1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các từ chỉ không gian trong thơ hàn mặc tử

113 981 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Đức
Người hướng dẫn TS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 520,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây nhất, Phan Cự Đệ - đã bằng một cái nhìn tổng quan và khoa học, đã nêu bật những đặc điểmcủa ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử trên nhiều phơng diện, đặc biệt là tính nhạc, tínhchính xác tu

Trang 1

Trêng §¹i häc Vinh

Trang 2

Vinh.2002

Trang 3

Lời Nói ĐầU

Hàn Mặc Tử là một gơng mặt xuất sắc của nền văn học Việt Nam thế

kỷ XX Mặc dù cuộc đời ngắn ngủi, lại thêm bệnh tật hiểm nghèo nhng ông

đã thật sự để lại cho thi ca Việt Nam hiện đại một kho báu thơ Với một lối viết vừa kỳ lạ vừa hấp dẫn, Hàn Mặc Tử là ngời đầu tiên trong nền thơ ca Việt Nam biết vận dụng nhuần nhuyễn và đa chất Đạo vào thơ.

Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử hiện cha nhiều, Hàn Mặc Tử lại là một hiện tợng phức tạp Chính trong sự phức tạp

đó đã gây tò mò, hấp dẫn cho tác giả Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn bớc vào khám phá thế giới thơ Hàn Mặc Tử trên phơng diện từ ngữ chỉ không gian Một thế giới thơ có một không hai, không có bản sao mở ra vì thơ ông đ ợc tác hợp bởi tính trữ tình kết hợp với t duy tôn giáo trên cơ sở cái tôi cá nhân hiện đại Đó là nơi tất cả mọi ngời có thể đắm chìm, say sa tận hởng nhng cũng có khi không gian chỉ dành riêng cho hồn thơ dị biệt là Hàn.

Luận văn này mong đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử để thấy đợc sự cống hiến của nhà thơ cho nền thơ ca Việt Nam.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn T.S Phan Mậu Cảnh - ngời trực tiếp hớng dẫn khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, góp ý cho luận văn, các thầy giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại học Đại học Vinh, các bạn

đồng môn đã ủng hộ, giúp đỡ để luận văn hoàn thành.

Xin cảm tạ và biết ơn tất cả !

Vinh, tháng 11 năm 2002

Ngời thực hiện

Nguyễn Thị Thanh Đức

Trang 4

1.3 Vấn đề không gian và không gian trong thơ Hàn Mặc Tử 19

1.3.1 Khái niệm không gian nhìn từ các góc độ khác nhau 19 1.3.2 Lý giải các hiện tợng không gian trong thơ Hàn Mặc Tử

Mối liên hệ giữa không gian và thời gian 21

Chơng 2 Các đặc trng của từ ngữ chỉ không gian

trong thơ Hàn Mặc Tử 252.1 Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử 252.2 Đặc điểm từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử 26

Chơng 3 Các loại nội dung ngữ nghĩa biểu thị không gian 69

3.1 Các loại nội dung phản ánh liên quan đến không gian 69

3.1.1 Thiên nhiên - Ngôn ngữ của thiên nhiên trong không gian 70 3.1.2 Thời gian liên quan đến không gian 87 3.1.3 Tình yêu liên quan đến không gian 91 3.1.4 Thế giới tôn giáo liên quan đến không gian 97

3.1.5 Thế giới mộng liên quan đến không gian 1003.2 Một số hình ảnh tiêu biểu về không gian trong thơ Hàn Mặc Tử 103

Trang 5

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Không gian là một trong những hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật.

Đó là một phạm trù thẩm mỹ, nó không đồng nhất với không gian khách quan.Không có hình tợng nghệ thuật không tồn tại trong không gian của chủ thể sángtác Không gian gắn với những quan niệm nghệ thuật về con ngời, về thế giới củanhà thơ, nhà văn

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ có năng lực cảm thụ đặc biệt về thế giới Ông

đợc đánh giá là “một hiện tợng độc đáo của Thi ca Việt Nam thế kỷ XX” Cho

đến nay, thế giới nghệ thuật thơ “kỳ lạ, bí ẩn” trong nhà thơ này đang đợc chú ý

đặc biệt và đang mở ra những chiều hớng nghiên cứu thú vị

Hiện tợng Hàn Mặc Tử là hiện tợng đã và đang đợc nghiên cứu nhng cáccông trình mới chỉ là “dấu gạch nối”, “một hớng tiếp cận”, “bớc đầu”, “gópphần” Do vậy, việc nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử càng trở nên bức thiết Đặc biệt

là trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp cận tác phẩm văn chơng dới góc độ ngônngữ đang là một vấn đề lý thú và đem lại nhiều kết quả cả về mặt lý luận lẫn thựctiễn giảng dạy và nghiên cứu

Hàn Mặc Tử làm thơ để hoá thân vào thơ, để đợc tắm mình trong “trăng,hoa, nhạc, hơng” (4 yếu tố của thi ca) Đặc biệt nhất, thơ ông luôn tràn trề khônggian, từ không gian đời thờng đến không gian huyền bí, “rớm máu”, vĩnh hằngngàn đời của vũ trụ Tuy nhiên, vấn đề này hiện nay cha có một công trìnhnghiên cứu nào đợc xem là thấu đáo Vì vậy, với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ,chúng tôi mạnh dạn tiếp cận vấn đề mới mẻ này mong đóng góp một phần nhỏtrên hành trình tìm đến câu trả lời cho “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” từ phơng diệnngôn ngữ

2 Đối tợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu.

2.1 Đối tợng.

Luận văn tập trung khảo sát, tìm hiểu các từ ngữ chỉ không gian trong thơHàn Mặc Tử Đó là không gian thiên nhiên, không gian tởng tợng, không giantâm lý - tâm trạng trong toàn bộ các tập thơ đã in của ông

2.2 Nhiệm vụ

2.2.1 Xác định không gian nh một phạm trù thẩm mỹ của nghệ thuật biểuhiện thi ca - một phạm trù cho phép lý giải những quan niệm nghệ thuật của chủthể sáng tác với những quan niệm về thế giới trên tinh thần mới của ngôn ngữhọc và thi pháp học hiện đại

2.2.2 Nêu các đặc điểm về hình thức cấu tạo của các loại từ ngữ chỉ khônggian trong thơ Hàn Mặc Tử

2.2.3 Chỉ ra các nội dung phản ánh thông qua các từ ngữ chỉ không gian

đó và một số loại không gian tiêu biểu trong thơ Hàn Mặc Tử

Trang 6

2.2.4 Trên cơ sở hình thức, nội dung, chúng tôi rút ra một số kết luậnchung về cách sử dụng các từ ngữ chỉ không gian đó.

2.3 Các t liệu đợc khảo sát trong luận văn gồm: sáu tập thơ, hai vở kịch

thơ và một tập thơ văn xuôi đợc tập hợp trong các tài liệu:

- Hàn Mặc Tử - Tác phẩm, phê bình và tởng niệm (Phan Cự Đệ - NXBGiáo dục - Hà Nội - 1998)

- Thơ Hàn Mặc Tử (Mã Giang Lân tuyển chọn và giới thiệu - NXB Vănhoá - Thông tin - Hà Nội - 2001)

- Hàn Mặc Tử một đời thơ (Thi Long - NXB Đà Nẵng - 2000)

- Hàn Mặc Tử thơ và đời (Lữ Huy Nguyên su tầm và tuyển chọn - NXBVăn học - Hà Nội - 2000)

3 Lịch sử vấn đề.

3.1 Những ý kiến đánh giá về thơ Hàn Mặc Tử.

Ngay từ lúc mới ra đời, ngôi sao Hàn Mặc Tử đã toả sáng trên thi đàn ThơMới nh một hiện tợng kì dị Đơng thời, ông là “Con Rồng của nhóm Tứ linh”,

“Vị Chúa của Trờng thơ Loạn”, gơng mặt tiêu biểu cho thơ ca lãng mạn tợng trng

ở Bình Định Ông là ngời đã tích hợp đợc nét cổ kính của Đờng thi, những tinhhoa văn mạch truyền thống của dân tộc với vẻ đẹp lộng lẫy kiêu sa của thơ lãngmạn, tợng trng Pháp thế kỷ XIX

Hơn nửa thế kỷ từ khi Hàn Mặc Tử qua đời, có nhiều đánh giá khác nhau

về thơ ông: ngời khen cũng lắm, kẻ chê bai cũng không phải là ít và thật lắm kẻkhông hiểu Cũng thật dễ hiểu bởi vờn thơ của ngôi sao mọc sớm Hàn Mặc Tử

“vốn rộng rinh không bờ bến, càng đi xa, càng ớn lạnh” Do vậy, kịch tính củahiện tợng Hàn Mặc Tử diễn ra ngay từ lúc sinh thời của thi sĩ và ngày càng căngthẳng

Năm 1931, Phan Bội Châu khi đọc đợc ba bài thơ (Chùa hoang, Gái ở chùa, Thức khuya) của Hàn Mặc Tử đăng ở "Thực nghiệp dân báo" đã tấm tắc

khen ngợi “cha gặp bài nào hay đến thế”, “ớc ao có ngày gặp gỡ, bắt tay nhau cời

to một tiếng để thoả hồn thơ đó”, và viết luôn ba bài thơ hoạ vận lại với nhà thơ

Đờng trẻ tuổi

Năm 1936, với tập “Gái quê”, Hàn Mặc Tử khoác một dung nhan lạ lẫmkhác thờng chính thức ra mắt sàn diễn Thơ Mới khiến d luận xôn xao Đặc biệtkhi “Trờng thơ Loạn” và tập “Thơ Điên” xuất hiện thì giới nghiên

cứu không thể không để ý tới hiện tợng này Tác giả “Thi nhân Việt Nam” nhậnxét: “Tôi đã nghe ngời ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm Có ngời bảo Hàn Mặc

Tử, thơ với thẩn gì! Toàn nói nhảm Có ngời còn nghiêm khắc hơn nữa: “Thơ gì

mà rắc rối thế! Mình tởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nólừa mình.”(47 - tr.196)

Trang 7

Xuân Diệu trong báo “Ngày nay” số 122 xuất bản năm 1938, viết bài “Thơcủa ngời” có lẽ cũng nhằm ám chỉ phủ nhận thi sĩ Trờng thơ Loạn này: “Đi rangoài đời lại hoá ra vẫn ở trong đời, thì thà rằng lúc đầu tiên ta đừng tự phụ chicả, cứ việc ở trong đời và tạo nên những cung điện Thực vô cùng đẹp đẽ bằngnhững vật liệu Thực của trần gian”.

Năm 1940, khi thi sĩ tài hoa này qua đời thì Làng thơ Việt Nam, giớinghiên cứu phê bình và công chúng yêu thơ chợt bừng tỉnh Những lời ca tụngthiên tài Hàn Mặc Tử của những thi hữu cùng thời xuất hiện; đó là các bài viếtcủa Bích Khê, Chế Lan Viên, Hoàng Trọng Miên, Quách Tấn, Trần Tái Phùng,Trần Thanh Địch

Chế Lan Viên khẳng định một cách quyết liệt: “Tử là một thiên tài Tử mớichính thật là thiên tài trên cái nghèo kém của đất nớc này”

Trọng Miên coi Hàn Mặc Tử là một thiên tài, một nguồn thơ tân kỳ làmbằng máu, bằng lệ, bằng hồn với tất cả sự say sa rung động của một ngời hoàntoàn đau khổ Cõi thơ của Hàn Mặc Tử chính là chốn “Vờn mơ”, “Bến tình”, màngời thơ đi trong “Mơ ớc”, “Huyền diệu”, “Sáng láng” và vợt hẳn ra ngoài “Hlinh” Theo Trọng Miên, cái giá trị của Hàn Mặc Tử là đã sáng tạo ra một sự rung

động mới lạ và truyền mạnh sâu sắc cho những đời sau

Sau khi nhà thơ đi về cõi vô thờng, viết nhiều về Hàn Mặc Tử có ba họcgiả sáng giá là Trần Thanh Mại (Hàn Mặc Tử thân thế và thi văn - 1941), Hoài

Thanh - Hoài Chân (Thi nhân Việt Nam - 1942) và Vũ Ngọc Phan (Nhà văn

hiện đại - 1942).

