1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các kiểu câu tỉnh lược trong thơ lục bát việt nam (trên tư liệu thơ mới 1932 1945)

58 1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các kiểu câu tỉnh lược trong thơ lục bát Việt Nam (trên tư liệu thơ mới 1932 - 1945)
Tác giả Diệp Quang Ban, Nguyễn Kim Thản, Cao Xuân Hạo, Hoàng Trọng Phiến, Trần Ngọc Thêm, Phan Mậu Cảnh, Phạm Văn Tình
Người hướng dẫn PTS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 318,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu "Các kiểu câu tỉnh lợc trong thơ lục bát Việt Nam" có thể giúp ta hiểu thêm về môt kiểu câu xuất hiện trong một loại hình giao tiếp đặc thù và mang đậm đặc trng văn hóa d

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khoá luận này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn nhận đợc sự hớng dẫn giúp đỡ tận tình của thầy giáo Phan Mậu Cảnh Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, tổ Ngôn ngữ, cùng toàn thể bạn bè, gia đình, ngời thân đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khoá luận

Lần đầu tiên làm quen, triển khai một đề tài khoa học nên bản thân không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Rất mong nhận đợc sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc

Tác giả

Dơng Thị Thu Vân

Trang 2

1.3 Trong văn bản phi nghệ thuật hiện tợng tỉnh lợc đợc sử dụngnhằm tránh lặp lại, tạo cho văn bản một sự ngắn gọn, cô đúc, chặt chẽ… còn còntrong văn bản nghệ thuật, ngoài những tác dụng đó, tỉnh lợc còn đợc xem nh

là một cách thức biểu thị nội dung, ý nghĩa biểu cảm, cảm xúc của chính tácgiả

1.4 Việc nghiên cứu "Các kiểu câu tỉnh lợc trong thơ lục bát Việt Nam" có thể giúp ta hiểu thêm về môt kiểu câu xuất hiện trong một loại

hình giao tiếp đặc thù và mang đậm đặc trng văn hóa dân tộc: Thơ lục bátViệt Nam

bỏ Tuy nhiên, việc xem xét và lý giải cụ thể thì có nhiều hớng khác nhau Cóthể quy về hai hớng sau:

a Câu tỉnh lợc thuộc câu song phần

Trang 3

Nguyễn Kim Thản cho rằng: "Câu tỉnh lợc là một loại câu mà ngời ta

có thể dựa vào hoàn cảnh mà khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của nó"[11;231] Câu tỉnh lợc đợc xếp vào câu song phần

Các tác giả khác sau này cũng có quan niệm tơng tự Hoàng TrọngPhiến quan niệm: Về mặt ý nghĩa thì câu có chủ ngữ rút gọn tơng ứng với câu

có chủ ngữ hiện diện [9; 15] Các tác giả "Giáo trình ngữ pháp Tiếng Việt"

nói rõ thêm: "Câu rút gọn không phải là một loại câu riêng biệt mà chỉ là dạng thức khác (dạng thức rút gon) của loại câu có chủ ngữ và vị ngữ" [4;

204]

b Câu tỉnh lợc thuộc câu riêng

Cao Xuân Hạo xem xét câu theo quan điểm của ngữ pháp chức năng

Ông coi cấu trúc câu chính là cấu trúc thông báo với hai thành phần chính là

Đề và Thuyết Ngời ta chỉ có thể loại bỏ lâm thời Đề nhờ và ngữ cảnh, có tácdụng bảo toàn sự mạch lạc của câu Câu bỏ trống phần đề (lợc) là một loạicâu riêng

Diệp Quang Ban quan niệm: "Câu tỉnh lợc là những biến thể dới bậc của câu, gọi tắt là câu dới bậc" Ông gọi câu tỉnh lợc là loại "Câu có tính vị ngữ tự thân (hay là câu đơn hai thành phần vắng chủ ngữ)" [1; 196]

Trần Ngọc Thêm xem tất cả những câu không hoàn chỉnh về cấu trúc

là ngữ trực thuộc Ông phân chia tỉnh lợc thành hai cấp độ: Tỉnh lợc yếu (chỉtỉnh lợc thành phần phụ của câu nh: bổ ngữ, định ngữ… còn) và tỉnh lợc mạnh(tỉnh lợc một hoặc hai thành phần nòng cốt của câu theo quan điểm nòng cốtcủa câu là cấu trúc chủ - vị) Cùng chung quan điểm này tác giả Phạm VănTình cho rằng hiện tợng tỉnh lợc là ngữ trực thuộc tỉnh lợc trong văn bản liênkết Ông chia tỉnh lợc ra ba tiểu loại ngữ trực thuộc:

Trang 4

2.2 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩmvăn học từ nhiều góc độ khác nhau, trong đó có hiện tợng tỉnh lợc Chẳnghạn, trong luận văn thạc sĩ "Các kiểu tỉnh lợc trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan", tác giả Trần Bích Hải đã tìm hiểu tỉnh lợc câu văn trong truyệnngắn Đây cũng là những t liệu quý, phần nào giúp chúng tôi thuận lợi trongviệc tìm hiểu tỉnh lợc trong thơ lục bát.

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Thể thơ lục bát là một thể loại thơ truyền thống trong kho tàng văn họcViệt Nam Và từ văn học dân gian đến văn học Trung đại (với "Truyện Kiều"nổi tiếng) rồi tiếp đến văn học hiện đại thể thơ này vẫn đợc sử dụng phổbiến Trong giới hạn một khoá luận tốt nghiệp, chúng tôi tìm hiểu một vấn đề

cụ thể là: "Các kiểu câu tỉnh lợc trong thơ lục bát Việt Nam", t liệu để khảo

sát là Thơ mới giai đoạn 1932 - 1945 Cụ thể là khóa luận thống kê các kiểutỉnh lợc đợc 14/ 18 tác giả thuộc phong trào Thơ mới sử dụng qua 109 bài thơsau:

Thế Lữ 7 bài, Lu Trọng L 5 bài, Hàn Mặc Tử 2 bài, Trần Huyền Trân

15 bài, Bích Khê 7 bài, Nguyễn Bính 27 bài, Vũ Hoàng Chơng 3 bài, XuânDiệu 7 bài, Phạm Huy Thông 2 bài, Hồ Zếnh 16 bài, Huy Cận 8 bài, Đinh

Hùng 1 bài, Tế Hanh 6 bài, Đoàn Văn Cừ 3 bài

Trang 5

4.2 Phơng pháp phân tích tổng hợp

Trên cơ sở thống kê, phân loại chúng tôi phân tích từng kiểu tỉnh lợc

mà các tác giả đã sử dụng theo những cách thức khác nhau Từ đó chúng tôi

sẽ khái quát đặc điểm và giá trị của hiện tợng tỉnh lợc

4.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu

Phơng pháp này đợc chúng tôi sử dụng nhằm để so sánh đối chiếu giữacác kiểu câu tỉnh lợc với nhau

5 Cái mới của khoá luận

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu tìm hiểu một cách tơng đối đầy đủkiểu câu tỉnh lợc trong thơ lục bát trên t liệu Thơ mới Việt Nam (1932 -1945) từ đó tìm ra những đặc điểm nổi bật về mặt cấu tạo, cách tổ chức câuthơ tỉnh lợc cũng nh những giá trị mà tỉnh lợc mang lại

