1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh lớp từ miêu tả không gian trong từ ấy và việt bắc của tố hữu luận văn tốt nghiệp đại học

78 3,5K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh lớp từ ngữ miêu tả không gian trong ‘Từ ấy’ và ‘Việt Bắc’ của Tố Hữu
Tác giả Hồ Thị Hương
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Sao Chi
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngành cử nhân khoa học Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 809 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nógắn liền với quan niệm nghệ thuật của nhà thơ về con người, thế giới và thời đại,nhưng mỗi nhà thơ lại có cách riêng trong thể hiện không gian nghệ thuật.. Khinhắc đến thành công của t

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa Ng v n ữ văn ăn

===  ===

HỒ THỊ HƯƠNG

SO SÁNH LỚP TỪ NGỮ MIấU TẢ KHễNG GIAN TRONG

‘‘TỪ ẤY’’ VÀ ‘‘VIỆT BẮC’’ CỦA TỐ HỮU

khóa luận tốt nghiệp đại học

Ngành cử nhân khoa học NGỮ VĂN

Vinh, 2011

Trang 2

Trờng đại học vinh Khoa Ng v n ữ văn ăn

===  ===

SO SÁNH LỚP TỪ NGỮ MIấU TẢ KHễNG GIAN TRONG

‘‘TỪ ẤY’’ VÀ ‘‘VIỆT BẮC’’ CỦA TỐ HỮU

khóa luận tốt nghiệp đại học Ngành cử nhân khoa học NGỮ VĂN

Giỏo viờn hướng dẫn: Lờ Thị Sao Chi

Sinh viờn thực hiện: Hồ Thị Hương

Trang 3

Lê Thị Sao Chi, giảng viên khoa Ngữ Văn, trường Đại học Vinh, cùng với sự góp ý chân thành của nhiều thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ, cùng gia đình và bạn

bè Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các thầy cô giáo và cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.

Chúng tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn này nhưng chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết cần được góp ý sửa chữa Chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và bạn đọc để luận văn này được hoàn thiện hơn.

Xin cảm ơn !

