Trong bài tham luận của mình tại Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn: Khác biệt và Thành công, Nguyễn Đức Hạnh đã chỉ ra ba nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Hồng Trúc
ĐẶC ĐIỂM THƠ LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Trang 3Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phùng Qúy Nhâm đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quí thầy cô trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường
Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng sau Đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn, các thầy
cô và bạn bè đã hết lòng nhiệt tình đóng góp ý kiến, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và luận văn
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quí báu của quí thầy cô và các bạn
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Học viên
Nguyễn Hồng Trúc
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
MỤC LỤC 4
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Phương pháp nghiên cứu 15
5 Cấu trúc của luận văn 16
Chương 1: NHỮNG SUY CẢM TRONG THƠ LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN 18
1.2 Suy cảm về cuộc đời 18
1.2 Suy cảm về đồng quê 26
1.3 Suy cảm về tình cảm của con người 31
Chương 2: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN 46
2.1 Hình tượng "tôi" mang nặng tâm tư 46
2.2 Hình tượng em yêu thương vô hạn 55
2.3 Hình tượng người mẹ tảo tần, thương con 61
2.4 Hình tượng thiên nhiên gai góc, biến động 66
Chương 3: CẤU TỨ, NGÔN NGỮ, HÌNH ẢNH, GIỌNG ĐIỆU VÀ CÁC BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT TRONG THƠ LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN 72
3.1 Cấu tứ trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn 72
3.2 Ngôn ngữ trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn 77
3.3 Hình ảnh trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn 83
3.4 Giọng điệu trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn 87
3.5 Các biện pháp nghệ thuật trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn 94
KẾT LUẬN 102
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 105 PHỤ LỤC 120
Trang 6DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sức sống mãnh liệt của thể thơ lục bát
Lục bát là một thể thơ cách luật cổ điển được người Việt Nam yêu thích
từ lâu Với số câu không hạn định, các tác phẩm được sáng tác theo thể lục bát có thể chỉ gồm một cặp hai câu thơ (như nhiều câu ca dao, tục ngữ), hoặc cũng có khi lên đến hàng ngàn câu (như các truyện thơ Nôm và diễn ca lịch sử)
Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa thêm những cách tân
phù hợp, nâng thể thơ lục bát lên một tầm phát triển mới Tác phẩm được xem như một đỉnh cao của thơ lục bát với sự kết hợp hài hòa giữa thơ văn bác học
và thơ ca bình dân, xóa bỏ những định kiến sai lầm về tiếng Việt là thứ ngôn
ngữ "Nôm na mách qué" và thơ lục bát là thể loại kém trang trọng chỉ thích
hợp cho tầng lớp lao động bình dân
Chính vì sự linh hoạt và uyển chuyển tuyệt vời của mình, đặc biệt trong việc biểu đạt nội dung của các tác phẩm trữ tình cỡ nhỏ, thể thơ lục bát là một trong những lựa chọn hàng đầu của các nhà thơ Việt Nam thuộc nhiều thế hệ Nhìn qua thơ của các nhà thơ Việt Nam hiện đại và đương đại, ta có thể thấy
sự hiện diện đông đảo của các bài thơ lục bát
Các nhà thơ tên tuổi như Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Tế Hanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Bùi Giáng,… tùy các mức độ khác nhau, đều có sử dụng thể thơ lục bát trong các sáng tác thơ ca của mình và đều để lại những dấu ấn riêng trong lòng người đọc Ngoài ra, trong những nhà thơ đương đại,
ta có thể kể tên ra nhiều nhà thơ thành công ở thơ lục bát như Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Trọng Tạo, … Và trong những cuộc thi sáng tác thơ lục bát thường niên do báo Văn Nghệ Quân Đội tổ chức, số lượng các bài thơ
Trang 7tham dự rất nhiều, lên đến hàng chục ngàn bài [124, tr.17], là một minh chứng hùng hồn cho sức sống của thể thơ lục bát trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại Thơ lục bát của các nhà thơ đương đại rất đa dạng và phong phú từ nội dung cho đến những cách tân về mặt nghệ thuật
1.2 Nhà thơ Đồng Đức Bốn
Đồng Đức Bốn sinh ngày 30 tháng 3 năm 1948, trong một gia đình lao động nghèo ở ngoại ô Hải Phòng Cha ông là người rất yêu thích thơ ca, đã từng sáng tác thơ nhưng không thành công Khi lớn lên, Đồng Đức Bốn gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong Sau đó, ông làm thợ cơ khí (bậc 6/7) tại Xí nghiệp Cơ giới của Tổng Công ty Xây dựng Bạch Đằng (Hải Phòng),
Xí nghiệp Cơ khí 20-7 rồi Công ty Xuất nhập khẩu gia cầm Hải phòng Ông được làm đại diện cho công ty này tại Hà nội và bắt đầu sáng tác thơ vào cuối những năm 1980
Duyên thơ của Đồng Đức Bốn đến muộn và sự nghiệp làm thơ của ông
không gặp nhiều thuận lợi Tập thơ đầu tay Con ngựa trắng và rừng quả đắng
(1993) ra đời không gây được sự chú ý của độc giả và giới văn nghệ Cùng lúc đó, Đồng Đức Bốn rơi vào một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong cuộc đời khi gặp nhiều biến cố May mắn là trong thời gian này, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã nhìn thấy khả năng của ông ở thể thơ lục bát, khuyến khích ông tiếp tục sáng tác và nhiệt tình hỗ trợ ông quảng bá thơ lục bát của mình một cách rộng rãi Từ đó, nhà thơ tiếp tục sáng tác, đặc biệt là thể thơ lục bát, lần lượt cho ra đời thêm năm tập thơ và đạt được nhiều giải thưởng về thơ của Hội Nhà văn Sau nhiều năm liền nộp đơn, ông mới được kết nạp thành hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam
Khi đang ở độ tuổi đầy sung sức, tạo được những thành công nhất định trong công việc kinh doanh cũng như tạo được vị thế tương đối trên văn đàn, Đồng Đức Bốn phát hiện mình bị ung thư phổi giai đoạn 3 Sau nhiều nỗ lực
Trang 8điều trị điều trị nhưng không qua khỏi, nhà thơ Đồng Đức Bốn mất ngày 14 tháng 02 năm 2006 tại nhà riêng ở thôn Song Mai, xã An Hồng, huyện An Hải, Thành phố Hải Phòng, để lại bao tiếc thương cho gia đình, bạn bè và những người yêu thơ ông
Mặc dù đã có rất nhiều nhà thơ sáng tác thành công với thể thơ lục bát, nhưng Đồng Đức Bốn vẫn tạo được một vị trí nhất định cho mình trên thi đàn Việt Nam Ông có sáng tác bằng những thể thơ khác, nhưng mọi người thường đánh giá cao ông ở thể thơ lục bát hơn Nhắc đến Đồng Đức Bốn thì ngay lập tức, người ta nhớ đến những bài thơ lục bát của ông Những bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn với sức hấp dẫn riêng của mình đã góp phần tạo nên diện mạo của thơ lục bát Việt Nam đương đại
Do đó, việc tìm hiểu đặc điểm thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là một điều hết sức cần thiết, ngoài việc giúp chúng ta hiểu thêm một cách bao quát hơn, chính xác hơn về một nhà thơ lục bát đương đại đáng chú ý, nó cũng góp phần giúp chúng ta hiểu thêm về sức sống của thể thơ lục bát trong bức tranh toàn cảnh của nền thơ ca đương đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu và độc giả yêu thơ, các bài viết về ông xuất hiện rải rác trên các báo và tạp chí, các tuyển tập phê bình và tiểu luận Nhìn chung, các bài viết
ấy được tập hợp nhiều nhất trong tuyển tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) do chính tay nhà thơ tuyển chọn; tập tiểu luận Giăng lưới bắt chim
(2010) của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tổng hợp những bài viết của ông về
Đồng Đức Bốn đã in trước đây, có sửa chữa và bổ sung; và gần đây là Kỷ yếu
Hội thảo Thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn: Khác biệt và Thành công
(2011) tại Hải Phòng
Trang 9Ngoài ra còn một số bài viết đáng chú ý khác về thơ lục bát của Đồng Đức Bốn như bài chuyện trò giữa Trần Đăng Khoa và Nguyễn Văn Thọ
(Ngẫu hứng qua mây gió, 2004), bài viết của Nguyễn Hòa (Đồng Đức Bốn đã
tiếp nhận “y bát thơ lục bát” từ Nguyễn Du ra sao?, 2007), Vương Trí Nhàn
(Đồng Đức Bốn và chất hoang dại trong thơ, 2009),…
