Luận văn thạc sĩ Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức Bốn của Nguyễn Thị Hiền năm 2013 cũng đã đi vào nghiên cứu việc sử dụng trường nghĩa và di chuyển trường nghĩa từ vựng,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ THỊ THÙY VINH
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đối với sinh viên cuối cấp khi được làm khóa luận tốt nghiệp là điều vôcùng vinh dự Nhưng để có thể hoàn thành khóa luận đòi hỏi sự cố gắng rấtlớn của bản thân và quan trọng hơn đó là sự chỉ bảo của các thầy cô giáotrong trường, thầy cô hướng dẫn, sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè
và người thân
Em xin chân thành cảm ơn quí thầy cô giáo trong trường Đại học Sưphạm Hà Nội 2 và quí thầy cô giáo trong Tổ Ngôn ngữ đã truyền đạt nhữngkiến thức chuyên ngành, chỉ dạy em trong suốt quá trình học tập tại trường.Đặc biệt là cô giáo TS Lê Thị Thùy Vinh là người đã giúp em định hướng đềtài và hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em một cách tận tình để em hoàn thànhkhóa luận của mình Em cũng xin gửi tới những người thân yêu, bạn bè lòngbiết ơn chân thành nhất, vì đã luôn ở bên em, động viên, giúp đỡ em hoànthành khóa luận này
Tuy nhiên, với những kiến thức và kinh nghiệm thực tế của bản thâncòn nhiều hạn chế Do vậy, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để bài viếtđược hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sựhướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Thùy Vinh Các nội dung nghiên cứu, kếtquả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nàotrước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích,nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ việc khảo sát, thống kê,phân loại ngữ liệu Ngoài ra, một số nhận xét, đánh giá khác trong khóa luậnđều được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minhbạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiêncứu đã được công bố
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu tráchnhiệm về nội dung khóa luận của mình
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Tác giả Nguyễn Thị Duyên
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của khóa luận 6
PHẦN NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Trường nghĩa 7
1.1.1.Khái niệm trường nghĩa 7
1.1.2 Phân loại trường nghĩa 9
1.1.2.1 Trường nghĩa biểu vật 9
1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm 11
1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính 12
1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng 12
1.1.3 Giá trị của việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nghệ thuật 13
1.2 Trường nghĩa chỉ không gian 14
1.3 Nhà thơ Đồng Đức Bốn và thơ ca Đồng Đức Bốn 15
Trang 6CHƯƠNG 2: TRƯỜNG NGHĨA CHỈ KHÔNG GIAN TRONG THƠ ĐỒNG
ĐỨC BỐN 20
2.1 Cơ sở phân loại 20
2.2 Các trường nghĩa chỉ không gian cơ bản trong thơ Đông Đức Bốn 20
2.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên 22
2.2.1.1 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên 22
2.2.1.2 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các sự vật tự nhiên 27
2.2.2 Trường nghĩa chỉ không gian xã hội 30
2.2.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian làng quê 31
2.2.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian thành thị 39
2.2.3.1 Trường nghĩa chỉ không gian địa danh 41
PHẦN KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Từ ngữ sử dụng trong văn chương một cách có chủ ý và thống nhất sẽ làmtăng thêm vẻ tinh tế đó Nói đến ngôn ngữ văn chương, người ta nghĩ ngayđến ngôn ngữ trong thơ Loại ngôn ngữ này tiêu biểu cho phong cách vănchương với những cách dùng từ, đặt câu rất lạ mà ngôn ngữ thông thườngkhông có được Mỗi một nhà thơ là một phong cách thơ nên có một hệ thốngngôn ngữ thơ mang những nét riêng Trường nghĩa ngôn ngữ mang đậmphong cách của nhà thơ từ đó mà hình thành.
Đồng Đức Bốn là nhà thơ nổi lên như một hiện tượng thơ đặc biệt vớithể thơ lục bát hiện đại Có lẽ ông là người làm thơ lục bát hay nhất trongkhoảng 50 năm trở lại đây ở Việt Nam Đồng Đức Bốn từng nhận nhiều giảithưởng trong các cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ, Tạp chí Văn Nghệ QuânĐội và báo Tiền Phong Đồng Đức Bốn sinh năm 1948, quê Hải Phòng Ông
đã từng làm nhiều nghề kiếm sống, cuộc đời sóng gió phiêu bạt nhiều nơi.Những dấu vết ấy hằn sâu trong nhiều bài thơ của ông Ngôn ngữ thơ rất giàuhình ảnh mà nổi bật lên đó là những từ ngữ thuộc hệ thống trường nghĩakhông gian
Tìm hiểu trường nghĩa không gian trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốncũng là phát hiện ra vẻ đẹp ngôn ngữ trong thơ ca dân tộc nói chung và phongcách thơ Đồng Đức Bốn nói riêng
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Lí thuyết về trường nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ thế giới quan tâm
từ rất sớm, có thể kể đến các tác giả như J.Trier, L.Weisgerber… Các tác giảnày đưa ra các quan niệm, các khía cạnh khác nhau về trường nghĩa xuất phát
từ những góc nhìn riêng của mình
Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều côngtrình về lý thuyết trường Định nghĩa trường của ông được rất nhiều ngườichấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từvựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa
Năm 1973, Đỗ Hữu Châu có công trình Trường từ vựng và hiện tượng
đồng nghĩa, trái nghĩa Trong công trình này, Đỗ Hữu Châu nêu các hiện
tượng đồng nghĩa, trái nghĩa của từ thông qua việc phân tích các trường từvựng
Năm 1975, Đỗ Hữu Châu tiếp tục trình bày cụ thể về trường và việcnghiên cứu từ vựng