Vinh, tháng 5/2011

Người thực hiện

Hồ Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại 5

4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu 6

4.3 Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp 6

5 Cái mới của đề tài 6

6 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1.Tố Hữu và thơ Tố Hữu 7

1.1.1.Tố Hữu- cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 7

1.1.2 Đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Tố Hữu 10

1.1.3 Vị trí của thơ Tố Hữu trong thơ ca Việt Nam hiện đại và thơ ca cách mạng 14

1.2.Thơ và đặc trưng ngôn ngữ của thơ 15

1.2.1.Thơ là gì 15

1.2.2 Đặc trưng của Ngôn ngữ thơ 17

1.3 Vấn đề không gian 20

1.3.1 Khái niệm không gian 20

1.3.2 Từ biểu thị không gian trong ngôn ngữ 21

1.3.3 Khái niệm không gian nghệ thuật 22

Chương 2 PHÂN LOẠI LỚP TỪ NGỮ MIÊU TẢ KHÔNG GIAN TRONG TỪ ẤY VÀ VIỆT BẮC 27

2.1 Về cấu tạo từ loại của lớp từ ngữ miêu tả không gian 27

2.1.1 Kết quả thống kê, phân loại cấu tạo lớp từ không gian trong tập thơ Từ ấy và Việt Bắc 27

Trang 5

2.1.2 Nhận xét .27

2.2 Về chức năng từ loại của lớp từ miêu tả không gian 30

2.2.1 Kết quả thống kê, phân loại từ loại 30

2.2.2 Nhận xét 31

2.3 Về nguồn gốc từ loại của lớp từ ngữ miêu tả không gian 33

2.3.1 Kết quả thống kê, phân loại nguồn gốc từ 33

2.3.2 Nhận xét 33

2.4 Về đặc điểm kết hợp của lớp từ ngữ miêu tả không gian 35

2.4.1.Từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ thời gian 35

2.4.2 Từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ tính chất, trạng thái của sự vật 38

2.4.3 Từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ cảm giác, tâm trạng con người 40

2.5 Tiểu kết 42

Chương 3 CÁC KHÔNG GIAN TIÊU BIỂU TRONG TỪ ẤY VÀ VIỆT BẮC 43

3.1 Kết quả thống kê, phân loại 43

3.2 Nhận xét 43

3.2.1 Giống nhau 43

3.2.2 Khác nhau 44

3.3 Ý nghĩa của các không gian tiêu biểu 7

3.3.1 Không gian mở rộng về biên giới, lãnh thổ 48

3.3.2 Không gian tươi sáng, ấm áp 54

3.3.3 Không gian vận động, thay đổi 57

3.4 Sự vận động không gian từ Từ ấy đến Việt Bắc 61

3.4.1 Sự vận động từ không gian hẹp đến không gian rộng 61

3.4.2 Sự vận động từ không gian tối đến không gian sáng 63

3.4.3 Sự vận động từ không gian tĩnh tại đến không gian hoạt động 64

3.4.4 Sự vận động từ không gian trừu tượng đến không gian xác thực 65

3.4.5 Sự vận động từ không gian quá khứ đến không gian hiện tại và tương lai 67 3.5 Tiểu kết 68

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO .71

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

1.1 Trên sáu thập kỷ qua, thơ Tố Hữu gắn bó với hành trình đầy cam gothử thách của cách mạng Việt Nam như một cái duyên riêng, các chặng đườngthơ ông cũng song hành với các giai đoạn của cuộc cách mạng Ông là con chimđầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam Chất trữ tình và cảm xúc về cáiđẹp trong thơ ông đồng hành với cảm xúc chính trị Người Việt Nam yêu thơ TốHữu bởi thơ ông đã kết hợp được một cách nhuần nhuyễn giữa men say lý tưởng

và tinh thần độc lập dân tộc đậm đà trong cả nội dung lẫn hình thức

Thơ Tố Hữu tuy đã được nghiên cứu, đánh giá trên nhiều mặt nhưng chưa

có tác giả nào chuyên sâu vào nghiên cứu về: “So sánh lớp từ ngữ miêu tả

không gian trong Từ ấy và Việt Bắc” Vì vậy luận văn của chúng tôi góp phần

nghiên cứu về vấn đề trên từ góc độ ngôn ngữ

1.2 Không gian là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Đó là mộtphạm trù thẫm mỹ, không đồng nhất với không gian khách quan Không có hìnhtượng nghệ thuật nào không tồn tại trong không gian của chủ thể sáng tác Nógắn liền với quan niệm nghệ thuật của nhà thơ về con người, thế giới và thời đại,nhưng mỗi nhà thơ lại có cách riêng trong thể hiện không gian nghệ thuật Khinhắc đến thành công của thơ Tố Hữu không thể không nhắc đến sự thành công

về việc tái hiện một không gian rộng lớn, đậm chất sử thi và gắn với mỗi chặngđường lịch sử cách mạng của dân tộc

1.3 Thơ Tố Hữu không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các nhà lý luậnphê bình mà còn là đối tượng dạy, học trong trường Phổ thông và Đại học Bởivậy việc nghiên cứu không gian trong thơ Tố Hữu từ góc độ ngôn ngữ sẽ gópphần giúp giáo viên, học sinh, sinh viên dạy, học thơ Tố Hữu có hiệu quả hơn

1.4 Nhà thơ Tố Hữu đã đi xa nhưng thi phẩm của ông còn mãi với thờigian như một lời nhắn nhủ ân tình, đằm thắm, thiết tha Tiếp tục nghiên cứu vềthơ ông chính là nén tấm hương thành kính nhất dâng nhà thơ- chiến sĩ Đồng

Trang 7

thời, đó cũng là phần trách nhiệm khẳng định giá trị tinh thần cao đẹp của thơ

Tố Hữu trong cuộc sống hôm nay

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài

:“So sánh lớp từ ngữ miêu tả không gian trong “Từ ấy” và “Việt Bắc” của Tố Hữu”.

2 Lịch sử vấn đề.

Song hành với con đường sáng tác của Tố Hữu hơn 50 năm qua, lịch sửnghiên cứu phê bình về thơ Tố Hữu đã trãi qua nhiều giai đoạn và đã có nhiềucông trình của các nhà nghiên cứu phê bình như : Trần Minh Tước, Trần HuyLiệu, Đặng Thai Mai, Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh,Trần Đình Sử… và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế LanViên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông…Ở mỗi góc độ khác nhau, các tácgiả đã chỉ ra những đóng góp nghệ thuật mới mẻ, phong phú, khác biệt cùng cácgiá trị nhân văn sâu sắc của thơ Tố Hữu