Nhà thơ Đồng Đức Bốn nhận được nhiều lời nhận xét tích cực về thơ mình Trong số những người yêu mến thơ lục bát của Đồng Đức Bốn thì nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là người tích cực giới thiệu và nhận xét về thơ lục bát
Đồng Đức Bốn nhất Nhà văn ưu ái nhận định Đồng Đức Bốn như “vị cứu
khác, thừa nhận “không nhớ rõ” mình có ghi như thế hay không [123, tr.156]), làm thơ theo phái “ngộ năng” hiếm có hơn phái “trí năng”, nhận
được “y bát thơ lục bát” từ Nguyễn Du truyền lại [8, tr.108 – 110] Sau này,
Đỗ Minh Tuấn nhận xét Đồng Đức Bốn là một kiểu "thần đồng muộn", "thần
đồng hoài nghi" [137, tr.581] Nhà thơ Phạm Tiến Duật thì cho rằng Đồng
Đức Bốn là "một ông vua trẻ" của thể loại lục bát, và khẳng định sự thành công của Đồng Đức Bốn với thể thơ này đã "làm dấy lên một phong trào làm
thơ lục bát thu hút hàng ngìn cây bút chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp"
[22, tr.659] Vĩnh Quang Lê thì ví Đồng Đức Bốn như "một ngôi sao băng
giữa bầu trời thơ lục bát" [70, tr.719], là "nhà thơ lục bát bẩm sinh" [70,
tr.723] Nguyễn Việt Hà cho rằng Đồng Đức Bốn đã được "lục bát chọn" [37, tr.814] Văn Chinh cho rằng: Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn "mỗi
người đều có y bát riêng, là trưởng môn phái của chính mình" [14, tr.827]
trong thể thơ lục bát
Bên cạnh những lời ngợi khen, thơ lục bát của Đồng Đức Bốn cũng vấp phải những góp ý và nhận xét nặng nề
Trang 10Nhà thơ Trần Đăng Khoa, bằng sự ví von tuy hoa mĩ, cho rằng chúng chỉ
có lớp vỏ ngôn ngữ được kết tạo khéo léo chứ thực chất giá trị không đáng kể
… thơ anh (Đồng Đức Bốn) óng ánh như những sợi dây kim loại mà máy bay Mỹ dùng để làm nhiễu sóng ra đa của bộ đội Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh phá hoại… Nhưng thơ anh long lanh một thứ vàng mạ Chỉ óng ánh trang kim, nhưng nhẹ tếch chẳng có
gì Gạt cái vỏ mạ vàng ra, bên trong chỉ lễnh loãng một chút sương khói [66, tr.107]
Đình Kính cũng chỉ ra điểm yếu trong sáng tác của nhà thơ, đó chính là
"không nhiều lắm những bài thơ mang sức nặng trí tuệ tư tưởng cao", thậm
chí đôi khi để chất đồng dao dân dã ùa vào thơ mình tạo nên những tác phẩm
"dễ dãi", "vô bổ" [65, tr.8] Nguyễn Hòa gay gắt hơn, cho rằng thơ Đồng Đức Bốn là "những câu thơ rỗng ruột" [44, tr.86]
2.1 Về nội dung
Nguyễn Huy Thiệp cho rằng thơ Đồng Đức Bốn thường có chủ đề quay
lại với các giá trị văn hóa cổ truyền và tiếc rằng “Đồng Đức Bốn chưa cười
được, chưa có chất umua cần thiết trong thơ … Cười được Đồng Đức Bốn sẽ hay và lớn hơn nhiều” [123, tr.148] Nhà văn cũng nhận thấy được rằng thơ
lục bát của bạn mình "lụy tình hơn lụy ý" [123, tr.107] với sự kết hợp giữa
"ngậm ngùi tình cảm" và "kinh nghiệm sống chua xót" của một người "nhà
quê trí thức", "lang bạt kỳ hồ" [123, tr.148] Đoàn Hương cũng cùng ý kiến
cho rằng Đồng Đức Bốn sáng tác dựa trên trải nghiệm khi nhận xét "Thơ với
Đồng Đức Bốn chính là nước mắt, là muối, là máu của đời" [56, tr.670] Trần
Hoàng Thiên Kim thì cho rằng Đồng Đức Bốn là "người thích hoài niệm, hoài
niệm về mẹ, về người tình, về cảnh vật" [64, tr.857] Đỗ Minh Tuấn, với cách
nói đơn giản hơn, cho rằng Đồng Đức Bốn đã làm thơ trên những trải nghiệm của chính bản thân mình Đi sâu vào cảm hứng nghệ thuật trong thơ lục bát
Trang 11Đồng Đức Bốn, ông cho rằng trong thơ Đồng Đức Bốn có "cảm hứng phủ
định thần thánh", và đó là "biểu hiện của sự mặc cảm tự tôn hiên ngang đầy ý chí, luôn tin vào sức mạnh huyền nhiệm của con người", và con người trong
thơ lục bát của Đồng Đức Bốn "thật mạnh mẽ, đầy quyền phép phù thủy" [137, tr.570] Nguyễn Đăng Điệp cũng nhận thấy Đồng Đức Bốn "làm thơ
trên những trải nghiệm" [30, tr.273] và "có nhiều câu viết cảm động về mẹ, cha, bạn bè, con cái … trên hết vẫn là những cuộc tình của anh" [30, tr.280]
Tuy nhận xét có khác nhau về câu chữ, nhưng nhìn chung, các ý kiến trên đều nhìn nhận thơ Đồng Đức Bốn chứa đựng những chiêm nghiệm cá nhân, những tình cảm tha thiết với cuộc đời và con người
Khi nhắc đến thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, người ta thường nhắc nhiều
đến "đồng quê" Trong bài tham luận của mình tại Hội thảo thơ Mai Văn
Phấn và Đồng Đức Bốn: Khác biệt và Thành công, Nguyễn Đức Hạnh đã
chỉ ra ba nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Đồng Đức Bốn (chủ yếu ở thể thơ lục bát) là cảm hứng hoài niệm trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi; cảm hứng thương nhớ nhà quê, hồn quê và người quê; và cảm hứng tự hào về sự bất tử của thơ mình [38, tr.302-311] Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn đã chỉ ra
thế mạnh của thơ Đồng Đức Bốn là "thể thơ đồng quê, ngôn ngữ đồng quê,
cảm hứng đồng quê", đặc biệt là "tình ý tư tưởng đồng quê" [130, tr.752]
Nguyễn Chu Nhạc gọi Đồng Đức Bốn là "nhà thơ của nông dân, của công
việc đồng áng, của thiên nhiên cảnh sắc làng quê Việt Nam hiện tại" [84,
tr.780] Trong những bài viết có nhắc đến đến đặc điểm này trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, người ta cũng thường hay nhắc đến Nguyễn Bính để so sánh và nói lên điểm riêng của Đồng Đức Bốn
2.2 Về nghệ thuật
Trong các hình tượng nghệ thuật trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn thì
hình tượng cái tôi trữ tình được mọi người chú ý nhiều Vương Trí Nhàn cho
Trang 12rằng cái tôi trong thơ Đồng Đức Bốn là "cái tôi hậm hực, bất lực" [86, tr.145] Nguyễn Hoài Nguyên lại nhận thấy con người trong thơ Đồng Đức Bốn "thật
mạnh mẽ phi thường như có sức mạnh của thần linh" [81, tr.349] Đỗ Minh
Tuấn từng nhận xét thơ Đồng Đức Bốn "là sự định nghĩa lại quyền lực con
người trong thế giới của những công cụ rạn vỡ, đổ nát" [137, tr.585]
Nhận xét về cấu tứ của những bài thơ lục bát Đồng Đức Bốn, nhiều ý
kiến nhận xét về sức sống độc lập của những cặp câu thơ lục bát trong thơ
ông Nguyễn Huy Thiệp cho rằng Đồng Đức Bốn thuộc phái ngộ năng – “vị
tình, lấy tình át chữ, đọc câu sáu mà không đoán được câu tám thế nào” [123,
tr.139] và “ta không thấy Đồng Đức Bốn không có bài thơ nào hay nhưng
những câu thơ hay “tình thế” của Đồng Đức Bốn thì “chi chít”: Những câu thơ hay ấy để trong bài thơ nào cũng được” [123, tr.153 - 154] Nhận xét trên
cho thấy thơ lục bát của Đồng Đức Bốn thiên về cảm xúc, có những liên tưởng độc đáo nhưng không có sự liên kết chặt chẽ giữa các cặp câu lục bát với nhau Nhiều cặp câu lục bát hay có sức sống độc lập ngoài bài thơ Nhưng trong những bài thơ hay của nhà thơ Đồng Đức Bốn, ta thấy sự liên kết rất chặt chẽ Trần Huy Tản nhận định sự liên kết của từ và tứ gắn chặt với những câu thơ hay trong thơ Đồng Đức Bốn là "xuất thần" [115, tr.907]
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cũng có bài viết về thơ lục bát của
Đồng Đức Bốn, trong đó, ông nhận xét về sự lỏng lẻo này “tôn thêm cảm giác
quê mùa, hoang dại” của thơ Đồng Đức Bốn [86, tr.142 – 143]
Nguyễn Hòa nhận xét thơ Đồng Đức Bốn là “những câu thơ rỗng ruột”
[44, tr.86], đồng thời cũng chỉ ra những cái chưa hay trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn với giọng điệu gay gắt Ông chỉ ra những thói quen đặt tên bài thơ thường gặp trong thơ Đồng Đức Bốn: 1/ Tác giả lấy những câu mở đầu của bài thơ để đặt tên cho tác phẩm; 2/ Tác giả lấy vài từ của câu đầu, hoặc
vài từ của câu thứ hai của bài thơ để đặt tên cho tác phẩm (Trở về với mẹ ta
Trang 13thôi 24/45, Chuông chùa kêu trong mưa 19/45); 3/ Nhan đề gắn liền với một
địa danh (Nguyễn Hòa cho rằng có thể coi Đồng Đức Bốn đã khai sinh một thể loại thi ca mới là “thi kí”); 4/ Nhan đề gắn liền với tâm sự nào đó của tác giả khi gặp gỡ một sự vật, hiện tượng [44, tr.86 – 88] Nguyễn Hòa cho rằng Đồng Đức Bốn đã lạm dụng cách đặt tên tác phẩm bằng câu thơ đầu và nhấn
mạnh rằng “nhan đề đa số bài thơ của Đồng Đức Bốn không bao chứa những
“tứ thơ” tác giả muốn gửi gắm mà chỉ là những “cái cớ” đưa tới "sự ra đời của bài thơ” [44, tr.88] Việc đó đã dẫn tới hai hệ quả là các câu thơ sau chỉ
còn là “vệt kéo dài” của câu thơ đầu và người viết phải sử dụng câu thơ đầu làm nhan đề nếu không muốn tác phẩm “vô đề” Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng đồng ý với nhận định của Nguyễn Hòa về cấu tứ thơ của Đồng Đức Bốn thường lễnh loãng và lỏng lẻo [116, tr.84] Hữu Thỉnh nhận định việc những
