1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ Lục bát của Đỗ Trọng Khơi

92 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2. Lịch sử nghiên cứu 2.1. Lịch sử nghiên cứu thơ lục bát Lục bát thể thơ độc đáo của dân tộc đã tồn tại, đã mang trong mình cái sâu lắng của người Việt tự ngàn đời. Được tôn vinh là thể thơ dân tộc, lục bát được nghiên cứu từ rất sớm. Cuốn “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại” Hà Minh Đức đã đề cập đến âm luật và nhịp thơ, niêm luật của lục bát được chia làm hai: hệ thống phổ biến và hệ thống đặc biêt (tức dạng biến thể của chúng); về nhịp: “rất ít có những câu lục bát thuần nhất nhịp hai, ba hoặc bốn…mà thường có lối ngắt nhịp xen kẽ, hỗn hợp”15, tr.167. Khi thấy có tới hơn 90% ca dao được sáng tác theo thể lục bát nhiều người đã nghĩ lục bát khởi nguồn từ ca dao. Theo cách nghĩ đó, Nguyễn Văn Hoàn đã có bài viết khá công phu nhan đề: “Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều”. Trong đó dự đoán rằng “thể lục bát sớm nhất cũng chỉ xuất hiện vào cuối thế kỉ XV”26. Nguyễn Xuân Kính khi dành 20 trang viết trong cuốn “Thi pháp ca dao” để khảo sát thể thơ này trong ca dao. Ông cho rằng, thể thơ này đã phát triển qua các giai đoạn: Lục bát từ cuối thế kỉ XV đến trước Truyện Kiều; Lục bát trong Truyện Kiều; Lục bát trong phong trào Thơ Mới(1930 – 1945); Lục bát đương đại25, tr.115116. Cũng giống như Nguyễn Văn Hoàn và Nguyễn Xuân Kính thì Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Chu Xuân Diên hầu hết đều thống nhất thơ lục bát có ngọn nguồn từ văn học dân gian. Các nhà nghiên cứu như Xuân Diệu, Trần Đình Sử, Chu Văn Sơn…đã phát hiện ra sự tác động ảnh hưởng của thơ lục bát cổ điển, lục bát ca dao đối với thơ lục bát hiện đại. Riêng về lục bát biến thể cũng được Mai Ngọc Chừ, Phan Ngọc, Nguyễn Xuân Kính bàn khá thấu đáo từ khái niệm đến các dạng biến thể và các giá trị của nó. Mai ngọc Chừ đã nêu ra cách hiểu về lục bát biến thể: “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt trên sáu dưới tám” mà có sự “co giãn nhất định về số lượng âm tiết(tiếng)”7, tr.16. Năm 1998 Phan Diễm Phương trong cuốn “Lục bát và song thất lục bát” đã tập hợp hầu hết các ý kiến và xây dựng được một hệ thống lập luận khá hoàn chỉnh về thể thơ lục bát: từ nguồn gốc đến sự hình thành, phát triển về cấu trúc âm luật, chức năng biểu đạt, sức sống của thơ lục bát, bí quyết sinh tồn của thể loại. Phan Diễm Phương đã rất công phu chia sự phát triển của thể thơ lục bát làm ba giai đoạn và khảo sát thể thơ này trong một loạt tác phẩm như Đào nguyên hành, Cổ Châu Phật bản hành, Thiên Nam ngữ lục... rồi đi đến kết luận: “ở giai đoạn thứ nhất, thể thơ còn nằm trong tình trạng khá xô bồ, lỏng lẻo, do ý thức về một khuôn mẫu còn mờ nhạt”41, tr.22. Sự “xô bồ, lỏng lẻo” được Phan Diễm Phương chỉ ra cụ thể “trước hết qua sự gieo vần”, “tiếp đến là về phối điệu”. Và giai đoạn một, theo xác định của Phan Diễm Phương, ở vào giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII. Mặc dầu không nói thẳng ra rằng thể lục bát có nguồn gốc từ văn học viết, nhưng những gì mà Phan Diễm Phương chứng minh trong công trình của mình, đều hướng người đọc đến nguồn gốc của thể lục bát từ trong văn học viết. Các ý kiến trên làm chỗ dựa cho người viết luận văn nghiên cứu so sánh để thấy được sự kế thừa, cách tân, đóng góp của Đỗ Trọng Khơi.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lục bát là thể thơ thuộc vào quốc túy, quốc hồn của dân tộc ViệtNam Trong kho tàng thơ ca dân tộc, nó là thể thơ thân thuộc gần gũi với

chúng ta nhất Trong bài tựa sách “Quốc âm từ điệu”, Phạm Đình Toái đã

nhận xét: “ Thể thơ lục bát đâu đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở miệng nên thơ, gái dệt, trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng, lời đùa của trẻ con cũng không gì là

không nhịp nhàng, hợp vần” [53, 181] Trong sách“Kho tàng ca dao người

việt” có 10.305 lời ca dao trên tổng số 11.825 lời được sáng tác theo thể lục bát, chiếm 87% Trong sách “Ca dao Việt Nam” có 973 lời trên tổng số 1015 lời được sáng tác theo thể lục bát, chiếm 95% Trong sách “Ca dao Việt Nam trước cách mạng” có 1125 lời được sáng tác theo thể lục bát, chiếm 94 %.

Để có khả năng hấp dẫn người đọc như thế, thể thơ lục bát chắc hẳn phải có

một sức thu hút lớn “Thơ lục bát là nhịp thở giống nòi” (Trần Khánh Thành).

Ngày nay gần như 100% người yêu thơ Việt Nam cả trong và ngoài nước đềuquan tâm đến một trang thơ đó là trang lucbat.com Ngày 6/8/2008 WebsiteLucbat.com chính thức ra mắt người yêu thơ trên mạng Internet toàn cầu Lễhội lục bát – một sự kiện văn hóa đặc sắc, độc đáo với những nghi thức t©mlinh truyền thống: Dâng hương, rước thơ, chúc văn và phát lộc… Lễ hội nhằmmục đích nhân văn cao đẹp Tiếp tục thực hiện cuộc vận động tôn vinh lục bát

là “Quốc thi” và đề xuất thơ lục bát là di sản văn hóa phi vật thể của nhân

loại: “Một ngàn năm bấy nhiêu ngày/ Câu thơ lục bát vẫn say hồn người”

(Lục bát ngàn năm, Trần Thế Tuyển).

Bàn về sức sống mãnh liệt của lục bát Tiến sĩ Chu Văn Sơn một lần nữa

khẳng định: “Nếu chọn trong nền thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện dự cuộc giao lưu toàn cầu, hẳn đó phải là lục bát”, “lục bát là niềm kiêu

Trang 2

hãnh của thơ Việt” và “lục bát thực sự là một điệu hồn Việt”[46] Không thể

hình dung được thơ Việt cũng như tâm hồn Việt, nếu thiếu đi lục bát

Nghệ thuật thơ luôn có sự cách tân thay đổi Trong khi không ít thểcách thơ ca đã lỗi thời, đã bị quên lãng thì thể thơ 6/8 vẫn được yêu thích vàphát triển Không phải ngẫu nhiên thơ Việt nam đương đại, trong số các nhàthơ được nhân dân yêu mến thì phần lớn là các nhà thơ có tác phẩm lục báthay như Tản Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Trần Huyền Trân, Phạm Thiên Thư,Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn… và không thể không kể đến nhàthơ Thái Bình Đỗ Trọng Khơi

1.2 Đỗ Trọng Khơi là một hiện tượng lạ của thơ Việt đương đại Nhà

thơ thần đồng Trần Đăng Khoa từng nói: “Đỗ Trọng Khơi là nhà thơ đặc biệt, thất học, mồ côi và bị tật nguyền từ bé nhưng bằng nghị lực anh vượt lên số phận để sống, để cống hiến và đóng góp cho nền văn học nghệ thuật nước nhà”[67] Ông không chỉ là minh chứng sống điển hình về nghị lực vượt số

phận mà còn là một thi sĩ có tinh thần lao động nghệ thuật hăng say miệt mài.Đến giờ này Đỗ Trọng Khơi đã có một gia tài đáng nể trên 10 tập thơ, rồi

truyện ngắn, tản văn, phê b×nh văn học như: Con chim thiêng vẫn bay (1992), Gọi làng (1999), Cầm thu (2002)… Ông cũng đoạt hàng loạt giải

thưởng văn học có giá trị với nhiều giải thưởng văn chương danh giá mà ngay

cả một số cây bút chuyên nghiệp cũng từng mơ ước như: Giải Nhì cuộc thithơ trên Báo Văn nghệ (1990); Giải B của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệthuật Việt Nam (2002)…Năm 2001 Đỗ trọng Khơi vinh dự được kết nạp vàcông nhận là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

1.3 Là một cây bút đa tài song lĩnh vực khẳng định tên tuổi Đỗ TrọngKhơi là ở phương diện một nhà thơ Trong lĩnh vực thơ ca ông thành côngnhất là ở thể lục bát, ông có duyên với thể lục bát Nhà phê bình Văn Giá khi

đọc thơ Đỗ Trọng Khơi từng tâm đắc và đánh giá rất cao: “Thơ lục bát của ta

Trang 3

tính từ sau Nguyễn Bính có Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, nay mới có người nối tiếp xứng đáng là Đỗ Trọng Khơi” [73] Ông là một thi

sĩ có tinh thần lao động nghệ thuật hăng say miệt mài Khảo sát các sáng táccủa ông cho thấy sự nghiệp của cây bút thơ này chủ yếu xây bằng lục bát

Ông có hai tập thơ tuyền lục bát đó là tập “Với tay ngắt bóng ” gồm 100 bài

và tập “Quê” gồm 90 bài.

Là một nhà thơ có sự nghiệp đáng nể được thi đàn biết đến từ nhữngnăm 90 thế nhưng thơ Đỗ Trọng Khơi nói chung và lục bát Đỗ Trọng Khơinói riêng đến nay hãy còn khá xa lạ với đời sống nghiên cứu học đường, lụcbát Đỗ Trọng Khơi hầu như mới chỉ thu hút sự chú ý của các nhà văn, nhàphê bình Nhận thấy đây là một sự thiếu hụt, đồng thời được sự gợi ý của tiến

sĩ Chu văn Sơn và một số nhà nghiên cứu, người viết quyết định chọn đề tài

“Thơ Lục bát của Đỗ Trọng Khơi”.

1.4 Việc chọn đề tài nghiên cứu này thể hiện mong muốn của ngườiviết: giúp người đọc hình dung về gương mặt nghệ thuật của một tác giả đặcbiệt của thơ Việt đương đại và góp phần minh định sức sống của thể loại lục

bát trong thế giới hiện đại Trong đề tài “Thơ Lục bát của Đỗ Trọng Khơi”

chúng tôi nỗ lực nhằm góp phần phác họa rõ nét hơn về đặc trưng trong mảngthơ đặc sắc nhất của tác giả về mặt tư tưởng nghệ thuật, hình tượng nghệ thuậtlẫn phương thức thể hiện: qua đó nhằm khẳng định những cách tân, đóng gópnhất định của nhà thơ với sự vân động, phát triển của thể thơ dân tộc này

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ lục bát

Lục bát - thể thơ độc đáo của dân tộc đã tồn tại, đã mang trong mình cáisâu lắng của người Việt tự ngàn đời Được tôn vinh là thể thơ dân tộc, lục bátđược nghiên cứu từ rất sớm

Trang 4

Cuốn “Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại” Hà Minh Đức đã đề

cập đến âm luật và nhịp thơ, niêm luật của lục bát được chia làm hai: hệ thống phổ biến và hệ thống đặc biêt (tức dạng biến thể của chúng); về nhịp:

“rất ít có những câu lục bát thuần nhất nhịp hai, ba hoặc bốn…mà thường có lối ngắt nhịp xen kẽ, hỗn hợp”[15, tr.167].

Khi thấy có tới hơn 90% ca dao được sáng tác theo thể lục bát nhiềungười đã nghĩ lục bát khởi nguồn từ ca dao Theo cách nghĩ đó, Nguyễn Văn

Hoàn đã có bài viết khá công phu nhan đề: “Thể lục bát từ ca dao đến

Truyện Kiều” Trong đó dự đoán rằng “thể lục bát sớm nhất cũng chỉ xuất

hiện vào cuối thế kỉ XV”[26].

Nguyễn Xuân Kính khi dành 20 trang viết trong cuốn “Thi pháp ca dao” để khảo sát thể thơ này trong ca dao Ông cho rằng, thể thơ này đã phát

triển qua các giai đoạn: Lục bát từ cuối thế kỉ XV đến trước Truyện Kiều; Lục bát trong Truyện Kiều; Lục bát trong phong trào Thơ Mới(1930 – 1945); Lục bát đương đại[25, tr.115-116].

