Phần thứ hai gồm bốn chơng, trong đó bốn vấn đề lớn đợc khai thác một cách cụ thể đó là: Tố Hữu - ngời mở đầu nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, Tố Hữu - nhà thơ của tình thơng mến,
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, nhà thơ trữ tình chính trị của văn học Việt Nam thế kỷ XX Ông đợc mệnh danh là nhà thơ dân tộc số một Với giọng thơ trữ tình cách mạng hình tợng dân tộc hiện lên trong thơ Tố Hữu thật cảm động, sâu sắc, độc đáo Tố Hữu- nhà thơ lớn , ông đợc coi là ngời mở đầu và dẫn đầu cho nền thơ ca cách mạng Phơng pháp sáng tác của ông rất đa dạng, ông sử dụng nhiều thể thơ, nhng nổi trội hơn cả là thơ lục bát, một thể thơ truyền thống Tố Hữu để lại cho đời sau một di sản thơ đồ sộ với 286 bài thơ, trong đó thơ lục bát hoàn toàn là 75 bài, thơ lục bát khôngt hòn toàn là 25 bài Từ đó ta thấy thơ lục bát chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác thơ ca của
ông
Thơ lục bát của Tố Hữu đợc tuyển chọn làm tài liệu giảng dạy và học tập trong sách giáo khoa Ngữ văn ở trờng phổ thông ( các bài thơ: Kính gửi cụ
Nguyễn Du, Việt Bắc ) Điều đó, chứng tỏ thơ lục bát là thành tựu nổi bật nhất
trong sáng tác thơ của Tố Hữu và nó có một chỗ đứng xứng đáng trong việc dạy- học, cũng nh bồi dỡng tình cảm “ chân- thiện- mỹ” cho độc giả, nhất à độc giả học sinh
Với những lí do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài Thơ lục bát của Tố
Hữu để làm luận văn tốt nghiệp cao học, nghành văn học Việt Nam.
2 Mục đích yêu cầu
Nhằm chỉ ra vị trí vai trò đặc sắc về nội dung và nghệ thuật những bài thơ lục bát của Tố Hữu nhất là những bài đang đợc giảng dạy trong nhà trờng
Từ đó góp phần làm sáng tỏ nổi bật phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, phong cách thơ trữ tình chính trị
Trang 2đã đi đến những nhân định và nhất trí về t tởng thơ Tố Hữu Ông là một trong những nhà thơ xứng đáng tiêu biểu cho dòng thơ ca hiện thực xã hội chủ nghĩa của dân tôc Việt Nam, Tổ Quốc Việt Nam trong thời đại mới
Nghiên cứu thơ Tố Hữu có rất nhiều giáo trình đại học, các chuyên luận, các tạp chí và luận văn Thạc sĩ Văn học, trong đó có một số công trình lớn tiêu biểu
Về giáo trình đại học chuyên khảo, chuyên luận có các công trình:
3.1 - Cuốn Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử, Nhà xuất bản thông tin, Hà Nội 2005 Chuyên luận đợc xem nh một t liệu quý báu để nghiên cứu thơ lục bát của Tố Hữu Chuyên luận đợc kết cấu thành hai phần, phần thứ nhất gồm hai chơng Tác giả đề cập đến hai vấn đề đó là: Quan niệm của Tố Hữu về văn học nghệ thuật và sáng tạo thơ ca, và câu chuyện về con đờng thơ của Tố Hữu Phần thứ hai gồm bốn chơng, trong đó bốn vấn đề lớn đợc khai thác một cách cụ thể đó là: Tố Hữu - ngời mở đầu nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện
đại, Tố Hữu - nhà thơ của tình thơng mến, Tố Hữu - nhà thơ của những lẽ sống
Trang 3lớn thời đại và Tố Hữu- nhà thơ của tơng lai Trong bốn chơng, đáng chú ý nhất
là chơng IV, Trần Đình Sử đề cập tới thơ Tố Hữu một cách đầy đủ và có hệ thống những vấn đề liên quan đến đề tài nh : Lịch sử văn học dân tộc, những hình tợng, những tấm gơng anh hùng bất khuất Xét từ đối tợng, cũng nh nội dung thể hiện, thơ Tố Hữu đạt tới tính dân tộc rõ nét, nhất là các đề tài về ngời phụ nữ Việt Nam, anh Vệ quốc quân, những cô gái, những em nhỏ…nhằm khơi dậy tình cảm dân tộc, để cho mọi ngời thấm thía ý nghĩa của cuộc kháng chiến
ở đây, ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, nhịp điệu thể hiện phong cách dân tộc sâu sắc Thi pháp thơ Tố Hữu còn nói nhiều đến vấn đề ngôn ngữ trong thơ lục bát của Tố Hữu “ Ngôn ngữ thơ Tố Hữu thuộc ngôn ngữ thơ trữ tình điệu nói”
Đây cũng là một đặc trng của hiện tợng cộng sinh thể loại của quá trình hiện đại hoá Văn học; là biến câu thơ điệu ngâm thành câu thơ điệu nói Bên cạnh đó chuyên luận còn đề cập khả năng diễn đạt của câu thơ lục bát trong truyền thống văn học dân tộc Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử là một bớc đột phá trong quá trình tiếp cận và nghiên cứu thơ lục bát của Tố Hữu Ông chỉ ra những đóng góp lớn của Tố Hữu trong ngôn ngữ thơ, thể tài và sự nghiệp thơ ca Cách mạng Việt Nam Theo ông, Tố Hữu là ngời đầu tiên biết kết hợp hài hoà giữa, lí tởng cao đẹp nhất, sáng tỏ nhất của thời đại với hình thức ngôn ngữ mới của thơ ca Đấy cũng là nét duyên tạo sức hấp dẫn kì lạ của nhà thơ cộng sản luôn đứng trong hàng ngũ cần lao và cách mạng {58}
- Cuốn Về một đặc trng thi pháp thơ Việt Nam ( 1945- 1995 ) của Vũ Văn Sỹ, Nhà xuất bản khoa học xã hội - Hà Nội - 1999, đã nêu đợc những nội dung nh: Vai trò tự sự trong thơ trữ tình và sự biểu hiện của nó trong văn học cách mạng; Yếu tố sự kiện và trần thuật trong thơ trữ tình Việt Nam.{57}
- Phong Lê ( chủ biên ) Tố Hữu - thơ và Cách mạng - Nxb Trẻ- Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh - 2007 đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa tham gia hoạt động và sáng tạo thơ ca trong suốt
Trang 4cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu Công trình có những quan điểm khoa học về thơ
- Hà Minh Đức: Tố Hữu cách mạng và thơ, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia - Hà Nội - 2004
Cuốn sách là công trình tập hợp những bài viết của tác giả về nhà thơ Tố Hữu khoảng hai mơi năm qua Đó là những cuộc trò chuyện ghi chép về thơ giữa tác giả với nhà thơ Tố Hữu, là sự đánh giá, bình luận, cảm nhận về thơ Tố Hữu qua các chặng đờng thơ cũng nh chặng đờng hoạt động cách mạng.{10}
- Đỗ Quang Lu ( tuyển chọn ) Nghiên cứu bình luận thơ Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin - Hà Nội, 2006, đã nói về những câu chuyện về thơ của nhà thơ đối với đồng nghiệp, hay với giáo viên của các trờng ở đây ta thấy lý tởng của ngời cộng sản, của ngời thanh niên đầy sức trẻ, với niềm tin của một con ngời lần đầu tiên bắt gặp lý tởng cách mạng Cũng trong cuốn sách này ta đã phần nào thấy rõ phong cách sáng tác thơ của Tố Hữu.{50}
Nghiên cứu về thơ lục bát của Tố Hữu cũng có nhiều chuyên luận đề cập
về vấn đề này, nhng nổi bật hơn hẳn là chuyên luận Thơ Tố Hữu của Lê Đình
Kỵ - Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội - 1979 Chuyên luận đợc xây dựng trên ba phần, mỗi phần mang một nội dung khác nhau
Trang 5Phần một đã giới thiệu quá trình sáng tác của Tố Hữu qua các giai đoạn: trớc Cách mạng (Từ ấy) , kháng chiến chống Pháp ( Việt Bắc) và từ ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng cho đến nay( Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa ); tìm hiểu theo hai chủ đề lớn: xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nớc.
Phần hai Giới thiệu một số vấn đề về nội dung hiện thực, nội dung t tởng của thơ Tố Hữu, về dân tộc , về Đảng và lãnh tụ, về quê hơng đất nớc, về mối thống nhất khăng khít giữa cái riêng và cái chung,…Nhng điểm nhấn của nội dung có liên quan đến đề tài lại nằm ở phần ba của chuyên luận ở phần này, tác giả đề cập những vấn đề về phong cách nghệ thuật thơ lục bát của Tố Hữu qua bút pháp và phong cách biểu hiện, đi vào tìm hiểu những mặt mạnh trong phong cách thơ Tố Hữu nhìn chung, cũng nh qua các giai đoạn sáng tác khác nhau, nh lãng mạn cách mạng và trữ tình cách mạng; tính dân tộc và tính thời
đại, tầm cỡ khái quát, những tìm tòi về mặt biểu hiện, những đặc điểm về hình tợng, ngôn ngữ, nhạc điệu,…{35}
Về các bài báo viết về Tố Hữu và thơ lục bát của Tố Hữu:
- Nguyễn Phú Trọng, Phong vị ca dao dân ca trong thơ Tố Hữu, báo
Trang 6- Thành Duy, Những ký ức về nhà thơ Tố Hữu ( Nhân đọc tập “ Tố Hữu - Cách mạng và thơ” của Hà Minh Đức), số 6.7 - 6.7 - 2005.
