1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sự tương đồng và khác biệt giữa thơ lục bát của tản đà và thơ lục bát của văn học dân gian

72 523 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 475,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quá trình tìm hiểu thì phần nhiều Tản Đà sử dụng thể thơ lục bát của của dân tộc, trong đó có sự tương đồng về nội dunglẫn nghệ thuật so với các sáng tác về thơ lục bát trong văn học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

NGUYỄN MAI THẢO

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA THƠ LỤC BÁT CỦA TẢN ĐÀ VÀ THƠ LỤC BÁT

CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

Luận văn tốt nghiệp đại học

Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: Ths GV HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG

Cần Thơ, năm 2011

Trang 2

1.1 VÀI NÉT VỀ THƠ LỤC BÁT

1.1.1 KHÁI BIỆM VỀ THƠ LỤC BÁT

1.1.2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ LỤC BÁT1.2 VÀI NÉT VỀ THƠ LỤC BÁT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

1.2.1 MỘT SỐ THÀNH TỰU TIÊU BIỂU

1.2.2 NÉT ĐẶC SẮC CỦA THƠ LỤC BÁT TRONG VĂN HỌC DÂN

GIAN

1.3 VÀI NÉT VỀ THƠ LỤC BÁT CỦA TẢN ĐÀ

1.3.1 MỘT SỐ THÀNH TỰU TIÊU BIỂU

1.3.2 NÉT ĐẶC SẮC CỦA THƠ LỤC BÁT TẢN ĐÀ

1.4 CÁC YẾU TỐ TẠO NÊN MỐI QUAN HỆ GIỮA THƠ LỤC BÁT TẢN

ĐÀ VÀ THƠ LỤC BÁT CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

CHƯƠNG 2 : SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ NỘI DUNG GIỮA THƠ LỤC BÁT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ THƠ LỤC

BÁT CỦA TẢN ĐÀ

2.1 TIẾNG NÓI TÂM TÌNH THIẾT THA SÂU LẮNG

2.1.1 TÌNH CẢM GẮN BÓ VỚI QUÊ HƯƠNG ĐẤT NƯỚC

2.1.2 NIỀM MƠ ƯỚC VỀ CUỘC SỐNG BÌNH DỊ

2.1.3 SỰ XUẤT HIỆN CỦA CÁI “TÔI”

2.2 TIẾNG NÓI PHÊ PHÁN MẠNH MẼ, SÂU SẮC

2.2.1 PHÊ PHÁN GIAI CẤP THỐNG TRỊ

2.2.2 PHÊ PHÁN THÓI ĐỜI ĐEN BẠC

CHƯƠNG 3 : SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ NGHỆ THUẬT GIỮA THƠ LỤC BÁT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ THƠ LỤC

BÁT CỦA TẢN ĐÀ

3.1 NGÔN NGỮ

3.2 KẾT CẤU

3.3 HÌNH ẢNH THƠ

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, giai đoạn 1900- 1930 là giai đoạnvăn học có tính chất giao thời Văn học ở thời kì chuyển hóa, tập hợp để chuẩn bị

cho nền văn học hiện đại ra đời: “ Văn học của cả giai đoạn 1900 - 1930 có tính

chất giao thời Tính chất giao thời đó được biểu hiện ở sự tồn tại song song hai nền văn học cũ và mới với hai lực lượng sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm văn học, hai ngôn ngữ văn học ở hai địa bàn khác nhau, ở xu thế thắng lợi của nền văn học mới đang tiến tới thay thế nền văn học cũ đang suy yếu dần Ở giai đoạn giao thời này, nền văn học cũ tuy đã ở trên đà suy tàn nhưng vẫn còn giữ một vị trí đáng kể, vẫn còn một tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn học dân tộc.”[10;29]

Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất có hiện tượng đan xenhai yếu tố cũ và mới trong sáng tác của một tác giả, có khi trong cùng một tácphẩm Hai yếu tố cũ và mới ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật được kếthợp nhuần nhuyễn và phổ biến trên khắp các thể loại, tạo ra những giá trị đặc biệt,không thể xếp vào kho tàng văn học trung đại mà cũng chưa thể công nhận là mộttác phẩm văn học hiện đại Chính vì vậy văn học mang tính chất giao thời , có sự

đan xen giữa phương pháp sáng tác cũ và mới, tạo nên nét “biệt thái” Cùng với

sự phát triển của tiểu thuyết,thơ ca cũng có sự thay đổi lớn, có thể nói sự góp mặtcủa thi sĩ Tản Đà đánh dấu một bước chuyển mới cho chặng đường thơ ca đươngđại Thơ Tản đà chất chứa nhiều mâu thuẫn, nói khác hơn đó là mâu thuẫn củabuổi giao thời

Ở Tản Đà luôn chất chứa một tấm lòng đối với dân tộc, ông khao khát tìm một thếgiới tốt đẹp nơi trần giới, ông sống giữa mộng và đời nhưng cuộc đời thực khiếnnhà thơ day dứt không nguôi Những nhà nghiên cứu về Tản Đà đã có những địnhhướng khác nhau, người thì tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong thơ Tản Đà, ngườithì nghiên cứu tính giao thời trong thơ ông, người thì khai thác chất dân gian, dântộc, lãng mạn thoát ly trong thơ Tản Đà Qua quá trình tìm hiểu thì phần nhiều Tản

Đà sử dụng thể thơ lục bát của của dân tộc, trong đó có sự tương đồng về nội dunglẫn nghệ thuật so với các sáng tác về thơ lục bát trong văn học dân gian Vì sao thơông lại mang những đặc điểm trên? Để trả lời cho câu hỏi ấy, người viết đã chọn

đề tài tìm hiểu về “ sự tương đồng và khác biệt giữa thơ lục bát của Tàn Đà và

thơ lục bát của văn học dân gian” Tình cảm của nhà thơ trong cuộc đời thực

được chuyển tải qua những vần thơ lục bát nhẹ nhàng sâu lắng, mang đậm tính dântộc, đó là cả quá trình sang tạo và chắt lọc của thi sĩ Với bài viết này người viếtphần nào nắm được chất dân tộc trong thơ ông, cũng như tình cảm nhà thơ đối vớidân tộc, đồng thời có thể hiểu sâu sắc hơn về con người trong thơ lẫn con ngườithực của tác giả

2 Lịch sử vấn đề

Trang 5

Trong tiến trình hiện đại hóa văn học, Tản Đà được đánh giá là thí sĩ có công lớn

và trên văn đàn văn học Việt Nam không có một nhà thơ nào nổi tiếng và đượcyêu mến như Tản Đà Trong “thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã đặt bài tưởng

niệm Tản Đà lên những trang đầu, với lời lẽ tôn kính: “ có tiên sinh người ta sẽ

thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại, những đứa thất cước không có liên lạc gì với quá khứ của giống nòi, có tiên sinh, trên Tao Đàn sẽ còn phảng phất chút bình yên trong tư tưởng, chút thích thảng mà từ lâu chúng tôi đã mất.”[ 4; 12] Tản Đà xuất hiện giữa dòng văn học 1900_1930 như sự báo hiệu

cho những đổi thay trong thơ ở một chặng đường mới Bởi vì “trong tác phẩm của

Tản Đà có nhiều dấu vết của hình thức trung gian, của những đầu mối giữa văn học Đông và Tây, điều đó làm cho Tản Đà có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam; giá trị tiêu biểu cho một thời đại dẫu thời đại đó ngắn ngủi: thời cận đại.” [ 5; 468 ].

Thơ cũng là lĩnh vực quan trọng nhất trong sự nghiệp sáng tác phong phú của Tản

Đà Ông được coi là một thi sĩ, hơn hết các nghề khác Ông sáng tác rất nhiều thơ,nhiều thể loại - cả về nội dung lẫn hình thức Thơ ông hay diễn tả cảm giác saysưa, chán ngán đời thực, đắm chìm trong cõi mộng, những mối tình với người tri

kỷ xa xôi, song cũng có những bài mang tính ẩn dụ, ngầm phê phán hiện thực ThơTản Đà thường làm theo thể Cổ phong, cũng có khi làm bằng thể Đường luật,đường luật phá thể, song thất lục bát và thể thơ lục bát Thế nên đề tài tìm hiểu “sựtương đồng và khác biệt giữa thơ lục bát Tản Đà và thơ lục bát của văn học dângian” là một đề tài mới, giúp người viết hiểu thêm về triết lý sống phóng khoáng,một tâm hồn hay mơ mộng, hoài cổ nhưng man mác nỗi sầu nhân thế của tác giả

3 Mục đích nghiên cứu

Để thực hiện tốt đề tài người viết phải có một lượng kiến thức nhất định về thể thơtruyền thống Hiểu biết về thể thơ lục bát trong sáng tác của văn học dân gian.Thực chất ảnh hưởng của văn học dân gian có thể nói là rất đậm trong thơ lục bátcủa Tản Đà Trong số các nhà thơ cận hiện đại, Tản Đà là nhà thơ được dân gianhoá mạnh và sâu hơn cả Trong đó phải kể đến ảnh hưởng của các câu hát lý giaoduyên theo quy tắc hiệp vần bằng trắc cùng với cách gieo nhịp chẵn và ngôn ngữ

đã có trong ca dao như đại từ ai, mình, ta … rất uyển chuyển và duyên dáng Mặc

dù người viết có dịp tiếp xúc thêm ở học phần “ văn học Việt Nam hiện đại 1” nhưng sự hiểu biết còn hạn chế Do đó người viết đã chọn đề tài “sự tương đồng

và khác biệt giữa thơ lục bát của Tản Đà và thơ lục bát của văn học dân gian”

nhằm tạo điều kiện cho bản thân có thể hiểu thêm về thơ lục bát của Tản Đà cũngnhư thơ lục bát trong văn học dân gian

Tản Đà là một tác gia văn học khó đánh giá và nghiên cứu, từ lâu đã được giới phêbình và nghiên cứu văn học rất quan tâm Họ khen không tiếc lời và chê cũngkhông tiếc lời Vì lẽ đó người viết mong muốn qua đề tài nghiên cứu này có thểtìm hiểu và so sánh để làm nổi bật lên các sáng tác bằng thể thơ lục bát của ông,góp phần khẳng định Tản Đà là nhà thơ được dân gian hóa mạnh mẽ và sâu sắchơn cả trên hai bình diện nội dung và nghệ thuật

4 Phạm vi nghiên cứu

Trang 6

Với đề tài tìm hiểu về “sự tương đồng và khác biệt giữa thơ lục bát của Tản Đà và

thơ lục bát của văn học dân gian”, người viết chỉ dừng lại ở việt khảo sát những

tác phẩm thơ lục bát của Tản Đà và thơ lục bát trong văn học dân gian, so sánh nétgiống và khác về nội dung lẫn nghệ thuật Trên cơ sở khảo sát những bài thơ trong

“Tuyển tập Tản Đà” do Nhà xuất bản Hội Nhà Văn biên soạn, quyển “Tản Đà đời

và thơ” do nhà xuất bản Văn học giới thiệu, và “ca dao Việt Nam” nhà xuất bản

văn học,người viết cố gắng tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong sángtác thơ bằng thể lục bát của Tàn Đà và thơ lục bát trong văn học dân gian ở haiphương diện nội dung và nghệ thuật Qua đó chúng ta vừa có thể tìm hiểu về thểthơ lục bát của dân tộc, ảnh hưởng của văn học dân gian trong sáng tác của Tản Đà

về cách gieo vần, nhịp điệu, ngôn ngữ…

Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu này, chúng ta có cách nhìn, đánh giá đúnghơn, sâu sắc hơn về nhà thơ, hiểu được con người trong thơ cũng như con ngườithực của tác giả, bên cạnh đó có cách đánh giá xác đáng hơn về những đóng gópcủa Tản Đà cho nền văn học nước nhà

5 Phương pháp nghiên cứu

Do yêu cầu của đề tài là tìm hiểu “ sự tương đồng và khác biệt giữa thơ lục bát

của Tản Đà và thơ lục bát của văn học dân gian” nên người viết cơ bản bám sát

những tác phẩm thơ lục bát của Tản Đà trong “tuyển tập Tản Đà” do nhà xuất bản

Hội nhà văn giới thiệu, Từ những tác phẩm cụ thể của Tản Đà sáng tác bằng thểlục bát và thơ lục bát trong văn học dân gian, người viết đã so sánh từng bài thơ,tìm ra nét tương đồng và khác biệt trên cả hai bình diện nội dung và nghệ thuật để

xác lập các yếu tố tạo nên “sự tương đồng và khác biệt giữa thơ lục bát của Tản

Đà và thơ lục bát của văn học dân gian” Bên cạnh đó người viết đã thu thập

nhiều tài liệu có liên quan để tổng hợp, so sánh, đối chiếu và rút ra kết luận riêngcho đề tài