Cũng giống như Nguyễn Văn Hoàn và Nguyễn Xuân Kính thì Bùi VănNguyên, Hà Minh Đức, Chu Xuân Diên hầu hết đều thống nhất thơ lục bát cóngọn nguồn từ văn học dân gian Các nhà nghiên cứu như Xuân Diệu, TrầnĐình Sử, Chu Văn Sơn…đã phát hiện ra sự tác động ảnh hưởng của thơ lụcbát cổ điển, lục bát ca dao đối với thơ lục bát hiện đại

Riêng về lục bát biến thể cũng được Mai Ngọc Chừ, Phan Ngọc,Nguyễn Xuân Kính bàn khá thấu đáo từ khái niệm đến các dạng biến thể và

các giá trị của nó Mai ngọc Chừ đã nêu ra cách hiểu về lục bát biến thể: “Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt trên sáu dưới tám” mà có sự “co giãn nhất định về số lượng âm tiết(tiếng)”[7, tr.16].

Trang 5

Năm 1998 Phan Diễm Phương trong cuốn “Lục bát và song thất lục bát” - đã tập hợp hầu hết các ý kiến và xây dựng được một hệ thống lập luận

khá hoàn chỉnh về thể thơ lục bát: từ nguồn gốc đến sự hình thành, phát triển

về cấu trúc âm luật, chức năng biểu đạt, sức sống của thơ lục bát, bí quyếtsinh tồn của thể loại Phan Diễm Phương đã rất công phu chia sự phát triểncủa thể thơ lục bát làm ba giai đoạn và khảo sát thể thơ này trong một loạt tác

phẩm như Đào nguyên hành, Cổ Châu Phật bản hành, Thiên Nam ngữ

lục rồi đi đến kết luận: “ở giai đoạn thứ nhất, thể thơ còn nằm trong tình

trạng khá xô bồ, lỏng lẻo, do ý thức về một khuôn mẫu còn mờ nhạt”[41, tr.22] Sự “xô bồ, lỏng lẻo” được Phan Diễm Phương chỉ ra cụ thể “trước hết qua sự gieo vần”, “tiếp đến là về phối điệu” Và giai đoạn một, theo xác định

của Phan Diễm Phương, ở vào giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII Mặc dầukhông nói thẳng ra rằng thể lục bát có nguồn gốc từ văn học viết, nhưngnhững gì mà Phan Diễm Phương chứng minh trong công trình của mình, đềuhướng người đọc đến nguồn gốc của thể lục bát từ trong văn học viết

Các ý kiến trên làm chỗ dựa cho người viết luận văn nghiên cứu sosánh để thấy được sự kế thừa, cách tân, đóng góp của Đỗ Trọng Khơi

2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ lục bát Đỗ Trọng Khơi

Đỗ Trọng Khơi được thi đàn biết đến từ cuộc thi thơ 1990-1991 củatuần báo Văn Nghệ Ông được trao tặng giải nhì bởi một giọng thơ thật mới,thật riêng Kể từ đó đến nay nhà thơ viết nằm này luôn viết có trách nhiệm,đều đặn và có chất lượng, thơ của Đỗ Trọng Khơi đặc biệt là lục bát đã đượccác cây bút nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà thơ lớn và nhiều bạn đọcchú ý Đó là những bài viết rất có giá trị của nhà thơ Mai Văn Phấn, nhà thơNguyễn Quang Thiều, Nguyễn Khánh Phương, Nguyễn Đức Mậu, NguyễnBùi Vợi, nhà phê bình Chu Văn Sơn và hàng loạt các cây bút khác như LêQuốc Hán, Đặng Văn Toàn … Nhìn chung các tác giả đều đánh giá cao thơ

Trang 6

lục bát của Đỗ Trọng Khơi Thơ Đỗ Trọng Khơi thuộc dạng u buồn, tĩnh lặng

thiên về chiêm nghiệm Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi trong bài “Một tâm hồn

nghị lực” nhận xét: “Vì không có điều kiện đi đây đi đó, chất liệu trong thơ

Khơi là những nỗi niềm, nghĩ suy, rung động, gạn chắt từ vốn sống gián tiếp anh đã đọc được, nghe được, có cái cảm nhận được bằng da thịt và có cái cảm nhận được bằng tiềm thức”[23, tr.7-8] Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu rất tinh tế khi cho rằng: “Thơ Khơi thuộc dạng tĩnh lặng, u trầm như cuộc đời anh Do cuộc sống đóng khung trong một gian nhà nhỏ hẹp, Khơi phải tìm cho mình một tiếng nói riêng để đến với thơ Đỗ Trọng Khơi triệt để khai thác những gì đang diễn ra xung quanh mình”[35] Ánh Hồng lại cảm nhận

"thơ Khơi tươi mát, trong trẻo, có thể nói thơ anh rất đẹp, đẹp đến mức duy mỹ ” [67] Tác giả Di Linh viết: “Đọc thơ của Khơi, trước tiên có thể nhận thấy, đó là một tâm hồn hồn hậu, chất phác, một tấm lòng gắn bó và yêu hết mình làng quê, xứ sở ”[66]…

Là một độc giả yêu mến thơ Đỗ Trọng Khơi, tiến sĩ Chu Văn sơn đã có

lời giới thiệu tinh tế cho tập thơ “Với tay ngắt bóng” (Khởi nguyên với tên

gọi Ở thế gian): “Lục bát của Khơi dường như nghiêng hẳn về một lối: chiêm

nghiệm triết lí Vẫn phải tựa vào kể, vào tả, vào than…, nhưng suy nghiệm, triết lí vẫn là dáng điệu căn bản của lục bát Đỗ Trọng Khơi Vì thế đọc thơ Khơi, thấy trĩu nặng tâm sự tư tưởng ”[25, tr.96].

Trong bài “Nỗi buồn, như một tiêu chí thẩm mỹ trong thơ Đỗ Trọng

Khơi ”, Khánh Phương viết: “Thơ Đỗ Trọng Khơi thiên về giãi bày, bộc bạch

để sẻ chia hơn là chất vấn, tìm tòi, nổi loạn…Nhà thơ dễ dàng để cảm xúc tuôn chảy, lấn át và trở thành năng lượng chủ đạo của bài thơ, phương thức này có phần chiếm ưu thế hơn là tưởng tượng, hay xây dựng những cấu trúc ngôn ngữ mới tương ứng với những chiều sâu khác nhau của tâm thức ”[23,

123]

Trang 7

Các nhà văn, nhà nghiên cứu từng đánh giá cao lục bát của cây bút này.Nhà thơ Mai Văn Phấn đã có những lời nhận xÐt rất bay bổng: “Đỗ Trọng

Khơi vẫn “Cầm lấy cây sào” “cái quạt” đi trên “ sợi dây mảnh” căng giữa hai đầu “Sáu” và “Tám” từ xửa xưa”, nhìn Đỗ Trọng Khơi trên sợi dây lục bát

mỏng manh kia, chắc ai cũng có lúc thót tim, rồi đến nay phải vỗ tay tánthưởng chặng đường diệu nghệ của ông” Đến với thể lục bát, Đỗ Trọng Khơi

đã dựng lên con đường riêng của mình”[23, 5-6]: “Giữa biết bao bài thơ lục bát hay của các nhà thơ làm thơ lục bát đi trước, giữa biết bao cái “bẫy” của thể loại thơ này đó từng dễ dàng vùi lấp chính người làm ra nó tưởng sẽ vùi lấp một người làm thơ lục bát như Đỗ Trọng Khơi giữa một thời đại của muôn vàn những cái mà người ta muốn được gọi hay muốn được thừa nhận

là hậu hiện đại thơ Đỗ Trọng Khơi vẫn tìm được đường của mình và dựng lên con đường của mình”[70].

Trên đây là những ý kiến tham khảo hết sức quý báu đối với chúng tôitrong việc tìm hiểu lục bát Đỗ Trọng Khơi Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấyhầu như các yếu tố nội dung, các cấp độ nghệ thuật của lục bát Đỗ TrọngKhơi đã ít nhiều được đề cập tới Nhưng các phương diện đó chưa đượcnghiên cứu một cách có hệ thống và còn một số yếu tố, cấp độ chưa thật sâu,chưa thật cụ thể Tuy nhiên, những điểm dừng của người đi trước cũng sẽ lànhững gợi mở để người viết đi tiếp ở luận văn này

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc chọn nghiên cứu “Thơ Lục bát của Đỗ Trọng Khơi” nhằm góp

phần khẳng định những giá trị đặc sắc của thơ lục bát Đỗ Trọng Khơi cũngnhư sự đóng góp của nhà thơ trong nền thơ ca hiện đại Qua đó, góp phầnlàm rõ sức sống của một thể thơ truyền thống lâu đời trong đời sông văn hóahiện đại

Trang 8

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là toàn bộ thơ lục bát của tác giả

Về thực chất là tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ lục bát của Đỗ Trọng Khơi trêncác bình diện căn bản là thế giới hình tượng và phương thức thể hiện

3.3 Phạm vi khảo sát

Toàn bộ thơ lục bát của Đỗ Trọng Khơi được in trong tập “Với tay ngắt bóng” xuất bản năm 2009 và tuyển tập thơ lục bát - tập “Quê ” xuất bản

năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài, chúng tôi vận dụng đồng bộ các phương phápnghiên cứu cơ bản sau đây:

4.1 Phương pháp thống kê

Muốn nhận diện được những đặc trưng trong diện mạo lục bát của ĐỗTrọng Khơi không thể không bắt đầu bằng việc thống kê những dấu hiệu khubiệt cả về nội dung và hình thức

Phương pháp thống kê dựa trên những khảo sát cụ thể giúp cho ngườinghiên cứu tổng hợp được những số liệu làm căn cứ cho các nhận định, đánh giá

4.3 Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại

Qua việc phân tích những đoạn thơ, bài thơ cụ thể tìm ra cái hay, cáiđặc sắc trong từng bài, lấy đó làm cơ sở để khái quát chung về lục bát ĐỗTrọng Khơi

Trang 9

4.4 Phương pháp hệ thống

Do thế giới nghệ thuật của một nghệ sĩ dù trong một thể loại nhất địnhbao giờ cũng hiện diện sinh động trong tính chỉnh thể và hệ thống của nó, nênluận văn dùng phương pháp hệ thống để tiếp cận đối tượng trong tính chỉnhthể và soi chiếu từng yếu tố riêng lẻ như một thành tố hợp thành hệ thống ấy

Đây là những phương pháp cơ bản chúng tôi sử dụng để làm thành hệthống thao tác trong khi khảo sát đối tượng và triển khai đề tài

5 Đóng góp mới của luận văn

Với luận văn này chúng tôi hy vọng góp phần nhỏ bé của mình vàoviệc làm sáng rõ gương mặt đầy triển vọng của một cây bút trong thơ Việtđương đại, từ đó cho thấy sức sống mãnh liệt của thể thơ được coi là điệu hồndân tộc

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungluận văn gồm những phần sau:

Chương 1: Thể thơ lục bát và con đường Đỗ Trọng Khơi đến với thơlục bát

Chương 2: Thơ lục bát Đỗ Trọng Khơi, nhìn từ thế giới hình tượngChương 3: Thơ lục bát Đỗ Trọng Khơi, nhìn từ các khía cạnh hình thức

Trang 10

NỘI DUNGCHƯƠNG 1: THỂ THƠ LỤC BÁT VÀ CON ĐƯỜNG

ĐỖ TRỌNG KHƠI ĐẾN VỚI THƠ LỤC BÁT

1.1 Thể thơ lục bát trong thơ ca truyền thống và hiện đại

1.1.1 Thể thơ lục bát trong thơ ca truyền thống

1.1.1.1 Lịch sử thể loại lục bát

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” ( Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội)

lục bát là “một thể câu thơ cách luật mà các thể thức được tập trung thể hiện trong một khổ gồm hai dòng với số tiếng cố định: dòng 6 tiếng (câu lục) và dòng 8 tiếng (câu bát) ”[37].

