... rèn kĩ soạn giáo án môn Tiếng Việt cho sinh viên sƣ phạm Giáo dục Tiểu học Chƣơng CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂU KĨ NĂNG SOẠN GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN SƢ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1.1.Hệ... Cơ sở lí luận việc tìm hiểu kĩ soạn giáo án môn Tiếng Việt sinh viên sƣ phạm Giáo dục Tiểu học Chƣơng 2: Thực trạng soạn giáo án môn Tiếng Việt sinh viên sƣ phạm Giáo dục Tiểu học Chƣơng 3: Đề... án môn Tiếng Việt sinh viên sƣ phạm Giáo dục Tiểu học Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu kĩ soạn giáo án môn Tiếng Việt sinh viên sƣ phạm Giáo dục Tiểu học trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, Đại học
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Người hướng dẫn: TS LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy, cô giáo khoa GDTH đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo - TS Lê Thị Lan Anh - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn sinh viên sư phạm GDTH, đặc biệt là các bạn sinh viên K37 (Khóa 2011 - 2015), K38 (Khóa
2012 - 2016), ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội 2 cùng các bạn sinh viên K61 (Khóa 2011 - 2015), K62 (Khóa 2012 - 2016) ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội đã góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình nghiên cứu, em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đặng Thị Yên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo - TS Lê Thị Lan Anh và các thầy cô giáo trong khoa GDTH Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Kết quả nghiên cứu là trung thực và không trùng với kết quả của các tác giả khác
Hà Nội, ngày02 tháng 5 năm 2015
Tác giả khóa luận
Đặng Thị Yên
Trang 5TLTK : Tài liệu tham khảo
[2, tr 48] : Cuốn sách số 2 (Theo TLTK), trang 48
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc khóa luận 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂUKĨ NĂNG SOẠN GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊNSƯ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC 8
1.1 Hệ thống khái niệm công cụ 8
1.1.1 Khái niệm kĩ năng 8
1.1.2 Khái niệm giáo án, soạn giáo án 10
1.1.3 Quan niệm về kĩ năng soạn giáo án 13
1.1.4 Quan niệm về một giáo án chuẩn 16
1.2 Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học 18
1.2.1 Vị trí của môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học 18
1.2.2 Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học 19
1.2.3 Các cơ sở xây dựng chương trình môn Tiếng Việt tiểu học mới 20
1.2.4 Những nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt 22
1.2.5 Nguyên tắc soạn thảo sách giáo khoa Tiếng Việt 22
1.2.6 Các tiêu chuẩn của sách giáo khoa Tiếng Việt 24
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 THỰC TRẠNG SOẠN GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC 26
2.1.Thực trạng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học 26
Trang 7Tiểu kết chương 2 38
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNGSOẠN GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT CHO SINH VIÊNSƯ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC 40
3.1 Nguyên tắc đề xuất 40
3.1.1 Thể hiện được tính tích hợp của chương trình 40
3.1.2 Giáo án cần chú ý đến việc phát huy tính tích cực cao độ của học sinh trong quá trình học môn Tiếng Việt 41
3.1.3 Giáo án phải thể hiện được đề cương của nội dung bài giảng 43
3.1.4 Giáo án phải thể hiện được việc tổ chức các hoạt động của học sinh trong giờ học 43
3.2.Một số biện pháp rèn kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt cho sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học 44
3.2.1 Nghiên cứu chương trình, SGK, các tài liệu dạy học và tìm hiểu trình độ, đặc điểm của học sinh 44
3.2.2 Nắm mục tiêu, nội dung dạy học của từng bài học 45
3.2.3 Nắm vững phương pháp dạy học từng phân môn 47
3.2.4 Nắm được quy trình xây dựng giáo án chuẩn 52
3.2.5 Soạn bài và tập giảng thường xuyên 57
3.3.Xây dựng một số giáo án thử nghiệm 57
3.3.1 Xây dựng giáo án dạy học Tập đọc 58
3.3.1.1 Các bước lên lớp của giờ Tập đọc ở lớp 1 58
3.3.1.2 Các bước lên lớp giờ Tập đọc lớp 2,3,4,5 59
3.3.2.Xây dựng giáo án dạy Luyện từ và câu 63
3.3.2.1.Các bước tổ chức dạy học lí thuyết về từ, câu 63
3.3.2.2.Các bước tổ chức dạy bài thực hành Luyện từ và câu 64
Tiểu kết chương 3 66
KẾT LUẬN 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 70
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cả nhân loại đang trong thế kỷ XXI - thế kỷ của trí tuệ, của nền kinh tế tri thức, vấn đề con người đã được đặt ra ở tầm cao mới, coi con người là vốn quý nhất, coi sự phát triển nguồn nhân lực con người là cuộc cách mạng trong bối cảnh thế giới đang biến động mạnh mẽ Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia chính là số dân và chất lượng con người, trong đó bao gồm
cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất Vì thế, chúng ta phải tập trung chăm lo, bồi dưỡng, đào tạo, phát huy sức mạnh của con người Việt Nam thành lực lượng lao động xã hội, lực lượng sản xuất đủ bản lĩnh và kỹ năng nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đủ sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Kế thừa và phát huy truyền thống của dân tộc “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/ Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, Điều 61, Hiến
pháp 2013 quy định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục được ưu tiên
đi đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước Cùng với đó, Nghị quyết 29 của
BCH TƯ khóa XI cũng nhấn mạnh : “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Đứng trước yêu cầu cấp bách
đó, nền giáo dục Việt Nam đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng về mọi mặt Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng yếu tố người thầy là trung tâm, then chốt Hoạt động của người thầy biểu hiện trong các hình thức khác nhau của công tác sư phạm, nhưng trước hết là giờ dạy trên lớp Để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học, người thầy cần nắm vững các phương pháp, các thủ thuật dạy học, đồng thời cũng phải có kế hoạch dạy học
cụ thể Nói đến kế hoạch, Bác Hồ, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc cũng từng
Trang 9nói: “ Bất kỳ việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết tâm làm thì mới thành công” Như vậy, làm việc có kế hoạch
là công việc hết sức quan trọng Nếu không vạch ra được kế hoạch, phương
án thì khi bước vào hoạt động ta sẽ “giống như những con kiến tha mồi, không biết chế biến, không hiểu gì cả”
Như chúng ta đều thấy, hoạt động lao động đặc thù của một người giáo viên chính là dạy học, nhưng để giờ học thành công và đạt chất lượng thì người giáo viên cần xây dựng một kế hoạch tối ưu, đó chính là việc thiết kế một giáo án Nếu coi cả tiết học là một tòa nhà thì giáo án chính là bản vẽ và người giáo viên chính là những kiến trúc sư thiết kế trên những bản vẽ đó
