Sựkhác nhau về số lượng âm tiết cũng như sự phân bố âm vị học trong âm tiết, cụ thể là sự phân bố thanh điệu trong từ đơn có lẽ cần được khắc phục để tìmhiểu xem thực chất trong lời ăn,
Trang 1dỗ, trang bị kiến thức cho em trong suốt 4 năm học qua, giúp em có kiến thức
để hoàn thành khoá luận này
Khoá luận của em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhậnđược nhiều ý kiến, góp ý quý báu của các thầy cô và những người quan tâmđến vấn đề này
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thị Hường
MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
Trang 2Trang
CHƯƠNG 1: NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN
1.3.3.3 Phân loại dựa vào sự đồng nhất hay khác biệt trong thành
CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG CỦA THANH ĐIỆU
Trang 32.1 Sự phân bố của thanh điệu trong từ đơn tiết 25
CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG CỦA THANH ĐIỆU
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
1.1 Lâu nay, từ vựng (vốn từ) thường được hình dung gồm hai bộ phậncấu thành là từ và thành ngữ Bởi vậy, từ và thành ngữ đều được nghiên cứutrong từ vựng học Tuy nhiên, trên thực tế thì từ vẫn giữ vai trò trung tâm Từ
có thể phân chia làm nhiều loại từ theo những tiêu chí khác nhau Căn cứ vàomặt cấu tạo, từ được chia làm hai loại: từ đơn (theo phương thức từ hoá hìnhvị) và từ phức, trong đó, từ phức được chia làm hai loại: từ ghép (theo phươngthức ghép) và từ láy (theo phương thức láy)
1.1.1 Là một ngôn ngữ đơn lập phân tiết tính, tiếng Việt có khả năng
và cần thiết lập bảng kết hợp giữa các đơn vị tạo thành âm tiết (từ đơn) Sốlượng âm tiết có thể có trong sự hình dung lí thuyết cũng như được sử dụnglàm thành từ thực tế là con số xác định và có thể tính toán được Tuy nhiên,con số các âm tiết lí thuyết cũng như được sử dụng làm thành từ thực dùng,theo thống kê của các nhà âm vị học Việt từ trước đến nay là có sự xê dịchtuỳ theo quan điểm và các thủ pháp thống kê của các tác giả Mỗi tác giả, khinghiên cứu về âm vị học đều có con số riêng của mình về các loại âm tiết Sựkhác nhau về số lượng âm tiết cũng như sự phân bố âm vị học trong âm tiết,
cụ thể là sự phân bố thanh điệu trong từ đơn có lẽ cần được khắc phục để tìmhiểu xem thực chất trong lời ăn, tiếng nói hàng ngày người Việt đã dựa trên sốlượng âm tiết thực là bao nhiêu Nhưng sự đòi hỏi một số lượng tuyệt đối như
vậy là không tưởng vì ngôn ngữ là một “sinh thể”, một đối tượng sống; bởi
mỗi ngày trong giao tiếp có biết bao từ có nguy cơ bị mất đi và mất hẳn, cóbao nhiêu từ đang nhú lên để một ngày nào đó trở thành thành viên trong vốn
từ của Việt ngữ Hệ quả tất yếu của việc mất đi hay nảy sinh các từ sẽ đi kèmvới việc cấu tạo các mô hình vỏ từ tương ứng Như vậy, sự cố gắng để tìmmột con số chính xác về số lượng các âm tiết (từ đơn) thực có trong tiếng Việt
dù là mục đích phải vươn tới nhưng có thể khó lòng đạt được Dẫu vậy, việc