Lục bát xa xưa được lưu truyền cho tới ngày nay thông qua hình thứctruyền miệng nên thật khó để có được văn bản lục bát đầu tiên Nhưng có điềuchắc chắn rằng lục bát là đứa con cưng của tiếng Việt, tiếng Việt đã nâng niu lụcbát, đồng thời chính lục bát cũng góp phần làm cho tiếng Việt giàu đẹp hơn

1.1.1.2 Những đặc trưng thẩm mĩ của thể loại lục bát

Khuôn khổ của thơ lục bát

Một bài thơ lục bát không bị giới hạn bởi số câu trong bài thơ có thểchỉ bao gồm 2 câu nhưng cũng có thể kéo dài hàng ngàn câu

Luật bằng trắc trong thể lục bát

Hình mẫu của các tác phẩm lục bát cổ điển được phối điệu như sau:câu lục: o b o tr o b

câu bát: o b o tr o b o b

Trong đó: b – bằng; tr – trắc; o – tự do (bằng hoặc trắc), tiếng thứ sáu

và tiếng thứ tám của câu bát trong cùng là thanh bằng nhưng cần có sự kếthợp chuyển đổi giữa bổng (thanh ngang) và trầm (thanh huyền)

Trang 11

Cách gieo vần trong thơ lục bát

Lục bát vừa gieo vần chân vừa gieo vần lưng Chữ cuối của câu lụcphải vần với chữ thứ sáu của câu bát tiếp theo Chữ cuối của câu bát phải vầnvới chữ cuối của câu lục kế tiếp

Biến thể vần trắc

Chữ cuối của câu lục và chữ thứ sáu của câu bát là cùng âm trắc vàhiệp vần với nhau

Thay đổi số chữ trong câu

Câu thơ không mang kích thước thông thường, mà có thể thêm hoặcbớt một số tiếng (thường là thêm)

1.1.2 Thể thơ lục bát trong thơ ca hiện đại

Thơ lục bát vẫn liên tục phát triển như một dòng chảy riêng trong thiđàn nước nhà Có lúc ồn ào sôi động trên bề mặt, có lúc lặng chìm dưới bềsâu, nhưng chưa bao giờ hoàn toàn đứt đoạn Nó vẫn được các nhà thơ tàinăng của mỗi thời nâng niu phát triển

Lịch sử văn học Việt nam đã chứng minh một sự thực hiển nhiên là thểthơ lục bát - một thể thức thơ ca dân tộc đã có vị trí xứng đáng của nó trongnền văn học dân gian, văn học trung đại và thơ ca hiện đại Điểm qua các tác

Trang 12

giả, ở những mức độ khác nhau, các nhà thơ đã tỏ ra hấp thụ được những cảmxúc và phô diễn lại bằng thể lục bát Có thể kể tên những nhà lục bát có nhiềuthành tựu nhất (điểm theo các thế hệ): Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, HuyCận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Bùi Giáng, Lê Đình Cánh, Nguyễn Duy, ĐồngĐức Bốn, Trần Đăng Khoa, Văn Thùy…

Trong dòng chảy lục bát đầu thế kỷ XX nổi lên tên tuổi của Tản Đànghiêng về phong cách cổ điển Tản Đà có những vần điệu lục bát quả thực

đó làm rung động lòng người, đã ăn sâu, thấm khắp các giai tầng xã hội vàđược truyền tụng trong đông đảo tầng lớp nhân dân lao động Bởi ngoài sự kếthừa của văn học dân gian, Tản Đà còn có những bước tiến mới so với ca dao.Trước hết, ảnh hưởng của văn học dân gian có thể nói là rất đậm trong thơ lụcbát của Tản Đà Trong đó phải kể đến ảnh hưởng của các câu hát lý giaoduyên theo quy tắc hợp vần bằng trắc cùng với cách gieo nhịp chẵn và ngôn

ngữ trong ca dao như đại từ ai, mình, ta…rất uyển chuyển và duyên dáng: “Ai làm cho khói lên trời/ Cho mưa xuống đất cho người biệt li/ Ai làm cho Nam Bắc phân kì/ Cho sa hàng lệ đầm đìa tấm thương”.

Bên cạnh việc kế thừa lục bát ca dao trong thơ lục bát của Tản Đà tacòn bắt gặp những nét mới ở việc sử dụng những từ mới rất đắt nghĩa, giàugiá trị gợi tả, gần gũi với lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt của người bình dân.Với từ ngữ không văn hoa chau chuốt, gọt giũa, ấy thế mà các bài lục bát trên

đã ăn sâu vào lòng người đọc Đó là hình ảnh gợi cảm, mang đậm tính sáng

tạo: “Vun vút cái cần câu tre/ Để câu ở bến sông Kỳ ta chơi” Như vậy Tản

Đà đã xây dựng cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo và cũng là mộtcống hiến không kém phần quan trọng làm biến chất thơ cổ điển, đó là sự kếthợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ văn học dân gian, sựchuyển hóa các hình thức thơ ca cổ điển để cho có chất dân gian sâu đậm từngôn ngữ bác học vơi những luật lệ nghiêm nhặt trở thành ngôn ngữ dân gianthanh thoát và phóng túng

Trang 13

Sau Tản Đà, giai đoạn 1932 – 1945, Thơ mới xuất hiện với hầu hếtnhững bài thơ mang tâm trạng u buồn man mác của số đông công chúng lúcbấy giờ Nguyễn Bính xuất hiện ở thời khắc đó, người ta biết đến NguyễnBính như một hồn thơ lai láng nét đẹp chân quê, thơ ông thường rất mộc mạc,bình dị, chứa đựng những tình cảm thiết tha sâu lắng Lục bát của thi sĩ tàihoa này mang chút ngơ ngẩn chân quê Nguyễn Bính là đứa con sinh ra khi cadao ngầm giao duyên với Thơ mới nên thơ lục bát Nguyễn Bính đậm hồn việt

nhưng cấu tứ lại mang hơi hướng phương Tây rất chặt chẽ và bất ngờ:“ Lang thang tôi dạm bán thuyền/ Có người giả 9 quan tiền lại thôi!”.

Dòng lục bát dân gian, mà lục bát Nguyễn Bính là rất tiêu biểu Nhịpthơ nhẹ nhàng, ngôn ngữ dung dị, dễ hiểu, hình ảnh thơ quen thuộc và gần gũivới đời sống thôn quê Việt Nam, rất gần với ca dao Tiến sĩ Chu văn Sơn đó

gọi thơ Nguyễn Bính là “con đẻ của câu lục bát chìm nổi nơi đồng quê”[44].

Sau Nguyễn Bính, rất nhiều nhà thơ đi theo và phát triển xu hướng lục bátnày Lục bát Nguyễn Bính thiên về điệu nói Lục bát điệu nói coi trọng giọngnói, lời nói, hơi thở của cảm xúc, lấy tính tự nhiên làm trọng, nên thường giãncâu, nới chữ:

“Cái gì như thể / nhớ mong Nhớ nàng, / không, / quyết là không / nhớ nàng”.

(Người hàng xóm)

Câu lục bát điệu nói chuyên chú ở hơi thơ, nên ý luôn nhường quyềndẫn dắt cho nhạc Câu thơ trên được ngắt nhịp 2/1/3/2 Đây là nhịp của khẩungữ, thể hiện mâu thuẫn tâm lí của chủ thể Mâu thuẫn giữa tình yêu tronglòng đang trào dâng với sự nhút nhát của chàng trai Cố gắng phủ nhận nhữngtình cảm trong lòng để né tránh đi tình cảm của mình, nhưng cũng chính sựphủ nhận ấy lại là lời khẳng định chắc nịch nhất về tình yêu của chàng traidành cho người con gái Nguyễn Bính không chỉ tiếp thu những tinh hoa của

Trang 14

văn học dân gian nói chung và thơ lục bát nói riêng đồng thời ông cũng hòatrộn những tinh hoa đó với những sáng tạo riêng của mình Bởi thế nên trongnhững vần thơ đậm chất dân gian ta vẫn thấy cái riêng của Nguyễn Bính.

Nếu như lục bát Nguyễn Bính mang đậm phong cách dân gian thì lụcbát Huy Cận lại đậm chất cổ điển Thể thơ lục bát truyền thống trong tay HuyCận lắng đọng hàm súc Huy Cận đã hiện đại hóa câu thơ sáu tám Việt Nam

Ngôn ngữ thơ trau chuốt đạt đến sự tinh tế hiếm có: “Nắng chia nửa bãi; chiều rồi /

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu./ Sợi buồn con nhện giăng mau;/

Em ơi! Hãy ngủ anh hầu quạt đây”.

Được coi là một hiện tượng độc đáo trong nền văn học Bùi Giáng cũngtìm đến với điệu hồn dân tộc Bùi Giáng làm mới lục bát bằng chữ nghĩa trùngtrùng điệp điệp, có sự đan cài từ Hán Việt, bằng tài hoa rất mực trong những lờiđùa cợt như con trẻ, nói chuyện không đâu mà thành tư tưởng Thơ Bùi Giáng

là thơ tư tưởng Những câu lục bát nghịch ngợm tài hoa, siêu hình ma

quái:“Chào em tính mệnh so đo?/ Chào em tính thể tò mò tuyết vân?/ ấy xa

xôi? ấy gũi gần?/ Từ từ tự hỏi, tần ngần em sẽ thấy ra (Bùi Giáng – Chào em).

Lục bát là cội nguồn của thi ca dân tộc, là dòng chảy bất diệt của tâmhồn Việt qua bao thế hệ Nó bắt nguồn từ xa xưa và sẽ còn chảy mãi đếntương lai Thực tế đó chứng minh cho điều đấy Ở thế hệ sau, người đi tiếpnẻo đường lục bát này với nhiều thành quả là Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn,Phạm Công Trứ, Lê Đình Cánh … và không thể không kể đến Đỗ TrọngKhơi Họ mang hơi thở của thời đại mình, thế hệ mình vào lục bát, khiến cholục bát vẫn luôn là một cuộc chạy tiếp sức của các thế hệ thơ Việt Nam nhằm

gìn giữ và làm mới một lời thơ đã trở thành “hương hỏa của giống nòi ”(Chữ

dùng của Chu Văn Sơn)

Trang 15

Trước hết phải kể đến lục bát của Nguyễn Duy Giọng lục bát NguyễnDuy khi thì sâu lắng, thôn trang, mực thước, cổ điển Lúc lại lông ba lôngbông, bụi bụi phố phường, trẻ trung hiện đại Chu Văn Sơn gọi Nguyễn Duy

là “thi sĩ thảo dân”, “gã chân quê đời mới” Giai điệu lục bát của Nguyễn

Duy có cổ điển, có dân gian, nhưng chủ yếu vẫn là phi cổ điển Nguyễn Duyđưa lục bát về gần với cuộc sống trần ai vốn đầy bụi dân sinh của thảo dân thìhiện tại.Về từ ngữ Nguyễn Duy ưa dùng những từ láy chùm ba chùm bốn

kềnh càng “Thấp tha thấp thoáng tháng ngày mong manh” Tiến sĩ Chu Văn Sơn đã từng nhận xét rất tinh tế về lục bát Nguyễn Duy: “Duy đã thổi hồn của thế hệ mình vào đó, đã đưa được hơi thở chúng sinh thì hiện tại vào đó.

Nó không chỉ có hồn cổ, hồn quê, mà còn có cả hồn phố Vì thế, nó khỏe khoắn, nồng đượm, tân kỳ Nó là rượu chúng sinh đựng bằng lục bát”[44] Nguyễn Duy đã tạo ấn tượng bởi lối suy nghĩ táo bạo, sắc sảo, tinh tế tình

cảm đậm đà được thể hiện trong hình thức thơ dân tộc giản dị, tự nhiên rất

gần với cái mô tÝp ca dao: “Thôi ta về với mình thôi,/ Chân trời đành để chim

trời nó bay”(Bài thơ áo trắng).

Vốn yêu mến thơ Đồng Đức Bốn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhận xét

về lục bát của nhà thơ này như sau: “Thơ Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là hồn vía của cuộc sống hôm nay được quản thúc trong niêm luật cổ truyền lục bát” [69] Lục bát Đồng Đức Bốn giống như ca dao, đôi khi nó có vẻ như một lời nói bâng quơ: “Nhà quê có cái giếng đình/ Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ./ Nhà quê có mấy trai tơ / Quần bò, mũ cối giả vờ sang chơi…” Thơ

Đồng Đức Bốn khá giầu hình ảnh, và nói như nhà nghiên cứu Vương Trí

Nhàn: “Lục bát của Đồng Đức Bốn từ tốn, chậm rãi như lời nói vẩn vơ của một người vừa ngán sự đời, vừa không thôi chiêm nghiệm sự đời”[69] Thơ

Đồng Đức Bốn từ trong lấm láp, gai góc cũng như trong vẻ đẹp trữ tình đều đi

ra từ nguồn mạch của ca dao Đồng Đức Bốn không phải là nhà thơ cách tân,

Trang 16

ông thuộc diện nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các giá trị thơ ca truyền thống Cáihay trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn là sự chất phác giống như ca dao, có sựngậm ngùi của tình cảm và cả những kinh nghiệm sống chua xót của mộtngười nhà quê trí thức lang bạt kỳ hồ xen vào Đồng Đức Bốn tiếp thu được

cả tính dân gian và bác học của lục bát, nhưng tính dân gian lấn lướt tính báchọc Lục bát Đồng Đức Bốn có chút bụi bặm, du ca biến ảo

Phạm Công Trứ chủ trương quay về khơi tiếp cái mạch hồn quê, cáiphong vị mà ông rất yêu trong thơ Nguyễn Bính Phạm Công Trứ viết vềnhững đổi thay của người nông dân trong thời hội nhập với giọng thơ tếu táo,hài hước nhưng ẩn chứa những xót xa hoài cảm Thơ Phạm Công Trứ không

trừu tượng, không hoa lá, không mỹ từ: “Lưng ong, yếm dải, nón mê/ Hiện đại “nhại” dáng chân quê thuở nào/ Vai trần đẩy tóc lên cao/ Váy nơm để

gió cúi chào đùi non!”(Nhại).

Giống như Phạm Công Trứ, nhà thơ Lê Đình Cánh cũng nằm trongdòng chảy thơ đồng quê Hình ảnh trong thơ Lê Đình Cánh vừa gần gũi, vừamới mẻ, ông đã kéo truyền thống về gần với thực tại, trong cái ngày nay vẫn

luôn tỏa sáng cái ngày xưa: “Sông quê có một bến đò/ áo dây mực tím, học

trò sang sông”( Bến quê).