Xuất hiện trong những năm cuối của thời kỳ mặt trận dân chủ ĐôngDương, thơ Tố Hữu được đăng rãi rác trên một số tờ báo cách mạng đã thực sựđem lại một tiếng nói mới cho dòng thơ cách mạng Bài viết đầu tiên của K và T

trong Tố Hữu- nhà thơ của tương lai (Báo Mới số 1-1/5/1939) có viết : “Tố Hữu

là một chàng thanh niên của tương lai, chàng thanh niên ấy ham sống và sống một cách dồi dào Chàng đeo đuổi một lý tưởng Thơ chàng là cả một nguồn sinh lực phục vụ cho lý tưởng, với Tố Hữu chúng ta đã có một nhà thơ cách mạng có tài Nhà thi sỹ ấy còn trẻ lắm Cuộc chiến đấu sẽ làm dày dạn tâm hồn anh sẽ đem kinh nghiệm lại cho anh” [13, tr.560] Nhận định trên rất đáng được

ghi nhận về nhà thơ Tố Hữu trong thời kỳ đầu đến với cách mạng

Cuốn “Thi pháp thơ Tố Hữu của tác giả Trần Đình Sử (tái bản năm 2001,Nxb VH-TT) đã cung cấp một mô hình của thế giới nghệ thuật làm nền tảng chonghiên cứu thi pháp Bắt đầu từ con người, mở ra với thế giới không gian, thờigian, thể tài, chất thơ và phương thức thể hiện Tác giả cũng đã nghiên cứu đặc

Trang 8

điểm tổ chức lời thơ của Tố Hữu như đặc điểm cú pháp, cách sử dụng từ ngữ,hình ảnh, cách ngắt nhịp, ngắt dòng.

Cuốn “Tố Hữu- về tác gia và tác phẩm” của tác giả Phong Lan (Nxb

Giáo dục, 2003) tập hợp khá nhiều những bài viết tiêu biểu về thơ Tố Hữu Cácbài viết tập trung phân tích một số nét đặc sắc trong một số bài thơ, tập thơ của

Tố Hữu

Cuốn “Tố Hữu- cách mạng và thơ” của Hà Minh Đức (Nxb Đại học

Quốc gia, HN, 2004) là công trình tập hợp những bài viết của tác giả về nhà thơ

Tố Hữu khoảng 20 năm qua Đó là những cuộc trò chuyện ghi chép về thơ giữatác giả với nhà thơ Tố Hữu, là sự đánh giá, bình luận, cảm nhận về thơ Tố Hữuqua các chặng đường thơ cũng như chặng đường hoạt động cách mạng

Cuốn “Nghiên cứu bình luận thơ Tố Hữu” của Đỗ Quang Lưu (tuyển

chọn) Nxb văn hóa, TT, HN, 2006) đã nói về những câu chuyện về thơ của nhàthơ đối với đồng nghiệp, hay với giáo viên của các trường Ở đây ta thấy lýtưởng của người cộng sản, của người thanh niên đầy sức trẻ, với niềm tin củamột con người lần đầu tiên bắt gặp lý tưởng cách mạng Cũng trong cuốn sáchnày ta đã phần nào thấy rõ phong cách sáng tác thơ Tố Hữu

Cuốn “Tố Hữu về tác gia và tác phẩm” của tác giả Phong Lan và Mai

Hương (Nxb Giáo dục, HN , 2007) công trình này đã cung cấp một cái nhìn vừa

cụ thể, vừa đa dạng về giá trị tư tưởng, giá trị giáo dục và giá trị nội dung tácphẩm thơ Tố Hữu trong những thời điểm khác nhau Cuốn sách tập trung nói vềquan niệm của Tố Hữu về văn học nghệ thuật và sáng tạo thơ ca, về con đườngthơ Tố Hữu, người mở đầu cho nền thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại, nhàthơ của tương lai Cuốn sách đã khẳng định được đầy đủ những giá trị chủ yếu

và phong cách sáng tạo của tác giả

Cuốn “Tố Hữu- thơ và cách mạng” của tác giả Phong Lê (chủ biên), Nxb

Trẻ, Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh, 2007) đã tậptrung phân tích mối quan hệ giữa tham gia hoạt động và sáng tạo thơ ca trong

Trang 9

suốt cuộc đời của nhà thơ Tố Hữu Công trình có những quan điểm khoa học vềthơ Tố Hữu.

Theo hướng khai phá trên, đã có một số luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc

sỹ tiến hành khảo sát thế giới nghệ thuật của thơ Tố Hữu như : Đoàn Thị Tiến

với Tìm hiểu các từ ngữ chỉ địa danh trong thơ Tố Hữu, Nguyễn Thị Ánh Tuyết với luận văn tốt nghiệp Khảo sát cách sử dụng từ địa phương trong thơ Tố Hữu.