câu thơ "văng ra khỏi bài, có một cuộc sống riêng" đó là "cả một sự tài tình"
vì "người làm thơ biết dồn nhan sắc cho những câu thơ hay", và đó là cái
"được" nhưng còn cái "thua" là "xổng xểnh trong bố cục"[122, tr.857] Một
trong những điểm chú ý khác của cặp câu thơ lục bát trong thơ Đồng Đức Bốn, bên cạnh sức sống mạnh mẽ, đó chính là cách liên tưởng bất ngờ đến kỳ
lạ Điều này đã được nhiều người nhận ra như Vũ Dũng, Nguyễn Anh Quân, Nguyễn Thị Anh Thư, …
Về hình ảnh, thơ lục bát của Đồng Đức Bốn có một số hình ảnh được
lặp đi lặp lại, gây ấn tượng trong lòng người đọc Nguyễn Thúy Quỳnh, dựa
trên tuyển tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, nhận xét trong tập thơ có nhiều
"hình tượng nghệ thuật"[sic] xuất hiện với tần số cao như: chùa, cánh đồng, ngựa, mưa, nắng, giông bão, sông biển… và đề cập đến "ba hình tượng nghệ
thuật nổi bật"[sic] có tần số xuất hiện cao nhất theo thống kê của mình là
mưa, giông bão và sông [104, tr.402] Nguyễn Đức Hạnh đã chỉ ra ba hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ Đồng Đức Bốn là "gai" (27 lần), "bão
Trang 14giông" (63 lần), và "vàng" (47 lần) [38, tr.309] (Thống kê theo tập thơ Chim
mỏ vàng và hoa cỏ độc) Nhà phê bình Vương Trí Nhàn đã “thử làm một cuộc thống kê những từ ngữ thường trở đi trở lại" trong thơ Đồng Đức Bốn và
nhận thấy rằng “Toàn những rạ rơm, cây cải, hoa dong riềng, bờ tre, bụi dứa,
mùa sen, vườn cau, bụi tầm xuân, múi bưởi đào, dây tơ hồng, mảnh sành, gai rào”, tức toàn những hình ảnh quen thuộc chốn đồng quê Bên cạnh đó thì
hình ảnh thiên nhiên thì đầy biến động, bất an với “chớp bể mưa nguồn, bèo
giạt mây trôi rồi nắng rét, rồi con gió chen ngang, gió giông bão tố" Con
người thì cứ xoay vần trong những hoạt động quen thuộc “quẩn quanh với
việc chăn trâu đốt lửa, lên chùa, đón hội, đánh bạc”, họ dường như ít khi tìm
thấy được niềm vui và hạnh phúc thật sự trong cuộc sống này nên cứ mải miết
kiếm tìm – “hết tìm cái vu vơ họ lại tính chuyện không đâu, mà dù có bán
buồn mua vui thì chẳng qua cũng chỉ chín xu đổi lấy một hào” [86, tr.135]
Như vậy, hình ảnh trong thơ Đồng Đức Bốn quen thuộc và gần gũi với chốn làng quê
Nhìn chung, những hình ảnh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn rất đỗi thân quen, đặc biệt là gần gũi với nông thôn Việt Nam, lối sống thuần nông của con người ở nông thôn Việt Nam như vầng trăng, con đò, tiếng chuông chùa, dòng sông,… cũng được nhiều người đề cập đến Chính điều đó đã góp phần khiến mọi người khi nhắc Đồng Đức Bốn là nhắc đến một hồn thơ mang đậm chất thôn quê Những hình ảnh trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn được nhận xét là được gắn kết với nhau một cách bất ngờ, tạo bạo và liên tưởng mới lạ Những hình ảnh thơ ông thường gai góc, tan vỡ: trăng gày, trăng cong, sào gãy, diều đứt dây,…
Nói về ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn, Nguyễn Huy Thiệp từng
nói rằng vốn từ của Đồng Đức Bốn chỉ “loanh quanh khoảng 600 từ” [123,
tr.108], và nhiều nhà nghiên cứu sau này cứ trích dẫn ý trên mà không kiểm
Trang 15chứng Tuy nhiên, nhà thơ Inrasara đã chứng minh khá thuyết phục với những
con số thống kê chứng tỏ rằng Đồng Đức Bốn dù chưa có "ý thức tạo ngôn
ngữ riêng cho thơ mình”, mà chỉ “ẩn và lẩn trong ngôn ngữ chung của tiếng Việt” nhưng “dung lượng tiếng Việt trong thơ Đồng Đức Bốn không thiếu kém hơn các nhà thơ cùng thời nào khác bất kì” [59, tr.235]
Như vậy, xét về mặt từ ngữ, ngôn ngữ thơ lục bát của Đồng Đức Bốn rất gần gũi với ngôn ngữ chung của Tiếng Việt Lượng từ ngữ được sử dụng trong thơ Đồng Đức Bốn tuy khá nhiều, nhưng vì quá quen thuộc khiến người đọc có cảm giác không nhiều Thêm vào đó, danh tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng dễ khiến người ta tin tưởng mà không kiểm chứng lại những nhận xét của ông về thơ Đồng Đức Bốn
Nhà thơ Đồng Đức Bốn tuy học hành không nhiều nhưng ông có khả năng cao trong việc vận dụng linh hoạt và kết hợp hiệu quả từ ngữ đời thường Trần Huy Tản cũng nhận xét là Đồng Đức Bốn khéo léo đưa vào thơ
"những từ ngữ oái oăm" biến ảo thành tứ và vần trong những câu thơ hay của mình [115, tr.912] Nguyễn Hoài Nguyên, trong tham luận Đặc sắc ngôn ngữ
thơ lục bát Đồng Đức Bốn, cho rằng nhà thơ có cách sử dụng từ ngữ độc đáo
"lắp ghép để tạo nên những sắc thái mới, âm hưởng mới, hiệu quả thẩm mĩ
cao" [81, tr.347] như giọt mắt, giếng nước, sợi mưa, trăng gầy, cái ngọt
ngào, Nhà thơ sử dụng phép đảo các thành phần và các cụm từ bất qui tắc
để nâng cao hiệu quả thẩm mĩ của ngôn từ Theo quan điểm đó, tác giả khẳng định Đồng Đức Bốn đã tạo được ngôn ngữ riêng cho thơ mình Tuy không đánh giá cao về nội dung thơ Đồng Đức Bốn nhưng nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng công nhận khả năng sử dụng từ ngữ tốt của Đồng Đức Bốn, theo cách
nói của ông là “giỏi mài rũa những con chữ” Theo nhận xét của Trần Đăng
Khoa thì cách dùng từ ngữ của Đồng Đức Bốn giúp cho thơ ông có một vẻ
Trang 16ngoài “long lanh một thứ vàng mạ”, dễ khiến người ta bị choáng ngợp, dù nội
dung thực sự chẳng có gì đáng kể [66, tr.107]
Vương Trí Nhàn đã nhận thấy Đồng Đức Bốn thường sử dụng những từ ngữ gần gũi, quen thuộc trong khi nhiều nhà thơ khác đang tìm cách lạ hóa ngôn từ để làm mới thơ ca và tạo nên dấu ấn riêng của mình Ông xem cách
sử dụng từ ngữ của Đồng Đức Bốn giống như “một cuộc vận động ngược”
trong ngôn từ [86, tr.135] Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn nhận xét rằng, lục bát của Đồng Đức Bốn ít khi sử dụng từ Hán Việt, nếu có thì câu thơ nghe "cồm cộm" [130, tr.749] Bên cạnh đó, nhà thơ sử dụng nhiều thành ngữ, và thường
có những câu hỏi như trong ca dao khiến cho nhiều bài thơ mang âm hưởng quen thuộc của ca dao [130, tr.753] Nguyễn Anh Quân nhận xét rằng, nhờ sự liên hệ, so sánh, táo bạo ít ai dùng, đã khiến cho thơ Đồng Đức Bốn tuy có ngôn từ và cách nói như khẩu ngữ hằng ngày nhưng vẫn gây được ấn tượng nơi người đọc [99, tr.712 – 713]
Nhà thơ – nhà nghiên cứu Inrasara nhận xét từ ngôn từ cho đến nhịp điệu, từ lối vắt dòng, ngắt nhịp cho đến thi ảnh,… chưa thấy Đồng Đức Bốn
"sáng tạo ra cái mới cho lục bát Việt" mà chỉ sáng tác dựa trên những gì đã quen thuộc, và xác định “Lục bát Đồng Đức Bốn đi len giữa dòng lục bát dân
gian và lục bát huyền ảo Vô ngại Để không ít lần bật lên các bài thơ, đoạn thơ xuất thần Xuất thần và dễ hiểu, dễ tiếp nhận, cả với người đọc được cho
là bình dân nhất” [59, tr.238] Có thể nói, lời nhận xét trên đã phần nào lí giải
nguyên nhân tại sao tuy còn nhiều điều điểm hoàn thiện nhưng thơ Đồng Đức Bốn vẫn nhận được sự yêu mến rộng rãi của độc giả yêu thơ Sự gần gũi và dễ hiểu của thơ Đồng Đức Bốn mặc nhiên trở thành lợi thế trong quá trình chinh phục người yêu thơ
Đoàn Hương cũng nhận xét thơ Đồng Đức Bốn có ngôn ngữ "chân quê", mang hương vị đậm đà của ca dao [56, tr.667] Trần Huy Quang thì nhận xét
Trang 17thơ lục bát của Đồng Đức Bốn như "đồng dao của trẻ chăn trâu", gần gũi chứ
không cao siêu, không có ý thức ca ngợi hay phê phán gì [98, tr.699] Nguyễn
Anh Quân thì cho rằng ca từ trong thơ Đồng Đức Bốn "giản dị đến khó hiểu",
chỉ nên cảm và nhận chứ đừng mổ xẻ phân tích [99, tr.709] Theo những đánh giá trên, ta thấy mọi người khi nhắc đến ngôn ngữ thơ Đồng Đức Bốn đều ít nhiều liên hệ với ca dao dân ca để cho thấy sự gần gũi giữa ngôn từ và cách
sử dụng từ ngữ trong thơ Đồng Đức Bốn với ca dao dân ca
Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên giá trị
của một bài thơ, tạo nên đặc trưng của một tác giả Nguyễn Huy Thiệp xem
Đồng Đức Bốn là "thuộc diện nhà thơ bảo tồn, bảo lưu các gía trị thơ ca
truyền thống" và thơ Đồng Đức Bốn là thơ lục bát “gin” Nhà văn nhận định
"Cái hay trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là sự chất phát giống như ca
dao, có sự ngậm ngùi tình cảm và cả kinh nghiệm sống chua xót của một người “nhà quê trí thức” lang bạt kỳ hồ chen lẫn vào" [123, tr.148] Bằng
những thống kê của mình, Nguyễn Hoài Nguyên đã nhận xét thơ lục bát Đồng Đức Bốn có tỉ lệ vần chính lớn 77.9% (trong đó cùng thanh ngang 33.4%, cùng thanh huyền 20%), tạo hiệu quả hòa âm cao [81, tr.340] Nhiều câu thơ