Có thể nói mỗi nhà thơ đến với thể lục bát lại khoác lên mình thể thơ này

bộ cánh mới mẻ Đỗ Trọng Khơi cũng vậy Trên một dòng sông lục bát đã cũvậy mà lục bát Đỗ Trọng Khơi vẫn mới Nó không phải là cái chân quê hoachanh thơm giữa vườn chanh của Nguyễn Bính Cũng không phải cái bất cần

“Trần gian choang choác sự đời tùy em” của Nguyễn Duy Đỗ Trọng Khơi có

một giọng điệu riêng Đó là giọng lục bát thiên về lối chiêm nghiệm Lục bát

Đỗ Trọng Khơi mang nét đẹp của nỗi đau thân phận với cách thể hiện ung

dung tự tại của kẻ sĩ phương đông, nhiều câu thơ ma mị đến u huyền:“Tôi hư

ảnh tôi xương da/ tôi khăn áo mỏng như là trần gian” (Địa đàng vườn ấy).

Trang 17

Lục bát Đỗ Trọng Khơi về căn bản là lục bát điệu ngâm nhưng đây đócũng có lục bát điệu nói Ngôn ngữ lục bát Đỗ Trọng Khơi vừa dung dị, vừacao siêu, ông thích dấn thân vào thế giới siêu hình.

Thơ lục bát có hai hướng nổi trội: đa dạng hóa và tích hợp hóa Cáctiếng nói lục bát phong phú đa dạng: kẻ giàu hiện thực, người giàu triết luận,

kẻ đậm chất tự sự người chuyên chú vào mạch trữ tình Hai phong cách cơbản là điệu ngâm và điệu nói, trước thì nghiêng về phân hóa, càng gần đâycàng có cơ dung hợp /tích hợp lại với nhau trong mỗi một tiếng nói lục bát

Như vậy có thể thấy lục bát là dòng chảy bất diệt của tâm hồn Việt quabao thế hệ Nó là thể thơ có sức sống trường tồn, là cõi trời mênh mông mànhững nhà thơ tài hoa Việt Nam tiếp tục tỏa sáng những màu sắc rực rỡ, mới

mẻ, truyền thống và hiện đại

1.2 Quan niệm của Đỗ Trọng Khơi về lục bát

Là một nhà thơ nặng lòng với lục bát, Đỗ Trọng Khơi đã có những suy

tư trăn trở nghiêm túc về thể thơ này Trong tập tản văn “Sông núi nước Nam”, ở bài “Nghệ thuật sáu và tám” nhà thơ Đỗ Trọng Khơi đã đưa ra

quan niệm của mình về lục bát Cũng như phần lớn ý kiến của các nhà nghiêncứu lục bát, ông cho rằng lục bát bắt nguồn từ văn học dân gian Ông cũngtruy tìm nguồn gốc và thời gian hình thành thể thơ lục bát Theo ông tộcngười Lạc việt có một nền văn minh lúa nước và văn hóa của dân tộc Việtthuộc dòng văn hóa trọng tĩnh Theo sách Kinh Dịch thì những số chẵn 2, 4,

6, 8, 10 thuộc âm, cho nên hai số thuộc âm 6, 8 thuộc số sinh, còn số 2, 4, 10

là số thành Từ cơ sở văn hóa cổ – thời ca dao dân ca th× thể thơ ca dao dân

ca câu 6, câu 8 ra đời từ nguồn gốc văn minh lúa nước, văn minh Văn Lang,thuộc âm, trọng tĩnh Cách lý giải này có phần cao siªu nhưng không phảikhông có cơ sở

Trang 18

Cũng Theo ông hiện nay lục bát đã phát triển thành dòng văn học cótính hàn lâm, lục bát là tiếng lòng, phẩm tính tâm hồn của người Lạc Việt.Lục bát là một thể thơ mang tính tạo nguồn cho sự hình thành nhiều thể loạidân ca kh¸c Trong quan hệ với các làn điệu ca dao dân ca, tác giả cho rằng,

nó là thể Mẹ - nguồn sinh của cả một đàn con trữ tình [24, tr.78] Xét vai trò,

vị trí, chức năng và tầm ảnh hưởng của lục bát lời tôn vinh thế là xứng đáng

Người Việt, nhất là người sinh ra từ làng quê miền đồng bằng Bắc bộ thì

ai cũng từng được nghe những người bà người mẹ hát ru Ca từ của những lờihát ru hết thảy đều là lời của những vần thơ rút ra từ các làn điệu ca dao, dân calàm bằng thể thơ lục bát Và tỉnh Thái Bình là quê hương Đỗ Trọng Khơi là

tỉnh được xem là “chiếc nôi của nghệ thuật hát chèo”, một loại hình dân ca nổi

tiếng mà lời ca từ của môn hát này phần lớn dựa vào thơ lục bát hoặc âm vậncủa nó được phỏng viết theo âm vận luật bằng/ trắc, phù/ trầm của thể loại thơlục bát Đặc biệt là làn điệu hát chầu văn Đỗ Trọng Khơi sinh ra và lớn lêntrong chiếc nôi nghệ thuật này, bởi vậy mà các làn điệu ca dao, dân ca từ rấtsớm đó truyền cảm vào tâm hồn, được nhà thơ yêu thích Nhà thơ đã học tập,mượn thể thơ này để sáng tác lên những tác phẩm thơ của mình Đỗ TrọngKhơi quan niệm: lục bát là tiếng lòng, điệu hồn dân tộc Nó không chỉ giúp cho

người quê Việt, các nhà thơ Việt tìm giọng nói, mà cũng là tìm lấy giọng hát của tiếng mẹ cho cảm xúc tâm hồn mình, qua tính nhạc điệu dịu dàng, nhiều dư

vang của ngôn ngữ thơ này Đó chính là nhạc điệu, hình ảnh của những ngôilàng Việt, nơi sản sinh và nuôi dưỡng nên những tập tục, tập quán, phong tục,phong hóa, văn hoá dân gian cho người dân Việt bao đời

1.3 Quá trình tìm tòi và lựa chọn thể loại ở Đỗ Trọng Khơi

Là một cây bút đa tài, Đỗ Trọng Khơi sáng tác thơ, viết truyện ngắn,

viết tản văn, phê bình văn học và cả sáng tác âm nhạc Thể loại nào ông cũnggặt hái được những thành công nhất định Nhưng có lẽ người ta biết nhiều đến

Trang 19

Đỗ Trọng Khơi ở phương diện một nhà thơ hơn cả Thơ là mối quan tâm, là

sự trăn trở lớn nhất cuộc đời thi sĩ

Cuộc đời Đỗ Trọng Khơi đầy những thăng trầm, bất hạnh: Tật bệnh,

mồ côi và thất học, ba thảm họa lớn nhất đã ập xuống đời ông Bố ông là liệt

sĩ chống Mỹ, năm đầu lớp bốn ông bị bệnh bại liệt phải nằm một chỗ, và phải

bỏ học Những tưởng niềm vui sống, ý nghĩa của cuộc đời đã vĩnh viễn phải

khép lại trước mắt ông Từ đó ông sống cuộc sống “nhỏ nhoi trên chiếc xe lăn, tù túng ở chốn quê, quẩn quanh góc đời hẹp”[25, tr.97], thế nhưng Đỗ

Trọng Khơi đã không ngã lòng, ông đấu tranh quyết liệt với số phận Bằngcon đường tự học ông đã đến với thơ ca Có thể nói thơ ca là ánh sáng cuộcđời ông, là sự cứu rỗi tâm hồn ông Đỗ Trọng Khơi nhận ra rằng thơ là một kíthác, một bộc bạch, trước hết với chính mình Ông làm thơ khi nội tâm cầnlên tiếng và làm thơ là nhu cầu để giải tỏa tâm trạng Trong lời bạt của tập thơ

ABC nhà thơ đã bộc bạch: “Chỉ khi tâm hồn đòi được xác định bằng một giá trị và vì thế tôi gặp thơ ca”[64] Ông cũng thổ lộ: “Nếu không có những niềm vui tinh thần khó nhọc ấy chắc là tôi không sống nổi”[22,tr.8] Lời phát biểu

trên không chỉ cho thấy sự ý thức cao nhất về bản thân mà còn cho thấy thơ làmột nhu cầu không thể thiếu trong cuộc đời ông Thế mới biết sức mạnh củanghệ thuật to lớn biết chừng nào Tiến sĩ Chu Văn Sơn đã khẳng định ý nghĩa

của thơ ca đối với nhà thơ viết nằm này:“Thơ là chiếc phao cứu sinh của Đỗ Trọng Khơi”, “thắt ngặt cõi đời anh bơi vào cõi chữ Cõi chữ hư huyền vô

bờ bến lại là miền sống thực của Khơi …Số mệnh khắc nghiệt với anh tới đâu, thơ lại bù chì cho anh tới đấy Thơ không là chốn dung thân duy nhất, nhưng là cuộc gửi thân cuối cùng”, “thơ và Khơi đã nương náu trong nhau”[25, tr.96-97].

Vốn coi lục bát là thể thơ mẹ, Đỗ Trọng Khơi rất yªu mến thể lục bát,thể thơ được coi là tinh hoa văn hóa của dân tộc Sự nghiệp của cây bút thơ

Trang 20

này cũng chủ yếu được xây bằng lục bát Sự xuất hiện của hai tập thơ tuyền

lục bát (Tập “Với tay ngắt bóng” gồm 100 bài và tập “Quê” gồm 90 bài)

cho thấy “Lục bát đã nâng đỡ hồn Khơi, Khơi cũng thật nâng niu lục bát”,

[23, tr.100] đồng thời cũng góp phần minh định sức sống mãnh liệt của thểthơ dân tộc

Tiểu kết chương 1

Lục bát là điệu hồn của dân tộc Việt và Đỗ Trọng Khơi vinh dự là mộttrong số những người tiếp lửa truyền thống đó Là một nhà thơ nghiêm túc,trách nhiệm với nghề ông đã chứng tỏ cho người đọc thấy sức sáng tạo dồidào và năng lực của ngòi bút mình Người đọc sẽ luôn nhớ đến ông như mộtthi sĩ sống nhờ ánh sáng của thi ca

Trang 21

Chương 2: THƠ LỤC BÁT ĐỖ TRỌNG KHƠI, NHÌN TỪ THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG

Hình tượng là yếu tố trung tâm của chỉnh thể Thế giới hình tượngtrong thơ trữ tình rất đa dạng Nó bao gồm hình tượng cái tôi, hình tượng thếgiới thông qua tâm trạng cụ thể của nhà thơ Cũng như hình tượng của cácloại hình văn học khác, hình tượng thơ rất cần chi tiết nhưng không cần nhiềunhư văn xuôi và cần có sự lựa chọn kĩ càng để đảm bảo yêu cầu không phải tảthực cuộc sống mà chủ yếu gây xúc động ở người đọc Không tác động trựctiếp đến người đọc bằng đường nét, màu sắc, hình khối như hội họa, điêukhắc, hình tượng thơ được xây dựng qua hệ thống ngôn từ nên khó nắm bắthơn Tuy nhiên thông qua trí tưởng tượng phong phú thì thế giới hình tượngtrong thơ sẽ đa dạng bay bổng hơn nhiều Qua ngôn từ gợi tả của lời thơ, bằngtrí tưởng tượng của mình, người đọc có thể hình dung các bức tranh thế giớivới hình khối, đường nét, với màu sắc và âm thanh sống động

Trong luận văn này chúng tôi khám phá hình tượng thế giới trong lụcbát Đỗ Trọng Khơi qua hình tượng cái tôi trữ tình, hình tượng thế giới

2.1 Hình tượng cái tôi trữ tình Đỗ Trọng Khơi

2.1.1 Cái tôi trữ tình

Cái tôi là một phạm trù triết học thể hiện ý thức của con người về bảnthể tồn tại của mình, về sự tồn tại của mình như một cá thể độc lập, khác vớingười khác và khác với tự nhiên Trong triết học duy lí của Decac, cái tôi làmột thực thể biết tư duy, là căn nguyên của nhận thức duy lý (tôi tư duy nghĩa

là tôi tồn tại) Trong Lí luận và phê bình văn học, giáo sư Trần Đình Sử

định nghĩa cái tôi như sau: “Cái tôi là kết quả của việc con người tách mình khỏi môi trường xung quanh, cho phép con người cảm thấy mình như một chủ thể Cái tôi là quan niệm của chủ thể về chính mình, hình thành trong hoạt

Trang 22

động và giao tiếp mang các đặc điểm như chỉnh thể thống nhất, có khả năng

tự đánh giá, tự quan sát, tự điều chỉnh, bao gồm nhiều phương diện mâu thuẫn nhưng thống nhất Như vậy cái tôi là năng lực tự nhận thức của chủ thể”[50] Chủ thể là phạm trù được xem xét trong mối quan hệ với khách thể,

phân biệt với khách thể ở tính tích cực, tự giác trong chiếm lĩnh với hiện thựckhách quan Cái tôi là một yếu tố cấu thành nên chủ thể, thể hiện khả năng tựnhận thức của chủ thể

Trong cuốn Ba đỉnh cao thơ mới, tác giả Chu Văn Sơn đã giới thuyết

về cái tôi như sau: “Cái tôi là hình tượng trung tâm, là hạt nhân của một thế giới thơ trữ tình Nó là hình ảnh phóng chiếu từ con người thực của tác giả theo nguyên tắc điển hình hóa Nhưng có lẽ nó là con người tâm linh của tác giả được hình tượng hóa, là phần khát vọng thẩm mĩ sâu kín trong tác giả được nhân hình hóa thì đúng hơn Dù có cội nguồn như thế nào đi nữa thì trong văn bản thơ, trong một thế giới thơ ca, nó cũng hiện ra như một con người với nhân dạng, nhân cách khá rõ rệt Người ta có thể nhận ra nó qua những nét tự họa, qua tư thế trữ tình và giọng điệu trữ tình chủ đạo của hệ thống thi phẩm”[44].

