tựa, lời nói đầu, lời giới thiệu, lời nhà xuất bản, cùng bạn đọc, Qua khảo sát trên 500 t liệu, chúng tôi thấy trong phần giới thiệu : lời nói đầu là tiêu đề đợc sử dụng nhiều nhất, tiếp đến là lời giới thiệu, sau đó là lời nhà xuất bản, lời tựa, lời mở

đầu, (xem bảng 2.1)

Trang 34

Lời dẫn 7 1,4

- Về cấu tạo: Trong phần giới thiệu văn bản, tiêu đề là một bộ phận của

chỉnh thể, có hình thức của một câu nh các câu khác trong văn bản, nhng làmột câu đặc biệt, phần lớn là câu một từ

+ Câu một từ là động từ nh: "mở đầu" (chiếm 2,4%), câu một từ là danh từ,nh: "tựa", "lời nói đầu", "lời giới thiệu", "lời nhà xuất bản", (chiếm hơn90%)

+ Câu là một cụm từ nh: "mấy lời trớc khi vào sách", "đôi lời cùng bạn đọc"

- Về nội dung, chức năng: Tiêu đề là một phần không thể thiếu trong cấu

trúc của một văn bản nói chung Tiêu đề là tên gọi của văn bản, có nghĩa làtiêu đề mang chức năng của một đơn vị định danh Đồng thời nó vừa có khả

năng nêu lên nội dung khái quát của văn bản I R Galperin cho rằng: "Tên gọi hớng sự chú ý của bạn đọc vào điều bạn sẽ trình bày Trong quá trình đọc một văn bản, thờng độc giả lại chú ý đến tên gọi, cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của

Trang 35

nó và liên hệ với nội dung của văn bản Bản chất của phát ngôn là dựa vào cái đã biết để tìm ra cái cha biết" [17; 269] Trong phần giới thiệu văn bản,

tiêu đề vừa khái quát những vấn đề sẽ đợc triển khai, đồng thời nó còn là dấuhiệu giúp ngời đọc có sự phân định rõ ràng giữa văn bản phụ và văn bản chínhvăn Qua những tiêu đề "lời nói đầu", "lời giới thiệu", tự chúng đã thông báocái nội dung trọng tâm cơ bản sẽ đợc chi tiết hóa ở trong văn bản Chẳng hạn,

"lời nói đầu - nghĩa của nó là: những bài viết ở đầu sách để trình bày trớc một

số ý kiến, có liên quan đến nội dung, mục đích cuốn sách [34; 586]", ngời đọc

sẽ nắm đợc một lợng thông thông tin cần yếu (là những ý kiến, những thôngtin liên quan đến nội dung, mục đích của cuốn sách) khi đọc qua tiêu đề Cũng

nh tiêu đề ở các loại văn bản khác, tiêu đề của phần giới thiệu văn bản còn gópphần tạo nên tính hoàn chỉnh cho phần giới thiệu

2.2.2 Phần mở đầu

Phần mở đầu của phần giới thiệu văn bản cũng giống nh đoạn văn mở đầutrong văn bản, có nhiệm vụ giới thiệu nội dung, nhận định khái quát về chủ

đề, hoặc nêu phơng hớng tạo tiền đề cho phần tiếp theo triển khai

- Về cấu trúc ngữ pháp: phần giới thiệu đợc cấu tạo bởi một đoạn văn, nên

còn gọi là đoạn văn mở đầu Căn cứ vào tính hoàn chỉnh của cấu trúc, đoạnvăn mở đầu trong phần giới thiệu có hai loại:

+ Đoạn văn bình thờng: là những đoạn văn do nhiều câu tạo thành, mỗicâu biểu thị một nội dung tơng đối hoàn chỉnh, có hình thức rõ ràng Đó lànhững đoạn mang những đặc điểm cơ bản của đoạn văn nói chung, làm cơ sở

để tạo lập văn bản, ví dụ:

"(a) Phong trào Thơ mới lãng mạn (1932 - 1945) là một hiện tợng văn học rất

đa dạng, phong phú và phức tạp (b) Vì thế, xung quanh vấn đề này, cho đến nay ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu và của d luận nói chung vẫn còn nhiều điểm cha thống nhất (c) Hơn sáu chục năm đã trôi qua kể từ ngày "Thơ mới" ra đời, tuy nhiên vấn đề Thơ mới lãng mạn cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ vẫn còn có ý nghĩa thời sự" (Trích lời nói đầu, Văn học lãng mạn Việt Nam, 1930 - 1945).