Trang 5kiểm kê danh sách các âm tiết một cách chính xác vẫn là cần thiết và kết quảdẫu là tương đối cũng sẽ là chỗ dựa, là gợi ý cho các nhà âm vị học Việt vềnhững thành phần âm vị học cùng với các nét khu biệt và các chế định âm vịhọc giữa chúng và đó còn là cơ sở để tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong
từ đơn
1.1.2 Về từ láy, gần đây có một xu hướng muốn chứng minh mối quan
hệ giữa âm và nghĩa của từ láy đôi đã làm nên đặc thù của từ láy tiếng Việt
Dĩ nhiên, sự chứng minh như vậy là cần thiết nếu thực sự có một mối quan hệnhư thế tồn tại nhưng cũng cần phải tránh việc kết luận có thể đi tới một cựcđoan rằng, các đặc điểm ngữ âm trong khu vực từ láy đôi là có tính chất củamột đơn vị hai mặt như một tín hiệu ngôn ngữ bất kì nào Điều cực đoan nhưvậy có thể làm hạn chế các tư liệu ngữ âm ở khu vực láy và thậm chí sẽ đánhmất những mối quan hệ có quy luật giữa các luật âm thanh tạo nên vỏ từ láy
và các đặc điểm ngữ âm vốn có trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt Nếu thừanhận rằng trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ cùng loại hình có tồntại một cơ chế láy phổ biến thì rõ ràng việc đầu tiên là phải đi tìm sự thể hiện
cơ chế ấy về mặt ngữ âm trong các từ láy Đó là cơ chế thể hiện quá trình tạosản vỏ âm thanh từ một cách thuần nhất và bị chi phối bởi các luật âm vị họcđang hành chức trong tiếng Việt Công việc này cần tiến hành đầu tiên, bởinhắc đến láy, người bản ngữ trực cảm đến các đặc điểm hình thức đặc thù của
nó Cơ chế láy sẽ đi kèm với việc cấu tạo các mô hình vỏ từ tương ứng trongtiếng Việt Bên cạnh đó, không thể có sự thống nhất ý kiến một cách đơn giản
mà vấn đề từ láy lại là một vấn đề phức tạp và tư liệu về hiện tượng này chođến nay chưa thể nói được rằng chúng ta đã thu thập được một cách đầy đủ.Như vậy, sự cố gắng để đi tìm một con số chính xác về số lượng các từ láythực có trong tiếng Việt là mục đích phải vươn tới nhưng khó lòng có thể đạttới Dẫu vậy, việc kiểm kê danh sách các âm tiết trong từ láy một cách chínhxác vẫn là cần thiết và kết quả dẫu là tương đối cũng sẽ là chỗ dựa, là gợi ý
Trang 6cho các nhà âm vị học Việt về những thành phần âm vị học cùng với các nétkhu biệt và các chế định âm vị học (chủ yếu là thanh điệu) giữa chúng.
1.2 Theo truyền thống học phương Đông, các thành tố cấu tạo nên âmtiết cũng có thể được coi là các đơn vị âm vị học Do đó, chúng tôi thiết nghĩ
có thể phác hoạ hệ thống âm thanh tiếng Việt, tiến hành khảo sát sự phân bốthanh điệu trong vốn từ tiếng Việt Công việc này, ngoài việc đem lại lợi íchcho âm vị học tiếng Việt còn có lợi ích cho việc xác định loại hình ngôn ngữ
này, “Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ có thanh điệu” và phần nào làm sáng
tỏ khái niệm hình tiết (Syllabeme) trong nghiên cứu Việt ngữ ở cấp độ caohơn Để đạt tới một âm vị học như vậy, ngoài việc tiếp thu thủ pháp âm vị họctruyền thống, còn cần tới những tri thức khác mà âm vị học đương đại củanhững năm nửa sau thế kỉ XX đã đạt được Bên cạnh việc sử dụng các thủpháp âm vị học, các khái niệm còn phải chứng minh trong quá trình phân tích,xét lại dựa vào các chứng cứ có được từ nguồn: a/ Từ sự nhất quán của cácphép phân tích trên hệ thủ pháp âm vị học đã lựa chọn để làm việc b/ Từ cáccấp độ khác nhau trong hệ thống ngôn ngữ c/ Từ sự phát triển lịch sử của hệthống âm thanh tiếng Việt Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạnbước đầu “Tìm hiểu chức năng của thanh điệu tiếng Việt” (trên tư liệu từ đơntiết và từ láy đôi tiếng Việt)