có hiện tượng các âm tiết hiệp vần "ríu vào nhau" vừa tăng cường âm hưởng cho câu thơ, vừa chế định cách ngắt nhịp thơ Sử dụng phương pháp thống kê định lượng, tác giả xác định câu lục thơ lục bát Đồng Đức Bốn có 10 loại nhịp, câu bát có 27 loại nhịp, cặp câu lục bát có 84 loại nhịp [81, tr.343] Sự hòa âm cao kết hợp với những so sánh liên tưởng gần gũi ca dao, lại sử dụng nhiều thanh bằng đã khiến cho thơ của Đồng Đức Bốn rất gần với ca dao dân
ca, những điệu hò, câu ví Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Hoài Nguyên đều nhận thấy sự gần gũi giữa giọng điệu trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn với ca
dao, mà ở đây có lẽ là giọng thơ tha thiết "ngậm ngùi tình cảm" được tạo ra
bởi sự hòa âm vần chính cao và sự xuất hiện của nhiều thanh bằng
Trang 18Nhà phê bình Vương Trí Nhàn cũng nhận xét thơ lục bát của Đồng Đức
Bốn có một chất riêng mà ông gọi đó là “chất hoang dại”, và chính “chất
hoang dại thứ thiệt” đó làm nên “nguồn thơ riêng” cho thơ lục bát của Đồng
Đức Bốn [86, tr.140] Ông gọi Đồng Đức Bốn là một giọng thơ "dân gian
hiện đại" [86, tr.146] Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp nhận xét cái mới
của Đồng Đức Bốn là ở chất giọng Chất giọng ấy "không mềm, không ướt,
mà xù xì, gai góc, có khi thô ráp" [30, tr.282] Thơ Đồng Đức Bốn được thể
hiện bằng một giọng điệu hồn nhiên, bằng cách nói tưởng như không đâu, rất
vu vơ Nhà thơ Phạm Tiến Duật thì cho rằng trong thơ Đồng Đức Bốn có sự
"phóng túng, thô ráp" như sự phóng túng, thô ráp của thủy thủ, của dân lao động ngày đêm bốc vác Trong thơ của Đồng Đức Bốn có "cái se buồn, cái
xót xa sâu lắng của lớp dân nghèo thành thị" và chính cái "se buồn" ấy làm
thơ của ông "sang lên" và "hay hơn" [22, tr.696] Với bài viết Trời đưa anh
đến cõi thơ, Đỗ Minh Tuấn nhận xét tập thơ Chuông chùa kêu trong mưa đã
có những cái mới về “sắc thái thẩm mĩ đầy khí vị thiền” [138, tr.621] Âm
hưởng chính trong thơ của Bốn là lời than vãn của kẻ thất tình, của người đeo đẳng, của thi sĩ cô đơn
Các bài viết thường tập trung đề cao cái hay, cái lạ trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn qua việc phân tích, bình giảng một số bài thơ nổi bật Tuy nhiên, các bài viết chưa làm rõ sự khác biệt giữa thơ lục bát của Đồng Đức Bốn với thơ lục bát của một số nhà thơ khác, nghĩa là vẫn chưa chỉ rõ được nét riêng trong thơ lục bát của ông Một số bài viết tập trung vào chất “đồng quê” và chất “hoang dại” trong thơ Đồng Đồng Đức Bốn và cũng chỉ ra sự khác biệt của thơ lục bát Đồng Đức Bốn với một số nhà thơ khác như Nguyễn Bính, Nguyễn Duy và một số nhà thơ cách tân thơ lục bát Nhưng trong khuôn khổ của một bài viết ngắn, các bài viết ấy thường chỉ có thể nêu một cách khái quát chứ chưa làm rõ được nhận định của mình, nhất là về chất
Trang 19đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn và thơ Nguyễn Bính Những bài viết được
chọn in trong Kỷ yếu Hội thảo thơ Mai Văn Phấn và Đồng Đức Bốn: Khác
biệt & Thành công (2011) là tương đối có hệ thống về ngôn ngữ, hình ảnh,
hình tượng nghệ thuật, cảm hứng nghệ thuật và một số motif thường gặp trong thơ Đồng Đức Bốn Tuy nhiên, những bài viết ấy thường chủ yếu dựa
vào tập thơ cuối cùng của ông Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) chứ chưa
phải nhìn tổng quát trên toàn bộ những sáng tác bằng thơ lục bát của ông Sự
so sánh, đối chiếu với các tác giả sáng tác theo thể lục bát, đặc biệt là các tác giả đương đại trong các bài viết còn ít nên cũng chưa thể làm rõ những nét riêng và những cái mới của lục bát Đồng Đức Bốn Có lẽ, do quá ấn tượng với giọng thơ và chất đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn mà mọi người ít chú
ý đến hình tượng nghệ thuật trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn cũng như các biện pháp nghệ thuật được ông sử dụng, trong khi đây cũng là một trong những đặc điểm quan trọng của một hồn thơ cần được tìm hiểu thêm
Trong khuôn khổ của mình, luận văn sẽ đi vào tìm hiểu một cách hệ thống những đặc điểm trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn nhằm mang đến một cái nhìn khái quát về hồn thơ lục bát Đồng Đức Bốn, và cố gắng làm rõ những nét riêng, những đóng góp của thơ lục bát Đồng Đức Bốn vào quá trình phát triển của thể thơ truyền thống này trong nền văn học Việt nam đương đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu là các sáng tác theo thể thơ lục bát của tác giả Đồng Đức Bốn trong các tập thơ:
1 Con ngựa trắng và chùm quả đắng (1992), NXB Văn Học
2 Chăn trâu đốt lửa (1993), NXB Lao Động
3 Trở về với mẹ ta thôi (2000), NXB Hội Nhà Văn
4 Chuông chùa kêu trong mưa (2002), NXB Hội Nhà Văn
Trang 205 Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006), NXB Hội Nhà Văn
Trong năm tập thơ kể trên thì Trở về với mẹ ta thôi (2000) và Chuông
chùa kêu trong mưa (2002) là hai tập thơ thuần lục bát, các tập thơ còn lại có
xen kẽ các bài thơ thuộc các thể thơ khác Ngoài ra, nhà thơ cũng xuất bản tập
thơ Cuối cùng vẫn còn là dòng sông (2002) theo các thể thơ khác nên không
thuộc đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tập Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc (2006) bên cạnh những sáng tác được
tuyển chọn và những sáng tác mới của mình, Đồng Đức Bốn cũng tuyển chọn vào đó những bài viết, bài phỏng vấn về mình và thơ của mình để cho độc giả
có thêm những cái nhìn mới về thơ ông, ngoài cái nhìn của bản thân tự có qua tiếp nhận tác phẩm
Phạm vi của đề tài là tập trung nghiên cứu những suy cảm về cuộc đời, làng quê và con người; các hình tượng nghệ thuật nổi bật và các đặc điểm nghệ thuật khác như cấu tứ, ngôn ngữ, hình ảnh và giọng điệu, các biện pháp nghệ thuật trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn để tìm hiểu những đặc điểm tạo nên hồn thơ Đồng Đức Bốn Từ đó, đưa ra những đánh giá, nhận định về
vị trí và đóng góp của thơ lục bát Đồng Đức Bốn đối với thi ca Việt Nam đương đại, đặc biệt là đối với sự phát triển của thể thơ lục bát trong quá trình vận động và phát triển
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong nghiên cứu này gồm các phương pháp sau:
Phương pháp so sánh: so sánh thơ lục bát của Đồng Đức Bốn với các nhà thơ khác viết theo thể lục bát nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt, từ đó làm rõ nét riêng của thơ lục bát Đồng Đức Bốn
Trang 21 Phương pháp loại hình: dựa trên đặc điểm của thể thơ lục bát để tìm hiểu thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
Phương pháp hệ thống: đặt các sáng tác bằng thể lục bát của Đồng Đức Bốn vào hệ thống các sáng tác bằng thể lục bát của các nhà thơ khác trong mối quan hệ đồng đại và lịch đại để xác định vị trí của thơ lục bát Đồng Đức Bốn trong quá trình phát triển của thể thơ dân tộc này
Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: tìm hiểu phân tích các sáng tác theo thể thơ lục bát của Đồng Đức Bốn và khái quát thành những đặc điểm của hồn thơ lục bát Đồng Đức Bốn
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những suy cảm trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
Chương này sẽ giải quyết những vấn đề liên quan tới những suy cảm trong các sáng tác thơ lục bát của Đồng Đức Bốn Qau đó, làm rõ sự khác biệt trong cách cảm nhận về cuộc sống, con người và đồng quê giữa nhà thơ Đồng Đức Bốn và một số nhà thơ khác sáng tác theo thể lục bát
Chương 2: Hình tượng nghệ thuật trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
Chương này sẽ trình bày những hình tượng nghệ thuật tiêu biểu trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn và phân tích giá trị nghệ thuật cũng như đặc điểm nổi bật của những hình tượng này Từ đó, làm rõ đặc trưng của Đồng Đức Bốn trong việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật ấy
Chương 3: Cấu tứ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu và các biện pháp
nghệ thuật trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn
Chương này sẽ phân tích, nhận xét về cấu tứ, ngôn ngữ, hình ảnh và một
số biện pháp nghệ thuật thường gặp trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn như