Từ sau 1945-1975, do nhiều lí do nên trên văn đàn phía Bắc ít nhắc đếnHàn Mặc Tử, ở miền Nam Việt Nam lại diễn ra tơng đối có quy mô ở miềnNam, trong vòng bốn năm từ 1967-1971, liên tiếp các bài viết về Hàn Mặc Tử ra

đời trong đó có hai số đặc biệt về Hàn Mặc Tử trên bán nguyệt san Văn

Từ khi đất nớc thống nhất cho mãi đến 1987, các công trình nghiên cứu vềHàn Mặc Tử lần lợt xuất hiện trở lại Chế Lan Viên day dứt với câu hỏi tởngchừng nh rất dễ “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” (1987); Yến Lan (1988) tha thiết nói

về “đạo và đời” trong thơ của thi sĩ; Vũ Quần Phơng đi đến khẳng định Hàn Mặc

Tử là “một hiện tợng kỳ lạ trong thơ Việt” trong cuộc cách mạng thi ca đầu thếkỷ

Đặc biệt, ngời ta chú ý ba công trình của các tác giả Phan Cự Đệ, Vơng TríNhàn, Trần Thị Huyền Trang đã giới thiệu tơng đối đầy đủ về thơ Hàn Mặc Tửcũng nh các ý kiến đánh giá về thơ anh qua các thời kỳ

Riêng Đỗ Lai Thuý (1992) xuất phát từ ngôn ngữ thơ và bản chất sáng tạocủa thi nhân đã làm một hành trình giải mã tác phẩm Hàn Mặc Tử Từ đó, ông đa

ra mô hình sáng tạo của ngời thi sĩ tài ba này khá hợp lí và có sức thuyết phụccao Đó là “T duy tôn giáo kết hợp nhuần nhuyễn với chất trữ tình trên cơ sở cáitôi cá nhân hiện đại”

Trang 8

Gần đây, ngời ta chú ý nghiên cứu Hàn Mặc Tử trên nhiều phơng diện, lẩy

ra những vấn đề cốt lõi nổi trội trong thơ Hàn và vẫn tiếp tục làm cái công táctổng kết cũng nh dự báo về vấn đề đang tranh luận

Nói chung, tất cả các vấn đề giới nghiên cứu đề cập cũng nhằm khẳng

định Thơ và con ngời thơ Hàn Mặc Tử - một hồn thơ dị biệt, kỳ lạ trong làng thơViệt Nam

3.2 Những ý kiến đánh giá về ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử.

Về vấn đề này, đã có nhiều bạn thơ của Hàn Mặc Tử cũng nh các nhànghiên cứu đánh giá nh: Chế Lan Viên, Quách Tấn, Trần Thanh Mại, Vũ NgọcPhan, Hoài Thanh

Thơ Hàn Mặc Tử trớc hết đợc đánh giá ở cách sử dụng từ ngữ Hàn Mặc

Tử hay sử dụng từ Hán - Việt Xuất hiện trên thi đàn lần đầu tiên là bằng thể thơ

Đờng luật Thơ Đờng luật của Hàn Mặc Tử đợc Phan Bội Châu đánh giá là rất tềchỉnh, đăng đối, rõ ràng, hoạ vận thơ một cách chững chạc Không chỉ mới ra

đời, Hàn Mặc Tử sau này cũng hay sử dụng từ Hán - Việt trong các tác phẩm thơcủa mình

Trong thơ Hàn Mặc Tử có nhiều hình ảnh và ngôn từ lấy trong KinhThánh Những nhà nghiên cứu đã cất công lý giải hiện tợng này trong thơ HànMặc Tử nh: Trần Thị Huyền Trang, Đặng Tiến, Yến Lan

Thơ Hàn Mặc Tử thờng sử dụng những từ, cụm từ quen thuộc, dân dã, gầngũi với ngời Việt Nam Về điểm này, Mã Giang Lân khẳng định Hàn Mặc Tử làmột tài năng (25 - tr.327) Trong hành trình làm mới thơ cũng nh ngôn ngữ thơ caViệt Nam, Hàn Mặc Tử còn đợc đánh giá: “Nếu đợc kể tên mời nhà thơ tiếngViệt (chữ Nôm) đợc biết tới, tôi dám kể Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,Nguyễn Du, và cuối cùng là Hàn Mặc Tử.” (Nguyễn Quân) Tác giả đã khám phá

“cô láng giềng bên chết thật rồi”, “áng mây buồn ở trong khe”, “chị ấy năm naycòn gánh thóc”, “tiếng hờn trong luỹ tre”, một cô gái “ống quần vo xắn lên đầugối” Ngôn từ mà ông sử dụng khi thì gần với Tú Xơng ở kể sự đời thờng, việc

vắt nh Nguyễn Khuyến, Tản Đà Ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử vừa cổ điển

vừa tân kỳ, nó đặc sắc ở chỗ “ngũ quan” và “tứ chi” của ngời thơ không táchbạch ra đợc khỏi hồn và phách, ý và tứ thơ

Vơng Trí Nhàn lại tìm thấy "vẻ đẹp kỳ dị" rất hiện đại của ngôn ngữ thơHàn Mặc Tử ở chỗ thành thực quá, "những câu thơ gợi nhục cảm","nhiều câu thơbuột ra nh một sự dứt bỏ, tự giải phóng"(50, tr.246-250) Gần đây nhất, Phan Cự

Đệ - đã bằng một cái nhìn tổng quan và khoa học, đã nêu bật những đặc điểmcủa ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử trên nhiều phơng diện, đặc biệt là tính nhạc, tínhchính xác tuyệt diệu của ngôn từ đến mức không thể thay thế (20, tr.29-30)

3.3 Những ý kiến bàn về không gian trong thơ Hàn Mặc Tử.

Trang 9

Không gian trong thơ Hàn Mặc Tử là một phạm trù thẩm mỹ phản ánh cáinhìn của tác giả về thế giới và con ngời.

Đã có một số ý kiến bàn về không gian trong thơ Hàn Mặc Tử, đó là cáctác giả: Trần Thị Huyền Trang, Vũ Ngọc Phan, Vơng Trí Nhàn, Phan Cự Đệ Tr-

ớc hết, đó là không gian của thiên nhiên vũ trụ Thiên nhiên tơi đẹp, trong sáng

tuyệt đích là nơi Hàn Mặc Tử có thể gửi gắm tâm sự cũng nh “thoát li ra ngoàithế giới” “Trăng, hoa, nhạc, hơng” là những yếu tố thi ca, những mô-típ chủ đạo

để Hàn Mặc Tử thể hiện ớc mơ, làm nên thế giới lí tởng trong thơ ông (Chơi trên trăng).

Ngời ta cũng đã nói đến không gian vĩnh hằng ít nhiều mang màu sắc tôn

giáo trong thơ Hàn Và mùa xuân là phong vị thái hoà của năm muôn năm, mùaxuân xán lạn, thơm tho tràn ngập không gian: Xuân nh ý, Ra đời, Điều lạ, Xuân

đầu tiên.

Trong thơ Hàn Mặc Tử, tồn tại không gian tởng tợng Đó là những tởng

t-ợng về Chúa, về Tôn giáo, về tình yêu không có thực của anh tạo nên không gian tâm tởng, thậm chí là siêu thực.

Ngoài ra, còn có không gian tâm lí - tâm trạng, có khi là trong một giấc

mơ, khi thì là một hoài niệm, là cử chỉ yêu say, là cảm nhận về cuộc đời bi thảm.Vì vậy, trong “Đau thơng”, ta gặp một không gian “rớm máu” Đó là không gian

“bủa vây, thù nghịch” mà thi sĩ muốn quên đi, muốn xoá đi (Van lạy không gian xoá những ngày) Và nh vậy, không gian trở thành một nỗi ám ảnh “đáng

nguyền rủa”: Tôi doạ không gian rủa tới cùng khi mà chắp tay tôi lạy cả miền không gian không còn có ý nghĩa gì nữa.

5 Cái mới của đề tài.

Không gian đã đợc nghiên cứu ở các nhà thơ khác (Nguyễn Du, Huy Cận,

Tố Hữu.) còn với Hàn Mặc Tử thì đây là chuyên luận đầu tiên đề cập một cách

có hệ thống các từ ngữ, các ý nghĩa về không gian

Trang 11

Là một thể loại văn học nẩy sinh từ rất sớm trong đời sống con ngời, thuộcphơng thức biểu hiện trữ tình, thơ gắn liền với sự rung động, với cảm xúc tơimới, trực tiếp của cái tôi trữ tình trớc mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp của cuộc

đời Có thể nói, bản chất của thơ ca rất đa dạng, phong phú và nhiều biến thái

Thơ tác động đến ngời đọc vừa bằng nhận thức cuộc sống, vừa bằng khảnăng gợi cảm sâu sắc; vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ vừagián tiếp qua liên tởng và tởng tợng phong phú; vừa theo những mạch cảm nghĩ,vừa bằng sự rung động của ngôn ngữ giàu nhạc điệu Chính vì những phẩm chấtkhác nhau đó của thơ mà đã có nhiều quan niệm, nhiều cách lý giải khác nhau vàthậm chí đối lập về bản chất của thơ ca

Khuynh hớng thứ nhất thần thánh hoá thơ ca, cho thơ là một cái gì đóthuộc về thần linh tối cao, huyền bí, do Thợng đế sáng tạo ra và nhập vào con ng-

ời Platon xem bản chất thơ thể hiện trong linh cảm - những cảm xúc thiêng liêngnhất giữa thế giới linh thiêng cao xa và thế giới con ngời; nhà thơ là ngời có nănglực cảm nhận đặc biệt và có thể biểu đạt chúng

Khuynh hớng thứ hai là khuynh hớng hình thức chủ nghĩa, xem bản chấtthơ thuộc về những nhân tố hình thức So với các loại hình văn học nghệ thuậtkhác, thơ tự bộc lộ mình bằng chính ngôn ngữ của đời sống một cách trực tiếp,không có sự hỗ trợ nào của các sự kiện, cốt truyện, tình huống Từ tiếng nóiquen thuộc của đời sống, ngôn ngữ thơ ca đã tạo thêm cho mình những năng lựcmới rất kì diệu và họ đi đến khẳng định : thơ là sáng tạo ngôn ngữ, là tổ chức kếtcấu

Khuynh hớng thứ ba gắn sứ mệnh và bản chất thơ với xã hội, hoạt

động thơ ca là hoạt động t tởng Thơ là tiếng nói tình cảm nhng tình cảm phảigắn trực tiếp với một chủ đề t tởng nào đó Theo “Khái niệm về nghiên cứu vănhọc”(NXB Cao Đẳng, Matxcơva, 1976), t tởng chủ đề là t duy của nhà văn nhàthơ về các tính cách xã hội đã đợc miêu tả trong tác phẩm T duy này thể hiện ởchỗ nhà văn nhà thơ chia cắt và làm mạnh thêm những mặt bản chẩt của tínhcách xã hội, mặt khác, quan hệ của các tính cách đợc miêu tả xuất phát từ thếgiới quan đã từng thực sự tồn tại Không có cuộc sống, không có thơ

Những quan niệm trên tuy đã có khác nhau nhng đã có chú ý làm rõ bảnchất của thơ ca và vai trò của con ngời trong sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên vềcơ bản, những quan niệm trên vẫn cha nêu lên đợc đặc trng riêng biệt của thơ ca

Cách chúng ta hơn 1.500 năm, theo Bạch C Dị, các yếu tố then chốt tạonên thơ phải là: “Cái cảm hoá đợc lòng ngời chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm,chẳng gì đi trớc đợc ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắcbằng ý nghĩa Với thơ gốc là tình cảm, mầm lá, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa

(Th gửi Nguyên Chẩn) Nh vậy, theo lý thuyết Bạch C Dị thì thơ vừa có nội dung

(tình cảm, ý nghĩa) vừa tơng đơng với phơng diện hình thức (ngôn ngữ, âmthanh) và mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa chúng - giữa gốc rễ, mầm, lá, hoa, quả tựa nh một “cây thơ” hoàn chỉnh và sống động

Trang 12

Lịch sử nghiên cứu và phê bình văn học đã đợc chứng kiến rất nhiều địnhnghĩa về thơ Theo chúng tôi, cách định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học có thể xem là

chung nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâmtrạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là

có nhịp điệu ”(21 - tr.254)

1.1.2 Những đặc trng cơ bản của ngôn ngữ thơ.

Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệthuật Vì vậy ngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, nghĩa là “ngôn ngữmang tính nghệ thuật đợc dùng trong văn học”, mang những đặc trng chung là

“tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm” (21 tr.183)

-Là một thể loại văn học, cũng nh ngôn ngữ của các tác phẩm trữ tình khác,ngôn ngữ thơ đợc tổ chức trên cơ sở nhịp điệu, hết sức cô đọng hàm súc và đặcbiệt gợi cảm; cụ thể hơn, nó đợc hiểu là một đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữpháp nhằm biểu trng hoá, khái quát hoá hiện thực khách quan theo cách tổ chứcriêng của thơ ca

1.1.2.1 Về ngữ âm.

Đặc điểm nổi bật về ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là đặc trng tínhnhạc Trong thơ, việc tổ chức các phơng tiện ngữ âm rất đợc chú ý Thế giới nộitâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn cả âmthanh, nhịp điệu: các thành tố tham gia tạo nên nhạc thơ gọi là “tham số thanhhọc của ngôn ngữ”