Đoạn văn mở đầu đợc trích dẫn trên là một đoạn văn bình thờng, gồm có 3câu, mỗi câu biểu thị một nội dung: câu (a) giới thiệu phong trào thơ mới là

Trang 36

một hiện tợng phong phú và phức tạp; câu (b): các ý kiến xung quanh vấn đềThơ mới còn cha thống nhất; câu (c): cho đến nay vấn đề Thơ mới vẫn còntính thời sự.

+ Đoạn văn đặc biệt: là những đoạn văn gồm một câu

(1) "Cuốn Ngữ pháp Tiếng Việt này là giáo trình nhằm trang bị những tri thức lý thuyết và thực hành cho sinh viên s phạm, khoa Ngữ văn, năm thứ ba,

hệ đào tạo chính quy." (Lời giới thiệu, Ngữ pháp Tiếng Việt).

(2) "Tập sách này nhằm vào một đối tợng rộng rãi: học sinh cuối cấp trung học cơ sở (bắt đầu làm văn nghị luận), sinh viên đại học khoa văn (bắt

đầu tập nghiên cứu văn học) nhng chủ yếu là các em học sinh trung học phổ thông" (Cùng bạn đọc, Muốn viết đợc bài văn hay).

Căn cứ vào mối quan hệ giữa các câu trong đoạn, đoạn văn mở đầu gồm

có những loại sau:

+ Đoạn văn diễn dịch: là đoạn văn có câu mở đầu mang nội dung kháiquát hơn so với những câu khác trong đoạn (thờng đợc gọi là câu chủ đề), cònnhững câu tiếp theo nêu những nội dung cụ thể, thuyết minh làm rõ câu đầu

Đây là cấu trúc mở thờng gặp nhất trong phần giới thiệu văn bản

"Hiện nay việc giảng dạy và nghiên cứu văn học ấn Độ ở nớc ta ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết Trớc hết nó giúp sinh viên khoa Ngữ văn có

sự hiểu biết về một nền văn học lớn của nhân loại, một nền văn học mà chúng

ta đã từng khẳng định ít nhiều có ảnh hởng đến văn học nớc ta Hai nữa là để thể hiện cụ thể việc tăng cờng mối quan hệ giữa hai dân tộc Việt - ấn đã có từ lâu đời Sự thực không có một chiếc cầu hữu nghị nào bền vững bằng giao lu

về văn học nghệ thuật" (Lời nói đầu, Văn học ấn Độ).

+ Đoạn văn quy nạp: là đoạn văn có câu cuối mang nội dung khái quátquát, thể hiện chủ đề của đoạn, còn các câu trớc thể hiện nội dung cụ thể

"Cú pháp Tiếng Việt là một nội dung rất quan trọng của giáo trình Việt ngữ học đợc giảng dạy tại Trờng Đại học Tổng hợp Hà Nội và Đại học Quốc gia ngày nay tính ra đã hơn bốn mơi năm Đây là một vấn đề thú vị và rất phức tạp, phức tạp tới mức gai góc Mỗi một giáo trình đợc giới thiệu đều không chỉ là một tri thức căn bản của ngôn ngữ học và Việt ngữ học, mà còn

là một chuyên luận thể hiện những suy nghĩ riêng, những triết lý riêng về ngữ pháp của mỗi một tác giả Điều đó không hề làm cho anh chị em sinh viên hoang mang, mà trái lại nó tăng thêm sự hiểu biết phong phú và cách suy nghĩ

Trang 37

đa dạng của mỗi ngời trong học tập Cuốn sách này cũng đợc thực hiện trên tinh thần nh thế" (Lời giới thiệu, Thành phần câu Tiếng Việt).

