Nh vậy, các nhà ngôn ngữ trên thế giới đã chỉ ra ba loại loại biểu thức rào đón tơng ứng với ba khía cạnh khác nhau của hội thoại, đó là: rào đón phơng châm cộng tác hội thoại, rào đón c
Trang 1Bộ giáo dục đào tạo Trờng đại học vinh -*** - Nguyễn thị khánh chi
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Xung quanh vấn đề hội thoại
1.2 Biểu thức ngữ vi và biểu thức ngữ vi rào đón
1.3 Tiểu kết chơng 1
Chơng 2: Cấu trúc và ngữ nghĩa của biểu thức rào đón
trong lời thoại nhân vật
2.1 Các nhân tố chi phối hành động rào đón
2.2 Cấu trúc biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Trang 22.3 Ngữ nghĩa biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
2.4 Tiểu kết chơng 2
Chơng 3: Chiến lợc rào đón cho hành động hỏi, cầu khiến, trần thuật
và vai trò của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
3.1 Vấn đề sử dụng biểu thức rào đón đối với các hành động ngôn từ
trong lời thoại nhân vật
3.2 Chiến lợc rào đón cho hành động hỏi, cầu khiến, trần thuật
trong lời thoại nhân vật
3.3 Vai trò của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
đang đợc nhiều ngời nghiên cứu đặc biệt quan tâm Tuy vậy, hành động rào đón
trong lời thoại nhân vật thì cha có đề tài nào đi sâu nghiên cứu
1.2 Ngời Việt Nam có lối giao tiếp a tế nhị Đó là sản phẩm của lối sốngtrọng tình và lối coi trong các mối quan hệ Nó tạo nên một thói quen đắn đo, cânnhắc khi nói năng khiến cho lời ngời nói trở nên “vòng vo tam quốc” Để tạo ra
kiểu nói “vong vo”, họ thờng sử dụng các câu đa đẩy, các hành động rào đón trớc khi bớc vào một nội dung thông báo chính thức Có thể nói, rào đón là hoạt động
giao tiếp hết sức đặc thù và điển hình của ngời Việt Tìm hiểu về cấu trúc, ngữ
nghĩa cũng nh chiến lợc sử dụng hành động rào đón trong lời thoại nhân vật sẽ phần nào cho ta thấy đợc bản chất của hành động này trong hoạt động giao tiếp
Trang 3ngôn từ của ngời Việt nói chung, của nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết nóiriêng.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu Biểu thức ngữ vi rào
đón trong lời thoại nhân vật (qua t liệu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại).
2 Đối tợng và mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tợng
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là các lời thoại của nhân vật có sử dụng hành
động rào đón trong các truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam, chủ yếu sáng tác sau
3 Nhiệm vụ
Nghiên cứu đề tài Biểu thức ngữ vi rào đón trong lời thoại nhân vật, chúng
tôi xác định những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích, miêu tả cấu trúc và ngữ nghĩa của các biểu thức ngữ vi rào đón
trong lời thoại nhân vật
- Chỉ ra các chiến lợc rào đón cho một số hành động ngôn từ thờng gặp trong lời thoại nhân vật (cụ thể là các hành động hỏi, cầu khiến, trần thuật).
- Chỉ ra vai trò của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật.
4 Lịch sử nghiên cứu
Hành động rào đón trong hội thoại trớc hết đợc các nhà nghiên cứu văn hoá
chú ý nh một biểu hiện độc đáo trong văn hoá ứng xử, giao tiếp Nó là sản phẩmcủa lối giao tiếp “vòng vo tam quốc” – hệ quả của lối sống trọng tình, coi trọngcác mối quan hệ của ngời Việt Nam nói riêng và của ngời phơng Đông nói chung
Trong ngôn ngữ học, lịch sử nghiên cứu hành động rào đón gắn với việc
nghiên cứu về hội thoại, về lí thuyết hành động ở lời Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữtrong và ngoài nớc mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận sự tồn tại cũng nh vai trò củaloại hành động này trong diễn ngôn chứ cha đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc, ngữ nghĩa
của nó Bên cạnh đó, việc nghiên cứu hành động rào đón trong lời thoại nhân vật
cho đến nay vẫn còn là một khoảng trống
Chú ý đến lời rào đón trong diễn ngôn, các tác giả cũng đã xuất phát từ nhiều góc độ và phơng diện khác nhau nhng chủ yếu tập trung ở việc đặt lời rào đón
Trang 4trong tơng quan với các nguyên tắc hội thoại (cụ thể là với nguyên tắc cộng tác và
nguyên tắc lịch sự), với điều kiện sử dụng các hành động ở lời để kết luận về bản
chất và vai trò của hành động này
Một trong những ngời đầu tiên chú ý đến rào đón trong hội thoại là R Lakoff (1975) Theo tác giả, việc dùng các yếu tố rào đón có tác dụng làm biến đổi hiệu lực của hành động ngôn từ, do đó sẽ có các biểu thức rào đón điều kiện sử
dụng hành động ở lời Ví dụ, khi ta yêu cầu ai làm việc gì đó thì tiền giả định là
ng-ời đó có thể và có ý muốn sẵn sàng thực hiện việc đó và cũng tiền giả định là ngng-ời
đó cha thực hiện việc ta yêu cầu; khi hứa hẹn thực hiện một điều gì đó thì tiền giả
định là ta cha thực hiện nó và cũng cho rằng ngời nghe muốn ta thực hiện điều đó.Rào đón những điều đợc giả định trên có nghĩa là tránh sự ràng buộc đối với nhữngtiền giả định đó Đó là cách thức cơ bản để giải toả những đe doạ đối với những t-
ơng tác, đe doạ mối quan hệ giữa con ngời với nhau trong giao tiếp
Tác giả Green (1989) chú ý đến những lời rào đón theo nguyên tắc lịch sự.
Green cho rằng các biện pháp lịch sự âm tính (các biện pháp nhằm hạn chế sự đedoạ thể diện của ngời nghe khi bắt buộc phải thực hiện một hành động đe doạ thểdiện nào đấy) và các biện pháp lịch sự dơng tính (các biện pháp nhằm tôn vinh thể
diện của ngời nghe) của P Brown và S Levinson chính là biểu thức rào đón và
nhấn mạnh nhằm điều hoà các mối quan hệ liên cá nhân trong xã hội Chẳng hạn,khi chuẩn bị thực hiện một hành động có nguy cơ đe doạ thể diện của ngời nghe thìngời nói cần phải dựa vào các nhân tố nh khoảng cách xã hội, quyền lực tơng đốigiữa ngời nói và ngời nghe để rồi quyết định: hoặc bỏ qua vấn đề thể diện, thựchiện bằng cách nói thẳng; hoặc lựa chọn phép lịch sự dơng tính làm cho ngời nghecảm thấy dễ chịu hoặc thấy giá trị anh ta đợc chia sẻ, tôn trọng; hoặc lựa chọnchiến lợc lịch sự âm tính bằng cách rào đón, xin lỗi
G Yule (1996) quan tâm đến những lời rào đón các nguyên tắc cộng tác hội
thoại Theo tác giả, có những kiểu diễn đạt mà ngời nói dùng để ghi nhận họ có
nguy cơ không gắn bó đầy đủ với những nguyên tắc cộng tác Những kiểu diễn đạt
nh thế đợc gọi là những biểu thức rào đón [42, tr.79-82] Tác giả cũng đã chỉ ra
bốn kiểu lời rào đón tơng ứng với bốn phơng châm hội thoại của H P Grice Đó là:
Khi nhận thấy phơng châm về chất không đợc tôn trọng triệt để, tức thông tin đa ra
thiếu chính xác hoặc không chứng minh thoả đáng đợc thì ngời nói có thể sử dụng
các biểu thức rào đón nh: theo chỗ tôi biết, nếu tôi không nhầm, tôi không tin chắc
lắm Khi nhận thấy phơng châm chỉ lợng có nguy cơ bị vi phạm, tức lợng thông
tin không phù hợp với mục đích của cuộc thoại (ít hơn hoặc nhiều hơn) thì ngời nói
có thể sử dụng các biểu thức rào đón nh: chắc là anh biết, để khỏi dài dòng, tôi
Trang 5không muốn làm phiền anh bằng các chuyện tỉ mỉ Để rào đón phơng châm quan
hệ, ngời nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón kiểu nh: à này, tiện đây Còn
những lời giáo đầu kiểu nh: không chắc chắn lắm, tôi nói cũng hơi lộn xộn, tôi
không rõ điều này có quan trọng hay không có thể đợc dùng để rào đón phơng
châm cách thức
Các biểu thức rào đón cũng đợc Peter Grundy (2000) nhắc tới trong Doing
Pragmatics Theo tác giả, bên cạnh những biểu thức đợc ngời nói sử dụng để rào
đón với ngời nghe rằng họ có nguy cơ không gắn bó với một phơng châm nào đó
còn có các biểu thức dùng để nhấn mạnh có một phơng châm nào đó cần đợc tôn
trọng hơn Chẳng hạn, trong lời khẳng định: Hút thuốc lá chắc chắn có hại cho sức
khỏe thì chắc chắn là biểu thức nhấn mạnh phơng châm về chất, nó đảm bảo độ tin
cậy tuyệt đối của lời khẳng định Khi nói Vấn đề là ở chỗ hút thuốc là có hại cho
sức khỏe thì biểu thức Vấn đề là ở chỗ lại nhằm nhấn mạnh phơng châm quan yếu.
Có khi ta lại nói: Nói một cách đơn giản, hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ thì Nói
một cách đơn giản là biểu thức nhấn mạnh phơng châm cách thức Nh vậy, bên
cạnh những biểu thức rào đón các quy tắc hội thoại còn có các biểu thức nhấn
mạnh quy tắc hội thoại.
Nh vậy, các nhà ngôn ngữ trên thế giới đã chỉ ra ba loại loại biểu thức rào
đón tơng ứng với ba khía cạnh khác nhau của hội thoại, đó là: rào đón phơng châm cộng tác hội thoại, rào đón các quy tắc lịch sự, rào đón các điều kiện sử dụng hành
động ở lời
ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu trong các công trình viết về ngữ dụng
học cũng đã bớc đầu quan tâm đến hành động rào đón.
Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt Ngữ đã quan tâm đến những lời rào đón trong giao tiếp Theo tác giả, “Những lời rào đón này giống nh những bằng
chứng cho phép nó vi phạm một nguyên tắc nào đó Chúng cũng là những tín hiệu
đối với ngời nghe để ngời nghe có thể hạn chế cách giải thích của mình [15,
tr.132] Hoặc: Để tránh đe doạ thể diện của ngời nghe, ngời ta cũng dùng những lời
rào đón Những lời rào đón này có giá trị nh một lời xin lỗi trớc, tạo sự thân hữu giữa ngời nói và ngời nghe, tránh xúc phạm thể diện của ngời nghe [15, tr.135].
Tuy vậy, nhận định này cũng cho thấy tác giả không xem rào đón là một loại hành
động ở lời mà chỉ là một bộ phận từ vựng tham dự vào một hành động ở lời chânthực và hỗ trợ cho hành động đó trong việc khẳng định rằng ngời nói đang có ý
thức tuân thủ các nguyên tắc hội thoại (bao gồm nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc
lịch sự).
Cũng theo hớng này, tác giả Diệp Quang Ban trong [2] cũng quan niệm rào
đón chỉ là những lời mào đầu khi cần chứng minh ngời nói không cố tình vi phạm
Trang 6các quy tắc hội thoại Tác giả nhấn mạnh: sử dụng lời rào đón là một cách thể hiện
sự tôn trọng quá trình trao đổi, cụ thể là tôn trọng quy tắc thông dụng đợc nêu lên thành các phơng châm hội thoại, và đó cũng là cách để ngời nói bày tỏ thái độ tôn trọng ngời nghe trong ý nghĩa là ngời nghe đang coi mình nh một ngời cộng tác chân thành [2, tr.141].
Ngời có nhiều đóng góp nhất đối với việc tìm hiểu biểu thức rào đón là Vũ
Thị Nga ở [30], tác giả chỉ ra một số chiến lợc rào đón trong hội thoại của ngời
Việt, chúng là các biểu thức rào đón về bốn phơng châm cộng tác hội thoại của Grice [tr.16-23] Trong bài viết “Hành vi rào đón và phép lịch sự trong hội thoại”, tác giả đã dựa vào nguyên tắc lịch sự để tìm hiểu các biểu thức rào đón và xem
chúng nh những biểu hiện của phép lịch sự trong giao tiếp [31, tr.52] Tiếp tục tìm
hiểu về biểu thức rào đón, từ lí thuyết về điều kiện sử dụng hành động ở lời của Searle và Austin, tác giả đã đi đến kết luận: BTRĐ điều kiện sử dụng hành vi ngôn
ngữ trong phát ngôn bao gồm rào đón điều kiện chân thành và rào đón điều kiện chuẩn bị [32, tr.46-47].
Về cấu tạo biểu thức rào đón, tác giả cho rằng: yếu tố rào đón đợc diễn tả
bằng những từ ngữ có tính chất chuyên dụng trong phát ngôn [30, tr.16], [31, tr.46].
Có thể nói, Vũ Thị Nga đã rất công phu trong việc khảo sát và chỉ ra các loại
biểu thức rào đón trong hội thoại của ngời Việt Tuy nhiên, tác giả chỉ mới dừng lại
ở việc minh hoạ các đờng hớng phân chia lời rào đón của các nhà nghiên cứu trong
nớc và trên thế giới mà cha đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc, ngữ nghĩa của loại hành
động này
Rào đón tuy là một loại hành động phụ thuộc (nghĩa là không đời hỏi sự hồi
đáp từ phía ngời nghe), song không thể phủ nhận bản chất hành động ở lời của nó,
bởi khi ngời ta nói ra chúng tức là ngời ta đang thực hiện chính hành động rào đón Mặt khác, biểu thức rào đón không đơn giản chỉ là những từ ngữ chuyên dụng hay
những tổ hợp từ quen thuộc mà còn đợc tổ chức thành những phát ngôn hoàn chỉnh
Điều này cho đến nay vẫn cha có công trình nghiên cứu nào đề cập đến
Từ những điều đã trình bày trên đây, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu về rào
đón với t cách là một hành động ngôn từ qua đề tài: Biểu thức ngữ vi rào đón trong
lời thoại nhân vật (qua t liệu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại) 5 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phơng pháp:
- Phơng pháp thống kê - phân loại: Trớc hết, chúng tôi tiến hành khảo sát,
thống kê các lời thoại nhân vật chứa biểu thức ngữ vi rào đón trong truyện ngắn và
Trang 7tiểu thuyết Việt Nam (chủ yếu sáng tác sau 1975) Sau đó chúng tôi phân loại ngữliệu thành các nhóm đối tợng phù hợp với từng mục nội dung nghiên cứu Mọinhận định, đánh giá mà luận văn đa ra chủ yếu dựa trên các ngữ liệu đã khảo sát.