Tóm lại, ở đề tài này, người viết đã kết hợp tất cả các phương pháp: so sánh, phântích, chứng minh, tổng hợp… để tìm ra cách lí giải, giải thích cụ thể cho từng vấn

đề được đặt ra

Trang 7

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1VÀI NÉT VỀ THƠ LỤC BÁT

1.1.1 Khái niệm về thơ lục bát

Lục bát là loại thơ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối liềnnhau Bài thơ lục bát thông thường được bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câubát Đôi khi cũng có trường hợp kết thúc bằng câu lục để đạt tính cách lơ lửng,hiểu ngầm, hay diễn đạt tính cách đột ngột

1.1.2 Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ lục bát

Lục bát là thể thơ dân tộc mang đậm bản sắc và phong vị quê hương Thơ lụcbát rất dễ nhớ và dễ thuộc vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngônngữ thơ và ngôn ngữ đời thường Câu thơ đọc lên mà cữ ngỡ là câu hát hoặc mộtbản nhạc, vừa có vần, vừa có điệu, nghe rất thanh thoát và êm tai Nhiều bài thơlục bát đi vào lòng người như một lời ru:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

mà duy trì được sự thanh tao của thể thơ

Vì có dung lượng lớn, không hạn chế về số câu trong bài thơ , đáp ứng đượcnhu cầu tự sự nên thường được sử dụng trong truyện thơ, diễn ca lịch sử, trườngca

Với nhịp điệu, âm hưởng dung dị, trữ tình của ca dao nên rất phù hợp khi thểhiện những đề tài ca ngợi vẻ đẹp của đất nước, cảnh sắc, con người, tâm tư tìnhcảm hay những nét văn hóa độc đáo nơi làng quê:

“Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều”

(Việt Nam đất nước ta ơi_Nguyễn Đình Thi)Hay:

“Dù cho sông cạn đá mòn Còn non còn nước hãy còn thề xưa”

(Thề non nước_Tản Đà)

Trang 8

Đến với những câu lục bát của Nguyễn Bính sẽ cảm thấy rất gần gũi, bìnhdị,cũng bởi nhà thơ khai thác đề tài về cuộc sống làng quê:

“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn Hai người sống giữa cô đơn Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi Giá đừng có giậu mồng tơi Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng”

(Cô hàng xóm)

Trong bài tựa sách Quốc âm từ điệu, Phạm Đình Toái đã nhận xét: “Thể thơ lục

bát đâu đâu cũng quen thuộc không hẹn mà giống nhau, tao nhân mặc khách mở miệng nên thơ, gái dệt, trai cày nói lời hợp điệu, cho đến câu hát của xóm làng,

lời đùa của trẻ con cũng không gì là không nhịp nhàng, hợp vần”.

Do yêu cầu phản ánh, thể hiện tình cảm cần lời ít mà ý sâu, càng ngắn gọncàng dễ nhớ, dễ lưu truyền, phổ biến nên tính kiệm lời, cô đọng, ngắn gọn là đặcđiểm nổi bật trong nghệ thuật biểu hiện của lục bát dân gian

Khác với truyện cổ, phương thức biểu hiện tình cảm của lục bát dân gian ngắngọn, cô đọng nhưng giàu cảm xúc Ví dụ: khi đề cập đến thân phận, cuộc đời,tương lai

Các cô gái miền Bắc nói về tâm trạng mình:

“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”

(Ca dao)Cùng tâm trạng, tình cảm đó, cô gái Trung Bộ thể hiện:

“Thân em như chiếc thuyền tình Mười hai bến nước linh đinh Biết đâu trong đục nương mình gửi thân.”

Những thân phận mong manh, lênh đênh như “tấm lụa đào”, “chiếc thuyền

tình”, “trái bần trôi” đã mang tâm hồn, tình cảm, dấu ấn thiên nhiên miền đất

sinh sống của những người con gái không có quyền định đoạt số phận, hạnh phúc,cuộc đời Nỗi đau khổ, cay đắng chất chứa trong tiếng thở than nghẹn ngào đã làmrung lên niềm thương cảm của trái tim bao người nghe Nỗi khổ đau đó cũng được

đại thi hào Nguyễn Du thể hiện trong tác phẩm “Truyện Kiều” với độ dài 3254

dòng lục bát đầy những niềm cảm thông thương xót:

Trang 9

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.

Việc chọn lọc từ tạo nên hình ảnh thường được thấy rất nhiều trong các bài thơ

Có những hình ảnh đẹp, mềm mại, hài hòa, thơ mộng Có những hình ảnh khắckhổ, vuông thành sắc cạnh, song cũng có những hình ảnh đồ xộ, đôi khi gớmghiếc Mỗi một hình ảnh đều nhằm tái tạo lại thị giác, cảm quan của người làm thơlúc họ viết Một trong những ví dụ về hình ảnh có thể tìm thấy trong tập TruyệnKiều của Nguyễn Du:

“Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

Do ảnh hưởng của quan niệm hội họa dưới thời người làm thơ còn sống, Nguyễn

Du thường sử dụng phong thái thủy mặc trong thơ của mình Phong cảnh đơn sơ,chấm điểm, phác thảo và nhẹ nhàng, nhưng không kém sức quyến rũ

Hay gần đây hơn của nhà thơ Trần Đăng Khoa trong bài “Nghe thầy đọc thơ”:

“Em nghe thầy đọc bao ngày Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà Mái chèo nghiêng mặt sông xa Bâng khuâng nghe vọng tiếng bà năm xưa”

Không chỉ là những hình ảnh đẹp, tĩnh tại, hình ảnh trong thơ còn động đậy, hoạtbát Người đọc thơ vừa hình tượng được vật thể, vừa thấy màu sắc, vừa thấy sựchuyển động của chúng Chính vì lý do này, nhiều khi các vật được miêu tả trong

thơ được nhà thơ cho thêm tính “hoạt họa” của nó, hay còn gọi là “nhân cách

hóa” Dùng động từ cho những vật tưởng là vô tri, vô giác cũng giống như việc

thổi sức sống vào trong vật thể, làm nó sống động trong đầu người đọc thơ

Thực tế, do đặc điểm ngắn gọn nên dung lượng phản ánh của mỗi bà thơ có phầnhạn chế Bởi hiện thực cuộc sống vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp Tâm hồn,cảm xúc của con người rất tinh tế, nhiều cung bậc Mỗi lời ca dao chỉ phản ánhđược một khía cạnh của cuộc sống nên từ đó có hiện tượng trái nghĩa, hay cónhiều cách biểu hiện khác nhau

Hãy nghe những tâm tư tình cảm được bộc lộ qua những vần lục bát:

“Có chồng thì phải theo chồng Chồng đi hang rắn, hang rồng cũng đi”.

Hay:

“Có chồng phải luỵ cùng chồng Nắng mưa phải chịu, mặn nồng phải theo”.

(Ca dao)Thực tế lại có lời ca dao biểu hiện thái độ:

“Có chồng thì mặc có chồng

Trang 10

ở đây vắng vẻ tơ hồng cứ xe”.

“Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ”.

(Ca dao)Bên cạnh lời ca dao ca ngợi người phụ nữ chung thuỷ:

“Lên non thiếp cũng lên theo Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau”

thì lại có những lời có nội dung trái ngược:

“Chính chuyên chết cũng ra ma Lẳng lơ chết cũng khiêng ra ngoài đồng”.

(ca dao)Thái độ tương phản đó là sự phản kháng quyết liệt chống đối lại lễ giáo nghiệtngã, những quan niệm cực đoan

Phải tập hợp được một số lượng đủ đến mức cần thiết những lời ca dao vềngười phụ nữ thì mới nhận thức được tương đối đầy đủ quan niệm dân gian về họ.Như vậy, qua nhiều lời ca dao, tính thống nhất nổi bật đó là sự ngắn gọn, kiệmlời, cô đọng, hàm súc Tính chất ngắn gọn là một đặc điểm chung, thống nhất của

ca dao, có liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh, điều kiện của việc sáng tác và sinhhoạt văn nghệ

Mặt khác, nhịp điệu trong thơ lục bát phong phú, có khả năng thể hiện tinh tếnhững sắc thái tình cảm đa dạng, phức tạp của con người:

“Cái gì như thể nhớ mong Nhớ nàng? Không! Quyết là không nhớ nàng”

(Người hàng xóm_Nguyễn Bính)Ngoài ra, các dạng thức gieo vần linh hoạt cũng góp phần thể hiện các sắc tháicảm xúc tinh tế của con người:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em có chồng anh tiếc lắm thay”

(Ca dao)

Thể thơ lục bát còn có thể tổ chức tiểu đối hoặc đối trong ngữ đoạn câu thơ, tạo

vẻ đẹp hài hòa cân chỉnh và tăng sức hàm súc của ngôn từ thơ:

“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”

(ca dao)Hoặc:

“Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn”

(Buồn đêm mưa_ Huy Cận)

Trang 11

“Sợi buồn con nhện giăng mau

Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây”

(Ngậm ngùi _ Huy Cận)

Có nhiều cách hiểu rộng, hẹp khác nhau về lục bát biến thể, có thể đồng tình

với cách hiểu của Mai Ngọc Chừ "Lục bát biến thể ở đây được quan niệm là

những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít khịt "trên sáu dưới tám"

mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết (tiếng)”.

Đây là lục bát biến thể trong ca dao

“Đôi ta tình thẳm nghĩa dày

Dù có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa.”

(6/14 tiếng)

“Đau tương tư đầu tóc rối bù Đặt lược lên, lấy lược xuống, nước mắt chùi không khô”.

(7/11 tiếng)Thực tế cho thấy, những lời ca dao lục bát biến thể chủ yếu là do làn điệu củaviệc ca hát quy định (đối với dân ca) do yêu cầu thể hiện một số nội dung nhấtđịnh (đối với ca dao) Hai lời ca dao vừa dẫn cho thấy: Số lượng âm tiết tăng thêmhoặc giảm đi đóng vai trò quyết định để nhịp thơ thay đổi tạo nên ưu thế cho việcbiểu đạt những điều kiện khó khăn, không thuận lợi và sự quyết tâm khắc phụcnhững trở ngại đó

Ngoài ra, lục bát biến thể còn đắc dụng trong những lời châm biếm, trào phúng:

“Chập chập cheng cheng Con gà sống thiến để riêng cho thầy Đơm xôi thì đơm cho đầy Đơm mà vơi đĩa thì thầy không ưa.”

(Ca dao Bắc Bộ)

“Anh đi đâu lúc la lúc lắc, quạt dắt sau lưng Hay làng cử anh làm lí trưởng để "giữ rừng" cho em?

Rừng em anh chẳng dám vô

Sợ phụ mẫu em giấu mả mồ ở trong.”

(Ca dao Trung Bộ)Các tác giả dân đã sử dụng rất tài tình, linh hoạt thể thơ lục bát nhưng mức độ

sử dụng và trau chuốt có khác nhau

Ca dao Bắc Bộ sử dụng thể lục bát nhuần nhuyễn, trau chuốt hơn ca dao Trung

Bộ và Nam Bộ Ca dao Bắc Bộ tiếp nhận lối ngắt nhịp truyền thống của ca daoViệt Nam (ngắt nhịp chẵn dòng lục 2/2/2, dòng bát 2/2/2/2 hoặc 4/4)

Trang 12

“Nước trong nước chảy quanh chùa (2/2/2) Không yêu ta cũng bỏ bùa cho yêu”.(2/2/2/2)

“Công cha nghĩa mẹ thiếp đền (2/2/2) Xin chàng đừng có kết duyên chốn nào” (2/6)

“Xin đừng đứng thấp trông cao (2/2/2) Xin đừng tơ tưởng chốn nào hơn đây” (6/2)

“Xin đừng tham gió bỏ mây (2/4) Tham vườn táo rụng bỏ cây nhãn lồng” (4/4)

Đọc những lời ca dao Bắc Bộ ta cảm nhận được sắc thái tình cảm nhẹ nhàng,

dìu dịu, đằm thắm, tha thiết Trong lời ca dao trên, người con gái như đang "rót

mật vào tai”, dùng "lạt mềm buộc chặt” Cái duyên dáng, tươi trẻ, dịu dàng, thanh

lịch của người con gái xứ Bắc đã níu giữ chân chàng trai lại Những lời tha thiết

yêu thương được láy lại trong từ “xin chàng” và điệp từ “xin đừng” khiêm

nhường mà không hạ mình, nhắc nhở mà không giáo điều, giáo huấn Người nghekhông chỉ cảm nhận được điều hay lẽ phải mà còn cảm nhận được phẩm chất đẹp

đẽ, lịch lãm, thanh cao, đáng trọng của con người xứ Bắc

Ca dao Bắc Bộ chịu ảnh hưởng nhiều hơn của ngôn ngữ văn chương bác học.Cuộc sống lao động sản xuất của người dân đồng bằng Bắc Bộ nhìn chung ổnđịnh, hiền hoà Thiên nhiên Bắc Bộ dù có sự chuyển đổi bốn mùa khắc nghiệtnhưng cuộc sống lao động và văn hoá tinh thần của con người vẫn được đảm bảo.Những lễ hội mùa xuân tưng bừng cùng những hội chùa, hội làng kéo dài từtháng giêng sang hết tháng hai ở đâu cũng có lễ hội, dường như điều đó đã giảitoả tâm linh và những khúc mắc trong tình cảm Do vậy con người không phảichịu sự dồn nén,bức bối

Giữa sinh hoạt văn hoá và thiên nhiên đầy những hình ảnh thơ mộng, lãng mạn,con người có thể trao đổi gửi gắm cảm xúc bay bổng Điều đó được ghi lại trong

ca dao Bắc Bộ, lục bát biến thể ít và thiên về sự co giãn ở dòng lục hoặc dòng bát:

“Chàng trẩy đi nước mắt thiếp tôi chảy quanh Chân đi thất thểu lời anh dặn dò.”