6 Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận đợc triển khai theo hai

ch-ơng:

Chơng 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài

Chơng 2: Các kiểu câu tỉnh lợc trong thơ lục bát Việt Nam (trên t liệuThơ mới 1932 - 1945)

Trang 6

Nội dung

Chơng 1: Những khái niệm liên quan đến đề tài

1.1 Khái niệm câu và câu tỉnh lợc

1.1.1 Quan niệm về câu

a Định nghĩa

Câu là một trong những đơn vị ngôn ngữ có nhiều định nghĩa Cónhiều hớng định nghĩa câu

- Hớng định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa

Định nghĩa câu theo tiêu chí về mặt ý nghĩa từ lâu đã đợc các nhà ngôn

ngữ học quan tâm "Câu là một âm phức có ý nghĩa độc lập mà nửa bộ phận trong đó cũng có ý nghĩa độc lập" (Aristote), "Câu là tập hợp các từ biểu thị một t tởng trọn vẹn" (học phái A.lechxanđri) [4;11]

ở nớc ta, thời kỳ đầu của ngữ pháp tiếng Việt, các nhà nghiên cứukhông vợt qua phạm vi này

Tác giả Trần Trọng Kim viết: "Câu lập thành do một mệnh đề có ý nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề" còn tác giả Nguyễn Lân thì cho rằng "Nhiều từ hợp lại mà biểu thị một ý dứt khoát về động tác,tình hình hoặc tính chất thì gọi là một câu" [7; 19]

Nh vậy hớng định nghĩa này đã quan tâm đến mặt nội dung ý nghĩacủa câu nhng lại bỏ qua mặt hình thức biểu thị của câu

- Hớng định nghĩa câu theo quan điểm ngữ pháp duy lý

Các nhà ngữ pháp duy lý nghiên cứu câu gắn liền với phán đoán (đại

biểu là Con đi lắc) ông cho rằng: "Mọi lời nói của mình là một phán đoán hay một chuỗi phán đoán, mà phán đoán đợc diễn đạt bằng các từ mà ta gọi

là một mệnh đề Vậy lời nói là một mệnh đề hay chuối mệnh đề"

Quan điểm này chỉ với nhận diện câu về mặt lôgíc

- Hớng định nghĩa câu dựa vào hoạt động giao tiếp

Theo quan điểm này có đại biểu là Trơng Văn Chình Trong cuốn

"Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam" ông đã lấy định nghĩa của Mây- e: "Câu

là một tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều sự tình có quan hệ;

tổ hợp ấy tự nó tơng đối đầy đủ ý nghĩa và không phụ thuộc về ngữ pháp vào một tổ hợp nào khác"

Trang 7

Định nghĩa này đã chú trọng đến nội dung do câu biểu thị nhng lại cha

đề cập đến mặt cấu tạo ngữ pháp của câu

- Hớng định nghĩa câu dựa vào hành động phát ngôn

Tác giả E Sapir (1921) định nghĩa nh sau: "Câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động t duy" Việc định nghĩa câu dựa trên định

hớng triển khai của t duy đã dẫn đến việc phân loại câu theo cấu trúc nghĩa,cấu trúc đề - thuyết T duy chọn cái gì làm xuất phát điển thì đó là phần đề,còn t duy triển khai cái gì thì đó là phần thuyết Tác giả Cao Xuân Hạo đãchọn cách phân loại này để phân loại câu theo cấu trúc

- Hớng định nghĩa câu dựa vào mặt hình thức

L.C Thompson định nghĩa câu: "ở trong tiếng Việt, các câu đợc tách

ra khỏi nhau bởi ngữ điệu kết thúc Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghĩa, kết thúc bằng một hay nhiều ngữ điệu kết thúc hay đằng sau một sự im lặng, hay đoạn khác cũng nh vậy là một câu Sự độc lập ở những yếu tố nh vậy đợc phù hiệu hoá bằng chữ viết bởi cách dùng chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm hỏi, dấm chấm than) ở cuối câu"

Cũng nh L.C Thompson, F.F Fortunatov đa ra định nghĩa tơng tự nh

sau: "Câu là một tổ hợp với một ngữ điệu kết thúc"

Các định nghĩa này chỉ dựa vào tiêu chí hình thức mà ít chú ý phần ýnghĩa, cũng nh cấu trúc của câu

- Hớng định nghĩa câu dựa đồng thời vào hai mặt cấu trúc và ý nghĩa.Theo hớng này có các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Hồ Lê,Hoàng Văn Thung, Hoàng Trọng Phiến, Hữu Quỳnh, Đỗ Thị Kim Liên

Nguyễn Kim Thản định nghĩa : "Câu không phải là những đơn vị có sẵn của ngôn ngữ, nó là những tổ hợp đợc thành lập khi con ngời sử dụng ngôn ngữ để t duy, giao tiếp hay truyền đạt t tởng, tình cảm, thái độ Sự vận dụng ngôn ngữ nh vậy chính là lời nói" [11;138]

Còn theo Diệp Quang Ban : "Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ

có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngời nói hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của ngời nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt t tởng tình cảm Đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" [1; 107]

Trang 8

Định nghĩa về câu trên đây đáp ứng cả hai mặt nội dung và hình thứccấu tạo nên câu, tuy nhiên còn rờm rà, cha đợc ngắn gọn, súc tích của một

định nghĩa

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong giáo trình "Ngữ pháp tiếng Việt" định

nghĩa: "Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, đợc gắn với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc" [8; 100]

b Các thành phần của câu

Thành phần câu đợc hiểu là những thành tố tham gia cấu tạo câu Đó lànhững bộ phận đợc xây dựng dựa trên những mối quan hệ về ý nghĩa và vềngữ pháp trong một ngôn ngữ nhất định

Hiện nay trong các sách ngữ pháp tiếng Việt có nhiều cách xác định,phân chia thành phần câu Trong khoá luận này, chúng tôi sử dụng cách chiathành phần câu nh sau:

Thành phần câuThành phần chính Thành phần phụ

Chủ ngữ Vị ngữ TP phụ của câu TP phụ trong cụm từ

Bên cạnh thành phần chính câu còn có các thành phần phụ để bổ sung

ý nghĩa cho các thành phần chính Thành phần phụ có hai loại: Thành phầnphụ có hình thức và nội dung tơng đối độc lập với thành phần chính: Trạngngữ, đề ngữ, tình thái ngữ, giải thích ngữ, liên ngữ Thành phần phụ có hìnhthức và nội dung phụ thuộc chặt chẽ với một thành phần (hay một từ nào đó)trong câu, có thể xem nó là sự phát triển của động từ hay danh từ thành mộtcụm từ), đó là bổ ngữ và định ngữ

1.1.2 Khái niệm câu tỉnh lợc

Trang 9

NXB giáo dục Hà Nội tác giả viết : "Trong thực tế của ngôn ngữ, co những câu có thể dựac vào hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ mà bới đi một hay cả hai thành phần chủ yếu của câu Ta gọi đó là câu tỉnh lợc (hoặc câu rút gọn) Câu tỉnh lợc khác câu một thành phần ở chỗ ngời ta có thể dựa vào hoàn cảnh ngôn ngữ mà điền vào đó thành phần đã bớt đi và khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của câu".