2 Lịch sử vấn đề
Thanh điệu là yếu tố ngữ âm phủ lên đồng thời các âm vị đoạn tínhkhác nhưng lại có chức năng khu biệt giống như các âm vị đoạn tính khác.Các thanh điệu tiếng Việt có chức năng khu biệt không khác gì phụ âm,nguyên âm nhưng khó lòng định vị được chúng trong âm tiết Nghiên cứuthanh điệu được khá nhiều người quan tâm vì đã có một số sách vở, tài liệuviết về thanh điệu Bước đầu khảo sát, chúng tôi thấy ở các tài liệu viết vềthanh điệu thường đi theo một hướng nhất định, có thể kể ra ba hướng chínhsau:
Trang 7- Hướng thứ nhất: Ngôn ngữ học đồng đại miêu tả thanh điệu tiếngViệt, các phẩm chất ngữ âm của thanh điệu, xác lập và chỉ ra các tiêu chí của
nó Đó là các giáo trình viết về ngữ âm ĐH – CĐ như: Giáo trình ngữ âm
tiếng Việt, Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng, NXB ĐHSP, 1994; Ngữ âm tiếng Việt, Đoàn Thiện Thuật, NXB ĐHQGHN, 2002, Giáo trình ngữ âm tiếng Việt , dùng cho sinh viên Ngữ Văn, Nguyễn Hoài Nguyên, Trường Đại học
Vinh, Vinh 2000
- Hướng thứ hai: Dùng máy móc thực nghiệm khảo sát, xác lập cácthông số để từ đó rút ra các kết luận về thanh điệu Theo hướng này có các tácgiả: Vũ Bá Hùng, Hoàng Cao Cương, Vũ Kim Bảng
- Hướng thứ ba: Nghiên cứu thanh điệu theo hướng lịch đại, nghĩa lànghiên cứu nguồn gốc của thanh điệu, xác lập sự ra đời của thanh điệu Theohướng này có các tác giả: Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn VănLợi
Nhìn chung, chưa có một công trình nào nghiên cứu thanh điệu độc lậpvới tư cách là thành tố tham gia hiệp vần, vai trò trong cấu tạo âm tiết, cấu tạo
từ và phân biệt ý nghĩa của từ, vai trò trong từ láy, thành ngữ Nói cách khác,các công trình đó chưa chỉ ra đầy đủ chức năng của thanh điệu Ở khoá luậnnày, chúng tôi bước đầu tìm hiểu chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết
và trong từ láy đôi tiếng Việt
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là chức năng của thanh điệu trongtiếng Việt trên tư liệu từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi đặt ra cho khoá luận phải giải quyết những vấn đề sau:
- Dựa vào những kiến thức về từ vựng và ngữ pháp tiến hành thống kê
và xử lí tư liệu, xác lập danh sách từ đơn tiết, từ láy đôi tiếng Việt (theo quanđiểm của người nghiên cứu) để làm việc
Trang 8- Từ các tiêu chí khu biệt thanh điệu, bước đầu xác lập một toàn cảnh
về phân bố thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt, từ đó tìm hiểuchức năng của hệ thống thanh điệu trong từ đơn tiết và từ láy đôi tiếng Việt
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để xác lập vốn từ tiếng Việt (cụ thể là từ đơn tiết và từ láy đôi tiếngViệt), chúng tôi xây dựng nguyên tắc và phương pháp thống kê từ đơn tiết và
từ láy đôi Từ các nguyên tắc và phương pháp làm việc, chúng tôi tiến hành