ẩn dụ, phép điệp, so sánh…
Trang 22Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 23Chương 1: NHỮNG SUY CẢM TRONG THƠ
LỤC BÁT CỦA ĐỒNG ĐỨC BỐN
Thơ ca, trước hết, là một phương tiện để người làm thơ giải bày tâm tư
và tình cảm của mình, bởi vì "nghệ thuật là tình cảm, là sự thôi thúc bên
trong"[132, tr.10-11] Nhà thơ càng có đời sống tâm hồn phong phú, có nhiều
kinh nghiệm sống thì càng có nhiều chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, từ đó viết nên được những tác phẩm tìm được sự đồng cảm nơi người đọc Từ suy
cảm được dùng ở đây là sự kết hợp giữa suy tư và cảm nhận – suy tư là "suy
nghĩ sâu lắng"[47, tr.876], và cảm nhận là "nhận biết bằng cảm tính hay bằng giác quan"[47, tr.107] Nói đến suy cảm là nói đến cách nhìn, cách nghĩ, cách
cảm của nhà thơ về một vấn đề nào đó được đề cập đến trong tác phẩm của ông
Trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn, ta bắt gặp những suy cảm về cuộc đời, về tình người và về làng quê mà ông suốt đời gắn bó Có thể nói, những suy cảm của ông là khởi nguồn cho những sáng tác của ông, ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo nghệ thuật của ông Việc tìm hiểu những suy cảm trong thơ lục bát của ông là một bước quan trọng để giúp chúng ta hiểu hơn về hồn thơ lục bát Đồng Đức Bốn
1.2 Suy cảm về cuộc đời
Thơ lục bát Đồng Đức Bốn được sáng tác dựa trên những trải nghiệm
của chính cuộc đời ông Sinh thời, nhà thơ từng nói "thơ gắn liền với cuộc
sống, từng trải và những bầm dập của riêng tôi", nhưng vẫn có sự tiết chế cần
thiết vì ý thức được rằng "đem cái riêng tư quá đáng của cá nhân vào thơ thì
đâu còn là thơ nữa" [195, tr.169] Tuy nhiên, do những suy cảm về cuộc đời
của ông thường dựa trên chính những trải nghiệm của chính mình, nên yếu tố
cá nhân đôi lúc còn khá rõ nét
Trang 241.2.1 Cuộc đời là một hành trình gian lao kiếm tìm những điều tốt đẹp
Chùm thơ Đời tôi của ông được nhiều người yêu thích, thể hiện được
những chiêm nghiệm của ông về cuộc đời Trong chùm thơ này, nhân vật "tôi" rất gần với tác giả, với những lời tâm sự chân thành Cuộc đời trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn luôn khiến con người phải quay cuồng trong vất vả lo
toan Thế nhưng "cơm áo không đùa với khách thơ" – cuộc đời thật quá gian nan và tất cả đều phải đánh đổi – được "miếng cơm" thì phải mất "tí lửa tí
rơm gầy lò" Đã vậy, hết khó khăn này đến khó khăn khác cứ liên tiếp xuất
hiện không ngừng được nhấn mạnh bằng cấu trúc "đời tôi" lặp đi lặp lại
Thông qua hai hình ảnh ẩn dụ là "trượt bão mưa to" và "lội đi mò đồng sâu",
nhà thơ đã khắc họa nên cuộc đời đầy gian truân của mình qua từng câu thơ
Tôi vừa lo được miếng cơm Thì mất tí lửa tí rơm gầy lò Tôi vừa trượt bão mưa to Chân đã phải lội đi mò đồng sâu
(Đời tôi) Trong thơ lục bát Nguyễn Duy, ta bắt gặp motif "trở về" rất nhiều: nhà
thơ trở về với quê hương, với gia đình, với… vợ - "Thôi ta về với mình thôi/
Chân trời đành để chim trời nó bay" Sự trở về đó cho thấy Nguyễn Duy xem
cuộc đời là một hành trình trở về với bình yên, với những hạnh phúc bình dị Đồng Đức Bốn cũng mong ước đạt đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống, nhưng trong thơ ông, ta thấy motif "đi tìm" rất đậm nét Con người trong thơ ông dường như cứ mãi lang bạt kiếm tìm tình người, đặc biệt là tình yêu -
"Đời tôi chỉ những xót xa đi tìm", "Tôi đi tìm một tình yêu", "Đời tôi",… Bùi
Giáng cũng xem cuộc đời như một hành trình, nhưng là hành trình rong chơi
"vui thôi mà!" : "Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi/ Đi lên đi xuống đã đời du côn"
Thơ của Đồng Đức Bốn là thơ của một con người lúc nào cũng khao
Trang 25khát đi tìm kiếm những gía trị tốt đẹp, tìm kiếm định mệnh của mình, tìm kiếm một sự tự khẳng định bản thân trong cuộc đời bao la, đầy thử thách này
Sang giàu mặc kệ người ta Đời tôi chỉ những xót xa đi tìm
(Đời tôi) Chính vì thơ ghi lại hành trình mải miết đi tìm tình yêu, cái đẹp, bản ngã của mình, nên thơ lục bát Đồng Đức Bốn đầy những địa danh và đại điểm Địa danh và địa điểm xuất hiện ngay từ tiêu đề tác phẩm hoặc trong những
câu thơ, từ những địa danh nổi tiếng như Huế (Chiều mưa trên phố Huế), Hà Nội (Chiều nay Hồ Tây có giông), Bắc Ninh (Hội Lim), Đà Lạt (Nửa đêm Đà
Lạt) đến những nơi nhỏ hẹp hơn như các dòng sông (Đêm sông Cầu, Chơi thuyền trên sông Hương, Sông Thương ngày không em,…), các con phố (Ở phố Bờ sông, Ở phố Bà Quẹo, Phố Đèo, Phố Nối mưa rào, Về phố Hàng Tre,… ), chợ (Chợ Thương, Chợ Buồn, Nhà em sát chợ Mơ…), chùa (Vu vơ chùa Hương, Chuông chùa quán Sứ), đường (Buổi sáng trên đường Lê Thánh Tôn, Đi xích lô đường Bà Triệu,… )… và cả những nơi không rõ địa điểm
(Qua nhà người yêu cũ), quán bán hàng (Ở quán bán thịt chó về chiều, Lại về
với quán Bà Mau)
Bản thân những địa danh và địa điểm ấy có khi thực, cũng có khi chỉ là một tên gọi mơ hồ không xác định, nhưng tựu trung lại, đều là điểm tựa bắt nguồn thi hứng để nhà thơ thể hiện những xúc cảm, suy tư đang ẩn chứa trong lòng mình
Lấy ví dụ bài thơ Ở quán bán thịt chó về chiều gồm chín cặp thơ lục bát thì chỉ có hai cặp câu thơ đầu thực sự đề cập đến quán "Thịt chó chỉ bán về
chiều/ Chả thơm thơm cả xóm liều của tôi/ Khói thuốc là đường bên trời/ Rượu trong cất ở mắt người sang nhau" Rồi từ đó, nhà thơ chìm trong những
cảm xúc miên man về nhân tình thế thái, về tình yêu của mình Những câu thơ
Trang 26mang dáng dấp của những lời tự thuật đầy ngậm ngùi, chua xót: "Buồn thì nín
để quên đau/ Sướng thì kêu để người sau chết dần/ Sướng thì không được một lần/ Đau thì chẳng phải đau ngần ấy đâu/ Bạn bè chả có cho nhau/ Lầm than tới lúc bạc đầu mới hay/ Đời gần tới lúc chia tay/ Tỉnh ra mới thấy đời này rỗng không/ Chỉ tơ tưởng gái có chồng/ Tôi giờ giường vẫn nằm không một mình/ Sang giàu vẫn trọng vẫn khinh/ Vẫn coi áo rách bên tình là hoa" Rồi
bài thơ kết lại một cách ngậm ngùi bằng hình ảnh bà già ăn xin – một kiếp người khốn khó khác nữa Một cảm xúc buồn tha thiết lan tỏa khắp bài thơ và
cứ âm vang trong lòng người đọc
Ngậm ngùi thịt chó bánh đa Chiều nay lại thấy bà già ăn xin Hay một bài thơ khác được nhiều người cảm nhận và lý giải theo cách
riêng, dù ai cũng đều thừa nhận là một bài thơ hay Đó là bài thơ Vào chùa
Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một là bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm chi
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng bài thơ “treo lên trước cuộc đời cả
một câu hỏi lớn về tình thương đồng loại” và phê phán hành động của nhà sư
không sẻ chia cơm áo mà lại cho ăn mày “một lá bùa” rồi bỏ đi “sao mà dửng
dưng, sao mà chua chát thế” Nguyễn Trọng Tạo nhận định rằng triết lý “con ông sãi chùa lại quét lá đa” như “thấp thoáng hiện lên trong bài thơ như một bất lực, hay là một câu hỏi về tình đồng loại không dễ trả lời” chính là cái
tưng tửng “chết người” của Đồng Đức Bốn [116, tr.86]
Nguyễn Huy Thiệp gọi đây là một “bài thơ thiền” [123, tr.107] Bài thơ
mở ra một không gian huyền mặc với thời gian "giữa trưa" – có lẽ đây chính
là "giữa trưa của đời người", tức là con người bước vào độ tuổi trung niên,
Trang 27cùng độ tuổi với nhà thơ Con người ấy đã tìm được đến nơi huyền diệu, được ban tặng vật quí "lá bùa" nhưng vì không hiểu, không thể chiêm nghiệm hết cái lẽ vi diệu ấy đành ngậm ngùi tiếp tục hành trình tìm kiếm Cách cảm của Nguyễn Huy Thiệp tưng đối thuyết phục hơn cách cảm của Nguyễn Trọng Tạo Có lẽ, chính nhà thơ đã nhận ra điều này từ chính bản thân mình – cũng đang độ trung niên, quá nửa đời khát khao tìm kiếm những giá trị tốt đẹp, tìm kiếm sự bình yên cho tâm hồn – thế nhưng, dù đã dốc lòng nhưng xem ra vẫn còn xa vời lắm, có thể đã từng chạm đến nhưng vì không đủ tinh nhạy để nhận lấy, nắm giữ nên đành quày quả tiếp tục kiếm tìm Tuy cảm xúc huyền
ảo trong bài thơ khá rõ, tầm tư tưởng khá cao, kết hợp với những hình ảnh gần gũi với Phật giáo như:"chùa", "sư", "lá bùa"; nhưng xét về mặt tổng thể các sáng tác của nhà thơ Đồng Đức Bốn, thì đây chỉ là cá biệt Nếu đặt bài thơ
này cạnh các sáng tác của Bùi Giáng "Hỏi tên? Nằng bể xanh dâu/ Hỏi quê?