Nói tóm lại, thơ Tố Hữu đã được phân tích và đánh giá trên nhiều mặt :nội dung, tư tưởng, hình thức, chủ đề, đề tài, thể loại Thư mục các bài viết, cácchuyên luận, các công trình nghiên cứu về Tố Hữu ngày càng dài ra Theo thống

kê chưa đầy đủ của chúng tôi, hiện nay có khoảng hơn 200 bài viết, chuyên luận,công trình nghiên cứu và biên soạn về thơ Tố Hữu của các tác giả trong và ngoàinước Điều này chứng tỏ vị trí đặc biệt của Tố Hữu trên thi đàn dân tộc Nhìnchung, các tác giả tập trung vào một số vấn đề sau:

- Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ là sự thống nhấtchặt chẽ, sự nghiệp thơ ca gắn liền với sự nghiệp cách mạng của tác giả, trởthành một bộ phận của sự nghiệp ấy

- Về nội dung tư tưởng, thơ Tố Hữu là tiếng nói của lý tưởng cộng sản Lýtưởng ấy vừa là ngọn nguồn cảm hứng, là nơi xuất phát và điểm quy chiếu mọicái nhìn nghệ thuật của nhà thơ về con người và đời sống Sức mạnh và điểm tựavững vàng cho đời và cho thơ Tố Hữu chính là nhân dân Thơ ông trở thànhnguồn cảm xúc trữ tình tiêu biểu cả thời đại Đất nước, nhân dân liên tiếp đượctôn vinh qua những chặng đường đấu tranh gian khổ và vinh quang của Tổ quốc

Tố Hữu là người đánh dấu một bước phát triển mới của thơ ca dân tộc

- Về phong cách nghệ thuật, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho thơ trữ tình chínhtrị, giàu khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Giọng điệu riêng trong thơông là giọng tâm tình ngọt ngào, tha thiết Tố Hữu là nhà thơ giàu tính dân tộc,thể hiện nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc, cách biểu đạt, so sánh ví von, sửdụng hình ảnh ví von, sử dụng hình ảnh gần gũi, quen thuộc với tâm hồn người

Trang 10

Việt Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ ông là nhạc điệu, đặc biệt phong phú

về vần phối âm trầm bổng, nhịp nhàng nên dễ ngâm, dễ thuộc

Song cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào thống kê đầy

đủ, chi tiết, số liệu cụ thể về lớp từ ngữ miêu tả không gian nghệ thuật trong thơ

Tố Hữu

Trong giới hạn của một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chỉ tập trung vào

việc khảo sát lớp từ chỉ không gian trong hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc.

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Trong đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát lớp từ ngữ chỉ không giantrong 73 bài thơ của Tố Hữu ở hai tập thơ :

- Từ ấy (1937-1946), chúng tôi khảo sát 51 bài thơ.

- Việt Bắc (1946-1954), chúng tôi khảo sát 22 bài thơ.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Nhiệm vụ của chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này nhằm :

- Thống kê, phân loại, miêu tả và so sánh các lớp từ miêu tả không gian

trong hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc

- Chỉ ra các không gian tiêu biểu trong Từ ấy và Việt Bắc.

- Nhận xét về sự giống nhau và khác nhau trong việc sử dụng lớp từ ngữ

miêu tả không gian trong hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc để thấy rõ những đặc

điểm phong cách ngôn ngữ của thơ Tố Hữu

4 Phương pháp nghiên cứu.

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại.

Phương pháp này được sử dụng để thống kê, phân loại các từ loại của lớp

từ ngữ miêu tả không gian theo cấu tạo, chức năng, nguồn gốc, đặc điểm kếthợp, các không gian tiêu biểu, khi phân tích, xử lý ngữ liệu

Trang 11

4.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Phương pháp này được sử dụng khi so sánh vốn từ ngữ miêu tả không

gian trong hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc, khi tổng hợp nhận xét định lượng, định

tính các nội dung nghiên cứu

4.3 Phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp.

Trên cơ sở thống kê, phân loại, khảo sát, so sánh đối chiếu, chúng tôi tiếnhành miêu tả, phân tích ý nghĩa cụ thể và ý nghĩa khái quát của lớp từ ngữ miêu

tả không gian, sự hành chức trong việc kết hợp các từ ngữ miêu tả không gianvới các từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất, cảm giác…

5 Cái mới của đề tài.

Đây là đề tài lần đầu tiên đi tìm hiểu, so sánh lớp từ ngữ miêu tả khônggian trong thơ Tố Hữu, từ đó rút ra nhận xét về phong cách nghệ thuật của tácgiả, về sự chuyển biến trong nội dung thơ ông qua hai thời kỳ từ (1937-1946)đến (1946-1954)

6 Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấutrúc thành ba chương:

Chương1 : Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương2 : Phân loại lớp từ ngữ miêu tả không gian trong Từ ấy và Việt

Bắc của Tố Hữu.