lựa chọn cuốn “Từ điển tiếng Việt”, 2008 do Hoàng Phê (chủ biên); “Từ điển
từ láy tiếng Việt” của Viện ngôn ngữ, làm nguồn tư liệu gốc, đối chiếu với
cuốn “Đại từ điển tiếng Việt” Nguyễn Như Ý (chủ biên),
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những nhiệm vụ mà khoá luận đề ra, chúng tôi chủ yếu
sử dụng các phương pháp, thủ pháp làm việc sau:
- Dùng phương pháp thống kê ngôn ngữ học để xác lập danh sách từđơn, từ láy đôi và làm cơ sở ngữ liệu cho khoá luận
- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp để tiến hành thiết lậpcác hàm tương quan giữa cấu trúc và chức năng, sự phân bố thanh điệu trong
từ đơn, từ láy đôi
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn tận dụng ngữ cảm củangười bản ngữ, những kiến thức về phương ngữ học, văn hoá dân gian để thựchiện đề tài
5 Đóng góp của khóa luận
Khóa luận chưa thể và không thể giải quyết được tất cả những vấn đềcấu trúc âm vị học tiếng Việt, nhưng mọi cố gắng của khoá luận là nhằm miêu
tả sự phân bố thanh điệu và các thuộc tính âm vị học thanh điệu cùng với cácnét của thanh điệu được thể hiện một cách tự nhiên trong việc tham gia cấutạo từ đơn tiết, từ láy đôi để tạo tiền đề, cơ sở cho việc tìm hiểu chức năng củathanh điêu Những đặc điểm này góp phần tạo nên cơ sở quan trọng gợi ý cho
Trang 9việc giải thích các tương quan âm vị học có trong hệ thống âm vị tiếng Việt cảmặt lịch đại cũng như đồng đại.
Các kết quả khi tìm hiểu vai trò của thanh điệu trong từ đơn tiết và từláy đôi tiếng Việt góp phần vào nghiên cứu và giảng dạy từ đơn và từ láy Cáckết luận bước đầu của khoá luận góp thêm hiểu biết về một lĩnh vực trunggian nằm giữa âm vị học và hình thái học – lĩnh vực hình âm vị học
6 Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khoá luận được triển khaitrong ba chương:
Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Chức năng của thanh điệu trong từ đơn tiết
Chương 3: Chức năng của thanh điệu trong từ láy đôi
Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Thanh điệu trong tiếng Việt
1.1.1 Dẫn nhập
Trong thực tế, các ngôn ngữ trên thế giới có những đơn vị ngữ âm nhưtrọng âm, thanh điệu, ngữ điệu được các nhà ngữ học gọi là các đơn vị siêu
Trang 10âm đoạn tính hay hiện tượng ngôn điệu Các hiện tượng ngôn điệu đóng vaitrò là phương thức muôn màu muôn vẻ để tổ chức các đơn vị âm đoạn tínhthành những thể thống nhất lớn hơn cũng như để phân biệt các kí hiệu ngônngữ Thanh điệu là yếu tố ngữ âm phủ lên đồng thời các âm vị đoạn tính khácnhưng lại có chức năng khu biệt giống như các đơn vị âm đoạn tính khác Cácthanh điệu tiếng Việt có chức năng khu biệt từ không khác gì nguyên âm, phụ
âm nhưng khó lòng định vị được chúng trong âm tiết Người ta buộc phảithừa nhận giá trị khu biệt của thanh điệu, coi đó là âm vị đặc biệt – âm vị siêuđoạn tính
1.1.2 Khái niệm thanh điệu
Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính, là sự nâng cao hay hạ thấpgiọng nói trong một âm tiết có tác dụng khu biệt các từ có nghĩa khác nhau
Theo Đoàn Thiện Thuật: Nó được biểu hiện trong toàn âm tiết hay đúng hơn
