Lời nói đầuThơ ca bao trùm lên nhiều lĩnh vực, trong đó ngôn ngữ thơ với những đầu khảo sát hình thức câu thơ việt nam Trên t liệu một số bài thơdân gian, thơ Đờng luật và thơ mới là góp
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa ngữ văn
=== ===
Mai Thị Hoa
Bớc đầu khảo sát
hình thức câu thơ Việt Nam
(trên t liệu thơ ca dân gian, thơ Đờng luật, thơ mới)
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Vinh, 5/ 2005
Trang 2Ch¬ng II C©u th¬ trong th¬ ca ViÖt Nam 28
2.1 H×NH THøC C¢U Th¬ TRONG TH¥ CA d©n gian 28
Trang 3Lời nói đầu
Thơ ca bao trùm lên nhiều lĩnh vực, trong đó ngôn ngữ thơ với những
đầu khảo sát hình thức câu thơ việt nam (Trên t liệu một số bài thơdân gian, thơ Đờng luật và thơ mới) là góp phần làm sáng tỏ các phơng thức
tổ chức đặc bịêt của ngôn ngữ thơ ca dân tộc trong suốt một chiều dài lịch
sử đáng trân trọng và tự hào
Gia tài thơ ca Việt Nam rất đồ sộ, phong phú, nhng việc khảo sát củacác khoá luận mới chỉ dừng lại ở một số khía cạnh tiêu biểu về mặt hìnhthức ở một thể thơ tiêu biểu mà giới hạn đề tài cho phép
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi đã nhận đợc nhiều sự giúp
đỡ động viên của của thầy cô và các bạn, đặc biệt là sự hớng dẫn tận tìnhcủa PGS.TS Phan Mậu Cảnh, của giáo viên phản biện cùng các thầy côgiáo chuyên ngành ngôn ngữ học – Khoa Ngữ văn, Trờng Đại học Vinh.Nhân đây chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến các thầycô và tất cả các bạn
Với thời gian và năng lực có hạn, chắc chắn khóa luận còn nhiều thiếusót, chúng tôi rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp chân thành của quý thầycô và các bạn
1 Khảo sát hình thức câu thơ và câu thơ trong cấu trúc của văn thơ là
một công việc đa dạng, phong phú, phức tạp nhng cũng đầy lý thú, ViênMai trong “Tuỳ viên thi thoại” có nhận xét rất khái quát: “Thơ có bài không
Trang 4có câu là vì cả hai thanh thoát, già dặn, một mạch làm thành, không có câugì hay trội để ngời ta truyền tụng; lại cũng có khi có câu mà không có bài,
là vì trong một bài không phải không có câu hay, mà nói chung toàn thể thìkhông xứng, khó đợc ngời ta chọn lấy Hai cái đó có một cái thiếu thiên tài,hai là thiếu nhân lực, tức là vừa có bài vừa có câu mới xứng là tay cừ” ởgóc độ ngôn ngữ thơ, nhận xét của Viên Mai chỉ ra mối quan hệ không thểthiếu giữa cấu trúc câu thơ trong chỉnh thể văn bản thơ Trong văn bản thơ,câu thơ là đơn vị cơ sở tạo nên quan hệ ngữ nghĩa, hoà âm, tổ chức cú pháp,liên kết văn bản Tìm hiểu các mối quan hệ đó là một vấn đề cần thiết
2 Xét về phơng diện thi pháp, mối quan hệ tơng tác giữa câu thơ và
văn bản thơ là một vấn đề vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính hiện đại;vừa thuộc phạm trù sáng tác (Thi pháp cổ điển) vừa thuộc phạm trù tiếpnhận (Thi pháp hiện đại) Với tầm quan trọng đó, việc tìm hiểu mối quan hệtơng tác trên là mảnh đất màu mỡ của ngành ngôn ngữ học
Nghiên cứu câu thơ là vấn đề có bề dày lịch sử Ngay từ thời Aristôtengời ta đã quan tâm đến vấn đề này Gần đây các tác giả nh: Nguyễn Phan
dày công nghiên cứu đa ra những nhận xét xác đáng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tuy nhiên, hớng nghiêncứu chính của các tác giả đi trớc vẫn tập trung khám phá các phơng thứchình thái – Cấu trúc nội tại của câu thơ hơn là tìm hiểu mối quan hệ giữacâu thơ và văn bản Chính vì vậy, việc kế thừa những thành quả nghiên cứu
về câu thơ của những tác giả đi trớc, đồng thời mở rộng ngoại diên nghiêncứu của câu thơ trong mối quan hệ chỉnh thể thơ của văn bản thơ Việt Nam
là một vấn đề cần thiết
3 Trong thực tiễn giảng dạy môn ngữ văn nói chung và thơ ca nói
riêng, việc phân tích, bình giảng tác phẩm thơ Việt Nam trong mối quan hệchỉnh thể giữa nội dung và hình thức không thể không quan tâm đến đơn vịcơ sở là câu thơ Vì vậy, tìm hiểu câu thơ trong văn bản thơ Việt Nam gópphần không nhỏ vào việc giảng dạy thơ ca Việt Nam trong trờng học hiệnnay
II Mục đích và đối tợng nghiên cứu
Trang 5c) Nêu một số hình thức thể hiện câu thơ, bài thơ độc đáo trong thơ caViệt Nam
2 Đối tợng nghiên cứu
a) Đối tợng nghiên cứu của khoá luận là: các bài thơ tiêu biểu của thểthơ dân gian, thơ Đờng luật và thơ mới
b) Đơn vị khảo sát là câu thơ đặt trong mối quan hệ với bài thơ
c) Nguồn t liệu là: Tuyển tập tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam; tuyểntập thơ văn trung đại Việt Nam; tuyển tập thơ mới
III Lịch sử vấn đề
Là đơn vị cơ sở của ngôn ngữ thi ca, ngay từ xa xa câu thơ đã thu hút
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vựckhoa học Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các học giả đã đạt đợc nhiềukết quả to lớn trong việc khám phá bản chất của câu thơ và câu thơ trongmối quan hệ với văn bản thơ Có thể hệ thống lịch sử nghiên cứu về câu thơtheo các hớng sau đây
1 Hớng thứ nhất; Nghiên cứu tổng thể câu thơ dới góc độ lý luận văn
học, thể loại văn học Xuất phát từ quan niệm câu thơ là một đơn vị cơ sởcủa nghệ thuật thi ca, Aristôte trong cuốn “Nghệ thuật thi ca” đã đề cập đếnvấn đề này Cũng theo hớng nghiên cứu đó các nhà lý luận phơng Tây vàphơng Đông nh: A.Timôfeep, A.ABốc, G.Tômxón, Maiacôpxky, Boalô,Brutoaren, Vinôgrađốp, Viên Mai, Âu Dơng Tử,…đãCũng đạt đợc nhiềuthành công ở Việt Nam một số nhà lý luận học tên tuổi nh Bùi Văn
hớng nghiên cứu này
2 Hớng thứ hai; Nghiên cứu câu thơ dới góc độ thi pháp Các nhà
nghiên cứu cho rằng câu thơ là một phơng thức, phơng tiện nghệ thuật làmnên giá trị thi pháp và phong cách tác giả Đại biểu cho hớng nghiên cứunày là các nhà thi pháp học Việt nam nh: Phan Ngọc, Trần Đình Sử,Nguyễn Xuân Kính, Đỗ Đức Hiểu,…đã
3 Hớng thứ ba: Nghiên cứu tổng thể câu thơ dới góc độ ngôn ngữ
học Hớng này xem câu thơ nh là một đơn vị cơ sở của ngôn ngữ thi ca, vìvậy các nhà nghiên cứu tập trung đa ra những quan niệm khái quát về thơ
và câu thơ dới góc độ ngôn ngữ học Những nghiên cứu về thơ thể hiện rõtrong các công tình nghiên cứu của Jakopson, V.Prop, Tomasepxky,…đãởViệt Nam từ những năm 1970 trở lại đây các tác giả Nguyễn Phan Cảnh,
Trang 6Nguyễn Lai, Đào Thản, đã đa ra nhiều kiến giải góp phần làm rõ hoạt
động và đặc trng của ngôn ngữ thơ
4 Hớng thứ bốn: Nghiên cứu câu thơ trên từng bộ phận cấu thành của
thơ là một đơn vị cấu thái, cấu trúc do nhiều yếu tố ngôn ngữ lập thành.Thành công của hớng nghiên cứu này là các bộ phận của câu thơ đó đợcnghiên cứu rất kỹ lỡng nhng bị tách rời Tiêu biểu của hớng nghiên cứu này