Hình tượng cái tôi là sự hiện thực hóa, khách thể hóa cái tôi trữ tìnhtrong thế giới nghệ thuật thơ Hình tượng cái tôi không hoàn toàn đồng nhấtvới con người tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cánhân nhà thơ nghe thấy mình trong người khác, với người khác và cho ngườikhác Khi sáng tác nhà thơ đã tạo nªn một thế giới nghệ thuật riêng thì tất yếutrong thế giới nghệ thuật ấy có hình tượng cái tôi và hình tượng này đóng vaitrò nhân vật trung tâm Hình tượng cái tôi là một kiểu nhân vật trong thế giớinghệ thuật thơ trữ tình Bản chất của thơ trữ tình là sự hiện diện của cái tôi.Như vậy, cái tôi trữ tình không phải là cái tôi của nhà thơ Cái tôi của nhà thơ

là một phạm trù xã hội, tồn tại ngoài đời thực, còn cái tôi trữ tình là một phạm

Trang 23

trù nghệ thuật, chỉ tồn tại trong thế giới thơ Tuy nhiên hai yếu tố này có mốiquan hệ trực tiếp và thống nhất chặt chẽ với nhau Cái tôi trữ tình tạo nên tưduy nghệ thuật độc đáo, diện mạo tinh thần riêng biệt của nhà thơ, gópphần tạo nên phong cách nghệ thuật của mỗi nhà thơ Hình tượng cái tôi trongthơ trữ tình chủ yếu biểu hiện qua tâm trạng và bằng tâm trạng Vì vậy, muốnhình dung chính xác về hình tượng này người đọc phải nắm được tâm trạngcủa nó Hình tượng cái tôi tồn tại ở nhiều cấp độ của chỉnh thể nghệ thuật: bàithơ, tập thơ, nhà thơ, thời đại

Cái tôi trữ tình là phạm trù cơ bản làm nên đặc trưng của một thế giớinghệ thuật thơ Trong ý nghĩa khái quát nhất, cái tôi trữ tình thể hiện quanniệm của chủ thể về chính bản thân nó, hướng đến sự tự ý thức về mình và sựkhẳng định những giá trị của mình trong thế giới Cái tôi là một phân thân vềmặt tinh thần của nhà thơ trong quá trình sáng tạo, là cách nhà thơ tự hìnhdung về mình từ tư thế khách quan thông qua sự chủ động phóng ngoại nhữngtâm tư tình cảm bên trong mình rồi soi rọi chúng như những khách thể Nóicách khác, thông qua cái tôi trữ tình mà nhà thơ cảm nhận được sự tồn tại củabản thân Nó vừa là phương tiện để nhà thơ thể hiện trọn vẹn cá tính, vừa làtấm gương nơi nhà thơ soi chiếu tâm hồn Cái tôi là một sự sống mang ýnghĩa triết học và ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc, có khả năng dung chứa vô tậnnhững biểu hiện phong phú của đời sống cũng như những cử động tế vi haynhững cơn bão dữ dội của thế giới tinh thần con người Nhờ cái tôi trữ tình vũtrụ trong con mắt nhà thơ trở nên sâu rộng hơn bao giờ hết

Như vậy có thể thấy cái tôi có ý nghĩa rất quan trọng với thơ ca Nó làchìa khóa để người đọc bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm

Trang 24

2.1.2 Hình tượng cái tôi trữ tình Đỗ Trọng Khơi

2.1.2.1 Cái tôi với ý thức về thân phận sâu sắc

Trong thơ ca, cái tôi tác giả thường trực tiếp bộc lộ ở nhân vật trữ tình,

ở một số trường hợp, nhân vật trữ tình thường ngầm ẩn, còn hầu hết bộc lộmình ở ngôi thứ nhất Điều này phù hợp với tính chất trữ tình của thơ vốn gắnvới nhu cầu được giãi bày Hệ thống đại từ, nhất là ở ngôi thứ nhất, xét về góc

độ thi pháp như là một cách biểu hiện trực tiếp cái tôi - tác giả trong thơ trữtình Trong tiếng Việt, hệ thống này hết sức phong phú, đa dạng Trong thơlục bát của mình, Đỗ Trọng Khơi cũng sử dụng các đại từ xưng hô trong đó

chủ yếu là các cặp đại từ “ ta- người”, “ta - em”, “tôi -người”, “ anh- em”…:

“yêu em anh thấy cõi Người"; “từ lâu ta đó để tang ta rồi”…Đặc biệt trong

bài “Tựa” thi sĩ đã xưng tên họ của mình “Có người họ Đỗ tên Khơi” Cách

xưng hô này phảng phất chút ngông ngạo với đời thật đáng trân trọng của mộtthi sĩ mấy mươi năm dán lưng trên giường bệnh mà vẫn dẹp bỏ được nhữngmặc cảm và ý thức rất rõ về cái tôi cá nhân của mình

Cuộc hành trình bất tận của con người cũng chính là cái hành trình mà

họ đi tìm cái bản ngã Ta là ai của mình Có thể nói Đỗ Trọng Khơi khẳng

định ý thức thân phận bằng thơ Nhà thơ ý thức được toàn cõi nhân sinh củamột thân phận Với ông sống trong trần gian này là thân phận nhỏ bé mỏng

manh như hạt cát, như hòn sỏi và rất ngắn ngủi: “đã rằng, thân như bụi bay”,

“tấm thân cát bụi như là thế thôi”…Đỗ Trọng Khơi từng có lần tâm sự: “

Mình coi đời là một cuộc chơi thôi Đời con người ta cũng tựa như chútsương, chút nắng Khi ấm nóng lên, lúc lạnh lẽo đi Những người trụ lại cáidanh của mình với cõi thời gian vô thủy, vô chung này hiếm lắm Mình không

dám tham dự vào cuộc chơi Người vĩ đại ấy: Kiếp người như một cuộc chơi /Trong hư ảnh , nhận biết nơi của mình Mình nhỏ bé như giọt nước,

mong manh hơn một chút sương mờ Chỉ mong sao cho giọt nước mình sạch

Trang 25

sẽ” Hàng ngày thi sĩ vẫn âm thầm chiến đấu chống lại bệnh tật để học và viếtthỏa ước nguyện cho nước trong, sương mát Và thực tế chứng minh nhà thơ

đã vượt lên sự khắc nghiệt của số phận đàng hoàng đứng giữa làng thơ hômnay

Đỗ Trọng Khơi ý thức rất rõ nét về thân phận của mình trong cuộc đời.Thân phận con người lại chính là sự phản chiếu cái bóng của con người đó.Sống hết mình, sống đến tận độ, thi sĩ càng ý thức được sự hữu hạn của thân

phận con người: “sinh ra là để mất đi/mất đi là để ta về cõi ta” (Ta về cõi

ta) Vốn yêu mến đạo Phật nên thơ Đỗ Trọng Khơi thấm đẫm sắc thái màu

thiền Những dòng thơ về thân phận cũng vậy Ông thường chiêm nghiệm vềkiếp người Tâm sự của Đỗ Trọng Khơi là mối băn khoăn đẫm những triết lý

về phận người về kiếp người trong thế gian:Từ lâu tôi khinh tôi rồi/từ lâu tôi thả tôi trôi mịt mùng” Trong thơ Đỗ Trọng Khơi có nỗi buồn và cả chút

đắng cay xa xót, chân thực và nhân bản Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi hơn bốnmươi năm nay bị căn bệnh quái ác như một định mệnh quật ông nằm liệt một

xó Là một người rất giàu nghị lực song cũng đã không ít lần tủi thân, tủi phận

nhà thơ phải ai oán thốt lên những lời thơ như thấy máu và nước mắt: Tôi thường có lúc quên tôi/ Quên câu ai oán quên lời thiết tha/ Lệ đời kết máu nở

hoa/ Nở cho đâu đấy rất xa ngoài mình (Nét chân dung) Trong bài thơ này

Đỗ Trọng Khơi đã tự phác thảo chân dung của mình, đó là một bức chân dungnửa hư nửa thực, rất khó phân định giữa phần người được rọi sáng, và mộtphần nửa kia khuất dạng Đọc những vần thơ đầy gan ruột của một thi sĩ tậtnguyền độc giả không giấu nổi sự xúc động trước tấm lòng nhân hậu, sự cao

cả của một tâm hồn thánh thiện, trong cõi đời dâu bể nhà thơ quên đi cái bấthạnh của bản thân mình, nhà thơ đã phải dằn lòng mình mà quên đi lời thiết

tha, để ngẫm về nỗi đau thế thái nhân tình Từ khi bắt đầu cầm bút, thi sĩ đã

đau đáu về sự cô đơn thăm thẳm của kiếp người, viết và nghĩ về nó không

Trang 26

ngừng Có lẽ do hoàn cảnh sống trong thế giới nhỏ hẹp với bốn bức tường,thu mình trong một thế giới nội tâm của riêng mình nên thơ ông thể hiện niềm

cô đơn trước vũ trụ bao la: Tôi tự chèo lấy tôi sang/ khi thuyền rời bến thì tan mất chèo/tôi là một thế gian nghèo / vay Vũ trụ cõi trong veo không gì/tôi

tự chèo lấy tôi đi/đi cho hết cõi không gì mới thôi (Cõi không gì).

Không chỉ là sự cô đơn trước vũ trụ rộng lớn, qua thơ ông ta còn cảmnhận được cái tôi trăn trở nỗi đau, sự day dứt, tình yêu thương, niềm hi vọng,

đó là phần sâu nặng nhất, phần lay động tâm hồn người đọc nhiều nhất Ông

nuôi chứa trong tâm hồn một tình yêu đằm thắm với cuộc đời: “Kiếp người ta

đã nhận mang/Xin em giữ trọn cho cam lòng trời/Giọt buồn cứ vợi sang tôi /Dẫu bao nhiêu vẫn một lời rằng thương”

Con người vô thức trỗi dậy, bản năng cảm giác thường tình như nhữngcon người bình thường, trong tình yêu khát khao cái đẹp, khát khao sự khoái

cảm, lạc thú - đó là hạnh phúc Trong bài “Con Mắt” tác giả tạo nên bức

tranh động trong niềm cảm tâm trạng:

“Một con mắt chợt khép mi Hỏi đâu là nhớ, hỏi gì là thương

Một con mắt thức tìm người Đêm qua ở giữa làn môi trăng về ”

Đôi mắt đó chớp động làm rung lên nỗi day dứt băn khoăn H×nh ảnhđôi mắt thật đẹp, thật tuyệt vời, nó làm chữ tình phấp phỏng rạo rực, chínhbởi những xót xa và những đau thương mà một người tật nguyền như ôngphải vượt qua là rất lớn Niềm day dứt trăn trở luôn ẩn hiện trong ông, đôi mắtcùng nằm trên khuôn mặt song nó biểu hiện khác nhau, một con mắt chợtkhép trăn trở hỏi đâu là nhớ hỏi gì là thương Tâm trạng dàn trải miên manlàm đôi mắt buồn, đôi mắt biết suy nghĩ, con mắt còn lại lần tìm người

Trang 27

thương H×nh ảnh trăng về giữa làn môi cũng thi vị kh«ng kÐm, thể hiện khátkhao hòa hợp cháy bỏng trong tình yêu Tuy nhiên cái khát vọng mãnh liệt đó

trở nên buồn, một niềm đau đang chảy dọc từng tế bào trong người thi sĩ.

Khát khao vực dậy với một chàng trai độ tuổi đang xuân, cái tuổi căng đầynhựa sống Thế mà gió trong lòng không thổi cơn buồn, nhịp tim thì đáp songnhịp yêu không còn Tâm trạng bắt đầu là cái buồn, nỗi buồn cũng trở nên

thi vị, hình ảnh giọt sương, ngọn cỏ mang một làn hương sắc màu Quả thực

thi nhân quá ư lãng mạn, cảm xúc cảm giác trong tình yêu được tác giả vẽ nênbởi sắc màu thi vị, tinh tế, trong suốt Tiếp theo đó là nỗi đau trong lòng thi

nhân, việc sử dụng từ láy “mong manh” thể hiện sự mỏng manh, heo hắt của

cảnh vật cũng chính là sự mỏng manh của phận người Nền cảnh hiện lên với

một không gian chói chang màu nắng, hình ảnh cỏ gia tăng sự thảm não âu sầu của tác giả Cuối cùng tác giả tự tan vào mình, tự chạm vào trong đáy sâu tâm thức tác giả bởi bao nhiêu những mặt trời là em.