Các công trình nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu đã cung cấp một hệ thống
lí thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa Thực chất hiện giờ lí thuyết vềtrường từ vựng – ngữ nghĩa ở Việt Nam tồn tại với nội dung sau:
Trường từ vựng ngữ nghĩa được chia làm bốn loại khi căn cứ vào cácloại ý nghĩa của từ, bao gồm: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm,trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng Ngoài ra, chúng tôi còncăn cứ vào những nội dung cơ bản trong cuốn Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt(in lần thứ 2, 1966) để có được khung lý thuyết vững chắc cho đề tài này
Trang 9Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết này để nghiên cứu tiếng Việt.Đặc biệt, trường nghĩa liên tưởng được áp dụng nhiều khi nghiên cứu Ví dụmột số công trình tiêu biểu như:
Luận án PTS Trường từ vựng tên gọi bộ phận cơ thể người của Nguyễn
Đức Tồn năm 1988 đã nêu khái niệm trường từ vựng ngữ nghĩa khá hoànthiện
Luận án PTS Đặc điểm Trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật
(trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga) của Nguyễn Thúy Khanh năm1996
Luận văn thạc sĩ Cấu trúc ngữ nghĩa của vị từ thuộc trường thực vật
của Đinh Thị Oanh năm 1999 nhằm chỉ rõ đặc điểm và cấu trúc ngữ nghĩahoặc sự chuyển nghĩa của các vị từ thuộc trường thực vật
Công trình Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư
duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác) của Nguyễn Đức
Tồn xuất bản năm 2002 Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra đặc điểm ngữnghĩa của trường tên gọi thực vật (chương thứ 8) Trong đó, tác giả đã trìnhbày cụ thể, chi tiết về cấu trúc ngữ nghĩa của trường từ vựng chỉ thực vật, sựchuyển nghĩa và ý nghĩa biểu trưng của một số từ ngữ thực vật
Nghiên cứu về trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nghệ thuật cómột số công trình như:
Luận văn thạc sĩ Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu
của Vũ Hoàng Cúc năm 2011 nhằm chỉ rõ việc sử dụng trường nghĩa và dichuyển trường nghĩa từ vựng qua đó lí giải về giá trị của thơ Xuân Diệu từgóc nhìn ngôn ngữ
Trang 10Luận văn thạc sĩ Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Đồng Đức
Bốn của Nguyễn Thị Hiền năm 2013 cũng đã đi vào nghiên cứu việc sử dụng
trường nghĩa và di chuyển trường nghĩa từ vựng, từ đó lí giải về giá trị thơcủa Đồng Đức Bốn ở phương diện ngôn ngữ
Như vậy, nghiên cứu về trường nghĩa nói chung đã thu hút được sự chú
ý của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhưng nghiên cứu trường nghĩa trongtác phẩm văn chương còn khá ít Vấn đề trường nghĩa mà cụ thể hơn là trườngnghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn vẫn chưa có công trình hay bàiviết nào đề cập đến một cách có hệ thống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là làm rõ hơn bản chất của trường nghĩa nóichung và trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nói riêng, cụ thể ở đây làtrường nghĩa chỉ không gian trong thơ ca Đồng Đức Bốn Qua đó khóa luậncũng góp thêm sự lí giải về giá trị của thơ Đồng Đức Bốn từ góc nhìn ngônngữ học
sau:
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận của đề tài
- Khảo sát, thống kê các từ ngữ trong thơ Đồng Đức Bốn theo trườngnghĩa chỉ không gian để xác định trường nghĩa chỉ không gian trong thơĐồng Đức Bốn
- Qua khảo sát và phân tích các từ ngữ thuộc trường nghĩa chỉ khônggian để rút ra những giá trị của thơ Đồng Đức Bốn từ góc nhìn ngônngữ
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khóa luận này, đối tượng chúng tôi nghiên cứu là trường nghĩachỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tập trung khảo sát, nghiên cứu với khoảng 100 bài thơ nằm
trong sáu tập thơ của Đồng Đức Bốn: Con ngựa trắng và rừng quả đắng, Nxb Văn học, Hà Nội; Chăn trâu đốt lửa, Nxb Lao động, Hà Nội; Trở về với mẹ ta
thôi, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội; Cuối cùng vẫn còn dòng sông, Nxb Hội nhà
Văn, Hà Nội; Chuông chùa kêu trong mưa, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội; Chim
mỏ vàng và hoa cỏ độc, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội.
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp vàthủ pháp sau:
- Phương pháp miêu tả để miêu tả đặc điểm của từ thuộc trường nghĩachỉ không gian
- Phương pháp phân tích để làm rõ giá trị biểu hiện của từ thuộc trườngnghĩa chỉ không gian trong việc thể hiện nội dung và nghệ thuật của thơ ĐồngĐức Bốn
- Thủ pháp thống kê dùng để tổng hợp ngữ liệu, qua đó nắm được một cách khái quát về trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
- Thủ pháp phân loại dùng để phân loại ngữ liệu và xác định các đặcđiểm của từ thuộc trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
Trang 126 Đóng góp của khóa luận
Về mặt lí luận, khóa luận làm rõ lí thuyết về trường nghĩa ứng dụngtrong tác phẩm văn chương, làm rõ vai trò của việc sử dụng từ ngữ thuộctrường nghĩa chỉ không gian trong thơ ca Đồng Đức Bốn Từ đó, khóa luậnhướng tới khẳng định những đóng góp của nhà thơ về ngôn ngữ nghệ thuật
Về mặt thực tiễn, khóa luận giúp cho người đọc có một cái nhìn cụ thểhơn, đa chiều hơn về thơ ca Đồng Đức Bốn, cụ thể ở đây là cái nhìn từ góc độngôn ngữ học
7 Bố cục của khóa luận
Tương ứng với mục đích nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận được triển khai trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Các trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo và phụ lục.