là tác giả: Gontrarôp, Calatơrôva, Gacparôp, Tơxoxuêba, Nguyễn Tài Cẩn,
Đinh Trọng Lạc, Hồ Lê,…đã
5 Hớng thứ năm: Nghiên cứu tổng hợp câu thơ trong mối quan hệ
chỉnh thể với văn bản thơ Hớng nghiên cứu vừa xem câu thơ là một đơn vịhình thái cấu trúc của ngôn ngữ thơ vừa là đơn vị cơ sở trong mối quan hệchỉnh thể của văn bản thơ Tiếc rằng, vì không chuyên sâu vào đối tợng là
đơn vị câu thơ nên kết quả nghiên cứu cha đợc trọn vẹn Tiêu biểu cho hớngnghiên cứu này là các tác giả: Bùi Công Hùng, Đái Xuân Ninh, Hữu Đạt,…đãTrở lên là điểm lại các hớng và quan điểm nghiên cứu cơ bản tronglịch sử nghiên cứu câu thơ Xuất phát từ thực tế nghiên cứu đó chúng tôi cóvài nhận xét sau đây:
1 ở một vị trí rất quan trọng trong nghệ thuật thi ca, câu thơ luônluôn đợc các giới nghiên cứu ngữ văn của nhiều thời quan tâm
2 Câu thơ là một đơn vị đa nghĩa, đa diện, vì vậy, luôn đợc quan tâmnghiên cứu trên nhiều phơng diện, nhiều lĩnh vực Cũng chính vì thực tế đó
mà cha có công trình chuyên khảo nào đi sâu vào lĩnh vực ngôn ngữ họccủa câu thơ, đặc biệt đi sâu khảo sát mối quan hệ tơng ứng giữa câu thơ vàvăn bản thơ
3 Khi nghiên cứu câu thơ Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã đề cập
đến nhiều khía cạnh đặc sắc trong câu trúc – hình thái, trong mối quan hệ– chỉnh thể của câu thơ trong thơ ca Việt Nam Tiếc rằng sự quan tâm đócha nhiều để khắc họa một cách toàn diện đặc trng ngôn ngữ thơ Việt Nam.Nhìn chung tất cả các công trình đi trớc là những tri thức quý giá soisáng cho chúng ta lựa chọn những giải pháp hữu ích cho việc nghiên cứucâu thơ trong văn bản thơ Việt Nam
IV Phơng pháp nghiên cứu
Đề tài chúng tôi lấy câu thơ là mối quan hệ tơng tác giữa câu thơ vớivăn bản thơ Việt Nam làm đối tợng khảo sát, do đó mang tính chất liênngành Chính vì vậy, phơng pháp nghiên cứu khá đa dạng, tuỳ thuộc vào nộidung và mục đích của từng vấn đề Nhìn chung, chúng tôi cố gắng sử dụngcác phơng pháp sau đây:
1 Thống kê, phân loại: Khoá luận tiến hành thống kê các mặt hình
thức câu thơ, sau đó tiến hành phân loại theo những tiêu chí nhất định
Trang 72 Phơng pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp: miêu tả các hiện tợng
sau đó tiến hành tổng hợp thành các luận điểm, đặc điểm
3 Phơng pháp đối chiếu so sánh: để làm rõ đặc điểm hình thức, khoá
luận tiến hành đối chiếu, so sánh với các phơng diện khác của câu thơ, củacác thể loại để làm rõ đặc trng hình thức câu thơ Việt Nam
đó
Từ trớc đến nay thơ ca luôn là hiện tợng độc đáo đợc nhiều nhà nghiêncứu quan tâm Đã có hàng trăm định nghĩa về thơ với nhiều cách hiểu khácnhau Nguyên nhân của hiện tợng này là do thơ ca quả là một thực thểphong phú, đa dạng và phức tạp Vì vậy, khó có chỗ đứng thực sự bao quát
để xem xét thơ Cách đây hơn hai nghìn năm, khi thuật ngữ thơ ca còn gắnliền với thuật ngữ nghệ thuật, nhà triết học duy tâm Palaton xem thơ ca nh
là một hiện tợng huyền bí, quái đản, có cái gì đó cao siêu không với tới đợc.Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX quan niệm trên vẫn còn đợc nhóm
“Xuân Thu nhã tập” với những tên tuổi sáng giá nh: Nguyễn Xuân Sanh,
sáng tác nên những câu thơ kỳ quái kiểu: “Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm
nghệ thuật là thần bí, Aristote “lần đầu tiên xem nghệ thuật là hiện tợng docon ngời tạo ra theo những quy luật khách quan, theo những quy tắc tổ chứcchặt chẽ” Xuất phát từ quan nịêm đó thơ ca luôn đợc xem xét từ haikhuynh hớng Một khuynh hớng nghiên cứu thơ từ phơng diện tâm lý xãhội, lịch sử, t tởng trong mối quan hệ với cuộc sống khách quan và con ngờitác giả Một khuynh hớng tập trung nghiên cứu các phơng thức tạo lập vănbản thơ
Theo khuynh hớng thứ nhất thơ gắn liền với cuộc đời là những sợi dâytình cảm, ràng buộc mọi ngời, là tiếng nói của cảm xúc, là sản phẩm củanhững rung động đột xuất, độc đáo là kết tinh của trí tởng tợng phong phú
Trang 8Thơ là cuộc sống đợc biểu hiện tập trung, cô đọng và cao đẹp Thơ khôngchỉ là văn chơng mà là gan ruột Thơ là điệu hồn đi tìm điệu hồn đồng điệu.Thơ là viên ngọc kim cơng long lanh dới ánh nắng mặt trời Thơ là tiếng nóihồn nhiên nhất của tâm hồn con ngời Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhấtcủa trí tởng tợng, là một thể loại văn học nằm trong phơng thức trữ tình, bảnchất của thơ rất đa dạng với nhiều biến thái màu sắc phog phú Thơ tác
động đến ngời đọc vừa bằng sự nhận thức của cuộc sống vừa bằng khả năngnhạy cảm sâu sắc vừa trực tiếp với những cảm xúc suy nghĩ cụ thể, vừa giántiếp qua liên tởng và những tởng tợng phong phú theo những mạch cảmnghĩ của cong ngời Thơ gắn với cuộc sống khác quan, chiều sâu và sựphong phú trong đời sống xã hội đã làm nên giá trị của những áng thơ Thơgắn với thế giới nội tâm trớc vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con ngời Thơ
có lúc mang rõ những hạt nhân lý tính, Huy Cận cho rằng “Cái chỗ đứngcuối cùng của thơ là phải đem một cái gì nâng sự cố gắng không ngừng của
con ngời để tự vợt lên mình” (Tạp chí văn nghệ, số 48) Thanh Tâm Tuyền:
“ Thơ sẽ còn lại mãi mãi để nhắc nhở cho thời đại, cho lịch sử, cho nhữngngời đang sống và những ngời kế tiếp rằng hàng động của họ cha đạt đếncái đỉnh thơ ca phóng ra” Theo Tố Hữu, thơ là biểu hiện tinh chất cuộcsống, là cái nhụy cuộc sống “Là tiếng nói đồng tình, đồng ý, tiếng nói đồngchí ” Xuân Diệu cho rằng: “Thơ là lọc lấy tinh chất, là sự vật đợc phản ánhvào trong tâm tình” Cũng từ ý nghĩ này Lu Trọng L cho rằng: “Thơ là sự
sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống” (Tạp chí văn nghệ, số 48 tháng 5 – 1981) Thanh Tịnh cũng nghĩ: “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô
Hồng trong bài tựa tập thơ của mình đã viết: “Thơ biểu hiện cuộc sống mộtcách cao đẹp” Đánh giá thơ theo phơng hớng này tiêu biểu và chủ yếu lànhóm các nhà lý luận nh Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên, Phơng Lựu, Lê
…đã
Theo xu hớng nghiên cứu của các phơng thức tạo lập văn bản củangôn ngữ thơ Các nhà lý luận ngôn ngữ Nga đầu thế kỷ XX và nhóm “phêbình mới ” ở Anh, Mỹ tập trung nghiên cứu ngôn ngữ thơ, các thành phầncủa câu thơ, đoạn thơ, văn bản thơ Quan niệm trên của các nhà ngôn ngữhọc xem thơ là một tổ chức ngôn ngữ kỳ diệu, kỳ diệu đến mức “quái đản”
Jakôpxơn trong cuốn Thơ ca Nga hiện đại đòi giải phóng thơ ca ra khỏi các
khuynh hớng triết học, họ yêu cầu tính tự trị hoàn toàn của một chỉnh thểkín mít ông cho rằng “ Lịch sử thơ ca là lịch sử phát triển những thủ pháp