Đã là con người sinh ra trong kiếp người này thì không thể thoát quacửa ải tình duyên này được Tuy đôi chân kia bị tật nguyền, tuy bị bó hẹptrong không gian nhỏ hẹp song nhiệt huyết tình yêu căng đầy nhựa sống hâmnóng trái tim làm bừng cháy ngọn lửa tình yêu mãnh liệt đang chạy khắp cơthể ông Con người mà ông quan tâm hay nói đúng hơn con người trong thơ

ca quan tâm không chỉ là con người với những vui buồn, khổ đau hạnh phúc

mà còn là con người với khát vọng tìm kiếm “bản ngã” để khẳng định mìnhgiữa cuộc đời Ban đầu là những cảm giác xát xao, con người vô thức trỗi dậy

cái bản năng thường tình:“bầy chim khép cánh trăng lên/ Giường đêm một tầm êm đềm trải ra/ Đối diện với khoảng bao la / Bàn tay năm ngón làn da sương về’’ Cái không gian cổ tích của màn đêm, ánh trăng mềm mại trong

suốt hiện lªn gợi cảm giác lạnh lẽo trống vắng, thiếu thốn tình cảm Chỉ mìnhông trong cõi không đó, bất động u tịch, lẻ loi như bị ứ động bởi cái sức nặng

Trang 28

của không gian và ánh hào quang mát lạnh của ánh trăng ém chặt vào ông.Dường như sự cảm nhận cận kề da thịt rảo bước quanh ông “ chữ tình” đốivới ông mà nói, nó nằm ngoài sức tưởng tượng Phải chăng vì mặc cảm số

phận ông nghĩ tình yêu là một thứ viển vông xa vời với mình: “Chữ tình vốn lắm phù vân” Đỗ Trọng Khơi ý thức được tấm thân bé nhỏ của mình, làm

người đã khó huống gì là tiên Câu thơ như bẻ gãy điều phi lí mà bấy nhiêungười liên tưởng mơ ước về một cuộc sống giữa chốn thần tiên, sinh ra kiếp

con người đã khó vậy thì mong gì cái cao sang về một cõi thần tiên Tấm thân cát bụi trú ẩn ở chốn dương gian, tấm thân ngụ tại nơi đây Chúng ta dường

như cảm nhận được sự tiếc thương, rẻ rúng phận mình trong giọng điệu của

Đỗ Trọng Khơi, không gian tâm trạng dàn trải triền miên, ông buồn một nỗibuồn cho số phận bộ nhỏ bé hẩm hiu của mình Phải chăng ông e dè, đứngtrước một kiều nữ dáng ngà ông không đủ tự tin để thể hiện tình cảm từ đáysâu tâm hồn cũng bởi vì gánh nặng số phận âm thầm ngăn cản ông Chữtình nã xa vời, chữ tình lắm nỗi lênh đênh và lắm nỗi phù vân như tác giả đềcập, gặp nhau đây chỉ biết nâng chén thể hiện sự tận tâm của mình

Cảm giác tình yêu trong ông sao mà sâu cay đến thế, cái cảm giác gợisức liên tưởng rộng Vẫn biết sống là yêu, sống là tận hưởng lạc thú ở đờinhưng vẫn không tránh khỏi những lúc ưu phiền, suy tư Không gian thời giantrở nên cô tịch và mang âm hưởng buồn đến kỳ lạ, ông sống trong âm thầm,suy tư trăn trở để rồi hoá hồn vào thơ ông Sự tin tưởng trong tình yêu đối với

ông nó tối lắm, mờ lắm “chữ tin thì tối” còn “chữ ngờ thì trong” lộ rõ rành vạch Mặc dù vậy cái nhựa sống tình yêu thể hiện qua không gian “chiều vàng chiều tím, chiều xanh” vẫn thật đẹp, như một nhà nhiếp ảnh tài ba Đỗ

Trọng Khơi chụp lại khoảnh khắc tuyệt vời đó để miên man thể hiện sự thayđổi tâm trạng của mình Dữ dội và cô lập đến nghẹt thở trong không gianchiều vàng để rồi khẳng định tình yêu mộng mị, thuỷ chung sắc son và rồi

Trang 29

cũng bình yên như màu xanh hoà bbnh, màu xanh hi vọng Trước tình yêudường như mọi ngôn ngữ đều trở thành vô nghĩa Bởi lẽ, trong tình yêu nhiềukhi chính những điều không nói lại tạo nên những ấn tượng sâu sắc trong tâm

hồn con người, mà dẫu có ngàn năm “hồ dễ mấy ai quên” Tình yêu vốn dệt bằng những kỉ niệm, những chiêm bao, mộng mị: “Cõi người không có người dưng/ Cầu dải yếm, bến sông Tương nơi nào?”

Tương tư nặng gánh con người, tương tư ngộn cháy trong lòng thinhân Từ miền cảm xúc nhẹ nhàng yên tĩnh, dần dần chuyển sang mạch cảmxúc dạt dào, mạnh bạo hơn ngày lặng lẽ qua đi bóng tối tràn về là cả một nỗiniềm dào dạt ùa về Bóng đêm cô tịch của chốn làng quê càng thôi thúc conngười ta đi tìm tình nhân hơn Chính không gian tù túng nhỏ hẹp cùng vớibóng đen u tối mịt mờ cộng với tiếng côn trùng réo rắt gọi bạn tình trongđêm càng làm ông bứt rứt khó chịu, cái cảm giác cần có nửa kia để sẻ chia, đểtâm sự, cái cảm giác cần niềm tâm giao không chỉ ông mà tất cả mọi ngườitrên thế gian này đều sống bởi điều kì diệu đó

Đỗ Trọng Khơi không viết nhiều về tình yêu song ông có một số bài rất

hay viết về tình yêu đôi lứa Bởi lẽ thẳm sâu trong tâm trí ông luôn khao khát

tình yêu và hạnh phúc lứa đôi Tình yêu trong thơ Đỗ Trọng Khơi cũng thật là

da diết Điều này được thể hiện qua rất nhiều tác phẩm của ông như: Với hương hoa ngày xuân, Anh xin được nói lời thương, Phố chiều thu…

Những bài thơ tình yêu của Đỗ Trọng Khơi là ý muốn cháy bỏng, là khát

khao được sống, được yêu thi sĩ đã từng thốt lên lời tỏ tình mãnh liệt: "Anh xin được nói lời thương/ Rồi sau đây nhận tủi buồn cũng cam/ Đã nên nên ngọc nên vàng/ Bằng không mà cháy thành than cũng đành" (Anh xin được

nói lời thương).

Tạo hóa ban cho chúng ta kiếp con người, sự vật trong vũ trụ bao la này

đều có đôi có lứa, có tình Thấm thía điều này, trong bài thơ “Cho” ông viết:

Trang 30

“Cánh đồng thì có dòng sông/mặt trời thì có phương đông để vàng” Trong

con người thi sĩ thuyết âm dương song hành có lúc trỗi dậy, bừng tỉnh, cựaquậy bản năng Thế nhưng nhà thơ lại rụt rè, tự ti Như nhà thơ có lần bộcbạch, dù đôi chân co quắp như tôm luộc song phần đàn ông trong con ngườinhà thơ vẫn vẹn nguyên Nhà thơ đã phải đánh cược với mạng sống của mình

để mong tìm lấy bản năng đàn ông Vậy mà người đọc phải rớt nước mắt khithấy đã từng có lúc nhà thơ phải đau đớn dằn vặt chối phận đàn ông, cái điều

mà thi sĩ ao ước đến cốt tủy: “Cũng khi ta mộng mơ người/ mộng ôm tia chớp giữa trời đêm giông/ Cũng khi chối phận đàn ông/ hờ ru tình ngụ ẩn trong thân nào” (Buồn tàn thu).

Như trên đã nói thơ Đỗ Trọng Khơi không chỉ là những suy cảm vềphận mình mà ông còn luôn suy cảm về phận người trong trời đất Trong bài

thơ Giá như có thể nguyện cầu, viết cực kì xúc động về người ông qua đó

thi sĩ thể hiện nỗi xót xa ngậm ngùi về thân phận con người: Trong đêm nghe tiếng gió thoảng, tiếng sương rụng, ông cảm thấy buồn thương bởi “Tiếng ông thở có bình thường nữa đâu” Vẫn biết thời gian rồi cứ trôi đi, vẫn biết

quy luật cuộc đời là sinh lão bệnh tử mà sao nhà thơ vẫn không giấu nỗi sự xaxót chân thực và hết sức nhân bản

Từng rời làng ra phố, xa cái làng Trần Xá thân yêu ông trăn trở bao tâm

sự Nỗi đau đáu và bất lực của mình, thân xác ở ngoài phố, hồn thả neo ởlàng Lòng thi sĩ đau xót, khóc cho tấm thân tàn tật của mình khi không thể

về thắp nén nhang thơm ngày giỗ để tỏ lòng thành kính trước bậc sinh thành

cho trọn đạo làm con, nhà thơ thấy tan nát can tràng: “Giỗ bà, giỗ bố không

về/ Một con giữa phố tự chia đôi lòng” (Ngày giỗ bà).

Như vậy có thể thấy cái tôi của thi sĩ hiện lên là cái tôi nhân bản với ýthức rất rõ về thân phận không chỉ của cá nhân nhà thơ mà còn của kiếp ngườinói chung Song đó không phải là một cái tôi với nỗi buồn ủy mị, tuyệt vọng

Trang 31

Trong nỗi cô đơn rất con người đó thi sĩ không hề ngã gục trước số phận Nhàthơ đã cho chúng ta thấy sự khiếm khuyết về mặt thân thể không thể làm gụcngã con người, chỉ có sự khiếm khuyết về mặt tâm hồn mới là điều đáng sợ.Chính vì vậy nhà thơ đã không ngừng nỗ lực hóa giải thân phận.

2.1.2.2 Cái tôi nỗ lực hóa giải thân phận

Lép Tônxtôi đã từng nói: “Thân phận nhà thơ cao hơn chính bản thân anh ta” Bên cạnh sống cuộc đời riêng của mình với tư cách là con người bình

thường nhà thơ còn đa mang số phận của nghiệp cầm bút, anh ta phải lấychính đời mình, chính những nghịch cảnh buồn đau của mình làm đối tượngtrước tiên để suy nghiệm, mà mục đích cuối cùng không gì khác là sáng tạocái đẹp và kháng cự lại sự suy tàn Đỗ Trọng Khơi cũng lấy chính đời mình,phận mình để mà chiêm nghiệm Ông tìm đến thơ ca với khát vọng giải thoátkhỏi những ẩn ức về mặt tinh thần chứ không phải để than vãn tuyệt vọng.Nỗi buồn được nhà thơ cảm nhận thường xuyên, như một định mệnh, và nótrở thành nhiều trạng thái khác nhau: nỗi xót xa, đau thương, tinh thần chấpnhận, hy sinh, và cao hơn hết thảy, nó trở thành một triết lý khoan dung vớicuộc đời và sự sống, có khả năng làm vợi bớt những ngang trái, uẩn khúc củacuộc sinh tồn Nỗi đau xót được tiết chế tối đa, trở nên kín đáo, tinh tế,

chuyển thành những biểu tượng mang vẻ đẹp nhuần nhị, dịu dàng: “Vườn xuân lá xuân vẫn rơi/ màu và sắc cứ ngời ngời tươi non…/ thời gian hư ảnh

cũng mòn,/ nhuộm mờ mặt đất tiếng con chim chiều” (Thời gian)

Đỗ Trọng Khơi ý thức được quyền làm chủ giữa cõi đời, cái tôi hiệnlên đầy kiêu hãnh, cái tôi như làm chủ trước mọi biến chuyển của cuộc đời

Lê Ngọc Trà từng nói: “Văn học là phương tiện quan trọng nhất giúp con người trở thành con người vì nó mở ra những bí mật của con người giúp con người hiểu thêm về chính mình”[58] Đỗ Trọng Khơi cũng thế, ông ý thức

được cái tôi để thể hiện khát vọng vụt sống dậy, vượt lên tật nguyền để chiếm

Trang 32

lĩnh cuộc sống vốn tưởng chừng ngưng động: “Sinh làm người ở thế gian/ Sống – thì sống tận phai tàn thì thôi!” Nhà thơ nhận thức sâu sắc rằng người

ta sinh ra không có điều kiện để lựa chọn hoàn cảnh nhưng lại có điều kiện đểlựa chọn phương thức sống, cách sống Ông đã chọn cho mình tâm thế sốngvươn dậy, dù phải nằm viết nhưng nhà thơ luôn đứng thẳng trong cõi đời này