3.2 Về các khóa luận, luận văn cao học những năm gần đây có liên quan
đến đề tài luận văn của chúng tôi nh:
- Phạm Minh Thuý với Nhịp trong thơ lục bát của Tố Hữu, Luận văn cao học khoá 5, Đại học S phạm Hà Nội, 1982
- Nguyễn thị Đào với Bằng trắc lục bát của Tố Hữu, khoá luận tốt nghiệp Đại học, Đại học Vinh- 2004
- Mai văn Phơng với Tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu trong đời sống Văn
học Cách mạng, Luận văn cao học khoá 14, Đại học Vinh, 2009.
Những công trình, bài viết, những khoá luận, luận văn trên đã nói một cách tơng đối đầy đủ, chính xác, sâu sắc về thơ Tố Hữu và có đề cập ở một khía cạnh nào đó về thơ lục bát của Tố Hữu
Thơ Tố Hữu có một lịch sử nghiên cứu, phê bình lâu dài, phong phú trong suốt thời gian qua và có lẽ không dừng lại ở đó Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều hớng vào và khẳng định thơ Tố Hữu là một tiếng thơ cuả thời
đại, phản ánh khí thế, lịch sử của từng giai đoạn cách mạng, khẳng định những
bớc tiến mới của thơ Tố Hữu Thơ Tố Hữu đã vợt ra khỏi bờ cõi, đợc dịch và
xuất bản ở nớc ngoài nh: Pháp, Đức
Hoàng Trung Thông nhận xét: Thơ Tố Hữu gần với quần chúng, rung
động sâu sắc trong lòng quần chúng vì nội dung t tởng, tình cảm của nó, và vì ngôn ngữ nhịp điệu của thơ Tố Hữu nằm trong truyền thống thơ ca dân tộc
Huỳnh Lý cùng mạch suy tởng nhận định về thơ Tố Hữu: Càng về sau càng
thâm nhập vào quần chúng và khi tìm cách diễn đạt đúng nguyện vọng và tâm tình của ngời nông dân Tố Hữu gặp lại tinh thần dân tộc trong ca dao Chế
Lan Viên thì cho rằng Thơ là đi giữa nhạc và ý rơi vào cái vực ý thì thơ sâu
nhng rất dễ khô khan, rơi vào cái vực nhạc thì thơ dễ đắm say lòng ngời, nhng cũng dễ nông cạn Tố Hữu đã giữ đợc cái thế bình quân giữa hai vực thu hút
Trang 7ấy Thơ Tố Hữu ru ngời trong nhạc, đánh thức bằng ý Trong công trình
nghiên cứu về thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử nhận xét : Tố Hữu đã sáng tạo thể
hiện con ngời độc đáo, mới mẻ đó là con ngời khí phách {39}
Nhìn chung, giới nghiên cứu, phê bình thơ Tố Hữu ngày càng đi tới tiếp cận toàn diện hơn, chính xác hơn về thế giới nghệ thuật và cái tôi trữ tình của nhà thơ, đặt thơ Tố Hữu trong sự vận động xu thế chung của nền thơ hiện đại Việt Nam
Từ trớc cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu dới những góc độ khác nhau Theo thống kê của chúng tôi hiện nay có khoảng trên 200 công trình, chuyên luận, bài viết, nghiên cứu và biên soạn về thơ Tố Hữu của các tác giả trong và ngoài nớc Sự tham gia sâu rộng của nhiều cây bút sáng tác, lý luận, lãnh đạo Văn nghệ, các độc giả, các cơ quan báo chí cho thấy thơ Tố Hữu có ý nghĩa vô cùng qua trọng trong đời sống văn học nớc nhà Song, cha có ai tập trung nghiên cứu thơ lục bát của Tố Hữu một cách sâu sắc Tuy vậy, khi đi tìm hiểu thơ lục bát của Tố Hữu, chúng tôi sẽ dựa vào những thành tựu nghiên cứu của ngời đi trớc, với ý thức kế thừa và phát huy, để có cái nhìn
Trang 8Chỉ ra các giá trị về nội dung và nghệ thuật trong thơ lục bát của Tố Hữu, khẳng định đặc sắc thẩm mĩ trong thơ lục bát của Tố Hữu Bên cạnh đó, nêu bật lên những đóng góp, cống hiến trong thơ lục bát của Tố Hữu đối với lịch sử văn học Việt Nam
6.2 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đợc triển khai trong ba chơng:
Chơng 1: Tổng quan về thơ Tố Hữu và thơ lục bát của Tố Hữu
Chơng 2: Nội dung thơ lục bát của Tố Hữu
Chơng 3: Nghệ thuật thơ lục bát của Tố Hữu
Trang 9Chơng I Tổng quan về thơ Tố Hữu và thơ lục bát của Tố Hữu
1.1 Vài nét về Tố Hữu và thơ Tố Hữu
1.1.1 Cuộc đời Tố Hữu
Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 04-10-1920 tại làng Phù lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong một gia đình nhà nho nghèo Mẹ ông vốn là con của một nhà nho, bà cũng thuộc rất nhiều ca dao, tục ngữ Từ nhỏ Tố Hữu sớm đợc cha dạy cho làm thơ theo lối cổ Ông sớm mồ côi mẹ, tuổi thiếu niên đã xa nhà vào Đà Nẵng học tiểu học Năm 13 tuổi, Tố Hữu vào học trờng Quốc học Huế Xứ Huế với thiên nhiên thơ mộng và nền văn hoá phong phú, độc đáo đã ảnh hởng lớn đến thơ
Tố Hữu
Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng do Đảng cộng sản Đông Dơng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, Tố Hữu sớm giác ngộ lí tởng cộng sản và hăng hái tham gia hoạt động cách mạng Năm 1936, ông gia nhập Đoàn Thanh niên cộng sản và trở thành ngời lãnh đạo Đoàn thanh niên dân chủ ở Huế Năm
1937, Tố Hữu đã bắt đầu có thơ đăng báo Năm 1938, Tố Hữu gia nhập Đảng cộng sản Đông Dơng Tháng 4 năm 1939, Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt giam, tháng 3 năm 1942, Tố Hữu vợt ngục Đắc Lay, trở về hoạt động bí mật tại Thanh Hoá Tháng 8 năm 1945, Tố Hữu là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế và sau đó là bí th Xứ uỷ Trung Kỳ Năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng
nổ, Tố Hữu trở lại Thanh Hoá Năm 1947, Tố Hữu đợc Trung ơng Đảng điều
động ra Việt Bắc phụ trách công tác văn nghệ và là Trởng ban văn nghệ Trung
-ơng Năm 1948, thành lập Hội văn nghệ ViệtNam, Tố Hữu tham gia Ban chấp hành Hội Năm 1951, tại hội nghị lần thứ 2 của Đảng, Tố Hữu đợc bầu làm uỷ viên dự khuyết Trung ơng Đảng Năm 1955 là uỷ viên chính thức Trung ơng
Đảng, Năm 1960, tại hội nghị lần 3 của Đảng, Tố Hữu đợc bầu vào Ban chấp
Trang 10hành Trung ơng Đảng, là uỷ viên Ban chấp hành Trung ơng Đảng từ năm
1960-1980 Năm 1976, tại đại hội lần thứ t của Đảng, Tố Hữu đợc bầu làm Uỷ viên
dự khuyết của Bộ chính trị và từ năm 1981 đợc cử giữ chức Phó Chủ tịch Hội
đồng bộ trởng Năm 1982, tại đại hội lần thứ năm của Đảng, Tố Hữu đợc bầu làm uỷ viên Bộ chính trị, Bí th Trung ơng Đảng Ngoài ra, Tố Hữu còn đảm nhiệm các cơng vị: Hiệu trởng trờng Nguyễn ái Quốc, Trởng ban thống nhất Trung ơng Đảng, Trởng ban tuyên huấn Trung ơng Tố Hữu mất ngày 09 - 02 -
2002 tại Hà Nội, sau một thời gian lâm bệnh nặng
1.1.2 Hành trình thơ Tố Hữu
Tố Hữu là một tác gia lớn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Hơn 60 năm cầm bút, ông để lại cho đời một di sản văn học đồ sộ với các thể loại nh: Thơ, dịch thuật, lý luận; cả 3 thể loại này Tố Hữu đều đạt những thành tựu lớn, để lại dấu ấn riêng
Tháng 10-1937 là mốc khởi đầu trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu Khi
ấy ông đợc đăng liền một số bài thơ nh: Mồ côi ; Hai đứa trẻ; Vú em…Năm
1946 ông xuất bản tập thơ đầu, lấy tên Thơ, do Hội Văn hoá cứu quốc Việt Nam xuất bản tại Hà Nội Năm 1959, tập thơ này đợc in lại có bổ sung và đổi tên thành tập thơ Từ ấy Năm 1954, Tố Hữu xuất bản tập thơ: Việt Bắc Sau đó
ông liên tục cho ra đời nhiều tập thơ lớn , nh; Gió lộng (1961), Ra trận (1972 ),
Máu và Hoa (1978), Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999).