(9/8 tiếng)

“Người ta chung nón chung tơi

Cho em chung thầy, chung mẹ, chung hơi, chung tình.”

(6/10 tiếng)Trung Bộ phải chịu cảnh quá khắc nghiệt của thiên tai liên tiếp Con người nơiđây từng trải qua bao thăng trầm, biến cố của các cuộc xung đột, khai phá, chiếntranh giữa các thế lực phong kiến Sự khắt khe của tư tưởng lễ giáo, sự nghiệt ngãcủa thiên nhiên khiến con người chất chứa bao nỗi uất ức, hờn căm, dồn nén đaukhổ muốn giãi bày:

“Nốc tôi chật chội chẳng cùng Làm thân con gái, nỏ biết rùng nơi mô.”

(6/9 tiếng)

Trang 13

“Nốc năm mui sóng khó chèo Muốn kết đôi với bạn, bạn chê nghèo thì thôi”.

(6/10 tiếng)Trong lao động, nhịp điệu sản xuất của người miền Trung mạnh mẽ, chắc khoẻ.Người lên rừng trèo đèo, lội suối, chặt cây, động tác phải nhanh Người đi biểnđánh cá phải chống chọi với sóng to gió lớn, hiểm nguy Không có sự dũng cảm,cứng rắn, vượt lên để đấu chọi, tồn tại thì làm sao có hạnh phúc, tươi vui Ngay cảkhi làm ruộng, đất cứng vì khô hạn, các động tác cũng phải thật mạnh, thật chắcnịch, bền bỉ mới bổ được từng nhát cuốc, bừa từng luống cày

Cuộc đời đầy những thách thức, khó khăn đã làm biến đổi nhịp sống của conngười Điều đó có thể thấy trong thái độ biểu hiện cảm xúc của con người miềnTrung cũng mang nét khác dân Bắc Bộ Họ ưa sự dứt khoát, thẳng thắn, trungthành, bền bỉ, chịu khó Sự biến thể đột ngột với nhiều cung bậc khác nhau trong

ca dao Trung Bộ là biểu hiện nghệ thuật mang ý nghĩa nội dung trên Lục bát ởTrung Bộ thiên về sự giãn tiếng ở dòng bát:

“Đôi ta tình thắm nghĩa dày

Dù có xa nhau đi chăng nữa/ba vạn sáu ngàn ngày/mới xa.”

(6/14 tiếng)

“Hai tay bưng bát nước đầy Anh muốn kết duyên em mãi mãi/sợ thầy mẹ không thương.”

(6/12 tiếng)

“Nguyện thề trước miếu sau đình

Đó vong ân/đó chịu/đây bạc tình/đây mang”

(6/10 tiếng)

“Thương anh nỏ biết mần răng

Cứ lơ lơ, lửng lửng như sao băng giữa trời.”

(6/10 tiếng)

Ca dao Nam Bộ sáng tác thuần thể lục bát ít hơn ca dao nói chung, tỉ lệ lục bát

chiếm 79,1%, thấp hơn ca dao Bắc Bộ Lục bát trong ca dao Nam Bộ vẫn sử dụng

nhịp một cách linh hoạt, uyển chuyển như ca dao cả nước để biểu hiện sinh độngtâm trạng, tình cảm Song số thanh bằng hoặc trắc được sử dụng nhiều tạo nhịpđiệu man mác, da diết hoặc dứt khoát, mạnh chắc Ngoài ra còn có kiểu ngắt nhịp

khá táo bạo, tự do, phá vỡ sự nhàm chán nhịp chẵn bằng nhau tuyệt đối Cách ngắt

nhịp có chẵn, lẻ hoặc phối hợp sáng tạo với thanh trắc để diễn tả, nhấn, láy đượcnhững cung bậc tình cảm của con người Nam Bộ:

“Chiều chiều chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau”.

“Biển cạn lòng anh không cạn Núi non kia mòn nghĩa bạn không vong”.

Trang 14

Bản sắc Nam Bộ thể hiện rõ ở hoàn cảnh, gắn bó xuất hiện của lời ca dao, đặcbiệt là sự phá cách táo bạo, bất ngờ theo hai chiều hướng co hoặc giãn tiếng trong

cả hai dòng lục và bát nhiều hơn so với ca dao Trung Bộ và Bắc Bộ:

“Cực chẳng đã cha mẹ gả em đã đành Chớ ăn khoai lang chấm muối ngon lành gì đâu.”

(9/10 tiếng)Lời ca dao đối đáp ở trên, diễn đạt một tâm sự ngổn ngang, nặng nề của đôi traigái bởi sự cách ngăn, trắc trở tình yêu, ngậm ngùi thở than, trách cứ

1.2VÀI NÉT VỀ THƠ LỤC BÁT TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN 1.2.1 Một số thành tựu tiêu biểu

Lục bát ca dao ra đời từ ngàn xưa, gắn với cuộc sống trăm đắng ngàn cay nhưngđậm tình nặng nghĩa Những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn, đời sống tìnhcảm của người bình dân, chứa đựng những đạo lí dân gian sâu sắc

Những đề tài ca dao bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và nhữngsinh hoạt đời thường, từ những rung động tinh tế trước thiên nhiên, từ đời sốngthuần hậu chất phác của người lao động Chính vì thế, những hình ảnh ca dao mộcmạc nhưng mang theo bao hơi thở tâm tình, những nỗi niềm thân phận Toát lên từnhững lời ca là ý thức về phẩm giá, nhân cách, là những tình cảm thương nhớ đợichờ, là khát vọng được sẻ chia, là ước ao về cuộc sống thủy chung mặn nồng

Ba chủ đề phổ biến trong mảng ca dao: phản ánh tình yêu lứa đôi, tình cảm vợchồng là chủ đề phổ biến nhất; châm biếm thói hư tật xấu, hài hước trào lộng và cangợi những người có công đức với dân với nước là hai chủ đề còn lại

Có thể nói thơ lục bát bắt nguồn từ trong ca dao Việt Nam, thể hiện thành công

cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần tạo nên sự phong phú đa dạngtrong văn học dân gian với những câu thơ mang đậm tâm tư, tình cảm của ngườibình dân vốn chịu thương chịu khó Đó là những bài hát ru con, những câu hò điệu

lý, những lời ngâm vịnh ngân nga mà mọi người vẫn nghe thấy trong sinh hoạthàng ngày, gắn liền với cuộc sống lao động của người bình dân:

“Tháng Chạp thì mắc trồng khoai, Tháng Giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

Tháng Ba cày bở ruộng ra, Tháng Tư bắc mạ, thuận hoà mọi nơi.

Tháng Năm gặt hái vừa rồi, Bước sang tháng Sáu, nước trôi đầy đồng.”

(ca dao)

Nếu như tục ngữ thiên về lý trí, đúc kết kinh nghiệm về cuộc sống thì ca dao lạithiên về tình cảm (nội dung trữ tình) và ca dao là một thể loại đã thể hiện được hếtcái hay, cái đẹp của ngôn ngữ văn học dân gian Cũng như tục ngữ hoặc bất cứ thểloại văn học nào khác, ý nghĩa chủ yếu có thể thấy ở ca dao vẫn là về mặt nộidung, có điều là nội dung ấy thường đượm chất thơ Nếu cho rằng một đặc điểmcủa thơ là ở chỗ biểu hiện một cách cô đúc nhất tư tưởng và tình cảm thì cũng cóthể coi tục ngữ như là một dạng của thơ Tuy nhiên chất thơ chỉ có thể thấy một

Trang 15

cách đầy đủ và toàn diện trong ca dao sở dĩ như thế một phần cũng chính là vìtrong ca dao không những hiện thực được phản ánh một cách cô đúc hơn là trongngôn ngữ hàng ngày, hơn cả trong văn xuôi mà còn là vì trong ca dao tư tưởng vàtình cảm được chắp đôi cánh kỳ diệu của sự tưởng tượng, điều này ít thấy có ởtrong tục ngữ

Có đôi cánh kỳ diệu ấy tâm hồn của nhân dân thể hiện được đầy đủ hơn tất cả

sự phong phú và tầm rộng lớn, cao cả của nó Tất nhiên là tính lãng mạng mà đầu

óc tưởng tượng phong phú của nhân dân đã đem lại cho ca dao không hề tách rời

và đối lập với tính hiện thực

Cũng như tục ngữ và các thể loại văn học dân gian khác, ca dao là tấm gươngtrung thực về cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân Đó là cuộc sống cần

cù, giản dị và chất phác, đậm đà phong vị dân tộc Đó là cuộc đấu tranh anh hùngtrong dựng nước và giữ nước Đó là tinh thần lạc quan trong khó khăn, tinh thầntương ái giữa những con người lương thiện Đó là nhận thức sắc bén về bạn, vềthù, về chính nghĩa và phi nghĩa Tóm lại cũng như ở tục ngữ, qua ca dao có thể

thấy rõ hiện thực, tức là “cái vốn có” Nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức

“cái vốn có” thì ca dao lại thường tiến thêm một bước nữa rất quan trọng là bộc lộ

nguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện thực

Đề tài trong ca dao không những chỉ phản ánh “cái đã có” mà còn đề xuất ra

“cái nên có” Ca dao chẳng những muốn giúp cho việc nhận thức cuộc sống mà

còn muốn xây dựng lý tưởng về cuộc sống

Về cơ bản thì ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tácphẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động,trong sinh hoạt gia đình, xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hànhđộng thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với nhữnghiện tượng khách quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiệntượng, những vấn đề Cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên một cách rõnét

Ca dao phản ánh lịch sử, miêu tả khá chi tiết phong tục, tập quán trong sinhhoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao động nhưng trước hết là bộc lộ tâm hồndân tộc trong đời sống riêng tư, đời sống gia đình và đời sống xã hội Từ cuộcsống lao động vất vả của nhân dân đã nảy sinh nhiều câu ca dao thể hiện các hìnhthức lao động và nghề nghiệp khác nhau

Những câu ca dao về đất nước và lịch sử, ca ngợi những danh lam thắng cảnh,những đặc sản của các địa phương, truyền thống chống ngoại xâm, chống ách ápbức phong kiến của nhân dân Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao về tìnhyêu nam nữ Trai gái gặp gỡ tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi laođộng, hội hè, đình đám, vui xuân Họ có thể thổ lộ với nhau bằng câu "ví", bằnghình thức giao duyên trong các hình thức đối đáp nam nữ Nội dung những câu cadao này phản ánh được mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc của tình yêu: những tìnhcảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ước,

Trang 16

những nỗi nhớ nhung da diết hoặc cảm xúc nảy sinh từ những rủi ro ngang trái,thất bại, khổ đau với những lời than thở oán trách.