- Phơng pháp phân tích diễn ngôn: Chúng tôi đặt đối tợng nghiên cứu vào
hoàn cảnh giao tiếp cụ thể để tiến hành phân tích sự tơng tác nhằm nhận diện đâu làhành động gây hiệu lực ở lời trực tiếp (tức hành động chủ hớng) và đâu là hành
động rào đón, xác định mối quan hệ giữa các hành động này, đồng thời chỉ ra vai trò của biểu thức rào đón đối với hoạt động giao tiếp giữa các nhân vật.
- Phơng pháp miêu tả: Phơng pháp này chúng tôi sử dụng khi miêu tả vị trí,
cấu trúc và các nhóm ngữ nghĩa của biểu thức rào đón cũng nh khi miêu tả các
chiến lợc rào đón cụ thể trong lời thoại nhân vật
- Phơng pháp tổng hợp: Phơng pháp này đợc sử dụng sau khi kết thúc từng
phần nội dung nghiên cứu và kết thúc toàn bộ quá trình nghiên cứu để đa ra nhữngkết luận có giá trị lí luận và thực tiễn nhất định
6 Cái mới của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu biểu thức rào đón trong lời thoại
nhân vật (qua t liệu truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại) trên các phơngdiện cụ thể nh vị trí, cấu trúc, ngữ nghĩa, vai trò Do vậy, nó có những đóng gópnhất định trong việc làm sáng tỏ bản chất của một loại hành động ngôn từ – hành
động rào đón; bổ sung vào mảng đề tài nghiên cứu về các hành động ngôn từ trong
hội thoại giữa các nhân vật và rộng hơn là trong hoạt động giao tiếp nói chung
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính đợc triển khaithành ba chơng:
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Cấu trúc và ngữ nghĩa của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật Chơng 3: Các chiến lợc rào đón cho hành động hỏi, cầu khiến, trần thuật và
vai trò của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Trang 8Chơng 1
Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Xung quanh vấn đề hội thoại
1.1.1 Khái niệm hội thoại
Từ sau 1980 trở lại nay, hội thoại đã bắt đầu đợc đa vào sử dụng trong quátrình dạy ngoại ngữ (dạy tiếng), cho thấy một bớc tiến mới so với cách dạy họcthông thờng trớc đó là chỉ dạy cấu trúc, mô hình Từ đó, các nhà ngôn ngữ bắt đầuquan tâm đến vấn đề này và đã hình thành nên lý thuyết hội thoại Đã có nhữngcách hiểu và tơng ứng với chúng là các cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hộithoại Sau đây là một số định nghĩa:
Từ điển tiếng Việt (1995) định nghĩa: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau [34, tr.444].
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996) định nghĩa: Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích đợc đặt ra [43, tr.122].
Giáo s Đỗ Hữu Châu quan niệm: Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản,
thờng xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều đợc giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này [6,
tr.276]
Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia
nghe và phản hồi trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con ngời là hội thoại” [9, tr.76].
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: Hội thoại là một trong những hoạt
động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tơng tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhân thức nhằm đi đến một đích nhất định [25, tr.18].
Qua các định nghĩa trên, chúng tôi thấy để có hội thoại cần các nhân tố:
- Nhân vật giao tiếp (ít nhất là hai nhân vật)
- Nội dung giao tiếp (thể hiện qua nội dung các phát ngôn)
- Mục đích giao tiếp (trực tiếp hay gián tiếp)
- Ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm bối cảnh không gian, thời gian, cảnh huống
và ngôn cảnh)
- Thái độ (tình thái của phát ngôn)
Trang 91.1.2 Cấu trúc hội thoại
Có ba trờng phái có quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại: Trờng pháiphân tích hội thoại ở Mỹ (conversation analysis), Trờng phái phân tích diễn ngôn(discourse analysis) ở Anh, Trờng phái lý thuyết hội thoại ở Thuỵ Sĩ (Genève) vàPháp ở đây, chúng tôi chọn quan điểm cấu trúc hội thoại theo Trờng phái lý thuyếthội thoại ở Thuỵ Sĩ – Pháp, theo chúng tôi là phù hợp với cảm thức của ngời ViệtNam về hội thoại
Tiếp nhận quan điểm về các bậc trong hội thoại của lý thuyết phân tích diễnngôn, lý thuyết hội thoại Thuỵ Sĩ - Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chức tôn ti
nh tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị cấu trúc của hội thoại từ lớn đến đơn vịtối thiểu là:
1.1.2.1 Cuộc thoại (cuộc tơng tác – conversation, interaction): là đơn vị hội
thoại bao trùm, lớn nhất, tính từ khi các nhân vật tham gia hội thoại bắt đầu hộithoại cho đến khi kết thúc
1.1.2.2 Đoạn thoại (sequence): là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao
đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng, có tính hoàn chỉnh
bộ phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác làm thành cuộc thoại Cấu trúc tổngquát của một cuộc thoại có thể là:
Đoạn mở thoại
Đoạn thân thoại
Đoạn kết thoại
1.1.2.3 Cặp trao đáp (exchange): là đơn vị lỡng thoại nhỏ nhất, với chúng,
cuộc trao đổi, tức cuộc hội thoại chính thức sẽ đợc tiến hành Cặp thoại đợc cấuthành từ các tham thoại
Ba đơn vị trên có tính chất lỡng thoại (dialogal), có nghĩa là hình thành dovận động trao đáp của các nhân vật hội thoại
Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa là do một ngời nói ra là tham
thoại và hành động ngôn từ.
1.1.2.4 Tham thoại (participants): là phần đóng góp của từng nhân vật hội
thoại vào một cặp thoại nhất định Đây cũng chính là đơn vị nghiên cứu cơ bản của
đề tài nên chúng tôi sẽ trình bày kĩ phần này
a Phân biệt tham thoại và lợt lời
Lợt lời (conversational turn) là đơn vị cơ bản của hội thoại Tác giả Đỗ Hữu
Châu định nghĩa lợt lời là “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ đợc một nhân vật hội thoại nói
ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình” [6, tr.227] Nh vậy, lợt lời đợc tính bởi các phát ngôn do ngời nói nói ra
trong cuộc thoại từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc Mỗi lợt lời đợc xây dựng trên
Trang 10cơ sở những lợt lời trớc đó Những ngời tham gia hội thoại đều có quyền nói lợt lời,nói phần của mình C.K Orecchioni cho rằng cần phải đảm bảo nguyên tắc luânphiên lợt lời, nh thế cuộc thoại mới phát triển một cách bình thờng.
Mặt khác, lí thuyết hội thoại cũng khẳng định: tạo nên các cặp thoại là docác tham thoại của ít nhất hai nhân vật giao tiếp Tham thoại chỉ đợc xác định trongcặp thoại, nói chính xác hơn, nó là thành phần đóng góp của một ngời nói riêng rẽvào những cặp thoại riêng rẽ Mỗi lần ngời nói thay đổi thì có sự thay đổi trong cặpthoại nhng ngợc lại thì cha hẳn đã đúng Đờng ranh giới của các cặp thoại có thểxuất hiện giữa một lợt lời và đây là phần lớn các trờng hợp Nh vậy, tham thoạikhông hoàn toàn trùng khớp với lợt lời, nó có thể lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng lợtlời
+ Tham thoại trùng với lợt lời:
(1) - Nhắm chừng ruộng đợc chia kha khá không ông?
- Nghe đồn mỗi ngời đợc vài ba sào gì đó
[XXIX, t2, tr.37]
ở (1), lợt lời của ngời nói chỉ có một tham thoại hỏi do hành động có hiệu lực
hỏi thực hiện và lợt lời của ngời nghe cũng chỉ có một tham thoại hồi đáp cho hành
động hỏi.
+ Tham thoại lớn hơn lợt lời:
(2) - Anh không nói dối đâu Đừng giận nếu anh nói rằng, anh dờng nh tìm
thấy cái gì đó ấm áp xa cũ của mẹ bé Tũn trong em
- Em cảm ơn anh về điều đó
[XXVIII, tr.272]
Lời trao trong (2) gồm hai tham thoại: một tham thoại cam kết và một tham thoại bày tỏ (phần in nghiêng là biểu thức rào đón).
+ Tham thoại nhỏ hơn lợt lời (một tham thoại gồm nhiều lợt lời):
(3) Tôi bất giác buột miệng nói ra một câu mà đáng lẽ ở vào cái tuổi tôichẳng nên nói:
- Giả dụ nh mình Thẩm ạ Tất nhiên nói theo cá nhân thì Thì mình
- Thì dù có rau ăn rau, có cháo ăn cháo, một thằng đàn ông chân chínhkhông bao giờ đợc phép để vợ đi nh thế? – Thẩm nói tiếp hộ tôi với cái cời dễ dãirất tơi – Khỏi lo đi! Mỗi ngời một quan niệm, mỗi ngời một hoàn cảnh, một sốphận Mình tin ở cô ấy
[XXIII, tr.247]
ở (3), lợt lời của ngời nói cha làm thành một tham thoại hoàn chỉnh do bịngời nghe cắt ngang
Trang 11Biểu thức rào đón có thể xuất hiện trong lợt lời chứa nội dung thông báo và
cùng với nó tạo thành một tham thoại, hoặc cũng có thể đợc tách thành một lợt lời
độc lập Việc biểu thức rào đón có thể bị tách rời khỏi nội dung thông báo chính
thức và trở thành một lợt lời có thể do bị ngời nghe cắt ngang nh trong ví dụ (3),hoặc bị tách rời theo chủ ý của ngời nói Trong trờng hợp này, ngời nói sau khi kết
thúc lợt lời của mình là biểu thức rào đón sẽ ngừng lại để thăm dò thái độ của ngời
nghe trớc khi chính thức đa ra nội dung cần nói Trong thời gian ngừng nghỉ đó,ngời nghe có thể giữ im lặng (dấu hiệu hình thức trên văn bản nghệ thuật thờng đợcthể hiện bằng dấu ba chấm và sự im lặng ở đây sẽ đợc hiểu là đồng ý hay ít ra cũngkhông có ý định phản đối) hoặc ngời nghe cũng có thể tỏ thái độ phản đối hay chấpnhận bằng một lợt lời hay bằng điệu bộ, cử chỉ (gật đầu/lắc đầu, nhăn mặt, xuatay ) Ví dụ:
(4) - Nói thực, thời gian đầu về, nếu không có anh thì tôi cha biết xoay xoả
cách nào Nhng
- Đồng chí cứ nói thẳng ra Tôi đủ sức để nghe mọi điều, kể cả điều xấu nhất
- Anh là ngời u tú của một thời Anh lại là ngời đã kết nghĩa tử sinh, đã có
ơn cứu mạng đối với tôi
- Thôi! Chẳng nên nhắc lại chuyện cũ Cái gì qua cho qua luôn Tôi nghe đây!
- Vâng! Bây giờ anh không còn thích hợp với công việc nữa
- Biết nói thẳng đấy nhỉ Cảm ơn! – Giọng Đoàn Thanh đắng ngắt
[XX, tr.87]
ở ví dụ trên, rõ ràng cả lợt lời thứ nhất và lợt lời thứ hai đều không phải là
điều mà ngời nói thực sự muốn nói với ngời nghe, nhng ngời nói thấy cần phải thựchiện chúng nh một sự rào đón trớc để có thể đa ra đợc một nhận định cuối cùng ở l-
ợt lời thứ ba (vốn dĩ là một điều tế nhị, khó nói)
Trong hoạt động giao tiếp của các nhân vật văn, các tham thoại có biểu thức
rào đón bị tách rời khỏi nội dung thông báo nh trong các ví dụ (3), (4) chiếm một
số lợng không nhỏ
b Cấu trúc tham thoại
Theo Dơng Thị Tuyết Hạnh [17], cấu trúc cơ bản của tham thoại bao gồmhai thành phần: thành phần cốt lõi (hành vi chủ hớng + hành vi phụ thuộc) và thành
phần mở rộng Trong đó, hành vi chủ hớng là “những hành vi đóng góp vào nội
dung miêu tả, nội dung mệnh đề đang đợc nói đến trong cuộc thoại, tức là những nội dung thoả mãn các phơng châm về lợng, về chất, về quan hệ trong nguyên tắc cộng tác của Grice là thuộc cấu trúc của tham thoại” [tr.18], còn hành vi phụ thuộc
là hành vi “không tham gia vào nội dung mệnh đề của tham thoại, mà chỉ thực hiện
chức năng tạo lập quan hệ đối thoại, tức là thực hiện chức năng chuẩn bị, duy trì
Trang 12và kiểm tra quá trình đối thoại giữa chủ thể phát và chủ thể nhận nhằm đạt đợc mục đích nhất định do nhân vật giao tiếp đặt ra” [tr.35]
Chúng tôi cho rằng, về tổ chức nội tại, một tham thoại thờng có một hành
động chủ hớng (CH) tức là hành động có hiệu lực ở lời và cũng có thể có thêm mộthoặc một số hành động phụ thuộc (PT) Có thể minh hoạ cấu trúc của tham thoạitheo bảng sau:
(1) CH(2) PT - CH(3) CH - PT(4) PT - CH - PT(5) CH - PT - CH (6) PT - PT - CH
Trên đây là bảng mô hình của tham thoại, bao gồm các thành phần tham giacấu tạo (hành động CH và hành động PT) và một số kiểu tổ chức, sắp xếpchúng Ngoài ra, tuỳ thuộc vào số lợng các hành động PT mà có thêm cáckiểu tổ chức khác
Hành động CH có chức năng trụ cột, quyết định hớng của tham thoại vàquyết định hành động hồi đáp thích hợp của ngời đối thoại Hành động CH có thể t-ờng minh hoặc hàm ẩn Tuy nhiên, dù tờng minh hay hàm ẩn thì lời hồi đáp củaSp2 cũng sẽ hớng tới hành động CH mà không hồi đáp cho hành động PT Đây
cũng là một tiêu chí quan trọng giúp chúng tôi nhận diện hành động rào đón (vốn
thuộc hành động PT trong lời thoại nhân vật)
(5) - Con rất buồn khi hỏi bố điều này nhng bố chiều con, con muốn hiểu
cho đúng điều mà lâu nay con thắc mắc Vì sao bố mẹ bỏ nhau?