trình bày chữ nghĩa” Theo Bách khoa tâm thần giáo Niucatôlic: Thơ trớc
hết và cuối cùng là cuộc hành trình trọn vẹn của ngôn từ Đối với ngời HyLạp, thi sỹ là ngời tạo tác ngôn từ ý nghĩa của một bài thơ chỉ loé sáng, chỉkết trái khi mà những ngôn từ diễn trò tạo tác Trớc những dòng chảy củangôn từ khác chúng bất dịch và cố hữu Một bài thơ là “những ngôn từ sánggiá đứng trong những trật tự hoàn hảo” (Côlêritgiơ) “Ngôn từ và trật tự –
Trang 9là một cặp nhảy hoàn mỹ chẳng chịu rời nhau nữa bớc” (Eliô) Phan Ngọc
trong bài Thơ là gì cũng viết: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái
đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ chochính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”, tức là đối lập hẳn với ngôn ngữhàng ngày
Thật sai lầm khi tách cuộc sống hoặc ngôn ngữ ra khỏi thơ ca Thơchính là cuộc sống đợc thể hiện bằng một cấu trúc ngôn ngữ kỳ diệu, là sảnphẩm tinh thần của con ngời thông qua phơng tiện duy nhất và độc đáo làngôn ngữ thơ Xuất phát từ quan niệm đó chúng ta có thể thấy rằng: Thơ làmột thể loại văn học đợc trình bày bằng một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt làngôn ngữ thơ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất dớidạng các hình tợng thơ
1.1 2 Văn bản thơ
Thơ ca dù tồn tại dới hình thức nào cũng đợc coi là văn bản Một vănbản có khi chỉ có hai câu thơ nh:
Thuyền về có nhớ bến chăngBến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
có khi văn bản thơ có hàng ngàn câu thơ
Văn bản thơ có thể bằng lời hay bằng chữ viết có một thể thức vàphong cách riêng Nó là tác phẩm của quá trình tạo lời mang tính cách hoànchỉnh mà ở đó có sự trau chuốt và ý thức về cách biểu đạt ngôn ngữ Vănbản thơ phải là một thông báo hoàn chỉnh, một thể thống nhất hoàn chỉnh,phải có khả năng hớng tới một chủ đề, một tên gọi chung Mặt khác vănbản thơ phải mang tính liên kết chặt chẽ Văn bản thơ phải đợc cấu thànhbằng một hệ thống ngôn ngữ quan hệ chặt chẽ với nhau mà đơn vị cơ sở của
và mục đích của nhà nghiên cứu và đặc điểm của từng thể loại cụ thể Việcnghiên cứu ngôn ngữ thơ hay nghệ thuật thơ ca của các tác giả NguyễnPhan Cảnh, Bùi Công Hùng, Hữu Đạt, luôn có khuynh hớng gắn các yếu tố,các đơn vị hình thức nghệ thuật ngôn ngữ trong mối quan hệ chỉnh thể vớivăn bản Đây là hớng nghiên cứu mà trong quá trình nghiên cứu đơn vị câuthơ chúng tôi cố gắng khai thác triệt để
Trang 101.1.3 Thơ ca Việt Nam
Trong tác phảm Mĩ học, Hêghen chia thơ thành ba thể: Sử thi, trữ
tình, kịch thơ Trong xu thế nghiên cứu thơ hiện nay, căn cứ vào phơng thứcphản ánh cuộc sống của thơ, ngời ta quan tâm đến thơ trữ tình Trong thơtrữ tình, dựa vào tổ chức ngôn ngữ ngời ta chia thơ: Thơ cách luật, thơ tự
do, thơ văn xuôi Căn cứ và đề tài, chủ đề có thể chia thành thơ triết lý, thơ
có thể chia thành thơ dân gian, thơ trung đại và thơ hiện đại
ở Việt Nam việc phân chia thơ ca có xu hớng dựa vào tiêu chuẩn thờigian Nhìn chung, có hai xu hớng: Một là chia thơ Việt Nam thành thơ dângian, thơ cổ điển, thơ cận đại, thơ hiện đại Xu hớng này lấy năm 1930 làmmốc thời gian mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện đại; hai là chia thơ ViệtNam thành thơ dân gian, thơ trung đại và thơ hiện đại, xu hớng này lây bài
thơ Thề non nớc của Tản Đà làm mốc mở đầu cho thơ ca Việt Nam hiện
đại Tuy nhiên, việc phân kỳ này chỉ mang tính chất tơng đối Việc phânchia thơ ca Việt Nam của chúng tôi đi theo xu hờng thứ hai Việc phân chianày xuất phát từ quan niệm khá hợp lý: Đối tợng nghiên cứu của lịch sử vănhọc phải là các sự kiện văn học (Tác phẩm văn học, trào lu văn học, hệthống thi pháp của các thời đại văn học)
Bắt đầu từ bài Thề non nớc, Tản Đà mở ra một chân trời mới cho thơ
ca Việt Nam hiện đại Bài thơ này là sự giao thoa giữ hai luồng văn họctrung đại và hiện đại Cùng với thời gian thơ hiện đại ngày càng phong phú
đang dang trong nghệ thuật biểu hiện và thể loại Sự phong phú đợc đánhdấu bằng phong trào thơ mới 1930 – 1945 và thơ ca hiện đại sau 1945 Cóthể có sự chuyển biến của nhiều luồng t tởng khác nhau về mặt nghệ thuậtbiểu hiện, hình thức biểu hiện thơ ca Việt Nam dù trong giai đoạn nào cũngmang phong cách riêng Đó là một nền thơ ca vừa tiếp thu và phát huy tinhhoa nghệ thuật truyền thống dân tộc vừa ảnh hởng trào lu nghệ thuật Đông– Tây vừa mở rộng theo tầm nhìn mới vừa theo truyền thống văn hoá ngờiViệt Tất cả những yếu tố đó đã làm nên một gơng mặt riêng cho thơ caViệt Nam
ở một mức độ nào đó đến nay thơ Việt Nam đã định hình đợc nhữngthể thơ có tiếng nói riêng, có cách biểu hiện riêng Khi phân tích thơ ViệtNam để tìm hiểu, khảo sát, chúng tôi tiếp thu cách phân chia các thể thơ nh
quan niệm của Nguyễn Phan Cảnh (trong Ngôn ngữ thơ) và Hữu Đạt (trong Ngôn ngữ thơ Việt Nam) Cụ thể nh sau:
Trang 11Bảng phân chia thể loại thơ Việt Nam thể hiện đợc mối quan hệ giữacác thể thơ Việt Nam Trong đó có nghiên cứu thể thơ mới xuất phát từ thơ
ca truyền thống, có quan hệ cội nguồn với thơ ca truyền thống nh: Thể lụcbát và thể song thất lục bát, tuy khả năng và cách thức biểu hiện mang tínhcách tân song mối quan hệ kết hợp trong phơng thức tổ chức lời thơ chủ yêutrong quá trình thay đổi Và các thể thơ 4, 5, 6 ,7, 8 chữ và thơ tự do của thơmới cũng có mối quan hệ cội nguồn với các thể thơ truyền thống nhngkhông có mối quan hệ kết hợp trong phơng thức tổ chức lời thơ Chính cácthể thơ này góp phần làm nên gơng mặt mới đa dạng và phong phú của thơ
ca Việt Nam Việc khảo sát tìm hiểu một cách tổng thể về hình thức câu thơcủa cả một nên thơ ca từ dân gian qua trung đại đến thơ mới là một việc hếtsức thú vị, song cũng rất phức tạp và khó khăn Vì phạm vi đối tợng khảosát và nghiên cứu rất rộng, cho nên chúng tôi chỉ khảo sát và tìm hiểu ph-
ơng diện hình thức câu thơ trong thơ ca dân gian, thơ Đờng luật và thơ Mới
Và khi lựa chọn tìm hiểu câu thơ Việt Nam chúng tôi đặc biệt quan tâm đến
đặc điểm các thể thơ
1.1.4 Ngôn ngữ thơ
Theo Hữu Đạt “Thơ ca là hiện tợng độc đáo của văn học ở cơ chế vậnhành bộ máy ngôn ngữ của nó” (Ngôn ngữ thơ Việt Nam Nxb Giáo Dục.1996) Ngôn ngữ thơ đợc hình thành trong quá trình vận động sáng tạo nghệthuật mọi hiện tợng thi ca đều chứa đựng những yếu tố cảm xúc và sáng tạocủa con ngời vơn tới cái đẹp Khác với văn xuôi thơ ca chỉ dùng một lợngngôn ngữ hữu hạn để biểu hiện vô hạn cái cảm xúc của con ngời trớc cuộcsống Để hoàn thành thiên chức đó ngôn ngữ thơ ca phảo là những kiểu tổchức đặc biệt, điều đó khiến cho nhiều ngời nghĩ rằng: “Thơ là một thể loại