là toàn bộ phần tính của âm tiết (bao gồm cả âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối) /Ngữ âm tiếng Việt, NXB ĐHQGHN, 2002, tr.100/ Các thanh điệu
tiếng Việt được ghi bằng các kí hiệu chữ viết: “\” (huyền) “?” (hỏi), “~”(ngã), “/” (sắc), “.” (nặng) Có những âm tiết khi ta viết không có dấu nhưngtrong thực tế khi phát âm có một thanh điệu gọi là thanh ngang (không dấu)
như: “ta, đi, thôi, ” Nếu như ngữ điệu là đặc trưng của câu nói, trọng âm là
đặc trưng của từ thì thanh điệu là đặc trưng của âm tiết
1.1.3 Chức năng của thanh điệu
Thanh điệu có chức năng như một âm vị, nó tham gia vào việc cấu tạocác âm tiết, cấu tạo từ và phân biệt ý nghĩa của từ Nó là một yếu tố tạo nênnét đặc trưng của tiếng Việt – một ngôn ngữ có thanh điệu khác với các ngônngữ không có thanh điệu
Nhờ có thanh điệu mà câu văn, câu thơ, lời nói tiếng Việt có tính nhạcđiệu, truyền cảm Căn cứ vào độ cao và âm điệu của các thanh trong từ Việt
mà chúng ta xây dựng các quy tắc về âm luật trong thơ Chẳng hạn: Chúng taphân biệt vần bằng, vần trắc và cách lập vần trong các thể thơ song thất lục
Trang 11bát, lục bát, thể thơ tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt Ngoài ra, các nhà thơ cònsáng tạo những sự kết hợp âm điệu của các thanh để tạo nên những biến thiên
đa dạng nhằm diễn tả nội dung, tư tưởng, tình cảm muôn màu, muôn vẻ củađời sống và làm cho tiếng Việt giàu và đẹp hơn
1.1.4 Các tiêu chí phân biệt thanh điệu
Các nét khu biệt của thanh điệu gồm âm vực và âm điệu
1.1.4.1 Âm vực (cao độ)
Âm vực là độ cao của thanh điệu, “Đó là độ cao kết thúc của thanh
điệu” (M.V.Gordina) Khi xác định độ cao của các thanh điệu thì độ cao kết
thúc có tầm quan trọng hơn độ cao xuất phát Trong tiếng Việt, thanh ngã làthanh cao và thanh hỏi là thanh thấp, trong khi cả hai thanh đều bắt đầu ở độcao xấp xỉ nhau Thanh ngã bắt đầu ở âm vực thấp nhưng lại kết thúc ở âmvực cao
Căn cứ vào tài liệu ngữ âm học thực nghiệm, dựa vào sự phân tích cácđường ghi của máy chụp tự động, các tác giả N.Đ.Ađrêep và M.V.Gordina đãxây dựng được biểu đồ các thanh điệu tiếng Việt
Nhìn chung, căn cứ vào độ cao, 6 thanh điệu tiếng Việt được chia làmhai nhóm:
- Nhóm thanh điệu cao gồm các thanh: /1/, /3/, /5/ (tức là gồm cácthanh ngang, thanh ngã, thanh sắc)
- Nhóm thanh điệu thấp gồm các thanh: /2/, /4/, /6/ (tức là gồm cácthanh huyền, thanh nặng, thanh hỏi)
Như vậy, nói đến thanh điệu, trước hết là nói đến âm vực Sự khu biệtgiữa thanh này với thanh khác là sự khác nhau về âm vực Âm vực là mộttrong những tiêu chí thoả đáng âm vị học của thanh điệu
1.1.4.2 Âm điệu (đường nét)
Âm điệu là sự biến thiên cao độ theo thời gian và đặc trưng này dễdàng nhận thấy trong thanh điệu Sự biến thiên của độ cao (đường nét) có thểbằng phẳng, có thể không bằng phẳng Thế đối lập này còn được gọi là biếnđiệu và không biến điệu
Căn cứ vào đường nét âm điệu, hệ thanh Việt chia làm hai nhóm:
Trang 12- Những thanh có đường nét bằng phẳng (truyền thống gọi là thanhbằng) gồm: thanh ngang (không dấu) và thanh huyền.