Trong xã hội cũ, tình yêu của nhân dân lao động được thể hiện bằng những tìnhcảm tự nhiên, lành mạnh Giai cấp thống trị và lễ giáo phong kiến muốn bóp chếtnhững tình cảm hồn nhiên, lành mạnh ấy Vì vậy trong ca dao, bên cạnh tiếng hátước mơ về một cuộc sống hạnh phúc, là những tiếng kêu đau khổ, xót xa về nhữngtrắc trở trong tình yêu Tình yêu tan vỡ do nhiều nguyên nhân, có phần chủ quan

do trai gái không hợp tính nết nhau hoặc còn ngập ngừng, e ngại nhưng phần lớn

là do những nguyên nhân khách quan, những nguyên nhân do xã hội phong kiếngây ra:

“Vắn tay với chẳng tới kèo Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em”

“Trách ai tham phú phụ bần Tham xa mà bỏ nghĩa gần thuở xưa”

Và cũng dễ hiểu, trong ca dao có nhiều bài phản ánh tinh thần đấu tranh để bảo

vệ tình yêu chân chính của những “chàng trai” và những “cô gái”.

Những câu ca dao về chủ đề hôn nhân và gia đình biểu hiện các mối quan hệđẹp đẽ giữa tình cảm vợ chồng, cha con, mẹ con, anh em họ hàng, bà con làngxóm ở đây hiện lên hình ảnh người phụ nữ lao động đầy rẫy những chịu đựngngang trái mà vẫn cao thượng:

“Thân em mười sáu tuổi đầu Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người Nói ra sợ chị em cười Năm ba chuyện thảm chín mười chuyện cay”

Và còn biết bao nhiêu chuyện sầu thảm như là cảnh mẹ chồng nàng dâu, cảnh

“có mới nới cũ”, cảnh góa bụa cho nên lời than thở của người phụ nữ về số phận

mình dưới chế độ phong kiến là âm điệu chủ yếu của mảng ca dao này

Những bài ca dao mang nội dung đấu tranh chống áp bức của chế độ phongkiến, chống đế quốc xâm lược đã vạch trần những cái xấu xa của bọn phong kiến

đế quốc, những tội ác của chúng đối với nhân dân ta và lòng căm thù sâu sắc củanhân dân ta đối với chúng Cùng với những bài ca dao mang nội dung trên lànhững bài ca dao tập trung mũi nhọn đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hiệntượng tiêu cực, cụ thể là đả kích, chế giễu tệ mê tín dị đoan, những hủ tục hônnhân, những thói hư tật xấu như: cờ bạc, rượu chè, nhác làm siêng ăn, tham lam,ích kỷ ở đây ca dao đã thể hiện tính chiến đấu rất cao:

“Con ơi nhớ lấy câu này Cưới đêm là giặc cướp ngày là quan”

"Của bụt mất một đền mười Bụt vẫn còn cười bụt chửa lấy cho”

Trang 17

Với tính cách là thơ theo ý nghĩa đầy đủ của thơ, ca dao đã vận dụng mọi khảnăng về ngôn ngữ của dân tộc để biểu hiện một cách chính xác, tinh tế cuộc sống

và hơn nữa để biểu hiện một cách sinh động và đầy hình tượng nguyện vọng củanhân dân về cuộc sống ấy Ở tục ngữ, tư tưởng thường được biểu hiện qua hìnhthức ngôn ngữ ngắn gọn Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúcdưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sựvận động rất phong phú và đa dạng của ngôn ngữ văn học Cho nên thông qua việcsáng tác ca dao, nhân dân đã đưa ngôn ngữ văn học đến trình độ nghệ thuật cao,nhiều khi đạt đến tính trong sáng cổ điển Cảnh vật thiên nhiên, trạng thái xã hội,thể chất và tâm tình con người đã thể hiện qua ca dao với những hình tượng vănhọc, từ lâu đã trở thành truyền thống và nhiều khi có tính chất mẫu mực về mặtnghệ thuật

Nói đến ca dao tức là nói đến thơ, về mặt hình thức, trước hết phải nói đến nhịpđiệu vì đó là một đặc điểm có tính chất thể loại, một động lực chủ yếu của thơ

Maiacôpxki nói: "Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ

không giải thích được nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp điệu như nói về từ lực hay điện Từ lực hay điện - đó là những dạng của năng lượng”

Như vậy nhịp điệu giữ một vai trò hết sức quan trọng Nó luôn có tác dụng nâng

đỡ cảm xúc, làm tăng thêm sức biểu đạt của thơ Ca dao ngắt nhịp hai là phổ biến,nhưng nhiều trường hợp ca dao ngắt nhịp rất sáng tạo Như để làm bật lên cáiquyết tâm vượt lên mọi khó khăn, trục trặc của những con người đi theo tiếng gọicủa tình yêu, ca dao đã bỏ nhịp hai:

"Yêu nhau/ tam tứ núi/ cũng trèo/

Thất bát sông/ cũng lội/ tam thập lục đèo/ cũng qua/”

"Thương nhau chẳng quản gì hơn/

Phá Tam Giang/ anh cũng lội/ núi Mẫu Sơn/ anh cũng trèo/”

Câu ca dao dưới đây nhịp điệu không biểu hiện lòng quyết tâm vượt khó củanhững người muốn được xích lại gần nhau, được chung sống cùng nhau mà khẳngđịnh một sự ly khai dứt khoát:

"Chồng gì anh/ vợ gì tôi

Trang 18

Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”

Những câu ca dao trên, nhịp điệu biến hóa thích hợp với việc biểu hiện nhữngtâm trạng khác nhau

Với ca dao, chúng ta còn có thể nêu lên nhiều cái độc đáo khác nữa của thể loạinày như: cách xưng hô, đối đáp, hình tượng, không gian, thời gian, tính ước lệ cùng với tục ngữ, ca dao được quần chúng nhân dân sáng tạo qua nhiều thế hệ tácgiả, qua nhiều thời đại đã có được vẻ đẹp nhiều mặt bền vững như ngày nay

Có thể nói thơ ca Việt Nam từ xưa đến nay luôn là phương tiện tuyền đạt nộidung tốt nhất, đem lại những giá trị nhận thức, giá trị thẩm mỹ cho con người Thơlục bát Việt Nam đã làm được điều đó trong suốt chặng đường từ lục bát ca daodân gian đến lục bát hiện đại

1.2.2 Nét đặc sắc của thơ Lục Bát trong văn học dân gian

Trong kho tàng văn học Việt nam, văn học dân gian là sự kết tinh quá trìnhsáng tạo nghệ thuật của nhân dân qua nhiều thế hệ Những tác phẩm còn lưutruyền đến hôm nay đã được sàng lọc qua thời gian, bởi vậy chúng có giá trị vềnhiều mặt Văn học dân gian không chỉ bồi đắp cho tâm hồn muôn triệu conngười Việt nam mà còn là nguồn cảm hứng vô tận đối với các nhà thơ, nhà văn,giúp các nhà thơ, nhà văn học tập được nhiều điều

Lục bát gắn liền với con người Việt Dẫu rằng dân tộc Việt trải qua nghìn nămBắc thuộc, vài trăm năm thực dân đô hộ, ảnh hưởng văn hoá là có Nhưng lục bát

là “đặc sản” của người Việt Nam Trưa hè oi ả, bà ôm cháu nằm trên võng à ơibằng câu lục bát, mẹ hát dạy con cũng bằng câu lục bát :

“Con ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”

(Cao dao)

Cái hay, cái đẹp và nét đặc sắc của thơ lục bát là tính phổ quát rộng, sức truyềncảm sâu Ngôn ngữ dìu dặt có vần luật, trầm bổng có tính nhạc và rất du dương.Nếu như tiếng Hán có 4 thanh (Bình, Thượng, Khứ, Nhập) thì tiếng Hán - Việt có

8 thanh (ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc khứ, sắc nhập, nặng khứ, nặng nhập)[7;57].Dẫn chứng ra đây không phải lệ thuộc hẳn vào sách vở Bởi trong quá trình giaolưu tiếp cận với nhiều nền văn hoá trên thế giới Ảnh hưởng văn minh của văn hoánhân loại Lục bát không ngừng đổi mới và làm mới mình Thơ nói chung và lụcbát nói riêng phải thật giàu hình ảnh, tài ví von Dù là giận hờn hay oán trách songthơ vẫn mềm mại như câu ca dao:

“Công anh bắt tép nuôi cò Đến khi cò lớn cò dò lên cây”.

Hay nói đến cảnh gian nan vất vả của người vợ:

“Cái cò lặn lội bờ sông Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non”.

Trang 19

Để nói lên cảnh lam lũ, ca dao dùng hình ảnh con cò để nói về thân phận conngười Lục bát đã vô tình trở thành lời hát ru Người ta hát bằng thơ lục bát, tỏ tìnhbằng thơ lục bát, đối đáp bằng thơ lục bát và cả khóc bằng thơ lục bát… Támthanh tiếng Hán - Việt làm câu lục bát giàu có lên, ngọt ngào dân dã và gần gũixiết bao Sức mạnh của thơ lục bát truyền khẩu trong kháng chiến chống Pháp lànhững bài hò vè, diễn ca, cổ động phong trào toàn dân đánh giặc

Thơ lục bát dễ làm nhưng khó hay Vì kết cấu vần, thanh điệu bằng trắc Nhưng

đã hay thì đi vào lòng người đọc qua bao thế hệ:

“Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

(ca dao)

Thực chất thơ lục bát không tác động trực tiếp vào cảm giác như nghệ thuật tạohình và nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật ngữ văn dân gian tác động tới con ngườibằng những ký hiệu ngôn ngữ Là một loại hình của nghệ thuật ngữ văn dân gian,

ca dao, thông qua những tín hiệu ngôn ngữ, đã thể hiện phong phú và linh hoạtnhững hình tượng thẩm mỹ văn học, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt,những suy tư và diễn biến tình cảm của con người

Thể lục bát truyền thống trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từthực tiễn cuộc sống; thể hiện từ những bức tranh lao động đến những suy nghĩ vềcuộc đời, từ khoảnh khắc hồn nhiên vô tư của con người đến những diễn biến tìnhcảm trữ tình phong phú Vì vậy ngôn ngữ ca dao vừa hàm chứa những giá trị suy

tư, suy lý như:

“Bao giờ cho đến tháng ba Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng “

Hùm nằm cho lợn liếm lông Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi”

Hơn thế, ngôn ngữ ca dao còn mang phong cách trữ tình dân gian bay bổnglãng mạn:

“Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng.

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Trang 20

Đan sàng thiếp cũng xin vâng.

Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?”

Và:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em đã có chồng anh tiếc lắm thay”

Ngôn ngữ mộc mạc giản dị khiến những lời thơ trong ca dao dường như trở nênlung linh, đằm thắm hơn thể hiện đậm nét những giá trị nghệ thuật truyền thống

Các tác phẩm ca dao theo thể lục bát được vận dụng linh hoạt, trong những giaiđiệu ngâm ngợi, ca xướng uyển chuyển Sở dĩ như vậy là do kết cấu đặc trưngriêng biệt về âm luật của thể loại thơ này Dưới góc độ thi pháp, có thể thấy lục bátmang đầy đủ dáng dấp của một thể thơ cách luật với những yếu tố đặc thù về tổchức âm thanh: gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu trong hình thức tối thiểu là một cặplục bát gồm 2 câu với số tiếng cố định: 6 tiếng (câu lục) và 8 tiếng (câu bát) Vìvậy, mọi nguyên tắc tổ chức ngôn từ thơ ca của thể lục bát được tạo dựng theo mộtthể thức nhất định, lặp đi lặp lại trong tác phẩm, tuân thủ nghiêm ngặt cơ cấu tổchức âm luật về phương thức gieo vần, ngắt nhịp, phối điệu, cơ sở quan trọng đểtạo dựng lên những lời dân ca giàu chất dân gian Phương thức gieo vần 6-8 làthao tác đặc biệt tạo nên vẻ nhịp nhàng trong ngôn ngữ thơ, là phương tiện tổ chứcvăn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính để hình thành nên những âmhưởng nhiều màu sắc vang vọng trong thơ Lối ngắt nhịp chẵn (chủ yếu là nhịphai) có một ý nghĩa quan trọng tạo nên sự phân bố và lặp đi lặp lại ngắt quãng cácđơn vị ngôn từ, tạo điều kiện cho sự chuẩn hóa về mặt thẩm mỹ trong lời thơ Cònphối điệu mang lại âm điệu trầm bổng trong thơ bằng sự sắp xếp phối hợp cácthanh điệu bằng trắc theo nguyên tắc nhất định thể hiện tính cân đối hài hòa về âmthanh giữa các nhịp và các vế tương đương:

“Cách sông/ em chẳng/ sang đâu Anh về/ mua chỉ/ bắc cầu/ em sang Chỉ xanh/ chỉ đỏ/ chỉ vàng Một trăm/ thứ chỉ/ bắc ngang/ sông này”

(Ca dao)

Phương thức ngắt nhịp hai ở thể lục bát cũng là loại nhịp được vận dụng phổ biến

và bao trùm trong dân ca

Mặt khác, chúng ta còn bắt gặp hình thức sử dụng ngôn ngữ đối thoại và độcthoại trong lục bát ca dao Độc thoại là hình thức kết cấu đơn giản nhất trong thơ

ca trữ tình dân gian nhằm biểu đạt một cách trực tiếp, giản dị, tự nhiên những ýnghĩ tâm tư tình cảm của các nhân vật trữ tình Ở dạng này, nội dung của lời cahướng vào một ý lớn với ngôn ngữ mang tính tự sự Hình thức này thường được

sử dụng trong sinh hoạt dân ca nghi lễ phong tục và dân ca lao động Đó là nhữngcâu hát với những lời lẽ trang trọng kể về sự tích, ca ngợi công đức các anh hùngtrong dân ca nghi lễ:

Trang 21

“Em ngồi kéo vải quay tơ

Để anh đọc sách ngâm thơ kẻo buồn

Em ngồi kéo vải bán buôn

Để bán cái buồn dệt vải cho anh”.