có hình thc ngôn ngữ quái đản” Chính cái tổ chức đặc biệt này của nhà thơ
đã tạo nên biết bao cuộc luận gay gắt và thú vị về thơ ca
Bất cứ một ngành nghệ thuật nào của nhân loại đều lựa chọn chomình một phơng tiện biểu hiện Trong khi âm nhạc lấy âm thanh làm phơng
lấy ngôn ngữ làm phơng tiện biểu hiện đầu tiên và duy nhất của mình Cũng
nh văn học nói chung ngôn ngữ thơ ca chính là lời ăn tiếng nói của dân tộc,ngôn ngữ dân tộc Có điều theo những yêu cầu của phong cách, thể loại,ngôn ngữ dân tộc khi đi vào thơ ca đều đợc tổ chức theo những kiểu đặcbiệt Trớc hết là hai phơng thức tổ chức tạo hình, tổ chức biểu hiện
Trang 12Nh ta đã biết, bất cứ một tác phẩm nào cũng tồn tại hai mặt: Mặtphản ánh và mặt biểu hiện Hai mặt này gắn bó chặt chẽ do đặc trng thểloại, loại hình nghệ thuật Do đặc điểm phong cách có khi mặt này hay mặtkia đợc nổi lên vị trí hàng đầu Đặc trng cơ bản của phơng thức tạo hình làphản ánh trực tiếp đối tợng, nghĩa là mu tả đối tợng nh nó vốn có trong thực
tế Một tác phẩm thơ có tính chất tạo hình là một tác phẩm đem đến cho
ng-ời đọc những bức tranh sinh động về cuộc sống và con ngng-ời Tài năng củanhà thơ đợc đánh giá ở chỗ với một số lợng hữu hạn về thế giới khách quancũng nh về thế giới nội tâm của con ngời Khi hoạt động với t cách là chấtliệu của nghệ thuật tạo hình thì chức năng định danh của ngôn ngữ sẽ nổilên hàng đầu Trong phơng thức tạo hình vai trò của từ – hình ảnh, ngữ -hình ảnh, câu – hình ảnh rất quan trọng Mỗi từ đứng độc lập đã là mộtbức tranh riêng lẻ về thực tại mà con ngời tri giác đợc bằng nhận thức, khi
Lu Trọng L viết:
Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô…đã
thì mỗi từ trong đó đều đóng vai trò nh một hình ảnh cụ thể Tuy vậy nếu
đứng riêng lẻ nó cha có khả năng tác động vào cảm xúc con ngời nhng cũngtác động một cách rõ ràng vào nhận thức của ngời đọc
Muốn có một bức tranh khá đầy đủ để tác động vào nhận thức và cảmgiác ngời đọc với t cách là bức tranh tạo hình thì phải sử dụng cấp độ ngữ -hình ảnh, câu – hình ảnh
Việc xây dựng văn bản thơ thờng tuân theo trình tự:
Từ - Ngữ (cụm từ) - Câu - Đoạn - Văn bản
Từ tồn tại trong ngữ và câu Và nh thế từ không còn là bức tranh trừutợng trong nhận thức nữa mà là một yếu tố để góp phần tạo thành một bứctranh hoàn chỉnh có khả năng tri giác bằng cảm giác Cứ lô gíc đó mà xétthì một đoạn văn, văn bản sẽ là một bức tranh rộng lớn, nhiều sự vật hiện t-ợng hoà phối với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Trong đoạn thơ saucủa Xuân Diệu mỗi câu thơ đem đến cho ngời đọc một bức tranh sinh động
cụ thể:
Mây biếc về đâu bay gấp gấpCon cò trên ruông cánh phân vânChim nghe trời rộng giang thêm cánhHoa lạnh chiều tha sơng xuống dần
Trang 13Những hình ảnh trong bốn câu thơ này hoà phối với nhau trong mộtchỉnh thể để tạo nên bức tranh chiều thu đầy gợi cảm trong đôi mắt củanhững ngời đang yêu Tình ngời và cảnh vật giao hoà, giao cảm với nhau.Mọi vật nh rung lên, gấp gáp hơn, xao động hơn, ráo riết, thúc giục hơntheo tần số rung động của những trái tim trong buổi yêu đầu Đến câu thơthứ t “ Hoa lạnh chiều tha sơng xuống dần” không gian nh ngng lại, thấmmột chút lạnh, thoáng một chút buồn để rồi sau cái sôi sục ban đầu mãnhliệt ấy tình yêu của con ngời lại trở về với cái nôi tình tứ, yên tĩnh và say
đắm muôn thuở Bức tranh đã làm nên mối quan hệ giao hoà, giao cả giữathiên nhiên với con ngời Đoạn thơ vừa tác động đến nhận thức vừa tác
động đến cảm giác của con ngời Tiếng nói của ngôn ngữ đợc tổ chức thànhtiếng thơ lay động lòng ngời Nh vậy, ở một phơng diện nào đó phơng thứctạo hình trở thành một kiểu tổ chức của ngôn ngữ thơ
Thơ còn đợc tổ chức khá đặc biệt trong phơng thức biểu hiện Ngônngữ vốn sinh ra để nói về đối tợng lại trở thành công cụ để nhận thức đối t-ợng Hơn thế nữa trong khi giao tiếp con ngời không chỉ có nhu cầu thôngbáo về đối tợng mà còn luôn muốn biểu đạt tình cảm, hoặc thái độ đánh giácủa mình về đối tợng Đó chính là quá trình biểu trng hoá các tín hiệu ngônngữ Muốn hoàn thành quá trình này ngôn ngữ phải có khả năng biểu hiện.Thử xét câu ca dao:
Trời ma trời gióVác đó đi đơmChạy vô ăn cơmChạy ra mất đó
Từ ngày mất đó đó ơi
Đó không đăng qua đối lại đôi lời đó chăngNghĩa thực của câu ca dao là lời kể của ngời mất đó Trong cuộcsống của ngời nông dân Việt Nam, “đó” là một công cụ lao động bình th-ờng câu chuyện hấp dẫn ngời đọc trớc hết bằng cái việc mất “đó” sảy ra rấtnhanh, rất đột ngột thông qua nhịp điệu nhanh của 4 câu ca dao 4 tiếng vớinhịp 2/2:
Trời ma / trời gióVác đó / đi đơmChạy vô / ăn cơmChạy ra / mất đóNhịp điệu đó còn đợc đẩy nhanh bằng các động từ “chạy vô”, “ chạyra” Việc mất cái “đó” còn để lại nỗi xót xa, nối tiếc cho ngời mất:
Trang 14Từ ngày mất đó đó ơi
Đó không đăng qua đối lại đôi lời đó chăngNỗi đau thái quá trớc hiện tợng mất cái “ đó” và cách điệp lại nhiềulần từ “đó” trong câu ca bỗng tạo cho ngời đọc nghĩ đến một hiện tợng lạ
Từ “đó” có nghĩa là cái “đó” đơm cá, từ “đó” trong cụm từ “đó chăng” lạilàm bật lên cái nghĩa “đó” trong hệ thống các đại từ chỉ định: ấy, kia, này,
nọ, đó, đây Mất cái “đó” phải chăng là mất cái “ấy” mà cái “ấy” phải là gìnghiêm trọng lắm mới xót xa, nối tiếc đến vậy Cái “đó” trong câu ca khôngcòn là chuyện kể, là sự vật cụ thể nữa mà là giải bày, thể hiện một điều gì
đó trong gan ruột con ngời Có thể là tình bạn, tình yêu là cái gì quý giátrong quan hệ Nỗi đau của sự mất mát tăng lên vô hạn khi nó diễn ra quánhanh, quá đột ngột (nh đã phân tích ở trên) đặc biệt khi mất là mất hẳnkhông một chút tơ vơng
Từ ngày mất đó đó ơi
Đó không đăng qua đối lại đôi lời đó chăng
Đại văn hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều có khuyên ngời đời trong
quan hệ ứng xử: “ Dẫu lìa ngỏ ý còn vơng tơ lòng” Cuộc đời có hợp, cótan Nhng cái chia lìa, mất mát quá đột ngột, quá tức tởi không chút “tơ v-
ơng” làm cho nỗi đau con ngời trở nên khủng khiếp Từ chuyện mất “đó”
đến cái bài học nhân sinh đẹp đẽ của thơ ca là một quá trình hoá thân tuyệtvời của ngôn ngữ thơ ca đợc tổ chức theo phơng thức biểu hiện