Nếu nh văn xuôi thờng kiêng kỵ lặp đi lặp lại các phơng tiện ngữ âm thì ởthơ sự lặp đi lặp lại trở thành một thủ pháp nghệ thuật; ở đây, tính tơng đồng củangôn ngữ đợc dùng để xây dựng thông báo Các biện pháp tu từ: đối, điệp, láy,lặp tạo nên nhạc tính là nét khu biệt để tự khẳng định mình của ngôn ngữ thơ

ca so với văn xuôi

Nhạc tính đem lại sự duyên dáng, sang trọng, khoái cảm thẩm mỹ cho thơ:

“Câu thơ và vần có một cái duyên mà thậm chí khi lời, ý dở, nhà thơ vẫn có thểquyến rũ ngời nghe bằng nhịp điệu và sự cân đối” (Isokratés - dẫn theo NguyễnPhan Cảnh - 7 - tr.133)

Vần và nhịp cũng góp phần quan trọng tạo nên tính nhạc cho ngôn ngữ thi

ca Các văn bản ngôn ngữ, đặc biệt thơ chủ yếu đợc xây dựng bằng hệ lựa chọn;vần sẽ tạo nên nhịp điệu cho thơ, liên kết các dòng thơ và tạo nên hiện tợng hoà

âm trong thơ

Trang 13

Chính tính nhạc của ngôn ngữ thơ đã đa thơ ca xích lại gần với âm nhạc.Vần điệu, tiết tấu đợc tạo thành bởi các nguyên âm, phụ âm; thanh điệu bằng -trắc, bổng - trầm, vang - tắc sẽ không những làm cho câu thơ vang lên tiếng nhạc

kỳ diệu mà còn lan toả giữa các câu thơ, dòng thơ và lên toàn bộ bài thơ Trongthơ ca Việt Nam hiện đại, nhiều bài thơ đã đợc các nhạc sĩ phổ nhạc và chính

nhạc thơ kết hợp với nhạc nhạc đã làm nên những rung động diệu kỳ, lay động

hàng triệu triệu trái tim con ngời

1.1.2.2 Về ngữ nghĩa:

Phùng Khắc Khoan trong “Bài tựa ngôn chí thi tập” đã từng khẳng định:

“Cái gọi là thơ đâu phải chỉ đùa lời dới ngòi bút mà thôi ” Khác với văn xuôi

và ngôn ngữ giao tiếp thông thờng, ở địa hạt thơ, mỗi từ, ngữ khi đa vào sử dụng

đều hoạt động rất linh hoạt và đa dạng, chữ và nghĩa trong thơ mang những giátrị khác ngoài giá trị biểu niệm Về điều này, văn xuôi ít khi đợc chú ý bởi nókhông giới hạn về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ còn trong thơ tuỳ theo từngthể loại với những áp lực cấu trúc khác nhau nên việc lựa chọn từ ngữ bao giờcũng đợc đặt lên hàng đầu Thực tế nghiên cứu cho thấy có nhiều từ, ngữ khi đivào thơ ngoài nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó, qua bàn tay tài năngcủa nhà thơ bỗng mở ra những ý nghĩa mới tinh tế hơn, đa dạng hơn, hấp dẫn hơnnhiều Đó chính là nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay còn gọi là nghĩa biểu trng củangôn ngữ thơ ca

Quá trình chuyển nghĩa này trong thơ diễn ra nh một đặc trng khu biệt nóvới các loại hình nghệ thuật khác, làm cho thơ ca có một sức cuốn hút kỳ lạ đốivới ngời đọc, ngời nghe mọi thời đại Tiếp nhận văn học, đặc biệt là tiếp nhận thơkhông phải là sự tiếp nhận bằng mắt, bằng tai mà quá trình ấy diễn ra nh một tác

động kép Bởi ngời đọc, ngời nghe không chỉ để nghe đọc mà còn tiếp nhận bằngcảm xúc, bằng tình cảm, bằng trí tởng tợng tức bằng tâm thế của một ngờitiếp nhận sáng tạo trên một văn bản thơ cụ thể Điều này chứng tỏ ngôn ngữ thơkhông chỉ là phơng tiện để giao tiếp, để giãi bày đơn thuần mà còn cho phép ngờisáng tạo và ngời tiếp nhận gặp nhau ở một tầng nghĩa cao hơn; khi đó, ngôn ngữthơ “là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ Đó là cái vợt ra ngoài giớihạn.” (Ôcxtaviôt Pat)

Thơ ca là “ý tại ngôn ngoại”, là dồn nén chữ nghĩa, là cái biểu đạt và cái

đợc biểu đạt đã xâm nhập chuyển hoá vào nhau, cùng nhau đẩy thơ lên một tầngnghĩa cao hơn Khoảng không ngữ nghĩa của ngôn ngữ thơ ca là vô tận vì vậymuốn khảo sát thơ chúng ta phải có một trí tởng tợng phong phú, kinh nghiệmdồi dào Chính vì điều này mà ngôn ngữ thơ ca luôn luôn là địa hạt tơi mới,lung linh, hấp dẫn cho hành trình của loài ngời đi tìm những thế giới nghệ thuậtthơ

1.1.2.3 Về ngữ pháp.

Nếu cho rằng thơ “là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản” thì sự

“quái đản” đó đợc thể hiện rất rõ ở bình diện ngữ pháp của thơ

Trang 14

Trớc tiên, đó là sự phân chia các dòng thơ Trong thơ, ranh giới giữa câuthơ và dòng thơ không hoàn toàn trùng nhau; có những câu thơ bao gồm nhiềudòng, có dòng lại bao gồm nhiều câu, các thành phần trong dòng, trong câu hay

bị đảo lộn trật tự, các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự nh bình thờng và

điều này hoàn toàn không xẩy ra với câu văn xuôi Đặc điểm này thể hiện rất rõqua hiện tợng vắt dòng trong thơ ca Việt Nam hiện đại

Trong thơ, các dòng, các vế câu, các ý nhiều khi trông qua hình nh không

có mối liên hệ logic gì với nhau, nhiều khi trái ngợc nhau về logic lập luận, thậmchí có khi thật “phi lý” nhng ngời đọc vẫn hiểu đợc mạch ngầm các ý trong câu,hiểu đợc sự ẩn náu ngữ nghĩa đằng sau tầng cấu trúc ngữ pháp tởng nh không lýgiải đợc để tạo nên một sự hợp lý nhất định có thể chấp nhận đợc, và “vờn cấm”này chỉ dành riêng nhất cho thơ

Những kết hợp không bình thờng trong kiến trúc dòng thơ diễn ra rất đadạng và phức tạp Có khi một dòng thơ chứa nhiều câu thơ, có khi một dòng lạichỉ là một vế câu Do vậy, nhà thơ có thể sử dụng đa dạng những kiểu câu “bấtbình thờng”: câu chỉ một âm tiết đến nhiều âm tiết, câu tách biệt, câu vắt dòng,câu trùng điệp, đảo cú không những không làm ảnh

hởng đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản mà còn mở ra những chântrời ngữ nghĩa mới

Từ những đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp nh vậy, ta thấy, ngônngữ thơ quả là một thứ ngôn ngữ nghệ thuật rất đặc thù, bởi nó không chỉ là sảnphẩm thể hiện tài năng của ngời sáng tác mà còn là đối tợng đợc lựa chọn khôngkém phần gắt gao để tiếp tục sáng tạo của ngời thởng thức Ngôn ngữ thơ có khảnăng diễn đạt những tình ý sâu xa không chỉ qua việc lựa chọn từ ngữ mà còn cảcách kết hợp chúng, tạo nên những khả năng vô cùng trong việc sáng tạo cũng

nh khám phá những trạng thái tình cảm, tinh thần vô cùng phong phú, bí ẩn củacon ngời

1.2 Hàn Mặc Tử - ngôi sao lạ thế kỷ XX.

1.2.1 Những nét chung về cuộc đời.

Ngày 22.9.1912, tại một làng quê nhỏ bé xinh đẹp ven biển Đồng Hới Quảng Bình, cậu bé Hàn Mặc Tử với tên khai sinh Nguyễn Trọng Trí kèm thánhdanh là Pièrre (tên thánh rửa tội) sau đổi thành Franỗois Xavier (tên thánh thêmsức) đã cất tiếng khóc chào đời trớc sự mừng vui khôn xiết của những ngời thân.Cậu bé ấy đã lớn lên từng ngày trong sự thơng yêu đùm bọc của mẹ là bà NguyễnThị Duy - một ngời đàn bà xứ Huế hiền lành, trung hậu, chịu thơng chịu khó,cùng với bố là Chủ sự Thơng chánh Nguyễn Văn Toản và ba ngời anh, chị củamình Đó là một gia đình ngoan đạo, nền nếp

-Sau khi ngời cha yêu quí qua đời vì bệnh nặng, gia đình Hàn Mặc Tửchuyển vào Quy Nhơn Do muốn con theo đuổi sự nghiệp công danh gia đình đãgửi Hàn Mặc Tử ra Huế học tại Trờng dòng Pellerin, một trong những trờng nổitiếng nhất ở Huế

Trang 15

Năm 1930, thôi học ở Huế, Hàn Mặc Tử chuyển về Quy Nhơn, học ở đây

ba năm, làm thơ và lấy bút hiệu là Phong Trần Vào làm ở Sở Đạc điền một độnhng sau bị đau rồi mất việc Mùa thu năm 1935, Hàn Mặc Tử thôi việc ở đó vàcũng do thất vọng về mối tình đầu với Hoàng Cúc, anh vào Sài Gòn làm báo theolời mời của bà chủ bút ở đó, Hàn gặp gỡ với rất nhiều bạn thơ Đổi bút danh là

Lệ Thanh rồi Hàn Mặc Tử

Năm 1936, Hàn Mặc Tử gặp Mộng Cầm và tình cảm giữa họ ngày càngthắm thiết; nhng đến cuối năm, khi bệnh có nặng thêm đôi phần, Hàn Mặc Tử

đành phải chia tay Mộng Cầm và trở về Quy Nhơn

Suốt sáu năm cuối đời, Hàn Mặc Tử sống trong sự đau đớn hành hạ về thểxác và sự mâu thuẫn vò xé tinh thần Mộng Cầm đi lấy chồng, Mai Đình ghéthăm thì trốn, Thơng Thơng cũng chỉ là một cái bóng mơ hồ trong mộng Hụthẫng trong cảm giác bị ngời tình bỏ rơi, cộng với mặc cảm bệnh tật và nỗi cô đơnkhủng khiếp, nhà thơ gần nh rơi vào trạng thái cuồng loạn

triền miên Tởng chừng trời đất sụp đổ tình bạn đích thực trong cảnh ngộ sángngời đã dìu Hàn từ chỗ tuyệt vọng trở về với niềm hy vọng lành bệnh và xoa dịucõi lòng tan nát của anh Các tập thơ, kịch thơ, thơ văn xuôi lần lợt ra đời đểgiải thoát, cứu rỗi cho một tâm hồn, một con chiên ngoan Đạo khi “máu cuồngrền vang dới ngòi bút” trong một “không gian rớm máu”; khi mà thực, mộng đãlẫn lộn đến không ngờ

Khi biết mình sắp phải bớc vào cuộc hành trình vô tận, chàng gác hẳnchuyện văn chơng, bình tĩnh sắp xếp mọi vấn đề cần thiết, nhẹ nhõm xem đó là

“ngỡng cửa phải bớc qua để đi đến cõi vĩnh viễn”

Ngày 11/11/1940, ngời bệnh tên Nguyễn Trọng Trí, số thứ tự 1134 trong

sổ ghi danh sách bệnh nhân của bệnh viện phong Quy Hoà, nhập viện cha trònhai tháng đã qua đời Oái oăm thay, cớp chàng khỏi cuộc sống xanh tơi khôngphải là bệnh phong mà là chứng kiết lị đột khởi Phút ra đi của nhà thơ mỏng hơnmột làn khói, không ai hay Chỉ có tiếng đọc kinh cầu nguyện thơng tiếc cho mộtlinh hồn của những ngời bạn đồng bệnh Gia đình cha biết Bạn bè ở xa

Một cây thánh giá gỗ cắm trên một nấm mộ đắp điếm đơn sơ, dới một gốcphi lao, không khói hơng, không một nhành hoa tiễn

1.2.2 Những nét chính về nghiệp thơ.

Hàn Mặc Tử bắt đầu làm thơ và làm thơ xớng hoạ với anh trai mình từnăm mời lăm tuổi (1926) Lúc này, Hàn Mặc Tử - nhờ ngời anh trai Nguyễn BáNhân dìu dắt tận tình, đã làm thơ Đờng luật với bút danh Minh Duệ Thị, bớc vàolàng thơ một cách vững vàng trớc sự ngỡ ngàng, kinh ngạc của những ngời xungquanh

Trang 16

Với hi vọng phát triển một tài năng, mẹ và anh trai đã gửi Trí ra Huế học.Anh nhanh chóng thích nghi với Huế yên ả, trữ tình Ngoài thời gian học, anhdành nhiều thời gian thăm thú mọi nơi Cái ảnh hởng của Huế, nhất là ngôn từ, làphong cảnh nên thơ, là không gian yên bình sau này trong thơ anh đợc thể hiệnrất rõ Khi Mộng Du thi xã của cụ Phan tổ chức cuộc thi thơ, Hàn Mặc Tử liềngửi mấy bài dự thi (ký tên Phong Trần) và chiếm ngay giải nhất Hàn Mặc Tử nổitiếng từ đó và nhất là khi đợc cụ Phan - nhà chí sĩ yêu nớc thanh danh lừng lẫyhoạ thơ và đề cao.