+ Đoạn văn song hành: các câu trong đoạn văn có quan hệ bình đẳng, liênhiệp với nhau

"Ngôn ngữ học văn bản là một bộ phận thuộc ngành Ngôn ngữ học, tuy ra

đời muộn nhng nó đã trở thành một trong những vấn đề mang tính thời sự, thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực trên thế giới cũng nh ở Việt Nam trong suốt mấy chục năm qua Ngôn ngữ học văn bản đã góp phần bổ sung, hoàn thiện thêm về mặt lý luận ngôn ngữ học có tính ứng dụng hết sức rộng rãi trong hoạt động giao tiếp hàng ngày" (Lời nói đầu, Ngôn ngữ học văn bản).

+ Đoạn văn móc xích: Các câu trong đoạn văn có quan hệ móc xích vớinhau, ý của câu sau nối tiếp phát triển ý của câu trớc cho đến hết đoạn

"Từ thời xa xa của lịch sử Trung Quốc đã có nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng, tạo nên một kho di sản văn hóa, phong phú và đồ sộ Trong những thành tựu này, sáng tác thi ca thật là nổi bật Vì hễ nói đến tác phẩm văn học

là phải nói đến thơ Đờng" (Lời nói đầu, Thơ Đờng bình giải).

- Về cấu trúc nội dung: đoạn mở đầu của phần giới thiệu có nội dung nh

sau: nêu lý do, mục đích (lời tác giả); nêu và giới thuyết vấn đề (lời ngờikhác) Căn cứ vào cách thức thể hiện nội dung có hai kiểu mở thờng gặp:+ Kiểu mở trực tiếp: đoạn văn mở đầu nêu ngay vấn đề mà không sử dụngcác ý dẫn dắt Ví dụ, mở đầu phần giới thiệu tác giả trình bày ngay mục đích,

nhiệm vụ của cuốn sách là gì, giới thiệu trực tiếp đối tợng nghiên cứu, "Tiếp cận nghệ thuật thơ ca nhằm nghiên cứu các thành phần cơ bản trong từng câu

thơ, việc sắp xếp các đoạn thơ trong bài thơ, các yếu tố, các hệ thống trong từng

bài thơ, tập thơ, " (lời nói đầu, Tiếp cận nghệ thuật thơ ca); "Công trình này

đặt nhiệm vụ nghiên cứu hiện tợng âm tiết nh là một đối tợng nghiên cứu ngôn

ngữ học mang những chức năng nhất định trong những ngôn ngữ thuộc loại

hình cơ cấu khác nhau" (Lời dẫn, Âm tiết và loại hình tiếng Việt).

+ Kiểu mở gián tiếp: kiểu mở cha đi thẳng vào vấn đề cần trình bày, màdẫn dắt các ý từ xa đến gần, trình bày các thông tin xung quanh để dẫn vàovấn đề chính Trích đoạn văn mở đầu trong phần giới thiệu Lý thuyết và thực

hành văn bản Tiếng Việt, PGS.TS Phan Mậu Cảnh viết: "Khi con ngời giao tiếp hàng ngày với nhau, ngời ta có thể dùng cử chỉ, điệu bộ, ký hiệu để trao

Trang 38

đổi thông tin, nhng phơng tiện cơ bản nhất vẫn là ngôn ngữ Suy cho cùng, không có t tởng, tình cảm, Văn bản là đối tợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có ngôn ngữ học" Trong ví dụ này, để đa ra kết luận "văn

bản là đối tợng nghiên cứu của ngôn ngữ học" tác giả từ chỗ giới thiệu

"ph-ơng tiện giao tiếp cơ bản nhất của con ngời và ngôn ngữ", trong đó "văn bảnsản phẩm hoàn chỉnh nhất, trọn vẹn nhất "