Lênin đã từng nói: “Một con ong thợ khi xây tổ dù khéo léo đến đâu cũng không thể bằng một người thợ tồi nhất, bởi vì nó làm trong vô thức, không biết được hình thù cái tổ của mình sẽ như thế nào khi xây xong Còn người thợ trước khi xây dựng một công trình nào đó đã hình dung được trong đầu các kế hoạch xây dựng, kiểu cấu trúc cần thiết, dự định sẽ thi công trong thời gian bao nhiêu, từ đó thiết kế mô hình rồi mới bắt tay vào làm việc” Một
người thầy giỏi cũng giống như một kiến trúc sư giỏi, làm việc có kế hoạch và
có ý thức trách nhiệm với công việc của bản thân chứ không phải chỉ là những chú ong thợ làm việc trong vô thức Công việc thiết kế giáo án chính là sự sắp xếp các hoạt động dạy - học sao cho phù hợp với trình độ, khả năng của học sinh, giúp các em tự giác, tích cực lĩnh hội các tri thức Một giáo án tốt sẽ cung cấp cho chúng ta hướng đi rõ ràng trong một tiết học Nếu người giáo viên có trong tay một giáo án tốt với những kế hoạch và phương án cụ thể nghĩa là đã giành được 90% thắng lợi trong giờ học đó
Việc thiết kế giáo án và lên kế hoạch bài giảng tốt còn là một kĩ năng Tuy nhiên, kĩ năng này không phải ai cũng dễ dàng có được khi mà công nghệ thông tin ngày càng phát triển, việc soạn giáo án đối với mỗi giáo viên không
Trang 10còn là khó khăn, miệt mài đèn khuya bên trang giáo án nữa, chỉ cần một thao tác nhấp chuột là đã có cả một kho giáo án được soạn sẵn trên mạng và cứ thế tải về để sử dụng Hoặc có soạn nhưng cũng chỉ sao chép từ sách thiết kế, và thậm chí dạy trực tiếp ngay trên những quyển sách thiết kế ấy Điều này không chỉ tồn tại ở một bộ phận giáo viên mà cũng dễ thấy ở phần lớn sinh viên sư phạm hiện nay
Ở tiểu học, các em học sinh được học rất nhiều môn mà mỗi môn lại mang đặc thù riêng của nó Môn Tiếng Việt là một trong những môn học cơ bản, xuyên suốt được dạy ở cấp tiểu học với bảy phân môn: Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể chuyện, Tập làm văn Mỗi phân môn lại có những đặc trưng riêng của chúng, vì thế các giáo viên tiểu học cũng như những sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học đều phải nắm được bản chất kiến thức này để soạn giảng cho phù hợp với chuẩn kiến thức Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, đặc biệt phần lớn các sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học vẫn chưa thực sự chú ý, quan tâm đúng mức đến việc luyện rèn giáo án, chưa biết cách thiết kế một giáo án môn Tiếng Việt phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng Trước sự đổi mới căn bản, toàn diện của nền giáo dục Việt Nam, đồng thời cùng với sự thay đổi chương trình sách giáo khoa sau năm
2015 dẫn đến phải có sự thay đổi phương pháp dạy học đòi hỏi chúng ta phải
có kĩ năng sư phạm tốt, trong đó kĩ năng soạn giáo án mang tính độc lập, sáng tạo là một yêu cầu thiết yếu
Bản thân tôi là một sinh viên, tương lai là một giáo viên tiểu học, người ươm mầm cho những mầm non tương lai của đất nươc, tôi thấy rằng soạn giáo án là một công việc rất quan trọng bởi nó chính là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công của một tiết học Dù chương trình học hay phương pháp dạy học có thay đổi thì việc thiết kế bài giảng cũng không thể thiếu Tuy nhiên, kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt của giáo viên tiểu học nói chung và sinh
Trang 11viên sư phạm Giáo dục Tiểu học nói riêng còn vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập trong khi thực tiễn giáo dục đòi hỏi không ngừng đổi mới về cách dạy
và học Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:
“Bước đầu tìm hiểu kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học” Chúng tôi mong rằng đề tài này sẽ góp một phần
nhỏ vào việc hình thành năng lực soạn giáo án môn Tiếng Việt cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Soạn giáo án môn Tiếng Việt đã có từ khi môn Tiếng Việt được đưa vào dạy học ở trường phổ thông Bàn về kĩ năng soạn giáo án, gần đây có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Có thể dẫn ra một số công trình tiêu biểu sau đây:
Lê Phương Nga (2003), Dạy học Tập đọc ở Tiểu học (Tái bản lần thứ
hai), Nxb GD.Trong cuốn sách này, tác giả Lê Phương Nga đã đề cập đến nhiều vấn đề xoay quanh phân môn Tập đọc thông qua hệ thống lí luận và việc tổ chức dạy học Tập đọc cho HS Tiểu học
Đóng góp của công trình này là tác giả đã đưa được những nhược điểm của lối dạy học truyền thống và đưa ra hệ thống các bước tổ chức dạy học tập đọc ở Tiểu học, các công việc cần thiết để chuẩn bị cho giờ tập đọc và đưa ra được một số giáo án cụ thể để minh họa cho tiến trình của một giờ học tập đọc Tuy nhiên, nhiều vấn đề bất cập trong việc soạn giáo án môn Tiếng Việt của giáo viên nói chung và sinh viên nói riêng chưa được để cập sâu sắc
Lê Phương Nga (chủ biên) - Lê A - Đặng Kim Nga - Đỗ Xuân Thảo
(2013), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học I, Nxb ĐHSP.Trong
cuốn sách này, nhóm tác giả trên đã đề cập đến những vấn đề chung nhất của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, đồng thời đưa ra phương pháp dạy học các phân môn Tiếng Việt ở Tiểu học
Trang 12Đóng góp của công trình này là nhóm tác giả đã làm rõ được vị trí của môn Tiếng Việt để thấy được tầm quan trọng của nó trong dạy học ở nhà trường phổ thông Nhóm tác giả cũng đưa ra những phương pháp dạy học cụ thể đối với từng phân môn từ quy trình dạy học đến các ví dụ cụ thể Tuy nhiên, cuốn tài liệu này vẫn chưa chỉ ra được những khó khăn gặp phải khi soạn giáo án, chuẩn bị bài của giáo viên và sinh viên
Ngoài ra, trên một số trang Web, diễn đàn, tài liệu trực tuyến cũng có
đề cập đến kĩ năng và cách soạn giáo án của sinh viên, nhưng chỉ dừng lại ở mức lí thuyết chung chung mà chưa làm rõ được thực trạng cũng như việc rèn luyện kĩ năng soạn giáo môn Tiếng Việt của sinh viên, chưa vạch ra được những phương pháp cụ thể cho vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học, đề xuất các biện pháp để rèn luyện các kĩ năng soạn giáo
án môn Tiếng Việt nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng
Việt nói riêng và các môn học ở Tiểu học nói chung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận của việc tìm hiểu kĩ năng, cách thức soạn giáo
án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học hiện nay
- Tìm hiểu thực trạng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học (bao gồm cả hình thức lẫn nội dung)
- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt cho sinh viên theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên năm cuối (K37, Khóa 2011 - 2015),năm thứ ba (K38, Khóa 2012 - 2016), ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà nội 2; Giáo án môn Tiếng Việt của
Trang 13sinh viên năm cuối (K61, Khóa 2011 - 2015), năm thứ ba (K62, Khóa 2012 - 2015), ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học