Hầu nh các tập thơ của Tố Hữu vừa có giá trị ở trong nớc, lại vừa có giá trị
ở ngoài nớc, cho nên đợc dịch ra tiếng nớc ngoài và đã chiếm lĩnh đợc sự yêu thích của đông đảo độc giả nớc ngoài Từ ấy đợc Phạm Huy Thông dịch sang tiếng Pháp mang tựa đề Dep puis Tuyển tập thơ Tố Hữu đợc Đào Anh Kha dịch ra Quốc tế ngữ mang tựa đề E speranto Năm 1964 Máu và hoa - Con đ-
ờng thơ của Tố Hữu đợc M Gau sef dịch ra tiếng Pháp có tựa đề Sang et flchess-Le Chemin dupoete Tố Hữu Năm 1975 Tố Hữu Thơ đợc Trần Đơng
dịch ra tiếng Đức với tựa đề Tố Hữu Gedich te Về mặt lý luận , Tố Hữu đã có những đóng góp đáng kể, với hàng loạt các tác phẩm nh : Về văn học nghệ
Trang 11thuật (1972) ; Xây dựng nền văn học nghệ thuật (1972); Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta (1973); Cuộc sống cách mạng
và văn học nghệ thuật (1981); Phấn đấu nền văn nghệ xã hội chủ nghiã (1982)
Về dịch thuật, Tố Hữu đợc đánh giá là dịch giả trung thành với nguyên tác, nhng đã truyền đạt đợc cái hồn của nguyên tác đến độc giả Việt Nam Một
số tác phẩm văn học Nga, Pháp…đã đợc Tố Hữu dịch sang tiếng Việt khá thành công, nh bài thơ Đợi anh về của Ximô nốp, dịch năm1998; Bài thơ tặng
Đảng của mình của Ara Gông ;…
Cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi của Tố Hữu đã để lại cho chúng ta khoảng 25 tập sách, trong đó có 7 tập thơ lớn, đợc giới nghiên cứu quan tâm, một số tác phẩm thơ dịch từ thơ nớc ngoài sang tiếng Việt, 4 tác phẩm lí luận và rất nhiều cuộc nói chuyện về thơ và văn nghệ
Con đờng thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với con đờng đấu tranh cách mạngViệt Nam Hoạt động chủ yếu trong cuộc đời Tố Hữu là làm cách mạng và làm thơ cách mạng Bởi vậy khi có ngời hỏi nhà thơ rằng: Công việc hoạt động chính trị có ảnh hởng đến việc làm thơ hay không thì Tố Hữu đã trả lời : “ 60 năm qua , tôi hoạt động trên nhiều lĩnh vực Công tác chính trị, kinh tế đòi hỏi trí tuệ và tính cụ thể, chính xác, còn thơ lại yêu cầu tình cảm, sự xúc động cuả tâm hồn, tính trừu tợng Đối với tôi hoạt động chính trị và sáng tác thơ dù khác nhau nhng vẫn có cái gốc chung là nhiệm vụ cách mạng và đều phải thấu nhân
tình:
Làm bí th hoài có bí…thơ ?
Rằng thơ với Đảng nặng duyên tơ
Thuyền bơi có lái qua ma gió
Không lái thuyền trôi lạc bến bờ
(Chuyện thơ )
Trong cuộc đời sáng tác, Tố Hữu đã đạt nhiều giải thởng lớn Những giải thởng của Tố Hữu nh: Giải nhất giải thởng của Hội văn nghệ Việt Nam (1954-1955) cho tập Việt Bắc; Giải thởng văn học Đông Nam á của Thái Lan năm
Trang 121966 cho tập thơ Một tiếng đờn; giải thởng Văn học Hồ Chí Minh về văn hoá nghệ thuật (đợt 1) năm 1996 Hơn thế, Tố Hữu chiếm lĩnh đợc sự đam mê, yêu thích của nhiều độc giả trong và ngoài nớc, xứng đáng đợc giới phê bình nghiên cứu văn học đánh giá là nhà thơ xuất sắc của thơ ca cách mạng Tố Hữu để lại nhiều quan niệm súc tích về thơ nh : Thơ là tiếng nói hồn nhiên của tâm
hồn con ngời trớc cuộc đời; Thơ là cái nhụy của cuộc sống; Thơ là chuỵện
đồng điệu; thơ là tiếng nói tri âm; thơ là tiếng nói đồng chí; thơ là kết quả của
sự nhập tâm, trí tuệ, tài năng của nhân dân, thơ không phải là văn chơng mà chính là gan ruột; thơ là biểu hiện tính chất của cuộc sống và nhụy hoa của
tâm hồn tình cảm cách mạng là cái gốc của hồn thơ và sự sáng tạo Do đó, làm
thơ tuy phát sinh từ tấm lòng riêng của Tố Hữu nhng đã gắn bó từ trong ngọn nguồn lí tởng và tình cảm chung của quần chúng cách mạng
Thơ Tố Hữu ngay từ buổi đầu đã thể hiện khát vọng tìm chân lý, “mặt trời chân lý” đã đến với thơ ông
Ta thấy, giữa không khí thơ bị vây bọc trong nỗi buồn uỷ mị, trong cái tôi cá nhân đầy tiêu cực của phong trào Thơ mới, Tố Hữu đã xuất hiện Nhà thơ tìm
đến với nhân dân, với những ngới cùng khổ, hoà nhập vào cuộc sống bị đoạ đày của họ để kêu gọi đấu tranh Tình cảm yêu nớc, khát vọng t do, lòng căm giận
kẻ thù là động lực thúc đẩy Tố Hữu yêu thơng những kiếp ngời bị cuộc đời hắt hủi ; đọa đày và ông đã say sa; lạc quan, tin tởng vào cách mạng, vào lý tởng cộng sản Nhân vật trong thơ Tố Hữu không phải là “Ông hoàng, Bà chúa” hay những hoàng gia, quý tộc, mà đó là những con ngời cùng khổ Hàng loạt những ngời cùng khổ chủ yếu là ngời thành thị nh: những em bé mồ côi, chị vú em,
em bé đi ở, em bé hát rong …Tập thơ Từ ấy - tập thơ đầu tay của Tố Hữu gồm
có ba phần:
Máu lửa : gồm 27 bài, là thơ của Tố Hữu sáng tác ở thời kỳ Mặt trận dân
chủ; tập trung vào những vấn đề lớn của thời đại nh chống phát xít, phong kiến; vấn đề quyền sống của con ngời và cách mạng giải phóng dân tộc Xiềng xích
Trang 13gồm 30 bài đợc Tố Hữu viết trong tù, thể hiện nỗi buồn đau và ý chí, khí phách của ngời chiến sĩ cách mạng trong chốn lao tù Giải phóng gồm 14 bài đợc Tố Hữu viết từ lúc vợt ngục đến một năm sau độc lập, chủ yếu ca ngợi lí tởng, quyết tâm đuổi giặc cứu nớc và niềm vui chiến thắng.
Trong Từ ấy không chỉ có tiếng chim rộn rã và hơng hoa, niềm vui bắt gặp lí tởng, mà còn có những lời động viên, an ủi, chia sẻ đối với những số phận bất hạnh Từ ấy là tiếng thét đầy căm hờn, là hồi kèn xung trận thôi thúc mọi ngời xông lên lao vào trận chiến với kẻ thù để giành lại quyền sống cho mình.Tập thơ Từ ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, tạo bớc ngoặt lớn cho quá trình phát triển thơ ca Việt Nam hiện đại
- Việt Bắc: gồm 25 bài sáng tác giai đoạn (1946-1954)
Là bức tranh tâm tình của con ngời Việt Nam trong kháng chiến, khẳng
định quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn của đất nớc Cuộc kháng chiến thật nhộn nhịp, hồ hởi, nhng cũng vô cùng gian khổ, đau thơng Nổi bật nhất là hình ảnh quần chúng nhân dân, với những cô gái, em nhỏ, anh Vệ Quốc quân, hình ảnh Bác Hồ; tất cả đợc hiện lên thật gần gũi, nhng cũng hết sức lớn lao, cao đẹp
- Gió lộng gồm 25 bài sáng tác giai đoạn (1955- 1961)
ở đây cái tôi trữ tình sôi nổi đợc bộc lộ trên nền hiện thực hoành tráng của cuộc sống mới Gió lộng là thơ của những lời tri ân đối với Đảng, Bác Hồ, với nhân dân Tinh thần quốc tế vô sản cũng đợc đề cập Giọng thơ anh hùng ca ngày càng khẳng định, đề tài bao quát hiện thực, ý thơ mang tầm t tởng cao
Ra trận: Gồm 35 bài, sáng tác giai đoạn (1962- 1971)
Vốn là hồn thơ yêu thơng, nghĩa tình, Tố Hữu ao ớc đợc làm thơ ca ngợi
đất nớc thanh bình Nhng khi miền Nam, rồi cả nớc chìm trong khói lửa chiến
Trang 14tranh, Tố Hữu giành phần lớn tâm huyết để ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, do đó giọng điệu tập thơ thấm đẫm chất hùng ca.