- Bố biết ngay mà! Rằng sẽ có lúc con hỏi bố điều đó Thế con đã baogiờ hỏi mẹ chuyện ấy cha?
[XXVI, tr.56]
ở (5), tham thoại dẫn nhập gồm hành động PT + hành động CH, trong đó,
CH là hành động hỏi, PT là hành động bày tỏ ý chí, nguyện vọng, tờng minh hoá
việc ngời nói chân thành muốn nhận đợc những thông tin cần thiết cho câu hỏi củamình Lời hồi đáp của ngời nghe hớng tới câu hỏi của ngời nói, nhng không phải trảlời trực tiếp mà tìm cách né tránh bằng một hành động hỏi lại
(6) Thấy tôi không hào hứng lắm, ông bố bảo:
- Nhà mình mấy đời độc đinh, phải lo vợ cho mày để bố mẹ sớm có cháu bế
Trang 13Tôi lắc đầu:
- Con không lấy vợ đâu Chúng nó cời chết
[XXX, tr.76]
CH trong tham thoại của ngời nói (ông bố) là hành động đề nghị: con lấy vợ
đi nhng gián tiếp bằng hành động bày tỏ ý chí, nguyện vọng Bởi vậy, tham thoại
hồi đáp cho CH là một lời từ chối tơng ứng
Hành động rào đón mà chúng tôi khảo sát trong phạm vi đề tài này thuộc
nhóm hành động phụ thuộc, hiệu lực của nó là để ngừa trớc sự hiểu nhần hay phản
ứng về điều mình sắp nói Điều mình sắp nói chính là hành động chủ hớng của
tham thoại
1.1.2.5 Hành động ngôn từ (speech act): là đơn vị tối thiểu tạo nên tham
thoại (cũng chính là đơn vị nhỏ nhất của “ngữ pháp hội thoại”) Các ứng xử bằnglời (và bằng các yếu tố kèm ngôn ngữ) đều căn cứ vào các hành động ngôn từ đi tr-
ớc, không phải căn cứ vào các đơn vị ngữ pháp thông thờng nh từ và câu
Xét trong quan hệ hội thoại, các hành động ngôn từ có thể chia thành hai
nhóm: nhóm hành động có hiệu lực ở lời và nhóm hành động liên hành động
(interactionnels) Những hành động có hiệu lực ở lời (tức là những hành động cóhiệu lực thay đổi quyền lực và trách nhiệm của ngời hội thoại) là những hành độngxét trong quan hệ giữa các tham thoại của các nhân vật hội thoại với nhau Khi thựchiện một hành động có hiệu lực ở lời thành một tham thoại, ngời nói đã có tráchnhiệm đối với phát ngôn của anh ta và anh ta có quyền đòi hỏi ngời đối thoại phải
hồi đáp bằng một hành động ở lời tơng ứng: hỏi/trả lời, cầu khiến/đáp ứng hoặc từ
chối Những hành động liên hành động nằm trong quan hệ giữa các hành động tạo
nên một tham thoại, chúng có tính chất đơn thoại (không đòi hỏi sự hồi đáp của
ng-ời nghe) trong khi các hành động ở lng-ời có tính chất đối thoại (đòi hỏi sự hồi đáp
t-ơng ứng) Hành động liên hành động có thể có nhiều chức năng khác nhau (dẫn
khởi, tiếp tục, nhắc lại, láy lại, ngắt lời, củng cố, kết thúc, chú thích, đánh giá, giải thích, bổ khuyết, chuyển dạng lời, tóm tắt, nhấn mạnh, điều chỉnh, biện minh, lập luận ) nhng xét đến cùng cũng là để hỗ trợ cho hành động có hiệu lực ở lời của
tham thoại (mở rộng ra là hành động trung tâm của sự kiện lời nói đạt đích giaotiếp)
Tóm lại, trên đây là 5 đơn vị hội thoại trong hoạt động giao tiếp, đợc sắp xếptheo tôn ti từ đơn vị lớn nhất đến đơn vị tối thiểu Đó là cơ sở để chúng tôi thực
hiện việc thống kê hành động rào đón trong các lời thoại nhân vật làm t liệu nghiên
cứu của đề tài
1.1.3 Nguyên tắc hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo những nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc nàykhông chặt chẽ nh những nguyên tắc ngôn ngữ học thuần tuý nhng đòi hỏi nhữngngời tham gia hội thoại phải tôn trọng chúng thì hội thoại mới đạt đích giao tiếp
Trang 14Các nguyên tắc hội thoại thờng gặp là: nguyên tắc thơng lợng; nguyên tắc luân
phiên lợt lời; nguyên tắc liên kết; nguyên tắc lịch sự; nguyên tắc cộng tác Sau
đây, chúng tôi sẽ trình bày hai nguyên tắc hội thoại có liên quan trực tiếp đến đề
tài, đó là nguyên tắc lịch sự và nguyên tắc cộng tác hội thoại.
1.1.3.1 Nguyên tắc lịch sự
P Brown và S Levinson cho rằng, bất cứ một cuộc tơng tác bằng lời nàotrong xã hội cũng chịu sự chế ngự của ba nhân tố sau: a) Khảng cách xã hội (socialdistance); b) Quyền lực quan hệ của ngời nghe và ngời nói (relative power); c) Mức
độ áp đặt của hành vi (ranking of position) Những nhân tố này ảnh hởng không chỉ
đến điều chúng ta nói mà cả đến cách chúng ta đợc lí giải nh thế nào Nghiên cứunhững tác động này đợc các nhà dụng học gọi là phép lịch sự Từ những năm 70
của thế kỉ XX, lịch sự (politeness) đã thực sự trở thành một đối tợng nghiên cứu khoa học – lí thuyết lịch sự (theory of politeness) và đồng thời trở thành mối quan
tâm lớn của ngữ dụng học Những tác giả nổi tiếng nhất trong lĩnh vực này phải kể
đến R Lakoff, P Brown và S Levinson, G N Leech, G Kasper, C.K.Orecchioni Tuy nhiên, hầu hết các nhà khoa học đều khẳng định rằng khó có thể
đa ra một định nghĩa khách quan về lịch sự Sau đây là một số quan niệm về lịch sựcủa một số tác giả tiêu biểu
Căn cứ làm nên khái niệm lịch sự của R Lakoff (1975) là thể diện âm tính (negative face) với những hành động né tránh, không tọc mạch vào đời t, tôn trọng
sự tự do của đối tác, thu hẹp khoảng cách trong quan hệ thân tình Tác giả đã nêu
lên ba loại quy tắc lịch sự: 1 Quy tắc không đợc áp đặt; 2 Quy tắc dành cho ngời
nghe sự lựa chọn; và 3 Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè.
Phép lịch sự của G N Leech (1980) về căn bản dựa trên hai khái niệm: tăngtối đa tổn thất cho mình và tăng lợi ích tối đa cho ngời Quan niệm này rất gần gũivới mã văn hoá ứng xử của ngời Việt Nam, tơng ứng với hai nguyên tắc hội thoại
của tác giả Đỗ Thị Kim Liên: nguyên tắc tôn trọng thể diện ngời nghe và nguyên
tắc khiêm tốn về phía ngời nói [25, tr.222-224] Leech cũng đã chỉ ra ba nhân tố
quyết định mức độ lịch sự của một hành động ở lời, đó là: bản chất của hành động
ở lời, hình thức ngôn ngữ thể hiện hành động ở lời và quan hệ liên cá nhân giữa
ng-ời thực hiện hành động ở lng-ời và ngng-ời đối thoại
Theo C.K Orecchioni (1992): “Chúng tôi chấp nhận rằng phép lịch sự liên
quan tới tất cả các phơng diện của diễn ngôn: 1 Bị chi phối bởi các quy tắc; 2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân; 3 Và chúng có chức năng giữ gìn tính chất hài hoà quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải toả những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho ngời này trở thành càng dễ chịu với ngời kia thì càng tốt)” [dẫn theo Đỗ Hữu Châu, 6, tr.256]
Trang 15P Brown và S Levinson là hai tác giả có nhiều đóng góp quan trọng khi
nghiên cứu về lịch sự với công trình Politeness - Some Universals in Language
Usage (Lịch sự - Một vài phổ niệm trong dụng ngôn) công bố năm 1987 Theo P.
Brown và S Levinson, phép lịch sự trong giao tiếp hội thoại có liên quan đến thể
diện ngời nói và ngời nghe khi giao tiếp Thể diện (face) đợc định nghĩa là “Hình
ảnh cái tôi xã hội (public self-image) mà mỗi thành viên đều muốn đòi hỏi cho mình” [5, tr.256] Cái hình ảnh này có thể bị làm tổn hại cũng có thể đợc giữ gìn
hay đề cao trong tơng tác hội thoại P Brown và S Levinson phân biệt hai loại thể
diện: thể diện tiêu cực (negative face) và thể diện tích cực (positive face) Thể diện
tiêu cực (hay thể diện âm tính) là những đòi hỏi cơ bản về lãnh địa (territories), sự
riêng t cá nhân, quyền không bị quấy phá - tức quyền tự do hành động và tự do từ
chối sự áp đặt Với thể diện tiêu cực, con ngời có nhu cầu độc lập Thể diện tích
cực (hay thể diện dơng tính) là hình ảnh cái tôi hay nhân cách (personality) nhất
quán và tích cực mà các thành viên tơng tác muốn có cho mình (cơ bản bao gồmmong muốn rằng hình ảnh cái tôi này của mình đợc đánh giá và ủng hộ) [5, tr.257]
Phép lịch sự chính là tổng thể những cách thức mà ngời tham gia hội thoạidùng để giữ thể diện cho nhau Đó là một sự đòi hỏi những ngời trong cuộc hộithoại phải tránh những xúc phạm tàn nhẫn đến thể diện ngời đối thoại với mình
cũng nh cố gắng giữ thể diện cho mình, là hệ thống những phơng thức mà ngời nói
đa vào hoạt động nhằm điều hoà và gia tăng giá trị của đối tác của mình [C K.
Orecchioni, dẫn theo 6, tr.280] G Jule (1996) cũng cho rằng, lịch sự là những
ph-ơng cách để tỏ ra chúng ta ý thức đợc thể diện của ngời khác [41, tr.60].
Trong ngôn ngữ, các hành động ngôn từ tự thân đã có tính tác động tới thểdiện tích cực hay thể diện tiêu cực của ngời tham gia hội thoại Cũng theo P Brown
và S Levinson, có hai nhóm hành động ngôn từ:
- Nhóm hành động ngôn từ đe doạ thể diện tích cực hay thể diện tiêu cực của
ngời tham gia hội thoại (Face Threatening Acts, viết tắt là FTA) nh ra lệnh, phê
bình, hỏi, chê bai, từ chối,
- Nhóm hành động ngôn từ tôn vinh thể diện tích cực hay thể diện tiêu cực
của ngời tham gia hội thoại (Face Flattering Acts, viết tắt là FFA) nh cảm ơn, khen
ngợi, tán đồng,
Tơng ứng với hai nhóm hành động ngôn từ trên là phép lịch sự tích cực (phép lịch sự dơng tính) và phép lịch sự tiêu cực (phép lịch sự âm tính) Phép lịch sự tiêu
cực là phép lịch sự hớng vào thể diện tiêu cực (thể diện âm tính) của ngời tiếp nhận.
Nó tránh không dùng các FTA bằng cách thay thế FTA bằng một hành động khác(nh: dùng lối nói gián tiếp, giảm thiểu sự áp đặt ), còn khi buộc phải thực hiệncác FTA thì cần thực hiện bằng cách bù đắp sao cho mức độ tổn hại ở mức thấpnhất (nh: nói giảm, sử dụng các lời nói ớm hay còn gọi là tiền dẫn nhập, rào đón )
Trang 16Phép lịch sự tích cực là phép lịch sự nhằm vào thể diện tích cực (thể diện
d-ơng tính) của ngời tiếp nhận Nó thực hiện những hành động đề cao, tôn vinh thểdiện của ngời nhận (đó là những cách nói nhằm bày tỏ cho ngời nghe thấy sự chú ýcủa ngời nói về ngời nghe; tán dơng, bày tỏ thiện cảm đối với ngời nghe; gia tăng
sự quan tâm đến ngời nghe hay cách sử dụng những dấu hiệu báo hiệu mình cùngnhóm với ngời nghe )
Xuất phát từ quan điểm lịch sự của các tác giả, chúng ta thấy rõ một điều:hội thoại là môi trờng để thực hiện các phép lịch sự bằng các hành động ngôn từ,
trong đó có hành động rào đón.
1.1.3.2 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Theo H P Grice, nguyên tắc cộng tác là: hãy làm cho phần đóng góp của
bạn đúng nh nó đợc đòi hỏi, đúng vào cái giai đoạn mà nó xuất hiện, bởi cái mục
đích hoặc cái phơng hớng đã đợc chấp nhận của lần trao đổi bằng lời mà bạn tham dự Nguyên tắc này gồm bốn phơng châm:
- Phơng châm lợng:
+ Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có chứa thông tin nh nó đợc đòi hỏi(đối với mục đích hiện hữu của lần trao đổi đó)
+ Không làm cho phần đóng góp của bạn có chứa nhiều tin hơn đang đòi hỏi
- Phơng châm chất: cố gắng làm cho phần đóng góp của bạn là chân thực.
+ Không nói điều mà bạn tin là không chân thực
+ Không nói điều mà bạn không chứng minh thoả đáng đợc
- Phơng châm quan hệ: phải là trọng yếu (quan hệ một cách cần thiết với
việc dùng, không chệch ra ngoài đề tài đang nói, hay chỉ nói những gì là “trọngyếu”, “quan yếu”)
- Phơng châm cách thức: phải rõ ràng.