Tác giả Lu Văn Lăng thì quan niệm " Câu tỉnh lợc là câu có một trong hai thành phần đợc tỉnh lợc, đôi khi chỉ có bộ phận phụ mà thôi (do

ngữ cảnh trong lời đối thoại có thể tiết kiệm, ta có thể lặp lại đủ thànhphần)"

Còn theo Cao Xuân Hạo, trong cuốn "Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp

chức năng, quyển 1" đã viết: "Tỉnh lợc là bỏ một ngữ đoạn mà sự có mặt không cần thiết Nói cách khác đó là một phép thay thế một ngữ đoạn bằng

đại từ hồi chỉ zêrô"

Diệp Quang Ban khi nghiên cứu về hiện tợng tỉnh lợc nhận xét : "Tỉnh lợc là việc bỏ trống yếu tố lẽ ra phải có mặt (do đó mà tạo ra cái có nghĩa ch-

a cụ thể) ở câu này, và muốn hiểu chỗ bỏ trống thì phải tìm những từ ngữ có

ý nghĩa cụ thể tơng ứng với câu khác, và bằng cách đó hai câu này liên kết với nhau Về thực chất thì phép tỉnh lợc cũng là một cách thế, chỉ có điều là bằng thế zêrô" [2;245].

Trong cuốn từ điển "Từ điển bách khoa về ngôn ngữ và ngôn ngữ học"(R.E.Aseher chủ biên, 1994) thể hiện khá rõ đặc trng cơ bản của hiện tợng

tỉnh lợc:"Sự tỉnh lợc là một loại liên kết ngầm ẩn Nó là kết quả của sự lợc bỏ một bộ phận của một cấu trúc ngữ pháp trong một phát ngôn hay một câu ở

đó sự hiển hiện trùng lặp bộ phận đó Sự lợc bỏ không làm mất đi thông tin chuyển ngầm ẩn Nó đợc tạo ra nhờ hiện tợng d trong văn bản"

Trang 10

Phạm Văn Tình khi nghiên cứu "Phép tỉnh lợc và ngữ trực thuộc tỉnh

l-ợc trong tiếng Việt" đã định nghĩa : "Tỉnh ll-ợc văn bản là một dạng tỉnh ll-ợc xảy ra giữa các phát ngôn, là sự lợc bỏ các yếu tố mà ngời đọc có thể hiểu đ-

ợc nhờ mối liên hệ giữa các phát ngôn trong phạm vi một ngữ cảnh xác định"

[10; 20]

Nhìn chung các nhà nghiên cứu ngữ pháp khi đề cập đến loại câu tỉnhlợc đều thừa nhận đây là một hiện tợng ngôn ngữ đáng chú ý, mặc dù trên lýthuyết có nhiều cách thể hiện khác nhau

Chúng ta có thể hiểu đơn vị ngôn ngữ này theo một quan niệm chung

nhất: "Tỉnh lợc là việc lợc bỏ các thành phần trong câu mà ý nghiã của các thành phần bị tỉnh lợc vẫn có thể đợc khôi phục dễ dàng nhờ vào hoàn cảnh hay ngữ cảnh"

b Phân loại câu tỉnh lợc

Tỉnh lợc là một hiện tợng phổ biến, xuất hiện ở mọi nơi, mọi lúc, trongnhững hoàn cảnh khác nhau Vì thế tính chất ý nghĩa quan hệ cũng nh thànhphần hiện hữu của câu tỉnh lợc rất phong phú và đa dạng Do đó việc phânloại câu tỉnh lợc cũng rất phức tạp, có thể dựa vào nhiều căn cứ để phân loạicác kiểu câu tỉnh lợc

Căn cứ vào hoàn cảnh tồn tại: Có loại tỉnh lợc xuất hiện trong hộithoại, có loại xuất hiện trong diễn thoại

Căn cứ vào tính chất quan hệ: Có loại có tính tơng đối độc lập với ngữcảnh (khẩu hiệu, tục ngữ… còn) Có loại phụ thuộc chặt chẽ vào bối cảnh hoặcvăn cảnh

Căn cứ vào ý nghĩa của lợc tố: Có loại tỉnh lợc nhng nội dung vẫn xác

định (mệnh lệnh, nghi vấn), có loại chỉ khái quát phiếm định

Căn cứ vào thành phần hiện hữu: Có loại trên bề mặt chỉ có chủ ngữ, vịngữ, các thành phần phụ… còn

Nh vậy hiện tợng tỉnh lợc có thể nhìn nhiều góc độ, nhiều căn cứ khácnhau vì vậy kết quả phân loại cũng không giống nhau

Trong đề tài này chúng tôi đi sâu nghiên cứu câu tỉnh lợc trong vănbản cụ thể là thơ lục bát Việt Nam (trên t liệu Thơ mới giai đoạn 1932 -1945) Vì vậy chúng tôi căn cứ vào hai tiêu chí để phân loại câu tỉnh lợctrong văn bản

Trang 11

Căn cứ vào lợc tố của câu tỉnh lợc: Là căn cứ vào thành phần tỉnh lợctrong câu thuộc thành phần gì.

Căn cứ vào ngữ cảnh của câu tỉnh lợc: Là căn cứ vào văn cảnh và bốicảnh xuất hiện của câu tỉnh lợc đó

Đồng thời dựa vào hai tiêu chí trên chúng tôi chia các kiểu câu tỉnh lợctrong văn bản nh sau:

1.2 Vài nét về Thơ mới và thể thơ lục bát Việt Nam

1.2.1 Nhận xét chung

Phong trào Thơ mới (1932 - 1945) là một trong những sự kiện lớn nhất

về thơ ca của thế kỷ XX Sự ra đời của Thơ mới đã tạo bớc ngoặt lớn tronglịch sử thơ ca dân tộc, đa thơ ca nớc ta từ thời kỳ Cận đại chuyển sang thời kỳHiện đại Những thành tựu của phong trào Thơ mới vẫn tiếp tục sinh sôi nảy

nở và in dấu ấn trong thơ ca hiện đại nh một nhân tố tích cực

Phong trào Thơ mới là một cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam Nó

đã phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của thơ cũ, chuyển thơ ca Việt Nam từphạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại Thơ mới ngay từ khi mới ra đời

đã có nhiều ngời định nghĩa khác nhau Khi phong trào Thơ mới vừa mớixuất hiện ngời ta quan niệm Thơ mới là thơ tự do Có ngời còn cho thơ viếttheo thể từ khúc là Thơ mới Nhng đến những giai đoạn sau của phong tràoThơ mới, ngời ta lại thấy các thi sĩ trở về với nhiều thể thơ truyền thống nh:thất ngôn, ngũ ngôn, lục bát nên định nghĩa Thơ mới là thơ tự do không lột tả

bản chất Thơ mới Có ngời cắt nghĩa: "Thơ mới là tất cả những thể thơ không

Trang 12

ở trong niêm luật, đối đáp, hạn vần, hạn câu" lại có ngời cắt nghĩa "Thơ mới

là một thứ thơ phản thể, nằm ngoài khuôn sáo của thơ Đờng"