- Máu và hoa: gồm 13 bài sáng tác giai đoạn (1972- 1977)
Có ý nghĩa tổng kết quá trình phát triển của dân tộc, của cách mạng Việt Nam, một hành trình đầy máu và hoa “Máu” biểu tợng cho nỗi đau uất hận trong hàng nghìn năm nô lệ và sự hi sinh, xả thân vì nghĩa lớn “Hoa”; biểu tợng cho vẻ đẹp của lí tởng cộng sản, chủ nghĩa anh hùng và niềm vui ngày chiến thắng
- Một tiếng đờn: gồm 73 bài sáng tác giai đoạn (1979-1992) Đợc giải ởng Asean
th-Đó là những dòng tâm t, trăn trở từ mạch cảm xúc trong thời hoà bình Xuất hiện những dòng thơ tơi xanh, mang đậm cảm hứng thế sự Đề tài phong phú, đa dạng, ngợi ca vẻ đẹp của quê hơng đất nớc, con ngời, công cuộc xây dựng đất nớc đầy phức tạp, tình yêu và số phận con ngời….âm hởng thơ bớt vang xa (hớng ngoại) mà vọng sâu hơn (hớng nội)
- Ta với ta: gồm 40 bài sáng tác giai đoạn (1993-2001)
Là tập thơ có nhiều niềm vui, nhà thơ đã nhìn ra sợi dây ràng buộc vững chắc với đất nớc, với nhân dân mang nặng tình đời, tình cảm với đất nớc, nhân dân, bạn bè, cảm hứng đầy lạc quan, tin tởng Đó là tập thơ mang đầy kỷ niệm thời gian cá nhân, …
Con đờng thơ Tố Hữu và quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam là song hành Bám thật chắc vào hiện thực đời sống, ở những khúc quanh, những bớc ngoặt quan trọng, thơ Tố Hữu thờng tỏ ra thích ứng rất nhanh, cắm đợc nhiều cột mốc lịch sử Tố Hữu là ngời viết lịch sử Việt Nam hiện đại bằng thơ Vì vậy ở trờng phổ thông trung học và trung học cơ sở có sử dụng một số bài thơ lục bát của Tố Hữu nh: Khi con tu hú; Kính gửi Cụ Nguyễn Du; Việt Bắc,
…để dạy học cho học sinh.
1.1.3 Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc.
Trang 15Từ Từ ấy đến Ta với ta , thơ Tố Hữu là một thành tựu quan trọng, tạo nên khuôn mặt đẹp cho thơ ca Việt Nam hiện đại Trên nửa thế kỷ qua, nhân dân ta
từ trong vòng nô lệ đã quật khởi vùng lên giành chính quyền thắng lợi Có biết bao niềm vui từ những ngày tháng Tám, rồi thắng lợi của hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc và kỷ nguyên độc lập dân tộc, tự do và chủ nghĩa xã hội trên đất nớc Những sự kiện đó dồn dập đi hết cuộc đời của một con ngời Tố Hữu đã chứng kiến, tham dự và đóng góp vào quá trình đó với t cách ngời chiến
sĩ cách mạng đấu tranh không mệt mỏi và là một nhà thơ mang hồn thơ của thời
đại Tiếng nói thơ ca của Tố Hữu đã biết quy tụ và kết tinh đợc nhiều giá trị nhân văn và sức mạnh tinh thần của đời sống dân tộc Từ những năm đau thơng trong cuộc đời cũ, ngời thanh niên trí thức ấy đã tìm đến với cách mạng Niềm vui bắt gặp lý tởng, những thử thách trong cảnh tù đày, những ngày hoạt động
bí mật với sự chở che đùm bọc của đồng bào, rồi là ngời lãnh đạo trên thành phố quê hơng Tuổi trẻ hiến dâng và thử thách ấy đợc in đậm trên những trang thơ Từ ấy cái thời điểm giàu ý nghĩa của một tâm hồn thơ khi tìm đợc lý tởng,
đã đa dòng thơ đi về phía cuộc đời, gắn bó với những ngời anh em lao khổ và tiếp nhận đợc sinh lực mới không bao giờ cạn Thơ Tố Hữu ngay từ dòng đầu đã hoà nhập đợc với dòng đời chung Cái tôi trữ tình ấy trên hành trình thơ không qua một chặng đờng nào đơn độc, kể cả những ngày tù đày phải qua những giờ phút cô đơn, xa cuộc đời Trong một lần nói chuyện về thơ, Tố Hữu mong ớc là không lặp lại mình Điều mong ớc tuy giản dị nhng thật lớn lao đối với cuộc đời thơ của ông và Tố Hữu đã thực hiện đợc mong ớc ấy Vẫn là giọng điệu trữ tình thiết tha, đầm ấm nh tiếng nói của con tim, nh một lời tâm sự dặn dò, vẫn là cái nhìn sắc sảo trên dòng thời cuộc, trong cơn xoáy lốc, trớc những ngã ba đờng và cả trong những phút bình yên, thanh thản, nhng thơ Tố Hữu vẫn mang một nét riêng, một phong cách riêng mà không phải nhà thơ nào cũng có đợc
Tập thơ Từ ấy có lòng thơng cảm sâu sắc, da diết của ngời thanh niên với những ngời nghèo khổ, cô gái giang hồ tủi phận, em nhỏ bơ vơ, những ngời già
Trang 16vất vả; có tâm trạng dày vò xót xa cho quê hơng đang chìm trong sơng khói ảm
đạm của cuộc đời cũ Nổi lên hơn cả là tuổi trẻ hiến dâng, sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách tù đày và đấu tranh cho lý tởng Cách Mạng ở Từ ấy- Tố Hữu đã
đặt ra nhiều vấn đề trớc cuộc đời Ngời thanh niên trí thức, khi tâm hồn bừng sáng lý tởng cách mạng, đã nhìn cuộc đời từ nhiều phía, trong quan hệ giữa cái riêng và cái chung, dân tộc và thời đại, sự sống và cái chết, hạnh phúc và hy sinh,…Từ ấy mang theo hơi thở và máu thịt của cuộc đời chung, nhng trớc hết
là của tác giả: sôi nổi, trẻ trung và thanh khiết
Có thể nói thơ Tố Hữu có mặt trên những vấn đề thời sự nhất của đất nớc Trong suốt nửa thế kỷ qua ở mũi nhọn và trong cơn lốc xoáy của lịch sử Tố Hữu đã nói đến “điểm tựa của lịch sử , hạt giống của mùa sau, ánh sáng trong
đêm” và ý thức ấy đã đợc thể hiện trong sáng tác của ông
Cánh mạng tháng Tám thành công, Tố Hữu có Huế tháng Tám ; kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc có Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới
và Việt Bắc, những năm tháng xây dựng hoà bình thắng lợi có Bài ca mùa
xuân 1961 và ngay sau đó là Nớc non ngàn dặm Đất nớc thắng lợi sau bao
nhiêu năm chiến đấu Tố Hữu viết Toàn thắng về ta; Bài ca quê hơng Tố Hữu
đã bắt nhịp hơi thở của thời đại, của dòng sự kiện và cho ra đời những bài thơ mang dáng vóc thời đại
Thơ Tố Hữu trở về với cách nói gần gũi, chân tình đằm thắm của thơ truyền thống Tố Hữu đã sử dụng thành công nhiều hình thức thơ dân tộc Thể lục bát đợc nhà thơ sử dụng khá nhiều, chính điều ấy đã nói lên tầm quan trọng của thể thơ lục bát đối với thơ Tố Hữu Thơ lục bát trong thơ Tố Hữu thể hiện giọng điệu thơ đằm thắm, thiết tha mang hồn quê hơng đất nớc nh các bài
Bầm ơi; Việt Bắc; và sau này với Tiếng hát sang xuân; Bài ca quê hơng; nhất
là bài Nớc non ngàn dặm,…Tố Hữu trở thành một trong số những ngời làm thơ lục bát hay nhất ở giai đoạn sau cách mạng Tố Hữu không trăn trở để đổi mới
Trang 17cấu trúc câu thơ lục bát Thơ lục bát của Tố Hữu gắn với mạch thơ của ca dao, của Truyện Kiều nhng lại hài hoà với nhiều đề tài cách mạng.
1 1 4 Tố Hữu ngời mở đờng cho nền thơ cách mạng Việt Nam hiện đại.
Với Từ ấy, Tố Hữu lấy lại lòng tin vào đờng lối văn học cách mạng cho nhà văn lẫn bạn đọc Với Từ ấy, Tố Hữu, khẳng định phẩm chất thẩm mỹ mới của thơ Việt Nam
Tập Việt Bắc là tiếng hát toàn dân kháng chiến Lời thơ bình dị, gần với lời ăn tiếng nói của công nông binh đánh giặc Với Việt Bắc, Tố Hữu đã đi từ tâm tình cá thể đến tâm tình cộng đồng Nhà thơ đã phát hiện và biểu dơng những tình cảm cao cả của ngời dân thờng Chủ đề của thơ là lòng yêu nớc, đề tài của thơ là cuộc sống đánh giặc Tác động tình cảm của thơ là xây dựng tình cảm yêu nớc, hi sinh chiến đấu
Với Việt Bắc, hình ảnh ngời dân thờng yêu nớc đợc Tố Hữu khắc hoạ và trở thành biểu tợng mĩ học cho một giai đoạn thơ ca
Tập thơ Gió Lộng thể hiện nỗi niềm phấn chấn của con ngời Việt Nam xây dựng đất nớc Thời kỳ này, thơ Tố Hữu cũng lộng gió, gió của tâm hồn, của nghệ thuật và trở thành một động lực tinh thần tác động tới đời sống xã hội
Ra trận là tập thơ kháng chiến chống Mỹ cứu nớc Đề tài mở rộng nh đánh
dấu những sự kiện chính trị quân sự của đời sống Thơ Tố Hữu hớng tới những tình cảm phổ quát, cộng hởng với lòng mọi ngời Đề tài rất thời sự về đất nớc mang ý thơ thấm thía lâu bền và phẩm chất về nhân dân trong thơ Tố Hữu ngày càng sâu sắc nhuần nhuyễn
ở hai tập thơ cuối của Tố Hữu là Một tiếng đờn , Ta với ta , ông vẫn
thuỷ chung với nguồn đề tài của đời sống cách mạng, của toàn đất nớc
Tố Hữu là con chim đầu đàn của đội ngũ nhà thơ hiện đại Việt Nam thế kỷ
XX - XXI T tởng tiên tiến của thời đại cách mạng, lòng tin yêu sâu thẳm đối với nhân dân đợc Tố Hữu thể hiện trong một hình thức nghệ thuật tinh tế Vì
Trang 18vậy những giai đoạn, thơ Tố Hữu trở thành chỗ dựa tinh thần cho mọi ngời, thơ
đối với ông là phơng tiện phục vụ cách mạng
1.2 Giới thiệu thơ lục bát của Tố Hữu
1.2.1 Số lợng thơ lục bát của Tố Hữu
Tố Hữu có 286 bài thơ thuộc 7 chặng đờng thơ đã giới thiệu trong cuốn
Thơ Tố Hữu của Nhà xuất bản Văn hoá thông tin Hà Nội, năm 2002, trong đó
thể lục bát đợc Tố Hữu sử dụng trong thơ là 100 bài ( 75 bài hoàn toàn lục bát,
25 bài xen lục bát với các thể thơ khác )
Thơ lục bát hoàn toàn đầu tiên là bài Tiếng sáo Ly Quê sáng tác năm (1938) trong tập thơ Từ ấy, bài lục bát hoàn toàn cuối cùng là bài Sông Gianh
đợc ông sáng tác vào ( 5- 2000) nằm trong tập Ta với ta
Bài thơ lục bát không hoàn toàn đầu tiên là bài Tiếng hát sông Hơng đợc
Tố Hữu sáng tác ( 8- 1938) nằm trong tập Từ ấy Bài lục bát không hoàn toàn cuối cùng là bài Bài ca quê hơng sáng tác năm (5- 1975), trong tập thơ Máu và
hoa.