+ Tránh diễn đạt tối nghĩa
+ Tránh mơ hồ
+ Phải ngắn gọn (tránh dài dòng không cần thiết)
+ Phải có thứ tự [dẫn theo G Yule, 41, tr.41]
Bốn phơng châm hội thoại của Grice đợc xem nh một căn cứ để định giámức độ cộng tác của nhân vật tham gia giao tiếp, đánh giá độ liên kết trong cuộcthoại hoặc căn cứ để kết luận cuộc thoại đó thành công hay thất bại, chuẩn mực haykhông chuẩn mực
Trang 17Tuy nhiên, không phải với mọi cuộc thoại, cả bốn phơng châm đó đều đợctuân thủ một cách nghiêm túc Sự phá vỡ một (hoặc hơn một) trong bốn phơngchâm đó đợc coi là cơ sở tạo ra nghĩa hàm ẩn
7) Tâm rút bao ba số Hoàng xin một điếu nhả khói vẻ khoái trá
- Sao hôm mẹ mổ anh không bảo cái Hạnh nó đa tiền?
- Chữ kí của anh không giống em
- Hôm cuối tuần ở trong kia, tự nhiên em thấy bồn chồn lạ
- Bao nhiêu ngời mong em – Hoàng nhỏm thẳng ngời dậy – Rót anh xinchén rợu Cái chai để dới gầm bàn ấy
[VII, tr.83]
Cả hai lợt lời hồi đáp của nhân vật Hoàng có vẻ không ăn nhập, xét theo bềmặt câu chữ, với hai hành vi dẫn nhập của Tâm ở những trờng hợp nh thế này, ng-
ời nghe phải tìm ra một sự tơng hợp thoả đáng giữa lời hồi đáp với vấn đề đang đợc
nói đến Lợt lời Chữ kí của anh không giống em hồi đáp cho câu hỏi Sao hôm mẹ
mổ anh không bảo cái Hạnh nó đa tiền? buộc Tâm phải vận dụng tri thức bách
khoa (điều kiện chuyển – nhận tiền), vận dụng mối quan hệ liên cá nhân giữaTâm, Hoàng và một ngời thứ ba liên quan là Hạnh để giải đáp câu trả lời, nghĩa là
Hoàng không đủ điều kiện để nhận tiền từ Hạnh Lợt lời Bao nhiêu ngời mong em hồi đáp cho lời tâm sự: Hôm cuối tuần ở trong kia, tự nhiên em thấy bồn chồn lạ.
Trong trờng hợp này, tiền giả định về tri thức bách khoa giúp Tâm tìm ra sự tơng
hợp giữa việc bao nhiêu ngời mong em và việc em thấy bồn chồn, vì trong tâm thức
của ngời Việt, máy mắt hay cảm giác bồn chồn thờng xẩy ra khi có ai đó đang nghĩ
đến mình, đang mong ngóng mình Lời hồi đáp của Hoàng, do vậy có hiệu lực nhmột lời giải thích, trấn an Tâm
Việc vi phạm một cách cố ý các phơng châm hội thoại của Grice để tạo ranghĩa hàm ẩn hay nhằm một mục đích nào khác sẽ không đợc ngời nói nói ra hoặc
đa ra các dấu hiệu cho thấy mình vi phạm Do đó, phải gắn phát ngôn với hoàncảnh giao tiếp, với mối quan hệ liên cá nhân diễn ra trong tiền ngôn cảnh giữa ngờinói – ngời nghe mới đoán định đợc sự vi phạm/không vi phạm nguyên tắc cộngtác trên Ngợc lại, khi ngời nói ý thức rõ việc mình sẽ vi phạm phơng châm hộithoại và không có ý định che dấu hành vi đó, tức là không chủ định tạo ra hàm ý,
ngời nói thờng sử dụng các biểu thức rào đón nh một dấu hiệu hình thức thông báo
việc mình vi phạm các phơng châm hội thoại đó Nguyên tắc cộng tác và phơngchâm hội thoại của Grice đúng cho những cuộc hội thoại chân thực, trong đó nhữngngời tham gia giao tiếp muốn làm cho nó đạt hiệu quả một cách tờng minh, trực
Trang 18tiếp Tuy nhiên, nó bị hạn chế ở chỗ chỉ có tác dụng đối với những cuộc thoại màmục đích là truyền báo thông tin miêu tả (những cái có thể đợc đánh giá theo tiêuchuẩn đúng sai logíc) Nó không thể giải thích đợc động cơ vận hành của những cơchế tạo ra nội dung và đích liên cá nhân, những cái không thể đánh giá theo tiêuchuẩn đúng sai logic).
Tóm lại, hội thoại một cách chân thực đòi hỏi ngời tham gia phải tôn trọngnhững quy tắc chung của hội thoại cũng nh những quy tắc riêng của từng cuộcthoại (quy tắc sử dụng các hành động ngôn ngữ) Chúng là những quy tắc có thực,
đã đợc ngời giao tiếp tuân thủ một cách vô điều kiện Nhng đôi khi trong giao tiếp
có những tình huống khiến ngời tham gia giao tiếp có nguy cơ vi phạm vào mộttrong các quy tắc giao tiếp Trong những tình huống nh vậy, họ thờng tìm đếnnhững lời rào đón để chứng tỏ cho đối tác giao tiếp biết rằng họ rất có ý thức tuânthủ những quy tắc giao tiếp đó
1.2 Biểu thức ngữ vi và biểu thức ngữ vi rào đón
1.2.1 Biểu thức ngữ vi
1.2.1.1 Khái niệm
Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn gây hiệu lực ở lời nhất định Phát ngôn ngữ vimang một hiệu lực ở lời nào thì chúng có cấu trúc hình thức ấy, hay còn gọi là cấutrúc đặc trng Chúng ta gọi một kiểu cấu trúc đặc trng ứng với một phát ngôn ngữ
vi là biểu thức ngữ vi Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Phát ngôn ngữ vi có một
kết cấu lõi đặc trng cho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó đợc gọi là biểu thức ngữ vi” [6, tr.91].
Mỗi biểu thức ngữ vi đợc đánh dấu bằng các dấu hiệu chỉ dẫn, nhờ nhữngdấu hiệu này mà các biểu thức ngữ vi phân biệt với nhau Searle gọi các dấu hiệu
này là các phơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (Illocutionary Force Indicating
Devices, viết tắt là IFIDs)
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu [6], đóng vai trò IFIDs có các nhóm sau:
Trang 19b) cấu trúc đặc thù có từ tình thái cuối phát ngôn
c) cấu trúc đặc thù có phụ từ tình thái đi trớc vị từ của phát ngôn
d) cấu trúc đặc thù có từ, tổ hợp từ tình thái đứng đầu phát ngôn
đ) các động từ ngữ vi
Chẳng hạn, để tạo ra biểu thức ngữ vi hỏi, IFIDs có thể đợc sử dụng là: đại từ nghi vấn: Em là ai?; phơng tiện từ vựng kèm theo ngữ điệu hỏi: Em là Trúc?; từ tình thái cuối câu: Em là Trúc à?; các kiểu kết cấu: Em là Trúc hay Lam?; động từ ngữ vi: Tôi hỏi em có phải là Trúc không? Hoặc để tạo ra biểu thức ngữ vi cầu
khiến, IFIDs có thể là các phụ từ: Hãy đứng dậy!; động từ kèm ngữ điệu cầu khiến:
Đứng dậy!; các từ tình thái đứng sau động từ: Đứng dậy đi!; động từ ngữ vi: Tôi yêu cầu em đứng dậy! v.v.
Các phơng tiện tạo ra biểu thức ngữ vi rào đón sẽ đợc chúng tôi trình bàytrong chơng tiếp theo của đề tài
1.2.1.2 Biểu thức ngữ vi nguyên cấp và biểu thức ngữ vi tờng minh
Biểu thức ngữ vi, nh đã nói ở trên, là những biểu thức trực tiếp có hiệu lực ởlời Chúng có thể có động từ ngữ vi hay không có động từ ngữ vi trên bề mặt câuchữ Căn cứ vào sự có mặt và sự vắng mặt của mệnh đề có chứa động từ ngữ vi vàcấu trúc sâu của phát ngôn diễn đạt hành động nói sẽ cho phép phân biệt biểu thứcngữ vi tờng minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp nh là hai kiểu diễn đạt hành độngnói nói chung
Biểu thức ngữ vi tờng minh là các biểu thức có chứa động từ ngữ vi trên bềmặt câu chữ
(8) - Đêm nay là đêm đầu năm của ngời Việt Nam, nhân ngày Tết tôi chúc
anh đánh thằng Pháp chết nhiều hơn năm ngoái
[I, tr.8]
(9) - Anh ớc đợc dắt tay em đi trên chiếc cầu này, đợc xuống vùng vẫy ngay
giữa dòng sông kia và sau đó hai đứa sẽ húp một tô hủ tiếu thật nóng
hiệu lực ở lời là hỏi.
Trang 20(11) - Thôi, không chơi bài nữa, mình với cậu ra đờng lang thang đi.
[VII, tr.209]
Hiệu lực ở lời trong (11) là đề nghị ngời nghe dừng chơi bài và ra đờng đi dạo.
1.2.1.3 Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thờng không phải chỉ có một đích ởlời mà đại bộ phận các phát ngôn đợc xem nh là thực hiện đồng thời một số hành
động Những hành động ngôn từ đợc thực hiện đúng với đích ở lời, đúng với điềukiện sử dụng chúng gọi là hành động ngôn từ trực tiếp Còn hiện tợng ngời giaotiếp sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này nhng lại nhằm hiệu quả của một hành
động ở lời khác đợc gọi là hiện tợng sử dụng hành động ngôn từ gián tiếp
sơng Nh vậy, hành động ngôn từ ở tham thoại dẫn nhập là hành động ngôn từ trực
tiếp còn hành động ngôn từ ở tham thoại hồi đáp là hành động ngôn từ gián tiếp
Hành động rào đón có thể đợc thực hiện trực tiếp, có thể đợc thực hiện gián
tiếp thông qua các hành động ở lời khác theo một ý đồ nhất định của ngời nói vàhiệu quả ở lời của nó phụ thuộc rất nhiều vào khả năng lí giải của ngời nghe
Muốn nhận biết hành động ở lời gián tiếp cần phải:
- Nhận biết hành động ở lời trực tiếp là hành động ở lời nào;
- Căn cứ vào nội dung mệnh đề, cụ thể là căn cứ vào cấu trúc quan hệ ngữnghĩa giữa các thành tố tạo nên nội dung mệnh đề Vì hành động ngôn ngữ giántiếp thờng hớng vào ngời nghe cho nên các thành tố ngữ nghĩa tạo nên nội dungmệnh đề cũng thờng có quan hệ nào đấy, hoặc xa hoặc gần với ngời nghe;
- Căn cứ vào ngữ cảnh, căn cứ vào quan hệ liên cá nhân giữa ngời thực hiệnhành động ở lời gián tiếp với ngời nghe thì mới xác định đúng hiệu lực ở lời giántiếp Tuy nhiên, không phải bất cứ phát ngôn (hành động ở lời trực tiếp) nào cũng
có thể thực hiện hành đồng ở lời gián tiếp nh nhau
1.2.2 Biểu thức ngữ vi rào đón
1.2.2.1 Khái niệm
Rào đón (Hedges) là “nói có tính chất để ngừa trớc sự hiểu nhầm hay phản
ứng về điều mình sắp nói” [34, tr.821]
G Yule: Lời rào đón là phần lu ý cẩn trọng về cách phát ngôn đợc thực hiện
nh thế nào, xét trong quan hệ với các phơng châm hội thoại [42, tr.175].
Trang 21Trong ngôn ngữ, rào đón là một động từ nói năng, chỉ đợc dùng theo chức
năng miêu tả mà không đợc dùng trong chức năng ngữ vi nên biểu thức ngữ vi của
hành vi rào đón là biểu thức ngữ vi nguyên cấp, gọi chung là biểu thức rào đón
(BTRĐ)
Nhìn từ quan điểm của lí thuyết hội thoại (cụ thể là các quy tắc hội thoại) và
lí thuyết về điều kiện sử dụng hành động ở lời, có thể có ba loại biểu thức rào đón:
rào đón phơng châm cộng tác hội thoại, rào đón các quy tắc lịch sự, rào đón các
điều kiện sử dụng hành động ở lời Các biểu thức rào đón không thêm một cái gì
vào giá trị đúng sai của phát ngôn Chúng chỉ có chức năng vạch ra phạm vi, hớngdẫn cách hiểu, cách lí giải phát ngôn, diễn ngôn theo các quy tắc hội thoại, các quytắc lịch sự, theo các điều kiện sử dụng của các hành động ngôn ngữ tạo ra các phát
ngôn đó Qua các biểu thức rào đón, ngời giao tiếp tỏ ra cộng tác với nhau trong
việc tuân thủ các quy tắc hội thoại, các điều kiện sử dụng hành động ngôn ngữ
1.2.2.2 Tiêu chí nhận diện biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Biểu thức rào đón là phần mà ngời nói bổ sung vào lời nói của mình, cùng
với hành vi chủ hớng làm thành một tham thoại Do đó, việc nhận diện biểu thức
rào đón trong lời thoại của nhân vật cũng là một vấn đề cần đợc quan tâm Có thể
dựa vào một số tiêu chí sau để nhận diện biểu thức rào đón:
a Tiêu chí hình thức
- Dựa vào các phơng tiện chỉ dẫn Theo các nhà ngữ dụng học, mỗi biểu thứcngữ vi có những dấu hiệu chỉ dẫn giúp nhận diện hiệu lực ở lời của chúng Biểu
thức rào đón cũng đợc đặc trng bởi một số phơng tiện chỉ dẫn nhất định.
- Dựa vào vị trí xuất hiện trong lời thoại nhân vật Bên cạnh các phơng tiện
chỉ dẫn, biểu thức rào đón còn đợc đặc trng bởi vị trí xuất hiện của nó trong lời
thoại nhân vật
b Tiêu chí nội dung
Biểu thức rào đón tuy không đòi hỏi lời hồi đáp trực tiếp nhng vẫn mang nội
dung ngữ nghĩa, đó là các nội dung hớng đến chức năng rào đón
Các tiêu chí nhận diện biểu thức rào đón này cũng chính là đối tợng khảo sát
của đề tài, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu chúng ở chơng 2 của luận văn
c Tiêu chí ý định của ngời nói và lời hồi đáp của ngời nghe
Hành động rào đón đợc thực hiện để gia tăng hiệu lực ở lời cho hành động
chủ hớng, nó có quan hệ trực tiếp với hành động chủ hớng, là tiền đề hỗ trợ cho sựxuất hiện hành động chủ hớng theo một ý định nhất định của ngời nói Nói cách
Trang 22khác, bất cứ một lợt lời nào đợc nói ra đều nằm trong ý định của ngời nói, từ việclựa chọn nội dung đến cách thức thể hiện, bao gồm cả việc sử dụng hay không sử
dụng biểu thức rào đón
Hành động rào đón phần lớn đợc ngời nghe nhận biết và ngầm chấp nhận.