(Múa đèn - Thanh Hóa)

Ngôn ngữ đối thoại cũng thật gần gũi với sinh hoạt của cuộc sống đời thường

Đó chỉ là hình ảnh con trâu, cái cày, những người bạn của nhà nông, nhưng khibước vào ca dao, nó đã trở thành những hình tượng nghệ thuật mang tính chất sosánh:

“Của chua ai thấy chẳng thèm

Em cho chị mượn chồng em mấy ngày”

“Chồng em nào phải trâu cày

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm”.

Đặc biệt hình thức đối thoại trong ca dao là cơ sở cho những bài hát đối đápgiao duyên, một hình thức phổ biến trong sinh hoạt diễn xướng dân ca ba miền mànhân vật chính là hai bên nam nữ Phần lớn nội dung đều mang tính trữ tình, diễn

tả tâm trạng của tình yêu lứa đôi:

“Mình về có nhớ ta chăng

Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình

Ta về ta cũng nhớ mình Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao”.

Đó là những lời ca sử dụng hình thức ngôn ngữ với lối kết cấu hai vế tươnghợp; có nghĩa là lời của vế trên có thể được tách ra độc lập với lời của vế dưới vì

nó đã diễn tả một ý trọn vẹn Do vậy người hát có thể vận dụng linh hoạt các vếđối của câu thơ tùy theo hoàn cảnh diễn xướng

Có thể nói, trong ca dao, dấu ấn đối thoại thể hiện không chỉ ở những bài cađược kết cấu 2 vế đối đáp mà ngay cả ở những bài ca mang tính độc thoại vẫn là

sự thể hiện của lối trò truyện giãi bày trực tiếp được sử dụng linh hoạt trong cáccuộc hát lẻ và hát cuộc của sinh hoạt dân ca

Thời gian được diễn tả trong ca dao là thời gian nghệ thuật Mỗi thể loại văn họcđều mang nét đặc thù riêng về thời gian nghệ thuật Nếu như trong sử thi là thời

gian “khuyết sử”- thời gian của lịch sử được thêu dệt mang tính khái quát hàng

Trang 22

nghìn năm, đậm chất thần thoại, thì thời gian trong cổ tích là thời gian của quá khứkhông xác định mang tính hoang đường gắn với một chuỗi liên tục của các sự kiện

từ “ngày xửa ngày xưa” , còn thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại có nghĩa là thời gian của tác giả và thời gian của “người đọc” (người thưởng

thức) hòa lẫn với thời gian của người diễn xướng

Thời gian hiện tại trong ca dao được biểu hiện bằng những cụm từ chỉ hiện tại

như: “bây giờ” “hôm nay”:

“Bây giờ anh bắt tay nàng Hỏi sao lá ngọc cành vàng xa nhau”.

“Hôm nay mười bốn mai rằm Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng chờ”.

Tuy vậy “bây giờ” hay “hôm qua” chỉ là những cụm từ mang tính chất phiếm

chỉ, diễn tả một quãng thời gian của hiện tại, của sự gặp gỡ và chia ly, của nhữngmối tình sống mãi với thời gian Như vậy, thời gian hiện tại trong ca dao chủ yếumang tính ước lệ, nhằm diễn tả tâm lý và những diễn biến tình cảm nội tâm của

nhân vật.Và ngay cả khi sử dụng những cụm từ chỉ quá khứ như: “hôm qua”,

“đêm qua”, “khi xưa” thì thời gian trong ca dao vẫn diễn tả sự việc mang ý nghĩa

hiện tại:

“ Đêm qua dồn dập mưa mau

Gió rung cành ngọc cho đau lá vàng Trách chàng phụ ngãi tham vàng Ngô đồng nỡ để phượng hoàng ngẩn ngơ

Biết nhau từ bấy đến giờ

Đã cho bướm đậu thì chừa sâu ra”.

Đó là tiếng lòng ai oán của người phụ nữ bị phụ bạc Cô trách người phụ nghĩa,

trách cho số kiếp bạc bẽo đến “ngẩn ngơ” Và dẫu rằng cái đêm mưa gió hôm qua

đã qua đi nhưng nỗi đau vẫn còn đó, vẫn giày vò cô với nỗi cô đơn thực tại củangày hôm nay Bằng việc sử dụng cụm từ trạng ngữ diễn tả quá khứ ngay sát gầnhiện tại, tác giả đã đưa ra cách hiểu mang tính khái quát về hiện tại; không chỉ làngày hôm nay hay một khoảnh khắc nào đó cụ thể trên dòng đời mà đó là một hiệntại mang tính ước lệ, hiện tại của thời gian nghệ thuật

Bên cạnh đó, thời gian nghệ thuật trong ca dao còn được thể hiện qua những từláy để nhấn mạnh quá trình diễn ra của sự việc hiện tại:

“Chiều chiều ra đứng bờ ao Nước kia không khát, khát khao duyên chàng”

“Đêm đêm chớp bể mưa nguồn Hỏi người quân tử có buồn hay không?”

Trang 23

Những cụm từ chỉ thời gian trong ca dao như đêm qua, hôm nay, ngày nào,chiều chiều, đêm đêm chỉ mang tính chất ước lệ, không có giá trị cụ thể, bởi lẽngười ta có thể vận dụng nó linh hoạt tùy vào từng hoàn cảnh diễn xướng Người

diễn xướng có thể thay đổi lời hát tùy theo cảm hứng và ngữ cảnh: “Chiều chiều

ra đứng bờ ao”, “hôm nay ra đứng bờ ao” hay “đêm đêm ra đứng bờ ao” mà giá

trị ngữ nghĩa của câu hát vẫn không thay đổi

Ngôn ngữ diễn tả không gian trong ca dao là ngôn ngữ miêu tả và bộc lộ cảmxúc qua môi trường không gian vật lý và không gian tâm lý Không gian vật lý lànhững môi trường không gian cụ thể như gốc đa, bến nước, sân đình, đồng ruộngnơi gặp gỡ trò chuyện, sinh hoạt lao động của các nhân vật trữ tình:

“Em ôm bó mạ xuống đồng Miệng ca tay cấy mà lòng nhớ ai”

“Cây đa cũ, bến đò xưa,

Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ”.

Đó là những khung cảnh bình dị, gần gũi với cuộc sống của người dân đấtViệt, được khắc họa trong những câu ca dao mang màu sắc trữ tình đậm nét.Dường như nó được thổi vào đó một tâm hồn, một tình cảm yêu thương tha thiết,giản dị và chân thành như chính cuộc sống con người lao động nơi đây

Bên cạnh không gian vật lý là môi trường không gian xã hội Không ít câu cathể hiện mối quan hệ xã hội phức tạp và đa dạng giữa người với người bằng lối sửdụng ngôn ngữ bình dị đời thường mang tính khẩu ngữ:

“Sáng trăng trải chiếu hai hàng Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ ”

Nhưng cũng có những lời ca thể hiện hình thức diễn tả thật tinh tế, dườngnhư chức năng định danh của các từ bị xóa nhòa nhường chỗ cho sự cảm nhận vềmột không gian mênh mông của tâm hồn con người:

“ Đưa nhau giọt lệ không ngừng Ngó sông, sông rộng, ngó rừng, rừng cao”.

“Người về em những trông theo Trông nước nước chảy, trông bèo bèo trôi”.

Trong ca dao, đôi khi không gian là chất liệu nghệ thuật để tạo nên cấu tứcủa lời thơ:

“Dưới mặt nước chói lòa yếm đỏ Trên bầu trời rạng rỡ mây xanh

Từ ngày chia rẽ em anh Nước trời còn đó ai đành phụ nhau”.

Trang 24

Những hình ảnh so sánh đất trời, sông nước đã tạo nguồn cảm hứng cho lời

ca bằng một không gian mênh mông để rồi từ đó hòa với những tình cảm sâu lắngcủa lòng người, đằm thắm và quyến rũ như chính vẻ đẹp tự nhiên mà tạo hóa đãban tặng cho sự sống con người

Thời gian và không gian nghệ thuật là yếu tố quan trọng cho quá trình gợi hứngcủa lời thơ Đó là những ngôn ngữ của lối diễn tả hình ảnh, màu sắc sống độngmang âm điệu của hình thức diễn xướng đậm đà chất dân gian

Bên cạnh yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật thì hình thức sử dụng đại từnhân xưng cũng thường thấy trong lục bát ca dao Đại từ nhân xưng là hình thứcngôn ngữ thể hiện rõ phương thức diễn xướng qua lối kết hợp câu đối đáp trong cadao dân ca, chủ yếu ở ngôi thứ nhất và thứ hai như: anh - em, chàng - thiếp, mình -

ta, đó - đây, chị hai - tôi, qua - bậu, tui - mình, bạn – ta……

“Hỡi anh đi dường cái quan Dừng chân đứng lại em than vài lời”.

”Cô kia cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”.

Đó là những lời thơ thể hiện rõ dấu ấn của lối kết cấu đối đáp, trò chuyệnmang đặc trưng bản chất thể loại của ca dao dân ca Với lối trò chuyện, đối đáptrực tiếp, đại từ nhân xưng trong ca dao đã được sử dụng một cách hết sức linhhoạt và độc đáo Và cách xưng hô trong ca dao là một trong những thủ pháp nghệthuật quan trọng khẳng định phương thức diễn xướng của thể loại

Phương thức diễn xướng của thể loại ca dao dân ca với lối sử dụng đại từ nhânxưng là sự thể hiện của phong cách ngẫu hứng trong sinh hoạt diễn xướng dân ca.Đôi khi đó chỉ là những lời hát bâng quơ của những cặp nam nữ bất chợt gặp nhautrên đường hay là những câu ca đối đáp của gái trai trong quá trình lao động, cũng

có khi nó là những cuộc hát có tổ chức vào những dịp lễ hội nhất định Song dùdưới hình thức nào thì hành động diễn xướng ở đây không nhất thiết phải là “đốigiọng” mà còn được thể hiện qua “đối lời” vì vậy cách xưng hô trong ca dao đóngvai trò quan trọng nhằm diễn tả mọi sắc thái biểu cảm nội dung ngôn ngữ đối thoạicủa nhân vật

Tính phiếm chỉ, xu hướng không cá thể hóa nhân vật là đặc điểm của thơ cadân gian Việt Nam mà lối sử dụng đại từ nhân xưng là một trong những thủ phápnghệ thuật nổi bật làm tăng thêm giá trị diễn xướng của lời ca

Có thể nói, ngôn ngữ ca dao với đặc trưng tính chất của thể loại thơ ca dângian, mang âm sắc của giai điệu lời nói tiếng Việt với hình thức kết cấu đối đáp,ngôn ngữ diễn tả thời gian, không gian nghệ thuật mang tính gợi hứng và lối sửdụng đại từ nhân xưng đầy biểu cảm là những yếu tố cơ bản tạo giá trị thẩm mỹcho những lời hát dân ca mang mầu sắc của sinh hoạt diễn xướng dân gian Là cơ

sở (phần lời) của những lời hát dân ca, ca dao trong sự liên kết với màu sắc của âm

Trang 25

thanh, động tác điệu múa được diễn ra trong môi trường sinh hoạt cụ thể mangtính đặc trưng vùng miền của sinh hoạt diễn xướng dân gian đã thực sự bay caohơn, xa hơn đạt đến giá trị hiện thực thẩm mỹ trọn vẹn hơn

Đọc toàn bộ sáng tác ca dao người ta dễ dàng nhận ra có ba thể thơ tác giả dângian thường sử dụng để sáng tác, đó là thể thơ lục bát, Thể song thất lục bát haylục bát kết hợp và thể vãn

Đa số ca dao được sáng tác theo thể lục bát Theo thống kê của các nhà nghiêncứu có hơn 90% lời thơ trong ca dao được sáng tác bằng thể thơ này Nhịp điệuthơ lục bát về cơ bản là nhịp chẵn 2/2/2, 2/4/2, hoặc 4/4 để diễn tả những tình cảmthương yêu, buồn đau…

“Người thương/ ơi hỡi/ người thương

Đi đâu/ mà để/ buồn hương/ lạnh lùng”.