Trang 131.1 Trường nghĩa
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Khái niệm trường nghĩa.
Ngôn ngữ là một hệ thống điển hình bao gồm tổng thể các yếu tố vàcác yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo nhiều kiểu dạng khácnhau Nằm trong hệ thống ngôn ngữ ấy, các đơn vị từ vựng cũng không tồntại biệt lập, tách rời mà luôn có những mối quan hệ nhất định cả về hình thứclẫn ngữ nghĩa Quan hệ về ý nghĩa giữa các đơn vị từ vựng là một trongnhững mối quan hệ được các nhà khoa học ngôn ngữ quan tâm làm rõ Các từđồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm gọi là trường nghĩa (haytrường từ vựng hoặc trường từ vựng ngữ nghĩa)
Các nhà nghiên cứu khác nhau nhìn nhận việc nghiên cứu tính hệ thốngtrong từ vựng rất khác nhau và phân chia trường nghĩa theo những cơ sở khácnhau:
Trước hết là quan niệm của một số tác giả nước ngoài: Từ những năm
90 của thế kỉ XIX, M M Pokrovxki là người đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu
từ vựng một cách có hệ thống nhưng khái niệm trường và lý thuyết trườngngữ nghĩa chỉ thực sự được nghiên cứu từ những năm 20 của thế kỉ XX, bắtnguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W Humboldt và F.de Saussure.Sau đó các nhà nghiên cứu khác như G Ipsen (1924), A Jolles (1934), W.Porzig (1934)… và đặc biệt là J Trier (1934) được coi là người đã mở ra mộtgiai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học Ông là người đầu tiên đưa thuậtngữ “trường” vào ngôn ngữ học và đã thử áp dụng quan điểm cấu trúc vàolĩnh vực từ vựng ngữ nghĩa Ông cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tạitrong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ khác trong trường
Trang 14quyết định Trường kiểu của J Trier là trường có tính chất đối vị, gọi tắt làtrường trực tuyến (dọc) Cùng kiểu trường với J Trier là L Weisgerber, ôngcũng có một quan điểm rất đáng chú ý về các trường, theo ông, cần phải tínhđến các “góc nhìn” khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sựngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó của cuộc sống Ngoài hai tác giả trên,trường trực tuyến cũng được nhiều nhà ngôn ngữ khác đề cập đến Có thể kểđến các tác giả như Cazares, P M Roget, R Hallig, W Von Warburrg, W P.Zaleskij, Duchacek, H Husgen, K Reuning.
Khác với các nhà ngôn ngữ trên, W Pozig lại xây dựng quan niệm vềcác trường tuyến tính hay trường ngang Theo ông, trường là những cặp từ cóquan hệ kiểu như “gehen” – “fuber” (“đi” – “chân”), “greifen” – “hand”(“cầm” – “tay”), “sechen” – “auge” (“nhìn” – “mắt”) Đây không phải lànhững quan hệ chung nhất, những quan hệ ngữ nghĩa tạo nên “các trường cơbản của ý nghĩa” Trung tâm của “các trường cơ bản của ý nghĩa” là các động
từ và tính từ vì chúng thường đảm nhiệm chức năng vị ngữ trong câu, do đóchúng thường ít nghĩa hơn các danh từ
Ở Việt Nam trường nghĩa cũng là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu
đề cập đến như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Trọng Phiến, ĐỗViệt Hùng… trong đó tiêu biểu nhất là nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu Từnhững năm 80 của thế kỉ trước, Đỗ Hữu Châu là người đã giới thiệu trườngtrong một loạt các công trình trên những phương diện lịch sử vấn đề, hệ thốnghóa các quan điểm phương pháp của các nhà ngôn ngữ học thế giới, đồng thờiđưa ra các tiêu chí cũng như phương pháp xác lập trường
Qua thực tế nghiên cứu Đỗ Hữu Châu đã khẳng định rằng: Những quan
hệ về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đặt được các từ vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng
Trang 15thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng [4; 156]
Từ đó, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa: Mỗi tiểu hệ thống ngữ
nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa [4; 157] Quan niệm này lấy tiêu chí ngữ nghĩa làm cơ sở cho việc
phân lập trường nghĩa Đây là quan niệm có tính chất định hướng cho cácquan niệm về trường nghĩa của các nhà Việt ngữ khác sau ông
Khóa luận của chúng tôi lấy quan niệm về trường nghĩa của Đỗ HữuChâu làm cơ sở lí thuyết để nghiên cứu
1.1.2 Phân loại trường nghĩa
F De Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra haidạng: quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) Dựa vàohai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, Đỗ Hữu Châu chia trường nghĩa tiếngViệt thành các loại khác nhau: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm(hai trường nghĩa dựa vào quan hệ dọc); trường nghĩa tuyến tính (dựa vàoquan hệ ngang) và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệdọc và quan hệ ngang)
1.1.2.1 Trường nghĩa biểu vật
Trường nghĩa biểu vật là “một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa
biểu vật” [5; 170] Chẳng hạn, trường nghĩa biểu vật về chân: cổ chân, bàn
chân, ngón chân, gót chân, đứng đi, đá, nhảy… Đây là các đơn vị từ cùng
phạm vi biểu vật chân.