Hán Quỳ trong bài "Những thi sĩ có tài" báo Tràng An số 108 ra ngày

24/3/1936 đã định nghĩa: "Thơ mới chỉ là một hình thức của thơ để diễn tả những tính tình và cảm giác của tâm hồn ngời ta ở thời đại mới"

Hoài Thanh, Hoài Chân "Thi nhân Việt Nam" phát biểu "Không có Thơ mới, cũng không có thơ cũ Chỉ có thơ mà thôi Tức là chỉ có thơ xa và thơ nay Cái hay, cái kiệt tác không lệ thuộc ở thời gian mà ở thiên tài của thi nhân"

Phan Cự Đệ "Văn học lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945" viết : "Thơ mới ở đây là phong trào thơ ca lãng mạn 1932 - 1945, mang ý thức hệ t sản vì quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật"

Phạm Thế Ngũ "Việt Nam văn học sử giản ớc tân biểu" tập 3 cho

rằng : "Thơ mới là thơ xuất hiện sau năm 1932 và làm bởi những con ngời Tân học, chịu ảnh hởng rõ rệt câu thơ, câu văn Pháp"

"Lịch sử văn học Việt Nam", tập V viết: "Cái tên Thơ mới ngay từ khi xuất hiện đã không có nội dung thật xác định Những thi sĩ Thơ mới chống lại lỗi thơ gò bó, khuôn sáo trên báo chí đơng thời mà họ gọi là thơ cũ Họ chủ trơng đổi mới thơ ca và gọi thơ đổi mới của họ, thờng là thơ tự do, là Thơ mới Dần dần cái tên Thơ mới dùng để gọi phong trào Thơ mới có tính chất Lãng mạn tiểu t sản bột phá vào những năm 1932 - 1933 và chấm dứt khi cách mạng tháng Tám bùng nổ Nh vậy Thơ mới không phải là tên gọi thể thơ tự do cũng nh một thể thơ nào đó mà trở thành tên gọi một phong trào văn học"

Nguyễn Đăng Mạnh : "Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam" nhà xuất

bản đại hoc Quốc gia Hà Nội, 2000 quan niệm "Thơ mới là sự đổi mới cả nội dung lẫn hình thức thơ, nhng cái chính là nội dung, là phần hồn của họ"

Đỗ Lai Thúy trong "Con mắt thơ" đã phát biểu : "Khái niệm Thơ mới

đợc dùng ở đây để chỉ một dòng thơ xuất hiện từ những năm 1932 - 1945

Tr-ớc đây Thơ mới thờng đợc gọi là thơ lãng mạn bởi muốn đối lập nó với thơ cách mạng hoặc chỉ nhằm thấy nó là lãng mạn chứ không thấy sự vận động

từ lãng mạn suy tởng tợng trng chớm sang siêu thực của nó"

Nguyễn Hoàng Khung "Từ điển Văn học" nhà xuất bản Hà Nội 1984

định nghĩa: "Phong trào Thơ mới là phong trào thơ có tính chất lãng mạn trong văn học hợp pháp Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945"

Trang 13

Từ những quan niệm, định nghĩa trên chúng ta có thể nói: Thơ mới làmột hiện tợng văn học có tính chất lịch sử, là một phong trào thơ một cuộcvận động đổi mới thơ cả về hình thức lẫn nội dung, vừa có lý thuyết, vừa cóthực hành, vừa có ngời khởi xớng, vừa có ngời hậu thuẫn bằng những sángtác có giá trị Định nghĩa về Thơ mới rất nhiều nhng dù định nghĩa theo cáchnào thì vẫn không thể phủ nhận Thơ mới là một nguồn thơ dồi dào, có ảnh h -ởng lớn và có giá trị lớn trong mạch thơ ca dân tộc

Trang 14

1.2.2 Thể thơ lục bát.

a Khái niệm

Lục bát là một thể thơ cách luật cổ điển thuần tuý của thơ tiếng Việt

Đơn vị cơ bản của thể thơ này là một cặp gồm hai câu, một câu lục (dònglục) - sáu tiếng (chữ) và một câu bát (dòng bát) - tám tiếng (chữ); số câu củabài thơ làm theo thể này là không hạn định: Có thể chỉ gồm hai câu (một cặt)

nh nhiều câu ca dao cổ truyền, có thể hàng ngàn câu trong các truyện thơNôm và các diễn ca lịch sử

b Vai trò của thể thơ lục bát trong thơ ca Việt Nam

Thể thơ lục bát đã góp phần vào sự thành công và sự trờng tồn củahàng trăm truyện thơ Nôm (Truyện Kiều là tiêu biểu), hàng vạn bài ca dao.Với ca dao, đó là sự phong phú về hình thức biểu hiện Thể lục bát đã làmcho ca dao mãi mãi gần gũi và thân thuộc với ngời Việt Và chính thể thơ lụcbát đã làm nên kho tàng ca dao ngời Việt Với những u điểm của mình, thểthơ lục bát đã và sẽ mãi mãi khơi nguồn cho những bài ca dao Vì phần lớn

ca dao ngời Việt đợc sáng tác theo thể thơ này Với Truỵên Kiều thể thơ lụcbát đã đạt đến độ hoàn chỉnh của nó về tất cả mọi mặt, mọi phơng diện.Truyện Kiều đã đạt đến những giá trị nội dung và nghệ thuật cũng chính lànhờ đến mặt mạnh của thể thơ lục bát Với thể thơ lục bát Truyện Kiều đã trởthành hơi thở của ngời dân Việt Nam

Phong trào Thơ mới tuy chịu ảnh hởng của thơ Pháp, thơ Đờng nhngkhông làm mất đi bản sắc dân tộc của thơ ca Việt Nam mà trái lại nó làm chocâu thơ tiếng Vịêt ngày càng giàu có hơn, tinh tế hơn Thơ Việt Nam saucách mạng tháng Tám, chúng ta không thấy xuất hiện thêm thể thơ nào mới,nhng hầu hết các thể thơ dân gian và truyền thống, các thể thơ mới đều đợckhai thác sử dụng và trở nên nhuần nhuyễn trong nội dung mới

Các thể thơ dân gian có một vai trò quan trọng đối với nền thơ ca mới.Hớng về dân gian là một nét tiêu biểu trong tâm thế sáng tác của nhiều nhàthơ và dấu ấn của các thể loại thơ dân gian có thể thấy ở hầu hết các nhà thơthuộc đủ các thế hệ Thể lục bát vẫn phát triển, hầu nh nhà thơ nào cũng ítnhiều sử dụng đến

Sau năm 1945, các thế hệ nhà thơ đàn anh sử dụng lục bát theo hớngkhai thác những khả năng vốn có, theo hớng tôn trọng những quy luật ngữ

âm thiết yếu của nó

Trang 15

Lịch sử thời gian qua đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của thểthơ lục bát trong dòng văn học Việt Nam Qua sự biến thiên của lịch sử củanền văn học, thể thơ lục bát đã có sự phát triển, sự thay đổi, sự đổi mới để