Rằng mộng ban đầu đã xa/ Hỏi tên rằng một, hai, ba/ Đếm là diệu tưởng, đo
là nghi tâm" hay Phạm Thiên Thư “Hạc xưa về khép cánh tà/ Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần" thì rõ ràng sáng tác của Đồng Đức Bốn tương đối dễ
cảm hơn
Những địa danh trong thơ ông là cột mốc đánh dấu hành trình – cả đời thực lẫn tâm linh của tác giả Đôi khi, mải miết với những suy tư của mình, ông cứ vẩn vơ, ngơ ngẩn giữa cuộc đời, để rồi quả quyết thẳng tiến Câu thơ
kết vô cùng bất ngờ gây ấn tượng mạnh mẽ "Xong rồi chả biết đi đâu/ Xích lô
Bà Triệu ra cầu Chương Dương" (Đi xích lô đường Bà Triệu)
Việc dùng địa danh, địa điểm để khơi gợi nguồn cảm hứng cho thơ, chỉ
có tác dụng hiệu quả khi tên gọi ấy đã khái quát, định hướng và khơi gợi được phần nào thông điệp mà tác giả gửi gắm trong bài thơ Tuy nhiên, có lẽ nhà thơ đã lạm dụng cách này hơi nhiều, vừa khiến tên bài thơ không gây ấn tượng cho người đọc, không hỗ trợ hiệu quả cho mạch thơ; mà còn làm thơ
Trang 28ông trở nên nhàm chán Trần Đăng Khoa nhận xét thơ Đồng Đức Bốn là "thơ
của một kẻ lãng du tài tử" [66, tr.107] Nguyễn Hòa mỉa mai cho rằng có lẽ
Đồng Đức Bốn đã khai sinh một thể loại thơ mới là "thi kí" [44, tr.87]
1.2.2 Hành trình gian khó ấy là nơi con người phải tự khẳng định giá trị của mình
Trong cuộc hành trình ấy, con người đã trải qua những giai đoạn, những
sự kiện khó khăn đau khổ Cũng như con sáo trong bài thơ Con sáo sang sông
cứ mải miết tìm nhưng cuối cùng cũng chỉ hoài công, chỉ còn cảm giác "tẽn tò" vang vọng mãi bằng biện pháp điệp kết hợp với hai từ chỉ phương hướng
"bên này" và "bên đó" Từ "lại" và đảo ngữ "cũng không có gì", "có gì cũng
không" nhấn mạnh sự thất bại liên tiếp của hành trình lặn lội ấy "Tẽn tò con sáo sang sông/ Bờ bên này tưởng cũng không có gì/ Tẽn tò con sáo bay đi/ Lại bên bờ ấy có gì cũng không!" Tất cả những cố gắng, những tâm huyết
của con người trong cuộc sống đôi khi không mang lại kết quả như ý, rốt cuộc
chỉ toàn những trái ngang và cay đắng mà thôi "Chín xu đổi lấy một hào/ Đi
mua cái nắng lại vào cái mưa/ Đường bùn tôi lội giữa trưa/ Đắng cay thì ngậm, xót chua thì cầm" (Chín xu đổi lấy một hào)
Thơ ca là một hình thức biểu hiện của tâm hồn, và là nhịp cầu để kết nối
những kẻ đồng điệu như Bùi Giáng đã từng viết "Xổ bầu tâm sự điêu linh/ Ai
người chia sẻ tâm tình với ta" Hầu như các nhà thơ, ai cũng từng có lúc cảm
thấy cô đơn "Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nặng nặng, nghe ta
buồn buồn" (Huy Cận), "Là khi tỉnh giấc trong đêm/ Một mình ta thấy ngồi bên: Nỗi buồn" (Nguyễn Trọng Tạo), Đồng Đức Bốn cũng vậy Nhiều lúc,
nhà thơ cảm thấy rất cô đơn, dường như chỉ có thiên nhiên là hiểu được lòng
mình "Hiểu tôi là ngọn núi cao/ Thương tôi có một ngôi sao cuối trời" (Tôi viết tặng tôi), "Tay tiên pha ấm trà tiên/ Ta mời ta giữa một miền cỏ non"
(Anh ngồi uống cả cánh đồng heo may),…
Trang 29Sự khổ đau, chua xót mà cuộc đời mang đến cho Đồng Đức Bốn tuy không thể làm ông gục ngã, nhưng đã gây những thương tổn sâu sắc trong tâm hồn thi nhân Tìm kiếm những điều tốt đẹp bên ngoài vô vọng, ông trở về tìm kiếm "bản ngã" trong tâm hồn mình Ông biết tự thương mình cứ gặp mãi những cảnh ngộ trớ trêu:
Thương mình lặn lội đường xa Vào rừng tìm mãi một hoa cải ngồng Thế rồi phải quay ra không
Tìm mình ở phía cánh đồng đang mưa
(Thương mình lặn lội đường xa) Trước những khó khăn, vất vả trong cuộc sống, mỗi người sẽ có những cách phản ứng khác nhau, bộc lộ rõ quan niệm về nhân sinh và tính cách của
mình Phạm Thiên Thư tiêu diêu thoát tục "Ta về rũ áo mây trôi/ Gối trăng
đánh giấc bên đồi dạ lan”, Bùi Giáng "điên" theo cách riêng "Ông vua kỳ vĩ thập thành/ Vì vui quá độ nên thành ra điên", Nguyễn Duy bình thản xác định
vị trí của bản thân giữa cuộc đời "Cứ chìm nổi giữa đám đông/ Riêng ta xác
định ta không là gì" và Đồng Đức Bốn thì chọn cách đối mặt với những thử
thách ấy, xem đó như cách tự khẳng định giá trị của bản thân mình Khi đã trải qua quá nhiều vinh nhục, buồn vui của cuộc đời, con người trong thơ Đồng Đức Bốn dường như càng trở nên mạnh mẽ hơn, càng khát khao khẳng định bản thân hơn Khát khao ấy được khẳng định bằng thái độ ngang tàng,
thách thức trước cuộc sống "Bàn chân đã xéo lên chông/ Máu chảy không sợ
thì không sợ gì" (Đường đi), "Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm" (Chiều
nay Hồ Tây có giông), "Vì người ta đã dìm thuyền/ Thì tôi phải biết vượt lên
cả bờ"(Tưởng),… đúng như Đỗ Minh Tuấn từng nhận xét thơ Đồng Đức Bốn
"là sự định nghĩa lại quyền lực con người trong thế giới của những công cụ
rạn vỡ, đổ nát" [137, tr.585]
Trang 30Ngoài ra, con người trong thơ Đồng Đức Bốn rất tự tin vào khả năng của mình Ông xem tài thơ là một khả năng "trời cho", giúp ông khẳng định được
cái tôi mạnh mẽ của mình "Tôi đi mua cái tự do/ Bằng câu thơ của trời cho
riêng mình" (Chín xu đổi lấy một hào) Các nhà thơ thường tự hào về tài năng
của mình, nhưng ít ai nói thẳng điều đó trong tác phẩm của mình Ngày xưa,
đại thi hào Nguyễn Du cũng chỉ khiêm tốn nhận là "Lời quê góp nhặt dông
dài/ Mua vui cũng được một vài trống canh", Hồ Xuân Hương vì "chướng
mắt" với bọn thư sinh viết thơ bừa bãi ảnh hưởng mĩ quan nhà chùa nên mới
gọi "Lại đây chị dạy cho làm thơ"; ngày nay Nguyễn Duy thì "hiện đại" và tếu táo "Câu thơ sáu nổi tám chìm/ Đụng thời xa lộ thông tin kẹt đường/ Vương
thì tội, bỏ thì thương/ Đành lê thê nốt đoạn trường mộng du/ Cứ bèo bọt bước thiên di/ Đưa chân lục bát mà đi loằng ngoằng", Nguyễn Bảo Sinh còn xếp
ngang "làm thơ" với "nuôi chó", "chọi gà" là "trò chơi" mà bảo rằng "Ba trò
chơi ấy làm ta bơ phờ",… Có lẽ, chỉ có Đồng Đức Bốn là người duy nhất tự
hào về thơ mình và nhắc đi nhắc lại điều đó trong thơ mình mà không chút ái
ngại Nguyễn Du tự hỏi "Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp
Tố Như" còn Đồng Đức Bốn kiêu hãnh đến mức tự tin "Viết câu thơ để sống ngàn năm sau"
Qua những tác phẩm của mình, Đồng Đức Bốn mong muốn độc giả hiểu
được mình – "kẻ khóc cái cay cực của kiếp người bằng chính cuộc dấn thân
lăn lóc của mình", và đằng sau tất cả những khổ đau, chua xót ấy là "tấm lòng thanh thản và nỗi an nhiên tự tại của con người biết chấp nhận và vượt lên số phận" [95, tr.691] Qủa thực, khi đọc thơ ông, ta cảm nhận được những xúc
cảm mãnh liệt của ông qua từng câu thơ, với những khổ đau trong cuộc đời Bằng cách vượt lên số phận, khẳng định bản thân mình, ông đã thể hiện được một cái tôi mạnh mẽ, ngang tàng rất riêng Và sau những gian lao đó, ông
bình thản đón nhận tất cả "Tôi giờ về với trăng sao/ Xin trời một trận mưa rào
Trang 31đón tôi"
1.2 Suy cảm về đồng quê
Sinh trưởng từ chốn làng quê, Đồng Đức Bốn luôn có một sự gắn bó mật thiết với những gì thuộc về nơi ấy Hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống con người
và tình người nơi đồng quê ghi dấu rõ nét trong thơ ông nên có nhiều người
gọi ông là "thi sỹ của đồng quê" và so sánh ông với nhà thơ Nguyễn Bính Sự
chen chân vào mảng thơ lục bát, nhất là mảng sáng tác từ cảm hứng yêu thương và trân trọng đồng quê Việt Nam, có thể xem là một hướng đi liều lĩnh của Đồng Đức Bốn Bởi lẽ, nơi đây đã ghi lại nhiều dấu ấn của các bậc thi nhân đi trước, nhất là “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính
1.2.1 Đồng quê mộc mạc là nơi gắn bó sâu sắc
Đồng quê là nơi Đồng Đức Bốn sinh ra và lớn lên, là nơi chứng kiến
những tháng ngày tuổi thơ hồn nhiên "chăn trâu đốt lửa", nơi chứng kiến mối
tình quê thắm thiết, là nơi mà mẹ cha ông cả đời gắn bó Có lẽ vì thế mà ông nhắc đến quê rất nhiều trong thơ mình: cảnh quê, người quê và tình quê với cách nhìn của người nhà quê
Đồng quê trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn là một đồng quê mộc mạc,
êm đềm với những kỷ niệm khó phai và gắn liền với những gì thân yêu, gắn
bó nhất của con người
Trẻ con nông thôn luôn biến việc chăn trâu phụ giúp gia đình thành những giờ phút vui chơi bên bè bạn đồng trang lứa Vào những ngày sau vụ gặt, rơm chất đầy đồng, gió thổi lồng lộng thì còn gì thú vị hơn là nhóm một
đống rơm, vùi vội vào đấy vài củ khoai rồi cùng nhau thả diều – "Chăn trâu
đốt lửa trên đồng/ Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều" Trẻ thơ mải chơi đôi khi
quên mất củ khoai đang nướng đã cháy thành tro tự lúc nào: "Mải mê đuổi
một con diều/ Củ khoai nướng để cả chiều thành tro" (Chăn trâu đốt lửa)
Trang 32Đồng quê cũng là nơi chứng nhân cho những cuộc tình ngây thơ từ lúc
bên nhau "Tiếng chim thành chiếc võng đào/ Bâng khuâng tôi mắc bên rào
đợi em" (Ngõ quê) cho đến khi tan vỡ "Cái đêm em ở với chồng/ Để tôi hóa
đá bên sông đợi chờ" (Cái đêm em ở với chồng) Nỗi đau tình yêu tan vỡ còn
nặng mãi trong lòng người không thể nào quên "Xa em từ bấy đến giờ/ Bàn
tay vẫn héo như cờ chịu tang" (Sông Thương ngày không em)
Đồng quê là nơi có mộ cha mà mỗi khi giông bão lòng con lại hốt hoảng
lo "mộ cha liệu có lên trời được không" Đồng quê cũng là nơi có mẹ già kính yêu sớm hôm tần tảo "Mẹ mua lông vịt chè chai/ Đường trưa mưa nắng đôi
vai lại gầy" Dù có đi đâu về đâu, làm sao ta có thể quên được quê nhà, nơi
những người thân yêu nhất của mình đang ở?