Trang 16Mỗi một trường nghĩa biểu vật thường có từ trung tâm là danh từ Danh
từ này có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật,
như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu… Các danh từ này cũng là
tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, lànhững nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Dựa vào danh từ trung tâm,người ta xác lập trường nghĩa biểu vật Ở ví dụ trường biểu vật về chân trên,
dựa vào danh từ chân, ta tập hợp được rất nhiều từ về chân – nằm trong
trường nghĩa chân
Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể chia thành các trường nghĩa biểuvật nhỏ Đến lượt mình, các trường nghĩa biểu vật nhỏ này cũng có thể phân
chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ hơn nữa Chẳng hạn, trường nghĩa
biểu vật về chân có thể chia thành các trường nhỏ: trường biểu vật về bàn chân (gồm: ngón chân, đốt ngón chân, mu bàn chân, hoa chân, vân chân….), trường biểu vật về dóng chân (gồm: cổ chân, bọng chân, xương dóng chân…)
Số lượng từ ngữ và cách tổ chức của các trường nghĩa biểu vật rất khácnhau Sự khác nhau này diễn ra giữa các trường lớn với nhau và giữa cáctrường nhỏ trong một trường lớn Nếu so sánh các trường cùng một tên gọitrong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác nhau trên còn rõ hơn nữa
Nếu tạm gọi một trường nhỏ (hay một nhóm nhỏ trong một trường nhỏ)
là một “miền” của trường, thì thấy, các miền thuộc các ngôn ngữ rất khácnhau Có những miền trống – tức không có từ ngữ - ở ngôn ngữ này nhưngkhông trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao trong ngôn ngữ nàynhưng lại thấp trong ngôn ngữ kia
Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật, cho nên, từ có thể nằm trong nhiều
trường biểu vật khác nhau, hệ quả là các trường nghĩa biểu vật có thể “giao
Trang 17thoa”, “thẩm thấu” Xét trường biểu vật về người và trường biểu vật về động
vật, ta sẽ thấy rất rõ điều này Trường nghĩa người sẽ bao gồm các từ: đầu,
tóc, mắt, cổ , bụng, tay, chân, mũi, miệng, mồm, răng, lưỡi, ruột, dạ dày, thịt, lông, ăn, uống, chạy, nhảy, khóc, cười, hát, ngủ, nằm… Trường nghĩa động
vật sẽ gồm các từ: đầu, đuôi, sừng, cổ, mắt, chân, mũi, răng, lưỡi, ruột, dạ
dày, da, máu, chạy, nhảy, hót, hí, hú, ngủ, nằm… Hầu hết các từ nằm trong
trường động vật đều nằm trong trường người, ví dụ các từ: đầu, cổ, mắt, chân,
mũi, miệng, lưỡi, dạ dày, ăn, uống, chạy, nhảy, ngủ, nằm… Ta nói trường
người và trường động vật giao thoa, thẩm thấu vào nhau Mức độ giao thoacủa các trường tỉ lệ thuận với số lượng từ chung giữa các trường với nhau
Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường nghĩa biểu vật không giốngnhau Có những từ điển hình cho trường được gọi là hướng tâm, có những từkhông điển hình cho trường được gọi là từ hướng biên Từ hướng tâm gắn rấtchặt với trường làm thành cái lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữnghĩa của trường Từ hướng biên gắn bó lỏng lẻo hơn và mỗi lúc một đi xakhỏi lõi, liên hệ với trường mờ nhạt đi Ở ví dụ về trường người và trườngđộng vật trên, các từ hướng tâm là các từ chỉ có ở trường này mà không có ở
trường kia, các từ hướng tâm của trường người như khóc, buồn, hát…, các từ hướng tâm của động vật là các từ hí, hót, hú, đuôi… Từ hướng biên của chúng là những từ xuất hiện ở cả hai trường như đầu, chân, mắt, mũi, ruột, dạ
dày, chạy, nằm, ăn, uống…
1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm
Trường nghĩa biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung một cấu trúc
biểu niệm [5,170] Chẳng hạn, trường nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo) (thay thế hoặc tăng cường công tác lao động) (bằng tay): dao, cưa, búa, đọc, khoan, lưới, nơm, dao, kiếm….
Trang 18Cũng như các trường nghĩa biểu vật, các trường biểu niệm có thể phânchia thành các trường nghĩa biểu niệm nhỏ và cũng có những “miền” vớinhững mật độ khác nhau.
Từ có nhiều nghĩa biểu niệm, bởi vậy, một từ có thể đi vào nhiềutrường nghĩa biểu niệm khác nhau Vì thế, cũng giống như trường nghĩa biểuvật, các trường nghĩa biểu niệm cũng có thể giao thoa, thẩm thấu vào nhau vàcũng có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở những lớp kế cậntrung tâm, những từ ở lớp ngoại vi
1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính
Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp từ có thể kết hợp với một từ gốc đểtạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Chẳng hạn, trường nghĩa tuyến tính của từ chân là mềm, ấm, lạnh,…đứng, đi,
nhảy, đá…
Để xác lập được trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốcrồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành chuỗi tuyến tính (cụm từ,câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Cùng với các trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩabiểu niệm), các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ
và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và nhữngđặc điểm hoạt động của từ
1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng
Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí được một từ gợi ra [5;186] Chẳng hạn, trường nghĩa của từ đỏ
gồm các đơn vị từ vựng: đỏ tươi, đỏ tía, lửa, máu, sức sống, may mắn,…
Trang 19Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, cố định bằng từcác ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm.
Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằmtrong trường biểu vật, trường biểu niệm và các trường tuyến tính, tức lànhững từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trungtâm Song, trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới
do sự xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đềtương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng
có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân
1.1.3 Giá trị của việc tìm hiểu trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nghệ thuật
Quan niệm về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ học có thể không
giống nhau nhưng có thể hiểu: Trường nghĩa là một tập hợp bao gồm các từ
có chung với nhau ít nhất một nét nghĩa Tiêu chí để xác lập trường nghĩa là
nghĩa của từ Việc phân lập hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành cáctrường nhỏ dù có dựa vào các tiêu chí nào đi chăng nữa cũng không thể khôngbắt đầu từ tiêu chí ngữ nghĩa ấy
Trường nghĩa trong tác phẩm văn chương không phải là sự ngẫu nhiên
mà nó tuân theo quy luật sáng tạo của con người dựa vào tiêu chí ngữ nghĩa.Nghiên cứu nó không chỉ giúp cho ta thấy được cái hay của ngôn ngữ mà cònthấy được tài năng, phong cách của người sử dụng Qua đó, giúp người tiếpnhận hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ, câu, khổ thơ và toàn bài Nhờ vậy,người tiếp nhận sẽ dễ dàng hơn trong việc cảm thụ và lí giải tác phẩm văn họcđồng thời có thể trau dồi vốn ngôn ngữ cho bản thân
Trang 201.2 Trường nghĩa chỉ không gian.
“Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian,
không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”
(Trần Đình Sử) Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ khônggian - thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đềubắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Và từ sự đổi thay của khônggian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình
Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao thì: “Thời
gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” [11; 287] Ở đây, trong phạm vi khóa luận
này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu về trường nghĩa chỉ không gian trong tácphẩm văn học mà cụ thể là trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng ĐứcBốn
Về khái niệm “không gian”, trong cuốn Từ điển tiếng Việt, tác giả
Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải như sau: “Không gian là khoảng không bao la
trùm lên tất cả sự vật hiện tượng xung quanh đời sống con người” [13; 633].
Như vậy, không gian chính là môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tạicủa các sự vật Không gian chính là hình thức tồn tại của vật chất với nhữngthuộc tính như cùng tồn tại và tách biệt, có chiều kích và kết cấu Theo chúng
tôi “trường nghĩa chỉ không gian” là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về
ngữ nghĩa chỉ môi trường chúng ta đang sống với sự tồn tại của các sự vật.
Môi trường chúng ta đang sống gồm: môi trường tự nhiên và môitrường xã hội Môi trường tự nhiên là môi trường bao gồm tất cả những vật
Trang 21thể sống và không sống xuất hiện một cách tự nhiên trên Trái Đất hoặcmột vùng trên trái đất (hiện tượng tự nhiên, sự vật tự nhiên) Môi trường
xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chiphối môi trường (môi trường làng quê, môi trường thành thị) Từ đó chúngtôi xác định trường nghĩa chỉ không gian gồm: trường nghĩa chỉ không gian
tự nhiên, trường nghĩa chỉ không gian xã hội Trường nghĩa chỉ không gian
tự nhiên gồm: trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự
nhiên, trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các sự vật tự nhiên Trường
nghĩa chỉ không gian xã hội gồm: trường nghĩa chỉ không gian làng quê,
trường nghĩa chỉ không gian thành thị và trường nghĩa chỉ không gian địa danh.
1.3 Nhà thơ Đồng Đức Bốn và thơ ca Đồng Đức Bốn
Nhà thơ Đồng Đức Bốn (30/3/1848 – 14/2/2006), quê quán ở xóm LêLác, thôn Song Mai (tức làng Moi), xã An Hồng, huyện An Hải, thành phốHải Phòng
Ông được sinh ra trong một gia đình lao động nghèo, thanh niên ôngtham gia vào đội thanh niên xung phong Giải ngũ, Đồng Đức Bốn về làmviệc tại Xí nghiệp sửa chữa ô tô Hải Phòng, làm thợ gò bậc 6/7 Sau đó, ĐồngĐức Bốn về làm việc tại xí nghiệp xuất nhập khẩu gia cầm Hải Phòng, giữchân đại diện cho Xí nghiệp này ở Hà Nội
Văn đàn Thủ đô những năm 1987 - 1992 rất sôi động Đây là thời kìĐồng Đức Bốn làm quen với những nhà thơ cung đình bậc nhất, nhữngtác giả đang ở độ huy hoàng của thơ ca như: Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, LưuQuang Vũ, Vũ Quần Phương…
Trang 22Đồng Đức Bốn sáng tác thơ vào cuối những năm 1980 Tập thơ đầu
tên của ông là Con ngựa trắng và rừng quả đắng (1992), tập thơ không
đem
Trang 23lại thành công cho ông nhưng Đồng Đức Bốn vẫn vượt qua những khó khăn
Bất ngờ bạn đến thăm
tôi Gửi cho mấy tập ôi trời là thơ.