Năm 1931, thơ Hàn có mặt trên các báo Phụ Nữ Tân Văn, Lời Thăm, Tiếng Dân với một phong vị Đờng luật đặc biệt làm xôn xao làng thơ “Văn kỳ

thanh bất kiến kỳ hình”, tài năng ẩn mặt Hàn Mặc Tử khi thì ký tên là PhongTrần, khi thì ký tên là P.T Quy Nhơn càng làm cho mọi ngời hồi hộp, tò mò

Với một tài năng đặc biệt, Hội Nhà Tây Du học đã giới thiệu và ghi tênanh vào danh sách những ngời đi du học Pháp Nhng cuối năm 1931, anh ra Huếthăm ông già Bến Ngự Phan Bội Châu, bị mật thám Pháp theo dõi và xoá têntrong danh sách đó Nghiệp thơ đến với anh lại càng nh một định mệnh!

Năm 1932, Hàn làm việc tại Sở Đạc điền Quy Nhơn Công việc tơng đốinhẹ nên anh dành nhiều thời gian cho việc đọc sách, làm thơ đến nỗi bạn bè gọi

đùa anh là “thằng nghiện sách” Cũng vào thời gian này, anh quen Quách Tấn.Rồi Hoàng Cúc và Mộng Cầm là hai nguồn cảm hứng dạt dào nhất lúc này chothơ anh

Cũng trong thời gian này, phong trào Thơ Mới do cụ Phan Khôi khởi xớng

nh một cơn bão tác động mạnh mẽ ngời thanh niên xứ biển này Một chân trờimới lạ đang mở ra trớc mắt nhng anh vẫn còn ngần ngại Mãi đến tháng 6.1934,khi Lu Trọng L - ngời chủ trơng Ngân Sơn tùng th ở Huế vào diễn thuyết tại Hội

học Quy Nhơn để bênh vực cho Thơ Mới thì lúc đó Hàn Mặc Tử mới thật sựchọn Thơ Mới làm phơng tiện chính để diễn tả tình cảm của mình và bắt đầu gửibài đăng ở một vài tờ báo Sài Gòn và Huế Rồi anh đợc mời vào Sài Gòn làm chủbút Từ đó, bên cạnh một nghiệp báo, anh trau dồi sáng tác Thơ Mới và khôngquên song hành sáng tác thơ cách luật Để phù hợp với tâm trạng hiện thời củamình, anh đổi bút danh mới rất con gái: Lệ Thanh và cho ra đời những bài thơsau này in trong “Lệ Thanh thi tập”

Cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử bắt đầu phát hiện ra bệnh, anh thôi làm báo.Gặp Yến Lan, Hoàng Diệp, Nguyễn Viết Lãm, Nguyễn Minh Vỹ, Chế Lan Viên

ra tập “Nắng xuân” và lập Trờng thơ Loạn, tuyên ngôn là tựa Điêu tàn Từ đó,các tập thơ “Gái quê”, “Thơ điên” (sau gọi là Đau thơng) lần lợt ra đời Tiếngtăm của Vị Chúa Trờng thơ Loạn, con Rồng trong nhóm Tứ linh càng đợc bayxa

Thơ của Hàn Mặc Tử có sáu tập Ngoài ra còn có hai vở kịch thơ: Duyên

kỳ ngộ, Quần tiên hội, một tập thơ văn xuôi: Chơi giữa mùa trăng và trên dới 24

bài thơ khác cha in vào tập.

Trang 17

Lệ Thanh thi tập với phần lớn là những bài thơ Đờng luật, đợc sáng tác

trong thời gian Hàn Mặc Tử theo học ở Huế Thơ Hàn giai đoạn này chủ yếunghiêng về tức cảnh, cảm khoái, ngâm vịnh, thể hiện nỗi niềm u thời mẫn thế:

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.

(Thức khuya) Gái quê (xuất bản năm 1930) là khi Hàn Mặc Tử đã bớc sang địa hạt Thơ

Mới, là tập thơ khẳng định thiên tài thơ ca Hàn Mặc Tử Lời thơ duyên dáng,cảnh quê, tình quê gắn với những hình ảnh không gian và sự vật quen thuộc:nắng mới, tre già, vờn cau, vạt da, vờn cam, bóng trăng, hơng gió ; gợi cảm nhất

là bóng dáng một “gái quê”, một tình yêu nhẹ nhàng, trong sáng Những hình

ảnh thơ qua cách sử dụng ngôn từ rất riêng đã thể hiện đợc vẻ “nồng nàn, lả lơi,rạo rực, đầy hình ảnh khơi gợi” (47 - Tr.198) trong không gian thơ rất quê nhngcũng rất tân thời

yêu đơng, đau khổ, vui buồn, hờn giận càng tăng thêm vẻ kỳ lạ cho t duy nghệthuật thơ Hàn Chính tài năng xuất chúng lúc bấy giờ đã tạo cho thơ anh một thếgiới nghệ thuật dị biệt, những hình tợng độc đáo, những cảm giác ám ảnh siêuthực và một quan niệm mĩ học có phần cực đoan “Trăng, hồn, máu” thấm đẫmtrong thơ Hàn

le từng phút nhng lời thơ vẫn trong trẻo, thần tiên Lúc này, không gian trần tụchoàn toàn đợc rũ bỏ Thay vào đó là không gian cao sang của cõi tiên với bóngtrăng ngà, tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân cùng một giai nhântuyệt mỹ trong mộng - nàng Thơng Thơng

năng và một bản lĩnh dị thờng của Hàn Mặc Tử Đó là một thế giới mới mà ngờithơ ngây ngất, mơ màng nh đến đợc “nớc Nhợc non Bồng” ở đó, nhà thơ đợchoàn toàn tự do để “yêu”, để “chơi”, để “chiêm bao”, để hát “khúc ly tao” và

để nói lên “quan niệm thơ” của một tâm hồn hoàn toàn tinh sạch

Điểm quan trọng trong thơ Hàn Mặc Tử còn là chất Đạo hoà quyện vàothơ Là một tín đồ Thiên Chúa giáo, kết hợp với những t tởng giáo lý nhà Phật chất Đạo trong thơ Hàn là “nguồn sáng để nhà thơ tinh luyện tạo nên màu sắclộng lẫy cho thơ mình” (25 - tr.17)

Có thể có một cái nhìn tổng thể về thơ Hàn Mặc Tử nh Mã Giang Lân đãtừng tổng kết:

Trang 18

“Thơ Hàn khởi đầu là Đờng luật phơng Đông tiến nhanh đến thơ hiện đạiphơng Tây Thơ Hàn khởi đầu là cảm hứng hiện thực vơn sang lãng mạn, nhậpvào tợng trng siêu thực lại trở về lãng mạn Thơ khởi đầu là nỗi niềm non sông

đất nớc, vờn tợc, đồi quê, dân dã, rồi hớng tới Chúa Jêsu, trời Đao ly, Đâu Suất,

ba ngàn thế giới Và quan trạng vinh quy với bút Xuân thu Cuối cùng là Thợng

đế, Cung Quế, Quảng Hàn với những tiên nữ cõi Đào Nguyên Thơ Hàn khởi đầu

là hình ảnh hoài niệm dân gian, ngôn ngữ bình dị rồi bừng nở trong sắc màu hiện

đại.” (25 - tr.18)

1.2.3 Thơ Hàn Mặc Tử trong thơ ca Việt Nam hiện đại.

Thế kỷ XX - thế kỷ của nhiều sự kiện và biến động chính trị lớn lao, là thế

kỷ mà lịch sử Việt Nam và thế giới bớc sang những trang mới và cũng là thế kỷ

mà văn học Việt Nam có những thành tựu và chứng kiến những đổi thay rất đặcsắc

Phong trào Thơ mới xuất hiện năm 1932 với những tiếng thơ của Thế Lữ,

Lu Trọng L, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng

Ch-ơng cùng Hàn Mặc Tử với các tập thơ của mình, đã đa thơ ca Việt Nam lên một

đỉnh cao mới, đáp ứng phần nào lòng khát khao tự do cá nhân của ngời đọc đang

ớc mơ một cuộc sống thoải mái hơn, thích hợp hơn với thời đại mới

“Cha bao giờ và cha ở đâu nh các nhà “Thơ mới”, thâm cung bí hiểm củanội tâm đợc thăm dò ở nhiều tầng bậc nh vậy Sức mạnh của “tiếng nói nội tâm”

đã phá vỡ những rào cản của ngôn ngữ cũ để da ra những nhịp điệu mới làm biến

đổi cả ngôn từ, thể thơ và các phơng tiện biểu hiện khác” (48 - tr.149) Góp phầnlàm nên cái “thời đại thi ca” đó, Hàn Mặc Tử là một gơng mặt tiêu biểu, đã xuấtsắc hoàn thành sứ mệnh thi nhân của mình

Xét ở khía cạnh trữ tình, chỉ so với những ngời cùng thời thì thơ Hàn Mặc

Tử đã có nhiều khác lạ Nếu Thế Lữ, Lu Trọng L, Nguyễn Bính là những nhà thơlãng mạn thuần khiết; Huy Cận, Xuân Diệu lãng mạn có pha chút tợng trng thìHàn Mặc Tử là sự hoà sắc của cả lãng mạn, tợng trng thậm chí là siêu thực nữa

Hàn Mặc Tử trớc hết là một nhà thơ lãng mạn Bởi ngay từ lúc mới ra đời,thơ Hàn Mặc Tử đã có những bài “nhẹ nhàng gợi cảm nh thơ Thúc Tề, chân thực

nh thơ Nguyễn Bính”, nhng anh khác xa họ ở chỗ “nồng nàn, lả lơi, rạo rực, đầyhình ảnh khơi gợi”(Hoài Thanh) Nhà thơ không truyền thẳng cảm xúc của mìnhtới ngời đọc mà bằng bản thân ngôn ngữ, thức dậy thứ năng lợng tiềm tàng - kểcả bản năng, ở mỗi ngời, vì thế, khơi gợi hơn, tránh áp đặt:

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Đợi gió đông về để lả lơi Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!

(Bẽn lẽn)

Trang 19

Thơ Hàn Mặc Tử khác các nhà thơ khác ở chỗ không cần truyền cảm nhngrất gợi cảm, vừa kín đáo lại vừa lộ liễu theo kiểu phơng Đông: “nằm sóng soãi”,

“ngây tình”, “lả lơi”, “hồi hộp” khác với lối nói trực tiếp nh

Xuân Diệu (“Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực! Hãy trộn nhau đôi mái tócngắn dài! Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai ”) Chẳng cần miêu tả, nhkhông hề xúc cảm mà ngời đọc vẫn nhận ra những trộn lẫn cảm xúc của nhàthơ qua sự lung linh kết hợp các yếu tố ngôn ngữ Cảm xúc gợi lên từ những tínhiệu ngôn ngữ, nhờ liên tởng, cứ lan ra, toả ra nh những làn sóng

Hàn Mặc Tử mơ ớc một “xuân thiêng”, “xuân nh ý” ra đời Mùa xuân vớiHàn Mặc Tử luôn là mùa xuân của tôn giáo, vợt lên, bao trùm vạn vật Đó là mộtthế giới mới, thế giới Phục Sinh, Khải Huyền của đạo Thiên Chúa, phảng phấtkhông khí thần tiên của Đạo giáo, tôn nghiêm của Phật giáo Có thể nói, HànMặc Tử là ngời Việt Nam đầu tiên và cũng là duy nhất từ trớc tới nay đa chất

Đạo vào thơ Chất Đạo trong thơ Hàn là những nguồn ánh sáng để nhà thơ tinhluyện tạo nên màu sắc lộng lẫy cho thơ mình Chính nhờ chất Đạo mà thơ HànMặc Tử vừa có vẻ đẹp của văn hoá phơng Tây lại vừa có vẻ đẹp của văn hoá ph-

ơng Đông Trần Tái Phùng cho thơ Hàn có “một mùi vị thơm tho, bồi bổ tinhthần, khơi nguồn từ trên suối tiên của lời ca thợng cổ trong Kinh Thi, trong KinhDịch của á Đông hay trong Thánh Kinh Cựu ớc và Tân ớc của phơng Tây.”(Hàn Mặc Tử) Cũng chính nhờ chất Đạo trong thơ mà Hàn Mặc Tử dễ dàng đi giữa

hai bờ “thực” và “mộng”, “Hồn lìa khỏi xác” là một minh chứng cho điều đó: khithì hồn bay vùn vụt tới trăng sao, khi thì hồn trở về với hạ giới - đau khổ, cô đơn