6 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Đại học Sư phạm Hà Nội
- Một số giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên K37, K38 ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội 2; giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên K61, K62 ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội
- Giáo án các phân môn : Tập đọc, Luyện từ và câu
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp điều tra bằng lí thuyết
Chúng tôi đã tiến hành phân tích, tổng hợp, phân loại , hệ thống hóa, khái quát hóa các thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu khoa học làm cơ sở lí thuyết cho đề tài
7.2 Phương pháp thống kê số liệu
Chúng tôi sử dụng toán thống kê để xử lí thông tin, các số liệu thu được
từ giáo án của các bạn sinh viên
7.3 Phương pháp phỏng vấn
Chúng tối tiến hành một cuộc phỏng vấn trực tiếp một số bạn sinh viên nhằm lấy thông tin xác thực về thực trạng soạn giáo án của sinh viên
8 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận được chia thành ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận của việc tìm hiểu kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trang 14Chương 2: Thực trạng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng soạn giáo án môn Tiếng Việt cho sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TÌM HIỂU
KĨ NĂNG SOẠN GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN
SƯ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC
1.1 Hệ thống khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm kĩ năng
Hằng ngày, chúng ta nghe nói rất nhiều về thuật ngữ "kĩ năng" như là
kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn, trung tâm huấn luyện kĩ
năng… Theo đó, cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kĩ năng Những
định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của mỗi người
Theo nhóm tác giả Lê Văn Hồng (chủ biên) - Lê Ngọc Lan - Nguyễn
Văn Thàng, kĩ năng được định nghĩa như sau: kĩ năng - khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp, ) để giải quyết một nhiệm vụ mới Bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết Cơ sở lí thuyết đó chính là kiến thức.[1,tr.80]
Trong bài viết Kĩ năng là gì?, tác giả Bùi Trọng Giao lại cho rằng: kĩ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết ( kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo
ra kết quả mong đợi
Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản kĩ năng là khả năng thực hiện một hay một chuỗi hành động thuần thục dựa trên cơ sở vận dụng những kiến thức đã biết vào thực tiễn đời sống
Sự phân loại kĩ năng
+ Nếu xét theo tổng quan thì kĩ năng phân ra làm 3 loại: kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sống và kĩ năng làm việc
Trang 16+ Xét theo liên đới chuyên môn, kĩ năngcũng được chia ra làm 3 loại:
kĩ năng cứng, kĩ năng mềm và kĩ năng hỗn hợp
+ Theo tính hữu ích cộng đồng: kĩ năng hữu ích và kĩ năng phản lợi ích
xã hội
Sự hình thành kĩ năng
Bất cứ một kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kĩ năng đó Và kĩ năng được hình thành do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào
đó Kĩ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng và nó được hình thành trải qua các bước sau đây:
+ Hình thành mục đích: Lúc này thường thì chủ thể tự mình trả lời câu
hỏi “Tại sao tôi phải sở hữu kĩ năng đó?”; “Sở hữu kĩ năng đó tôi có lợi gì”?
+ Lên kế hoạch để có kĩ năng đó: Chủ thể là người tự vạch ra kế hoạch
Có những kế hoạch chi tiết và cũng có những kế hoạch đơn giản như là “ngày mai tôi bắt đầu luyện kĩ năng đó”
+Cập nhật kiến thức,lí thuyết liên quan đến kĩ năng đó: Thông qua tài
liệu, báo chí hoặc buổi thuyết trình nào đó Phần lớn thì những kiến thức này chúng ta được học từ trường và từ thầy, cô của mình
+ Luyện tập kĩ năng: Bạn có thể luyện tập ngay trong công việc, luyện
với thầy, cô hoặc tự mình luyện tập nhưng nhất định phải tập luyện thường xuyên
+ Ứng dụng và hiệu chỉnh: Để sở hữu thực sự một kĩ năng, chúng ta
phải ứng dụng nó trong cuộc sống và công việc Công việc và cuộc sống thì biến động không ngừng nên việc hiệu chỉnh là quá trình diễn ra thường xuyên nhằm hướng tới việc hoàn thiện kĩ năng của chúng ta Một khi bạn hoàn thiện
kĩ năng thì cũng có nghĩa là bạn đang hoàn thiện bản thân mình
Trang 171.1.2 Khái niệm giáo án, soạn giáo án
1.1.2.1 Khái niệm giáo án
Giáo án là hành trang luôn được mỗi GV mang theo bên mình, bởi lẽ
đó mà chúng ta không còn cảm thấy lạ khi nghe nói đến thuật ngữ “giáo án” Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu một cách đầy đủ về thuật ngữ “giáo án”,
do đó, chúng ta vẫn phải có một khái niệm thật đầy đủ cho thuật ngữ này
Theo Lê Phương Nga: Bài soạn (còn gọi là giáo án) được xem là bản
thiết kế để thực hiện một bài học, bản thiết kế cho hoạt động dạy học của thầy
và trò trong trường học để lĩnh hội một số khái niệm và các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng trong một thời gian xác định [5, tr.160]
Giáo án cung cấp cho người thầy một nguồn tham khảo, đồng thời chỉ
ra nội dung của bài học và giúp đảm bảo trật tự khoa học của thông tin, đưa ra
kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ và các phương tiện hỗ trợ cần thiết theo yêu cầu
Việc biên soạn giáo án của giáo viên thường được quy định dưới hai hình thức: viết tay và đánh máy vi tính
Giáo án viết tay là loại giáo án được giáo viên thiết kế và viết trên giấy A4 Giáo án đánh máy vi tính là loại giáo án soạn bằng máy vi tính và được chia ra làm hai loại: giáo án vi tính và giáo án trình chiếu
Giáo án vi tính: Là giáo án soạn bằng máy vi tính, được in ra khổ giấy
A4
Giáo án trình chiếu (thường gọi là giáo án điện tử): Là loại giáo án
soạn bằng máy vi tính có sử dụng các phần mềm dạy học và khi tổ chức dạy học trên lớp phải sử dụng máy tính và máy chiếu đa năng
1.1.2.2 Khái niệm soạn giáo án
Sự chuẩn bị của giáo viên là điều kiện không thể thiếu được để góp phần đảm bảo kết quả của quá trình dạy học Một trong những công tác quan trọng là lập kế hoạch dạy học Thông thường người giáo viên cần lập kế
Trang 18hoạch dạy học của toàn năm học, của từng tuần lễ, của từng bài học (theo từng tiết học hoặc cụm tiết học) Đối với môn Tiếng Việt, giáo viên cũng cần phải xây dựng kế hoạch dạy học theo năm học và từng bài học
Theo quan điểm hoạt động, dạy học là một quá trình điều khiển hoạt động học tập cảu HS nhằm thực hiện các mục tiêu dạy học Xuất phát từ nội dung bài học ta cần phát hiện những hoạt động liên hệ với nội dung đó, rồi căn cứ vào mục tiêu của bài mà chọn ra một số hoạt động cho HS thực hiện, nhằm phát hiện kiến thức mới hoặc luyện tập các kĩ năng Các hoạt động nghiên cứu này đều được thể hiện ở bài soạn cho một tiết lên lớp Để có một giờ dạy - học thành công, mỗi GV cần phải chuẩn bị tốt từ khâu soạn giáo án
Vậy soạn giáo án là gì?