ở phương diện làm người Đỗ Trọng Khơi đã trở thành tấm gương sáng vềnghị lực cho nhiều người noi theo, ông được xem là anh hùng của nhữngngười khuyết tật Nhà thơ Mai Văn Phấn đã không giấu giếm thái độ khâm

phục nghị lực sống của Đỗ Trọng Khơi, ông bộc bạch: “Từ lâu tôi đó coi ông

là tấm gương về nghị lực, tinh thần ham học và tình yêu cháy bỏng dành cho thơ ca Những lúc bị phân tâm, mất lòng tin, hay bi quan chán nản… tôi thường nghĩ đến ông, tưởng tượng hoàn cảnh ông, và đặc biệt, nhớ những câu thơ riêng biệt của ông nữa”[23, tr.8] Không dừng lại ở thực tại, tâm hồn

ông cũng vươn tới một tương lai sáng rạng bằng những khát khao giao cảmtrong cõi vô thức, trong đáy sâu tâm hồn cộng với những suy tư trăn trở trongthực tại để rồi tâm hồn ông phiêu lãng vươn tới ước mơ khát vọng hạnh phúc

về một miền đất mới:“Mai kia về với đất đai/ Trả cho cát bụi hình hài người ơi/ Tình yêu, khát vọng chân trời/ Một dòng hư ảnh ngùi trôi vô cùng” Thế

giới thơ của ông vươn tới miền đất lạ, một nơi mà không vướng bận điều gì

Hình hài trả về với cát bụi, tình yêu khát vọng sẽ trôi vào cõi không, sống mãi

với thời gian để trả lại đời cái cõi yêu thương, những niềm vui, nỗi buồn.Cuộc sống là sự hòa điệu của những vui buồn, nhưng với thi sĩ đó phải lànhững niềm vui, nỗi buồn giàu tính nhân bản Nhà thơ nói với chóng ta:

“Niềm vui sạch, nỗi buồn sạch/ Đủ bắt đầu và kết thúc một lần sống” Triết

lý nhân sinh thật đáng quý xiết bao

Con người vô cùng bé nhỏ, mỏng manh Giữa cõi càn khôn, con ngườichỉ là hạt bụi vô thường nhưng không phải ai cũng ngộ ra điều đó Vì thế,

Trang 33

nhiều khi người ta bị cuốn vào những giấc mơ quyền lực, lợi danh, tiền tài,

mà quên rằng thân phận con người chỉ là tro bụi, cỏ cây Bằng lối thơ tinh tế,sắc sảo, khéo léo, khơi gợi xúc cảm chán ghét xã hội, chế ngạo cái “ngợ hưvinh phù du” này Giọng thơ đanh thép sắc bén, thể hiện thái độ dứt khoáttrước mặt trái của xã hội, vấn đề nóng bỏng cái danh vị, quan chức rồi sự bonchen nghẹt thở của địa vị, nó đè bẹp số phận hẩm hiu của con người bé nhỏ

Đương buổi bình minh tuyệt vời trong sớm mai nghe giọng chim lành hót thánh thót mà sao lại nguôi ngoai về phận người đến thế Càng đau vì số phận của những kiếp người bé nhỏ cô đơn quá Hình ảnh làn mây trắng rong chơi

gợi nhớ đến tuổi thơ của mình Đỗ Trọng Khơi ao ước cái thời hồn nhiên rongchơi nô đùa cũng bạn trẻ, ngày ngày đùa nghịch trên những trảng cỏ quê haynhững trò chơi ú tìm, những pha ruợt bắt mèo chuột tiếng cười của mệt mỏi

rã rời song nó giòn dã vang rộn, chấn động cả vòm trời Đỗ Trọng Khơi nhận

ra cái ngợ hư vinh cãi phù du đó gửi vào trong tiếng binh boong cảnh

chùa.Tiền tài, danh vọng cuối cùng cũng vẫn chỉ là thứ phù du mà thôi Vậythì hà cớ gì con người phải băng hoại cả những giá trị nhân phẩm để mỏi mệt

vì nó Hãy để cho tâm hồn luôn thư thái

Thơ ca đem đến cho con người những sự thanh lọc trong tâm hồn đồngthời là dấu mốc quan trọng để giải thoát tâm tư nguyện vọng của chính bảnthân tác giả Với Đỗ Trọng Khơi thơ là một thứ nghiệp chướng không thể dứt

bỏ được, không người làm thơ nào không phải trải qua những cơn tuyệt vọngmuốn quăng đi làm nghề khác cho nó khoẻ Nhưng thơ là một nghiệp, mộttình yêu đắm đuối Ông đến với cuộc đời bằng niềm lạc quan, yêu đời, lòngtin chiến thắng mặc cảm số phận Ông bầu bạn cùng trăng, mây, gió, hoa lá Thi sĩ thả hồn vào trong những buổi chiều tà, sống trong hơi thở của làngquê sống trong tình yêu thương chở che đùm bọc của gia đình và ngườithân tất cả những khung cảnh không gian và thời gian thăm thẳm thể hiện sự

Trang 34

giao cảm với đời với thiên nhiên.Tất cả những nét đẹp của tạo hoá nó giốngnhư cỗ máy nhân tạo của thời gian, của thiên cảnh đã thanh lọc tâm hồn ông,gạt phắt đi những suy tư phiền muộn, gạt đi những nổi đau đang dần dần gặmnhấm trong cơ thể ông Con đường công danh ngày càng rạng danh khi những

bài thơ của ông rảo bước trên đàn thi đàn Người ta đồng cảm với số phận của

ông, người ta đón nhận thơ ca của ông Nhiều bài thơ, câu thơ ông viết ra làm

ta ứa nước mắt và càng cảm phục nghị lực và tài năng của ông hơn: “từ lâu

tôi quên tôi rồi / từ lâu tôi thả tôi trôi mịt mùng” (Là về trăm năm) Quên ở

đây không phải là thái độ chán nản, buông xuôi trước cuộc đời, nhà thơ quên

đi nghịch cảnh éo le của phận mình để sống với tâm thế an nhiên, ung dung tựtại của kẻ sỹ phương Đông Con người ông thường được hiển lộ qua thơ với

vẻ trầm tĩnh, tự tin Điều đó đó làm nên phong vị và cốt cách thơ Đỗ Trọng

Khơi: “Tôi đi về phía xa xăm/ Vâng, xa xa lắm, mù tăm tuyệt mù”(Giờ đây)

…Tạo hóa đã ban cho chúng ta quyền sống thì chúng ta phải biết trân trọng

nó dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, phải sống sao cho ra sống, sống sao chođúng nghĩa CON NGƯỜI viết hoa

Không chịu khuất phục trước số phận, ông đã trở thành tấm gương sáng

về nghị lực Dù mai kia ông có ra đi nhưng để tìm được ở thế gian này một

người như ông quả thực hiếm thấy: “Một mai tôi khuất tôi rồi/ Ai thay tôi để làm người giống tôi”.

Một tấm thân tật nguyền nhưng không khuyết đi nghị lực sống và tấmthân tật nguyền đó không bị đè bẹp bởi vũ trụ rộng lớn bao la, vĩ đại Cáikhông gian trải dài ngút ngàn, đọng lại chút gì của cõi hư vô cộng thêm vào

đó cái tôi biến hoá vào giọng điệu linh hoạt và khẳng định mình một cách sâu

sắc và rõ nét “Vũ trụ trú ở hồn tôi muôn vàn” Chính bởi cái tôi giống như

sinh khí thổi phồng lên nghị lực sống trong ông Nhà thơ đã trở thành quántrọ, và Trời thì ngụ ở trong Đó chính là bầu trời riêng của Đỗ Trọng Khơi Sự

Trang 35

hoá kiếp từ cái tôi bé nhỏ để hoà vào cái chung cho thấy ông là con ngườiđầy nghị lực và lòng kiên trì nhẫn nại vượt qua mặc cảm số phận để vui ca vớiđời Đó là cả một triết lý nhân sinh, triết lý nhân đạo xuyên suốt thời đại củachúng ta.

Quả thực ở chốn nhân gian bộn bề lo âu cùng với cuộc sống gấp gáp xô

bồ bon chen vậy mà ông luôn là một cái tôi chính mình, một cái tôi khôngtrộn lẫn vào ai Nhìn từ khía cạnh thơ lục bát tinh tế nhẹ nhàng sâu cay vàgiọng điệu bình thản táo bạo càng tăng thêm vẻ phóng khoáng khoẻ mạnhche lấp đi cái tật nguyền ngày ngày đang bào mòn cơ thể ông, sự không trọnvẹn đôi khi làm nên điều hoàn mĩ và trở thành bức tượng kiên cố tuyệt đẹp

Kể từ khi mắc bạo bệnh cuộc đời tưởng như khép lại trước mắt ấy vậy mà nhà

thơ vẫn không lịm tắt niềm hy vọng, ông viết: “Tôi tin vào bản thân nỗi khổ đau/ có bước đi riêng - trong bóng tối”.

Không chỉ lạc quan trong cuộc sống mà ngay cả trong tình duyên cũngvậy Dù rằng ông đã từng cảm nhận thân phận mình hết sức mỏng mang, ôngphải gánh chịu thân phận bất hạnh quá lớn thế nhưng ông vẫn không ngừng hi

vọng, ông luôn tin tưởng rằng “rồi mai tình sẽ tới nơi/ nơi tri âm sẽ có người tri âm”… Đôi lúc ông cũng thốt lên những cảm xúc yêu thật lòng, những

rung động bật lên như nỗi nhớ, đi đến ngỏ lời và đẩy đến tột đỉnh là yêu Ôngrút ra chữ tình đầy trắc ẩn và nó nặng gánh kiếp người đa mang, hạnh phúc

giờ đây vỡ oà trong miền xúc cảm: “Đã rằng giấu ở trong tim/ Chút hương chút sắc chút tình đa mang/ Mùa xuân đến thật khẽ khàng/ Mà sao vẫn cứ xốn xang lòng người” Tình yêu trong ông dường như được chôn chặt song

chút hương chút sắc chút tình đến thật nhẹ nhàng, vẻ đẹp dịu dàng của nàngxuân làm lòng người xốn xang khó tả Hương sắc khung cảnh mùa xuân hiệnlên thật quyến rũ, không gian tâm trạng choáng ngợp con người thi nhân Dùvẫn biết mùa xuân đến nhẹ nhàng là thế nhưng sao tâm hồn thi nhân rạo rực

Trang 36

bồn chồn khó tả là vậy Tình yêu không còn chôn chặt nữa mà giờ đây ông đã

tự tin mở lời: “Tỉnh say cũng bởi tình thôi/ Giấu làm chi để thiệt lời cho nhau/ Đã trao trao tận niềm đau/ Đã cầm dù có nhạt màu cũng cam”.

Vốn là một người giầu nghị lực, thiết tha yêu đời và yêu người, ôngnhìn thiên nhiên và cuộc sống với cặp mắt thơ mộng, với một tâm hồn lạc

quan như “vườn chiều rộn lá thu sang” Đọc thơ ông ta thấy hình ảnh những

cánh đồng, tuổi thơ và một vùng quê trù phú gợi cảm giác tươi vui Trong tâm

trạng cực kì xúc động nhà thơ chân thành giãi bày tình yêu cuộc sống: “Tôi yêu cuộc sống này, yêu những người thân quanh năm chăm sóc tận tình cho tôi Tôi yêu mẹ tôi, cách đây bao nhiêu năm dù cuộc sống bộn bề lo toan, vất

vả đói kém nhưng vì tôi không thể ra ngoài nên bà đã chắt bóp mua cho tôi chiếc đài bán dẫn để cho tâm hồn tôi được thoát ra khỏi cánh cửa nhà Tôi yêu chị Khanh (chị gái nhà thơ) dẫu chỉ đi nhặt nắp chai bia bán, cuộc sống chật vật, phải nuôi ba con ăn học nhưng vẫn lo cho tôi một cuộc sống chu toàn Tôi yêu các cháu tôi, vì chúng lúc nào cũng yêu quý cậu, đi đâu về cũng chạy vào phòng cậu… Đó là hạnh phúc từ những người thân yêu trong gia đình, từ những cánh đồng làng quê… để rồi tất cả đi vào thơ tôi, ngọt ngào như hương vị cuộc sống mà tôi được nếm trải” Với tâm hồn yêu đời nên dù

bị liệt cả hai chân nhưng trong ông luôn có một hồn thơ bay bổng và ca vang.Chính những câu thơ đầy ắp cảm xúc đã làm “nhịp cầu nối bờ vui” cho hạnhphúc của mình Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi luôn tin vào số phận với một suy

nghĩ rất lạc quan rằng: “Ông trời không dồn ai tới bước đường cùng” Thế

nên ngay cả khi phải sống chung thân với một đôi chân co quắp như con tômluộc tới mấy chục năm thì nhà thơ vẫn nuôi mộng đến một ngày đôi chân ấy

sẽ được duỗi thẳng và thi sĩ sẽ có một mái ấm của riêng mình Cuối cùng thìniềm tin ấy cũng được đền đáp khi cuộc đời đã ban cho ông một người phụ nữnhân hậu và giàu lòng hy sinh – Người nguyện dâng hiến đời mình bù đắp

Trang 37

cho ông những thiệt thòi trong quá khứ Niềm hạnh phúc tưởng như trong mơ

đã đến với thi sĩ Sự tiên tri của nhà thơ đã thành hiện thực: “Nơi tri âm sẽ có người tri âm”.