RômanJacop xơn khi nghiên cứu chức năng thơ của thơ ca và ngônngữ theo lập trờng ngôn ngữ học từ lý thuyết giao tiếp, ông đã phát biểumệnh đề nỗi tiếng về chức năng thơ là: “Sự quy chiếu nguyên tắc đẳng trịcủa trục lựa chọn trên trục tổ hợp” (Trần Đình Sử – H – 1993.Tr13) Tuycòn nhiều thiếu sót song mệnh đề nỗi tiếng của RômanJacop xơn đã chỉ rahai thao tác cơ bản trong hoạt động tổ chức ngôn ngữ thơ ca là thao tác lựachọn và kết hợp
ở một phơng diện nào đó nếu có thể xem phơng thức tạo hình vàbiểu hiện là cái đích nghệ thuật của việc tổ chức ngôn ngữ trong thi ca thìthao tác lựa chọn và kết hợp là cơ chế vận hành của hoạt động tổ chức ngônngữ thơ trong quá trình sáng tạo thơ ca
Theo Nguyễn Phan Cảnh “ Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năngcủa ngôn ngữ là các đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vàotính tơng đồng của chúng” Bản chất của thao tác này là việc lựa chọn vàthay thế cho nhau của các đơn vị tơng đồng trong hệ thống ngôn ngữ dântộc diễn ra trong quá trình sáng tạo lời thơ Thông qua hoạt động liên tởng,thao tác lựa chọn giúp ta tổ chức các đơn vị ngôn ngữ có thể xuất hiện bằng
Trang 15việc tập hợp các vế vắng mặt xung quanh các tín hiệu ngôn ngữ nào đótrong lời thơ
Ví dụ: “ Sột soạt gió trêu tà áo biếc”
(Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử)
ta có thể tập hợp một số yếu tố vắng mặt xung quanh từ “trêu” với t cách là
có thể lựa chọn và thay thế nó mà không làm mất đi nghĩa gốc của câu thơ:
đùa nghẹo
cù Sột soạt gió trêu tà áo biếc
lùa thổi lay bay…đã Tài ba của ngời nghệ sĩ là lựa chọn yếu tố nào để đa vào vị trí đó
“Thao tác kết hợp dựa trên một khả năng của ngôn ngữ là các yếu tốngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tơng cận giữa
chúng” (Ngôn ngữ thơ - Nguyễn Phan Cảnh – H.1987) Hoạt động kết hợp
quan tâm đến vị trí và trật tự của các đơn vị ngôn ngữ ở trong câu
Ví dụ: Ta có câu thơ
Đêm đã khuya rồi hoa bởi thơm thao tác kết hợp cho phép ngời làm thơ thay đổi vị trí các đơn vị trong thơ
mà ý nghĩa cơ bản của câu thơ không thay đổi:
- Đêm khuya hoa bởi đã thơm rồi
- Hoa bởi thơm rồi đêm đã khuya
- Thơm rồi hoa bởi đêm đã khuya
Thao tác lựa chọn và kết hợp dựa trên những tiền đề vật chất tồn tạitrong hệ thống ngôn ngữ từ ngữ âm – từ ngữ để tạo nên câu thơ - đoạn thơ
- văn bản thơ Đó là những yếu tố cơ bản đẻ sáng tạo hình tợng thơ
Nghiên cứu loại thể ngôn ngữ cũng phải chú ý đến những đặc trngcủa nó Mỗi nhà thơ khi sáng tác tác phẩm bao giờ cũng biết lợi dụng u thếcủa ngôn ngữ dân tộc nhằm phát huy triệt để chức năng của các đơn vị ngônngữ với t cách là một phơng tiện nghệ thuật
Trang 16Trong thơ ca Việt Nam dù phát triển theo hớng nào những đặc trngngôn ngữ thơ vẫn giữ vai trò quan trọng Thơ phải hàm súc, cô đọng, tránhlối viết tự nhiên thô thiển Thơ tinh vi, tế nhị, nhà thơ phải là ngời sáng tạocông phu về hình thức biểu hiện Một bài thơ hay là một thể thống nhất trọnvẹn giữa nội dung hình thức không một chữ thừa Tất cả vừa đủ, gắn bó hoà
điệu, cấu trúc chặt chẽ và tạo hiệu quả tối đa, ngôn ngữ chọn lọc gợi cảm.Nghệ thuật trong thơ cũng là sáng tạo để đạt đợc hình thức đẹp Nói đếnhình thức trong thơ, không thể không kể đến vấn đề thể loại Mỗi thể thơ làmột kiểu cấu tạo và tổ chức ngôn ngữ đặc biệt làm nên tính hàm súc, cô
đọng trong thơ
Ngôn ngữ trong thơ mang những đặc trng của ngôn ngữ văn học nóichung, nhng cũng mang những đặc điểm loại biệt quan trọng Ngôn ngữ thơ
là ngôn ngữ nhịp điệu giàu cảm xúc, hình ảnh Ngôn ngữ thơ giàu sắc thái
và biến hoá tài tình của nhạc tính Nhạc điệu trong thơ không giống với âmnhạc Trong nhạc, âm thanh đợc tổ chức trong tính nhất quán của toàn bàikhông bị phụ thuộc vào sự phân bố câu, chữ, vào nhạc tính của từng âm tiếttrong cấu trúc cú pháp nh trong thơ Ngôn ngữ âm nhạc là nội dung trựctiếp thể hiện chủ đề của tác phẩm, là những giai điệu giàu tính gợi cảm vàsắc thái đợc tổ chức theo những ngôn ngữ của cái đẹp và của luật hoà thanh.Nhạc điệu trong thơ chủ yếu là hỗ trợ cho nội dung ý nghĩa của bài thơ Cấutrúc âm thanh trong thơ dựa trên những chất liệu của tiết tấu, nhịp điệu, âmthanh và sự hoà phối âm thanh
Sử dụng ngôn ngữ thơ ca là một vấn đề khó, đòi hỏi nhiều nỗ lựcsáng tạo Nhiều nhà thơ có tài năng kinh nghiệm đều thấy khó khăn và côngphu trong việc tìm kiếm và tổ hợp câu chữ một cách phù hợp và sáng tạo.Chính vì vậy, cấu trúc âm thanh và cú pháp của câu thơ đợc tổ chức theonhững mô hình khá đặc biệt
Nghệ thuật của thơ còn bao gồm nhiều phạm vi sáng tạo khác từ cáchcấu tạo một bài thơ đến việc dẫn dắt và phát triển một tứ thơ Kết thúc mộtbài thơ cho đúng lúc, bằng một ý thơ cho hấp dẫn, một câu thơ chắt lọccũng là một nghệ thuật Thậm chí cho đến chỗ ngừng, chỗ nghỉ, chỗ yênlặng trong thơ cũng góp phần nói lên đợc điều gì của nội dung nghệ thuật
Nh vậy, nói đến ngôn ngữ thơ là nói đến một hệ thống tổ chức ngônngữ đặc biệt Bằng phơng thức tạo hình, biểu hiện, bằng các thao tác lựachọn, kết hợp cộng với tài ba của mình ngời nghệ sĩ đã sáng tạo nên những
áng thơ tuyệt đẹp làm say đắm lòng ngời Trong đó câu thơ và mối quan hệchỉnh thể của nó trong toàn bài thơ có một vị trí vô cùng quan trọng
1.2 Câu thơ - dòng thơ
Trang 17Chúng tôi có tham khảo các định nghĩa về câu thơ của các nhà ngônngữ học Đại loại nh: “Câu thơ là phán đoán đợc thể hiện bằng các từ”,
“Câu thơ là chuỗi từ hình nằm giữa hai dấu chấm hoặc hai chữ cái hoa”…đã
Từ những định nghĩa đó, Timôpheép trong cuốn lý luận câu thơ “Câu thơ là
đơn vị đơn giản nhất của ngôn ngữ cảm xúc, là đơn vị ngữ điệu độc lập gồmcác từ và các nhóm từ thống nhất bằng một ngữ điệu và chỗ ngừng tơngxứng với sự phát triển của nội dung tạo nên một đơn vị ngữ điệu” Bùi Công
Hùng trong cuốn Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca cho rằng câu thơ là
đơn vị cơ sở của ngôn ngữ thơ vì vậy các nhà nghiên cứu lấy câu thơ làm
đơn vị cơ bản để nghiên cứu bài thơ
Dòng thơ là một phát ngôn về mặt hình thức bao gồm một số lợng âmtiết nhất định trong tơng quan hình thức và cấu trúc với các dòng kế cận.Dòng thơ là chuỗi tự hình nằm trên một đoạn thẳng khi viết và tạo thànhmột chuỗi nhịp điệu khi đọc
Câu thơ và dòng thơ có mối quan hệ thân thiết với nhau trong chỉnh
thể bài thơ Calatơrôva trong cuốn thơ và nhịp điệu cho rằng trong đại đa số
dòng thơ trùng hợp với câu thơ Sở dĩ ngời ta không lấy dòng thơ làm đơn vị
để nghiên cứu câu thơ là vì có trờng hợp một câu thơ bao gồm nhiều dòngthơ hoặc ngợc lại:
đó thể hiện rất rõ trong những câu thơ vắt dòng
Ví dụ:
Trời nớc lặngmơ hồ
Trang 18cá đớp trăng…đã.