Soạn giáo án hay xây dựng giáo án là hoạt động mà giáo viên tiến hành
thiết kế các hoạt động dạy - học của thầy và trò theo một trình tự lôgic phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện dạy học.Để soạn bài theo phương pháp đổi mới, chúng ta cần xác định rõ mục tiêu giờ học và các hoạt động dạy học chủ yếu, đặc biệt dự tính được cụ thể hóa các hoạt động và kết quả hoạt động của HS Một giáo án chuẩn bao giờ cũng phải đảm bảo nội dung kiến thức bài học sao cho đạt được mục tiêu kiến thức và kĩ năng cần thiết Một bài soạn nói chung và giáo án môn Tiếng Việt nói riêng, cần phải đảm bảo đủ ba phần cơ bản:
- Mục tiêu (Mục đích yêu cầu)
- Chuẩn bị (Đồ dùng và các phương tiện dạy học của giờ học)
- Lên lớp
Ở bước lên lớp vô cùng quan trọng, GV cần chia rõ hoạt động của thầy, trò và tiến trình hoạt động theo các bước Đối với các bạn SV đang trong quá trình tập nghề thì cần ghi rõ các bước giảng dạy Xác định được bước nào
Trang 19trước, bước nào sau, mục đích của từng hoạt động là gì, cách thức tiến hành các hoạt động đó như thế nào là rất cần thiết
Môn Tiếng Việt có tới bảy phân, mỗi phân môn lại có những đặc thù riêng, vì thế mà cách xác định mục tiêu, các bước chuẩn bị và các hoạt động lên lớp hay tiến trình dạy học cũng khác nhau Do vậy, mỗi GV, sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học khi tiến hành soạn giáo án cần nắm rõ đặc trưng riêng của từng phân môn, từng bài học để có được một giáo án tốt nhất làm hành trang dạy học cho mình
Bài soạn có thể được soạn dưới dạng nhiều khuôn mẫu khác nhau tùy vào sở thích của người soạn Cách thứ nhất: Có thể kẻ khung, chia cột, một bên là hoạt động của thầy, một là hoạt động của trò, ta tạm gọi là mẫu 1 Cách thứ 2: Không kẻ khung chia cột mà viết theo trình tự, diễn biến các hoạt động dạy - học của thầy trò, ta gọi đây là mẫu 2 Tuy nhiên, mỗi cách soạn đều có những ưu, nhược điểm nhất định Cụ thể:
- Mẫu 1:
Ưu điểm:
+ Khi chia thành các cột như vậy thì các hoạt động của thầy và trò được thể hiện một cách rõ ràng theo các trình tự
+ Dễ nhìn, khoa học, bài soạn sáng sủa
Nhược điểm: Hoạt động của thầy và trò đôi khi bị bỏ trống làm tốn giấy
- Mẫu 2:
Ưu điểm: Các hoạt động của thầy và trò được sắpxếp theo trình tự lô gic, các bước rõ ràng
Nhược điểm: Chưa thể hiện được tính khoa học trong thiết kế
Hiện nay, các giáo viên thường soạn theo mẫu 1 Dù là soạn theo cách nào thì quan trọng nhất vẫn phải đảm bảo đầy đủ mục tiêu, nội dung kiến thức
và các nhiệm vụ dạy học
Trang 20Trong quá trình và sau khi soạn xong một giáo án, người thầy cần trả lời được những câu hỏi sau đây:
- Đi đến những đâu? (hay còn hiểu đó là mục tiêu của bài học)
- Làm thế nào để đi đến đó? (phương pháp dạy, kỹ năng, sắp xếp công việc)
- Sử dụng những phương tiện gì? (tài liệu, các phương tiện hỗ trợ giảng dạy, nguồn tài liệu)
- Cấu trúc giáo án có hợp lí không? (thời gian giảng dạy một tiết học hoặc cụm tiết học, bài tập ứng dụng)
- Tự đánh giá kết quả dạy và học sau khi áp dụng giáo án đó vào giảng dạy? Tầm quan trọng của mỗi giáo án là không thể phủ nhận, vì thế để có một giờ học thành công thì người thầy phải chuẩn bị thật tốt ngay từ khâu soạn giáo án
1.1.3 Quan niệm về kĩ năng soạn giáo án
Bài soạn là kế hoạch của giáo viên để dạy từng tiết học, nó thể hiện một cách sinh động mối liên hệ hữu cơ giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và điều kiện học tập Vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo dạy học cho giáo
viên, cần hình thành kĩ năng soạn bài cho họ Kĩ năng soạn giáo án gồm
nhiều kĩ năng bộ phận, có mối quan hệ mật thiết với nhau bao gồm:
- Kĩ năng xác định mục tiêu bài dạy
- Kĩ năng xác định loại bài dạy, nội dung và cấu trúc bài
- Kĩ năng xác định nguồn gốc thông tin phục vụ cho hoạt động dạy
học(tài liệu tham khảo)
- Kĩ năng xác định chiến lược hoạt động dạy- học cho phù hợp (phương
pháp dạy học)
Mục tiêu bài học là cái đích của một quá trình Việc xác định mục tiêu
đúng, cụ thể thì mới có căn cứ để đánh giá chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học Khi xác định mục tiêu cần phải tính đến việc đánh giá Đề ra mục
Trang 21tiêu cao mà không thực hiện và đánh giá được cũng không mang lại kết quả
gì Theo quan điểm dạy học “Dạy học hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy vai trò tích cực của chủ thể người học thì mục tiêu dạy học phải hướng vào học sinh, do học sinh thực hiện” Do đó để thực hiện tốt
kỹ năng này thì sinh viên phải đạt được những nội dung sau:
- Nêu đầy đủ các loại mục tiêu: kiến thức, kĩ năng, thái độ
+ Kiến thức: Là các thông tin được chứa trong não Các thông tin này
có thể bao gồm: Sự kiện thực tế; khái niệm; nguyên lí; quy trình; quá trình; cấu trúc,…
+ Kĩ năng: Là hoạt động quan sát được và những phản ứng mà một
người thực hiện nhằm đạt được mục đích
+ Thái độ: Là cảm nhận của con người và ứng xử của họ đối với một
công việc, những thái độ biểu hiện có thể có tính chất cá nhân (thói quen) hoặc hành vi liên cá nhân Có hai loại thái độ: Thái độ không quan sát được
và thái độ quan sát được
- Mục tiêu dạy học phải cụ thể, có khả năng đo được, đánh giá được
- Mục tiêu mỗi hoạt động học phải xác định được mức độ thành công của HS sau mỗi bài học đó
Xác định nội dung và cấu trúc của bài dạy nói chung phụ thuộc nhiều
vào SGK, đặc điểm của người học và điều kiện giảng dạy của nhà trường Ví dụ: Sinh viên có trong tay SGK, hệ thống các TLTK với mức độ khác nhau, khi đó SV sẽ chọn những gì làm nội dung dạy học? Sinh viên không thể lấy tất cả những kiến thức đã học được làm nội dung dạy học, mà kiến thức dạy học cần phải tinh giản trên cơ sở cấu trúc những kiến thức liên quan cần thiết cho người học, phù hợp với mục tiêu và điều kiện dạy học của nhà trường Để thực hiện tốt kĩ năng này, sinh viên phải thực hiện được các yêu cầu sau:
- Xác định được nội dung chính, phụ trong bài dạy
Trang 22- Xác định lôgíc cấu trúc của các nội dung trong bài học
- Xác định mối quan hệ của bài học với nội dung kiến thức khác trong chương trình
Sau khi xác lập được nguồn thông tin và cấu trúc của bài dạy thì SV