- Những thanh có đường nét không bằng phẳng (truyền thống gọi làthanh trắc) gồm thanh ngã, thanh hỏi, thanh sắc và thanh nặng
Trong các thanh trắc, có thể chia ra làm các thanh có đường nét gãy(gồm thanh hỏi, thanh ngã) và thanh có đường nét không gãy (gồm thanh sắc,thanh nặng)
Về đặc trưng biến điệu, lại có sự phân biệt giữa hướng đi lên và đixuống Thanh sắc là thanh đi lên, thanh nặng là thanh đi xuống
Khi đánh giá, phân loại thanh điệu không ai không nhắc tới âm điệu.Đường nét bằng phẳng hay không bằng phẳng, đi lên hay đi xuống thì mọingười đều thừa nhận Các thanh không dấu, huyền, sắc, ngã được đánh giákhá nhất trí Tuy còn có sự tranh cãi ở một vài thanh điệu nhưng rõ ràng cómột điều không thể chối cãi được là các thanh điệu khu biệt nhau không phảichỉ về độ cao mà còn về sự biến thiên của nó tương ứng với thời gian Âmđiệu hiển nhiên được kể như một tiêu chí khu biệt âm vị học
Như vậy, theo quan niệm truyền thống, các thanh điệu Việt có ba sự đốilập có giá trị âm vị học, đó là: 1/ cao – thấp, 2/ gãy – không gãy, 3/ đi lên –
đi xuống Theo chúng tôi, các thanh điệu còn được khu biệt bằng chất lượngthanh, tức là nét đồng chất và dị chất Đồng chất gồm các thanh: thanh ngang,thanh huyền, thanh hỏi, thanh sắc Dị chất gồm các thanh: thanh ngã, thanhnặng
1.2 Khái niệm từ đơn
1.2.1.Các quan niệm về từ đơn
Từ là đơn vị cơ bản của từ vựng và ngôn ngữ nói chung Chính vì thế,
trong các đơn vị ngôn ngữ, “Từ là đơn vị duy nhất có thể đảm nhận nhiều
chức năng nhất Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh, chức năng phân biệt nghĩa” / Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tỉếng Việt, NXB ĐH và
THCN, 1985, tr.19/ Trong nhiều năm, các nhà Việt ngữ học đã đi sâu nghiêncứu vấn đề này và tuỳ tính chất của từng chuyên ngành mà vốn từ được bàn
Trang 13luận theo những chiều hướng và mức độ khác nhau Những kết quả đạt được
đã trở thành những kiến thức giáo khoa không chỉ dùng cho sinh viên ngànhngữ văn mà còn phổ biến đến tận các chương trình phổ thông cơ sở Kháiniệm từ bao gồm: từ đơn, từ phức, từ ghép, từ láy và các đơn vị tương đươngvới từ đã được các nhà ngữ học bàn thảo khá đầy đủ Ở đây chúng tôi chỉquan tâm và xem xét từ đơn
Ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, các tác giả Nguyễn Hiệt Chi, Lê
Thước đã bàn đến từ đơn: “Từ có thân từ trùng với căn tố, nghĩa là từ mà
trong thành phần cấu tạo không thể tách ra thành tố phụ Từ trong tiếng Việt chỉ do một hình vị (âm tiết, tiếng) có ý nghĩa tạo nên Ví dụ: học, làm, nhà, ruộng, đẹp, cao, ” /Các tác giả, Sách mẹo tiếng Nam, Lê Văn Tâm xuất bản,
1935/
Tác giả Nguyễn Văn Tu lại cho rằng: “Một từ đơn âm tiết là tổ hợp âm
thanh gồm một đơn vị hay nhiều đơn vị với thanh điệu kết hợp chặt chẽ với nhau làm thành một âm tiết, diễn đạt một nội dung không thể chia nhỏ và có chức năng ngữ pháp nhất định” /Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, NXBGD, 1986/.