Chỉ ở Hàn Mặc Tử mới có “t duy tôn giáo kết hợp nhuần nhuyễn với chấttrữ tình trên cơ sở cái tôi cá nhân hiện đại” (48 - tr.159) Điều này, thứ nhất, đãlàm cho những yếu tố tợng trng, cổ điển của thơ Đờng, tợng trng của tôn giáo,lãng mạn, siêu thực vốn rời rạc, không quan hệ với nhau trớc đây trở thành mộtcấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh: “trời bình an nguyệt bạch, đờng trăng xa, ánhsáng tuyệt vời bay, hơng quý trọng thấm trong mây”(Đêm xuân cầu nguyện)

Thứ hai, chính trên cơ sở cái tôi cá nhân hiện đại đợc kết hợp độc đáo màcái nhìn về con ngời của Hàn Mặc Tử cũng trở nên sâu hơn, rộng hơn, bao quáthơn, thậm chí cao linh hơn: “Nụ cời nh tiếng vỡ pha lê”, “Bóng ai theo dõi bóngmình”, “Bóng nàng yêu tinh”

Thứ ba, chính nhờ chất trữ tình, lãng mạn cộng với yếu tố siêu thực và tôngiáo đã làm cho thơ Hàn Mặc Tử mang tính huyền bí và đẻ ra những hình tợngtân kỳ, ít ai sánh kịp: “Lụa trời ai dệt với ai căng Ai thả chim bay đến QuảngHàn Và ai gánh máu đi trên tuyết Mảnh áo da cừu ngắm nở nang ”

Với Hàn Mặc Tử, “trăng, hoa, nhạc, hơng” luôn là những đối tợng thẩm

mỹ thờng trực để nhà thơ cất lên những khúc khải hoàn ca về thiên nhiên và cuộc

đời Nhà thơ bị thiên nhiên mê đắm, bị buộc phải thốt ra thànhlời, thậm chí có lúc “nàng đánh tôi đau quá” - nhà thơ nói thế và không còn

Trang 20

cách nào hơn là phải rên lên thống thiết (“Phan Thiết! Phan Thiết”) Và khi đó,thơ Hàn Mặc Tử tràn ra, vọt ra, bất ngờ nh lũ về, tràn qua những đập ngăn của lýtrí, của những quy phạm của thi pháp cổ điển Một cảm giác thăng hoa mãnh liệt:

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút Mỗi lời thơ đều dính não cân ta Bao nét chữ quay cuồng nh máu vọt

Nh mê man chết điếng cả làn da

(Hãy nhập hồn em)

Ngôn ngữ thơ cũng rất độc đáo, không giống ai, thậm chí còn rất gợi:

- Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu

Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

Lộ cái khuôn vàng dới đáy khe.

1.3 Vấn đề không gian và không gian trong thơ Hàn Mặc Tử.

1.3.1 Khái niệm không gian nhìn từ các góc độ khác nhau.

Không gian theo quan niệm triết học là một phơng thức (hình thức) tồn tạicủa vật chất Không một vật chất nào có thể tồn tại ngoài không gian và thờigian

Các nhà khoa học (đặc biệt là các nhà vật lý học) khi nghiên cứu khônggian đã xem xét không gian theo ý nghĩa về vị trí của một vật hay một sự kiện, và

họ thấy rằng không gian tợng trng cho một tập hợp các toạ độ hoặc các mốc, tạothành một hệ thống cơ động các quan hệ, lấy căn cứ từ một

Trang 21

điểm, một vật thể, một trung tâm nào đó, toả ra theo x chiều, trong thực tế, quy

về ba trục, mỗi trục có hai hớng: đông tây, bắc nam, thiên đỉnh thiên để; hoặc cũng còn là: phải - trái, trên - dới, trớc - sau; thêm vào đó là yếu tốthời gian, dùng làm thớc đo chuyển động (trớc đó - trong lúc đó - sau đó) và đotốc độ (hơn - bằng - kém) Nh vậy, không gian là biểu trng chung của môi trờng,

-ở bên ngoài hay bên trong, mà bất kỳ một sinh thể nào, cá thể hay tập thể, đềuhoạt động trong đó

Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) thì không gian (dt) là

“khoảng mênh mông, vô hạn bao trùm sự vật” (53 - tr.499) Một cuốn từ điểnkhác định nghĩa: “không gian (dt) là hình thức tồn tại của vật chất (cùng với thờigian) trong đó các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau, cái nọ ở cách cái kia”(54 - tr.511)

Theo Từ điển biểu tợng văn hoá thế giới: “Không gian (espace), gắn với

thời gian là nơi chứa đựng những gì có thể xảy ra - theo ý nghĩa đó, nó tợng trngcho trạng thái hỗn mang của các gốc nguồn - vừa là nơi chứa đựng những gì đãthực hiện - khi đó nó tợng trng cho vũ trụ, cho thế giới đã đợc tổ chức luônmang lại kết quả là trật tự mới không lờng trớc đợc” (12 - tr.486) Nh vậy, khônggian là một khoảng rộng vô biên, không có nơi bắt đầu cũng không có nơi kếtthúc, không biết đâu là trung tâm, bành trớng theo mọi chiều, tợng trng cho cáivô tận mà trong đó vũ trụ của chúng ta xoay vần Không gian bao gồm toàn bộ

vũ trụ trong đó chứa đựng mọi tiềm năng và mọi cái đã hiện thực hoá Không chỉquanh chúng ta, ở đâu đó mọi việc có thể diễn ra Ngày nay, cùng với trình độphát triển nh vũ bão của các ngành khoa học, khoa học văn học cũng không nằmngoài guồng quay đó và không gian cũng là một đối tợng quan trọng đợc nghiêncứu nh những phạm trù thẩm mỹ khác

Thi pháp học xem không gian nghệ thuật là “hình thức tồn tại của thế giớinghệ thuật” (41 - tr.88), “là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện conngời và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” (41 - tr.89) Lúc này, không gian thể hiện quan niệm về trật tự thế giới và sự lựachọn của con ngời thông qua những mô hình không gian và cách sử dụng ngônngữ tạo nên không gian đó Vì vậy, không gian theo quan niệm của thi pháp họcmang đầy tính biểu trng và tính quan niệm, tất cả các cặp đối lập không giantrong thế giới đều có nội hàm của riêng nó Chẳng hạn, “không gian tởng tợng”của Hàn Mặc Tử với những biểu trng nh “trăng”, “gió”, “trời Đâu Suất”, “kheNgọc Tuyền” hay “không gian huyền thoại” trong “Lâu đài” của F Kafka vớicác biểu trng nh “con đờng”, “ngã ba”, “ga tàu” đều có thể là những hình tợngkhông gian giàu ý nghĩa

Nói tóm lại, không gian là một đối tợng của nhiều ngành khoa học,

mỗi ngành có những phơng pháp, mục đích nghiên cứu khác nhau nên kết quảnghiên cứu không gian cũng rất đa dạng Khoa nghiên cứu ngôn ngữ học xem xétkhông gian với t cách là một phạm trù nghệ thuật, vì vậy nó mang đầy tính quanniệm và tợng trng

Trang 22

1.3.2 Lý giải các hiện tợng không gian trong thơ Hàn Mặc Tử Mối liên

hệ giữa không gian và thời gian.

1.3.2.1 Con ngời là một thực thể đa chiều ở Hàn Mặc Tử, cái thực thể ấylại càng đa chiều hơn bởi anh không chỉ mang bản chất sinh học và bản chất xãhội nh bao ngời, anh còn mang sứ mệnh một thi nhân và “chất thi nhân” tronganh còn “đa chiều” hơn so với các nhà thơ khác - đơng thời, trớc và sau đó Thơanh vừa có cái “chân chân chân, thật thật thật lại còn đi với ảo ảo ảo nữa” (50 -tr.127) Nói nh Đỗ Lai Thuý, ở Hàn Mặc Tử là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa

“tính trữ tình”, “t duy tôn giáo” và “cái tôi cá nhân hiện đại” khiến anh trở nên

độc nhất vô nhị

Và vì thế, không có lý do gì, không gian - một phạm trù nghệ thuật thểhiện tính quan niệm của nhà thơ trong thơ Hàn Mặc Tử lại không đa chiều nhchính bản thân nhà thơ suốt đời vì nghệ thuật, với những tác phẩm đích thực đợckết tinh bởi hồn, máu và thân xác cuộc đời nhà thơ

Nếu có một ai đó khao khát chiếm lĩnh không gian (Huy Cận chẳng hạn)thì Hàn Mặc Tử lại có những ứng xử hơi khác Anh hoà mình vào không gian vớimột cái nhìn vừa trân trọng chiêm ngỡng, vừa ve vuốt mơn trớn Thiên nhiênvới anh là ngời bạn thân tình, là hoạ điệu của hồn anh Một con ngời không mấychút ồn ào ấy trong thơ cũng rất “tĩnh” , “tĩnh” mà “động” đến tinh tế, bất ngờ:

ánh trăng mỏng quá không che nổi Những vẻ xanh xao của mặt hồ Những nét buồn buồn tơ liễu rủ Những lời năn nỉ của h vô.

(Huyền ảo)

Dờng nh nhà thơ không làm một động tác gì hơn là “gợi” Bằng nhữngtính từ đợc động hoá, tác giả đã gợi cho ngời đọc một cảm giác về sự mongmanh, “buồn buồn”, “xanh xao”, chùng lại của sự vật, dờng nh cả thế gian đang

bị tan loãng

Ngời ta thờng nói tới “không gian nội tâm” - nơi tợng trng cho toàn bộtiềm năng của con ngời trên con đờng hiện thực hoá từng bớc, cho toàn bộ ýthức, vô thức và những gì có thể xảy ra mà không lờng trớc đợc Hàn Mặc Tử làcon ngời của “thời đại mới” nên “không gian nội tâm” của anh cũng mang t tởngcủa thời đại Bên cạnh đó, Hàn còn có kẻ thù

đáng nguyền rủa là bệnh tật, nhng anh vẫn đón nhận nó một cách bình thản,Chúa đã tạo ra nh vậy, đó là cán cân số mệnh đặt ở đâu đó trong không gian,dành cho anh và mỗi lúc một dồn trọng lợng về phía anh Vì thế, anh luôn muốn:

“Ghì lấy đám mây bay Rình nghe tình bâng khuâng trong gió lảng” Bởi thế,ngay cả khi nghĩ về cái chết, anh cũng tạo cho mình một thế giới, một khônggian thơ mộng, đẹp xiết bao!

Một mai kia ở bên khe nớc ngọc

Trang 23

Với sao sơng, anh nằm chết nh trăng

(Duyên kỳ ngộ)

Hàn Mặc Tử đã dựa trên ý nghĩa của những thế liên kết bí ẩn trong khônggian và bằng những kết hợp ngôn ngữ độc đáo để tạo cho mình một thế giới tởngtợng thanh thoát vô cùng Không gian ở đây đã vợt ra khỏi tính toán của mọiphép tính, thi sĩ là ngời có thể thiết kế và xây dựng thế giới theo quy luật riêngcủa mình trớc cái hữu hạn của thời gian và cái vô hạn của không gian

Không phải ngẫu nhiên mà thiên nhiên trở thành một nét tơng quan chungthuỷ thanh thoát ở trong thơ Hàn Theo anh, vầng trăng hay bất kỳ cái gì thuộc

về thiên nhiên cũng có thể là những tợng trng của một thế giới kỳ ảo, huyền bí.Mặc dù chúng có thực đấy, nhng một khi đã đi vào thơ Hàn thì chính nhà thơcũng không thể ngăn nổi sức tởng tợng của mình Chính điều này đã làm nên mộtthế giới thơ thuần khiết của riêng anh

Khi tan biến vào thiên nhiên thì những cảm giác về không gian của anhcũng trở nên hoang tởng, siêu thực:

Rủ rê, rủ rê hai đứa vào rừng hoang Tôi lợm lá trăng làm chiếu trải

(Rợt trăng)

Hãy xem, cái thiên thể cầm nhịp cho sự sống của loài ngời dới cặp mắt

đau thơng nhng cũng rất sinh động của nhà thơ:

Trăng tan tành rơi xuống một cù lao

(Phan Thiết! Phan Thiết!)