Những người lớn lên ở đồng quê không thể nào quên được hình ảnh thân thương của quê nhà Hình ảnh thân thuộc của đồng quê xuất hiệ nhiều trong thơ Đồng Đức Bốn như tiếng chim hót, tiếng cuốc kêu, hoa dong riềng, cây
bồ kết, hoa cải ngồng,… Cũng viết về đồng quê, nhưng hình ảnh đồng quê trong thơ lục bát Nguyễn Bính mơ mộng hơn, thi vị hơn với cánh bướm, giậu mồng tơi, cành dâu xanh, vườn trầu, hàng cau, Có thể nói, nếu như Nguyễn
Bính là "một nhà thơ tiểu tư sản thích viết về nông thôn theo cảm xúc và suy
nghĩ riêng của mình" [33, tr.316] thì Đồng Đức Bốn là đứa con của đồng quê,
sinh ra và lớn lên ở đồng quê, nhìn đồng đồng quê với con mắt của một người lao động bình dân Đồng quê trong thơ Nguyễn Bính đậm nét truyền thống và
giàu chất thi vị với những nét chấm phá độc đáo“…Thôn Vân có biếc có
hồng/ Biếc trong nắng sớm, hồng trong vườn chiều/ Đê cao có đất thả diều/ Giời cao lắm lắm có nhiều chim bay/ Quả làng nặng trĩu từng cây/ Sen đầy
ao cá, cá đầy ao sen…” Đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn ít thi vị hơn, gai
góc hơn và buồn hơn với "Nhà bạn cũng giống nhà tôi/ Mái gianh vách đất
nhìn trời qua vung/ Đêm nằm sao dột tứ tung/ Tưởng đâu nước mắt người
Trang 33dưng lại về" hay cảnh lao động làm việc đầy vất vả "Nhà quê chân lấm tay bùn/ Mẹ đi cấy lúa rét run thân già", cảnh vỡ đê kinh hoàng "Ối mẹ ôi đê vỡ rồi/ Mộ cha liệu có lên trời được không?",… Trong thơ Nguyễn Duy cũng có
cảnh người dân phải vật lộn cùng "lụt trắng đồng", nhưng nỗi xót xa Nguyễn Duy khắc họa là nỗi xót xa của người con xa quê thương cho quê mình "Quê
ta lại tỏng tòng tong mùa màng/ Làng ta lại lóp ngóp làng/ Làng ta lại ếch nhái hoang cả lòng" (Dân ơi) Đồng Đức Bốn như đã trực tiếp hòa mình vào
nỗi đau đó, trực tiếp đối mặt với giông bão và với những nỗi lo "Mộ cha liệu
có lên trời được không?" và ước mơ rất thực "Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng/ Chở con với mẹ qua giông bão này?"
Hình ảnh chợ làng gần gũi, nơi mà những người nhà quê mang những gì
"cây nhà lá vườn", của nhà nuôi được ra bán buôn kiếm thêm tiền trang trải
cuộc sống hiện ra thật bình dị qua từng câu thơ của Đồng Đức Bốn: "Chợ
làng mở dưới gốc đa/ Nhà quê đem mấy con gà bán chơi", thậm chí cả cảnh
say sưa gây nhau của những ông thợ cày cũng được đưa vào thơ một cách thật
tự nhiên, sống động: "Ngả nghiêng mấy lão thợ cày / Rượu say vác cả cối
Hình ảnh quen thuộc giếng đình, kết hợp với ẩn dụ trúc xinh lấy từ ca
dao "Trúc xinh trúc mọc bờ đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh" vừa
làm câu thơ mang âm hưởng của ca dao, vừa gợi nên một hình ảnh đẹp mộc mạc của cô gái quê đương thì Chính vẻ đẹp đó đã làm các "trai tơ" trong làng
ngày ngày chưng diện "quần bò mũ cối" để mà "giả vờ sang chơi" Bài thơ vẽ
nên một khung cảnh đồng quê với những chuyện tình bắt đầu bằng những cái giả vờ hết sức đáng yêu Trong ca dao cũng từng có những chàng trai "giả vờ"
ngó lơ như thế "Thò tay bứt một cọng ngò/ Thương em đứt ruột giả đò ngó
lơ" Nguyễn Bính cũng từng viết "Cái ngày cô chưa lấy chồng/ Đường gần tôi
cứ đi vòng cho xa/ Lối này lắm bưởi nhiều hoa" vì "Đi vòng để được qua nhà
Trang 34đấy thôi" (Qua nhà) Cách thể hiện tình cảm của con người nơi chốn đồng quê
nó đơn sơ nhưng ý nhị vô cùng - "Thấy anh như thấy mặt trời/ Chói chang
khó ngó, trao lời khó trao" (ca dao) là thế
Nếu như đồng quê trong thơ Đồng Đức Bốn là một đồng quê đang có sự biến đổi từ quê ra phố, thì phố trong thơ ông vẫn thấp thoáng hình ảnh của
làng quê "Người thì áo rách đã lâu / Người thì xe cúp đua nhau từng hàng ",
"Cây thì vẫn đứng thế thôi/ Người thì bán đứng bán ngồi chen nhau", "Lề
đường bên những chiếc lều / Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày",… Có thể do
ông quá gắn bó với quê, nên dù chen chân nơi phố thị, lòng vẫn hướng về
quê, thấy bơ vơ giữa nơi đô thị náo nhiệt "Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi?"
1.2.2 Đồng quê là là chỗ dựa bình yên của tâm hồn
Đồng quê là chỗ tựa nương, là nơi hồn thi nhân tìm đến khi mệt mỏi và cay đắng trước sự tàn khốc của cuộc đời Đồng Đức Bốn trân trọng xiết bao đồng quê thân thương và gần gũi Đối với ông, đồng quê tuy quê mùa, “nhà quê” nhưng vẫn hơn lắm thứ “bùa mê” quyến rũ
Bao nhiêu là thứ bùa mê Cũng không bằng được nhà quê của mình
(Gửi Tân Cương) Dẫu biết rằng nơi chốn thôn quê vẫn còn nhiều điều cần thay đổi, khắc
phục và phát triển, thế nhưng, ông bà ta vẫn nói “Thương nhau củ ấu cũng
tròn”, hay “Yêu nhau đắp điếm mọi bề/ Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”,
nhà thơ vẫn luôn nhung nhớ đồng quê của mình:
Từ trong méo nắn lệch kê Tôi ngồi thương nhớ đồng quê một mình
(Nhà quê)
Bùi Giáng cũng nhớ quê, nhưng vì "vui quá độ" nên "Bây giờ tôi đã
quên xưa/ Sài Gòn cám dỗ tôi chưa chịu về" Đồng Đức Bốn tuy cũng đi
Trang 35nhiều nơi vì công việc, nhưng ta không tìm thấy bài thơ nào ông thể hiện niềm vui ngao du Đi với ông là một sự bắt buộc của hành trình đời người để tìm kiếm những điều tốt đẹp, đặc biệt là trong tình yêu
Nhà thơ yêu mến làng quê và chấp nhận sự thay đổi của làng quê như một sự tất yếu của cuộc sống Bên cạnh giếng đình, trúc xinh, con đò, cánh diều,… quen thuộc thì làng quê đã có nhiều biến đổi Những chàng trai đã
chưng diện "quần bò, mũ cối" để sang chơi nhà những người con gái mà mình
có cảm tình Ông xem đó là một sự bình thường, không quyết liệt muốn níu giữ cái "hồn quê truyền thống" như Nguyễn Bính ngày xưa khi ngỡ ngàng
trước sự đổi thay của cô thôn nữ : "Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u
mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều"
Chốn đồng quê ấy, với những người thân yêu, với kí ức tuổi thơ, với thiên nhiên gần gũi, là chỗ dựa tinh thần cho Đồng Đức Bốn trước những khó khăn, thử thách của cuộc sống:
Cũng nhờ mái rạ, mái rơm
Mà tôi vượt khỏi ngàn cơn bão lòng
(Đứng trong cơn bão mà trông)
Ông từng viết "Trở về với mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ"
thể hiện nỗi lo sợ mồ côi sau khi chết Trở về với mẹ, ở đây, cũng đồng nghĩa
là trở về với quê hương
Khi viết về đồng quê và những câu chuyện về cuộc sống đồng quê, nhà thơ thường dùng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ nhất, cất lên tiếng lòng của người trong suốt đời gắn bó với thôn quê, dù thành danh nơi phố thị nhưng chưa bao giờ quên nơi chôn nhau cắt rốn của mình Trong các bài thơ lục bát của ông, ta thấy những bài thơ có nhắc đến các địa điểm ở thành thị cũng nhiều (Huế, Hà Nội), đặc biệt là tên những con phố, con đường và những cái
Trang 36chợ xuất hiện nhiều trong tiêu đề nhiều bài thơ (Phố Bà Quẹo, Ngõ Cấm chỉ,
Buổi sáng ở Đường Lê Thánh Tông,…) tuy nhiên, cuộc sống và hoạt động của
con người ở những nơi này không được thể hiện rõ trong thơ, mà dường như, nhà thơ chỉ dùng những địa điểm này để làm bối cảnh cho bài thơ, từ đó đi sâu vào nội tâm của mình Đôi lúc, ông còn nhìn phố với con mắt của một
người nhà quê khi thấy rằng nơi đây vẫn có chút gì gần gũi với quê nhà "Cây
thì vẫn đứng thế thôi/ Người thì bán đứng bán ngồi chen nhau", "Lề đường bên những chiếc lều / Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày",…
Ca dao có câu "Anh đi anh nhớ quê nhà/ Nhớ canh rau muống, nhớ cà
dầm tương/ Nhớ ai dãi nắng dầm sương/ Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao" để nói lên sự gắn bó, nhớ thương của người quê khi xa quê Nguyễn Huy
Thiệp gọi Đồng Đức Bốn là kẻ "nửa quê nửa tỉnh" [7, tr.12] có lẽ vì dù đã bon chen nơi chốn đô thành khá lâu nhưng nhà thơ vẫn giữ được cái nếp, cái tình, cái hồn của người nhà quê, vẫn xem quê hương là nơi gắn bó máu thịt, là chỗ tựa nương tinh thần của con người mỗi khi chơi vơi Qua thơ Đồng Đức Bốn, đồng quê Việt Nam hiện lên mộc mạc như chính nó vẫn vậy, với những con người thuần hậu vất vả đang từng bước thích nghi với nhịp độ phát triển mới của xã hội hiện đại
1.3 Suy cảm về tình cảm của con người