cũng phải biết xác định nguồn tư liệu thông tin phục vụ cho việc giảng dạy và
học tập SV không chỉ dựa vào những kiến thức trong thời điểm mình học, trong giáo trình mà đòi hỏi họ phải truy cập thông tin từ những tư liệu khác nhau để bổ sung cho bài giảng Các thông tin thu thập được cần phải sàng lọc, cầu trúc lại cho người học sử dụng thuận tiện, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng Điều này đòi hỏi SV phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- Xác định được những sách báo, tài liệu có liên quan đến nội dung bài dạy
- Xác định được các đồ dùng trực quan phục vụ cho bài dạy
- Kinh nghiệm cá nhân, các ví dụ cụ thể được sử dụng trong bài dạy Đặc biệt, khi cấu tạo lại các thông tin phải sắp xếp sao cho các thông tin đó phù hợp với mục tiêu dạy học, với đặc điểm của người học và với điều kiện dạy học của nhà trường
Dạy học là quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh, do đó, đòi hỏi
phải có sự chuẩn bị chu đáo Giáo viên cần dự kiến cấu trúc phương pháp dạy học cho phù hợp với mục tiêu, nội dung Trong mỗi nội dung, cần xác định sử
dụng phương pháp nào là chủ yếu, tiến trình bài học nên bắt đầu từ đâu,… Để thực hiện tốt kĩ năng này, sinh viên cần thực hiện được các công việc sau:
- Xác định phương pháp, phương tiện dạy học chủ yếu
- Trình tự các hoạt động của giáo viên, của học sinh
- Xác định hình thức tổ chức dạy học (cá nhân, hợp tác theo nhóm nhỏ,…)
Như vậy, sự thành công của hoạt động dạy - học phụ thuộc nhiều vào kĩ năng soạn giáo án, muốn dạy tốt trước hết phải soạn bài tốt
Trang 231.1.4 Quan niệm về một giáo án chuẩn
Bài học là đơn vị cơ sở của việc dạy học nên việc soạn bài rất quan trọng Bản thiết kế càng đúng đắn, càng chi tiết thì càng đảm bảo sự thành công của giờ dạy Trong thực tế, người giáo viên càng đầu tư thời gian và công sức cho phần soạn bài bao nhiêu, giờ lên lớp sẽ thành công và nhẹ nhàng bấy nhiêu.Chính vì vậy, mỗi giáo viên đều phải có ý thức và kĩ năng soạn bài [2, tr.160]
Nói đến giáo án chuẩn, mỗi người có một quan niệm khác nhau, bởi nó còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Mục tiêu, nội dung bài học, phương pháp, phương tiện dạy học, trình độ học tập của học sinh, năng lực của giáo viên, điều kiện giảng dạy,…nhưng tựu chung lại, trong một giáo án, chúng ta phải xác định được mục đích, các hoạt động dạy học (các bước lên lớp) và phương pháp thực hiện từng hoạt động
Theo chúng tôi, một giáo án chuẩn trước hết phải đầy đủ về nội dung kiến thức và yêu cầu về kĩ năng; chi tiết, cụ thể diễn biến hoạt động của thầy
và trò; chính xác theo chuẩn kiến thức và mang tính khoa học Tất cả điều này
sẽ được cụ thể hóa qua cấu trúc của một giáo án Một giáo án chuẩn cần được cấu trúc thành ba phần như sau:
Phần đầu
1) Tên bài dạy; Tiết dạy; Môn; Lớp dạy: GV ghi rõ tên bài dạy, tiết dạy, lớp dạy khi tiến hành soạn bài
Ví dụ:
Tên bài dạy: Cây dừa; Tiết: 87; Môn: Tiếng Việt 2; Lớp dạy: 2A
2) Ngày soạn: GV cần ghi rõ ngày soạn, thông thường GV cần phải soạn bài
và được duyệt trước đó từ 3 - 6 ngày
3) Ngày dạy: GV cũng cần phải ghi đúng ngày dạy mà mình sẽ dạy để tổ trưởng bộ môn hoặc ban lãnh đạo xem xét xem giữa ngày soạn và ngày dạy
đã hợp lí chưa
Trang 244) GV soạn: Ghi rõ tên người soạn
Phần thân: Cần đủ ba phần cơ bản:
1) Mục tiêu (Mục đích yêu cầu):GV cần xác định rõ ba mục tiêu cơ bản của
bài học: Kĩ năng,Kiến thức và Thái độ
- Kĩ năng: Khi soạn bài, người soạn cần xác định được, cần phải dạy
cho HS những kĩ năng gì? Sau bài học, HS sẽ học và thực hiện được kĩ năng gì? Kĩ năng gì đã thực hiện được và kĩ năng gì chưa thực hiện được?
- Kiến thức: GV cũng cần làm rõ: Qua bài học này sẽ giúp HS hiểu
thêm kiến thức gì? Đâu là kiến thức trọng tâm cần dạy?,…từ đó GV đưa ra phương pháp hướng dẫn HS tiến hành các hoạt động học tập, cho HS tự khám phá và làm ra kiến thức
- Thái độ: Qua bài học, HS sẽ có thái độ ứng xử như thế nào với các sự
vật, hiện tượng và thế giới xung quanh các em
2) Chuẩn bị: Tùy từng bài học cụ thể màGV xác định đồ dùng và lựa chọn các phương tiện dạy học phù hợp
3) Các hoạt động dạy - học chủ yếu
Đây là hoạt động chủ chốt và vô cùng quan trọng của một giờ học, do
đó, GV cần thực hiện tốt các công việc sau:
- GV ghi rõ tiến trình các hoạt động dạy - học của thầy và trò, phân chia thời gian cho từng hoạt động
- Xây dựng kịch bản dạy - học cho từng hoạt động cụ thể, sau mỗi hoạt động, GV cho HS tự chốt kiến thức và GV đưa ra kết luận cuối cùng
- GV tự trả lời các câu hỏi trong SGK, chọn lọc, bổ sung thêm một số câu hỏi phụ để giúp HS nhanh hiểu bài, giờ học thêm sinh động
- Dự kiến một số tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lí
Trang 25Phần kết
1) Củng cố: Để giúp HS khắc sâu kiến thức, GV tiến hành các hoạt động củng
cố bằng nhiều hình thức khác nhau: trò chơi học tập: thi nhắc lại nội dung bài học, hát, đố vui, tiếp sức,…có liên quan đến nội dung bài vừa học
2) Dặn dò:
- GV nhận xét giờ học: biểu dương, khen ngợi những HS có cố gắng trong giờ học; nhắc nhở mang tính giáo dục những HS chưa chú ý trong giờ học
- Dặn dò HS chuẩn bị cho bài học sau: GV không nên dặn dò chung chung mà nên giao công việc cụ thể, đồng thời tạo hứng thú cho HS tự khám phá bài học sau
Như vậy, một bài soạn tốt là bài soạn phản ánh được sự phối hợp hoạt động nhịp nhàng giữa thầy - trò và đạt được mục đích yêu cầu khi giờ học kết thúc
1.2 Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học
1.2.1 Vị trí của môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lênin)
Nhóm tác giả Lê Phương Nga (chủ biên) - Lê A - Đặng Kim Nga - Đỗ
Xuân Thảo nhận định:“Tiếng mẹ đẻ đóng vai trò lớn trong việc hình thành những phẩm chất quan trọng nhất của con người và trong việc thực hiện những nhiệm vụ của hệ thống giáo dục quốc dân Nắm ngôn ngữ, lời nói là điều kiện thiết yếu của việc hình thành tính tích cực xã hội của nhân cách Không có một khoa học nào mà người học sẽ nghiên cứu trong tương lai, không có một phạm vi hoạt động xã hội nào mà không đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về tiếng mẹ đẻ… Chính vì vậy, tiếng mẹ đẻ là môn học trung tâm
ở trường tiều học.”