Câu dài câu ngắn ngẩn ngơ Những rơm với lửa, những tơ với tình Một người hoang dại một mình
Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân Lòng yêu yêu đến trong ngần Đường
xa thương vết chân trần bạn tôi Mong
sao bạn bớt bùi ngùi
Cố làm thơ nữa để rồi gặp nhau…
Đồng Đức Bốn không phải là nhà thơ cách tân cũng không phải là nhà
Trang 24thơ khai sáng mà ông là nhà thơ tiếp thu và giữ gìn những giá trị thơ ca
truyền
Trang 25thống Cái hay trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn là sự hòa quyện của “cáichất phác” giống như ca dao, sự ngậm ngùi của tình cảm và cả những kinhnghiệm sống của một người nhà quê lang bạt Hình ảnh nông thôn hômnay
được Đồng Đức Bốn đưa vào trong thơ cùng với cái ngậm ngùi của sự nghèonàn và mất mát khiến lòng ta không khỏi xót xa:
Nhà quê có cái giếng đình Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ.
Nhà quê có mấy trai tơ Quần bò, mũ cối giả vờ sang chơi.
Nhà quê chân lấm tay bùn Mẹ
đi cấy lúa rét run thân già.
Chợ làng mở dưới gốc đa Nhà quê đem mấy con gà bán chơi
Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi Đồng ta trắng xóa cả trời nước trong.
Trâu bò thất thểu long đong Trên bè tre rối bòng bong xoong nồi.
Ối mẹ ơi đê đã vỡ rồi
Trang 26Mộ cha liệu có lên trời được không.
Sao chưa thấy chiếc thuyền rồng Chở con với mẹ qua giông bão này.
Theo lời nhận xét của Vương Trí Nhàn “Lục bát của Đồng Đức Bốn từ
tốn, chậm rãi như lời nói vẩn vơ của một người vừa ngán sự đời vừa không thôi chiêm nghiệm sự đời” Thơ Đồng Đức Bốn giàu hình ảnh và nhịp điệu,
có thể thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhạc sĩ đã nhận ra sựtài tình trong thơ Đồng Đức Bốn và đã phổ nhạc cho thơ ông Đó là các nhạcsĩ: Thuận Yến, Doãn Nho, Huy Du, Huy Thục, Đặng Hữu Phúc, An Thuyên,Nguyễn Tiến, Nguyễn Cường, Tuấn Phương, Đoàn Bổng, Minh Quang…Đến nay, Đồng Đức Bốn đã có chừng hơn 50 bài thơ được các nhạc sĩ phổnhạc và các bài hát này đều nhận được sự đón nhận của khán – thính giả
Nội lực bên trong từng câu thơ của Đồng Đức Bốn một phần là ở sựhiện đại Thơ hiện đại của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, hồn vía của cuộcsống hôm nay được “quản thúc” trong niêm luật cổ truyền lục bát (NguyễnHuy Thiệp) Đó thực sự là những giá trị quý báu mà ông cống hiến cho đời:
Chợ buồn đem bán những vui
Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em.
Chợ buồn bán nhớ cho quên Bán mưa cho nắng, bán đêm cho ngày
Chợ buồn bán tỉnh cho say Bán thương suốt một đời này cho
yêu
Trang 27Tôi giờ xa cách bao nhiêu
Trang 28Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư
(Chợ buồn)Nhà thơ Bằng Việt cho rằng Đồng Đức Bốn đã thể hiện được cái tinhhoa độc đáo của mình bằng những câu thơ lục bát đậm chất quê mùanhưng ẩn chứa nhiều triết lý về thế thái, nhân tình Những quy định về thểthơ lục bát không làm khó được ý thơ của Đồng Đức Bốn Trong giọng thơ ấycái già cỗi mệt mỏi tồn tại bên cạnh cái trẻ trung, cái ham muốn bồng bộtnảy nở đấy cũng mau chóng mất đi nhường chỗ cho cái ngu ngơ bất lực baotrùm Chính cái sự nửa vời như thế đã làm cho thế giới thơ của Đồng ĐứcBốn trở nên rộng mở mà sâu sắc, vô hình đã tạo nên nét riêng của thơ ôngkhông lẫn vào đâu được
Đồng Đức Bốn có nhiều đóng góp quan trọng cho thơ ca Việt Nam,nhất là ở thể loại thơ lục bát Thơ lục bát của ông với cách ngắt nhịp, dùng từ
và rất giàu hình ảnh với tứ thơ sâu sắc đã chinh phục được bạn đọc Nhà vănNguyễn Huy Thiệp nhận xét về thơ của ông là trong khoảng 80 bài thơ, cókhoảng 15 bài thơ cực hay, tài tử vô địch Các tác phẩm của nhà thơ:
- Con ngựa trắng và rừng quả đắng, Nxb Văn học, 1992.
- Chăn trâu đốt lửa, Nxb Lao động, 1993.
- Trở về với mẹ ta thôi, Nxb Hội nhà văn, 2000.
- Chuông chùa kêu trong mưa, Nxb Hội nhà Văn, 2002.
- Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, Nxb Hội nhà Văn, 2006.