Thái độ đó của ngời nghe biểu hiện qua tham thoại hồi đáp, tức là ngời nghe sẽ hồi
đáp cho hành động chủ hớng mà không hồi đáp cho hành động rào đón
(13) - Cháu hỏi khí không phải, bà T là thế nào?
- T là t, một hai ba bốn chứ t gì nữa, năm à? Năm, sáu, bảy đến mời mơingời ta cũng không thiếu
[X, tr.50]
CH trong tham thoại của ngời nói là hành động hỏi Tham thoại hồi đáp cho thấy ngời nghe đã nhận ra hành động CH và cả hành động rào đón trong tham thoại
dẫn nhập
(14) - Anh Keng này, anh làm tính giỏi thế, anh giúp tôi một tí với – Một đêm
sau khi tan học, chị cả Lạt trùng trình đợi Keng ở một chỗ vắng, giữ anh lại và nói
- Ngữ tôi thì giúp thế nào đơc chị!
[XXIX, t1, tr.223]
Lợt lời của chị cả Lạt có chứa hành động khen ngợi (anh làm tính giỏi thế) và hành động nhờ vả (anh giúp tôi một tí với) nhng lợt lời của anh Keng chỉ hồi đáp cho hành động nhờ vả, do đó, có thể xem lời khen của chị cả Lạt là một biểu thức
rào đón nh cách mà ngời ta vẫn thờng làm để vuốt ve, đề cao thể diện ai đó trớc khi
có ý định nhờ vả họ làm điều gì giúp mình
Không ít trờng hợp, nếu tách khỏi tham thoại hồi đáp thì rất khó để xác định
đâu là biểu thức rào đón, đâu là nội dung ngời nói muốn thông báo, thậm chí có
những lợt lời mà toàn bộ nội dung của nó đều bị ngời nghe hiểu thành lời rào đón
Trang 23thành lời rào đón Quay lại với ví dụ (4), nếu tách lợt lời thứ nhất và thứ hai của
ng-ời nói ra khỏi ngữ cảnh và sự hồi đáp của ngng-ời nghe thì những nội dung trong hai
l-ợt lời đó sẽ khiến ngời ta hiểu nhầm thành những lời bày tỏ biết ơn của ngời nói
chứ không còn là những biểu thức rào đón.
1.2.2.3 Điều kiện sử dụng hành động rào đón
a Điều kiện sử dụng hành động ở lời của J.R Searle
Theo J.R Searle, điều kiện sử dụng hành động ở lời gồm có 4 điều kiện:
Nội dung mệnh đề: chỉ ra bản chất nội dung của hành động Nội dung mệnh
đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một hàm mệnh đề, có thể là một hành độngcủa ngời nói (nh hứa hẹn) hay một hành động của ngời nghe (nh ra lệnh, yêu cầu )
Điều kiện chuẩn bị: gồm những hiểu biết của ngời phát ngôn về năng lực, lợi
ích, ý định của ngời nghe và về các quan hệ giữa ngời nói và ngời nghe
Điều kiện chân thành: chỉ ra các trạng thái tâm lí tơng ứng của ngời phát
ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của ngời nghe và về các quan hệ giữa ngời nói vàngời nghe, nh xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòihỏi ý định ngời nói.X
Điều kiện căn bản: là điều kiện đa ra trách nhiệm mà ngời nói hoặc ngời
nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời đó phát ra Trách nhiệm có thể rơi vào hành
động sẽ đợc thực hiện (ra lệnh, hứa hẹn ) hoặc đối với tính chân thực của nội dung(một lời xác tín buộc ngời nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều đợcnói ra)
Mỗi hành động ở lời đòi hỏi phải có một hệ những điều kiện (còn gọi là quytắc) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó Mỗi điều kiện làmột điều kiện cần, còn toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ Mỗi điều kiện lại đ ợcbiểu hiện khác nhau tuỳ từng phạm trù, từng loại và từng hành động ở lời cụ thể
b Điều kiện sử dụng hành động rào đón
Dựa trên các điều kiện sử dụng hành động ở lời của J.R Searle, chúng tôi chỉ
ra điều kiện sử dụng hành động rào đón nh sau:
a) Nội dung mệnh đề: Ngời nói đa ra nội dung có tính chất ngăn ngừa trớc sự
hiểu lầm hay phản ứng về điều mình sắp nói mà điều sắp nói đó thuộc hành động
chủ hớng còn rào đón thuộc hành động phụ thuộc.
b) Điều kiện chuẩn bị: Ngời nói cho rằng mình sắp có những hành động
hoặc sắp nói ra một điều gì đó, mà theo ngời nói, sẽ tác động đến thể diện của ngờinghe, gây thất thiệt hoặc tổn thơng tình cảm đối với ngời nghe
c) Điều kiện chân thành: Ngời nói mong muốn giảm thiểu ít nhiều tính đe
doạ thể diện trong các phát ngôn của mình, mong muốn ngời nghe tha thứ và chấpnhận điều mình sắp nói
Trang 24d) Điều kiện căn bản: Ngời nghe có thời gian ổn định tâm lý để đón nhận
điều ngời nói muốn thông báo, tránh đợc những yếu tố bất ngờ và những phản ứngngoài mong muốn
1.2.2.4 Hành động rào đón và lối nói vòng
Trong thực tế đời sống giao tiếp cộng đồng, con ngời chủ yếu dùng hai cáchnói: cách nói trực tiếp (tức lối nói thẳng) và cách nói gián tiếp (tức lối nói vòng) màngời Việt vẫn quen gọi là lối nói vòng
Lối nói vòng là cách thức thể hiện những ý định nói bằng những điều khác
thông qua sự chủ động dẫn dắt của ngời nói nhằm mục đích chính là điều này [21,
tr.30] Có ba tham tố quan yếu tạo nên lối nói vòng: điều khác - dẫn dắt - điều này.
(16) Can bật đứng dậy, bẻ ngón tay răng rắc rồi ấp úng:
- ả Ngò cho tôi hỏi một chuyện
Chị Ngò dừng tay ngớc nhìn Anh Can nói nhanh:
- Để tôi đóng cho ả cái giờng mộc thật to, thật chắc, ả có ng không?
Chị Ngò ngớ ra, mặt đỏ chín, rồi đỏng đảnh đáp:
- Thôi chả, tôi ở vậy nuôi con ở với anh thì đợc gì kia chứ
Anh Can nói vội vàng, giọng tin tởng:
- Tôi chữa nhà, tôi đan lới cho, tôi lại biết dỗ thằng Cò, rồi tôi làm cho hắn
nhiều đồ chơi, nhiều nhiều kia! [dẫn theo ví dụ của Nguyễn Đăng Khánh, 21, tr.29]
Các tham thoại in nghiêng là những lời tỏ tình vừa mạnh bạo, vừa kiên quyết,
vừa kín đáo tế nhị của anh Can đối với chị Ngò Tham thoại: ả Ngò cho tôi hỏi một
chuyện là lời gợi chuyện, mục đích để thăm dò đối tợng giao tiếp, tìm sự cộng tác
hội thoại, tạo bối cảnh cho cuộc thoại sắp diễn ra Tiếp đó, tham thoại: Để tôi đóng
cho ả cái giờng mộc thật to, thật chắc, ả có ng không? và hành động từ chối trong
tham thoại hồi đáp của chị Ngò (Thôi chả, tôi ở vậy nuôi con ở với anh thì đợc gì
kia chứ.) cho thấy chị Ngò đã hiểu đợc hành động ngỏ lời lần thứ nhất, tức là hiệu
lực gián tiếp ở tham thoại của anh Can: nói chuyện đóng giờng nhng kì thực là
chuyện kết lứa xe duyên Tuy ý đồ của anh Can bị phát hiện nhng anh Can vẫnkhông thay đổi chiến thuật mà lại càng quyết liệt hơn, kiên quyết hơn để đạt mục
đích thông qua những việc cụ thể có khả năng tác động đến tâm lí, niềm tin của đối
tợng, bởi đối tợng là một phụ nữ từng trải qua cuộc sống gia đình riêng: Tôi chữa
nhà, tôi đan lới cho, tôi lại biết dỗ thằng Cò, rồi tôi làm cho hắn nhiều đồ chơi, nhiều nhiều kia! Những chuyện đóng giờng, chữa nhà, đan lới, dỗ thằng Cò, làm
đồ chơi trẻ em thực ra chỉ là lớp sự kiện bề mặt là điều khác, còn mục đích chính
định nói là điều này (ả lấy tôi đi) thì nằm ở tầng sâu ngữ nghĩa của lời, chìm khuất
phía sau lời Sở dĩ ngời nghe hiểu và nhận diện đợc ý định của ngời nói là nhờ ngôn
Trang 25cảnh, nhờ sự xác lập mối quan hệ liên cá nhân giữa các chủ thể giao tiếp và sự chủ
động dẫn dắt, sắp xếp thông tin, sự kiện trong mỗi tham thoại
Hành động rào đón là một kiểu trong những biểu hiện của lối nói vòng, nghĩa là không nói thẳng trực tiếp vào vấn đề Tuy nhiên, giữa hành động rào đón
và lối nói vòng cũng có những điểm khác biệt cơ bản Nói vòng là cách nói gián
tiếp, nói điều khác nhng lại nhằm vào điều này Do đó, để thực hiện thành công
một hành động nói gián tiếp, có khi những ngời tham gia hội thoại phải trải qua
nhiều lợt lời mới có thể đạt đích giao tiếp và ngời nghe muốn hiểu thì buộc phải qua hành động suy ý Hành động rào đón là trớc khi chính thức thực hiện một hành
động ngôn từ nào đó, ngời nói cũng thực hiện việc sắp xếp thông tin, sự kiện trongmỗi tham thoại nhng là sắp xếp các thông tin, sự kiện để dẫn dắt ngời nghe đến vớicác hành động trung tâm của sự kiện nói ngay sau đó chứ không nhất thiết phải qua
điều này để nói điều khác Hơn nữa, hành động rào đón có biểu hiện hình thức và
nội dung có tính quy ớc, mang bản sắc dân tộc, vùng miền, đợc chấp nhận nh mộtcông thức khi giao tiếp, còn lối nói vòng phần lớn phụ thuộc vào ý định ngời nói,mang tính chủ quan cá nhân của ngời nói
Tóm lại, mặc dù cả lối nói vòng và hành động rào đón đều hớng tới mục
đích là tránh cách nói thẳng, trực diện, nhng giữa chúng vẫn có những điểm khácbiệt cơ bản rất dễ nhận thấy
1.3 Tiểu kết chơng 1
Phần này, chúng tôi đã trình bày một số giới thuyết liên quan đến đề tài baogồm: a) hội thoại và các nguyên tắc hội thoại, trong đó nhấn mạnh hai nguyên tắc
hội thoại có liên quan trực tiếp đến phạm vi nghiên quan tâm của đề tài là nguyên
tắc lịch sự và nguyên tắc cộng tác hội thoại
Và b) biểu thức ngữ vi và biểu thức ngữ vi rào đón ở mục này, chúng tôi trình bày cụ thể về khái niệm rào đón, biểu thức ngữ vi rào đón, các điều kiện sử dụng hành động rào đón và làm rõ một khái niệm khác gần với khái niệm rào đón
là lối nói vòng.
Đó là những cơ sở lí thuyết để chúng tôi đi vào phân tích, mô tả hành động
rào đón ở chơng 2.
Chơng 2
cấu trúc và ngữ nghĩa của biểu thức rào đón
trong lời thoại nhân vật
2.1 Các nhân tố chi phối hành động rào đón
Trang 26Hành động rào đón cũng nh bất cứ hành động ở lời nào khác đợc thực hiện
trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa hai hay nhiều nhân vật Chi phối đến
hành động rào đón là các nhân tố sau.
2.1.1 Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp
Giữa những ngời tham gia giao tiếp có quan hệ liên cá nhân Quan hệ liên cánhân là quan hệ xét trong tơng quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vậtgiao tiếp với nhau và đợc xét trên hai trục: trục dọc, tức trục vị thế xã hội (còn gọi
là trục quyền lực do các yếu tố nh vị trí xã hội, tuổi tác, học lực, tài sản khácnhau quyết định) và trục ngang, tức trục thân cận (trục này đợc đặc trng bởi haicực: thân tình và xa lạ) Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nộidung và hình thức của diễn ngôn, trong đó có việc sử dụng hay không sử dụng hành
động rào đón Sự chi phối của yếu tố quan hệ liên cá nhân đến việc sử dụng hành
động rào đón ở lời thoại nhân vật thể hiện qua bảng số liệu sau, sự phân biệt hai
đối cực chỉ đợc xét trong tơng quan giữa các nhân vật tham gia giao tiếp với nhautrong một cuộc thoại
Tuổi tác Vị thế xã hội
Thân tình Xa lạ Già Trẻ Cao Thấp
423 (61%) 271 (39%) 187 (27%) 507 (73%) 236 (34%) 458 (66%)
694(100%) 694(100%) 694(100%)
Bảng 2.1: Tỉ lệ biểu hiện sự chi phối của yếu tố liên cá nhân đối với hành vi rào đón ở lời thoại nhân vật
Nhìn vào bảng số liệu, chúng tôi có những nhận xét bớc đầu nh sau:
- ở quan hệ dọc, xét ở phơng diện tuổi tác thì những ngời có tuổi sử dụng
hành động rào đón nhiều hơn so với giới trẻ Có đến 423/694 lời thoại chứa biểu thức rào đón thuộc về những ngời có tuổi đời cao hơn ngời cùng đối thoại với
mình, chiếm tỉ lệ 61% Điều này có thể giải thích nh sau: những ngời có tuổi lànhững ngời từng trải, có kinh nghiệm (trong đó bao gồm cả kinh nghiệm giao tiếp,ứng xử) Nói nh thế nào để vừa đạt hiệu quả giao tiếp nh mong muốn mà khônglàm ngời nghe bị mất thể diện hay cảm thấy khó chịu và đồng ý hợp tác với mìnhvừa phụ thuộc vào năng lực của ngời nói nhng cũng đồng thời phụ thuộc vào kinhnghiêm giao tiếp của họ, và nếu nói về kinh nghiệm giao tiếp nói riêng thì ngời caotuổi có vị thế giao tiếp mạnh hơn ngời ít tuổi
Trang 27- Cũng ở quan hệ dọc, xét ở phơng diện vị thế xã hội (tức là địa vị, quyềnlực ), thì những ngời có vị trí thấp (địa vị thấp, không có hoặc có ít quyền lực )
thờng sử dụng hành động rào đón nhiều hơn những ngời có địa vị cao, có uy thế
mạnh Những ngời có quyền lực thờng quen với cách nói thẳng, nói trực tiếp, nói ralệnh và hiệu lực ở lời của họ thờng chỉ có một chiều (chiều tiếp nhận), do đó, chỉ có
187/694 lời thoại chứa biểu thức rào đón là thuộc về lớp ngời này Ngợc lại, những
ngời có vị thế thấp thờng tỏ ra e dè, thiếu tự tin cả trong giao tiếp ngôn ngữ, vì thế
mà họ thờng tránh nhng cách nói có nguy cơ đe doạ thể diện ngời đối thoại, tránh
cách nói trực tiếp tuyệt đối, tăng cờng sử dụng lối nói gián tiếp, vòng vo, rào đón.