đáp ứng dần sự thay đổi trong nội dung văn học Càng ngày nó càng chứngminh rằng đây là một thể thơ dân tộc có nhiều u việt, nó góp phần vào sựthành công của nền văn học nớc nhà

1.3 Một số đặc điểm ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ trong Thơ mới nói chung, lục bát nói riêng.

1.3.1 Một số đặc điểm ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ trong Thơ mới.

Trong luận văn "Hành trình tiếp nhận Thơ mới (1932 - 1945) và nhữngvấn đề phơng pháp luận đặt ra", Bùi Thị Hằng đã nhìn Thơ mới nh một cuộc

"Nổi loạn ngôn từ", một cuộc cách mạng về thi pháp Trớc đây dới phê bình

dờng nh chỉ tìm hiểu và đánh giá Thơ mới nghiêng về phơng diện nội dung,

do vậy cha thấy hết giá trị của Thơ mới trong nền thơ ca dân tộc và trongtiến trình hiện đại hoá văn học Cũng chính vì chỉ khai thác Thơ mới ở phơngdiện nội dung nên ngời ta cha thấy Thơ mới là một cuộc cách tân toàn diện

và triệt để về hình thức từ hệ thống ngôn từ, sự xuất hiện câu thơ điệu nói đến

sự giãn nở của khuôn khổ câu thơ, sự thắng thế của cách chia bài thơ thànhnhiều khổ, những kiểu mở đầu đờng đột và những kết thúc chơi vơi, hệ thốnghình ảnh mới lạ, nhịp điệu thơ và tất cả những đổi mới này dẫn đến tính nhạc

đặc trng: Luôn luôn biến đổi, hoà hợp với tâm trạng thi nhân chuyển độngtừng giây từng phút

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tợng để phản ánhcuộc sống, con ngời Với ý nghĩa là chất liệu đặc biệt ấy, ngôn từ văn họcliên quan và chi phối đến tất cả các yếu tố hình thức nghệ thuật làm nên tácphẩm văn học

Ngôn ngữ thơ ca là sự biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc, mỹ lệphong phú của ngôn từ Nó vừa là tiếng nói chân thực, giàu có của đời sống,vừa là tiếng nói bay bổng của trí tởng tợng, lại vừa là tiếng nói tình cảm củacon tim đang xúc động

Từ đầu thế kỷ XX hệ thống ngôn từ trong thơ ca Việt Nam đã trải quanhiều đổi thay cơ bản với những giai đoạn phát triển của xã hội, với những b-

ớc tiến mới của sáng tác thơ ca Thơ ca công khai đầu thế kỷ XX sử dụng phổbiến một hệ thống từ đã mất hẳn sinh lực mang lại tính chất mòn sáo, ớc lệ

Trang 16

nh: phong sơng, ly hợp, mệnh bạc, tri âm, kiếp phù sinh, chị Hằng, gơngNga, lệ châu… cònNhững từ mòn sáo đó không nằm trong tiếng nói sinh động vàphổ biến của quần chúng và ngày càng trở nên xa lạ Phong trào Thơ mới ra

đời đã khai thác và sử dụng một hệ thống từ ngữ mới mẽ và giàu sức gợi cảmhơn, có khả năng thể hiện những sắc thái riêng và cụ thể của những cảm xúclãng mạn của các nhà thơ

Ngôn từ Thơ mới là sự kết hợp nhịp nhàng các ngôn từ thơ Đông vàTây trên cơ sở ngôn từ thơ Việt Nam - kết quả của sự tơng tác các nền vănhoá cổ điển và hiện đại Với một nền văn hoá vững vàng, thi nhân Việt Namluôn khao khát tự do, khao khát giao hoà với thế giới, với loài ngời Truyềnthống có chiều dày lịch sử ấy "cơn gió mạnh phơng Tây" (Hoài Thanh) Khihoàn cảnh xã hội thay đổi , nhịp độ đời sống chuyển biến, tâm lý thời đạikhác đi, tất yếu phải có sự ra đời của những thể thơ mới với ngôn từ, hình

ảnh, nhạc điệu… còn mới Thơ mới đã đổi mới và sáng tạo ngôn ngữ thơ phù hợp

với thi hứng, góp phần hoàn chỉnh bộ mặt thơ ca thời kỳ hiện đại: "Thơ mới tạo ra ngôn từ mới để biểu hiện cảm xúc mới Tiếng Việt trẻ lại với thơ Sự

đóng góp của Thơ mới là rất lớn Có thể nói dòng Thơ mới nh dòng nớc nặng làm ra năng lợng cho mỗi từ, mỗi câu Tiếng Việt nhờ Nguyễn Du đã đẹp hơn, trong trẻo, mợt mà hơn Tiếng Việt đến thời Thơ mới đã đổi thịt thay da một lần nữa" [5; 11- 12]

Thơ mới cũng vận dụng nhiều cách sử dụng ngôn ngữ phong phú, giàuhình ảnh Hình ảnh trong Thơ mới đẹp, mới lạ, gợi cảm bởi Thơ mới ngoàicác biện pháp nghệ thuật thông thờng nh: ẩn dụ, hoán dụ còn sử dụng sángtạo nhiều biện pháp nh so sánh, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, nhân hoá gợi đợcnhững liên tởng mới lạ

Những cách tân về hình thức của Thơ mới cũng thể hiện rõ ở câu thơ

Sự xuất hiện của câu thơ điệu nói đã tạo nên những sắc thái biểu cảm chânthực của cảm xúc với những đặc trng tiêu biểu

"Thời thế bây giờ vẫn thấy khó Nhà văn An Nam khổ nh chó"

(Gửi Trơng Tửu - Nguyễn Vĩ)

"Gái lớn ai không phải lấy chồng Can gì mà khóc nín đi không!

Nín đi! Mặc áo ra chào họ,

Trang 17

Rõ qúy con tôi các chị trông"

(Ngời mẹ - Nguyễn Bính)Với các đại từ nhân xng ngôi thứ nhất, câu thơ điệu nói có thể chophép các nhà thơ biểu hiện rõ ràng, dứt khoát, lập trờng, t tởng, tình cảm củacá nhân trữ tình Câu thơ đã trở thành lời nói của cá thể, nó có ngữ khí từ, câuhỏi cảm thán, hớng tới chính ngời đọc, theo kiểu tự bộc bạch tâm sự với bạnbè:

"Tôi muốn tắt nắng đi

… Tôi muốn buộc gió lại"

(Vội vàng - Xuân Diệu)

"Em có nghe mùa thu Dới trăng mờ thổn thức … "

(Tiếng thu - Lu Trọng L) Thành phần lời thơ trữ tình điệu nói rất đa dạng, có các h từ, các cáchlập luận, các khẩu hiệu, có tiếng hô, lời chào, lời chêm, câu hỏi, đối đáp, cócách vắt dòng, nhiều khi cả khổ là một câu thơ Câu thơ cũ hạn chế tối đã sửdụng h từ, chính vì thế ý thơ cô đọng, hàm súc nhng thiếu khúc chiết Trái lạicâu thơ mới sử dụng nhiều h từ làm cho câu thơ mềm mại gần với văn xuôi.Các h từ liên kết tạo nên câu thơ mệnh đề một phơng diện biểu hiện, lý giảiphơi bày nội tâm "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, và non nớc, và cây, và

cỏ rạng" (Vội vàng - Xuân Diệu)