Trang 29CHƯƠNG 2:
CÁC TRƯỜNG NGHĨA CHỈ KHÔNG GIAN TRONG THƠ ĐỒNG ĐỨC BỐN 2.1 Cơ sở phân loại
Một từ có thể vừa thuộc trường nghĩa này vừa thuộc trường nghĩakhác Điều này cũng hoàn toàn có thể xảy ra trong trường nghĩa chỉ khônggian Vì vậy, để phân loại trường nghĩa chỉ không gian, chúng tôi dựa vàonét nghĩa chung nhất của các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa
Tất nhiên sự phân loại của chúng tôi cũng chỉ mang tính chất tươngđối Bởi giữa các trường nghĩa có thể xảy ra hiện tượng “giao thoa” – hiệntượng một số đơn vị từ vựng có thể thuộc trường nghĩa này, song cũng có thểthuộc trường nghĩa khác
2.2 Các trường nghĩa chỉ không gian cơ bản trong thơ Đồng Đức Bốn
Khảo sát trong khoảng 100 bài thơ của Đồng Đức Bốn, chúng tôi đãthống kê số lượng các từ thuộc các tiểu trường nghĩa không gian, số lần xuấthiện của các từ và tỉ lệ phần trăm số từ, tỉ lệ phần trăm xuất hiện trong toàn
bộ hệ thống trường nghĩa
Trang 30Bảng thống kê trường nghĩa chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn:
hiện tượng tự nhiên
TN chỉ KG
24 114 24.74 32.76xuất hiện các sự vật
tự nhiên
Xã hội
TN chỉ KG
27 50 27.83 14.37làng quê
21
Trang 312.2.1 Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên
Chúng tôi quan niệm: Trường nghĩa chỉ không gian tự nhiên là tập hợp
các từ đồng nhất về ngữ nghĩa chỉ những vật thể sống và không sống xuất hiện một cách tự nhiên (hiện tượng tự nhiên, sự vật tự nhiên) Để xác
định rõ ràng và tổng hợp một cách chính xác, khoa học nhất chúng tôi chia rõtrường nghĩa chỉ không gian tự nhiên gồm: trường nghĩa chỉ không gianxuất hiện các hiện tượng tự nhiên, trường nghĩa chỉ không gian xuất hiệncác sự vật tự nhiên
2.2.1.1 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên
Theo Hoàng Phê, hiện tượng tự nhiên là cái xảy ra trong không gian,
thời gian mà người ta nhìn thấy Mưa là một hiện tượng tự nhiên [13,438]
Tự nhiên (là tính từ) chỉ đặc điểm: thuộc về tự nhiên hoặc có tính chất
của tự nhiên, không phải do con người mới có, không phải do con người tác động hoặc can thiệp vào Con sông này là ranh giới tự nhiên giữa hai miền Cao su tự nhiên [13;1076]
Từ hai khái niệm trên, ta có thể hiểu hiện tượng tự nhiên là những cáithuộc về tự nhiên hoặc có tnh chất của tự nhiên, không phải do conngười mới có, không phải do con người tác động hay can thiệp vào, xảy ratrong không gian, thời gian mà con người cảm nhận thấy bằng các giác quan.Theo cách hiểu này, hiện tượng tự nhiên là những hiện tượng như ánh sáng,bình minh, hoàng hôn, gió, mưa, bão, sấm, sương, thủy triều
Trang 32Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên gồmcác từ chỉ không gian chứa các hiện tượng tự nhiên, bao gồm cả chínhnhững
Trang 33không gian các hiện tượng tự nhiên Tuy nhiên, tnh chất và hoạt động… củacác hiện tượng tự nhiên phải gắn liền với đặc trưng tồn tại của hiện tượng
tự nhiên, xuất hiện trong không gian nhìn thấy được để đảm bảo chúngthuộc phạm vi ý nghĩa chỉ không gian
Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các hiện tượng tự nhiên trongthơ Đồng Đức Bốn thường thấy nhất là: tên các hiện tượng tự nhiên,tên không gian luân chuyển tự nhiên (không gian xuất hiện theo chu kì thờigian, mỗi không gian ấy lại có đặc trưng riêng, đặc trưng ấy như thế nào làphụ thuộc vào thời gian mà không gian xuất hiện) (Xem tại bảng 1- phụ lục).Chẳng hạn:
[1] Tên các hiện tượng tự nhiên: mưa, nắng, bão, gió, giông, chớp, sấm,
sóng, sương,…
[2] Tên không gian luân chuyển tự nhiên: Ban mai, sáng, trưa, chiều, đêm,
tháng ba, tháng bảy, tháng mười, mùa
Trang 3425trường nghĩa chỉ không gian được sử dụng nhiều nhất trong các bài thơcủa
Trang 35Đồng Đức Bốn Các hiện tượng tự nhiên xuất hiện dày đặc như: mưa, nắng,
bão, sóng, gió, giông… không gian luân chuyển tự nhiên cũng được đưa vào
thơ ông: ban mai, sáng, trưa, chiều, tối, mùa xuân, mùa thu… Chỉ với một đoạn thơ trong bài thơ “Đời tôi” chúng ta có thể nhận thấy rõ điều
này:
“Mẹ mua lông vịt chè chai
Trời t r ư a m ư a n ắ n g đôi vai lại
gầy Xóm quê còn lắm bùn lầy Phố phường còn ít bóng cây che đường
Lời rào chim giữa g ió sư
ơng Con nghe cách mấy thôi đường còn đau.”