- Tập Từ ấy ( 1937- 1946 ), có 12 bài
+ 8 bài lục bát hoàn toàn gồm những bài : (Tiếng sáo Ly Quê; Khi con tu
hú; Đông; Cảm thông; Đêm giao thừa; Tiếng hát trên đê; Vỡ bờ; Đói! đói.)
+ 4 bài lục bát biến thể gồm những bài : (Tiếng hát sông Hơng; Năm xa;
Bà má Hậu Giang; Tiếng hát đi đày)
- Tập Việt Bắc (1946- 1954 ),có 16 bài, 6 bài lục bát hoàn toàn, 10 bài lục bát không hoàn toàn
+ 6 bài lục bát hoàn toàn gồm những bài :
Bà bủ; Bầm ơi; Bài ca du kích; Cho đời tự do; Nếu thầy mẹ chết; Hoan hô chiến sĩ Điện Biên; Việt Bắc.
Trang 19+ 10 bài thơ lục bát không hoàn toàn gồm : Cá nớc; Giữa thành phố trụi;
Phá đờng; Bà mẹ Việt Bắc; Lên Tây Bắc; Ma rơi; A- lêu -sa nhớ chăng; Sáng tháng Năm; Lại về; Hoan hô chiến sĩ Điện Biên.
- Tập Gió lộng (1955- 1961), có 10 bài thơ lục bát, trong đó có 5 bài lục báthoàn toàn,
+ 5 bài lục bát không hoàn toàn
+ 5 bài lục bát không hoàn toàn gồm những bài:
Xa…nay; Chị là ngời mẹ; Ba bài thơ trăng; Tiếng ru; Cánh chim không mỏi.
+ 5 bài lục bát không hoàn toàn gồm những bài:
Hai anh em; Vinh quang Tổ quốc chúng ta; Đờng sang nớc bạn; Ba mơi năm đời ta có Đảng; Bài ca mùa xuân năm 1961.
- Tập Ra trận ( 1962- 1971), có 7 bài lục bát, trong đó 6 bài lục bát hoàn và 1 bài lục bát không hoàn toàn
+ 6 bài lục bát hoàn toàn gồm :
Nhật ký đờng về; Tiếng hát sang xuân; Đờng vào; Kính gửi cụ Nguyễn Du; Mẹ Suốt; Chuyện em.
+ 1 bài lục không hoàn toàn đó là bài: Xuân sớm
- Tập Máu và hoa có 4 bài lục bát hoàn toàn đó là : Cây hồng; Thăm trại
Ba Vì; Nớc non ngàn dặm; Bài ca quê hơng.
- Tập Một tiếng đờn ( 1979- 1992 ) gồm 33 bài lục bát hoàn toàn gồm
những bài đó là :
Phút giây; Mừng thọ bác Nguyễn Phan Chánh; Làng Thợng; Ngày và
Đêm; Xta- lin- Grat anh hùng; Phồn xơng; Đêm thu quan họ; Hà Trung; Luy lâu; Cẩm Thuỷ; Nh Xuân; Nông Cống: Tĩnh Gia: Hoằng Hoá; Quảng Xơng; Hậu Lộc; Vờn nhà; Dỡng sinh; Nhớ Chế Lan Viên; Một thoáng Cà Mau;
Đêm Năm Căn; Đồng thoại Sơn; Nhà họa sĩ Tô Ngọc Vân; Chợ Đồngb Xuân;
Trang 20Mới; Lạ cha; Vờn cam Tờng Lộc; Đồng Tháp Mời; Tằm tơ Bảo Lộc; Xuân hành 92.
- Tập Ta với ta ( 1993- 2001) gồm 6 bài lục bát hoàn toàn đó là:
Con ngời; Về quê; Nghe cu cờm gáy; Lòn bon; Cầu Hiền Lơng; Sông Gianh.
Qua quá trình khảo sát 7 tập thơ của Tố Hữu, chúng tôi thấy tập Một
tiếng đờn có số bài thơ lục bát nhiều nhất trong 7 tập thơ của ông, có số bài thơ
lục bát hoàn toàn tới 33 bài Tập có số bài lục bát hoàn toàn ít nhất là tập Máu
và hoa gồm 4 bài, Tập thơ có số bài lục bát không hoàn toàn nhiều nhất là tập Việt Bắc với 10 bài, 3 tập không có bài thơ lục bát không hoàn toàn nào đó là Máu và hoa; Một tiếng đờn; Ta với ta.
Bài thơ lục bát chính thể có số câu nhiều nhất là bài Nớc non ngàn dặm với 318 câu Bài thơ lục bát toàn có số câu ít nhất là 2 bài Dỡng sinh và bài
Nông Cống trong tập Máu và hoa với 6 câu Bài thơ lục bát không hoàn toàn có
số câu thơ lục bát nhiều nhất là bài Ba mơi năm đời ta có Đảng với 128 câu, và bài lục bát không hoàn toàn có số câu lục bát ít nhất là bài Cá nớc với 8 câu
Từ sự khảo sát trên ta thấy thơ lục bát chiếm một số lợng khá lớn trong tổng số bài thơ mà ông đã sáng tác, từ đó ta thấy thơ lục bát có vai trò quan trọng trong sự nghiệp làm thơ của Tố Hữu
1 2 2 Một số nhận xét bớc đầu về thơ lục bát của Tố Hữu
Qua khảo sát thơ Tố Hữu, chúng tôi thấy thể thơ lục bát đợc ông sử dụng nhiều nhất và rất thành công Nhiều bài thơ lục bát của Tố Hữu mang phong vị
ca dao rõ rệt, và vì mang phong vị ca dao nên dễ đi vào lòng quần chúng Không chỉ thế, câu thơ lục bát của Tố Hữu còn rất giàu có và đa dạng Nó vừa kết hợp đợc điệu lục bát biến thể rất cổ của tầng lớp bình dân đông đảo:
Nhà em con bế con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đờng quan
Trang 21Ngôn ngữ Việt Nam vốn rất nhiều thanh điệu Mà thể thơ lục bát rất phù hợp với thính giác của ngời Việt Nam Phải chăng vì thể thơ lục bát rất tinh tế,
đủ độ uyển chuyển để phát huy đến mức cao nhất u thế về thanh điệu của ngôn ngữ dân tộc Thơ lục bát ra đời trong tiếng hát và làm nên tiếng hát lời ru Nguyễn Du- đại thi hào dân tộc đã khai thác triệt để tính trầm bổng, dìu dặt, nhẹ nhàng của thể thơ lục bát bằng thủ pháp trùng điệp đối câu, đối chữ, đối ý:
Khi tỉnh rợu, lúc tàn canh Giật mình, mình lại thơng mình xót xa.
Trang 22Có bà ru cháu ngồi khoanh lòng già Cháu ơi cháu lớn với bà
Bố mày đi đánh giặc xa cha về
( Nớc non ngàn dặm)
Vẫn những dòng thơ lục bát, song với Tố Hữu thì lại mang một nội dung mới Các hình ảnh dùng để chỉ anh hùng cá nhân thời phong kiến, kiểu:
Một tay gây dựng cơ đồ Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành
( Truyện Kiều)
Cũng đợc sử thi hoá mang nội dung mới:
Mái chèo một chiếc xuồng con
Mà sông nớc dậy sóng cồn đại dơng
( Tiếng hát sang xuân )
Và trải khắp các tập thơ của Tố Hữu, tác giả đều sử dụng thể thơ dân tộc
- thể thơ lục bát Phải chăng vì thế mà thơ Tố Hữu gần gũi với quần chúng hơn, mang đậm bản sắc dân tộc hơn:
- Trải qua một cuộc bể dâu Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình
( Bài ca mùa xuân năm 1961)
- Hơng dâu thơm lựng rừng chè Nhặt cành lá quế mà tê tái lòng
Trang 23Trà My đây, hỡi Trà Bồng
Có hay cây quế đợi trông tháng ngày?