Chương3: Các không gian tiêu biểu trong Từ ấy và Việt Bắc

Trang 12

Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.

1.1.Tố Hữu và thơ Tố Hữu.

1.1.1.Tố Hữu- cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.

Tố Hữu tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh ngày 4/10/1920 tại làng PhùLai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế- nơi đâyvới thiên nhiên thơ mộng và nhiều danh lam thắng cảnh đã nuôi dưỡng giọngđiệu ân tình, ngọt ngào sâu lắng trong hồn thơ Tố Hữu

Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ, Tố Hữu

đã sớm giác ngộ lý tưởng cộng sản và hăng hái tham gia hoạt động cách mạng,giữ nhiều cương vị trọng yếu trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.Ông mất ngày 9/12/2002 tại Hà Nội, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho côngchúng yêu thơ và những người đồng chí

Là người phải chịu nhiều mất mát từ nhỏ nên Tố Hữu có một trái tim, mộttấm lòng biết rung động sâu xa trước những cảnh đời éo le ngang trái trong xãhội cũ và đồng cảm sâu sắc với họ Có lẽ nhờ vậy mà Tố Hữu hòa nhập nhanhvới quần chúng lao khổ và tìm đến cách mạng khi còn rất trẻ Thơ Tố Hữu đã nóilên tiếng nói của quần chúng cách mạng, được họ đón nhận và yêu quý Tác giả

Trần Đình Sử đã nhận xét : “Nếu lấy mức độ phổ cập, sức mạnh chinh phục trái

tim quần chúng nhân dân làm thước đo tầm vóc tiếng thơ thì Tố Hữu có thể so sánh với bất cứ nhà thơ lớn nào có trong lịch sử dân tộc và nhân loại” [23, tr.15].

Trên 60 năm sáng tác,Tố Hữu đã để lại cho thi đàn Việt Nam trên 7 tập thơ :

Trang 13

Thơ của Tố Hữu đã trở thành đối tượng khảo sát của hơn 200 bài viết vànhiều công trình khác nhau.

- Tập thơ Từ ấy - tập thơ đầu tay của Tố Hữu gồm 3 phần: Máu lửa: gồm

27 bài, là thơ của Tố Hữu sáng tác ở thời kỳ Mặt trận dân chủ, tập trung vàonhững vấn đề lớn của thời đại như chống phát xít, phong kiến, vấn đề quyền

sống của con người và cách mạng giải phóng dân tộc Xiềng xích gồm 30 bài

được Tố Hữu viết trong tù, thể hiện nổi buồn đau và ý chí, khí phách của người

chiến sỹ cách mạng trong tù Giải phóng gồm 14 bài được Tố Hữu viết từ lúc

vượt ngục để một năm sau độc lập, chủ yếu ca ngợi lý tưởng, quyết tâm đuổigiặc cứu nước và niềm vui chiến thắng

Trong Từ ấy không chỉ có tiếng chim rộn rã và hương hoa , niềm vui bắt

gặp lý tưởng, mà còn có những lời động viên, an ủi, chia sẻ với những số phậnbất hạnh.Từ ấy là tiếng sét đầy căm hờn, là hồi kèn xung trận thôi thúc mọingười xông lên lao vào trận chiến với kẻ thù để giành lại quyền sống cho mình

Tập thơ Từ ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Khẳng định vai trò lãnh đạo

của Đảng cộng sản trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, tạo bước ngoặt lớn choquá trình phát triển thơ ca Việt Nam hiện đại

- Việt Bắc: gồm 25 bài, sáng tác giai đoạn (1946-1954) Việt Bắc là quyết

tâm bảo vệ đất nước đã được giải phóng.Tập thơ mở đầu bằng 8 câu đề từ có giátrị một tuyên ngôn nghệ thuật ngắn về mối quan hệ giữa văn nghệ (thuyền), vớinhân dân ( bể ) với lao động (buồm) và với Đảng (gió)

- Gió lộng : Gồm 25 bài, sáng tác giai đoạn (1955 -1961).

Ở đây cái tôi trữ tình sôi nổi được bộc lộ trên nền hiện thực hoành tráng

của cuộc sống mới Gió lộng là thơ của những lời tri ân đối với Đảng, Bác Hồ,

với nhân dân- Tinh thần quốc tế vô sản cũng được đề cập Giọng thơ anh hùng

ca ngày càng được khẳng định, đề tài bao quát được hiện thực, ý thơ mang tầm

tư tưởng cao

-Ra trận : gồm 35 bài, sáng tác giai đoạn (1962-1971).