Số lợng lời thoại chứa biểu thức rào đón của những ngời có vị thế xã hội thấp hơn
ngời đối thoại với mình là 507/694 (chiếm tỉ lệ 73%)
- ở quan hệ ngang (quan hệ thân - sơ), hành động rào đón đợc những ngời
xa lạ (hoặc lần đầu tiên tiếp xúc, hoặc chỉ mới tiếp xúc vài lần) sử dụng nhiều hơnnhững ngời có quan hệ thân thiết (bạn bè lâu năm, tình nhân, những ngời trong gia
đình ), và chiếm một tỉ lệ đáng kể là 66% (458/694 lời thoại) Các nhân vật lần
đầu tiên giao tiếp với nhau sẽ phải mất một thời gian mới có thể hiểu về nhau, vàkhi cha hiểu nhau sẽ dễ dẫn tới những hiểu nhầm hoặc hiểu sai lời của ngời nói Vì
thế, họ thờng sử dụng hành động rào đón vốn là hành động có khả năng ngăn ngừa
trớc sự hiểu nhầm hay phản ứng về điều sắp nói
Để thấy đợc sự chi phối của quan hệ liên cá nhân đến việc sử dụng biểu thức
rào đón, có thể xem xét ví dụ sau:
(17) Ông lễ độ hỏi xin một chén trà thật nóng rồi im lặng, ánh mắt nhìn mờtịt nh chìm vào cõi mông lung không định hớng Lát sau ông mới ngẩng lên, hỏi cáicâu hỏi nh đã định hỏi từ lâu, rất lâu:
- Hỏi chị bỏ quá Tôi nghe nói hình nh lâu nay có một đôi vợ chồng trẻ
cùng đứa con đang lẩn quất sinh sống ở đây?
Chị hàng nớc ngớc nhìn sâu vào khuôn mặt ông cụ, cha trả lời vội Bằng cảhai tay, chị đa cho ông chén trà mới pha rồi chờ ông nhấp đợc vài ba ngụm, chị mớikhẽ khàng hỏi lại:
- Cháu hỏi khí không phải: Cụ là thế nào với vợ chồng cậu ấy?
- Tôi là cha nó – Tiếng trả lời rút ra từ ruột
- Tha cụ, cụ đã có lời hỏi thì cháu cũng xin đợc mạn phép nói thật Cụ c xử
với cậu ấy nghiêm quá Đã mấy ai, nhất là cái thời buổi này lại biết cách sống, biếtthơng vợ, thơng con nh cậu ấy Không nhà, không cửa, không công ăn việc làm vậy
mà cậu ấy vẫn nuôi đủ bốn miệng ăn một cách lơng thiện Cô ấy cũng thế, hết lòngthơng yêu chồng con Càng khổ họ lại càng thơng nhau, đó là cái chính mà khôngphải gia đình nào vào lúc này cũng làm đợc
[XXI, tr.215 - 216]
Trang 28Trên đây là đoạn thoại giữa ngời khách và chị hàng nớc Hai ngời lần đầutiên gặp nhau, khách lại là một ông cụ, vào quán uống nớc nhng mục đích là để hỏi
thăm tin tức đứa con trai của mình Các biểu thức rào đón đợc sử dụng cho cả lời
thoại của ngời khách và chị hàng nớc cho thấy sự chi phối tuổi tác, quan hệ thân sơ
đến việc sử dụng hay không sử dụng biểu thức rào đón trong khi nói năng.
2.1.2 Tính cách, năng lực và thói quen sử dụng ngôn ngữ của nhân vật giao tiếp
Ngôn ngữ mang tính xã hội nhng đồng thời cũng mang tính cá nhân Mỗi cánhân trong quá trình trởng thành, qua tiếp xúc với môi trờng ăn nói của xã hội baogiờ cũng hấp thụ một vốn liếng ngôn ngữ nhất định, từ đó tạo nên một năng lựcngôn ngữ Mỗi cá nhân có quyền cá thể hoá vốn ngôn ngữ đó, có thể có những sángtạo, đổi mới nhất định trong việc sử dụng ngôn ngữ (dĩ nhiên là trong phạm vi chophép, đợc xã hội chấp nhận)
Trong thực tế đời sống giao tiếp cộng đồng, con ngời chủ yếu dùng hai cáchnói: cách nói trực tiếp (tức lối nói thẳng) và cách nói gián tiếp (tức lối nói vòng).Những ngời tham gia giao tiếp có thể căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp, mục đíchgiao tiếp, đối tợng giao tiếp mà lựa chọn cho mình cách nói sao cho đạt hiệu quảgiao tiếp cao nhất Bên cạnh đó, không thể phủ nhận yếu tố năng lực, thói quenngôn ngữ và tính cách của các nhân vật Thờng những ngời có tính cách thẳn thắn,nóng nảy, bộc trực thì hay nói thẳng, đi trực tiếp vào vấn đề Ngợc lại, những ngờithuần tính, tinh tế thì lại chọn cho mình cách nói vòng vo, rào trớc đón sau
2.1.3 Giới tính của các nhân vật giao tiếp
Từ điển tiếng Việt định nghĩa giới tính là “Đặc điểm cấu tạo tâm lí làm cho
có chỗ khác nhau giữa nam và nữ, giữa giống đực và giống cái”[34, tr.405]
Giới tính (Sex) là thuật ngữ chỉ sự khác biệt về mặt thể chất (tức sinh lí học)
giữa nam giới và nữ giới Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sảnxuất giống nòi và do các yếu tố di truyền tự nhiên (sinh học) quy định
Bên cạnh khái niệm giới tính còn có khái niệm giới (gender) dùng để chỉ mối
quan hệ xã hội, mối tơng quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã
hội cụ thể Khi nói đến giới là nói đến điều kiện và yếu tố xã hội quy định, vai trò
và hành vi xã hội của mỗi giới không phải là bất biến mà thay đổi khi các điều kiệnquy định về chúng thay đổi
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, cùng với các công trình nghiên cứu về giới thì mối quan hệ giữa giới và ngôn ngữ đã thu hút đợc sự chú ý của nhiều nhà ngôn
ngữ học xã hội Trong đó đặc biệt phải kể đến tác giả Nguyễn Văn Khang với công
trình Ngôn ngữ học xã hội – những vấn đề cơ bản (1999) Theo tác giả, mối quan
hệ giữa giới tính và ngôn ngữ không chỉ đợc xem xét trong nội bộ ngôn ngữ ở các
Trang 29bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, mà phải nhìn theo cách tiếp cận của ngôn ngữhọc xã hội, liên quan đến nhiều vấn đề nh: sinh học, địa vị, vai trò gia đình, Sở dĩ
có sự khác nhau của ngôn ngữ mỗi giới là do:
- Cấu tạo cơ thể ngời nh vị trí của phần “chứa” ngôn ngữ trong não cũng nh
đặc điểm về sinh lí cấu âm
- Mỗi giới có một lớp từ ngữ riêng chỉ dùng cho giới này mà không dùng chogiới kia
- Cách sử dụng ngôn ngữ của mỗi giới
Nh vậy, sự tồn tại yếu tố giới tính trong ngôn ngữ là có thực Nó tồn tại haichiều: chiều tác động của giới tính đến sự lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp vàchiều thông qua giao tiếp, yếu tố giới tính đợc bộc lộ
Khảo sát 694 ngữ liệu chứa biểu thức rào đón, chúng tôi nhận thấy có 458
tham thoại trong số đó thuộc về vai nữ, chiếm 66% R Lakoff khi nghiên cứuphong cách ngôn ngữ nữ giới đã khẳng định rằng: chính vị trí không có quyền lựccủa nữ giới đã ảnh hởng đến phong cách của họ (nói năng nhẹ nhàng, tế nhị và cóphần thiếu tự tin) Bên cạnh đó, ngời phụ nữ với thiên chức của mình là nuôi dạycon trong đó có dạy con “học ăn học nói”, đã tạo cho họ thói quen sử dụng ngôn
ngữ chuẩn mực và lịch sự, trong đó có thói quen sử dụng hành động rào đón.
2.1.4 Tính chất của hành động chủ hớng
Hành động rào đón đợc thực hiện trớc khi ngời nói cần thực hiện một hành
động nào đó gây hiệu lực trực tiếp cho ngời nghe (tức hành động chủ hớng), nh:
hỏi, trần thuật, cầu khiến, chê bai, khuyên bảo, từ chối, Dĩ nhiên, không phải bất
cứ hành động chủ hớng nào cũng cần đến hành động rào đón, chẳng hạn: chào hỏi,
ra lệnh, chửi mắng, đe doạ
Đối với những hành động chủ hớng cần đến sự có mặt của hành động rào
đón thì cách thức và mức độ rào đón của chúng cũng không hoàn toàn giống nhau.
Chẳng hạn, hành động hỏi trong hai ví dụ sau:
(18) - Xin lỗi anh, chị Nhã có nhà không ạ?
- Cô ấy ở trong nhà, mời anh
[VII, tr.163]
(19) - Con rất buồn khi hỏi bố điều này nhng bố chiều con, con muốn hiểu cho
đúng điều mà lâu nay con thắc mắc Vì sao bố mẹ bỏ nhau?
- Bố biết ngay mà! rằng sẽ có lúc con hỏi bố điều đó Thế con đã bao giờhỏi mẹ chuyện ấy cha?
[XXVI, tr.212]
Trang 30Hành động hỏi là một trong số những hành động mà khi thực hiện nó, ngời nói thờng có ý thức thực hiện một hành động rào đón trớc Tuy nhiên, biểu thức
rào đón tơng ứng với hai hành động hỏi trong hai ví dụ (18), (19) là hoàn toàn khác
nhau cả về tính chất, cách thức, mức độ rào đón ở (18) là một hành động hỏi thăm thông thờng, do đó, trong những trờng hợp này, phần lớn ngời nói chỉ cần rào đón theo nguyên tắc lịch sự bằng một lời xin lỗi đơn giản Trong khi đó, hành động hỏi
ở (19) lại là một câu hỏi liên quan đến những bí mật riêng t, đe doạ nghiêm trọng
thể diện của ngời nghe Nếu áp dụng biểu thức rào đón ở ví dụ (18) cho những câu
hỏi nh vậy sẽ dễ dẫn ngời nghe đến những hiểu nhầm, những phản ứng tiêu cực Vì
thế, ngời nói trong ví dụ (19) đã tạo ra một biểu thức rào đón tơng đối phức tạp, tác
động trực tiếp đến tâm lí ngời nghe trớc khi thực hiện hành động hỏi.
2.2 Cấu trúc biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
2.2.1 Vị trí xuất hiện của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Xét về vị trí xuất hiện trong tham thoại, phần lớn các biểu thức chứa hành
động rào đón đợc tách thành một bộ phận độc lập, xuất hiện trớc biểu thức chứa hành động chủ hớng (HĐCH), cũng chính là “điều mình sắp nói” và sau một số hành động phụ thuộc khác nh hô gọi, dẫn khởi, tiếp nhận, Nhng cũng có trờng hợp hành động rào đón (HĐRĐ) xuất hiện sau hành động chủ hớng hoặc trở thành
một bộ phận nằm trong biểu thức chứa hành động chủ hớng Nh vậy, tham thoại
chứa biểu thức rào đón có thể có mô hình sau:
Mô hình 1 HĐRĐ - HĐCH
Ngời nói nói ra một nội dung có tính chất rào đón sau đó nói thẳng vào nộidung chính Cả hai nội dung này từ đầu đã nằm trong ý định của ngời nói Theo môhình này có 637/694 lời thoại của nhân vật, chiếm số lợng nhiều nhất Ví dụ:
(20) - Nói em đừng cời, gần ba mơi năm anh đã đi tìm em Hôm nay gặp đợc
rồi, không bao giờ anh để mất em nữa Đúng ra, chính anh lại lo không giữ nổiem
[XVIII, tr.47]
(21) - Tha ông, cháu hỏi khí không phải, ông muốn nhà cháu hỏi tội một
thằng à, một ngời nào đó phải không ạ?
[XXVIII, tr.211]Mô hình 2 HĐCH – HĐRĐ
Ngợc lại với mô hình thứ nhất, ở mô hình thứ hai này, ngời nói sau khi nói ra
một nội dung nào đó rồi mới thực hiện đến hành động rào đón, có 7/694 lời thoại
theo mô hình này
Trang 31(22) - Làm đâu thì làm, kệ cô, nhng cẩn thận kẻo không lại bị chính cái vẻ
thơm phức ấy nó dìm đầu xuống bùn đấy Hơn cô trên một giáp, lại là chiến hữu
của anh chị cô, tôi xin khuyên thật
[XXI, tr.118](23) - Bà chị sắp về rồi, anh cũng chuẩn bị o lột xác đi, kẻo không ngay lần
đầu gặp nhau đã chẳng còn tìm thấy nhau nữa Anh nhớ là chị ấy sắp từ một đất ớc
t bản trở về chứ không phải nh trớc kia, xách ba lô từ trong rừng ra Là đàn bà, em
bảo thật đấy
[XXI, tr.213]Mô hình 3 HĐCH – HĐRĐ - HĐCH
ở mô hình 3, ngời nói trong khi đang nói ra một nội dung nào đó thì dừng lại
để rào đón rồi mới tiếp tục nói hết điều cần nói, chiếm 46/694 lời thoại Hành động
rào đón thuộc mô hình này có thể không nằm trong ý định của ngời nói ngay từ
đầu mà xuất hiện một cách bất thờng do trong quá trình phát ngôn, ngời nói mớinhận ra nội dung mà mình đang nói nguy cơ đe doạ thể diện ngời nghe Ví dụ:
(24) - Chị Thuỷ và chị Lan này, thật là xấu hổ, ngày nhỏ ở làng, nói vô
phép, nghe những ngời đàn ông họ chế nhạo các bà phụ nữ rất ác, rằng đàn bà đẻ
dữ nh chó dữ, tôi chẳng hiểu gì cả Đến bây giờ vào đây mới hiểu Chao ôi, vừa lúcnày, đau quá tôi cũng phải kêu trời kêu đất, rồi cứ ôm chặt chị Khơi, cắn cả vào vaichị ấy
[III, tr.322]
(25) - Nh đồng chí xin lỗi, tại sao phải nằm bệnh viện?