Nhưng khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột haytâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5…đây làmột dạng của lục bát biến thể:

“Chồng gì anh/ vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây”

Lục bát biến thể là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng không khít rịttrên sáu dưới tám mà có sự co giãn nhất định về âm tiết ( dẫn theo Lê Đức Luận),

về vị trí hiệp vần…Hiện tượng lục bát biến thể là vấn đề đáng chú ý trong ca dao,chúng ta có thể xem xét một số trường hợp :

Câu lục biến thể tăng tiếng :

Có khi là câu cảm :

“Con gà rừng tốt mã khoe lông Chẳng cho đi chọi, nhốt lồng làm chi ! Thầy mẹ ơi, con đã đến thì Mười bảy mười tám chẳng cho đi lấy chồng

Bây giờ người có, con không Thấy chúng, thấy bạn, cực lòng con thay !”

Có khi sử dụng số đếm biểu thị không gian, thời gian :

“Ba bốn bữa rày anh có bụng trông

Kẻ lên người xuống cũng không thấy nàng”.

Phần lớn câu lục biến thể tăng tiến đều bắt nguồn từ dụng ý nghệ thuật của tácgiả dân gian mà cách nói phổ biến là : giảng giải, phân trần Điều này buộc phảikéo dài câu và dùng nhiều vế câu cùng một dòng thơ Một số câu lục biến thể có

sự đan xen các từ khẩu ngữ đệm vào, đây là một đặc điểm của thơ hát nói

Câu lục biến thể giảm số tiếng

Loại biến thể này lời ca như những câu châm ngôn, có lời như một tục ngữ Lờithơ xúc tích, hàm nghĩa mang tính triết lý nhân sinh, những nhận xét sắc sảo vềnhững vấn đề cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu

“Mật ngọt chết ruồi

Ai mà đến đấy thời người say sưa”

“Người khôn chóng già Người dại lẩn quất vào ra tối ngày”.

Trang 26

Câu bát biến thể tăng tiếng

Thường ở dạng này thông tin thường chứa nhiều thể hiện sự suy tưởng diễngiải, giữa hai vế câu có sự liên tưởng hoặc tương ứng về nghĩa Khác với câu lục,câu bát có thể kéo dài tự do có thể là vì do đặc trưng về số dòng, số tiếng của thơlục bát

“Gái đâu có gái lạ lùng

Chồng chẳng nằm cùng, nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao”

“Hoa kia thơm lửng, thơm lừng

Dặn con ong kia đừng chởi nhởi, dặn con bướm đừng xôn xao”

Câu bát biến thể giảm tiếng số lượng không đáng kể nên không được xem xét ởđây

Cả hai câu biến thể

Mang những đặc trưng chung của kiểu câu lục và câu bát biến thể và có nhữngđặc điểm sau như câu suy luận nhiều vế, câu kết hợp nhiều kiểu câu, khuôn lụcbát không rõ ràng, câu nặng tính khẩu ngữ, thường là câu dồn chứa nhiều thôngtin, ranh giới câu lục thường xâm lấn câu bát hoặc ranh giới chức năng của hai câukhông rõ ràng

“Hạt lúa vàng, hạt thóc cũng vàng Anh yêu em, bác mẹ, họ hàng cũng yêu”.

“Một mai con cóc lết, con ếch bò Con nai quỳ, con thỏ chạy một giò, em hỡi có nên ?”

“Đêm năm canh thổn thức, ngày sáu khắc ra vào Tôi buồn riêng vì phận phòng đào lẻ loi”.

Từ những đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa trên có thể thấy về cơ bản thể thơ lụcbát vẫn là thể thơ nền nã, chỉnh chu với những quy định rõ ràng về vần nhịp, về sốtiếng mỗi dòng thơ, về chức năng đảm trách của mỗi câu trong thể Tuy vậy cũng

có lúc câu lục tràn sang câu bát, câu lục và câu bát dài quá khổ, có khi xêdịch phối thanh, hiệp vần…đó là dạng lục bát biến thể Sự biến đổi đó là do nhucầu biểu đạt tình cảm ngày càng phong phú, đa dạng phá vỡ khuôn hình 6/8 thôngthường Tuy nhiên dù phá khuôn hình, âm luật, cách gieo vần của thể thơ lục bát

cơ bản vẫn giữ nguyên Đó là dấu hiệu đặc trưng cho ta nhận biết nó vẫn là thể lụcbát

1.3VÀI NÉT VỀ THƠ LỤC BÁT CỦA TẢN ĐÀ

1.3.1 Một số thành tựu tiêu biểu

Trên văn đàn Việt Nam đầu thế kỷ 20, Tản Đà nổi lên như một ngôi sao sáng,vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tác Ông là một cây bút phóng khoáng,xông xáo trên nhiều lĩnh vực Đi khắp mọi miền đất nước, ông đã để lại nhiều tácphẩm với nhiều thể loại Ông đã từng làm chủ bút tạp chí Hữu Thanh, An Nam tạpchí Với những dòng thơ lãng mạn và ý tưởng ngông nghênh, đậm cá tính, ôngđược đánh giá là người chuẩn bị cho sự ra đời của thơ mới trong nền văn học ViệtNam, là gạch nối giữa hai thời kỳ văn học cổ điển và hiện đại

Riêng về Thơ, Tản Đà có: Khối tình (lớn, con) - 3 tập I, II, III (1916 - 1918,1932); Giấc mộng (lớn, con) - 3 tập 1917, 1929, 1932); Còn chơi (1924,1925) vàrất nhiều tác phẩm đủ thể loại bao gồm: Thơ, Văn, Nghiên cứu, Tạp luận, Dịchthuật Phần nhiều các tác phẩm thơ của Tản Đà viết bằng thể lục bát Nếu đem

Trang 27

con số 23 năm từ lúc bắt đầu công bố tác phẩm (1916) đến lúc về với cát bụi(1939), người đọc sửng sốt vì khối lượng tác phẩm đồ sộ của tác giả Khi đề tựacho cuốn Thi Nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh viết trang trọng ngay trước khi

vào sách, bằng một bài ai điếu: “Cung Chiêu Anh Hồn Tản Đà”, cùng với những lời kính cẩn: “ Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của 2 thế kỷ Tiên sinh sẽ

đại biểu cho cho một lớp người để chứng gíám công việc lớp người kế tiếp Ở địa

vị ấy, còn có ai xứng đáng hơn tiên sinh ” [3; 15].

Có thể nói đề tài trong thơ lục bát của Tản Đà phong phú và hướng về nhiềulĩnh vực khác nhau Cuộc đời Tản Đà với những mối tình đầu trong trắng đam mêmột thời, đã vỗ cánh bay cao, để lại trong nhà thơ những thương tiếc bâng quơ Từ

sự tan vỡ đó đã mang lại cho ông đau khổ khôn nguôi, cảm xúc đã làm nên nhữngvần thơ lục bát trữ tình sâu lắng:

“Mình ơi có nhớ ta chăng?

Nhớ mình đứng tựa ánh trăng ta sầu”.

(Vô Đề)Mùa thu là mùa của thi ca lãng mạn, các thi nhân thường chọn mùa thu làm thơsoạn nhạc, mùa thu là một xúc tác cho họ trở về với đời sống thiên nhiên, ca ngợi

và vẽ thành những bức tranh tuyệt mỹ

“Làn cây khuất bóng trăng tà, Đêm thu một khắc quan hà mấy mươi Nhớ ai đất khách quê người, Nhớ ai góc bể bên trời bơ vơ”.

(Nhớ ai)Cuộc đời Tản Đà thất bại về công danh và tình yêu, nên bản tính trở thànhngông nghênh, thích phong lưu ăn nhậu, say sưa dù cái say vì nhân thế, vì cảnhđời…

“Cảnh đời gió gió, mưa mưa, Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn Rượu say ta lại khơi nguồn Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình Rượu thơ mình lại với mình, Khi say quên cả cái đỉnh phù du Trăm năm thi sĩ tửu đồ là ai?”

(Thơ rượu)

Tản Đà hờ hững với công danh, chấp nhận số phận sống với đời trong niềm vuithơ và rượu, hai thứ đó có thể là một giải thoát con người ra khỏi vòng tục lụy?

“Say sưa nghĩ cũng hư đời,

Hư thì hư vậy, say thì cứ say.

Ðất say đất cũng lăn quay, Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?”

(Lại say)Hay:

Trang 28

“Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có cửa nhà thi không Nửa đời nam, bắc, tây, đông Bạn bè sum họp vợ chồng biệt ly Túi thơ đeo khắp ba kỳ

Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng”

(thú ăn chơi)

Trong tưởng tượng nghệ thuật của Tản Đà, “non nước” chính là đất nước, là Tổ

quốc, đối với Tản Đà để gọi là yêu nước phải xuất phát từ tấm lòng, từ đạo đức,

chứ không phải từ hành động Nhà thơ thường nhắc đến hai chữ “non nước” trong

những sáng tác của mình, điều đó được thể hiện rõ ở một số bài thơ thuộc loại

“thơ nước non” Hình ảnh “non” và “nước” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong

một số bài thơ và nó mang giá trị biểu đạt khác nhau:

“Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện nước thề non Nước đi chưa lại non còn đứng không”.

(Thề Non Nước)

Tản Đà đã tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy trong bài thơ “Thề non nước”, chỉ trong

22 câu mà từ “non”, và “nước” xuất hiện đến 27 lần Đặc biệt nhà thơ sử dụng

thể thơ lục bát rất trau chuốt, có lúc mang hồn quê dân dã, phảng phất ca dao xưa:

“Dù cho sông cạn đá mòn Còn non còn nước hãy còn thề xưa”

(Thề non nước)Trên cái nền chung của văn học đương thời với không ít bài thơ xúc động về đấtnước, vẫn nổi lên bài thơ của Tản Đà như một sáng tạo độc đáo Bài thơ mang âmhưởng vừa thiết tha, vừa giằng xé, vừa đứt đoạn, vừa liên tục, vừa ấm áp, vừa

cuốn đi, vừa đọng lại Khi tiếp xúc với hình ảnh “non nước” trong bài thơ, người

ta không thể dừng lại ở bức tranh sơn thủy hay câu chuyện lứa đôi Bởi vì trongbài thơ, mọi thứ, từ lời thơ cho đến hình ảnh, ý tình, âm hưởng chung đều thốngthiết, nghiêm trang và tầm vóc Ấn tượng này càng trở nên rõ nét khi ta đọc đếnhai câu cuối bài:

“Nghìn năm giao ước kết đôi Non non nước nước không nguôi lời thề”

(Thề non nước)Mặt khác Tản Đà cũng là một nhà thơ muốn chung hòa cảm nghĩ với nhân dân,cũng bởi nhà thơ sống trong xã hột mà nền nông nghiệp chiếm ưu thế, cuộc sốngsinh hoạt hàng ngày của người dân quê cần có những câu hò, tiếng hát để độngviên tinh thần phấn khởi lao động vì lẽ đó, Tản Đà viết nên những bài ca daongắn, mà nhà thơ gọi là phong thi, và những áng phong thi đó cũng đã góp phầnlàm nên phong cách Tản Đà

Nhà thơ diễn tả mối tình thương nhớ chân thật của một cô gái quê:

“Con sông chạy buột về Hà Nhớ ai Hà Nội trông mà ngùi thương

Trang 29

Nhớ người cố quận, tha hương Nhớ ai thời nhớ, nhưng đường thời xa”

Mối tình ấy có khác chi mối tình của người xưa trong ca dao:

“Anh đi đằng ấy xa xa

Để em ôm bóng trăng tà năm canh Nước non một gánh chung tình Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng?”

(ca dao)

Mối tình thương nhớ ấy lại càng đậm đà hơn qua những câu sau đây:

“Đêm qua anh nhớ đến mình Nhớ câu ứ hự, nhớ tình chơi vơi

Ra sân bắc ghế kêu trời

Ở dưới hạ giới có người tương tư Trời cao gọi mãi không thưa

Để anh ra ngẩn vào ngơ canh chầy.

Bây giờ anh gặp mình đây Bên kia thời núi, bên này thời sông Sông kia núi nọ họp đồng Sao cho nên vợ, nên chồng hỡi em!