Trang 26“Đặc trung cơ bản của tiếng mẹ đẻ với tư cách là một môn học ở trường phổ thông là ở chỗ, nó vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là điều kiện và phương tiện cần thiết của lao động học tập của học sinh… Thiếu ngôn ngữ, con người không thể tham gia vào cuộc sống xã hội hiện đại,vào sản xuất hiện đại, vào sự phát triển văn hóa, nghệ thuật” [3, tr 42]
Ở tiểu học, hầu hết các nước trên thế giới đều coi trọng việc dạy học tiếng mẹ đẻ và dành cho nó vị trí ưu tiên xứng đáng
Ở Việt Nam, chương trình Cải cách giáo dục (ban hành từ năm 1981)
đã dành cho môn học Tiếng Việt 49 tiết/140 tiết trong 5 lớp (39%), chương trình năm 2000: 43 tiết/107 tiết (40%) trong một tuần học
Như vậy, ta thấy rằng, Tiếng Việt thể hiện rõ tư cách là một môn học chính rất quan trọng ở trong trường tiểu học ở nước ta
1.2.2 Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học
Nói đến mục tiêu đặc thù của môn học Tiếng Việt, trước đây người ta thường nói đến vấn đề thứ nhất là học để nắm kiến thức tiếng Việt (bao gồm cấu tạo tiếng Việt, hệ thống tiếng Việt gồm các kiểu đơn vị và quan hệ giữa chúng), thứ hai là học để giao tiếp - giao tiếp bằng bản ngữ
Chương trình Cải cách Giáo dục đã xác định mục tiêu môn học Tiếng Việt như sau:
- Môn Tiếng Việt bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả Trên cơ sở đó rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết, nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp
- Dạy học tiếng Việt nhằm phát triển các năng lực trí tuệ và phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh Thông qua môn Tiếng Việt dạy cho học
Trang 27sinh những thao tác tư duy cơ bản, dạy cách học tập và rèn luyện những thói quen cần có ở tiểu học
- Môn Tiếng Việt cần gợi mở cho học sinh cảm nhận cái hay, cái đẹp của ngôn từ tiếng Việt và hiểu được phần nào cuộc sống xung quanh Môn Tiếng Việt bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính, lành mạnh như: tình cảm gia đình, tình thầy trò,tình bạn, tình yêu quê hương, đất nước, con người, đồng thời hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất tôt đẹp
Chương trình Tiếng Việt tiểu học mới đưa mục tiêu giao tiếp bằng tiếng Việt - hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Chương trình tiểu học mới (ban hành theo Quyết định ngày 9/11/2001 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã xác định mục tiêu như sau:
“Môn Tiếng Việt ở tiểu học nhằm:
1 Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
2 Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
3 Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” [3, tr.43 - 44]
1.2.3 Các cơ sở xây dựng chương trình môn Tiếng Việt tiểu học mới
Mỗi người giáo viên cần có những hiểu biết về cơ sở xây dựng chương trình cũng như chương trình cụ thể, phải xem chương trình là cương lĩnh dạy học của mình và luôn có ý thức thực hiện tốt chương trình
Trang 28Nói đến các cơ sở xây dựng chương trình môn Tiếng Việt tiểu học, nhóm tác giả Lê Phương Nga (chủ biên) - Lê A - Đặng Kim Nga - Đỗ Xuân Thảo đã đưa ra những căn cứ sau:
(1) Căn cứ vào mục tiêu đào tạo nói chung, mục tiêu môn học nói riêng Theo nhóm tác giả trên thì đây là căn cứ quan trọng nhất, bởi vì:
Thứ nhất, Chương trình Tiếng Việt phải góp phần thực hiện những
mục tiêu chung của giáo dục tiểu học: “giáo dục tiểu học nhằm giúp cho học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở”
Thứ hai, Chương trình Tiếng Việt phải thực hiện mục tiêu của môn học
Tiếng Việt Nó phải trang bị cho mỗi học sinh những kĩ năng, kĩ xảo ngôn ngữ, các thao tác tư duy mà xã hội đòi hỏi ở trẻ 6 - 11 tuổi
“Những quan niệm về mục tiêu môn học khác nhau là cơ sở để đề xuất những chương trình rất khác nhau Nếu mục tiêu cơ bản của dạy tiếng mẹ đẻ trong nhà trường là hình thành và hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo hoạt động lời nói
ở các dạng và các hình thức của nó thì cần phải có một cách tiếp cận khác về nguyên tắc so với cách làm truyền thống trong việc xây dựng chương trình môn học.” Nhóm tác giả nhận định
(2) Căn cứ vào thành tựu khoa học có liên quan như Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Văn học, Tâm lí học lứa tuổi, Giáo dục học
(3) Căn cứ vào điều kiện dạy học ở tiểu học hiện nay trên phạm vi cả nước
Khi xây dựng chương trình cần đặc biệt lưu ý đến điều kiện dạy học Điều kiện dạy học ở đây chính là cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học,… Những điều kiện này ở các vùng khác nhau chưa thực sự đồng đều, có nhiều nơi trường lớp, bàn ghế chưa đủ, các thiết bị dạy học tiếng Việt còn thiếu sót rất nhiều, giáo viên thiếu và có trình độ thấp,…
Trang 29Do đó khi xây dựng chương trình Tiếng Việt, các nhà Giáo dục cần dựa vào các căn cứ trên đây để xây dựng chương trình Tiếng Việt sao cho hợp lí tránh tình trạng lãng phí sức người và của mà không đưa vào thực tiễn giảng dạy được
1.2.4 Những nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt
Theo nhóm tác giả Lê Phương Nga (chủ biên) - Lê A - Đặng Kim Nga -
Đỗ Xuân Thảo thì khi xây dựng Chương trình Tiếng Việt cần tuân thủ ba nguyên tắc sau đây:
1 Nguyên tắc khoa học
2 Nguyên tắc sư phạm
3 Nguyên tắc thực tiễn
1.2.5 Nguyên tắc soạn thảo sách giáo khoa Tiếng Việt
Sách giáo khoa là nơi cụ thể hóa những đơn vị kiến thức đã quy định trong chương trình Nội dung và cấu tạo của sách giáo khoa được xác định bởi nhiệm vụ môn học và đặc điểm của đối tượng học sinh Sách giáo khoa Tiếng Việt được soạn theo nguyên tắc sau:
(1) Nguyên tắc giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc…nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác… giữa các thành viên trong xã hội Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin) và kí
mã (phát thông tin); trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể được thực hiện bằng hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc viết)
Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học Về nội dung, thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, môn Tiếng Việt tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo định