(chùm thơ một câu – Thao
Thao)
hay: “ Có thể nào yên? Miền Nam ơi máu chảy
tám năm rồi Sáng dậy giữa bình minh”
(Có thể nào yên – Tố
Hữu)
Đó là vấn đề lý thuyết, trong thực tế việc đối lập câu thơ và dòng thơtrong nghiên cứu là không nên Bởi vì các trờng hợp không trùng khít giữacâu thơ và dòng thơ không nhiều Hơn nữa dù dòng thơ có nhiều câu thơhay ngợc lại thì giữa các đơn vị đó vẫn có những ràng buộc nào đó
Ví dụ: “Cũng bằng thừa Vì nàng là một gái Tây Phơng”
(Tiếng sóng yêu đơng - Huy Thông)
Trong khi thực hiện đề tài này, chúng tôi quan niệm: Câu thơ ViệtNam trùng với dòng thơ, một bài thơ có bao nhiêu dòng thì có bấy nhiêucâu
Tất nhiên cũng có trờng hợp câu thơ đợc vắt thành nhiều dòng vìnhững mục đích nhất định, chúng tôi sẽ có một sự phân tích riêng
1.3 Các hình thức thơ Việt Nam
Nh đã trình bày ở trên, chúng tôi chia thơ ca Việt Nam thành thơ cadân gian, thơ trung đại và thơ hiên đại Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tàinày chúng tôi chỉ đi vào khảo sát hình thức câu thơ Việt Nam trên t liệu thơ
ca dân gian, thơ Đờng luật (một thể thơ cơ bản của thơ trung đại) và thơmới (1930 – 1945) Để việc khảo sát hình thức câu thơ (ở chơng sau)thuận lợi hơn chúng tôi đi vào tìm hiểu sự phát triển của các hình thức thơ
ca trong văn học Việt Nam
1.3.1 Thơ ca dân gian
Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh cho nền độc lậpdân tộc, cũng là đấu tranh cho nền độc lập văn hoá trong đó có văn học vànghệ thuật Nền văn học độc lập của ta là cơ sở là các hình thức thơ ca dângian, đợc xác định trải qua thử thách của hàng ngàn năm lịch sử
Không phải ngay một lúc mà chúng ta đã có đợc những câu tục ngữ,câu đố hay những bài ca dao dân ca trong các dạng hoàn chỉnh và ổn địnhcủa nó Mà nền thơ ca dân gian của ta chỉ có thể đợc sáng tạo và dần dần đ-
ợc nâng cao theo sự tiến triển của chế độ kinh tế và xã hội, cùng sự tiếntriển của tiếng nói dân tộc với chức năng biểu hiện cảm xúc và t duy trongquá trình sản xuất, chiến đấu
Trang 19Những câu hát từ thời thợng cổ: những điệu hò chặt củi, chèo thuyền,
những câu cha tách rời khẩu ngữ Ví dụ: xúc xắc – xúc xẻ – nhà nào –
Tay cầm con dao
Làm sao cho sắc
Để mà dễ cắt
Để mà dễ chặt Chặt lấy củi cành…đã
Không nhất thiết là số lợng tiếng trong dòng thơ đã đợc hạn định đều
đặn mà thực ra dòng thơ dài ngắn khác nhau, cũng nh khẩu ngữ thờng dàingắn khác nhau Vì mang tính chất khẩu ngữ cho nên câu hát dài ngắn thì
có thể tuỳ ý nhng nhất thiết phải đợc ghép trọn trong một dòng thơ, câu thơ
mà không đợc bắc cầu sang một dòng khác
Nh vậy, câu thơ dân gian trong quá trình tiến triển có tính chất tựphát của nó, đợc chia ra hai hớng: hoặc là tìm tới một hình thức ổn định vàthích hợp với lối diễn cảm nhiều màu sắc hơn Hớng thứ, đợc xác định bằngcác tổ hợp thể này với thể khác để hình thành ra một thể mới, rồi thể mớinày lại tổ hợp một lần nữa với một thể khác, để trở thành một thể mới hơn
Trong thơ ca dân gian của ta không có thể một từ mà chỉ có thể thơ
cho nên không thể nói thể ba từ nh kiểu bài “sớm sửa ca – tra sửa đục –
thể hai từ , là hai thể cơ bản: một chẵn, một lẻ hay nói theo thuật ngữ triếthọc phơng Đông là một âm, một dơng
Sự tổ hợp giữa các thể diển ra từ bậc thấp đến bậc cao Có thể tổ hợphai từ với hai từ thành thể bốn từ
Tha rác lên cây Gió đành lung lay…đã
Hay ba từ với ba từ thành thể sáu từ:
Anh sẽ chẳng từ lao khổ
Có khi tổ hợp hai từ với ba từ thành thể năm từ nh trong hát dặmNghệ Tĩnh, hay bốn từ với ba từ trở thành thể bảy từ, hoặc bốn từ kết hợpvới bốn từ thành thể tám từ…đã
Trang 20Tuy nhiên, sự tổ hợp này không thể vô hạn định, mà phải dừng lại khi
đạt đến một thể ổn định và thích hợp với quy luật của sự diễn đạt nghĩa vàngữ điệu Hình thức ổn định cao nhất trong thơ ca dân gian Việt Nam là haithể lục bát và lục bát gián thất, trong đó thể lục bát đợc coi nh thể cơ bảnvới nhiều nét đặc sắc Đó là sự kết tinh của sự sáng tạo của cha ông ta Thểlục bát với nhịp điệu uyển chuyển, tổ hợp với câu song thất với nhịp điệurắn chắc của nó làm thành thể lục bát gián thất là một thể có nhịp điệu rấtsinh động Có thể nói thể lục bát và lục bát gián thất là hai thể xuất sắc vàphổ biến nhất trong các hình thức thơ ca dân gian
Tuy nhiên, khi nói các hình thức câu thơ nh lục bát và lục bát giánthất tiến đến mức độ hoàn chỉnh, thì không có nghĩa nói rằng các hình thức
đó nhất thiết không bao giờ biến dạng nữa, điều này sẽ nói ở chơng sau
Đến đời Trần, thơ Việt Nam đi theo trào lu thể loại thơ Đờng là chủyếu Số lợng các nhà thơ vì thế cũng đông lên với những gơng mặt có đờngnét: Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Trơng Hán Siêu, Trần Nguyên
có tính chất độc lập với chức năng ngoài văn học
Bớc sang đời Lê, thơ ca Việt Nam đạt đến sự thịnh vợng, song songvới nhiều thể loại viết bằng chữ hán thì thơ chữ Nôm xuất hiện, mà trớc hết
là loại thơ Việt hoá thể thơ Trung Quốc, biến đổi ít nhiều và bắt đầu tạo racác thể loại mới cha từng có: lục bát, song thất lục bát, hát nói Thơ Nôm vô
đề của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ chùm hàng chục bài dới một đầu đề chungcủa Nguyễn Trãi và Hội Tao đàn, và những hiện tợng độc đáo khác Sự hìnhthành các tuyển tập thơ của Phan Phu Tiên, Dơng Đức Nhan, Hoàng Đức L-
Thế kỷ XVIII nhà Lê Mạt và thế kỷ XIX nhà Nguyễn đánh dấu mộtbớc phát triển rực rỡ của thơ trung đại Việt Nam, với sự chín muồi, điêuluyện của thơ Nôm trong các thể loại hát nói, ngâm khúc, đặc biệt là thểloại Đờng luật Thơ chữ Hán cũng đạt đợc đỉnh cao số lợng sáng tác rất lớn
Số nhà thơ lớn và tiêu biểu của thời đại cũng nhiều: Nguyễn Gia Thiều,
Trang 21Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Bà huyện
rất đa dạng: Ngoài thất luật, tuyệt cú ra các thể ngũ ngôn, cổ phong, cahành đều đợc sử dụng Thơ Nôm lại càng đa dạng hơn, nó đợc viết với cáchình thức thơ Hán, và còn thêm các thể thơ Việt Nam đã nói ở trên, các thể
dụng cân đối, đa dạng hơn xa Điều này chứng tỏ hệ thống thơ ca cổ điểnTrung Quốc vẫn tiếp tục đợc sử dụng trong khu vực sáng tác chữ Hán vàvận dụng ngày càng triệt để hơn
Về mặt hình thức câu thơ cũng nh hình thức thể loại thơ ca trung đạinói chung, thể thơ Đờng luật nói riêng thờng phải tuân thủ những nguyêntắc mang tính chuẩn mực về mặt ngôn ngữ thơ Cụ thể hơn nó chịu sự ràngbuộc về số lợng tiếng trong một câu, số lợng câu trong một bài, rồi sự quy
trắc, luật đối, niêm, vần,…đã
Ví dụ: Thơ ngũ ngôn
Rừng lau gió lác đácChim hôm bay xao xácGánh củi lững thững về
Kẻ chốn chơng đài ngời lữ thứLấy ai mà kể nỗi hàn ôn!