Mối sầu tương tư ấy cũng giống như mối sầu tương tư trong ca dao:

“Đêm đêm khêu ngọn đèn loan Nhớ chàng quân tử thở than mấy lời Mong chàng chẳng thấy chàng ôi!

Thiếp tôi trằn trọc vội rời chân ra Nhác trông lên trăng đã xế tà Đêm hôm khuya khoắt con gà đã gáy sang canh

Mong anh mà chẳng thấy anh Thiếp tôi buồn bã khêu quanh ngọn đèn.

(ca dao)Những mối tình của trai gái ở thôn quê thường được nẩy nở trong cuộc sinh hoạthàng ngày Những cuộc sinh hoạt nên tình ấy càng được Tản Đà diễn tả sinh độnghơn

“Muốn cho đêm ngắn hơn ngày Sớm vỡ ruộng rậm, trưa cày ruộng chiêm Muốn cho ngày ngắn hơn đêm Đèn khuya chung bóng cho em đỡ sầu…”

(phong thi)Tuy việc ruộng nương cực nhọc, nhưng người dân quê không bao giờ nản lòng, tintưởng ở một ngày mai tốt đẹp hơn:

“Người ta đi võng đi xe Thân em cấy mướn đi về lấm chân Trời xa xích lại cho gần Phong trần ai xẻ phong trần cho ai.”

(phong thi)Niềm tin tưởng ấy cũng đẹp như niềm tin tưởng trong ca dao:

“Người ta đi cấy lấy công Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

Trang 30

Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm Trời êm bể lặng mới yên tấm lòng.

(ca dao)Thực tế, thi ca Việt Nam đến với thời Nguyễn Khuyến, Trần tế xương đã thấy rõnhiều biến chuyển Thơ trào phúng và thơ tình cảm đã đem đến cho văn chươngmột nguồn sinh lực mới Tiến xa hơn đến thời Tản Đà, cái mới trong thi ca ViệtNam lại còn được biểu lộ rõ nét hơn Thế nên nhiều nhà phê bình đồng ý nhìnnhận rằng Tản Đà là “gạch nối liền” giữa hai phong trào thơ cũ và thơ mới Thi caTản Đà không hoàn toàn mới, nhưng đã có một bản sắc riêng biệt khiến ta thấyrằng nó mới, mới hơn lời thơ, ý thơ của những thi sĩ đi trước Cái mới đó góp phầntạo nên thành tựu của nhà thơ trên thi đàn Việt Nam

Nói về cái mới trong thi ca thì cần xét qua nhiều phương diện: Mới về phươngdiện nội dung, về thể thức cấu tạo, về âm điệu và mới về cách dùng chữ

Trước tiên cần tìm hiểu cái mới về phương diện nội dung trong thi ca Tản Đà Nói

về phương diện nội dung, chúng ta thấy thi ca Tản Đà có một tính chất lãng mạn

rõ rệt Tình cảm thật dồi dào làm rung cảm người đọc Như ý thơ trong bài “Thề

non nước” sau đây thật là đã đến mức trác tuyệt:

“ Nước non nặng một lời thề Nước đi, đi mãi, không về cùng non Nhớ mời “nguyện nước thề non”.

Nước đi chưa lại, non còn đứng không Non cao những ngóng cùng trông Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày Xương mai một nấm hao gầy Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương”

Các nhà thơ xưa thường chú trọng vịnh cảnh, mà ít chú trọng đến tình Trái lại Tản

Đà không ngần ngại bộc lộ tình cảm của mình qua thi ca Thi ca Tản Đà rung độngđược trái tim người đọc là nhờ ở khía cạnh ấy Tản Đà mượn thơ để bày tỏ nỗilòng:

“Cát kia ai bốc tung trời?

Sóng sông ai gợn, cây đồi ai rung?

Phải rằng dì gió hay không?”

Không dì gió thì còn ai nữa! Bốc cát, gợn sóng, rung cây là những hiệu lực cụ thểcủa gió Dùng những hình tượng ấy để làm cho trông thấy luồng gió thì thật làthần tình, thật là khoa học Trái tim đã đến, đã len vào tứ thơ Nó không đi nữa, nórung động cả bài thơ Độc giả sau khi ngâm bài thơ kia, cũng chỉ còn thấy dư bacủa rung động ấy

Như ca dao, Tản Đà đã dùng từ “ai” một cách kỳ diệu “Ai” là chủ, “ai” cũng là khách, “ai” còn để chỉ một nghi vấn và “ai” còn biểu đạt sắc thể mơ hồ trong cảm

giác

Nếu như đối với ngôn ngữ thi ca, Tản Đà đã có khả năng thần diệu thổi vào chomỗi từ một cái hồn và lại đặt đúng vị trí của nó trong đội ngũ các từ để tạo nênmột chỉnh thể ngôn ngữ sống động và diễn cảm thì trong số từ ấy có một từ đã là

thích thú, là say mê cứ trở đi, trở lại với nhà thơ, đó là từ “ai” một đại từ nhân

Trang 31

xưng phiếm chỉ Với Tản Đà, từ “ai” tạo nên nhịp điệu, âm điệu của bài thơ, đem

lại cho bài thơ niềm xúc động, cảm giác bâng khuâng theo ý muốn của tác giả

“Ai” một người nào đó, ai đó Ai chỉ là đối tượng chưa định hay không xác định,

ai có khi chỉ là một nghi vấn: “Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?” Hoặc “ai đi đâu

đấy hỡi ai?” Các từ ai trên là chỉ về một đối tượng, và từ ai còn có thể chỉ cả chủ

thể lẫn khách thể, mỗi từ là chỉ một đối tượng: “Nhớ ai, ai có nhớ ai chăng là?”Ở

đây ai một và ai hai là đối tượng của người nhớ, còn ai ba chính là người nhớ, làchủ thể của câu

Trong kho tàng ca dao của chúng ta cũng có những bài, những câu sử dụng từ

“ai” một cách tài tình:

“Nhớ ai em những khóc thầm Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai?”

Với những câu thơ mang nội dung u ẩn, mơ hồ, Tản Đà cũng dùng từ “ai” để

dựng sắc thái mơ hồ, u ẩn:

“Người đời thử ngẫm mà hay Trăm năm là ngắn một ngày dài ghê!

Còn ai, ai tỉnh ai mê Những ai thiên cổ đi về những đâu?

(Đời đáng chán)

Tính không xác định của từ tăng hiệu quả cao của câu thơ, chỉ trong một câu lục bát có tới ba từ “ai”, tạo cảm giác bâng khuâng mơ hồ, không rõ ràng.

Tản Đà không chỉ dùng từ “ai” trong thơ ca, mà còn dùng từ “ai” trong văn xuôi

cũng thật khéo và thần tình như trong thơ Về từ “ai” của Tản Đà nhà thơ Xuân

Diệu có ý kiến: “Tản Đà dùng nhiều hơn ai hết và dùng rất sở trường” Nhà văn Nguyễn Triệu Luật cũng cho biết thêm: “Tản Đà nghiện nhất là chữ “ai” Chữ ai

ông dùng như thật, như hư, như ta, như người, hô đấy mà xưng đấy, gần đấy mà

xa đấy”

1.3.2 Nét đặc sắc của thơ lục bát Tản Đà

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, lấy núi Tản, sông Đà làm bút danh.Những năm 20 của thế kỷ XX, Tản Đà là thi bá trên thi đàn Việt Nam Ông được

nhà văn Hoài Thanh trân trọng ngợi ca là “Người của hai thế kỷ”, vì thơ văn của

Tản Đà chính là gạch nối giữa hai nền văn học của dân tộc: cổ điển và hiện đại.Lịch sử văn học Việt Nam đã chứng minh một sự thật hiển nhiên là thể thơ lụcbát - một thể thức thơ ca dân tộc – đã có vị trí xứng đáng của nó trong văn học dângian, văn học trung đại và thơ ca hiện đại Điểm qua các tác giả tiêu biểu của thơ

ca Việt Nam hiện đại, ta có thể khẳng định một điều rằng “ở đâu cũng có thơ lụcbát”

Có thể nói, trong số những nhà thơ hồi đầu thế kỷ XX - thời kỳ bắt đầu sáng tácbằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự La tinh chứ không phải bằng chữ Hán hay chữNôm - nổi lên tên tuổi Tản Đà với những vần điệu quả thực đã làm rung động lòngngười, đã ăn sâu, thấm khắp giai tầng xã hội và được truyền tụng trong đông đảotầng lớp nhân dân lao động Bởi ngoài sự kế thừa văn học dân gian, Tản Đà còn cónhững bước tiến mới so với ca dao

Trang 32

Trước hết, ảnh hưởng của văn học dân gian có thể nói là rất đậm trong thơ lục bátcủa Tản Đà Trong số các nhà thơ cận hiện đại, Tản Đà là nhà thơ được dân gianhoá mạnh và sâu hơn cả Trong đó phải kể đến ảnh hưởng của các câu hát lý giaoduyên theo quy tắc hiệp vần bằng trắc cùng với cách gieo nhịp chẵn và ngôn ngữ

đã có trong ca dao như đại từ ai, mình, ta … rất uyển chuyển và duyên dáng :

“Ai làm cho khói lên trời, Cho mưa xuống đất cho người biệt ly

Ai làm Nam Bắc phân kỳ Cho sa hàng lệ đầm đìa tấm thương.”

(phong thi)

Bên cạnh việc kế thừa lục bát ca dao, trong thơ lục bát của Tản Đà ta còn bắtgặp những nét mới ở việc sử dụng những từ mới rất đắt nghĩa, giàu giá trị gợi tả,gần gũi với lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt của người bình dân:

“Von vót cái cần câu tre,

Để câu ở bến sông Kỳ ta chơi.”

Với từ ngữ không văn hoa, trau chuốt, gọt giũa, ấy thế mà các bài lục bát trên

đã ăn sâu vào lòng người đọc Đó là hình ảnh gợi cảm, mang đậm tính sáng tạo:

“Hỡi anh mà đi ô thâm,

Ô nhiễu, ô vóc hay là ô em.”

Và những câu lục bát biến thể giàu âm điệu gây hiệu quả bất ngờ, góp phần đưalục bát hội nhập vào nền văn học dân tộc:

“Một con sông, ba bảy con sông Đà, Trăm công nghìn nợ trông vào một em.

Bao giờ sạch nợ giàu thêm,

Để anh đi kéo gỗ lim làm nhà.

Đôi ta trăm tuổi cùng già, Con tằm khác kén cùng là chung nong.

Chữ đồng tạc núi ghi sông…”

Như vậy, Tản Đà đã xây dựng cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo vàcũng là một cống hiến không kém phần quan trọng làm biến chất thơ cổ điển, đó là

sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ văn học bác học và ngôn ngữ văn học dângian, sự chuyển hoá các hình thức thức thơ ca cổ điển để cho có chất dân gian sâuđậm từ ngôn ngữ bác học với những luật lệ nghiêm ngặt trở thành ngôn ngữ dângian thanh thoát, giản dị và phóng túng

Tản Đà đã sáng tạo nên những hình ảnh ẩn dụ để đặc tả nỗi buồn cô đơn, tương

tự của giai nhân Có không ít câu thơ trong bài “Thề non nước” vừa đẹp vừa hay không thua kém những câu Kiều của Nguyễn Du “Tóc mây”, “Xương mai”, “nét

Trang 33

vàng”, “vẻ ngọc”, đặc biệt “Suối khô dòng lệ”… là những hình ảnh mĩ lệ nói về

sắc tài và bi kịch trong tình yêu của giai nhân Còn nước mắt đâu nữa mà “tuôn” Chữ “khô” thể hiện cách chọn từ, dùng từ của Tản Đà rất tình luyện, chính xác Trong bài thơ “Thề non nước”, hai chữ “non” và “nước” xuất hiện ở tần số rất

cao: 27 lần, lúc thì nước nhớ non, lúc thì non nhắn nước, lúc thì non non nướcnước… Một giọng thơ thiết tha, có không ít câu thơ để lại nhiều ám ảnh:

“Nước đi đi mãi, không về cùng non,”

“Nước đi chưa lại, non còn đứng trông, Non cao những ngóng cùng trông, Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”…

(Thề non nước)

Thi sĩ Tản Đà nói hộ chúng ta những tình cảm đang nảy nở trong lòng “Thề

non nước” thể hiện tuyệt đẹp cốt cách phong tình tài hoa của thi sĩ Tản Đà.

Lời thề xưa cứ ngân nga mãi trong lòng ta Cả một trời yêu thương, mong nhớ, đợichờ mênh mang:

“Nghìn năm giao ước kết đôi Non non nước nước chưa nguôi lời thề”.