Theo tác giả Hồ Lê: “Trước hết cần phải phân ra từ đơn và từ ghép Từ
đơn là từ do một nguyên vị có khả năng dùng độc lập tạo thành Từ ghép là từ gồm hai nguyên vị trở lên”, /Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo thành tiếng Việt hiện đại,
NXBKHXH, 1976/
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ đơn là những từ một hình vị Về mặt
ngữ nghĩa, chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ”,
NXBGD, 1981/
Tập thể tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
cũng cho rằng: “Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn
(còn gọi là từ đơn tiết) Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo bằng một tiếng Ví dụ: tôi, bác, nhà, cây, đi, chạy, vui, buồn, vì, nếu, đã, ừ, nhỉ,
Trang 14nhé, /Các tác giả, Cơ sở ngôn ngữ học đại cương và tiếng Việt, NXBĐH và
THCN, 1990/
Xung quanh định nghĩa về từ đơn, có thể dẫn ra rất nhiều định nghĩakhác Tiếp sau, chúng tôi trình bày quan niệm của các nhà Việt ngữ học màkhoá luận lựa chọn để giải quyết vấn đề
1.2.2 Quan niệm về từ đơn khoá luận lựa chọn
Trong khó luận này, chúng tôi dựa trên khung lí thuyết về từ và các đơn
vị cấu tạo từ tiếng Việt của hai giáo sư Nguyễn Thiện Giáp và Nguyễn TàiCẩn
1.2.2.1 Quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp
Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”, NXBGD, 1997, phần viết về từ vựng, tác giả cho rằng trong tiếng Việt, những tiếng như: bố, mẹ, ba, bốn,
đây, đâu, đó, và, với, nhà, cây, đi, cười, đẹp, à, ừ, nhỉ, nhé, đều được coi là
từ đơn Lí do là: chúng đều là những cấu trúc có tính hoàn chỉnh, không thểxen thêm một đơn vị nào vào giữa; vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏicác đơn vị khác một cách dễ dàng Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âmtiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt Về mặt chính tả, chúngđược viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành Chúngđều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại như:
nhà, cây, đi, cười, Nói một cách khác là các từ này có một ý nghĩa từ vựng
mà ta chỉ ra được Người ta gọi đó là các thực từ Lại có những đơn vị chỉ cóchức năng dẫn xuất và chức năng biểu hiện mà không có chức năng định danh
như: và, với, tuy, sẽ, nhưng, Nói một cách khác, các từ này chỉ có chức năng
ngữ pháp thuần tuý mà không có ý nghĩa từ vựng Người ta gọi các từ này làcác hư từ Mỗi lớp từ như vậy là một hệ thống lớn Mỗi hệ thống lớn lại baohàm nhiều hệ thống nhỏ Chẳng hạn, trong lớp thực từ ta có thể tập hợp các từ
có cùng một ý nghĩa chung thành các nhóm khác nhau: 1/ Nhóm 1: ăn, ngủ,
đi, đến, đổ, biểu thị ý nghĩa hành động, trạng thái 2/ Nhóm 2: nhà, áo, xe, bút, sách, biểu thị ý nghĩa sự vât, hiện tượng 3/ Nhóm 3: đẹp, xấu, to, dài,
Trang 15cao, thấp, biểu thị tính chất, đặc điểm Người ta gọi nhóm 1 là nhóm động
từ, nhóm 2 là nhóm danh từ, nhóm 3 là nhóm tính từ Cứ theo cách như vậy,
ta có thể tách các nhóm này thành các nhóm nhỏ hơn nữa Như vậy, mộtnhóm lớn bao giờ cũng bao gồm nhiều nhóm con theo những thứ bậc và trình
tự nhất định Bên cạnh đó, còn có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm
xúc nào đó trong thực tại chứ không có chức năng định danh như: à, ôi, ái, , những đơn vị như: tôi, nó, đấy, nọ, kia, vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc
lộ trong những hoàn cảnh nhất định Như vậy, ý nghĩa của những đơn vị(tiếng) đang xét rất đa dạng, trong bất cứ trường hợp nào ta cũng thấy sự gắn
bó không tách rời giữa mặt hình thức vật chất với mặt nội dung ý nghĩa
Các đơn vị như trên đều tham gia vào cấu tạo câu nói Tuỳ theo tínhchất, ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp
khác nhau ở trong câu Những đơn vị như: bàn, đi, ăn , đẹp, tốt, có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ Những đơn vị như: những, các, vẫn, đều, mãi, luôn
đi kèm với những đơn vị biểu thị sự vật, hành động, tính chất, bổ sung thêm ý
nghĩa cho những đơn vị đó Những đơn vị như: của, để, vì, bởi, nên, và, với,
mà, thì, làm chức năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu Còn
các đơn vị như: à, ôi, hả, ơi, đem lại cho câu nói một tình thái nào đó.