[I, tr.43]Mô hình 4 HĐRĐ - HĐCH – HĐRĐ
Mô hình 4 cho thấy ngời nói không chỉ rào đón trớc khi bớc vào nội dungchính thức mà còn rào đón sau khi kết thúc nội dung đó Tuy nhiên, chỉ có 4/694lời thoại nhân vật theo mô hình này
(26) - Anh Nam, - Cô khách nhìn thẳng vào mắt anh, nói khó nhọc nh không
định nói nhng không thể không nói – Ngời ta thờng bảo từ bé em đã có khả năng
bẩm sinh đặc biệt về cảm nhận trực giác, không hiểu có đúng không nhng Em xin
lỗi đợc nói thật, tâm hồn chị nhà mỏng manh lắm, chị ấy sẽ không chịu nổi tiết tấu
cuộc sống hiện đại ở bên Tây đâu Nói thế nào nhỉ? Có lẽ chị ấy là ngời của thôndã, của nhịp sống gia đình tĩnh lặng; nếu có thể đợc thì anh nên sắp xếp cho chị ấy
về, càng nhanh càng tốt Nếu gọi là cách bày tỏ lòng biết ơn thì em chỉ có thể bày
tỏ bằng cách khuyên anh một câu mạo muội nh thế, xin anh đừng chấp.
Trang 32[XXI, tr.165]
Nh vậy, vị trí xuất hiện của biểu thức rào đón trong mỗi tham thoại đã cho
thấy tính chất hợp lí của việc sắp xếp các hành động ngôn từ trong lời thoại nhân
vật, tạo điều kiện cho biểu thức rào đón phát huy tối đa hiệu lực của nó đối với
hành động chủ hớng và đối với ngời tiếp nhận
2.2.2 Các kiểu cấu trúc biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Trong ngôn ngữ, rào đón là một động từ nói năng chỉ đợc dùng theo chức
năng miêu tả mà không đợc dùng trong chức năng ngữ vi nên biểu thức ngữ vi của
hành vi rào đón là biểu thức ngữ vi nguyên cấp, gọi chung là biểu thức rào đón Biểu thức rào đón có thể đợc cấu trúc chỉ bằng một từ, một cụm từ và có thể là một
kết cấu C-V (tức một phát ngôn hoàn chỉnh) hoặc có thể phối hợp đồng thời một số
kiểu cấu trúc để tạo nên các biểu thức rào đón tổng hợp Tỉ lệ các kiểu cấu trúc biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật đợc trình bày trong bảng số liệu dới đây.
TT Các kiểu cấu trúc biểu thức rào đón Số lợng Tỉ lệ
3 Do kết cấu C-V 361 52%
4 Phối hợp đồng thời một số dạng 33 5%
Bảng 2.2 Tỉ lệ các kiểu cấu trúc biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Sau đây chúng tôi đi vào miêu tả chi tiết các kiểu cấu trúc biểu thức rào đón
xuất hiện trong lời thoại nhân vật
2.2.2.1 Biểu thức rào đón do các động từ ngữ vi đảm nhận
Tiếng Việt có một bộ phận động từ ngữ vi dùng để cấu tạo biểu thức rào
đón, đó là các động từ: làm ơn, làm phúc, phiền, làm phiền, cảm phiền, xin lỗi
Kết quả thống kê cho thấy có 96/694 biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật là
do các động từ ngữ vi này đảm nhận (chiếm (tỉ lệ 14%)
Khi ngời nói ý thức đợc điều mình sắp nói ra có nguy cơ đe doạ thể diện
ng-ời nghe, ngng-ời nói có thể thêm vào lợt lng-ời một trong các động từ trên Các động từ đó
sẽ đợc hiểu là những biểu thức rào đón Hiệu lực của các động từ rào đón này là đề
cao, tôn trọng thể diện ngời nghe, tăng tính lịch sự, làm giảm nhẹ hiệu lực của cácFTA Do đó, các từ này chủ yếu hớng tới rào đón phơng châm lịch sự
Chẳng hạn, khi hỏi thăm, xin xỏ hoặc đề nghị ai làm một việc gì đó, tức là
thực hiện một hành động đe doạ thể diện (FTA), các động từ rào đón chuyên dùng
sau đây sẽ có tác dụng giảm thiểu tối đa nguy cơ đe doạ thể diện của các hành
động đó và ngời nghe cảm thấy đợc tôn trọng
(27) - Chú ơi! Làm ơn xuống ghe vác lên giùm cháu mấy bao than
Trang 33[XXVIII, tr.255]
(28) - Tha, có phải bác tới làm thủ tục mai táng ngời thân? Bác cảm phiền
chờ chút xíu nghen, nhà cháu sắp về rồi, bác
áp đặt của chúng đối với ngời nghe
Động từ ngữ vi đợc dùng với chức năng rào đón nhiều nhất là động từ xin
lỗi Động từ xin lỗi vốn đợc dùng khi ngời nói đã thực hiện một điều gì đó mà ngời
đó cho rằng gây khó chịu đối với ngời nghe hoặc gây tổn thất cho ngời nghe Vídụ:
(30) - Nhng tha bà, chúng tôi đâu có phải là một thứ tôn giáo
- Xin lỗi, tôi xin lỗi – bà cụ tỏ vẻ sợ hãi.
[I, tr.493]
Nhng khi đợc dùng với t cách là một BTRĐ, thờng là khi đợc dùng để rào
đón cho các hành động hỏi, cầu khiến, chê bai động từ xin lỗi còn có tác dụng
làm giảm bớt mức độ khiếm nhã, tăng tính lịch sự
(31) - Xin lỗi ở chị có một cái gì đó khiến tôi không thể cỡng lại đợc Có
thể tôi là một thằng tồi tệ, một thằng chả ra sao nhng giây phút này tôi biết tôi đangsống thực lòng mình, rất thực, thực nh cái điều tôi sắp nói ra đây
[XXIII, tr.371]
(32) - Tôi nghe nói, xin lỗi, có một thời chị sống tung hoành khác đời lắm?
[I, tr.120] (33) - Nói cách khác, anh đã không kịp chuyển tình hình Tình hình hiệnnay nó đòi hỏi một tri thức là nghề và hiểu nghề sâu lắm, chỉ nhiệt tình và tận tâm
thôi không đủ Xin lỗi! Ngay nh cái việc đêm nào anh cũng lặn lội xuống các đội là
một ví dụ của sự lúng túng về tri thức điều hành Ngời quản lí giỏi là ngời biết ngồimột chỗ nhng thâu tóm đợc mọi việc Tức là tôi vẫn nói về năng lực và trình độ
[XX, tr.87]Chủ hớng ở (31) là lời bày tỏ, ở (32) là hỏi về những vấn đề rất riêng t củangời nghe còn ở (33) lại là những lời phàn nàn của ngời nói tỏ ý chê bai năng lực và
trình độ của ngời nghe, do đó, BTRĐ do động từ xin lỗi đảm nhận trong cả ví dụ
trên sẽ có tác dụng ngăn chặn những phản ứng tiêu cực từ phía ngời nghe
Trang 342.2.2.2 Biểu thức rào đón do cụm từ đảm nhận
Cụm từ là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhautheo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định nhng cha thành câu Nói
các khác, cụm từ là đơn vị trung gian giữa từ và câu Biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật cũng có thể do đơn vị ngữ pháp này đảm nhận với số lợng không
nhỏ: 204/694 (chiếm tỉ lệ 29%)
Một phơng tiện quan trọng tham gia cấu tạo biểu thức rào đón ở cấp độ cụm
từ là quán ngữ Quán ngữ là những cụm từ đợc dùng lặp đi lặp lại trong các diễn từ
(discourse) thuộc phong cách khác nhau, chức năng của chúng là để đa đẩy, rào
đón, nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ Từ điển tiếng Việt định nghĩa:
“Quán ngữ là tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ
nghĩa của các yếu tố hợp thành” [34, tr.801] Tuy vậy, dạng vẻ của cụm từ tự do
còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này, chỉ có điều, do nội dung biểuthị của chúng đợc ngời ta thờng xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc củachúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi ngời ta quen dùng nh những đơn vị có
sẵn Theo các tác giả cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, khó lòng có thể phân
tích, phân loại quán ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng, tìnhtrạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng nh những đặc trng bản tínhcủa chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trítrung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn nghiêng hẳn
về một bên nào [8, tr.165] Song có lẽ nhờ tính trung gian đó của quán ngữ mà các quán ngữ tham gia cấu tạo biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật mặc dù đợc
biến đổi rất linh hoạt nhng vẫn có thể nhận ra đặc trng cấu trúc của chúng
a Các quán ngữ có dạng: Theo A (ngời nói), theo thiển ý của A, theo ngụ ý
của A, theo dụng ý của A, ở các mức độ khác nhau thờng đợc dùng để rào đón
ph-ơng châm về chất trong các phát ngôn trần thuật Nghĩa của từ “theo” trong các ờng hợp trên là “dựa vào, căn cứ vào nguồn tin hay ý kiến nào đó” [34, tr.931].
Đối với các hành động trần thuật, bày tỏ, nhận định, phán đoán, chê bai,
khi ngời nói không chắc chắn lắm về những thông tin do mình đa ra, họ sẽ dùng
các biểu thức rào đón dạng này để tách điều mình nói ra thành một nội dung mang
tính chủ quan, xuất phát từ lập trờng của ngời nói (do đó ngời nghe có quyền tintheo hoặc bác bỏ), thể hiện sự tôn trọng đối với ngời nghe, để cho ngời nghe quyềnlựa chọn
(34) - Thông thờng, theo bố, một ngời đàn bà đức hạnh thế nào đi nữa, nhng
một khi đã bỏ chồng đến với ngời khác thì cũng có khả năng ruồng bỏ cả ngời khác
ấy để đến với ngời khác nữa, giống nh một chi tiết máy đã đợc bôi trơn
[XVII, tr.148]
Trang 35(35) - Theo em - tôi cố lấy giọng làm ra vẻ từng trải - Có thể anh ấy bị hút
vào công việc đến nỗi quên hết mọi thứ khác Và cũng có thể trong quá khứ anh ấy
có một nỗi đau ghê gớm nào đó trong chuyện này khiến anh xa lánh phụ nữ
[XVIII, tr.283]
Hành động chủ hớng trong ví dụ (34) là một nhận định, còn trong ví dụ (35)
là một phán đoán Cả hai nội dung đa ra đều nằm trong suy nghĩ chủ quan của ngời nói, cha có gì đảm bảo tính chân thực của chúng Do đó, biểu thức rào đón đợc ng-
ời nói sử dụng trong cả hai ví dụ trên sẽ khiến cho ngời nghe cảm thấy không bị áp
đặt
Còn khi đi kèm với một số hành động có tính chất đe doạ thể diện nh cầu
khiến, đề nghị, khuyên bảo, trách móc các quán ngữ dạng này có tác dụng rào
đón điều kiện chân thành (tức là bản thân ngời nói chân thành muốn một hành
động nào đó đợc thực hiện), đồng thời cũng để cho ngời nghe quyền lựa chọn của
họ, có thể thực hiện hoặc không thực hiện mong muốn của ngời nói (tức là khôngmang tính áp đặt)
(36) - Anh Quách! Ông Phong nói tiếp - Anh là bí th chi bộ, theo tôi anh nên
đa vấn đề này vào trong nghị quyết của chi bộ ta trong thời gian tới để cả cơ quantập trung trí và lực vào đó
[XVII, tr.278]
(37) - Tất cả là tuỳ ở em Theo chị, dù trong hoàn cảnh nào, em cứ luôn nghĩ
rằng, mình làm cái này, mình chịu cái kia không phải vì mình mà vì niềm hi vọngcủa mọi ngời
[XVIII, tr.251]
Hành động chủ hớng trong cả hai ví dụ (36), (37) là hành động khuyên nhng
để thể hiện sự tôn trọng ngời nghe, đồng thời muốn cho ngời nghe thấy đợc sự chân
thành của mình, ngời nói đã dùng biểu thức Theo tôi (theo chị)
b Các quán ngữ dạng: Nh A đã nói/ đã trình bày, nh B (ngời nghe) đã biết, B
biết rồi đấy, B thấy đấy, nh C (ngời thứ ba) đã nói/ đã trình bày thờng dùng để
rào đón phơng châm về lợng và phơng châm cách thức, tức là ngời nói muốn nhắc
lại một phần thông tin nào đó mà cả ngời nói và ngời nghe đều biết nhng khôngmuốn bị xem là vi phạm các quy tắc hội thoại
(38) - Nh tôi đã nói với đồng chí, chuyến công tác trở về khu kho hậu
ph-ơng, khi trở lại đơn vị, tôi đã trở thành một con ngời khác
[I, tr 87]Nội dung thông báo trong (38) là điều mà trớc đó ngời nói đã có cơ hội trìnhbày trong cùng cuộc thoại Việc nhắc lại theo ngời nói là cần thiết (để nhấn mạnhtính chất quan trọng của vấn đề và làm tiền đề cho các thông báo tiếp theo) nhng để
Trang 36tránh làm ngời nghe cảm thấy khó chịu và tỏ ra ngời nói biết tôn trọng các quy tăc
hội thoại nên ngời nói đã rào đón bằng biểu thức Nh tôi đã nói với đồng chí.