Câu thơ điệu nói giải phóng giọng điệu cá thể, làm cho nó hiện lên trên

bề mặt, đồng thời cải tạo lại chất nhạc của câu thơ - không phải nhạc trầmbổng, réo rắt do phối hợp bằng, trắc tạo nên mà do tiếng lòng, do hơi thở, donhịp tình cảm tạo nên Nhạc trong thơ điệu nói là tiếng ngời, ngữ điệu ngời,giọng điệu ngời

"Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi … "

(Xuân Diệu )

"Hoa mớp rụng từng là vàng rải rác

Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay

( Anh Thơ)

Trang 18

Thời trung đại khái niệm dòng thơ thờng trùng khít với khái niệm câuthơ Mỗi câu thơ là một thế giới nghệ thuật độc lập về ngữ nghĩa và cú pháp.Bớc sang thời hiện đại, đặc biệt với phong trào Thơ mới, sự đồng nhất kháiniệm câu thơ và dòng thơ bị phá vỡ Có sự giãn nở khuôn khổ câu thơ Câuthơ có thể do nhiều dòng thơ tạo nên và ngợc lại một dòng thơ có thể chứanhiều câu thơ Với cách tân này, các nhà thơ mới đã tạo dáng lại cho câu thơ,tạo điều kiện cho thơ mở rộng tối đa, gần với văn xuôi

Câu Thơ mới đợc sử dụng và kết hợp mới Ta dễ thấy hiện tợng kháphổ biến ở Thơ mới là việc sử dụng những con số, đặc biệt là con số một "Ta

là một là riêng là thứ nhất, hơn một loài hoa đã rụng cành, chị đi một bớctrăm đờng xót xa" … còn Sử dụng nhiều từ sở hữu với cấu trúc của chủ thể:

"Của ong bớm này đây tuần tháng mật.

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si"

( Xuân Diệu )Hai hiện tợng này phản ánh cá nhân tự ý thức, sự trở về với cái tôi, cáiriêng của thơ ca

Câu thơ sử dụng từ nghi vấn dùng theo nghĩa phủ định mà trong câuthơ điệu ngâm của văn học trung đại không sử dụng Bài thơ "Nhớ rừng" -Thế Lữ chữ "đâu" ở đây là tiếng vọng của "Nào đâu những đêm vang bên bờsuối" ở khổ đầu và sẽ tắt ngấm với: "Than ôi ! thời oanh liệt nay còn đâu?" ởkhổ cuối "nào đâu" và "còn đâu" là từ thông dụng, nhng chữ "đâu" phủ định

đặt ở đầu câu là một cách tân

Số tiếng trong câu Thơ mới cũng có sự cách tân Câu thơ cũ có số tiếng

ổn định, trong khi đó tiếng trong câu Thơ mới tự do Với ý thức cách tânmạnh mẽ, các nhà Thơ mới muốn từ bỏ kiểu câu thơ cố định để tạo nên mộtloại câu thơ dài ngắn khác nhau gọi là thơ tự do Về sau đi vào những loạihình câu thơ phổ biến 7 tiếng, 8 tiếng Riêng câu thơ 8 tiếng khi tuy đã cótrong thể thơ lục bát và thể hát nói nhng chỉ thành thơ phổ biến và có sứcsống mãnh liệt phải kể từ phong trào Thơ mới

Ngoài ra các nhà Thơ mới còn tạo ra kiểu câu thơ định nghĩa rồi phân

tích, lí giải nhằm làm nổi bật bản chất của sự vật, hiện tợng : "Yêu là chết trong lòng một ít", "Là thi sĩ nghĩa là ru với gió" (Xuân Diệu).

Trang 19

Kiểu câu thơ toàn thanh bằng, gợi cảm xúc buồn, xa vắng, dàn trải phùhợp với bản chất Chủ nghĩa lãng mạn :

"Sơng nơng theo trăng ngừng lng trời Tơng t nâng lòng lên chơi vơi"

để cảm nhận sâu sắc hơn nguồn mạch cảm hứng của nhân vật Trữ tình bởicùng với nhịp thơ, sự ngắt giữa hai khổ thơ sẽ tạo khoảng lặng, khoảng ngừngcho ngời đọc Chính cách chia khổ này cũng làm cho nhân vật Trữ tình vừasay sa diễn tả cảm xúc vừa biết kìm hãm khi mạch cảm xúc tuôn trào

Tìm hiểu kỹ Thơ mới chúng ta còn thấy mở đầu và kết thúc của nhữngbài Thơ mới khác với mở đầu và kết thúc trong những bài thơ cổ điển Thôngthờng câu mở đầu trong thơ cổ điển phải gắn liền với việc tái hiện bối cảnh,nền tảng mà trên đó cảm xúc đã nảy sinh - nguyên do cảm xúc Đối chiếu thơ

cổ điển với Thơ mới trên phơng diện này ta thấy Thơ mới nhiều bài khôngquan tâm lắm đến việc trình bày đầy đủ "lịch sử " của những mối cảm xúcsuy nghĩ Phổ biến trong Thơ mới là những câu thơ mở đầu đờng đột khiến

độc giả bất ngờ, thoạt tiên không hiểu sao cả :

"Ai chết đó ? Nhạc sầu chi lắm thế"

(Nhạc sầu - Huy Cận)

"Đã hẹn với em rồi không thơng tiếc Quảng đời xa không than khóc gì đâu!"

(Quên - Vũ Hoàng Chơng)

Trang 20

Với những cách mở đầu nh thế ta nhận ra một định hớng rất sáng tạorất nổi bật của các nhà Thơ mới là quan tâm trớc hết đến việc trình bàykhoảnh khắc hiện tại của cảm xúc và rất tin vào sự cộng cảm của độc giả.

Câu kết trong thơ cổ điển là điểm đọng bao nhiêu tình ý của bài thơ làchỗ đi đến cao nhất của cảm xúc Câu kết trong bài thơ cổ điển thờng có cúpháp suy luận vấn đề nhà thơ muốn thể hiện đợc khẳng định lại và điều nàycũng giúp cấu trúc bài thơ trở nên vững chải hơn Câu kết thờng là điểmtrọng yếu nhất tạo nên d ba cho tác phẩm, tạo nên cái gọi là "Ngôn hữu tận ývô cùng " cho tác phẩm, khác với thơ cổ điển, những kết thúc trong các bàiThơ mới rất mực chơi vơi, những cấu kết khó dự đoán trớc