- Về vai trò, chức năng: đoạn văn mở đầu có vai trò nêu và định hớng đối

tợng nghiên cứu Là một phần trong cấu trúc nội tại của phần giới thiệu, đoạn

mở đầu cùng với hai phần còn lại tạo thành một văn bản hoàn chỉnh, cân đối

2.2.3 Phần triển khai

- Về dung lợng và cấu tạo: Phần triển khai là phần có dung lợng lớn nhất

văn bản so với phần mở đầu và kết thúc, nó bao gồm nhiều đoạn văn Cũnggiống nh đoạn mở đầu, cấu trúc các đoạn văn trong phần triển khai có haikiểu: Đoạn văn bình thờng và đoạn văn đặc biệt Căn cứ vào vị trí của câu chủ

đề ta có: đoạn văn diễn dịch, đoạn văn quy nạp, đoạn văn móc xích, đoạn vănsong hành, đoạn văn hỗn hợp Chẳng hạn, phần triển khai của lời nói đầu cuốnsách "Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt" của Đỗ Hữu Châu nh sau:

(1) Sự hiện đại hóa tri thức khoa học nh vậy là rất cần thiết Tuy nhiên nó vẫn nằm trong khuôn khổ của một cuốn giáo trình dùng cho học sinh các Tr- ờng Đại học S phạm: những vấn đề đợc đa ra hay bị gạt bỏ, đợc nhấn mạnh hay lớt qua là tùy theo yêu cầu của phơng pháp giảng dạy, của phơng pháp nghiên cứu, của tính hệ thống các tri thức cấu thành bộ môn, và tùy theo vị trí của chúng trong chơng trình dạy Tiếng Việt và dạy Văn học ở các trờng học bậc phổ thông.

(2) Giáo trình đợc viết với dụng ý rõ rệt thể hiện phơng pháp nghiên cứu khoa học Đó là phơng pháp xem đối tợng là một chỉnh thể của nhiều mặt đối lập từ thấp đến cao Nghiên cứu một đối tợng chỉ đạt đợc kết quả khi ngời nghiên cứu tác ra đợc một cách hợp lý các mặt đối lập đó để nghiên cứu từng mặt một Tuy nhiên, vì là một thể thống nhất cho nên không thể tuyệt đối hóa các mặt đối lập mà phải lu ý phát hiện ra sự quy định lẫn nhau, tác động vào nhau và sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập Theo phơng pháp này thì không thể tuyệt đối hóa ngôn ngữ nh một hệ thống với những yếu tố ngoài ngôn ngữ, những yếu tố xã hội và cá nhân; không thể tuyệt đối hóa ngôn ngữ và lời nói.

Trang 39

(3) ở bậc đại học, có ý nghĩa hàng đầu trong việc giảng dạy một bộ môn khoa học là giảng dạy về phơng pháp Bởi vậy ở đôi chỗ trong giáo trình, chúng tôi phải viết kỹ hơn để thuyết minh phơng pháp, mặc dù những chỗ đó

có thể vợt qua tính chất của một cuốn giáo trình.

(4) Giáo trình đợc chia thành năm phần riêng, nhng thực ra giữa chúng vẫn có những quan hệ quy định chặt chẽ.

(5) Phần thứ nhất và phần thứ hai nghiên cứu các đơn vị từ vựng nh những chỉnh thể hình thức (phần I) và nội dung (phần II) Đó cũng là sự nghiên cứu các đơn vị tách biệt của từ vựng.

(6) Phần thứ ba và phần thứ t nghiên cứu toàn bộ từ vựng nh hệ thống của từng đơn vị tách biệt trên.