(39) - Con cũng biết đấy, mấy năm nay, quan huấn không về chùa Mới đây,
đợc tin ngời đã khuất núi rồi
[X, tr.24]BTRĐ trong ví dụ trên đợc sử dụng khi ngời nói tờng thuật lại một sự việc
mà ngời nói tin rằng ngời nghe cũng đã biết trớc khi chuyển sang cung cấp cho
ng-ời nghe một thông tin mới có liên quan đến sự việc vừa nêu
(40) - Nh anh Thành đã nói, tuy là tình hình mới nhng chúng tôi chẳng còn
lạ gì việc phối hợp với các đồng chí bộ đội Anh trình bày qua kế hoạch cho tôinghe nào?
[49, tr.133]
Ngời nói trong ví dụ (40) cần nhắc lại lời của một ngời khác để nhấn mạnhtính chân thực của vấn đề trớc khi đề nghị ngời nghe làm một việc theo ý mình.Nhng để không làm ngời nghe cảm thấy khó chịu khi phải nghe lại điều ngời khác
đã nói từ phía mình nên ngời nói đã khéo léo rào đón bằng biểu thức: Nh anh
Thành đã nói.
c Các quán ngữ dạng: Nghe nói, nghe ngời ta nói / bảo, nghe đâu, nghe nh,
nghe đồn, đợc dùng để rào đón các phơng châm hội thoại
Nếu BTRĐ dạng theo tôi có tác dụng báo trớc cho ngời nghe biết rằng nội
dung chính mà ngời nói thông báo là chủ ý riêng của ngời nói, ngời nghe có quyềntin hoặc không tin, thực hiện hoặc không thực hiện; đồng thời khi sử dụng BTRĐ
theo tôi cũng tức là ngời nghe ngầm cam kết sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với
điều mình nói ra thì BTRĐ dạng nghe nói lại có tác dụng báo cho ngời nghe biết
rằng nội dung thông báo trong lời của ngời nói là của những ngời khác, cũng tức làngời nói không phải chịu trách nhiệm pháp lí về điều mình đã nói BTRĐ dạng
nghe nói còn chứng tỏ bản thân ngời nói cũng cha tin vào những điều mình nói ra,
do đó chúng thờng đợc dùng để rào đón phơng châm về chất trong hội thoại Giá trị
rào đón này đợc lấy từ ý nghĩa của cụm từ dạng nghe nói Chẳng hạn, với từ nghe
đâu, Từ điển tiếng Việt giải thích: (khẩu ngữ; dùng ở đầu câu, đầu đoạn câu) là tổ hợp biểu thị ý khẳng định dè dặt, dựa vào những nguồn tin mà mình không đảm bảo là chắc chắn [34, tr.675]
(41) - Cứ chúi đầu mãi ở cái chỗ chết dẫm này thì cất đầu lên sao đợc? Nghe
đồn ngoài Bắc bây giờ không đến nỗi đói kém nh trớc Hay là tôi thử về Bắc.
[XI, tr.94]
Trang 37(42) - Ông Thành chết cũng tội Nghe nói ông ấy là con một Và bà vợ vẫn ở
vậy nuôi con Có dịp, ta kéo cả thằng Chiến, thằng Huấn thành một đoàn đi thăm
ông cụ thân sinh ra trung đoàn trởng Thành đi Chắc ông cụ mừng lắm Sinh đợcmỗi ngời con trai mà chết mất Tội!
[XVII, tr.91]
(43) - Nghe ngời ta kháo: trớc đây nàng đã yêu một anh chàng ở trung đoàn
Đồng Nai, ngời tận Hồng Gai, có cặp mắt nh biển xanh
[XIX, tr.83]Các nội dung đợc ngời nói trình bày ở cả ba ví dụ trên đều cha có gì để bảo
đảm tính chân thực của chúng Tất cả chỉ mới ở mức độ nghe nói, nghe đồn, nghe
ngời ta kháo , do đó mà ngời nói không phải chịu trách nhiệm pháp lí về những
điều mình nói ra, ngời nghe cũng không có lí do gì để bắt bẻ về tính chân thực củacác thông tin đó
Cụm từ dạng nghe nói sẽ không trở thành biểu thức rào đón nếu đặt nó sau
chủ thể phát ngôn, vì lúc đó phát ngôn chứa nó sẽ mang màu sắc của một phát
ngôn trần thuật thông báo
(44) - Tôi nghe nói cánh trinh sát còn lôi chuyện gì đó của đại đội trởng ra
mà diễn kịch cho nhau xem cơ mà?
[VI, tr.143](45) - Tao lại nghe nhiều ngời nói thằng Lực dựa vào thằng Cấu là chính
[XXV, tr.17]
Do đó, biểu thức rào đón là quán ngữ dạng nghe nói chỉ có thể đứng trớc
biểu thức chủ hớng
d Quán ngữ dạng: hỏi/nói khí không phải, chém mồm, chém miệng, nói chém
mồm chém miệng, nói dại, nói dại mồm dại miệng, nói đổ xuống sông xuống biển, nói tóm lại, nói thật, nói một cách đại lợc, nói bỏ ngoài tai, nói nghiêm túc, nói
đùa, nói không ngoa, nói trộm vía, đợc dùng để rào đón trong rất nhiều tình
huống ở lời khác nhau
(46) - Này, hỏi khí không phải, bác là cái nhà hàng dầu dạo trớc đã vào đây bán?
(47) - Nói thực, nếu tao biết nhắm mắt thì tao đã vào đảng từ lâu rồi kia
Nh-ng mà dẹp Tao hỏi: rút cuộc bài báo của mày vẫn bị bỏ xó? Và phiên họp ấykhông thành?
[XVII, tr.357]
Trang 38(48) - Nói đùa, cậu thay đổi dữ quá, nếu không có mấy chiếc răng cải mả và
giọng nói eo éo là vẫn thế thì chắc mình đã không nhận ra, tởng gã con buôn ĐàiLoan hay Hồng Kông nào mới mò ra đây tính chuyện đồng tính
[XX, tr.278]
2.2.2.3 Biểu thức rào đón do một kết cấu C-V đảm nhận
Cấu trúc của biểu thức rào đón không chỉ là một từ, một ngữ (tức cụm từ) mà
còn là một kết cấu C-V, tức một phát ngôn hoàn chỉnh, chiếm tỉ lệ cao nhất (52%)
(49) - Anh Hùng! Em nói cái này anh nghe hay không thì tuỳ nhé! Rồi đây
số phận anh và chị sơng sẽ ràng buộc với nhau nhiều lắm đấy Hai ngời đều gặp vô
số hoạn nạn nhng vẫn không xa rời nhau, vẫn bù đắp đợc cho nhau Chị ấy sẽ chếttrớc anh Chết trong chiến tranh hay chết sau hoà bình, em cha thật rõ Mà còn lâulắm mới hoà bình, chí ít cũng dăm bảy năm nữa
[XXII, tr.63]
Khảo sát vị từ trong các kết cấu C-V làm biểu thức rào đón, chúng tôi nhận thấy có hai nhóm động từ tham gia tích cực vào kiểu kết cấu này là là động từ xin
lỗi và động từ hỏi/nói
(50) - Thậm chí, anh xin lỗi khi buộc phải nói ra những điều ghê tởm này,
anh đã thử vùi đầu vào vài ba cuộc tình khoảnh khắc, đã nốc rợu để rồi thức trắngtrong những đêm truy hoan theo sự sắp đặt của bạn bè nhng đều vô vọng Càngdính dáng đến họ nhiều, càng thức tỉnh trong anh về hình ảnh của em
[XXI, tr.359]
(51) - Em xin lỗi đợc nói thật, tâm hồn chị nhà mỏng manh lắm, chị ấy sẽ
không chịu nổi tiết tấu cuộc sống hiện đại ở bên Tây đâu Nói thế nào nhỉ? Có lẽchị ấy là ngời của thôn dã, của nhịp sống gia đình tĩnh lặng; nếu có thể đợc thì anhnên sắp xếp cho chị ấy về, càng nhanh càng tốt
cấu trúc ít nhiều còn mang đậm tính khẩu ngữ) Việc sử dụng chúng để tạo ra các
biểu thức rào đón là kết cấu C-V (tức phát ngôn hoàn chỉnh) cho thấy nhà văn rất
có ý thức tạo nên những chuẩn mực của ngôn ngữ
2.2.2.4 Biểu thức rào đón phối hợp đồng thời một số dạng
Trang 39Để giao tiếp đạt hiệu quả cao, bên cạnh việc tuân thủ nghiêm túc, chặt chẽcác quy tắc hội thoại, những ngời tham gia giao tiếp còn có ý thức sử dụng nhữngchiến lợc giao tiếp riêng, phù hợp với từng mục đích giao tiếp cụ thể Việc vậndụng kết hợp hai hay nhiều BTRĐ cũng là một trong những chiến lợc giúp giao tiếp
đạt hiệu quả Sau đây là một số kiểu kết hợp các BTRĐ
+ Biểu thức rào đón gồm quán ngữ + kết cấu C-V
(54) - Chỗ anh em với nhau, bác hỏi thiệt Trớc đó cháu có thấy nó buồn
phiền điều gì không, có hay nhắc tới bác và em nó không?
[XIV, tr.58]
+ BTRĐ gồm động từ xin lỗi + kết cấu C-V
(55) - Mới nghe dễ tin là thật nhng trong toàn bộ lời biện luận của mày đều
thiếu tính logic, nặng về áp đặt và sắp xếp Xin lỗi, tao nói đây là trên phơng diện
nhà báo chứ không phải trên phơng diện nhà hình sự
[XVII, tr.228]+ BTRĐ gồm nhiều kết cấu C-V
(56) - Em xin tha một điều, bà con thể tất cho, cũng thật bụng chúng em nh
thế từ lâu Ngời đồng rừng chúng em nghĩ sao nói vậy Đi xa rồi phải về gần, đời
con ngời ta là nh vậy, chúng em đã xin cho một cháu gái đợc về làm dâu con nhà
bác Xuất đấy ạ
[IX, tr.62]Tóm lại, về cấu trúc, có ít nhất ba kiểu cấu trúc cho BTRĐ trong lời thoại
nhân vật xét theo cấp độ ngữ pháp, đó là: từ, cụm từ và câu (tức kết cấu C-V).
2.3 Ngữ nghĩa của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
2.3.1 Khái niệm nghĩa của lời
Nghĩa là mặt thứ hai quan trọng của lời nói Bằng lời nói, ngời nói bao giờcũng muốn chuyển tải đến ngời nghe một điều gì đó và ngợc lại, ngời nghe luôn muốnnắm bắt chính xác điều mà ngời nói muốn truyền đạt trong lời
ý nghĩa của câu bao gồm các nhóm: ý nghĩa tự thân (nghĩa tờng minh), ý
nghĩa hàm ngôn và ý nghĩa ánh xạ ý nghĩa tự thân là nghĩa toát ra từ toàn bộ câu
chữ mà ngời nghe nhận thức đợc; ý nghĩa hàm ngôn là ý nghĩa có đợc do suy ý, là nghĩa thực của câu trong văn cảnh; ý nghĩa ánh xạ (còn gọi là ý nghĩa chức năng)
là loại nghĩa có liên quan chặt chẽ với ý nghĩa tự thân, đợc suy ra từ ý nghĩa tự thânnhng không phải là ý nghĩa tự thân
Tiến hành xác định ngữ nghĩa của BTRĐ (chủ yếu là BTRĐ có cấu trúc V), chúng tôi xuất phát từ các thành tố ý nghĩa của từ, từ đó xác định ý nghĩa tự
C-thân (ý nghĩa miêu tả) của BTRĐ và đa ý nghĩa tự C-thân này về những phạm vi hiện
Trang 40thực nhất định Ngữ nghĩa BTRĐ chính là những thông tin về sự vật, hiện tợng, con
ngời trong đời sống hiện thực đợc các yếu tố ngôn ngữ trong BTRĐ biểu đạt,phản ánh Ngữ nghĩa BTRĐ cũng luôn đợc đặt trong mối quan hệ với ngữ cảnh, với
ngời sử dụng để thấy đợc rõ hơn ý nghĩa ngữ dụng rào đón của nó
2.3.2 Phân loại ngữ nghĩa của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Xét trong quan hệ với biểu thức chứa hành động chủ hớng, có thể chia ra các
nhóm nghĩa của biểu thức rào đón nh sau:
2 Rào đón bằng biểu thức tôn vinh thể diện ngời nghe 63/361 17%
3 Rào đón về trạng thái tâm lý của ngời nói 148/361 41%
4 Rào đón về sự làm phiền lãnh địa cá nhân ngời nghe 72/361 20%
Bảng 2.3: Tỉ lệ các nhóm ngữ nghĩa của biểu thức rào đón trong lời thoại nhân vật
Sau đây chúng tôi đi vào phân tích từng nhóm nghĩa cụ thể
2.3.2.1 Rào đón trớc hành động phản ứng và nhận thức trong tơng lai của ngời nghe
Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giaotiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích đợc đặt ra Nhngtrong hội thoại vẫn thờng xẩy ra các tình huống sau:
- Những ngời tham gia giao tiếp không phải bao giờ cũng hiểu rõ về đối
ph-ơng ngay cả khi các bên đã quá quen thân với nhau
- Những điều ngời nói nói ra không phải bao giờ cũng đợc ngời nghe hiểu
đúng và tôn trọng Thậm chí có những điều nếu nói ra sẽ không còn là của riêngngời nói và ngời nghe nếu ngời nói không yêu cầu ngời nghe phải giữ kín
- Những thông tin mà ngời nói đem đến không phải bao giờ cũng làm vừalòng ngời nghe, thậm chí có những thông tin còn có nguy cơ đe doạ nghiêm trọngthể diện ngời nghe hoặc dẫn ngời nghe đến những hành động phản ứng và nhậnthức tiêu cực về bản thân và về hiện thực
Do đó, rào đón trớc hành động (bao gồm hành động phản ứng và hành động
nhận thức) trong tơng lai của ngời nghe trở thành một trong những nội dung quantrọng của BTRĐ Nhóm ngữ nghĩa của BTRĐ này có đặc điểm là: ngời nói dự đoántrớc đợc những hành động phản ứng và nhận thức trong tơng lai của ngời nghe đốivới những điều sắp nói ra nhng lại tờng minh chúng thông qua một lời thỉnh cầu đểngăn chặn hoặc giảm thiểu tối đa mức độ của các hành động phản ứng và nhận thức