Trang 14

Vốn là một hồn thơ yêu thương, nghĩa tình, Tố Hữu ao ước được làm thơ

ca ngợi đất nước thanh bình Nhưng khi Miền Nam, rồi cả đất nước chìm trongkhói lửa chiến tranh, Tố Hữu giành phần lớn tâm huyết để ngợi ca chủ nghĩa anhhùng cách mạng, do đó giọng điệu tập thơ thấm đẫm chất hùng ca

-Máu và hoa : Gồm 13 bài, sáng tác giai đoạn (1972-1977).

Có ý nghĩa tổng kết quá trình phát triển của dân tộc, của cách mạng Việt

Nam, một hành trình đầy máu và hoa “Máu” biểu tượng cho nổi đau uất hận trong hàng nghìn năm nô lệ và sự hy sinh, xả thân vì nghĩa lớn “Hoa” biểu

tượng cho vẻ đẹp của lí tưởng cộng sản, chủ nghĩa anh hùng và niềm vui ngàychiến thắng

- Một tiếng đờn : Gồm 73 bài, sáng tác giai đoạn (1978-1992) Được giải

thưởng ASEAN

Đó là những dòng tâm tư, trăn trở từ mạch cảm xúc trong thời hòa bình.Xuất hiện những dòng thơ tươi xanh, mang đậm cảm hứng thế sự Đề tài phongphú, đa dạng, ngợi ca vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người, công cuộc xâydựng đất nước đầy phức tạp, tình yêu và số phận con người…âm hưởng thơ ítvang xa (hướng ngoại) mà vọng sâu hơn (hướng nội)

- Ta với ta :Gồm 40 bài,sáng tác giai đoạn (1993-2002).

Là tập thơ có nhiều niềm vui, nhà thơ đã nhìn ra sợi dây ràng buộc vữngchắc với đất nước, với nhân dân mang nặng tình đời, tình cảm với đất nước,nhân dân, bạn bè, cảm hứng đầy lạc quan tin tưởng Đó là tập thơ mang đầy kỷniệm thời cá nhân…

Con đường thơ của Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với con đường đấu tranh cáchmạng Việt Nam Hoạt động chủ yếu trong đời Tố Hữu là làm cách mạng và làmthơ cách mạng Bởi vậy khi có người hỏi nhà thơ rằng : Công việc hoạt độngchính trị có ảnh hưởng đến việc làm thơ hay không thì Tố Hữu đã trả lời : “60năm qua, tôi hoạt động trên nhiều lĩnh vực Công tác chính trị, kinh tế đòi hỏi trítuệ và tính cụ thể, chính xác, còn thơ lại là yêu cầu tình cảm, sự xúc động của tâm

Trang 15

hồn, tính trừu tượng Đối với tôi hoạt động chính trị và sáng tác thơ dù khác nhau

nhưng vẫn có cái gốc chung là nhiệm vụ cách mạng và đều phải thấu nhân tình”.

Làm bí thư hoài có bí…thơ ? Rằng thơ với Đảng nặng duyên tơ Thuyền bơi có lái qua mưa gió Không lái thuyền trôi lạc bến bờ.

(Chuyện thơ)

1.1.2 Đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Tố Hữu.

1.1.2.1 Đặc điểm nội dung.

“Một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc”, “Nhà thơ của tình thương mến”, “Nhà thơ của lý tưởng cộng sản, của những lẽ sống thời đại”…

Đó là những tình cảm mà các nhà nghiên cứu phê bình văn học dành cho TốHữu và thơ ông Đó cũng là những ý kiến khái quát, súc tích nhất về đặc điểmnội dung thơ Tố Hữu

Con đường thơ của Tố Hữu bắt đầu gần như cùng lúc với con đường hoạtđộng cách mạng, rồi từ đó gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh cách mạng vàđược lý tưởng cộng sản soi sáng

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chói qua tim Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

(Từ ấy)

Với Tố Hữu, “tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người,

viết về các vấn đề lớn hay một sự kiện nhỏ (…) là để nói cho được lý tưởng cộng sản ấy thôi” [26].

Thơ ông thể hiện sâu sắc tinh thần thời đại, đánh dấu một bước phát triểnmới của thơ ca dân tộc Đặc biệt trong thơ, Tố Hữu đã tìm thấy nhân dân củamình Nhân dân tiềm ẩn nhiều sức mạnh và là điểm tựa vững chắc cho đời, cho

Trang 16

thơ Bởi vậy, thơ ông thường hướng về cộng đồng để hòa nhập, như tiếng nóianh em với những người lao khổ.