(Chiều hôm nhớ nhà - Bà huyện Thanh
Quan)
1.3.3 Thơ mới
Với bài Thề non nớc, Tản Đà đã mở ra một chân trời mới cho thơ ca
Việt Nam hiện đại Bài thơ này là sự giao thoa giữa hai luồng văn học trung
đại và hiện đại Cùng với thời gian thơ hiện đại ngày càng phong phú đadạng trong nghệ thuật biểu hiện và thể loại Đặc biệt, với sự xuất hiện của
Trang 22phong trào thơ mới(1932 –1945) với nhiều tác giả tiêu biểu: Thế Lữ, Lu
một đóng góp đáng kể về hình thức nghệ thuật cho thơ hiện đại Việt Nam.Phong trào thơ mới đã đem lại cho bộ mặt thơ ca nhiều đổi mới đáng kể,
nh về các thể thơ và sự biểu hiện phong phú của các trạng thái cảm xúc hay
về những yếu tố mới trong ngôn ngữ thơ ca
Thơ mới đã chống lại những lối cấu tứ và diễn đạt của thơ trung đại.Thơ cũ vận dụng nhiều lối diễn đạt ớc lệ khuôn sáo để diễn đạt những tứ thơ
và cảm xúc chung chung Trái lại hệ thống cảm xúc và những hình ảnhtrong thơ mới nhìn chung đều mang rõ nét tính chất cá thể hoá, cho nên sắcriêng sinh động hơn Cảm xúc của nhà thơ đợc biểu hiện qua những hìnhthức phù hợp, nên tính chất trữ tình càng nỗi bật
Nhờ có hình thơ thích hợp nên trạng thái cảm xúc và lối cấu tứ củacác nhà thơ mới phong phú và đa dạng hơn Cũng một nỗi buồn, nếu cácnhà thơ trung đại chỉ nói lên bằng những cảm xúc chung chung với nhữnghình ảnh và tâm trạngnh “ bể thảm vơi đầy”, “ giọt lệ sa”, “giọt ngâu tầm
khá nhiều hình thức phong phú, đa dạng và mỗi trạng thái đều mang tínhchất cá thể riêng biệt Gần nh ở mỗi nhà thơ đề có nỗi buồn khác nhau Cókhi nhẹ nhàng man mác buâng khuâng:
Gió theo lối gió mây đờng mâyDòng nớc buồn thiêu hoa bắp lay
( Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc
Tử)
“Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn”
(Xuân Diệu)
“Tiếng đa hiu hắt bên lòngBuồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”
(Thế Lữ)
Có khi nỗi buồn đến độ nhức nhối, đau đớn:
“Tiếng gà gáy buồn nh máu ứaChết không gian khô héo cả hồn cao”
( Xuân Diệu)
“Rách đau thơng nh lụa xé tơi bời”
(Tế Hanh)
“Trời ơi chán nản đơng vây phủ
ý tởng hồn tôi giữa cõi tang”
(Chế Lan Viên)
Trang 23Về hình thức: Phong trào thơ mới đã có những đóng góp quan trọngtrong việc phát triển các thể thơ, nâng cao khả biểu hiện của một số thể thơ
và khôi phục lại một số thể khác vốn ít đợc vận dụng
Thể bốn từ trớc đây thờng dùng trong các bài vè và các bài nói lối,
đồng dao nay đợc sử dụng trong nhiều sáng tác có giá trị nghệ thuật Thểnăm từ cũng đợc sử dụng khá phổ biến Thể bảy từ vẫn tíêp tục phát triếnvới sự phối hợp nhịp điệu uyển chuyển của câu thơ Đờng theo lối ngắt nhịp4/3 và 2/2/3 Hai thể thơ năm từ và bảy từ này có những nét giống với thơngũ ngôn và thất ngôn cổ phong nhng mềm mại hơn ở sự lựa chọn thanh
điệu (bằng nhiều hơn trắc) và nhiều bài chuyển sang lối hiệp vần mới Đặcbiệt các nhà thơ mới đã sáng tạo đợc thể thơ tám tiếng từ trên cơ sở khaithác và thừa kế hình thức hát nói của thơ ca dân tộc Thể tám tiếng với nhịp
điệu uyển chuyển, với sự không hạn định của một số câu và với cách hiệpvần rộng rãi đã trở nên một thể thơ có khả năng biểu hiện khá sinh động
Về hiệp vần thơ mới vẫn tiếp tục những lối hiệp vần của thơ ca dân tộckết hợp với những lối hiệp vần của thơ ca phơng Tây tạo thành những vầncơ bản nh vần liên tiếp, vần hỗn hợp, vần gián cách, vần ôm nhau,…đã
Về nhịp điệu cũng có những hiện tợng đáng chú ý Trong thơ ca cổ,câu thơ thờng trùng lặp với dòng thơ, đợc coi nh đơn vị nhịp điệu Về cơbản câu thơ mới cũng trùng lặp với dòng thơ, nhng lại có trờng hợp mộtdòng thơ bao gồm nhiều câu thơ
Ví dụ:
Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi
(Xuân Diệu)Hiện tợng một dòng thơ bao gồm nhiều câu thơ ít nhiều làm ảnh hởng
đến thanh điệu và nhịp điệu của dòng thơ Nhng nếu trong trờng hợp câuthơ trùng lặp với tiết tấu của dòng thơ thì nhịp điệu chung của dòng thơ vẫnkhông thay đổi (chỗ chấm của câu thơ Xuân Diệu ở trên trùng lặp với nhịpngắt theo tiết tấu của dòng thơ) Trong thực tế, hiện tợng một dòng thơ baogồm nhiều câu thơ cũng không nhiều, nên thờng dòng thơ đó đợc nhậpchung vào nhịp điệu và âm hởng chung của toàn bài để vẫn giữ đợc tínhnhịp nhàng và hài hoà bên trong của thơ
Bên cạnh lối kết cấu nhiều câu thơ trong một dòng thơ là lối kết cấumột câu thơ trong nhiều dòng thơ và phổ biến nhất là hai dòng Câu thơ trênthờng đợc gọi là câu thơ bắc cầu
Trang 24của lòng ta Em trần thiết trang hoàng”
(Huy Cận)Câu thơ bắc cầu nếu đợc vận dụng một cách nghệ thuật và có mức độ
sẽ làm tăng tính chất gợi cảm và màu sắc của thơ Sau này trong thơ ca saucách mạng tháng Tám có trờng hợp câu thơ bắc cầu, kéo dài trên ba bốndòng thơ
Trong thơ ca kháng chiến sau này, nhiều phong cách mới trong thơ
đ-ợc phát triển Cá tính sáng tạo đđ-ợc thể hiện cả trong nội dung lẫn hình thứcbiểu hiện ngày một rõ rệt Sự mở rộng và giãn ra của các thể thơ; một sốhình thức thơ truyền thống đợc khôi phục, nhiều hình thức mới xuất hiện.Quy luật hình thức phục vụ nội dung đợc vận dụng triệt để, làm cho hìnhthức phù hợp với nội dung Vì vậy, câu thơ cũng đợc mở rộng, cách luật bịphá vỡ là do yêu cầu diễn tả nội dung
Nhìn lại toàn bộ sự phát triển của thơ ca dân tộc, chúng ta thấy giữacác hình thức thơ: dân gian, trung đại, hiện đại có mối quan hệ với nhau.Thơ ca dân gian chất phát, hồn nhiên, giàu tình, giàu ý và từ những thế kỷ