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

(Một nửa trăng)

Một ngời dù điềm tĩnh đến mấy, nếu phải sống trong trạng thái: “Anh rõtrớc sẽ có ngày cách biệt Ngó tuy gần nhng vẫn thiệt xa khơi” thì không thểtránh khỏi những khủng hoảng đau đớn về mặt tinh thần Hàn Mặc Tử đã biếtdọn cho mình một thế giới riêng trớc khi từ giã

Một tâm trạng hoàn toàn đau khổ, anh đã “bị thơ làm”, thơ đa anh đến tậncùng “những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi Trời cách biệt”

Trang 24

Theo anh, thơ là “một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thơng nhớ, ao ớctrở lại với trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thuỷ vô chung, với những hạnh phúcbất tuyệt” (Quan niệm thơ), còn nhà thơ là ngời “say sa đi trong mơ ớc, trong

huyền diệu, trong sáng láng và vợt ra hẳn ngoài h linh.” (Tựa Thơ điên); vì vậy,

nhà thơ mặc sức tởng tợng, mặc sức ngắm nghía đắm chìm vào thiên nhiên, vàokhông gian bao la ngàn đời của vũ trụ, trong đó có Chúa Đó chính là nguyênnhân của những trạng huống không gian khác nhau trong thơ Hàn Mặc Tử: khithì trong sáng, thuần khiết nh vốn có, khi lại siêu thăng cảm xúc nên lãng mạn, t-ợng trng, siêu thực trong Hàn đợc diễn đạt theo cách riêng của anh, không theoquy luật không gian - thời gian khách quan, không thể hiện một quá trình nhậnthức

1.3.2.2 Khó mà hiểu hết đặc điểm trong quan niệm về thế giới và con ngờicủa một nhà văn nhà thơ nếu không tìm hiểu không gian nghệ thuật và thời giannghệ thuật trong sáng tác của họ Không gian, cũng nh thời gian, là hình thức tồntại của con ngời Khó mà hiểu đợc con ngời sống nh thế nào, thiên nhiên sinh tồn

ra sao nếu không hiểu đợc không gian và thời gian tồn tại của nó

Trong thơ Hàn Mặc Tử, không gian và thời gian nghệ thuật là những phạmtrù thẩm mỹ, đợc xuất hiện từ những cảm xúc chân thật của chính con ngời anh,chúng có mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng và thống nhất: Nếu đó là không gianthiên nhiên thì xuất hiện thời gian tuần hoàn ngàn đời của vũ trụ, nếu đó làkhông gian của tởng tợng thì lại xuất hiện thời gian ảo của khổ đau

Không gian và thời gian trong thơ Tử thống nhất với nhau đến nỗi nếu lơ

đễnh cái này thì cái kia có thể tuột mất: “Lửa bởi trời sắp tuôn xuống đốt rụi cảthế gian và không gian Mau mau vồ lấy trăng sao, kẻo môt mai rơi rụng vào hlãng” (Kêu gọi).

Xuất phát từ những trạng huống cảm xúc khác nhau, ở mỗi tập thơ, ta lạithấy những cách biệu hiện không gian và thời gian khác nhau

ở giai đoạn phát khởi, thơ Hàn Mặc Tử thiên về tức cảnh, cảm khái, ngâmvịnh nên không gian thờng là có thực và thời gian thờng là cụ thể, tình ý cũngthật đẹp đẽ thơ mộng:

Đêm ấy trăng thu vui vẻ lạ Ngời ta cời nói đến nhân duyên

(Tình thu)

Nhng từ Thơ điên trở đi, bắt đầu xuất hiện không gian - thời gian “rớm

máu” Đó là không gian và thời gian mà nhà thơ muốn quên đi, muốn xoá đi tấtcả:

Tôi doạ không gian rủa tới cùng Tôi giết thời gian trong nắm tay Tôi vo tiếc mến nh vo lụa

(Chơi trên trăng)

Trang 25

Đến tập Xuân Nh ý, anh lại mơ ớc một mùa xuân với những phong vị thái

hoà, xán lạn, thơm tho, “tứ thời xuân” Khi đó, thơ Hàn xuất hiện thêm khônggian và thời gian vĩnh hằng ít nhiều mang màu sắc tôn giáo Chỉ có không gian -thời gian vĩnh hằng mới có thể đem lại cho Hàn Mặc Tử cái vẻ “huy hoàng, sangtrọng, đẹp một cách lạ lùng nh rới vào hồn một nguồn sáng láng” (Hoài Thanh).Chỉ với Hàn Mặc Tử, phép thần diệu của không gian và thời gian mới có thể thựchiện đợc Nhà thơ có thể có thể thay đổi trật tự không gian (mải vui tìm cánh hoa trên cách bớm, bọc trăng vàng trong áo, trăng mọc dới nớc Huyền Vi ), t-

ởng tợng ra không gian (bến sông trăng, non tiên, gánh máu đi trên tuyết, trời

đất ứa sơng khuya ), quay ngợc quá khứ cũng nh bớc tới tơng lai chỉ trong tích

tắc (là ta đây đơng ở kiếp muôn chim Trở lại trời tu luyện với muôn đêm ),

đặc biệt còn có những từ vừa biểu thị ý nghĩa không gian vừa biểu thị ý nghĩathời gian (trăng thu, gió chiều, trời xuân, ánh ngọc hừng đông, đêm trăng, bóng trời khuya, ).

Có thể thấy, trong thơ Hàn Mặc Tử, những cặp tơng quan không gian thời gian xuất hiện dày đặc, “không gian là thời gian trờng tồn, thời gian làkhông gian đang lần bớc” (U Spéski) Sự kết dính hai yếu tố nghệ thuật này làmột trong những phơng diện quan trọng làm nên tính chất độc đáo trong thơ anh,

-đánh dấu trình độ chiếm lĩnh thế giới dị biệt của nhà thơ tài hoa trong làng thơViệt Nam

Chơng 2 Các Đặc trng của từ ngữ chỉ không gian

trong thơ Hàn Mặc Tử

2.1 Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử.

Trang 26

Không gian là một mảng hiện thực khách quan và tất yếu, nên trong cácngôn ngữ đều có cách thể hiện và nhận diện nó Có thể nói, trong bất kỳ ngônngữ nào cũng có những thực từ gọi tên các sự vật - không gian hoặc những trạngthái cảm nhận về không gian.

2.1.1 Sau đây, chúng tôi sẽ đi vào khảo sát các từ ngữ chỉ không giantrong thơ Hàn Mặc Tử và không gian ấy đợc phân thành hai loại:

- Không gian hữu hình (thực)

- Không gian vô hình (mộng)

Nếu xem không gian vô hình là những tởng tợng về Chúa, về Tôn giáo, vềnhững thế giới mộng ảo, huyền bí không có thực thì không gian hữu hình lànhững sự vật khách quan vốn có quen thuộc tồn tại xung quanh chúng ta hoặc nó

có trong nhận thức của ta và ta có thể tri nhận đợc

Qua khảo sát thống kê, phân loại, tổng hợp về các từ ngữ chỉ không giantrong thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi đã có những kết quả thu đợc nh sau:

1785694

64,6 %35,4 %

72,1 %27,9 %

2.1.2 Xem xét số lợng từ ngữ chỉ không gian trong mỗi tập thơ của HànMặc Tử, chúng tôi có bảng tổng kết sau:

32,8 (%)

12,4 (%)

6,3 (%)

2,8 (%)

8,4 (%)

0,8 (%)

13,1 (%)

100 (%)

Mộng

(Tởng tợng) 2,5 1,1( 41,8 14,8 6,5 1,9 8,4 0,6 22,4 100 (%)

Trang 27

13,3 (%)

6,4 (%)

2,5 (%)

8,4 (%)

0,7 (%)

16,3 (%)

100 (%)

Qua bảng thống kê ta thấy:

Tập Thơ điên chiếm tỷ lệ từ ngữ chỉ không gian thực nhiều nhất và cũng

tập thơ có từ ngữ chỉ không gian mộng nhiều hơn tất cả Do đó, tỷ lệ từ ngữ chỉkhông gian nói chung trong tập thơ này chiếm vị trí cao nhất 35,9% trong tổng

số 9 tập thơ đợc khảo sát

Kế đó là tập thơ văn xuôi Chơi giữa mùa trăng - một tập thơ đợc đánh giá

cao Mặc dù, nó cha đợc nhiều công trình nghiên cứu nhng là tập thơ góp phầncho ta hiểu thêm một tâm hồn thơ dị biệt Hàn Mặc Tử Một tỷ lệ : 16,3% từ ngữchỉ không gian trong đó không gian mộng chiếm ≈ 2/3 đã chứng minh cho thếgiới thơ kỳ lạ, bí ẩn trong con ngời thơ Hàn Mặc Tử

Tập thơ ít từ chỉ không gian nhất là Quần tiên hội, chỉ chiếm 0,7% trên

tổng 100% của 9 tập thơ Không gian thực - mộng có tỉ lệ gần bằng nhau Đây làmột trong hai vở kịch thơ dang dở của anh khi mộng ảo nàng Thơng Thơng biếnmất

Để thấy đợc cái nhìn vừa toàn diện, vừa cụ thể về các từ ngữ nói trên,chúng tôi xin đi vào khảo sát từng loại từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc

(Cửa sổ đêm khuya)

Neo thả biết đâu nơi định trớc

Bèo trôi nớc giợn sóng mênh mông.

(Đi thuyền)

Trang 28

Số từ đa âm tiết chỉ chiếm: 12,9% Đó hầu hết là những từ đợc kết hợp từhai âm tiết có nghĩa, tạo sự kết dính, hoà quyện (hoặc đông cứng) rất tình tứtrong không gian: trời đất (thiên địa), núi non, non nớc, núi sông (sơn hà), mây nớc, nớc mây, trăng sao, hoa gió, gió hoa, hoa trăng, trăng hoa, hơng hoa, hoa hơng, gió hơng, hoa bớm, hoa chim, sao sơng, sơng khói, mây ma, mây khói, hoa lá, bến bờ

Ví dụ:

Trăng sao đắm đuối trong sơng nhạt

Nh đón từ xa một ý thơ

(Đà Lạt trăng mờ) Trăng lên nớc lặng, tre la đà

Nh vậy, từ đa tiết ở không gian vô hình lại chiếm tỉ lệ cao hơn từ đơn tiết

Điều này ngợc lại với từ chỉ không gian hữu hình Đây là đỉnh cao của ngôn ngữthơ Hàn Mặc Tử, minh chứng cho “vờn thơ rộng rinh” đã bớc những bớc chânvững chãi sang bến bờ của tợng trng, siêu thực và làm nên những kỳ tích ở đó

Xin dẫn dụ một số từ: thiên đàng, cõi Đào Nguyên, xác trăng, nguồn trăng, nguồn ơn, nguồn khoái lạc, lối Thiên Thai, hơng quý trọng, hơng

báu, cõi thơm tho, cõi tâm t, hoa phẩm tiết, mạch sầu, màu vĩnh viễn, màu

ảo não, cầu Ô Thớc, dải Ngân Hà, vờn yêu, ở Phợng Trì, khe Ngọc Tuyền, bến

Mê Hà, chân Bàn Thạch, nơi bất giác, trong im lặng, trời tơng t, tiếng nhạc thần, vũng trăng, vũng hồn, chốn xa xôi,

Ví dụ:

Bao giờ ai hóng hơn hơng báu Ngoài cõi tâm t sẽ lỗi nghì (Nói tiên tri) Thơm tho bay cho đến cõi Thiên Đàng.

(Thánh nữ đồng trinh Maria) Hao hao nh nờng nguyệt cõi Đào Nguyên.