“Tôi buộc lòng tôi với mọi người”

“Tôi đã là con của vạn nhà”…

(Từ ấy)

Tố Hữu đã miêu tả Tổ quốc trên tầm cao của thời đại, tầm cao trong chiềudài lịch sử, trong quan hệ vời thời đại Có thể khẳng định, Tố Hữu đã nói lên sâusắc nhất hành trình đầy thử thách của Tổ quốc trong cuộc chiến đấu tranh giankhổ mà vinh quang Đất nước và con người liên tiếp được tôn vinh trong thơ ôngqua những chặng đường lịch sử Từ cảm hứng lịch sử, nhà thơ đã sáng tạo thànhcảm hứng sử thi với ý thức ngợi ca cộng đồng trong sự nghiệp xây dựng và bảo

“Dẫu không hơi sức khơi dòng thẳng Còn chút phù sa cũng gắng bồi”.

(Chào xuân 99)

1.1.2.2 Đặc điểm nghệ thuật thơ Tố Hữu.

Thơ Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị Khi đến với thơ ca cùng lúc với

sự gặp gỡ lý tưởng cách mạng Hồn thơ của Tố Hữu được chiếu rọi và bừng nởdưới ánh sáng của lý tưởng ấy Thơ Tố Hữu là phục vụ cho lý tưởng cộng sản

cách mạng trong từng giai đoạn thể hiện qua các tập thơ : Từ ấy, Việt Bắc, gió

Trang 17

lộng, ra trận, máu và hoa… Con người trong thơ Tố Hữu luôn luôn được nhìn ở

quan hệ chính trị, đôi khi ông nói đến đời tư, đời thường chẳng qua là chỉ tô đậmphẩm chất chính trị của nhân vật Thơ ông là lời tâm huyết say mê khi gặp lýtưởng cộng sản

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lý chí qua tim”.

xúc cảm về mọi phương diện, mọi hiện tượng của đời sống “Tố Hữu đưa thơ

chính trị lên đến trình độ là thơ rất trữ tình” (Xuân Diệu) Đến với Việt Bắc,

nhân vật trung tâm của thơ Tố Hữu là người chiến sĩ, là quần chúng cách mạngtrong kháng chiến chống Pháp, đó là hình ảnh anh bộ đội lên Tây Bắc

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài lên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo”.

(Lên Tây Bắc)Thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu là thành tựu xuất sắc của thơ hiện đạiViệt Nam Đó là sự kế thừa dòng thơ ca cách mạng ở đầu thế kỉ XX của PhanBội Châu, Phan Châu Trinh và các nhà thơ khác Nhà thơ đã đổi mới trên nhữngthành tựu của thơ ca đương thời, đem đến cho văn học cách mạng một tiếng thơsôi nổi, trẻ trung, mới mẻ và tràn đầy cảm hứng lãng mạn Những bài thơ TốHữu là tình cảm thiên về chính trị Đó là tình yêu Đảng với tấm lòng sắc son

Trang 18

“Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng Tấm lòng son chói sáng nghìn thu, Mặt trời có lúc mây mù Trái tim kia vẫn đỏ bầu máu tươi”.

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)Ngoài yêu Đảng, Tố Hữu còn yêu Bác Hồ, yêu quê hương đất nước, yêuđồng bào, đồng chí Thơ Tố Hữu vừa thể hiện nội dung chính trị, vừa tác độngvào tình cảm người đọc bằng những hình ảnh gợi cảm, nhạc điệu réo rắc, giọngđiệu tâm tình Sử dụng bút pháp tượng trưng thể hiện những lý tưởng và ước

mơ Có những hình ảnh rất đơn sơ nhưng vô cùng gợi cảm, thể hiện tinh thầncủa đất nước quê hương

Thơ Tố Hữu gắn liền với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.Khuynh hướng sử thi có mặt trong thơ Tố Hữu ngay từ chặng đường đầu nhưng

bộc lộ đậm nét và đầy đủ từ cuối tập Việt Bắc nhất là trong thời kỳ kháng chiến

chống Mỹ Tinh thần sử thi được nảy sinh trong hoàn cảnh phi thường Thơ ôngluôn dạt dào niềm tin vào Đảng, vào thắng lợi của cách mạng, khơi dậy niềm vuicho công chúng và hướng công vào một tương lai tươi sáng của dân tộc

Thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc, ông sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơtruyền thống và có nhiều sáng tạo làm phong phú thêm cho các hình thức thơ canày Tính dân tộc được thể hiện ở lối biểu đạt, cách so sánh, có nhiều câu thơgần gũi với ca dao, dân ca

“Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”.