Đỗ Trọng Khơi từng nói: “Mình đi trong đời cũng như đi trong thơ: Đi

để mà đi chứ không nghĩ nhiều về đích tới Thực ra, mình viết văn, làm thơchẳng vì một mục đích nào cả Sáng tác chỉ giản dị do nhu cầu tinh thần, tình

cảm cần bày tỏ và tìm hiểu thế giới này: “Sinh ra trời đã nhủ rằng: Tôi – một cái chết sống trong lòng đời/ và rằng trời trọ vào tôi/ đi tìm ý nghĩa con người thế gian…” Đấy, thơ mình đấy” Một vẻ hài hước nhưng rất có hồn của

“nhà thơ viết nằm” - một minh chứng sống điển hình về nghị lực vượt lên sốphận và tinh thần lao động nghệ thuật Và cũng chính việc nằm bại liệt mộtchç mà Đỗ Trọng Khơi bắt đầu một đời đọc sách Ông đọc ngấu nghiến cácloại sách đông tây kim cổ để tìm đến với chân lý sống, tìm đến những niềm

tin, niềm lạc quan và tìm thấy chính mình: “Tôi tự chèo lái lấy thôi / Con thuyền bào ảnh là tôi, hay là? / là tôi thì tôi sẽ qua/ không là tôi cũng như là thế gian” Thế mới thấy chỉ có niềm tin, tinh thần lạc quan con người ta mới

thể hiện tối đa nghị lực sống, vươn lên làm được những điều thần kỳ trongcuộc sống Nhà thơ trần tình: Công việc viết văn, tất nhiên rất cần có đời sốngthực tế Tuy vậy, với tính đặc thù của loại hình nghệ thuật này là đòi hỏi nhiều

ở khả năng suy nghiệm, trải nghiệm của đời sống, tầm hồn… “Mình viết bởi những suy nghiệm về cuộc đời, phận người, kiếp người trong cái thế gian này, trong khoảnh khắc và tính chất muôn đời ngàn năm của nó” Khi nói về thi sĩ Đỗ Trọng Khơi, nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: “Những vần thơ của anh luôn chứa đầy tính nhân sinh quan, là sự chiêm nghiệm về những gì thân thuộc, gần gũi quanh ta Là nét chấm phá rất riêng về phong cách nghệ thuật…” Đọc rồi viết Hai thứ ấy như hơi thở, như niềm vui sống hàng ngày của Đỗ Trọng Khơi Nhà thơ đã vịn thơ để “đứng lên” Dẫu đã mấy chục năm

Trang 38

nằm viết nhưng ông vẫn nhìn đời bằng một màu sắc tươi vui trẻ trung Làngười tôn sùng đạo Phật thi sĩ ngộ ra những lẽ đời bình dị sâu xa sau những nỗi

đời bộn bề phiền tạp, những cái có cái không, cái còn cái mất, những thực

-hư, thật - giả … trong cuộc thế phù du này Đỗ Trọng Khơi có được tâm thế

bình thản để sống giữa những dâu bể, sống với cái sắc sắc không không của cõi

này “Men dòng nhật nguyệt ta đi / bao nhiêu sắc sắc đã về không không”

Sống, chịu đựng và vươn dậy viết như Đỗ Trọng Khơi càng minh chứng chothấy, hoàn cảnh, cao hơn là số phận bản thân cũng chỉ là cái cớ cho thi sỹ sángtạo chứ không phải là phương tiện hay mục đích để giải thoát

Thơ ông là tiếng nói của tâm hồn trong sáng, nhân hậu, thiết tha.Những suy tư âu lo về đời thể hiện trong thơ đầy triết lý hướng vào khám phá

về con người, nói như Lê Ngọc Trà: “Văn học, đặc biệt văn học đã từng bước vào giai đoạn thực sự trưởng thành, không chỉ bày tỏ tình yêu, sự phẫn nộ hay lòng xót thương con người mà còn là một lĩnh vực quan sát và khám phá

về con người”[58, tr.57] Viết về sự luân chuyển bốn mùa nhà thơ bày tỏ cái

chiêm nghiệm của một cõi người với những triết lý nhân sinh được ẩn chứatrong triết lý tuần hoàn của vũ trụ Trong dòng chuyển của thời gian năm

tháng ẩn hiện thời gian tâm lý của con người: “Kết mùa ngậm bóng hoa – rơi/

mà theo hoa rụng về thời thơ sinh/ Mà về thăm thẳm tâm linh/ lặng nghe tĩnh

vắng xóa hình dáng ta”(Cầm thu) Thông thường thấy hoa rụng, người ta hay

nghĩ đến sự già nua, “lá rụng về cội”, Đỗ Trọng Khơi ngược lại: “mà theo hoa rụng về thời thơ sinh”, nhìn hoa rụng không nghĩ đến sự kết thúc, sự già

nua mà lại hướng tới thời thơ sinh, lạ và mới mẻ Cái nhìn thể hiện sự lạcquan yêu đời, triết lí sống an nhiên của đạo Phật Trong cảm thức thời gian

Đỗ Trọng Khơi cũng giật mình trước thời gian tuyến tính không chờ đợi con

người: “Hư vô thảm thắc với tôi/ thời gian càng nắm càng rơi dọc

đường”(Hư vô thảm thắc) Nhà thơ ngộ ra rằng chính sự thấu hiểu những

Trang 39

giới hạn của đời người giúp con người bình thản trước cuộc đời Đỗ TrọngKhơi đã bày tỏ quan điểm về cách sống, cách nhìn đẫm màu Thiền, màu sắctâm linh.

“Tồn tại hay không tồn tại?” là nỗi day dứt không nguôi trong lòngông Tuy nhiên, nhà thơ vẫn yêu đời và vẫn nuôi dưỡng hy vọng Thi sĩ nói:

“Tôi xin mãi được là mình”, không phải là cái mình đơn côi, cách biệt, lẩn tránh thực tại như các thi sĩ thời thơ mới mà là cái “mình ” hòa nhập với đời,

dù thế giới trong thơ ông mang màu sắc tâm linh nhưng trước hết ông vẫn là

con người của thực tại: “Tự tìm lối đến với đời / Thưa rằng điều ấy người ơi – tôi cần”.

Tiểu kết

Văn học nói chung và thơ ca nói riêng đều quan tâm thể hiện số phậncon người Song con người mà thơ ca quan tâm không chỉ là con người vớinhững vui buồn, khổ đau, hạnh phúc mà còn là con người với khát vọng tìmkiếm “bản ngã” để khẳng định mình giữa cuộc đời Đỗ Trọng Khơi đã thoátkhỏi mớ hỗn độn của xã hội để đi vào cõi không tâm hồn Ông đến một thếgiới khác, thế giới tồn tại bởi biết bao viễn cảnh và ước mơ tươi đẹp, điều đó

đó tạo nên những sáng tạo trong nghệ thuật cũng như phát kiến ra những giá

trị vốn có của con người Như Lê Ngọc Trà đã nói: “Giá trị của một tác phẩm văn học không phải chỉ ở tính hiện thực mà còn ở tầm tư tưởng của nó Nhà văn lớn bởi vậy cũng là nhà tư tưởng lớn” và “Tư tưởng nghệ thuật chính là sự nung nấu, dằn vặt, là ngọn lửa, là tình yêu và do đó là tình cảm Khác đi, mọi tư tưởng dù đúng đắn và đẹp đẽ đến đâu cũng sẽ kém sức thuyết phục và tác phẩm cũng sẽ mất sức hấp dẫn”[58] Bằng chính tầm tư tình cảm

và bằng chính sự nỗ lực của bản thân mà ông đã làm nên điều kì diệu trongcuộc đời, đó là sự tươi trẻ trong tâm hồn và sự chín chắn mạnh mẽ của conngười giàu nghị lực, biết sống, biết giải trí, biết biến hoá cái đau thương thành

Trang 40

cái hạnh phúc, đồng thời tìm được nguồn giao cảm từ thơ ca chứ không chịu

khuất phục và chết lặng, không chịu ràng buộc bởi thế gian “tù mù” như ông

khẳng định

2.2 Hình tượng thế giới

Hình tượng thế giới trong thơ trữ tình vừa có tính khách quan, vừamang tính chủ quan Hình tượng bao giờ cũng có cội rễ từ trong hiện thực vìthế dù được tạo ra từ cảm xúc của chủ thể và tắm mình trong những cảm xúcnhưng hình tượng trữ tình vẫn mang tính xác thực tương đối.Tính khách thểcủa hình tượng thế giới như thế chứng tỏ khả năng xác định của nó về mặtkhông gian và thời gian: “Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con

người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”[52] Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ

không - thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giớiđều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Và từ sự đổi thay củakhông gian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình Nhưvậy tìm hiểu hình tượng thế giới thơ trữ tình chính là đi tìm hiểu các yếu tốkhông gian, thời gian, hình ảnh, màu sắc …trong thơ Trước hết ta cần tìm

hiểu khái niệm không - thời gian trong thơ Trong cuốn Từ điển tiếng Việt,

Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không gian như sau: “Không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh đời sống con người”[40, tr.633] Và xét về bản chất của những từ “thế giới”, “vũ trụ”

thì đó đều là những khái niệm để chỉ tổng thể không - thời gian Theo cáchhiểu đó thì vũ trụ cũng có nghĩa là một tổng thể không - thời gian Mà conngười cũng là một tổng thể của không - thời gian, nghĩa là nó là một tiểu vũtrụ trong đại vũ trụ, môt tiểu thế giới trong đại thế giới Như vậy, không gianchính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật Khônggian chính là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính như cùng tồn

Ngày đăng: 12/04/2016, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote ( 2007 ), Nghệ thuật thơ ca, NXB Lao động văn hóa trung tâm ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Nhà XB: NXB Lao động văn hóa trung tâmngôn ngữ Đông Tây
2. Vũ Tuấn Anh (1996), Sự vận động của cái tôi trữ tình và tiến trình thơ ca, Tạp chí văn học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của cái tôi trữ tình và tiến trình thơca
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
3. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945 - 1975, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam 1945 - 1975
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoahọc xã hội
Năm: 1997
4. Phạm Quốc Ca (2003), Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000 (Chuyên luận), NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000
Tác giả: Phạm Quốc Ca
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
5. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin . 6. Tô Đức Chiêu (2006), Bầu trời bên ngoài cửa sổ, Báo Văn nghệ công an Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ", NXB Văn hóa thông tin .6. Tô Đức Chiêu (2006), "Bầu trời bên ngoài cửa sổ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin . 6. Tô Đức Chiêu
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin .6. Tô Đức Chiêu (2006)
Năm: 2006
7. Mai Ngọc Chừ: “Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện ý nghĩa của lục bát biến thể” Văn hóa dân gian, H, 1989, số 2, trang 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần, nhịp, thanh điệu và sức mạnh biểu hiện ý nghĩacủa lục bát biến thể
8. Nguyễn Văn Dân (1998), Lý luận văn học so sánh, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
9. Đài Tiếng nói Việt Nam (2010), Tình đi trong cõi nhân gian, Báo điện tử Đài tiếng nói Việt Nam VOV.VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình đi trong cõi nhân gian
Tác giả: Đài Tiếng nói Việt Nam
Năm: 2010
10. Vũ Đảm (2008), Sống bằng ánh sáng thơ ca, Báo An ninh thủ đô . 11. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống bằng ánh sáng thơ ca", Báo An ninh thủ đô .11. Hữu Đạt (1996), "Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Đảm (2008), Sống bằng ánh sáng thơ ca, Báo An ninh thủ đô . 11. Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
12. Hà Minh Đức (1997), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
13. Hà Minh Đức (2000), Đi tìm chân lí thơ, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm chân lí thơ
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
14. Hà Minh Đức (1971), Các thể thơ và hình thức thơ, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể thơ và hình thức thơ
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1971
15. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (1968), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức vàthể loại
Tác giả: Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1968
16. Hà Minh Đức (1998), Lý luận và văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
17. Nguyễn Văn Hanh, Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học vấnđề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hanh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. Đức Hậu (2010), Cổ tích thời hiện đại, Báo Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ tích thời hiện đại
Tác giả: Đức Hậu
Năm: 2010
19. Nguyễn Thái Hòa (1999), Tiếng Việt và thể thơ lục bát, Tạp chí văn học ( số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt và thể thơ lục bát
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Năm: 1999
20. Nguyễn Văn Hoàn ( 1974 ) , Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều , Tạp chí văn học (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể lục bát từ ca dao đến Truyện Kiều
21. Nguyễn Chí Hòa (2012), Đỗ Trọng Khơi: Nhà thơ viết nằm không khuất phục trước tật nguyền, Báo Quân đội Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Trọng Khơi: Nhà thơ viết nằm không khuấtphục trước tật nguyền
Tác giả: Nguyễn Chí Hòa
Năm: 2012
67. Xuân Đam (2008), Từ ABC đến thơ, Địa chỉ truy cập: http://dotrongkhoi.vnweblogs.com/print/2005/228967 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w