(Phan Thiết! Phan Thiết!) Mới hay cõi siêu hình cao tột bậc (Siêu thoát)

Trang 29

Chỉ chiếm tỉ lệ là 3,2%, nhng từ đơn tiết chỉ không gian mộng (tởng tợng)

lại đợc biểu hiện rất đa dạng, đó là các từ: hồn, máu, trăng, hoa, nhạc, mơ, mộng, thần, tiên, âm, xứ, thuyền, sông, nớc, suối, khe, vũng

Chuyện lên cung trăng với chuyện xuống âm

(Chiêm bao với sự thật) Gió rít tầng cao, trăng ngã ngửa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

(Say trăng)

2.2.1.3 Có khi không gian thực và không gian mộng lẫn lộn, đan cài nhờnhững kết hợp ngôn ngữ:

Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu

Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ

Trăng sao đắm đuối trong sơng nhạt

(Đà Lạt trăng mờ)

⇒ Trời = cảnh thực huyền mơ

Nớc hoá thành trăng, trăng hoá nớc Lụa là ớt đẫm cả trăng thơm

Ngời trăng ăn vận toàn trăng cả

(Say trăng)

⇒ Nớc = trăng

Sông? Là một dải lụa, là một đờng trăng trải chiếu vàng, hai bên

bờ là động cát và rừng xanh Chị tôi và tôi đồng cầm một mái chèo con, nhẹ nhàng lùa những dòng vàng trôi trên mặt nớc (Chơi giữa mùa trăng)

Từ Hán - Việt, từ trong Kinh Thánh, Kinh Thi, Kinh Phật

2.2.2.1 Từ thuần Việt là những “từ vốn có từ lâu đời, làm thành vốn từvựng cơ bản của tiếng Việt” (57 - tr.394) Đó là “những từ đợc nhân dân ta dùng

từ thời thợng cổ đến nay” (52 - tr.187) Phan Ngọc cho rằng: từ thuần Việt có thểkhông phải là “những từ do chính bản thân ngời Việt tạo ra ” và khẳng định:

“bất kỳ từ nào đơn tiết cũng là từ thuần Việt”

Trang 30

Rất nhiều bài thơ sử dụng toàn từ thuần Việt, nh bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

và nhiều bài thơ khác trong tập Thơ điên:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vờn ai mớt quá xanh nh ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đờng mây Dòng nớc buồn thiu, hoa bắp lay

Một không gian rất thơ mộng, rất gần gũi với ngời Việt Nam Không gian

ấy có địa điểm cụ thể là thôn Vĩ, có khung cảnh chung là mảnh vờn, có nhiều

những nhân tố để tạo nên một “cơ thể hoàn chỉnh, sống động” - không gian là :

“trăng”, “nớc”, “mây”, “sông”, “thuyền”, “bến” nớc, “hàng cau”, “lá trúc”, “hoabắp” Những từ này xuất hiện lần lợt theo thời gian theo một trờng nghĩa chỉkhông gian, ví nh những bộ phận không thể thiếu trong một cơ thể

Hơn thế nữa, không gian ấy có khi còn rất “quê”, rất Việt, ví nh nhiều bài

ở trong tập Gái quê:

ánh nắng lao xao trên đọt tre Gió nam nh lửa bốc tứ bề

Môi khô cha nếm mùi son phấn

Khao khát, trời ơi, bụm nớc khe.

ánh nắng lao xao trên đọt tre Tiếng ca lanh lảnh trong vờn me Tiếng ca im bặt Rồi thấp thoáng Vạt áo màu nâu hiện trớc hè

(Quả da)

Chỉ có ngời Việt mới cảm nhận hết tiếng “lao xao trên đọt tre” của

“nắng”, của gió - “gió nam”, một “bụm nớc khe” giữa buổi tra hè “bốc lửa”; một

“vạt áo nâu” duyên dáng thoắt ẩn thoắt hiện trớc hè Rất tự nhiên! tác giả đavào thơ ngay cả những từ ngữ dân dã nhất Nếu không phải là một ngời am hiểutiếng Việt sẽ không thể phân biệt đợc đâu là “hè” chỉ mùa và đâu là “hè” chỉ một

sự vật (khoảng đất trớc hoặc sau ngay cạnh ngôi nhà: trớc hè, sau hè) Chính cáidân dã ấy sẽ là thách thức lớn cho những ai có ý định quảng bá, dịch thơ HànMặc Tử - một hồn thơ dị biệt nhất Việt Nam, sang các ngôn ngữ khác

2.2.2.2 Từ vay mợn trong thơ Hàn Mặc Tử cũng không thể coi là hiếm

Đây chính là vấn đề cốt lõi của “vấn đề Hàn Mặc Tử”, đã làm cho thơ Hàn trởnên kỳ dị, hấp dẫn ngay từ những buổi đầu bớc chân lên sàn diễn Thơ mới

Từ vay mợn là những từ xét về mặt nội dung cũng nh hình thức đều cónguồn gốc từ nớc ngoài Vay mợn là một quy luật phổ quát trên thế giới Trongtiếng Việt, số lợng các từ vay mợn gốc Hán rất lớn; ngoài ra, còn có một số lợngkhông nhỏ những từ vay mợn gốc ấn Âu

Trang 31

Theo thống kê của nhiều nhà nghiên cứu, số lợng từ Hán - Việt trong tiếngViệt chiếm tỉ lệ hơn 60% Trong thơ Hàn Mặc Tử, từ Hán - Việt đã xuất hiện rấtnhiều ngay ở tập thơ đầu tiên Lệ Thanh thi tập và xuất hiện rải rác ở các tập thơ

sau đó; tạo nên một sắc thái cổ kính, trang trọng, đó thờng là những lúc nhà thơhớng về xa xăm đầy ngỡng vọng

Tác giả đã sử dụng nhiều lần những từ nh: nguyệt, tuế nguyệt, nguyệt thiềm, trăng cổ độ, hằng nga, thiên địa, sơn hà, sơn khê, non sông, non núi, non nớc, (nơi) vô định, hơng hoa, thuỷ mặc tranh, đào nguyên, trung không, phong ba, hạc nội, mây ngàn, ngàn trùng, ngàn khơi, thinh sắc, thinh gian, h không, h lãng, bầu hạo nhiên, tiên động, hào quang, triều thiên, thiên không, vô biên, thế giới, trần gian

Xin dẫn dụ:

Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

Thức chỉ mình ta dạ chẳng an

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn

(Thức khuuya)

Đừng nghe chi âm hởng địa cầu đang

Vỡ toang ra từng mảnh Cả không gian Cả thời gian, từ tạo thiên lập địa

đều trộn trạo, điều hoà và xí xoá

Thành h không nh tình ái đôi ta

(Đôi ta)

Bên cạnh từ Hán - Việt, cái làm nên nét độc đáo có một không hai trongthơ Hàn Mặc Tử còn là một hệ thống từ ngữ trong Kinh Thánh, Kinh Thi, KinhPhật ở trạng thái nguyên dạng cũng nh biến dạng của nó Đó là: gió cầu nguyện, tiếng nhạc thần, âm vọng Thánh Kinh, ở Phợng Trì, ở Kinh Thi, nớc Huyền Vi, Vĩnh Cửu, Tề Phi, Thánh Chúa, hai cảnh Tịnh Độ và Niết Bàn, Đức Chúa Trời, cây Phối Hợp, lối Thiên Thai, khúc Nghê Thờng, khúc Phợng Cầu Hoàng, thảm ngọc vờn châu, cảnh Thuỷ Tiên, lụt Hồng Thuỷ, Đao Ly, trời Đâu Suất, những Tháp Hời, Bàn Thạch, chân Bàn Thành, nơi thiên sầu địa cảm giới lâm bô (nơi giam cầm những trẻ thơ vô tội), nguồn cực lạc, cõi trời cách biệt, nơi bất giác, xuất thế gian, linh hồn, mây kinh, bào ảnh h vô

Ngay ở tựa tập Xuân nh ý thi nhân đã van lơn: Hãy cầu nguyện bằng trăm kinh mây gió./Hãy dâng cho một tràng chuỗi trăng sao.

Hay trong các bài thơ:

Nhớ khi xa ta là chim Phợng hoàng

Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất

(Phan Thiết! Phan Thiết!) Hồn hỡi hồn, bay ra ngoài kia mức

Nơi thiên sầu địa cảm giới lâm bô

(Ngoài vũ trụ)

Trang 32

2.2.3 Các từ loại chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử.

Các từ loại tiếng Việt đợc xác định dựa trên những đặc điểm ngữ phápkhác nhau "Từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, đợc phân chia theo ýnghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu, thực hiệnnhững chức vụ ngữ pháp khác nhau." (30 - tr 44)

Trong thơ Hàn Mặc Tử sử dụng rất đa dạng nhiều từ loại khác nhau Nhng,

từ chỉ không gian lại chủ yếu thuộc về danh từ, có một phần nhỏ là đại từ vànhững từ loại liên quan nh: động từ, số từ, tính từ, từ chỉ vị trí,

a) Nhóm danh từ biểu thị không gian điểm:

Không gian điểm là không gian mà ta có thể xác định đợc các giới hạn,tính chất, chức năng của nó, tính đối lập của nó

Vì trong thơ Hàn Mặc Tử, xuất hiện rất nhiều từ ngữ chỉ không gian, nhiềukhi mộng - thực lẫn lộn nên không gian điểm trong thơ anh lại có thể chia ra:

* Nhóm danh từ biểu thị không gian điểm có thể xác định giới hạn nh ở

định nghĩa về không gian điểm đã nêu

Đó bao gồm các từ: nhà, buồng, chợ, làng, quê, chùa, đền, đài, điện, thôn, lầu, sân, hè, cửa, thềm, song (cửa), (trong) vờn, bụi, thôn Vĩ Giạ, Phan Thiết, ao, hồ, Huế, thôn Chùa Mo, Trờng Xuyên

Trang 33

Những từ này gợi cho ta không gian cụ thể, xác định, có thể vạch ranhgiới

Trong đó, có những từ đợc tác giả nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần

Ví dụ: Nhà (8 lần): tạo không gian ấm áp, gần gũi, con ngời tự do làm chủ

bản thân Nếu mất đi không gian này con ngời sẽ bơ vơ:

Trong làn nắng ửng, khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Mỗi khi ma ngớt cơn giông qua

Xắn áo ra vờn ta lợm hoa

Những cánh vô duyên theo gió rã

(Nói chuyện với gái quê)

Cầu (4 lần): gợi sự nối kết.

Đêm qua ả Chức với chàng Ngu

Nhắc chuyện yêu đơng ở dới cầu

(Tình thu)

Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống h vô

Bên cầu lu đọng ánh trăng mơ

(Thi sĩ Chàm)

* Nhóm danh từ cũng chỉ không gian điểm nhng do nhà thơ tởng tợng ra

nh thực hoặc vay mợn trong Kinh Thánh nên không xác định đợc giới hạn

nh-ng vẫn có tính chất, chức nănh-ng và tính đối lập của nó:

Đó là những từ: Thiên đờng, âm phủ, địa ngục, cửa lòng, đáy lòng, cảnh chiêm bao, Trần tục, Nơi bất giác, Lầu trăng, Xuất thế gian, Cửu trùng, Quảng Hàn, chốn Phợng Trì, Bàn Thạch, Chân Bàn Thành, Tháp Hời, Hàn Giang, Bến Hàn Giang, Đao Ly, Trời Đâu Suất, Đào Nguyên, Bến Ngọc, thiên triều, thiên cung, Ngôi cao, vũng sông Hằng, nơi định trớc

Ví dụ:Tôi thấy nàng Tây Thi

Giặt sa trên Bàn Thạch

(Cao hứng) Vì luôn đêm sóng hận réo cung Hằng

Ngời khóc đi khóc đi cho thoả nỗi hờn căm

(Thi sĩ Chàm)

Trang 34

Tôi ngồi ở bến Hàn Giang

Khóc thôi mây nớc bàng hoàng suốt đêm

(Bến Hàn Giang) b) Nhóm danh từ biểu thị không gian tuyến.

Không gian tuyến là không gian liên quan đến chiều dài, có thể ít hoặckhông liên quan đến chiều rộng

Trong thơ Hàn Mặc Tử , loại danh từ biểu thị không gian này cũng vừa

Ví dụ:Bên em mỗi lúc trên đờng cái

Hóng mát cho lòng đợc thoả thuê

* Nhóm danh từ biểu thị không gian tuyến không xác định:

Cũng là "con đờng" nhng khi đã đi vào thế giới tởng tợng của tác giả thìlại khó xác định vô cùng:

Hãy nghe ta cao hót khúc bình an

Nay mặt nhựt tròn vo đờng sáng láng

(Duyên kì ngộ) một đờng trăng trải chiếu vàng

(Chơi giữa mùa trăng)

Trang 35

Nhóm danh từ biểu thị không gian loại này còn có các từ: núi non (điệp trùng), non sông (ngàn dặm, ngàn vạn dặm), (trăm) chiều, (mời) phơng, Bến mơ xa, đờng xa, Chân trời, hàng thế giới, bãi cô liêu, ngàn khơi, sóng trời, (ngàn) thế giới

Đó là:

Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh

ừ tết năm nay thật hữu tình

(Xuân hứng) Chị tôi đằng xa chạy lại

(Chơi giữa mùa trăng)

Ngoài ra nhà thơ còn sử dụng những kết hợp từ để tạo nên những khônggian tuyến dài - rộng rất phong phú:

Mà muôn sao xa cách cõi hoang sơ

(Siêu thoát) c) Nhóm danh từ biểu thị không gian mặt phẳng - khối: Loại không gian

này liên quan đến chiều thẳng đứng, có thể vơn ra chiều rộng Đó bao gồm:

Một mai binh phục tha hồ nhảy

Đạp bốn bức tờng mới lại gan

(Nằm bệnh) Non sông bốn mặt ngủ mơ màng

d) Nhóm danh từ biểu thị các cặp tơng quan không gian.