Nâng cành quế héo trên tay Càng thơng quế ngọt quế cay cùng ngời
( Nớc non ngàn dặm)
- Con ngời hai tiếng đơn sơ
Từ bao giờ, đến bây giờ, mai sau…
Thuở hồng hoang, giữa rừng sâu Một loài con biết ngẩng đầu, đứng lên
Hai chân đi, bớc đầu tiên Dang tay hái lợm, mà nên Con Ngời…
(Con ngời )
Con ngời sống rất chí tình nh những lời ru, tiếng hát :
Con ngời muốn sống con ơi Phải yêu đồng chí yêu ngời anh em…
( Tiếng ru)
Và đó là tình cảm của Tố Hữu đối với từng vùng, miền khác nhau trên Tổ Quốc thân yêu ở đâu nhà thơ cũng trải lòng mình ra với từng cảnh vật, con ng-
ời nơi có những câu hát mợt mà, đằm thắm:
Lặng nghe quan họ đêm thu Mênh mang mây nớc, thẳm sâu lòng ngời
Đắm say gió gọi trăng mời Vấn vơng làn mắt, nụ cời duyên quê…
( Đêm thu quan họ )
Là nghĩa tình của ngời con đã từng đợc che chở trong những năm tháng hoạt động bí mật, nay đợc trở về sau bao nhiêu năm xa cách, thật vui sớng biết bao sau một lần về thăm : Hậu Lộc
Ghé thăm Hậu Lộc, chợ Dầu
Trang 24Rẽ qua Hanh Cát, Hanh Cù làng xa Rừng phi lao dịu nắng tra Xoã xanh mái tóc, hàng dừa đa duyên Biển vui sóng giỡn mạn thuyền Mát chân lối cát, chẳng quen lối về…
Ôm hôn hai má bạn già
Ra về ấm mãi lòng ta với đời
Tố Hữu đã giành cả đời mình cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, và
đến cuối đời thì ông lại trở về với chính mình, trở về với những hồi ức đẹp về ngời mẹ thân yêu Những câu thơ lục bát trong bài Nghe cuCờm gáy ngân lên
thật cảm động:
Con về thăm mẹ, mẹ ơi!
Tám mơi, con vẫn là mời hai thôi Vẳng nghe tiếng mẹ ru hời
ấm hơi mẹ ẳm, nh thời còn thơ…
Có thể nói rằng chính những câu thơ, bài thơ đợc Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát là những câu thuộc vào loại hay nhất, thành công nhất và điều này góp phần quan trọng đa nhà thơ lên địa vị là Nhà thơ dân tộc số một
Tố Hữu đã kết hợp một cách hài hoà gữa thể thơ lục bát và giọng riêng
nh dồn dập, khẩn trơng, khi lại say sa vui tơi, lúc lại trầm ngâm suy nghĩ:
Bác về vui đó con ơi Bác hôn các cháu, Bác cời với dân Ngày vui, vui đến hai lần Bác về mang cả mùa xuân lại nhà
( Cánh chim không mỏi )
Trang 25Tất cả đều nhiệt huyết vì đợc ca ngợi bằng trái tim say đắm tình thơ Tố Hữu hoà quyện vào hồn dân tộc, từ nội dung, ý tứ cho đến hình thức truyền đạt khi nhà thơ viết về Bác:
Chiều nay gió lặng nắng hanh Mây bông trắng nõn, trời xanh Bác về
( Cánh chim không mỏi )
Thành công xuất sắc của Tố Hữu là nhà thơ đã đa câu thơ lục bát cổ điển tới một hình thức phát triển cao nhất và phong phú nhất Những câu thơ ngọt ngào, uyển chuyển, nhịp nhàng, mà vẫn nói lên đợc điều cần nói về hiện thực cách mạng, về tình cảm của con ngời Những câu thơ viết theo thể thơ dân tộc của Tố Hữu đã đạt đến trình độ mẫu mực Tiêu biểu là ở các bài : Việt Bắc, X-
a nay…; Cánh chim không mỏi; Tiếng hát sang xuân; Kính gửi cụ Nguyễn Du; Nớc non ngàn dặm Giữa nội dung và hình thức có sự hài hoà nhuần
nhuyễn, nên dễ đọc, dễ nhớ và dễ hiểu Điều đó cũng có nghĩa là thơ Tố Hữu mang nội dung xã hội chủ nghĩa và mang tính dân tộc chan hoà làm một, thành chỉnh thể thống nhất của thơ Tố Hữu Các bài thơ thuộc thể thơ dân tộc mang cách biểu hiện và và hơi thở truyền thống và tính dân tộc nổi bật hơn cả Qua đó nội dung cách mạng càng nhuần nhị, thấm thía gợi cảm hơn Nghĩa là dân tộc và hiện đại đã hoà quyện gắn bó chặt chẽ với nhau trong thơ lục bát của Tố Hữu
Tố Hữu với những câu thơ lục bát đã nói lên cái đồ sộ, hùng tráng của những bài thơ, tiêu biểu nh: Phá đờng, Hoan hô chiến sĩ Điên Biên Nhà thơ đã khai thác một cách triệt để khả năng diễn đạt của câu thơ lục bát truyền thống với văn học dân tộc để miêu tả thật sinh động về cuộc sống
Với tính chất liên hoàn, Nớc non ngàn dặm mang hơi thở và sức hút của
sử thi trữ tình cả về không gian và thời gian rộng lớn Chúng ta dễ dàng nhận
ra sự dồn nén của Tố Hữu trong một thế trấn tĩnh và và trầm tĩnh thích hợp Với hình thức lục bát bằng với âm điệu trầm hùng, bài thơ dài đã thể hiện sự
Trang 26độc đáo sáng tạo của nhà thơ trong t thế tự chủ bằng những nhịp thơ ngắt chẵn
lẻ rất linh hoạt:
- Thơng nhau đừng khóc em yêu
- Tự do phải trả bao nhiêu máu này
- Trờng Sơn mây núi lô xô
- Quân đi sóng lợn nhấp nhô bụi hồng
- Thác bao nhiêu thác cũng qua
- Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời
Thơ lục bát của Tố Hữu gần gũi với cuộc sống hằng ngày, ngoài lời ăn tiếng nói của nhân dân trong thơ Tố Hữu còn hay sử dụng những thành ngữ, tục ngữ mang lại hiệu quả cao,
Và nhờ thế, điệu thơ cũng nh tình thơ trở thành thiết tha vơng vấn hơn.ở thơ
Tố Hữu, chúng ta thờng gặp lại cách làm đó, hay theo dạng thức đó trong một
số bài thơ của Tố Hữu:
- Chín năm nắng núi ma ngàn
- Rừng xa núi cũ yêu thơng lại về
- Anh đi trăm núi ngàn khe
- Nhà em con bế con bồng
- Bớc dài nh gió lay thành chuyển non
- Thơng em chín đợi mời chờ
- Rằng qua gió lớn ma to
v v
Rồi ngay chính cái tên bài thơ Nớc non ngàn dặm cũng đợc Tố Hữu lấy
từ câu dân ca Nam Bình xứ Huế Bài thơ mở đầu và kết thúc bằng những câu thơ lấy nguyên hoặc rất sát trong Truyện Kiều:
Nửa đời tóc ngả màu sơng Nhớ quê, anh lại tìm đơng thăm quê
Trang 27Đờng vào nh tỉnh nh mê
Đờng ra phía trớc , đờng về tuổi xuân Đờng đi hay giấc mơ dài
Nớc non ngàn dặm nên bài thơ quê
Với Tố Hữu, đó là sự tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo thêm thành cái độc
đáo, đạt giá trị cao Về phơng diện này, Tố Hữu đã đóng góp lớnvào thể thơ dân tộc Đặc biệt với sự sáng tạo này, Tố Hữu làm cho tính dân tộc hiện lên khá rõ nét, sâu sắc hơn và độc đáo hơn Song đáng chú ý nhất là thể thơ lục bát của Tố Hữu mang phong vị ca dao, mang hồn dân tộc đậm đà
Trang 28Chơng IINội dung thơ lục bát của Tố Hữu
2.1.1 Thơ lục bát của Tố Hữu phản ánh quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta
Những bài thơ lục bát hoặc xen lục bát với các thể thơ khác của Tố Hữu viết
về công cuộc xây dựng chủ nghĩ xã hội ở Miền Bắc (Việt Nam) gồm có :
X-a nay ; (1954), Hai anh em (1985), Vinh quang Tổ Quốc chúng ta (1955), ờng sang nớc bạn(1956) ; Tiếng ru , Cánh chim không mỏi (1960 ); Bài ca mùa xuân năm 1961 ( 1961 ); Tiếng hát sang xuân (1961)
Đ-Qua khảo sát chúng ta thấy có 8 bài thơ lục bát Tố Hữu viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, chiếm 0,03%
Lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là đề tài lớn mà thơ ca thời kỳ này luôn hớng tới Bản thân công cuộc xây dựng này có nhiều ý nghĩa Xây dựng miền Bắc vững mạnh là làm cuộc hậu thuẫn cho sự nghiệp thống nhất Bắc- Nam
Những ngày đầu hoà bình, văn học Việt Nam có những thành công viết
về lao động và Tố Hữu luôn là nhà thơ tiên phong, là Con chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam với những vần thơ lục bát làm say đắm lòng ngời Cũng nói về niềm vui, nhng Tố Hữu có cách cảm nhận sung sớng hởng trọn niềm vui một cách thấm thía cảm động Đó là niềm vui của dân tộc độc lập, do