Trang 30hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp Về phương pháp dạy học, các kỹ năng nói trên được hình thành thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên [3, tr 48]
(2) Nguyên tắc tích hợp
Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học
Quan điểm tích hợp trong dạy học Tiếng Việt được thể hiện ở hai yêu cầu: tích hợp ngang (đồng quy) và tích hợp dọc (đồng tâm)
Theo yêu cầu tích hợp ngang, SGK tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Hướng tích hợp này thường được thực hiện thông qua hệ thống các chủ điểm học tập, các kiến thức được tích hợp với kỹ năng, bao gồm kỹ năng đọc, viết, nghe, nói được tích hợp với nhau Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Học vần, Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc
Đồng thời ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới cũng tích hợp những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm: kiến thức và
kĩ năng của lớp trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới nhưng cao hơn, sâu hơn Theo yêu cầu tích hợp dọc này, chương trình, sách giáo khoa toàn cấp học được bố trí thành hai vòng:
- Vòng 1 (các lớp 1,2,3) tập trung hình thành ở học sinh các kỹ năng đọc, viết và phát triển các kỹ năng nghe, nói với những yêu cầu cơ bản: đọc thông và hiểu đúng nội dung của một văn bản ngắn; viết rõ ràng và đúng chính tả; thông qua các bài tập thực hành, bước đầu có một số kiến thức sơ giản về từ, câu, đoạn văn và văn bản
Trang 31- Vòng 2 (các lớp 4,5) cung cấp cho học sinh một số kiến thức sơ giản
về tiếng Việt để phát triển các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói ở mức độ cao hơn với những yêu cầu cơ bản như: hiểu đúng nội dung và bước đầu biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ ngắn; biết cách viết một số kiểu văn bản; biết nghe - nói
về một số đề tài quen thuộc [3, tr 48-49]
(3) Nguyên tắc tích cực hóa hoạt động của học sinh
Theo quan điểm dạy học “hướng vào học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy vai trò tích cực của chủ thể người học thì mục tiêu dạy học phải hướng vào học sinh, do học sinh thực hiện” mà “một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK là đổi mới phương pháp dạy và học: chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó người thầy đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và phát triển.” [3, tr.49]
1.2.6 Các tiêu chuẩn của sách giáo khoa Tiếng Việt
Sách giáo khoa Tiếng Việt cần đảm bảo được các tiêu chuấn sau đây:
1 Trình bày các kiến thức lí thuyết cơ bản về tiếng Việt, những quy tắc
và các định nghĩa đảm bảo tính khoa học, hệ thống, dễ hiểu đối với học sinh
2 Góp phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, phát triển ở các em tư duy lôgic và lòng yêu mến sự giàu đẹp của tiếng Việt
3 Đưa vào một số lượng vừa đủ các bài tập sao cho chúng vừa phong phú, đa dạng vừa có hiệu quả thiết thực và được sắp xếp một cách hợp lí
4 Hay về nội dung, hấp dẫn về hình thức (chữ in, giấy, khuôn bìa, tranh ảnh, màu sắc phải được quan tâm) [3, tr.49 - 50]
Trang 32có quan niệm, cái nhìn đúng đắn về việc soạn giáo án, thấy được tầm quan trọng của kế hoạch giảng dạy mà có ý thức soạn bài một cách chi tiết, đầy đủ
và khoa học trước khi bắt đầu một giờ dạy học môn Tiếng Việt
Trang 33Chương 2 THỰC TRẠNG SOẠN GIÁO ÁN MÔN TIẾNG VIỆT CỦA SINH VIÊN
SƯ PHẠM GIÁO DỤC TIỂU HỌC
2.1 Thực trạng soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học
Trên thực tế, việc soạn giáo án môn Tiếng Việt của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học các trường đại học, cao đẳng có những ưu điểm và hạn chế nhất định
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 200 giáo án môn Tiếng Việt của hơn
200 SV sư phạm Giáo dục Tiểu học tại hai trường Đại học: ĐHSP Hà Nội 2
và ĐHSP Hà Nội, trong đó, có 50 giáo án của sinh viên năm cuối (K37, Khóa
2011 - 2015), 50 giáo án của sinh viên năm thứ ba (K38, Khóa 2012 - 2016), ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà nội 2; tiếp theo là 50 giáo án của sinh viên năm thứ tư (K61, Khóa 2011 - 2015) và 50 giáo án của sinh viên năm thứ ba (K62, Khóa 2012 - 2016), ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội Qua quá trình nghiên cứu, phân tích, tổng hợp các giáo
án, chúng tôi thu được kết quả đáng chú ý sau:
a) Ưu điểm
Về hình thức:
Trước hết, chúng tôi nhận thấy rằng, hầu hết các bạn sinh viên đã biết cách soạn hoàn chỉnh một giáo án theo cấu trúc của từng phân môn Đa số các bạn đều xây dựng bài soạn của mình theo cấu trúc ba phần:
+ Mục đích yêu cầu (mục tiêu)
+ Chuẩn bị (mục này ghi các đồ dùng và phương tiện dạy học cần chuẩn bị của giờ học)
+ Lên lớp
Trang 34Ở mục lên lớp, phần lớn các bạn chia làm hai cột dọc: Hoạt động của thầy ở cột trái và hoạt động của trò ở cột phải Chúng tôi thống kê được 97/200 giáo án thiết kế theo mẫu này:
Có 11/200 giáo án chia thành 3 cột dọc: cột thứ nhất từ trái sang là cột hoạt động của GV, tiếp theo là cột hoạt động của HS và cuối cùng là cột nội dung cần đạt, được thể hiện như sau:
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
Có 68/200 giáo án đƣợc thiết kế theo mẫu sau:
Hoạt động của thầy Thời gian
Trang 35Nội dung (thời gian) Hoạt động của GV Hoạt động của HS Luyện đọc (15 phút)
Hoạt động của HS
Dự kiến câu trả lời
Ngôn ngữ xúc tích, dễ hiểu và dễ tiếp thu đối với học sinh
Có sự kết hợp linh hoạt giữa lí thuyết với các phương tiện dạy học, đồ dùng trực quan
Nhìn chung, bài soạn của các bạn sinh viên đã có sự đầu tư biết cách soạn giáo án môn Tiếng Việt, đặc biệt là những sinh viên năm cuối qua các đợt thực tập đã dần tích lũy cho mình những kinh nghiệm và hình thành kĩ năng soạn bài cho mình
Trang 36+ Loại sáng tạo
+ Loại bình thường
+ Loại sơ sài
Loại sáng tạo: Đó là những giáo án mà theo chúng tôi, chúng được đầu
tư cả về thời gian lẫn trí óc Sáng tạo từ hình thức đến nội dung: cấu trúc giáo
án chặt chẽ, kiến thức đầy đủ, chính xác và khoa học, phù hợp với mục tiêu, nội dung và phát triển theo trình tự lôgic Trong số 200 giáo án thì chỉ có 20/200 (chiếm 9%) giáo án mang tính sáng tạo và theo chúng tôi được biết thì những giáo án sáng tạo là những giáo án của các bạn SV tham gia Hội thi giảng cấp khoa hoặc cấp trường