Tính nhạc là đặc điểm cơ bản của thơ lãng mạn Các nhà Thơ mới đãsáng tạo ngôn ngữ thơ về nhiều mặt, trớc hết cho thơ tính nhạc Âm nhạctrong Thơ mới do sự kết hợp từ một cách sáng tạo và đợc cảm nhận trên sựtổng hợp các giác quan Chính sự liên kết ấy nhà thơ tạo nên biết bao nhiêunhịp điệu âm thanh mới lạ : "Khúc nhạc thơm, khúc nhạc hơng, khúc nhạchiển hiện hoa và phản phất hơng" Điểm mới đáng chú ý là lời Thơ mới đợckết hợp chặt chẽ giữa âm thanh và ý nghĩa, âm thanh luôn luôn là nhữngtiếng vang có ý nghĩa

Nhịp thơ đợc xem nh giao động của tần số cảm xúc, tình cảm Nhịpcâu thơ cũ thờng đều theo một chu kỳ nhất định Trong khi nhịp câu Thơ mớilinh hoạt hơn :

"Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ

Em em ơi tình non sắp già rồi"

(Vội vàng - Xuân Diệu)

"Đây mùa thu tới ! mùa thu tới"

(Đây mùa thu tới - Xuân Diệu)Khi cảm xúc nhà thơ trở nên sôi nổi mãnh liệt thì nhịp điệu đều đềuhoàn toàn bị phá vỡ, gợi nên một sự bất ngờ, cắt đứt thói quen chu kỳ, hớngtới một sự mất thăng bằng, phi đối xứng Ngoài ra câu Thơ mới cũng sử dụngnhịp điệu truyền thống nhng nhạc điệu tân kỳ, mới mẻ

Với những đặc điểm nổi bật đó Thơ mới đã tạo nên một cuộc cách tânvợt bậc trong thơ ca Việt Nam, đa thơ ca Việt Nam từ phạm trù trung đạisang phạm trù hiện đại

1.3.2 Đặc điểm câu thơ lục bát

Trang 21

a Câu thơ

Nói đến ngôn ngữ thơ là nói đến một hệ thống tổ chức ngôn ngữ đặcbiệt bằng phơng thức tạo hình, biểu hiện bằng các thao tác lựa chọn, kết hợpcộng với tài ba của mình ngời nghệ sĩ đã sáng tạo nên những áng thơ tuyệt

đẹp làm say đắm lòng ngời Trong đó câu thơ và mối quan hệ chỉnh thể của

nó trong bài thơ có một vị trí quan trọng

Vậy thế nào là câu thơ ? Dòng thơ ? Câu thơ và dòng thơ có mối quan

hệ nh thế nào?

Chúng tôi có tham khảo qua các định nghĩa về câu thơ của các nhà

ngôn ngữ học Chẳng hạn nh: "Câu thơ là phán đoán đợc thể hiện bằng các từ" "Câu thơ là chuỗi từ hình nằm giữa hai dấu chấm hoặc hai chữ chữ cái hoa"…Trong công trình "Lí luận câu thơ" Timôpheep cũng đã phát biểu :

"Câu thơ là đơn vị đơn giản nhất của ngôn ngữ xúc cảm, là đơn vị của ngữ

điệu độc lập gồm các từ và các nhóm từ thống nhất bằng một ngữ điệu và chỗ ngừng tơng xứng với sự phát triển của nội dung tạo nên một đơn vị ngữ

điệu" Bùi Công Hùng trong cuốn "Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca" cho

rằng : câu thơ là đơn vị cơ sở của ngôn ngữ thơ vì vậy các nhà nghiên cứu lấycâu thơ làm đơn vị cơ bản để nghiên cứu đơn vị bài thơ

Dòng thơ là một phát ngôn về mặt hình thức bao gồm một số lợng âmtiết nhất định trong tơng quan hình thức và cấu trúc với các dòng kề cận.Dòng thơ là chuỗi tự hình nằm trên một đoạn thẳng khi viết và tạo thành mộtchuỗi nhịp điệu khi đọc

Câu thơ và dòng thơ có mối quan hệ khăng khít với nhau trong chỉnh

thể bài thơ Calatơrôva trong cuốn " Thơ và nhịp điệu" cho rằng : "Trong đại

đa số dòng thơ trùng hợp với câu thơ" Sở dĩ ngời ta lấy dòng thơ để làm đơn

vị để nghiên cứu thơ là vì có trờng hợp một câu thơ bao gồm nhiều dòng thơhoặc ngợc lại

Chẳng hạn:

Câu thơ gồm 4 dòng thơ: "Sông giãi

Trăng mờ Một giãi Tơng t"

(Chơi thuyền- H Minh Tuyền)

Câu thơ gồm 3 dòng thơ: "Vị trí

Trang 22

của nhà thơ

Trong lòng hàng ngũ công nhân"

(Nói chuyện với thanh tra- Maiacôpxki)

Câu thơ gồm 2 dòng thơ: "Nhớ em trong ánh trăng mờ

Sóng cây gió gợn giời bao la sầu"

(Bao la sầu - Lu Trọng L)Dòng thơ gồm hai câu thơ:

"Nhạc sắp dạo Cánh màng nhung động khẽ"

(Đêm âm nhạc - Bế Kiến Quốc)Trên đây là những vấn đề lý thuyết về câu thơ, dòng thơ Trong khoáluận này khi tìm hiểu về câu thơ lục bát, chúng tôi quy ớc: Xem 2 dòng thơlục bát (6/8) là một câu thơ trong đó dòng mở là lục, dòng kết là bát

Ví dụ: "Lạ gì bỉ sắc t phong

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen"

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

"Gió hiu lạnh lẽo lòng ve - (dòng lục)"

Tiếng đàn êm ấm sang hè còn lâu - (dòng bát)"

(Thơng thu -Quách Tấn)

b Đặc trng hình thức của thể thơ lục bát

- Vần

Thể thơ lục bát vừa gieo vần chân, vừa gieo vần lng : Tiếng cuối câulục gieo vần xuống tiếng thứ 6 của câu bát hoặc câu cá biệt ở tiếng thứ 4 (vầnlng), tiếng cuối câu bát gieo vần xuống tiếng cuối của câu lục bát tiếp theo(vần chân)

"Láng giềng đã đỏ đèn đâu Chờ em chừng dập miếng giầu em sang

Đôi ta cùng ở một làng Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh

Em nghe họ nói mong manh Hình nh họ biết chúng mình với nhau

Trang 23

Ai làm cả gió đắt cau Mấy hôm sơng muối cho giầu đổ non ?"