có thêm không gian và thời gian rộng mở, có thêm bạn bè năm châu bốn biển:
Xa là rừng núi, là đêm Giờ thêm sông biển, lại thêm ban ngày
Ta đi trên trái đất này Dang tay bè bạn xum vầy bốn phơng
(Xa…nay…)
Kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp, chúng ta bớc vào giai
đoạn cách mạng mới, với thế và lực tăng lên gấp bội Đã có rừng núi, ban đêm,
Trang 29có thêm sông thêm biển, bây giờ lại có cả ban ngày, thêm đợc điều kiện vật chất rộng rãi hơn để đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta lại có cơ sở tinh thần vô giá là truyền thống Điện Biên Phủ
Nhà thơ đã đối lập xa - nay Xa gian nan tủi nhục, giờ đợc tự do thì niềm vui ấy đợc nhân lên gấp bội lần Đó là niềm vui khi chứng kiến sự hồi sinh của
đất nớc, khi sản sinh ra con ngời mới, cuộc đời mới Đây là niềm vui chủ yếu, xuyên suốt dòng thơ tơi xanh của Tố Hữu
Với chiến thắng lịch sử Điên Biên Phủ làm chấn động địa cầu, miền Bắc bớc vào thì kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, xuất phát điểm rất thấp, chiến tranh tàn phá, đời sống nhân dân khổ cực, tài nguyên cha đợc khai phá
Một cuộc cách mạng thực sự có tính nhân dân và do nhân dân làm lấy, chỉ
có thể ra đời vớii sự trởng thành của giai cấp vô sản và với sự lãnh đạo của
Đảng tiền phong Đó là cuộc cách mạng mà lịch sử trớc kia cha hề biết đến, nó giải quyết tấn bi kịch của loài ngời từ khi xã hội phân chia giai cấp :
Trải qua một cuộc bể dâu Câu thơ còn đọng nỗi đau nhân tình Nổi chìm kiếp sống lênh đênh
Tố Nh ơi? lệ chảy quanh thân Kiều ! Nghe hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu Tiếng gơm khua, tiếng thơ kêu xé lòng
(Bài ca xuân 1961)
Miền Bắc là nguồn cảm hứng của những vần thơ vui tơi, say đắm của Tố Hữu và của các nhà thơ khác Nhà thơ nh quên tuần quên tháng vì mình đợc làm chủ đời mình, làm chủ tơng lai, vì cuộc sống đầy ý nghĩa và công việc mới lạ, khẩn trơng, lôi cuốn
Nếu Từ ấy ngợi ca vẻ đẹp của lí tởng và của cuộc đời nhà thơ, Việt bắc ngợi ca cái đẹp của cuộc sống kháng chiến ở tiền tuyến cũng nh ở hậu phơng,
Trang 30thì ở Gió lộng cái đẹp đợc ngợi ca là cuộc sống mới, là niềm vui dạt dào của một nửa đất nớc hoàn toàn giải phóng, của những con ngời thực sự đợc tự do
đứng lên ra sức xây dựng lại cuộc đời của mình theo hớng lí tởng cao đẹp nhất của thời đại Thơ Tố Hữu viết về cuộc sống con ngời miền Bắc bao giờ cũng vui
;Vui vì một nửa đất nớc hoàn toàn giải phóng :
Một vùng trời đất trong tay Dẫu cha toàn vẹn, đã bay cờ hồng
(Bài ca mùa xuân 1961)
Vui trớc cảnh tợng rộn ràng, xôn xao, vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chống Mỹ cứu nớc :
Rộn ràng thay, cảnh quê hơng Nửa công trờng, nửa chiến trờng xôn xao
( Tiếng hát sang xuân)
Mẹ Suốt, bà mẹ anh hùng trên sông Nhật Lệ, mang niềm vui ấy trong lòng, ngày đêm đa quân và dân ta qua sông, dới bom đạn của giặc;
Bây chừ sông nớc về ta
Đi khơi đi lộng, thuyền ra thuyền vào Bây chừ biển rộng trời cao Cá tôm cũng sớng, lòng nào chẳng xuân !
(Mẹ Suốt)
Cuộc sống nh một ngày hội lớn Nhìn vào đâu cũng thấy vui Cảnh một buổi chiều ở Gia Lâm :
Sông Hồng nắng rực bờ đê Nắng thơm rơm mới đồng quê gặt mùa
Trang 31nghèo nàn lạc hậu, nên phải cần kiệm là vì còn nghèo; Nghèo nên càng đoàn kết thơng yêu nhau, càng thêm tình nghĩa với nhau.
Chủ nghĩa xã hội là một hiện tợng lịch sử có tính chất toàn thế giới, nhng
ở nớc ta, nó mang đặc điểm riêng của Việt Nam Trớc kia, khi hoà bình mới vừa lập lại ở miền Bắc, trong cuộc tiễn đa giữa những ngời về thủ đô và những ngời
ở lại Việt Bắc, ân tình thể hiện ngay ở những câu chuyện đơn thuần kinh tế, ở luồng hàng ngợc xuôi giữa hai vùng Đồng bào miền núi hỏi:
Ngày mai về lại thôn hơng Rừng xa núi cũ yêu thơng lại về Ngày mai rộn rã sơn khê Ngợc xuôi tàu chạy, bốn bề lới giăng Than Phấn Mễ, thiếc Cao Bằng Phố phờng nh nấm nh măng giữa trời.
Mái trờng ngói mới đỏ tơi Chợ vui trăm nẻo về khơi nguồn hàng Muối Thái Bình ngợc Hà Giang Cày bừa Đông Xuất, mía đờng tỉnh Thanh
Ai về mua vại Hơng Canh
Ai lên mình gửi cho anh với nàng Chiếu Nga Sơn gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định lụa hàng Hà Đông……
(Việt Bắc)
Đó là tình nghĩa kháng chiến, đó cũng là dự cảm báo hiệu cho tình nghĩa xã hội chủ nghĩa sẽ gắn bó miền xuôi miền ngợc và nối liền các nền kinh tế với nhau trong khối cộng đồng xã hội chủ nghĩa sau này
Chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa tập thể, mỗi ngời phải không ngừng rèn luyện, tự cải tạo mình Phải làm cho chủ nghĩa tập thể cũng theo dòng sữa, theo
Trang 32lời ru của mẹ mà thấm vào dạ, vào tâm hồn mỗi ngời Với ý nghĩa đó, Tố Hữu làm bài thơ Tiếng ru theo thể lục bát:
Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi, yêu nớc; con chim ca yêu trời
Con ngời muốn sống; con ơi Phải yêu đồng chí, yêu ngời anh em.
Một ngôi sao chẳng sáng đêm Một thân lúa chín chẳng nên mùa vàng
Một ngời- đâu phải nhân gian ? Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi …!
Trong Gió lộng ta bắt gặp nhiều ngời, bất luận con ngời ấy ở đâu, làm gì, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc hay đánh đuổi kẻ thù chung của Tổ Quốc ở miền Nam, trên đất nớc thân yêu của mình hay trên đất nớc anh em bè bạn, lãnh tụ hay quần chúng bình thờng, lớp ngời trẻ hay các đồng chí tiền bối,
đang sống hay đã hy sinh , một con ngời cụ thể hay tập thể những chiến sĩ cách mạng vô danh…Họ nh những tấm gơng soi rất lớn treo giữa đời qua những vần thơ đẹp của Tố Hữu
Trang 332.1.2 Truyền thống yêu nớc, truyền thống nhân đạo của nhân dân ta trong thơ lục bát của Tố Hữu
Lòng yêu nớc trong thơ lục bát của Tố Hữu trớc hết là lòng ỷêu quê hơng của tác giả yêu những ngời nông dân chịu thơng chịu khổ Tình yêu ấy của Tố Hữu dịu dàng, đầm ấm, chan chứa, kính mến và đợm cả xót thơng, có khi đến bùi ngùi Mỗi khi đọc lại những câu thơ lục bát miêu tả bà ru cháu trong bài Cá
nớc, chúng ta không thể không cảm động khi nghe tiếng ru hoà với tiếng võng
đa kẽo kẹt đầu một xóm tre xanh:
…Chaú ơi cháu lớn với bà
Bố mày đi đánh giặc xa cha về Cháu ngoan cháu ngủ đi nhe
Mẹ mày ra chợ bán chè mua rau…
Khi Tố Hữu miêu tả Bà bủ nằm ổ chuối khô lời thơ lục bát thấm sâu tình cảm dân tộc:
Bà bủ nằm ổ chuối khô
Bà không ngủ đợc bà lo bời bời
Đêm nay tháng chạp mùng mời Vài mơi bữa nữa Tết rồi hết năm
Bà bủ không ngủ bà nằm Bao giờ thằng út về thăm một kỳ
……….
Bao giờ hết giặc về quê
Đêm đêm bà bủ nằm mê khấn thầm…
Bà bủ khhông ngủ bà nằm Càng lo càng nghĩ, càng căm càng thù
Trang 34Và lòng ngời mẹ thơng con ấy cũng là lòng thơng không cùng của những
bà mẹ Việt Nam:
Nhà còn ổ chuối lửa rơm
Nó đi đánh giặc đêm hôm sởi gì
Năm xa cơm củ ngon chi Năm nay cơm gié nhà thì vắng con.