(7) Phần thứ năm có tính chất là phần ứng dụng và thử nghiệm Chúng tôi chỉ chọn có hai công việc mà ngời giáo viên thờng gặp nhất trong khi giảng dạy Tiếng Việt và dạy Văn học để thử xử lý chúng theo những lý luận và kết quả trình bày trong giáo trình Nếu nh cách xử lý đó là có thể chấp nhận đợc thì nó sẽ là những gợi ý tốt về nghiệp vụ cho ngời đọc Nh thế cũng có nghĩa

là tính đúng đắn của giáo trình đã đợc thực tiễn nghiệp vụ chứng minh.

Ngoài phần mở đầu (đoạn 1) và phần kết thúc, phần triển khai đợc tác giảviết 7 đoạn, trong đó gồm 2 đoạn văn là một câu, 2 đoạn văn viết theo cấu trúcmóc xích (1, 3), còn lại là diễn dịch (2, 4, 5, 6, 7)

- Về nội dung: đây là phần triển khai những chủ đề, luận điểm đã đợc định

hớng trong phần mở đầu, mỗi đoạn văn (hoặc một số đoạn) thực hiện triểnkhai một luận điểm, những luận điểm này đều tập trung làm sáng rõ nhữngvấn đề của văn bản chính văn Các vấn đề đợc triển khai trong phần giới thiệuvăn bản là giới thiệu tóm tắt những nội dung, những luận điểm của đề tài, vànhững chỉ dẫn của tác giả về những vấn đề liên quan tới cuốn sách Hoặc cóthể giới thiệu về phơng pháp nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa, giới thiệu bố cục,mặt hình thức, Xét ví dụ đã trình bày trên ta thấy: đoạn (1) triển khai mộtluận điểm, đoạn (2, 3) giới thuyết về phơng pháp nghiên cứu, đoạn (4, 5, 6, 7)tập trung giới thiệu các phần trong nội dung chính văn

Trang 40

- Về mối quan hệ với phần mở đầu và phần kết thúc: có quan hệ trực tiếp

(khai triển những vấn đề đợc đặt ra ở phần mở, và phần kết khái quát nhữngvẫn đề đã triển khai), kiểu quan hệ này thờng gặp trong các lời giới thiệu; cóquan hệ gián tiếp (tức là, phần triển khai nói về một vấn đề, phần mở nói mộtvấn đề, phần kết thúc là một vấn đề khác Tuy nhiên, sợi dây liên kết giữachúng là các vấn đề này cùng hớng đề đề tài của văn bản chính văn), thờnggặp trong những lời nói đầu có đoạn mở đầu trình bày mục đích nghiên cứu,phần triển khai giới thuyết về phơng pháp, bố cục, nội dung, phần kết thúc làlời cảm ơn, hy vọng

2.2.4 Phần kết thúc

Là phần khép lại văn bản, hoặc khép lại vấn đề đợc triển khai Phần kếtcủa phần giới thiệu văn bản là lời tác giả nhìn chung không kết luận lại nhữngvấn đề đã trình bày mà phần này đợc tác giả dành riêng để bộc lộ những tìnhcảm riêng t cá nhân của bản thân Ta có thể hình dung những vấn đề đợc nói

đến trong phần kết thúc nh sau: [đoạn văn 1 ( chúng tôi xin chân thành cảm

ơn ) + đoạn văn 2 ( chúng tôi hy vọng ) + địa danh, ngày tháng, họ tênngời viết], ví dụ:

"Trong quá trình viết chuyên luận này, chúng tôi đợc sự giúp đỡ rất tận tình và có hiệu quả" của nhà thơ Huy Cận, ngời đã sáng tạo ra những tác phẩm thơ ca đặc sắc để giúp cho chúng tôi chọn làm đối tợng nghiên cứu, ng-

ời đã cung cấp nhiều t liệu quý giá để chúng tôi tham khảo, ngời đã góp nhiều

ý kiến bổ ích cho chúng tôi khi viết tập sách này.