Là một tâm hồn nhạy cảm, Đồng Đức Bốn luôn đau đáu và khát khao yêu thương Tình cảm trong thơ ông thật dạt dào Đó là tình mẫu tử thiêng
liêng, tình yêu tha thiết và tình bạn chân thành Vì “tình cảm trong thơ là tình
cảm được ý thức, được siêu thăng, được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ, gắn liền với khoái cảm của sự tự ý thức về mình và về đời” [111, tr.164], nên qua
cách ông thể hiện tình cảm đó, ta có thể hiểu thêm được về ông, và thế giới nội tâm của ông
Trang 371.3.1 Suy cảm về tình cảm gia đình
Tình cảm gia đình là một tình cảm thiêng liêng, nhất là tình mẫu tử, tình phụ tử Đồng Đức Bốn lớn lên trong một gia đình lao động nghèo, tuổi thơ ông trải qua trong vất vả Ông lúc nào cũng yêu thương và biết ơn cha mẹ mình Những bài thơ viết về cha mẹ của ông tuy không nhiều nhưng hầu hết những bài thơ ấy đều có chất lượng tốt, đặc biệt là những bài thơ viết về mẹ của ông
1.3.1.1 Lòng biết ơn đối với sự hy sinh khó nhọc của cha mẹ
Cũng như các nhà thơ khác, khi viết về tình cảm gia đình, Đồng Đức Bốn tập trung thể hiện tình mẫu tử Bên cạnh những nhà thơ đương đại viết
những bài thơ lục bát rất hay về mẹ như Huy Cận với Mẹ ơi, đời mẹ, Nguyễn Duy với Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Trúc Thông với Bờ sông vẫn gió, Hữu Thỉnh với Trông ra bờ ruộng, thì Đồng Đức Bốn với chùm thơ Trở về với mẹ
ta thôi và bài thơ Mẹ hát con chẳng khen hay cũng tạo được những ấn tượng
sâu sắc trong lòng người yêu thơ Nhà thơ đã thành công trong việc khắc họa hình tượng một người mẹ tảo tần thương con, là chỗ dựa bình yên cho đời con, là nơi khơi nguồn và gìn giữ những giá trị quí báu ngàn đời cha ông truyền lại
Khi viết về mẹ, các nhà thơ khác thường thể hiện sự hoài niệm dành cho người mẹ đã khuất của mình Nguyễn Duy thì "bần thần" mở đầu bài thơ với
một không gian khói hương đầy trầm mặc "Bần thần hương huệ thơm đêm/
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn/ Chân nhang lấm láp tro tàn/ Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào…", Trúc Thông thì đưa ngay lời đề từ "chị em con kính dâng hương hồn mẹ" và khát khao "Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần… rồi mẹ hãy dần dần đi…", Hữu Thỉnh thì bùi ngùi "Trông ra bờ ruộng năm nào…" Đồng Đức Bốn viết về mẹ mình khi bà vẫn còn sống, ông
Trang 38biết ơn sự hy sinh thầm lặng dưỡng dục con khôn lớn thành tài của mẹ mình qua từng câu thơ
Mỗi nhà thơ đều có cách thể hiện riêng về sự vất vả của người mẹ của
mình, như Huy Cận “Quanh năm có nghỉ ngày nào! Sớm khuya làm lụng
người hao mặt gầy/ Rét Đông đi cấy đi cày/ Nóng Hè bãi cát, đường lầy đội khoai/ Bấu chân khỏi ngã dốc nhoài/ Những chiều gánh nước gặp trời đổ mưa", Nguyễn Duy "Mẹ ta không có yếm đào/ Nón mê thay nón quay thao đội đầu/ Rối ren tay bí tay bầu/ Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa", và
Đồng Đức Bốn thì "mẹ đi cấy lúa rét run thân già", "Mẹ mua lông vịt chè
chai/ Trời mưa trưa nắng đôi vai lại gầy Thương sao "lời rao chìm giữa gió sương", khiến cho "con nghe cách mấy thôi đường còn đau"! Tuy cách thể
hiện và hình ảnh có khác nhau ít nhiều, nhưng nhìn chung vẫn giống nhau ở giọng thơ đầy kính yêu và thương mến cho sự vất vả của mẹ Đồng Đức Bốn tiến thêm một bước, ông nâng cấp nỗi xót xa trước sự gian lao của mẹ thành
nỗi đau của người con khi "nghe" được tiếng rao "cách mấy thôi đường" của
mẹ mình Càng cảm nhận được sự vất vả của mẹ, ông càng xót xa khi thấy mẹ mình còn vất vả
Chùm thơ Trở về với mẹ ta thôi lấy cảm hứng muốn quay về bên mẹ dấu
yêu, nhưng mỗi bài thơ là một ý tưởng độc đáo khác nhau Tứ thơ trong thơ
Đồng Đức Bốn thường dồn vào những cặp câu 6 – 8 ở cuối bài thơ "Mẹ ra bới
gió chân cầu/ Tìm ra câu hát từ lâu dập vùi" (Bài I), "Cầm lòng bán cái vàng đi/ Để mua những cái nhiều khi không vàng" (Bài II), "Lời rao chìm giữa gió sương/ Con nghe cách mấy thoi đường còn đau" (Bài III), "Mẹ hát con chẳng khen hay/ Bởi bao nhiêu gió đã bay về trời" (Bài IV), "Mẹ nằm như lúc còn thơ/ Mà con trước mẹ già nua thế này" (Bài V), "Trở về với mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ" (Bài VI) Những dòng cảm xúc miên man về mẹ
Trang 39tưởng như cứ tuôn trào mãi bỗng dưng kết thúc bằng một ý tưởng bất ngờ, không ai đoán trước được
Bên cạnh những bài thơ về mẹ, những bài thơ về cha của Đồng Đức Bốn tuy có số lượng khiêm tốn hơn nữa, nhưng cũng chứa chan tình yêu thương và kính trọng dành cho người cha một đời vất vả của mình Qua cách nhìn đầy tình cảm của người con, người cha trong thơ Đồng Đức Bốn tuy làm những
công việc đồng áng bình dị mà sao vẫn thấy lớn lao, kì lạ: "Có bao nhiêu
những say sưa/ Bố tôi bắt gẫy nắng mưa trưa chiều/ Lạ chưa chỉ một tay chiêu/ Mà đập vỡ mặt trời chiều tháng ba"(Bố tôi)
Khi viết về cha mẹ mình, nhà thơ đã sử dụng những hình ảnh kỳ vĩ để
diễn tả những công việc giản dị thường ngày của cha mẹ "Mẹ ra bới gió chân
cầu/ Tìm câu hát đã từ lâu dập vùi", "Câu ca mẹ hát như đùa/ Mà làm nước mặn đồng chua đổi đời" Qua đó, nhà thơ thể hiện lòng kính yêu và biết ơn
của một người con dành cho cha mẹ mình Tuy cha mẹ ông chỉ là những người lao động chân chất, nhưng qua cái nhìn đầy trân trọng của người con, cha mẹ ông đã làm nên những điều thật kỳ diệu để nuôi lớn thể xác và tâm hồn nhà thơ Các nhà thơ khác khi viết về cha mẹ, thường dùng những hình ảnh đẹp, gợi lên sự vất vả và tấm lòng cao cả của cha mẹ một cách thiết tha, nhẹ nhàng như Thúy Ngoan xem những công việc lao động hằng ngày của cha mẹ mình cất giấu biết bao tâm sự nhọc nhằn của những kiếp người vất vả
"Cha ngồi chẻ lạt bên thềm/ Chẻ đôi cả những muộn phiền đầy vơi/ Mẹ đi nhổ
mạ tháng Mười/ Lạt mềm trói mấy kiếp người vào nhau", hay Nguyễn Duy
với những hình ảnh bình dị thân thương của một người mẹ nghèo đầu tắt mặt
tối "Mẹ ta không có yếm đào/ Nón mê thay nón quai thao đội đầu/ Rối ren tay
bí tay bầu/ Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa" Dường như chỉ có nhà
thơ họ Đồng là có cách "kỳ vĩ hóa" cha mẹ mình như thế Ca dao có câu
"Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra" đề
Trang 40cao công ơn của cha mẹ, còn Đồng Đức Bốn với tất cả lòng kính yêu của mình, đã nâng những việc làm của cha mẹ mình trở nên vô cùng kỳ diệu.
1.3.1.2 Mẹ là chỗ dựa thiêng liêng của đời con
Mẹ không chỉ là người sinh con ra, cho con vòng tay yêu thương, cho con miếng ăn manh áo mà mẹ còn quan trọng hơn thế nữa – mẹ đã nuôi lớn tâm hồn con Sự nuôi dưỡng và kiến tạo tâm hồn ấy thể hiện trước nhất qua những câu hát ru của mẹ Lời ru tiếng hát của mẹ là một hình ảnh quen thuộc
trong những bài thơ viết về mẹ “Mẹ ru cái lẽ ở đời/ Sữa nuôi phần xác hát
nuôi phần hồn/ Bà ru mẹ/ Mẹ ru con/ Liệu mai sau các con còn nhớ chăng?
” (Nguyễn Duy) Người mẹ của Đồng Đức Bốn cũng hát ru con bằng những
"câu hát đã từ lâu dập vùi" và khác với tục ngữ "mẹ hát con khen hay", người
con – nhân vật "tôi" ở đây đã thấu hiểu được những nỗi niềm vất vả của mẹ
giấu sau câu hát nên "Mẹ hát con chẳng khen hay/ Bởi bao nhiêu gió đã bay
về trời" Câu bát gợi ta liên tưởng tới câu ca dao "Gió đưa cây cải về trời/ Rau răm ở lại chịu đời đắng cay" Hiểu được bài ca dao trên, ta sẽ hiểu được tại
sao ông lại "kỳ lạ" như vậy
Các nhà thơ sáng tác theo thơ thể lục bát khi viết về mẹ thường có điểm chung là mượn hình ảnh, ý tứ nào đó của ca dao, thành ngữ để đưa vào thơ của mình làm tăng thêm sự liên tưởng cho câu thơ và khiến bài thơ mang âm
hưởng dân gian Điều này cũng có trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn "Mẹ
hát con chẳng khen hay/ Bởi bao nhiêu gió đã bay về trời?", "Đưa mẹ lần cuối qua làng/ Ba hồn bảy vía con mang vào mồ", Thường thì các nhà thơ
chỉ sử dụng ý và hình ảnh của ca dao, sử dụng trọn vẹn thành ngữ hoặc tách
ra, hiếm có trường hợp như nhà thơ Nguyễn Duy có thể đưa vào cả bài ca dao
"Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa/ Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương" mà vẫn
rất hòa hợp với toàn bài thơ