Nhóm danh từ này trong thơ Hàn Mặc Tử đợc thể hiện rất đa dạng vàphong phú Chính điều này đã làm cho nhà thơ dễ dàng đi giữa hai bờ: thực vàmộng; đi nhanh từ địa hạt lãng mạn, sang tợng trng, đến nhanh bờ siêu thực

Trang 36

Nhóm danh từ loại này gồm có: quê ngời - quê nhà, khôn bề - tứ xứ, dới

ấy - trên ấy, trong đây - ngoài kia, thiên - địa (trời - đất), mộng - thực,

h - thực, địa ngục - trần gian, âm phủ - thiên đờng, ở đây - ở kia (ở xa xôi),

cõi tiên - chốn trần gian, trên trời - dới nớc, mặt trời - mặt nguyệt, nguồn ảo não - nguồn cực lạc,

Để gào thét một hơi cho rởn ốc

Cả thiên đờng, trần gian và địa ngục

(Hồn là ai)

Mỗi không gian có tính chất và quy luật của nó Ví dụ nh không gian

"quê nhà" thì tạo cảm giác êm ấm, an toàn, còn không gian tha hơng "quê ngời"thì xa lạ, lạnh lẽo, nguy hiểm; không gian "thiên đàng" tạo vẻ cao siêu, cực lạc,không gian "địa ngục" lại đầy rẫy chết chóc, âm khí; không gian trần thế làmcho con ngời trở về thực tại đớn đau

e) Nhóm danh từ biểu thị sự vật trong không gian.

Nh đã biết, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệthuật Mô hình không gian nghệ thuật luôn thể hiện quan niệm về trật tự thế giới

và sự lựa chọn của nhà văn, nhà thơ Muốn có mô hình ấy, phải bao gồm các yếu

tố - sự vật tạo thành

Trong thơ Hàn Mặc Tử, khi xuất hiện một không gian nào đó thì lập tức có

sự xuất hiện lần lợt của các sự vật trong không gian, làm nổi bật cho không gian

Đó bao gồm: Trăng, hoa, nhạc, hơng, sao, mây, nớc, gió, bóng, nắng, khói, liễu, lau, thông, cầu vồng, bớm, chim, lửa, bèo, quả da, tre trúc, lá, cây,

cỏ, sơng, khí, thuyền, cát, Đặc biệt nhất là sự xuất hiện của: trăng với 345 lợt

từ, có tới 15 bài thơ tiêu đề trăng

Chẳng hạn, Ta có không gian đồi núi:

Lá đổ rào rào Trăng vàng xôn xao Chuỗi cời ha hả

Trên cánh đồi cao Gió thổi vi vu

Trang 37

Trăng lại đẫm mình xuống nớc Trăng nớc đều lặng nhìn nhau

(Bắt chớc)

Không gian đền chùa:

Chùa hoang s tụng cảnh buồn teo

Cốt phật còn đây chuỗi phật đâu?

Réo rắt cành thông thay kệ đọc Lập loè bóng đóm thế đèn treo Hơng sầu khói lạnh nằm ngơ ngác Quanh thềm khắc khoải giọng quyên kêu

Để tìm em đa hai tay ràng rịt

Mảnh tình thiêng ngả ngớn giữa không trung

(Sáng láng)

Đáng kinh ngạc nhất là sự xuất hiện của sự vật trong không gian do nhàthơ tởng tợng ra hoặc thừa hởng theo thuyết nhà Phật, đạo Thiên Chúa thôngqua những kết hợp lạ:

Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất Bay từ Đao Ly đến trời Đâu Suất

Và lùa theo không biết mấy là hơng Lúc đằng vân gặp ánh sáng chặn đờng Chạm tiếng nhạc, và nhằm thơ thiên cổ

Ta lôi đình thấy trăng sao liền mổ Trăng tan tành rơi xuống một cù lao Hoá đài điện đã rất nên tráng lệ

(Phan Thiết! Phan Thiết)

Trang 38

Có thể thấy, các danh từ chỉ không gian xuất hiện dày đặc trong mỗi câuthơ, dòng thơ, bài thơ của Hàn Mặc Tử Chúng là những chất liệu có sẵn, khônglạ lẫm nhng qua cách sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Hàn Mặc Tử, đã làm nên

sự đa dạng, muôn vẻ cho thơ anh, thể hiện t duy thơ độc đáo, một trái tim yêu

th-ơng luôn khát khao tìm kiếm những vẻ đẹp thanh tao, hài hoà giữa con ngời vàthiên nhiên, khát khao hoà nhập vũ trụ sáng láng Phải chăng, vì thế mà chỉ nóiriêng về ánh trăng thôi thì trong thơ Hàn cũng đã biến hoá diệu kỳ (lá trăng, con trăng, trăng non, trăng trong, trăng đục, khuôn thiên, chén nguyệt, tuế nguyệt, hơng trăng, tơ trăng, cành trăng vàng, khuôn vàng, đờng trăng, lầu trăng, mảnh trăng, vũng sông Hằng )

2.2.3.2 Đại từ:

Đại từ là từ loại dùng để chỉ trỏ, xng hô, thay thế cho sự vật, hoạt động,tính chất, sự việc hay một bộ phận nào đó trong câu đã nói đến trong phần tiềnngôn (bộ phận đó có thể là một từ, cũng có thể là một đơn vị lớn hơn từ)

Đại từ cũng là một loại từ phức tạp gồm nhiều nhóm khác nhau, và trongtừng nhóm các đại từ cũng không mang ý nghĩa và đặc điểm nh nhau Nhóm đại

từ mang ý nghĩa không gian cũng vậy

Nhóm đại từ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử chỉ chiếm một số lợngnhỏ 1,6 % tất thảy xuất hiện 38 lợt bao gồm các từ: (nơi) đây, đó, (ngoài) kia,

(xứ, chỗ) này, (trên, dới) ấy, nhằm để chỉ định về không gian; (ở) đâu, (về)

đâu, (phơng) mô, (cõi) nào nhằm để nghi vấn về không gian; thảy, cả, chỉ tổng thể về không gian; đâu đó, để thay thế cho ý nghĩa về không gian.

Đại từ có mặt ở 8/9 tập thơ chúng tôi khảo sát, vì chúng mang những ýnghĩa không gian khác nhau nên chúng tôi chia đại từ chỉ không gian trong thơHàn Mặc Tử thành những nhóm sau:

a) Nhóm đại từ biểu thị ý nghĩa không gian xác định.

Do đại từ chỉ có ý nghĩa thay thế mà không có ý nghĩa thực từ (mặc dù nó

là thực từ) nên khi biểu thị - chỉ định một không gian nào đó, chúng tôi cho rằng

nó đang thực hiện chức năng xác định một dạng thức, điểm, tuyến, giới hạnkhông gian Vì vậy, đại từ cũng mang ý nghĩa nhằm xác định một không gian

Đó bao gồm các từ: này, ấy, đây, kia, đấy, đó,

Ví dụ:ở trên kia có một ngời

Ngồi bên sông Ngân giặt lụa chơi

Trang 39

b) Nhóm đại từ biểu thị không gian không xác định, nghi vấn về không gian.

Nh một đối cực của con ngời luôn phải chất chứa đau khổ, Hàn Mặc Tửluôn sống hết mình cho thơ, cho những gì thiêng liêng mà anh tôn thờ Anh càngsống hết mình, càng thấy rõ giới hạn của chính cuộc đời anh Vì thế, nhiều lúcanh thấy bơ vơ, lạc lõng, anh ớc mơ siêu thoát, cần một nơi không du du, khôngxác định đâu là bờ đâu là bến

Dờng nh khổ đau đã ngập dâng trong lòng Hàn, vậy nên trong thơ anh,ngay cả việc sử dụng các từ ngữ chỉ không gian, trong đó có đại từ thì nhiều khicũng không xác định đợc Các đại từ biểu thị không gian không xác định trongthơ Hàn Mặc Tử bao gồm: (ở) đâu, (phơng) mô, (cõi) nào,

ở đâu có những lá tinh hoa

Phớc lộc vô biên xuống mọi nhà

(Ước ao)

Thu héo nấc thành những tiếng khô

Một vì sao lạ mọc phơng mô?

(Cuối thu)

Liêu Tây bây giờ đang chiêm bao

Bây giờ ly biệt đến phơng nào

(Mơ duyên)

"Bây giờ chúng tôi đang ở giữa mùa trăng, mở mắt ra cũng không thấy

đâu là chín phơng Trời, mời phơng Phật nữa Cả không gian đều chập chờn những màu sắc phiếu diễu " (Chơi giữa mùa trăng)

Từ hai nhóm đại từ chỉ không gian trên, chúng ta lại có nhóm không giansau:

c) Nhóm đại từ biểu thị các cặp tơng quan không gian:

Cũng giống nh danh từ, đại từ trong thơ Hàn Mặc Tử cũng tạo nên nhữngtơng quan trong không gian, bao gồm các cặp: đây - đó, đâu - đấy, này - kia, ở

đây - ở đâu, trên ấy - dới ấy, nào - này đặc biệt nhất, tác giả hay sử dụng cặp

tơng quan đây - kia nhằm tạo hai ý nghĩa, hai cảm giác đối lập: một bên là gầngũi, yêu thơng và một bên là xa lạ, khó đoạt tới; một bên con ngời có thể làmchủ, và một bên là con ngời lạc lõng bơ vơ, siêu thoát

Ví dụ: Nụ cời dới ấy và trên ấy

Không hẹn, đồng nhau nở lẳng lơ.

(Nụ cời) Ngoài kia xuân đã thắm duyên cha?

Trời ở trong đây chẳng có mùa.

(Nhớ thơng) Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?

Ai đem tôi bỏ dới trời sâu?

(Những giọt lệ)

Trang 40

Có thể thấy, đại từ đã làm nên những đặc sắc về không gian trong thơ Hàn.Không gian vừa xác định vừa không xác định, không gian vừa tơng quan vừa đốilập Không gian đợc thể hiện gián tiếp qua đại từ mà không dùng trực tiếp từ chỉkhông gian.

Việc sử dụng đại từ để thay thế từ chỉ không gian vừa có ý nghĩa ngữ pháp(tránh lặp) lại vừa có ý nghĩa từ vựng (diễn đạt một phạm vi không gian) Dùkhông phản ánh trực tiếp một không gian cụ thể nào nhng chính nó đã làm nên

sự phong phú đa dạng cho từ ngữ chỉ không gian trong thơ văn nói chung cũng

nh trong thơ Hàn Mặc Tử nói riêng

2.2.3.3 Các từ loại khác liên quan đến không gian:

Không gian trong thơ Hàn Mặc Tử đợc mở rất nhiều chiều: sâu xa, caothấp, rộng hẹp, trên dới, trớc sau, khác nhau Không gian ấy còn đợc nhìn dớinhiều góc cạnh (động - tĩnh, mộng - thực), thậm chí nhà thơ nếm cả không gian,nhuộm cả không gian Vì vậy, trong thơ anh có rất nhiều loại từ ngữ thuộc các

từ loại khác nhau ở đây, chúng tôi muốn nói đến những từ loại liên quan đếnkhông gian, bao gồm: động từ, tính từ, số từ, phụ từ, từ chỉ vị trí

a) Động từ:

Trong tiếng Việt, động từ là một lớp từ phức tạp, có thể nói là phức tạpnhất Nó đợc sử dụng rộng rãi và chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong kho từvựng và có vai trò hoạt động ngữ pháp hết sức quan trọng trong việc tổ chức cấutạo nên câu

Về đặc điểm ý nghĩa: động từ biểu thị, miêu tả hoạt động, trạng thái của

sự vật trong quá trình Về đặc điểm ngữ pháp: nó có thể làm trung tâm trong ngữ

động từ Khi làm trung tâm của động ngữ, động từ có khả năng kết hợp với cácthành tố phụ đứng trớc hoặc đứng sau

Trong thơ Hàn Mặc Tử, các động từ mang nghĩa liên quan đến không gianxuất hiện rất nhiều, chiếm 40,2%, thể hiện phong phú các dạng thức tồn tại, hoạt

động, biến đổi của không gian Đó bao gồm:

động từ) Loại động từ này nhằm miêu tả, ẩn dụ các t thế, trạng thái, hoạt

động, của không gian

Mỗi khi ma ngớt cơn giông qua

Xắn áo ra vờn ta lợm hoa

(Nói chuyện với gái quê) Tình tôi vô lợng sẽ dâng cao

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Không gian hữu hình (thực). - Không gian vô hình (mộng). - Các từ chỉ không gian trong thơ hàn mặc tử
h ông gian hữu hình (thực). - Không gian vô hình (mộng) (Trang 26)
Nếu xem không gian vô hình là những tởng tợng về Chúa, về Tôn giáo, về những thế giới mộng ảo, huyền bí không có thực.. - Các từ chỉ không gian trong thơ hàn mặc tử
u xem không gian vô hình là những tởng tợng về Chúa, về Tôn giáo, về những thế giới mộng ảo, huyền bí không có thực (Trang 26)
Theo thống kê về những danh từ chủ yếu, chúng tôi có bảng tổng kết sau: - Các từ chỉ không gian trong thơ hàn mặc tử
heo thống kê về những danh từ chủ yếu, chúng tôi có bảng tổng kết sau: (Trang 32)
Qua bảng thống kê ta thấy: - Các từ chỉ không gian trong thơ hàn mặc tử
ua bảng thống kê ta thấy: (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w