Sáu câu thơ được viết theo thể lục bát, bộc lộ nỗi xót xa của tác giảtrước cảnh quê nghèo, người mẹ vất vả trong mưa nắng để bươn trảimưu sinh Sự vất vả của mẹ không chỉ ở cái nghề, con đường dài mà cả thời
tiết cũng làm vai mẹ thêm gầy Mỗi ngày dù “mưa”, “nắng”, “gió”, “sương”
mẹ vẫn cố gắng vượt qua Chỉ với sáu câu thơ mà có tới năm từ chỉ trường
nghĩa các hiện tượng tự nhiên: trưa, mưa, nắng, gió, sương càng làm chúng
ta thấy rõ những vất vả của mẹ Nỗi vất vả ấy càng nhiều thì người concàng cảm thấy thương mẹ đến xót xa Có thể nói tác giả đã rất tinh tường khinhận thấy bao nỗi cực nhọc bủa vây đôi vai của mẹ và dùng chính nhữnghiện tượng tự nhiên ấy để tạo nên những vần thơ, vẽ lên bức tranh chânthực về mẹ khiến ai ai cũng cảm thấy thương “mẹ”, khâm phục tình mẹ Nókhông chỉ có tác dụng làm cho đoạn thơ, bài thơ thêm chân thực, sinh động
Trang 36mà còn dễ hiểu và dạt dào cảm xúc Có lẽ hơn ai hết, Đồng Đức Bốnhiểu rõ sự cơ cực của cái
Trang 37nghèo bủa vây từ chính tuổi thơ của mình, để từ đó thơ ông luôn mang nỗi ngậm ngùi, mất mát khiến người ta nhói đau
Không chỉ là tnh mẫu tử mà tnh yêu cũng ẩn hiện sự đau đớn,
chua chát gửi gắm trong “đêm”, trong “gió”:
“Cái đ êm lành lạnh gi ó mùa
Em trong chăn ấm có đùa với ai”
(Cái đêm em ở với chồng) Nhân vật trữ tình đang chìm trong tuyệt vọng vì đánh mất tnh yêu,
người con gái ấy đã đi lấy chồng để lại bao nhiêu nuối tiếc lẫn cả sự hờntrách Cái lạnh lẽo, cô đơn trong lòng dường như chưa đủ? Đêm là khoảngthời gian con người sống thật với chính mình, nhớ nhung và hoài niệm Đóđâu phải là đêm mùa hè trăng thanh gió mát để người ta nguôi ngoai mà đó
là “đêm” “gió mùa” lòng càng đau như cắt Sự cô quạnh và cô đơn của nhân
vật trữ tình như đi đến tận cùng bởi khung cảnh, tác giả đã rất tinh tế khi đặtnhân vật trữ tình vào hoàn cảnh đó càng giúp tô đậm tâm trạng nhân vật Córất nhiều bài thơ khác sử dụng trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện cáchiện
tượng tự nhiên và đạt được sự thành công về nội dung, nghệ
thuật:
“S ợ i m ưa tựa những dây
đàn Tay ai gảy giữa muôn ngàn nhớ thương
S ợ i mư a tựa những con
đường
Trang 38Mà tôi chỉ có một phương đi về
Ba ngày mưa ư ớt dầm
d ề Buồn vui rồi lại tái tê vui buồn
Trang 39G
i ọ t m ưa có ở trên
nguồn Hay là có tự nỗi buồn của tôi?”
(Ba ngày mưa)
“Thập thò trong bụi tre gai
Hoa dong riềng của nhà ai nở hồng
Lặng im mà s ó n g luân hồi dâng cao
Cánh hoa sắc một lưỡi dao
Vì yêu tôi cứ cầm vào như không”
(Hoa dong riềng)
“Nhà ta nắn g dột vào t r ưa
Còn nằm chiếu rách để mưa trùng trình”
(Trích: Con ơi)
Trang 40“Chiều nay Hồ Tây có gi ông
Tôi ngồi trên s ó n g mà không thấy chìm”
(Chiều nay Hồ Tây có giông)
…
Các hiện tượng tự nhiên trong thơ Đồng Đức Bốn không chỉ là nhữnghiện tượng tự nhiên đơn thuần đến rồi đi mà nó còn giúp tác giả thểhiện những tâm trạng, những nỗi suy tư về cuộc đời và tnh yêu con người.Chính tính chất của mỗi hiện tượng đã tạo nên những bức tranh tâm trạngsinh động để khi đọc hết rồi chúng ta vẫn còn nhớ bức tranh giản dị nhưnghàm chứa những ý nghĩa sâu sắc
2.2.1.2 Trường nghĩa chỉ không gian xuất hiện các sự vật tự nhiên
Sự vật là những cái tồn tại được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân
biệt với những cái tồn tại khác Ví dụ: những sự vật mới Nhìn sự vật trong quá trình phát triển [13;877].
Sự vật gồm sự vật nhân tạo (quần, áo, mũ, nón, nhà, bàn, ghế, thuyền,
con đường, vườn…) và sự vật tự nhiên (mây, núi, sông, suối, rừng, biển, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao…) nhưng ở đây chúng tôi chỉ xét về sự vật tự nhiên
còn sự vật nhân tạo chúng tôi sắp xếp chúng vào không gian xã hội bởi lẽ nó
là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo
Sự vật tự nhiên luôn tồn tại với những đặc trưng nhất định của
chúng như: kích thước của sự vật tự nhiên (to, nhỏ, lớn, bé…), màu sắc của sự vật tự nhiên (xanh, đỏ, tím, vàng, hồng, nâu, trắng, xám, đen…), tnh trạng của sự vật tự nhiên (tan, vỡ, rừng rực, ào ạt, chảy, tuôn, tụt…)… nên