(Chờ nhau - Nguyễn Bính) Thể thơ lục bát sử dụng cả vần chính và vần thông

+ Vần chính : Ví dụ

"Có hai em bé học trò Xem con kiến gió đi đò lá tre"

+ Vần bằng: ở câu lục và câu bát đều là thanh bằng

Ví dụ: "Khói tuôn mờ trắng đêm sâu

Men rừng say một con tàu ngả nghiêng"

(Con tàu say - Vũ Hoàng Chơng)

"ở đây có nớc sông H ơng

Có cây núi Ngự, có đ ờng Nam Giao"

(Một chiều say - Nguyễn Bính) + Vần trắc: ở câu lục và câu bát đều là thanh trắc

Ví dụ: "Tò vò mà nuôi con nhện

Đến khi nó lớn nó quyện nhau đi"

(Ca dao)

Trang 24

Khảo sát 109 bài thơ đợc viết theo thể lục bát của 14/18 tác giả thuộcphong trào Thơ mới 1932 - 1945 Chúng tôi thấy không có bài nào gieo vầntrắc

Phải chòm sao rụng/ trớc lầu hở em ? Lắng nghe/ trăng giãi bên thềm

Lắng nghe/ trăng giải bên thềm … ái ân"

(Bao la sầu - Lu Trọng L)

- Phối điệu (luật bằng trắc)

Thanh bằng là những từ không dấu, là thanh bằng cao (hoặc thanhngang) những từ mang dấu huyền là thanh bằng thấp (hoặc thanh huyền).Thanh trắc là những từ có các dấu sắc, nặng, ngã, hỏi Sau mỗi tiết tấu thanh

điệu bắt buộc là bằng hoặc trắc

Hình mẫu của các tác phẩm lục bát cổ điển đợc phối điệu nh sau:

t B t T t B

t B t T t B t B Trong đó B : bằng; T : trắc; t: tự do (bằng hoặc trắc), tiếng thứ sáu vàtiếng thứ tám của câu bát trong cùng là thanh bằng nhng cần có sự kết hợpchuyển đổi giữa bổng (thanh ngang) và trầm (thanh huyền)

c Đặc điểm về cấu tạo

Thơ lục bát cũng nh thơ nói chung, xét về mặt cấu tạo có những điểmkhác với câu văn xuôi

+ Điểm khác thứ nhất là câu văn xuôi thì dễ xác định thành phần, còncâu thơ, do đặc trng về vần, nhịp, tính nhạc … còn nên việc xác định thành phầngặp khó khăn hơn nhiều

Trang 25

+ Điểm thứ hai câu văn xuôi thờng có nhiều thành phần mở rộng nhtrạng ngữ, chú thích ngữ, tình thái ngữ… còn còn câu thơ do bị khống chế về sốlợng tiếng (nh thơ lục bát) nên ít có hiện tợng mở rộng thành phần phụ nhthế

+ Điểm thứ ba câu văn xuôi có trật tự các thành phần tơng đối ổn định

và khá rõ ràng (chẳng hạn: trạng ngữ - chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ), còn câuthơ, nhiều trờng hợp trật tự có thể thay đổi

Ví dụ: Rất đẹp ! hình anh lúc nắng chiều

Lom khom dới núi tiều vài chú

Những điều đó làm cho cấu trúc câu thơ không có đợc sự ổn định, rõràng nh câu văn xuôi Và khi tìm hiểu sự tỉnh lợc trong thơ cũng sẽ gây ranhững khó khăn cho chúng tôi trong việc nhận diện và phân tích

Trang 26

Chơng 2 Các kiểu câu tỉnh lợc trong thơ lục bát Việt Nam

(Trên t liệu Thơ mới 1932- 1945) 2.1 Nguồn t liệu dùng để khảo sát các kiểu câu thơ tỉnh lợc

Trong khoá luận chúng tôi đã khảo sát t liệu từ tuyển tập Thơ mới giai

đoạn 1932 - 1945, gồm những bài thơ và các tác giả sau:

STT Tên tác giả Tên tác phẩm Vị trí (từ

trang - trang)

Số lợng Câu Bài

1 Thế Lữ Tiếng sáo thiên thai 17-18 9

Mây vẫn ngây thơ 24-26 22Bông Hoa rừng 35-36 15Lời tuyệt vọng 58-59 12 7

208-209 24 15

Đêm trừ tịch 210-211 16Gió gác sơn Nam 213 6

Trang 27

Cã nhau 215 5Nh÷ng c¸nh th vµng 215-216 12

Hai tiªn n÷ nhí LuNguyÔn

HuÕ ®a t×nh 298-299 6B¨ng tuyÕt 307-309 33

Nam kú còng giã ma 379 10

7 Vò Hoµng Ch¬ng Bøc kh¨n mõng cíi 400-401 10

Trang 28

Con tµu say 419 6

CÆp hµi v¹n dÆm 481 6Bôi ma mê cò 510-511 6

Trang 29

chỉnh của cấu trúc câu Theo A Martinet : "Chủ ngữ là ngời bạn đờng thờng xuyên của vị ngữ" (Lê Xuân Thại, 1994, "câu chủ vị tiếng Việt", NXB khoa

học xã hội, Hà Nội)

Nguyễn Kim Thản trong công trình "Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt",

1997 tái bản, NXB giáo dục, Hà Nội cũng viết : "Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của mệnh đề (câu), là thành tố hạt nhân của thành phần câu" Nh vậy, chủ ngữ là thành tố mà nếu bị lợc bỏ sẽ ảnh hởng đến tính trọn

vẹn của câu

Chủ ngữ là thành phần chính của câu hai thành phần Chủ ngữ thờngnêu lên nhân vật, sự vật, sự việc, hiện tợng, chủng loại… cònCó quan hệ với vịngữ theo quan hệ với tờng thuật

b Đặc điểm

Chủ ngữ có biểu hiện phong phú về từ loại và về cấu trúc

- Về từ loại : Chủ ngữ có thể do danh từ, động từ, đại từ, số từ… cònđảmnhiệm

- Về cấu trúc : Chủ ngữ có thể là từ, cụm từ hay kết cấu

C- V đảm nhiệm

- Vị trí của chủ ngữ : Thông thờng chủ ngữ đứng trớc vị ngữ nhng domục đích tu từ vị ngữ có thể đảo lên trớc chủ ngữ (hiện tợng này khá phổbiến trong phong cách nghệ thuật)

c Khảo sát câu tỉnh lợc chủ ngữ

Trong số 109 bài thơ đợc viết theo thể lục bát chúng tôi thấy các tácgiả sử dụng câu tỉnh lợc chủ ngữ rất phổ biến Theo thống kê của chúng tôi

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1992) Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2 NXB giáo dục, Hà Néi Khác
2. Diệp Quang Ban (2002) Giao tiếp - văn bản - mạch lạc - đoạn văn, NXB KHXH, Hà Nội Khác
3. Phan Mậu Cảnh (2002) Giáo trình ngôn ngữ học văn bản, Đại học Vinh Khác
4. Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (1983) Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, NXB giáo dục, Hà Nội Khác
5. Huy Cận, Hà Minh Đức (1997) Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, NXB giáo dục Khác
6. Phan Huy Dũng (1994) Thiên nhiên nh một biểu hiện của cái tôi trữ tình trong Thơ mới, tạp chí văn học Khác
7. Đinh Trọng Lạc (1998) Phong cách học tiếng Việt, NXB giáo dục, Hà Néi Khác
8. Đỗ Thị KIm Liên (2002) Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, NXB giáo dôc Khác
9. Hoàng Trọng Phiến (1980) Ngữ pháp tiếng Việt (câu), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội Khác
10. Phạm Văn Tình (2002) phép tỉnh lợc và ngữ trực thuộc tỉnh lợc trong tiếng Viêt, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Kim Thản (1997 ,tái bản) Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, NXB giáo dục, Hà Nội Khác
12. Hoàng Tuệ (1990) Về vấn đề câu đơn hai thành phần, Ngôn ngữ 4 Khác
13. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2004) Thành phần câu tiếng Việt, NXB giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w