Loại bình thường: Đó là những giáo án được soạn khá đầy đủ nhưng lại
là những giáo án được sao chép từ các TLTK Trong số 200 giáo án của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học tại hai trường đại học nói trên thì chúng tôi liệt kê được số giáo án chép giống nguyên si tài liệu tham khảo với con số như sau:
- Giáo án của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học trường ĐHSP Hà Nội:
+ Giống SGV: 9/50 (chiếm 18%) giáo án của SV K61, 11/50 (chiếm 22%) giáo án của SV K62
+ Giống STK bài giảng: 26/50 (chiếm 52%) giáo án của SV K61, 31/50 (chiếm 62%) giáo án của SV K62
Trang 37+ Giống giáo án trên mạng: 6/50 (chiếm 12%) giáo án của SV K61, 4/50 (chiếm 8%) giáo án của SV K62
Còn lại 9/50 (chiếm 18%) giáo án của SV K61, 1/50 (chiếm 2%) giáo án của SV K62 là những giáo án được soạn cẩn thận, chi tiết, thể hiện tính sáng tạo
- Giáo án của sinh viên sư phạm Giáo dục Tiểu học trường ĐHSP Hà Nội 2:
+ Giống SGV: 8/50 (chiếm 16%) giáo án của SV K37, 13/50 (chiếm 26%) giáo án của SV K38
+ Giống STK bài giảng: 28/50 (chiếm 56%) giáo án của SV K37, 32/50 (chiếm 64%) giáo án của SV K38
+ Giống giáo án trên mạng: 3/50 (chiếm 6%) giáo án của SV K37, 3/50 (chiếm 6%) giáo án của SV K38
Còn lại, 10/50 (chiếm 20%) giáo án của SV K37 là những giáo án được chúng tôi đánh giá là những giáo án có sự sáng tạo
Loại sơ sài: Những giáo án này chưa được soạn một cách chỉn chu, cẩn
thận và chưa đầu tư về công sức Chúng tôi đánh giá đây là những giáo án kém về ý thức lẫn kĩ năng soạn, vì phần mục tiêu dạy học, nội dung kiến thức cũng như các hoạt động dạy - học của thầy và trò đều ghi một cách rất chung
chung không đi vào cụ thể, chi tiết Chẳng hạn, phần Hoạt động của thầy, SV chỉ ghi: GV đặt câu hỏi, và phần Hoạt động của trò thì ghi ngắn gọn: HS trả lời mà không nói rõ GV hỏi gì, HS trả lời như thế nào Chúng tôi thống kê
được 1/50 giáo án của SV K37, 2/50 giáo án của SV K38 , ngành GDTH, trường ĐHSP Hà Nội 2 và 2/50 giáo án của SV K62, ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội
Cùng với việc sử dụng phương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp thông tin, số liệu từ các giáo án trên, chúng tôi đã làm một bài Test nhỏ bằng
Trang 38Bảng thang đo về mức độ cần thiết của mỗi TLTK khi soạn giáo án của SV Bài Test được thiết kế như sau:
1 Mức độ cần thiết của SGV khi bạn soạn giáo án môn Tiếng Việt:
1.Rất cần thiết; 2.Cần thiết; 3.Bình thường; 4.Không cần thiết Hãy tích vào một trong số bốn ô vuông về mức độ cần thiết của SGV đối với bạn
2 Mức độ cần thiết của STK bài giảng khi bạn soạn giáo án môn Tiếng Việt:
1.Rất cần thiết; 2.Cần thiết; 3.Bình thường; 4 Không cần thiết Hãy tích vào một trong số bốn ô vuông về mức độ cần thiết của STK bài giảng đối với bạn
3 Mức độ cần thiết của SGK khi bạn soạn giáo án môn Tiếng Việt:
1.Rất cần thiết; 2.Cần thiết; 3.Bình thường; 4.Không cần thiết Hãy tích vào một trong số bốn ô vuông về mức độ cần thiết của SGK đối với bạn
Bài Test trên được thực hiện với 30 SV K38, ngành GDTH, khoa GDTH, trường ĐHSP Hà Nội 2, và cuối cùng chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 39kế bài giảng, nhưng trong đó chủ yếu là dựa vào sách thiết kế bài giảng (chiếm trung bình là 58.5% giáo án) của cả hai trường đại học sư phạm nói trên Và hầu hết, họ chỉ sử dụng sách thiết kế bài giảng, còn SGV và SGK chỉ
là thứ yếu, có thể có hoặc không Còn nữa, những giáo án soạn khá hơn thường rơi vào giáo án của những sinh viên năm cuối và những giáo án sáng tạo thường là giáo án của một số sinh viên dự thi Nghiệp vụ sư phạm cấp khoa, cấp trường, còn những giáo án hạn chế về kĩ năng soạn đều là những giáo án sơ sài, cẩu thả, mang tính chống đối, “có hơn không”
Chỉ qua những con số thống kể như vậy, chúng ta có thể kết luận một điều rằng, phần lớn giáo án của các bạn sinh viên đều soạn theo sách thiết kế hoặc sách giáo viên Dù làm vậy là không sai, nhưng điều này thể hiện các bạn đó chưa thực sự quan tâm đến bài giảng của mình và chỉ mang tính chất chống đối, phòng khi có giáo viên kiểm tra đến giáo án của các bạn.Là một
Trang 40một người giáo viên tương lai, cái quan trọng và cốt yếu là phẩm chất và kĩ năng chuyên môn Với nghề dạy người, phẩm chất và năng lực là vô cùng
quan trọng, chúng luôn song song cùng tồn tại Bác Hồ đã từng nói: “Có đức
mà không có tài làm việc gì cũng khó Còn có tài mà không có đức chỉ là kẻ
vô dụng.” Do đó, mỗi sinh viên cần tu dưỡng cái tâm và cái tài ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường
Dựa vào sách thiết kế và các tài liệu tham khảo khác để soạn bài là một việc làm đáng khích lệ, nhưng đôi khi các bạn lại lạm dụng STK quá mức đến nỗi đưa nguyên những gì trong đó vào bài của mình Chưa có một nhận định khoa học nào chứng minh rằng những quyển sách thiết kế bài giảng mà các bạn sử dụng là hoàn toàn đúng Chúng ta đang sống trong một xã hội đầy biến động, cuộc sống không ngừng phát triển, tri thức nhân loại vô cùng phong phú, do đó, nếu chỉ bó hẹp trong phạm vi những quyến sách thiết kế, sách tham khảo thì chỉ càng làm cho tư duy của chúng ta bị nó chi phối, sáo mòn
và mất đi chính kiến cá nhân
Việc xuất bản các cuốn giáo án không phải là vấn nạn của ngành giáo dục mà vấn đề những sinh viên hoặc giáo viên đó tìm đọc và sử dụng như thế nào Trên thực tế, nhiều khi trong một giờ lên lớp, khi giáo viên yêu cầu cả lớp thu giáo án để kiểm tra, bên cạnh những bạn đã chuẩn bị bài thì một số bạn sinh viên mới bắt đầu lấy giấy bút và quyển sách tham khảo ra để soạn bài Nhanh gọn hơn, có bạn còn xin giáo án của bạn bên cạnh rồi viết họ tên mình vào, thế là cũng có giáo án để nộp mà không cần phải tốn thời gian để ngồi soạn Qua thực tế dự giờ một số tiết tập giảng của các bạn sinh viên khi dạy bằng giáo án PowerPoint, chúng tôi thấy dường như các bạn chỉ tải giáo
án trên mạng về rồi sử dụng luôn mà không cần chỉnh sửa gì, thậm chí tên trường Tiểu học, tên giáo viên, tên lớp của tác giả bài soạn vẫn còn nguyên trên màn hình Đây quả thực là một điều bất cập và đáng lo ngại cho nền giáo dục