(Bà bủ)
Nhờ đi vào quần chúng, cố gắng nói tiếng nói của quần chúng, Tố Hữu đã tìm đợc tiếng nói trong sáng của ca dao để phổ vào thơ lục bát của mình
Với những câu lục bát giản dị , mộc mạc nhng Tố Hữu đã làm cho ngời
đọc cảm nhận đợc sức sống mãnh liệt của ngời phụ nữ thời kháng chiến chống Pháp
Em là con gái Bắc Giang Rét thì mặc rét, nớc làng em lo Nhà em phơi lúa cha khô
Ngô chửa vào bồ sắn thái cha xong Nhà em con bế con bồng
Em cũng theo chồng đi phá đờng quan
(Phá đờng)
Nhà thơ còn cho thấy sức mạnh cùng với lòng yêu nớc của nhân dân đã bất chấp mọi khó khăn, thể hiện một bản lĩnh để giành độc lập dân tộc:
Anh tài thì em cũng tài
Đờng dài ta xẻ, sức dai ngại gì
Đờng dài ngoắt ngoéo chữ chi
Hố ngang hố dọc chữ i, chữ tờ Thằng Tây mà cứ vẩn vơ
Có hố này chờ chôn sống mày đây
Trang 35ớ anh ớ chị nhanh tay Nhanh tay ta cuốc, chôn thây quân thù !
( Phá đờng )
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Tố Hữu viết liền ba bài thơ lớn Hoan hô
chiến sỹ Điện Biên; Ta đi tới; Việt Bắc Cả ba bài thơ phản ánh bớc chuyển vĩ
đại của đất nớc ta
Lòng tự hào của dân tộc và niềm vinh quang của chiến thắng đã giúp Tố Hữu dựng đợc những hình ảnh chói lọi Bài Ta đi tới chào hoà bình, ngợi ca Tổ Quốc tơi đẹp, ý nghĩa thắng lợi nói rõ trong từng chữ, cụm từ lòng ta nh một
điệp khúc láy đi láy lại :
…Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững nh kiềng ba chân
Dù ai rào dậu ngăn sân Lòng ta vẫn giữ là dân Cụ Hồ
Từ tình yêu nớc, lòng tự hào dân tộc của nhà thơ luôn tỏa sáng ở bất kì bình diện nào Chúng ta thấy trong những câu thơ lục bát của Tố Hữu ngời sáng lên những hình ảnh đáng yêu về những con ngời thân thiện, tốt bụng, chân chất, rất mực tuyệt vời ở mỗi một làng quê Việt Nam:
Nhớ đờng, chạy xuống Nga Sơn
Về thăm làng Thợng, vừa hơn nửa đời Ngày xa ấy…tuổi đôi mơi
Nh chim bạt gió tìm nơi náu mình
Đồng chua ruộng trũng lầy sình
Mà lòng ngời lại ơn tình ngọt thơm Dành cho củ sắn miếng cơm Dành cho tấm chiếu ổ rơm ấm cùng…
( Làng Thợng )
Trang 36Hay cảnh và tình ngời ở Hà Trung, một vùng quê của tỉnh Thanh Hoá, nơi mà nhà thơ đã từng đến và đợc chở che nên đã giữ lại cho mình những tình cảm khó quên:
Gió thu lại gọi về Thanh Quê em mà cũng quê anh từ nào…
Hà Trung, ruộng trũng đồi cao Thông reo, lúa chín vẫy chào ngời thân.
Đã qua cái kiếp phong trần Bỉm Sơn khói trắng cuộn vần thơ bay…
( Hà Trung )
Hay nh bài thơ Ta đi tới nổi lên bốn câu thơ lục bát, mà cả bốn câu lục bát ấy
đẹp nh bốn câu ca dao và thêm một lần nữa nó góp phần khẳng định ý chí, niềm tin của dân tộc Việt Nam chúng ta
Với bài Việt Bắc chứng tỏ thơ Tố Hữu đã đạt tới mức độ mà ngời ta ờng gọi là chín Nhà thơ chào Việt Bắc trớc khi về xuôi Tố Hữu gọi Việt Bắc
th-là mình nh một ngời yêu, hay đúng hơn nh một ngời bạn đời đã cùng nhau gánh vác nhiều khó nhọc, chia xẻ nhiều buồn vui, nhiều tình nhiều nghĩa với nhau Cái nghĩa ấy có từ ngày còn gian khổ, khi lực lợng cách mạng mới hình thành giữa rừng thiêng vànhững ngày kháng chiến :
…Mình đi, có nhớ những ngày
Ma nguồn suối lũ những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già…
( Việt Bắc )
Ngời dân Việt Bắc là những ngời trung thành nhất với cách mạng :
Trang 37…Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son Mình về có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lng Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ ngời đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung…
(Việt Bắc )
Khi Tố Hữu làm thơ về những phiên họp của chính phủ ở Việt Bắc, câu thơ lục bát trở nên trang trọng, sang sảng và nh đầy ánh sáng của buổi tra rực rỡ
Trang 38trong tâm hồn nhà thơ ánh sáng ấy dẫn đến một đoạn kết mà chúng tôi cho là cái nút động của cả bài thơ nhìn về mời lăm năm ấy:
ở đâu u ám quân thù Trông về Việt Bắc Cụ Hồ sáng soi
ở đâu đau đớn giống nòi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền…
(Việt Bắc)
Nay hoà bình, kháng chiến thắng lợi, những ngời kháng chiến chào Việt Bắc về xuôi Cái ý nghĩa của tất cả lời chào ấy cũng ở mấy câu nh một nút động thứ hai của bài thơ, khi nhìn về tơng lai:
…Mình về thành thị xa xôi Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng Phố đông còn nhớ bản làng Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng
( Việt Bắc)
Chỉ có phấn đấu, ra sức xây dựng đất nớc, trong đó có Việt Bắc, trở nên giàu có sung sớng chúng ta mới làm cho lòng thơng nhớ Việt Bắc thành sức mạnh Nhận ra đợc phơng hớng đó, bản hợp tấu khi thiết tha, khi hùng tráng, khi thánh thót, khi sôi sục, đã kết thúc bằng những âm thanh trong sáng chan hoà tình đoàn kết, tự hào về lãnh tụ Hồ Chí Minh:
Nhớ Ông cụ mắt sáng ngời
áo nâu túi vải đẹp tơi lạ thờng Nhớ Ngời những sáng tinh sơng Ung dung yên ngựa trên đờng suối reo Nhớ chân Ngời bớc lên đèo Ngời đi rừng núi trông theo bóng Ngời
( Việt Bắc)
Trang 39Từ trong gian khổ, toàn dân tộc Việt Nam đã nỗ lực hết mình để giành
đ-ợc độc lập dân tộc Và đến ngày nay đất nớc đđ-ợc sống trong cảnh thái bình, cuộc sống no đủ:
Nghe đồn mà đã thấy ham Quýt vừa chín mọng và cam ngọt lừ Vờn ai đẹp vậy? Tháng t Mãn mùa mà vẫn tơi nh đầu mùa Quýt cam trái ngọt, trái chua Cành la, cành ngọt đung đa trĩu cành !,
( Vờn cam Tờng Lộc )
Hay sự trù phú của Đồng Tháp Mời cũng hiện lên thật thơ mộng qua những vần thơ lục bát của Tố Hữu:
Ai trông lên đó mà trông Mênh mông Đồng Tháp, mênh mông mùa vàng
Bng biền, kênh rạch dọc ngang Dòng sông Hồng Ngự mỡ màng phù sa
Nắng thơm tràm gió la đà Mát con lộ đỏ, thớt tha bạch đàn,…
( Đồng Tháp Mời )
ở bất kỳ giai đoạn nào, chúng ta cũng đều thấy rõ tình cảm của nhà thơ
đối với đất nớc, với quê hơng Thứ tình cảm thiêng liêng ấy chính là lòng yêu
n-ớc xen lẫn với niềm tự hào đối với dân tộc Việt Nam yêu quý
Thơ lục bát của Tố Hữu thể hiện lòng yêu nớc vô cùng sâu sắc, Ông sống cùng với nhân vật, thở cùng hơi thở với mọi lớp ngời, và đặc biệt hơn là có lòng căm thù giặc sâu sắc đối với bọn cớp nớc Chỉ đọc qua những vần thơ ấy chúng
ta mới hiểu, mới thấm thía hết đợc con ngời ông, t tởng và phong cách của ông
Trang 402 1 3 Thơ lục bát của Tố Hữu thể hiện niềm tin vào ngày mai tốt đẹp, ngày mai tơi sáng
Tranh đấu là con đờng gian khổ, và không phải Tố Hữu không thấy cái buồn, cái cô đơn
Nhân vật trong thơ ông mặc dù sống trong khổ nhục, trái ngang, nhng vẫn luôn mang trong mình niềm hi vọng, niềm tin vào tơng lai Những kiếp sống ô nhục, những con ngời nh cô gái sông Hơng bị đẩy đến chỗ bán thân nuôi miệng cũng sẽ đợc đổi đời:
Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài Thơm nh hơng nhụy hoa nhài Sạch nh nớc suối ban mai giữa rừng…
( Tiếng hát sông Hơng )
Cái đau khổ của cuộc đời bị giam hãm vẫn không làm cho ngời tù cộng sản nhụt chí, Tố Hữu nằm trong tù nghe những tiếng bên ngoài, thốt ra những lời lay động cả lòng ta:
Ta nghe hè dậy bên lòng
Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi ! Ngột làm sao, chết uất thôi Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu !
(Cảm thông)