Những đặc trưng của cả phương diện vật chất lẫn mặt chức năng ýnghĩa trên đây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vịthực tại, hiển nhiên nhất đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là chúng trởthành từ đơn tiếng Việt
1.2.2.2 Quan niệm của GS Nguyễn Tài Cẩn
Trong tiếng Việt, có một loại đơn vị xưa nay người ta thường xuyên gọi
là “tiếng”, “tiếng một” hay là “chữ”, ví dụ: ăn, học, nhà, cửa, cao, rộng, và,
đã, sẽ, , gọi loại đơn vị này là “tiếng”, “tiếng một”, tức là căn cứ vào ngữ
âm; còn gọi là “chữ”, tức là căn cứ vào mặt văn tự (chữ viết) Trong tiếng
Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng phát ra một hơi, nghe thành một tiếng và cómang một thanh điệu nhất định Trong quan niệm của chúng tôi, mỗi một
Trang 16tiếng như thế chính là một đơn vị gốc – một hình vị - của ngữ pháp tiếng Việt.
Như vậy, tiếng là đơn vị có đủ cả hai đặc trưng: “đơn giản về mặt tổ chức và
có giá trị về mặt ngữ pháp” (Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt,
NXBĐHQGHN, 1997)
Nói: “tiếng là đơn vị đơn giản nhất về mặt tổ chức” là vì: xét ở góc độ
ngữ pháp, mỗi tiếng làm thành một chỉnh thể, không thể xé ra thành những bộ
phận nhỏ hơn được nữa Còn nói: “tiếng có giá trị về mặt ngữ pháp” là vì:
trong tiếng Việt, mỗi tiếng bao giờ cũng giúp ta giải thích được, phân tíchđược tổ chức bên trong của những đơn vị trực tiếp lớn hơn nó Do đó, khichúng ta tiến hành khảo sát, mỗi tiếng bao giờ cũng có thể tách rời khỏinhững tiếng bên cạnh bằng những đường ranh giới ngữ pháp Tiếng còn cókhả năng giải thích về mặt ngữ nghĩa Tiếng cũng có khả năng giải thích mặtđơn thuần hình thức Tác dụng của tiếng về mặt hình thái đơn thuần thể hiên
rõ nhất khi khảo sát các hiện tượng tách, hiện tượng lặp và hiện tượng iếc hoá
1.2.3 Đặc điểm của từ đơn tiếng Việt
Từ đơn tiếng Việt có những đặc điểm sau đây:
- Từ và các hình vị tiếng Việt đều có vỏ ngữ âm là âm tiết Trong cácngôn ngữ Ấn – Âu, từ có thể đơn tiết, có thể đa tiết Trong tiếng Việt, mỗi từđơn là một âm tiết Như vậy, từ của tiếng Việt trùng với hình vị Đây là mộtđặc điểm khác biệt giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Ấn – Âu, những ngôn ngữ
mà từ có thể gồm nhiều hình vị Do đó, từ đơn tiếng Việt còn được gọi là từđơn tiết
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (chẳng hạn: lời – nhời, trời –
giời, trăng – giăng, nhăn – răn, ), biến thể từ vựng - ngữ nghĩa: các ý nghĩa
khác nhau của các từ: chân, ăn, bạc nhưng không có biến thể hình thái học.
Dù đứng trong câu hay đứng riêng lẻ, một mình bao giờ chúng cũng giữnguyên một hình thức Đây là một điều khác hẳn với các ngôn ngữ Ấn – Âu
Ở các ngôn ngữ này, từ có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
- Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ởtrong từ tiếng Việt Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính trừu