Chuyên luận của chúng tôi đợc thực hiện dới sự hớng dẫn khoa học của giáo s Hà Minh Đức, ngời đã dìu dắt giúp đỡ tôi suốt mấy chục năm qua, ngời

có ảnh hởng tốt đẹp và quan trọng đối với chúng tôi trên con đờng học tập và nghiên cứu Nhân dịp cuốn sách đợc xuất bản, chúng tôi tr ớc hết xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhà thơ Huy Cận và giáo s Hà Minh Đức.

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự chỉ giáo và sự cổ vũ nhiệt tình của các thầy cô giáo và đồng nghiệp xa gần Chúng tôi xin cảm ơn Nhà xuất bản Văn học đã tạo điều kiện cho cuốn sách ra đời.

Cuốn sách chắc chắn còn nhiều hạn chế, mong đ ợc sự chỉ giáo của đông đảo bạn đọc.

Hà Nội, mùa thu 2001

Trần Khánh Thành"

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Thị Tuấn Anh (2000), Đề từ với văn bản nghệ thuật, Khóa kuận tốt nghiệp, Đại học s phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề từ với văn bản nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Thị Tuấn Anh
Năm: 2000
[2]. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1,2, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt, tập 1,2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[3]. Diệp Quang Ban (2005), Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[4]. Diệp Quang Ban (2005), Văn bản (giáo trình cao đẳng s phạm), Nxb ĐH S phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản (giáo trình cao đẳng s phạm)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb ĐH S phạm
Năm: 2005
[5]. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm (1985), Ngữ pháp văn bản và việc dạy tập làm văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ "pháp văn bản và việc dạy tập làm văn
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
[6]. Lê Thị Thu Bình (2002), "Khảo sát nội dung phản ánh trong đoạn mở đầu của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan", Ngữ học trẻ, Hội ngôn ngữ học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nội dung phản ánh trong đoạn mở đầu của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Lê Thị Thu Bình
Năm: 2002
[7]. Lê Thị Thu Bình (2007), Đặc điểm đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn, Luận án tiến sỹ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm đoạn văn mở đầu trong truyện ngắn
Tác giả: Lê Thị Thu Bình
Năm: 2007
[8]. Phan Mậu Cảnh (2002), Ngôn ngữ học văn bản, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2002
[9]. Phan Mậu Cảnh (2005), "Vai trò của đoạn văn mở đầu trong văn bản", Ngữ học trẻ, Hội ngôn ngữ học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đoạn văn mở đầu trong văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2005
[10]. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp Tiếng Việt các phát ngôn đơn phần, Nxb Đại học S phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học S phạm
Năm: 2006
[11]. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt , Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành văn bản Tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2008
[12]. Chafe, Wallace. L (1998), ỳ nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ỳ nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ
Tác giả: Chafe, Wallace. L
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[13]. Đỗ Hữu Châu (1996), Giản yếu về ngữ pháp văn bản, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giản yếu về ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
[14]. Đỗ Hữu Châu (chủ biên) - Nguyễn Thị Ngọc Diệu, Giáo trình Ngữ pháp văn bản, Nxb Đại học S phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngữ pháp văn bản
Nhà XB: Nxb Đại học S phạm
[15]. Hoàng Dân, Nguyễn Quang Ninh (1994), Tiếng Việt (phần ngữ pháp văn bản), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Dân, Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
[16]. Nguyễn Đức Dân (2000), Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[17]. Galperin, I. R (1987), Văn bản với t cách là đối tợng nghiên cứu của ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản với t cách là đối tợng nghiên cứu của ngôn ngữ học
Tác giả: Galperin, I. R
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1987
[18]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ "văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[19]. Nguyễn Quang Ninh (1997), 150 bài tập rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 bài tập rèn luyện kỹ năng xây dựng "đoạn văn
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh
Năm: 1997
[20]. Nguyễn Quang Hào (2004), Ngôn ngữ báo chí, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Nguyễn Quang Hào
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1. Hình thức phần giới thiệu văn bản - Đặc điểm hình thức và nội dung phần giới thiệu văn bản trên tư liệu văn bản khoa học xã hội
2.1. Hình thức phần giới thiệu văn bản (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w