(Thề non nước)Hóa ra mối tình ở đây, lời thề ở đây không phải là tình cảm của những con

người bình thường “trăm năm trong cõi người ta” mà là chuyện nghìn năm “Non

nước” gắn với nghìn năm thường là để chỉ đất nước giang sơn Chính với nội dung

đó Nguyễn Quyền đã viết trong bài “kêu hồn nước”:

“Trời Nam một dải non sông Ngàn năm cơ nghiệp cha ông hãy còn

Từ khi đá lở sóng cồn Nước non trơ đó nào hồn ở đâu?”

Cho nên bài thơ “Thề non nước” thực chất không phải là bài thơ vịnh cảnh sơn

thủy hay nói về tình duyên, mà là một bài thơ mang tâm sự của Tản Đà, thể hiệntấm lòng son sắc đối với đất nước Chỉ có tấm lòng yêu nước thật sự mới có thểtruyền tải được những tâm tư, tình cảm một cách thống thiết như thế vào nhữngvần thơ lục bát ngọt ngào, da diết

Xuất phát từ nỗi lo đời, đau đời, xót xa cho hoàn cảnh đất nước và ấp ủ mộtmong muốn cứu nước, Tản Đà chuyền tải vào những vần lục bát như lời tâm sự.Tản Đà không bộc lộ tình yêu nước một cách trực tiếp mà ông sử dụng lối nóibong gió, những hình ảnh mang tính chất ẩn dụ để nói lên khát vọng của mình:

“ Suối tuôn róc rách ngang đèo Gió thu bay lá bóng chiều về tây Chung quanh những đá cùng cây Biết người tri kỉ đâu đây mà tìm.”

(Vô Đề)Tản Đà mang tấm long son sắc đối với đất nước, ông luôn ngóng trông người tri

kỉ có cùng lí tưởng để chung lo cho đất nước Chính vì vậy khi gặp được Nguyễn

Trang 34

Thái Học ông mừng khôn siết Nỗi vui mừng ấy không đơn giản là tình cảm cánhân mà được hóa thành niềm vui của dòng giống “Rồng Tiên”:

“Rồng tiên cùng họ từ xưa

Ba mươi năm mới bây giờ gặp nhau”

(Chơi Huế)Tản Đà luôn muốn đem tài trí của mình cống hiến cho xã hội, xây dựng đấynước ngày một tốt đẹp hơn Chí hướng đó được nhà thơ khẳng định:

“ Non sông thề với hai vai Quyết đem bút sắc mà mài lòng son”.

(Xuân sầu)Mong muốn cứu nước của ông càng trở nên tha thiết cháy bỏng Nhà thơ mởbáo không phải mưu việc sinh nhai, mà chính để thực hiện lời nguyền non nước:

“Nước non đã nặng lời nguyền

“An Nam tạp chí” con thuyền lênh đênh Phong ba đánh giạt khối tình Tám năm tay lái một mình ngược xuôi”

(Một bức thư của người nhà quê)Một mình xuôi ngược giữa phong ba, bằng lòng nhiệt huyết của mình, ông đã

vất vả “lèo lái con thuyền” trong suốt tám năm trời, gặp nhiều khó khăn trở ngại nên “An Nam tại chí” đã bao phen chìm nổi và mục đích nhắm khó lòng đi đến:

“Biết bao ra Bắc vào Nam Bức thư đồ rách đã cam khó lòng!

Văn chương chút nghĩa đèo bồng Thuyền không lái vẫy vùng được sao?”

(Xuân tứ)

Với sự chuyển hoá các hình thức thức thơ ca cổ điển để cho có chất dân giansâu đậm từ ngôn ngữ bác học với những luật lệ nghiêm ngặt trở thành ngôn ngữdân gian thanh thoát, giản dị và phóng túng

Ông cha ta có câu:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

(Ca dao)Tản Đà đã sớm ý thức được trách nhiệm gánh vác non song không của riêng ai

mà là của chung tất cả mọi người, ai cũng có nghĩa vụ làm điều đó

Nhà thơ đã tiếp thu được những tinh hoa của văn học dân gian, mà điển hình

là thể thơ lục bát trong ca dao, tiếp thu văn học dân gian ở đây được hiểu là sựtiếp nối, kế thừa một cách sáng tạo những vẻ đẹp của Văn học dân gian Tản Đà

không sao chép một cách vụng về thành tựu của văn học dân gian Mà ông “học

được văn trong cổ tích, học được thơ trong ca dao” [6 ; 111] Sự học ấy không

chỉ giản đơn, thoáng chốc trong ngày một, ngày hai mà là cả một quá trình lâudài, bền bỉ Những truyện cổ tích, những áng ca dao cứ va đập trong tâm hồnnghệ sĩ đề rồi hồn văn, hồn thơ dân gian tự nhiên chuyển hoá vào văn học viếtchứ không phải là một sự bắt chước sống sượng, vô hồn

Trang 35

Nhà thơ học được những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của ca dao (cách gieo vần,việc sử dụng các thể thơ, hình ảnh, ngôn ngữ đậm màu sắc dân tộc; các biệnpháp tu từ như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, ngoa dụ ) để thơ trở nên ngắn gọn,hàm súc, trong sáng , tinh tế và gợi cảm, dễ đi vào lòng người

“Dù cho sông cạn đá mòn Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa”

(Thề non nước)

Hay:

“Còn trời, còn nước còn non Còn cô bán rượu, anh còn say sưa”

Học tập là một chuyện, nhưng không vì thế mà Tản Đà sao chép vụn vặt một

cách khuôn mẫu, song bên cạnh đó sự cách tân mới mẻ “phá cách vứt điệu luật”,

tạo nên sự riêng biệt của thơ lục bát Tản Đà

Trong bài “Trời mắng”, mở đầu là bốn câu mưỡu (đây là một bài thơ viết theo

thể hát nói), cho thấy anh chàng ngồi buồn tự kể lễ nổi niềm của mình:

“Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ”

Buồn lắm Bên lòng ngổn ngang trăm mối Do đâu? Chúng ta không rõ Hãy theodõi hành động của chàng trai:

“Ngồi buồn lấy giấy viết thư hỏi Trời”

Hỏi gì trong thư? Chúng ta cũng chưa rõ Chỉ biết rằng:

“Xem thư Trời cũng bật cười”

Cười cho hạ giới có người oái ăm”

Thi nhân đã khéo kích thích tính hiếu kỳ của chúng ta Nội dung bức thư như thếnào? Mà khiến Trời cũng bật cười? Cười cho sự oái ăm ra làm sao Thi sĩ chậm rãi

kề cà Một mặt viết theo thể lục bát, một mặt lại lấy giọng Trời mắng bằng thơ chữHán cho ta thêm phần khó hiểu:

“Khách hà nhân giả?”_ Người khách đưa thư ấy là ai vậy? cớ làm sao?

“Cớ làm sao suồng sã dám đưa thư?”

Ta cũng chỉ biết là “ý trong tờ” suồng sã, chứ chưa rõ suồng sã như thế nào và

suồng sã ra làm sao?

Đến khi sự tò mò của ta đã được kích thích đến cùng độ, thì khi đó lời mắng củaTrời mới hé cho ta thấy sự thật:

“Chốn thiên cung ai kén rể bao giờ?”

Đến đây ta mới thật ngạc nhiên, thì ra anh chàng viết thư để xin làm rể ThiênHoàng Ta phì cười, anh chàng thật đáo để! Và có lẽ, đáo để hơn là cái ý tưởng

“ngông” của Tản Đà khi viết bài thơ này Nhưng thái độ của Trời cũng thật dễ

thương thay Trời mắng mà không giận Trời vẫn độ lượng và giải thích cho anhchàng rõ lý do:

“Chức Nữ tảo tùng giai tế giá”

Câu thơ chữ Hán đưa ra đúng hiệu quả Nói vừa kín đáo vừa trang nhã Đúng là

giọng điệu của Thiên Hoàng “Ta không thể cho nhà ngươi làm rể được, không

phải vì ta hẹp bụng, nhưng bởi vì con gái ta không có nhiều Có hai đứa là Hằng Nga và Chức nữ Chức Nữ thì từ lâu đã gả cho Ngưu Lang, còn Hằng Nga thì ưa sống cô độc…”:

Trang 36

“Hằng Nga bất nại bão phu miên…”

Tuy nói là “Trời mắng”, mà mắng với một nụ cười của kẻ tri kỉ Hai câu thơ chữ

về Chức Nữ và Hằng Nga thật là ngộ nghịch Đoạn sau nói đến Đông Phương sóc

đã khôi hài, mà còn cho ta thấy được cái căn nguyên của sự viết thư oái oăm ấy

Có lẽ người phàm thì không thể nào viết thư như thế, Nhưng ở đây, Tản Đà vẫn

tự cho rằng mình kiếp trước vốn là thiên tiên, nhân chỉ vì tính nghộ nghịch màkiếp này phải xuống trần gian chịu kiếp đọa đầy

Bài hát nói trên nhìn chung có bản chất trào phúng, đan xen trong đó là những sắcthái tình cảm nổi bật lên

1.4 CÁC YẾU TỐ TẠO NÊN MỐI QUAN HỆ GIỮA THƠ LỤC BÁT TẢN ĐÀ VÀ THƠ LỤC BÁT CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

Tản Đà đã thổi vào thơ Việt Nam những tình cảm, tư tưởng và suy nghĩ mới,tạo cho nó có một vẻ đẹp riêng, ẩn hiện khó thấy Nhưng càng nhìn càng thấy đẹp,càng đọc càng nhận ra nhiều cái hay Mới và cũ cùng hiện diện trong thơ ông Đâykhông phải là sự lắp ghép máy móc, pha tạp mang tính công thức mà là sự hòaquyện vào nhau một cách tự nhiên giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, làm nênnét riêng, tính độc đáo của thơ trong giai đoạn chuyển mình sang thời kì hiện đại

Ở Tản Đà có ngôn ngữ đẹp, “mát mẻ” của ngôn ngữ Nguyễn Khuyến, lại có

ngôn ngữ nói chát chúa, cay chua của Trần Tế Xương Về cốt cách, khẩu khí, ôngcũng chẳng nhường Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ

Nhưng Tản Đà không chỉ có “ngông” trong văn chương, con mắt ông còn nhìn

rõ những điều làm trái tim ông đau Ông sống ở cái thời “Vứt bút lông đi, giắt bút

chì”, cái thời lổn nhổn đủ các hạng người trong một rọ: ông Tây, bà đầm, làng

nho… Nhìn tấm địa đồ Tổ quốc, ông xót xa: “Biết bao lúc mới công vờn vẽ - Sao

đến bây giờ rách tả tơi!” Ông kêu lên: “Đốt đuốc đố ai tìm khắp nước - Kiếm đâu cho thấy mặt anh hùng?” Cốt cách và tài năng của ông là thế, mà rồi: Khi làm chủ

báo, lúc viết mướn – Hai chục năm dư, cảnh khốn cùng, và ông thốt lên: “Gió hỡi

“Trời sinh ra bác Tản Đà Quê hương thời có, cửa nhà thời không Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông Bạn bè xum họp, vợ chồng biệt ly Túi thơ đeo khắp ba kỳ

Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng.”

Tản Đà là nhà thơ thông thuộc ngôn ngữ cao dao, dân ca Ông làm ca dao, dân ca

Ngày đăng: 24/11/2015, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo sư Dương Quảng Hàm – Việt Nam Văn Học Sử Yếu – Nhà xuất bản Đại Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn Học Sử Yếu
Tác giả: Giáo sư Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Nam
2. Hà Minh Đức – Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại – Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Hà Nội – 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Năm: 1974
3. Hoài Thanh-Hoài Chân – Thi Nhân Việt Nam – Nhà xuất bản Văn Học, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi Nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh-Hoài Chân
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Học
Năm: 2002
8. Nguyễn Thái Hòa – Từ điển tu từ- phong cách thi pháp học – Nhà xuất bản Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ- phong cách thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Học
4. Hoài Thanh-Hoài Chân – Thi Nhân Việt Nam – Nhà xuất bản Văn Học, 2002 Khác
5. Kho Tàng Ca Dao người Việt – Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin, 1995 6. Đỗ Bình Trị - Phân Tích tác phẩm văn học dân gian – Nhà xuất bảnGiáo Dục Khác
7. Đặng Trần Tiến – Thơ, thi pháp và chân dung – Nhà xuất bản Phương Nam, 2009 Khác
9. Trần Đình Hượu – Lê Chí Dũng – Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930 – Nhà xuất bản Đại Học và Giáo Dục chuyên nghiệp, 1988 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w