xa xăm cho đến ngày nay vẫn phát triển phong phú và có nhiều sinh lực,biểu hiện bằng nhiều hình thức và màu sắc khác nhau Thơ ca hiện đại vừa
kế thừa phát triển trên cơ sở của hình thức thơ ca truyền thống vừa tìm tòi,tiếp thu các hình thức thơ ca phơng Tây để tạo ra những sáng tạo mới, làmnên gơng mặt riêng cho nền thơ ca Việt Nam
Trang 25chơng II
các hình thức câu thơ trong thơ ca Việt Nam
2.1 Hình thức câu thơ trong thơ ca dân gian
Nói đến thơ ca dân gian tức là nói đến các thể thơ ca dân tộc mangtính chất truyền miệng nh: tục ngữ, câu đối, ca dao, dân ca, hò vè Trongthơ ca dân gian của ngời Việt có mặt hầu hết các thể thơ đợc dùng trongcác thể loại văn vần khác nhau của dân tộc (nh câu đối, ca dao, tục ngữ ),
từ thể thơ đơn giản nhất (câu thơ ngắn, ít âm tiết) đến thể thơ có hình thứchoàn chỉnh cao nhất nh lục bát và song thất lục bát Đồng thời, đó cũngchính là quá trình tiến triển có tính chất tự phát của câu thơ dân gian, nhằmtìm tới một hình thức ổn định và thích hợp với lối diễn cảm nhiều màu sắchơn
2.1.1 Câu thơ có hình thức 2 tiếng
Đây là thể thơ đơn giản nhất trong thơ ca dân gian, thờng đợc gọi làcác thể thơ nói lối hay các thể vãn Đó là những câu hát ban đầu từ thờithợng cổ, cha hề tách khỏi quá trình lao động mà gắn chặt với quá trình
đó Những điệu hò chặt củi, hò chèo thuyền, những câu hát trẻ em nócha tách rời khẩu ngữ
Ví dụ:
Vè vẻ
Vè veNghe vèChim cá
Chim sả
Cá thuChim cuCá giếc
Hay nh bài Xúc xắc nói ở chơng trên
Vần của thể này thờng là gieo vần chân và gieo vần ở cả tiếng bằnglẫn tiếng trắc
Về nhịp ở thể thơ này mỗi câu là 1 nhịp (2)
Nhìn chung đây là thể thơ rất hiếm, ít ngời làm Theo sách cổ chỉ có
Tam thiên tự (ba nghìn chữ) là thể thơ hai chữ một, vừa Hán vừa Nôm, tức
là chữ Hán có nghĩa kèm theo và kéo dài một cách từ đầu cho đến hết Đây
là sách dùng cho ngời mới học chữ Hán
Thiên trời
Địa đất
Trang 26Cử cấtTồn còn
Tử conTôn cháuLục sáu
ở đây vần gieo liên tiếp rơi vào phần Nôm, phần giải nghĩa, tạo nênnhịp điệu giống nh bài hát đồng giao ở trên
Đi buôn men ”
Vần trong thể thơ này rất linh hoạt có khi gieo vần chân, vần cách,vần liền, có khi kết hợp cả ba cách gieo vần này:
bài thơ theo hình thức câu thơ ba chữ này nh: Đội tự vệ, Hòn đá, hay nhà thơ Trần Đăng Khoa mới 7- 8 tuổi đã làm bài thơ Con bớm vàng theo hình
thức này, thể hiện sự hồn nhiên, vui tơi của trẻ thơ
“Con bớm vàngBay nhẹ nhàngTrên bờ cỏ
Em thích quá
Liền đuổi theo”
Trang 272.1.3 Câu thơ bốn tiếng
Đây là hình thức câu thơ khá phổ biến trong ca dao, vè và thơ Những
bài vè ngắn thờng làm theo thể thơ bốn từ Ví dụ: Vè khâm sai Có hai loại
vần: Vần chân và vần lng (thông thờng là xen nhau) Nhịp là nhịp 2/2
Ví dụ:
Lẳng lặng/ mà nghe Cái vè/ sai đạo Danh vi/ trấp bảo
Vụ di/ an dân Khâm sai/ đại thần
Đi một ngày đàngHọc một sàng khôn Trong đồng giao thể này đợc dùng khá phổ biến và có khi rất dễnhầm lẫn với thể hai tiếng nói trên Vì câu thơ bốn năm tiết đợc ngắt nhịphai trên hai khi đọc lên nghe cũng tơng tự nh câu thơ hai âm tiết Ngợc lạinhững câu hai âm tiết, nếu đọc nhanh thì nghe cũng gần nh câu thơ bốn âmtiết
Ví dụ: Những câu sau đây có thể đặt thành câu hai tiếng hay bốn tiếng đều
đợc:
Chi chi/ chành chànhCái đanh/ nổ lửaCon ngựa/chết chơng
Ba vơng/thợng đếCấp kế/ đi tìm
ú tim/ù ập
Ngoài yếu tố nhịp câu thơ hai tiếng và bốn tiếng trong bài thơ đồnggiao còn dễ hoà lẫn với nhau do yếu tố vần Vần ở thể 4 tiếng đợc gieo ở cảtiếng bằng lẫn trắc, ở cả vần chân lẫn vần lng, cho nên khi đọc muốnchuyển thành hai tiếng rất dễ dàng, thuận lợi
ở trong ca dao, dân ca nhiều khi câu thơ bốn chữ có xen với câu thơhai chữ, ba chữ, năm chữ hoặc lục bát
Trang 28Ví dụ: Ca dao
Khăn thơng nhớ aiKhăn rơi xuống đất?
Khăn thơng nhớ aiKhăn vắt lên vai Khăn thơng nhớ aiKhăn chùi nớc mắt?
Ví dụ:
Họ đứng ra/diễn thuyếtNói thật giỏi/thật hayThiên hạ phải/vỗ tayKhen ngợi tài/hùng biện
(Vè Ngời phụ nữ thành vinh, hát dặm Nghệ Tĩnh, tập 1, Nxb khoa
học/1963) Thể thơ năm tiếng (Hát dặm) vẫn tiếp tục phát triển sau này Cónhững bài khá nổi tiếng, đợc lu truyền nh:
Khi cha đánh thắng Mỹ Nghe đồn ngợc đồn xuôi Thần sấm Mỹ ra đờiBan cho rách nón rách tơiGửi tin đánh thắng Mỹ rồiTôi nghĩ càng nực cờiThần sấm Mỹ ra đờiTrốc thì nặng hơn đuôi
…đã
(Vè thần sấm Mỹ)
Trang 29Hoặc bài Thăm lúa nỗi tiếng của Trần Hữu Thung.
Mặt trời càng lên tỏ Bông lúa chín thêm vàng
…đã
2.1.5 Câu thơ sáu tiếng
Thể này phổ biến trong tục ngữ, nhng ít dùng trong thơ ca Về tụcngữ có những câu nhịp 2/4 nh:
- Đờng mòn, nhân nghĩa không mòn
- áo dài, chớ ngại quần tha
Nhng thông thờng là những câu nhịp 3/3 nh:
Đợc mùa lúa, úa mùa cau
Đợc mùa cau, đau mùa lúaTất cả đều có vần giữa hai nhịp trong câu: hoặc vần liền nh:
“ Bằng cái sẩy, nẩy cái ung”
Hoặc gieo vần cách:
“Lanh chanh, nh hành không muối”.
Trong ca dao, cũng nh trong thơ, thể này ít dùng Trong ca dao câu 6tiếng thờng xuất hiện xen lẫn trong thể lục bát và thờng có nhịp 2/2/2
Ví dụ:
Miễu thần / gà gáy/ tiếng đôi
Trông bậu/ trông đứng /trông ngồi Trông ngời có nghĩa bồi hồi lá gan
Tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có bài theo nhịp 3/3
Ví dụ:
Tịnh kiềm khôn/kẽ một bầu Bao hình thế/bốn bề thâu Phong lu hậu/xây nền hậu