(Việt Bắc)

“Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời.”

(Tiếng ru)

Trang 19

Tính dân tộc còn thể hiện ở việc sử dụng những tên đất, tên vùng, gâycảm xúc bằng âm điệu du dương, vừa bằng khả năng gợi quá khứ của những tênđịa phương, linh hồn của quê hương đất nước, những Diêm Phố, Hanh Cát,Hanh Cù, Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam…

1.1.3 Vị trí của thơ Tố Hữu trong thơ ca Việt Nam hiện đại và thơ ca cách mạng.

Hàng chục tập thơ của Tố Hữu dài theo đường đời và đường cách mạngcủa nhà thơ Mỗi tập thơ đều chắt chiu từng chặng sống, từng chặng hoạt độngcách mạng say mê và nhiệt thành của nhà thơ, cũng đồng thời là sự kết tinhnhững sự kiện trọng đại nhất trên từng chặng đường lịch sử vẻ vang và không ítthăng trầm, gian khổ của dân tộc, của cách mạng Việt Nam Thơ Tố Hữu là sựhội tụ của những lẽ sống lớn của thời đại, của tiếng nói tâm tình của dân chúng,

để trở thành tiếng hát tâm tình của dân tộc, của thời đại

Tố Hữu là cánh chim đầu đàn, là lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Chỉ

với Tố Hữu, cuộc sống đời thường mới ùa vào tràn đầy, mạnh mẽ và sống động

đến thế Tố Hữu đã kéo thơ hoàn toàn ra khỏi tháp ngà nghệ thuật đặt nó vào

giữa cuộc đời cách mạng sôi nổi của dân tộc và bằng tâm hồn thi sĩ của mình,thơ ông dùng tiếng nói hàng ngày của nhân dân để bộc lộ cảm xúc, được kết cấu

và đưa đẩy theo mạch cảm xúc và dòng chảy ý thức tự nhiên bên trong của ông.Người đọc rung cảm và đồng vọng bởi mạch ngầm cảm xúc, suy tư sâu thẳmtrong cõi lòng của thơ Tố Hữu

Lần đầu tiên trong lịch sử nước nhà, chúng ta có một kiểu nhà thơ hoàntoàn mới - Nhà thơ của giai cấp vô sản, nhà thơ - chiến sĩ, biết đem đời mình vàthơ mình ra chiến đấu cho ngọn cờ lý tưởng, cao cả vì Độc lập, Tự do của Tổ

quốc Thơ ông là thơ mang cánh lửa, đốt cháy trái tim con người vào ngọn lửa

thần của đại nghĩa [6] Thơ ông là chỗ dựa tâm hồn cho bao thế hệ độc giả vì

họ cảm nhận được ngọn lửa lý tưởng ngời sáng cùng một trái tim yêu thươngcon người rộng lớn và sâu thẳm

Trang 20

Chính vì lẽ đó, thơ Tố Hữu luôn tìm được sự giao hòa, cảm hóa với côngchúng độc giả cùng với thời gian, góp phần quan trọng trong nền thơ ca ViệtNam hiện đại nói chung và thơ ca cách mạng nói riêng.

1.2.Thơ và đặc trưng ngôn ngữ của thơ.

1.2.1.Thơ là gì?.

Thơ ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại Thơ là một thể loại văn học hếtsức quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại, ở phương Đông cũngnhư ở phương Tây Thế nhưng, khi ta đặt ra và trả lời câu hỏi thơ là gì ? thì câuhỏi này hoàn toàn không dễ trả lời Khác với các loại tác phẩm truyện, kí, kịch,thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con người, mà tâm hồn của con người là một thếgiới tinh vi, phức tạp, mờ ảo nên thơ có thể dễ dàng cảm nhận bằng trực giácnhưng rất khó đúc kết, khái quát thành một định nghĩa thật sự hoàn chỉnh

Từ xưa đến nay, ở tất cả mọi nền văn học, đã có nhiều đầu óc thông tháiđưa ra những định nghĩa về thơ Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩanào là duy nhất đúng

Nhà lí luận phê bình văn học Lưu Diệp quan niệm : “Thơ là để nói lên cái

chí, lời ca là để làm cho lời nói được lâu dài.(…) Ở trong lòng thì gọi là chí, nói ra lời thì gọi là thơ”, nhằm nhấn mạnh vào mục đích làm thơ Khi bàn về Kinh Thi,

một tuyển tập thơ ca dân gian cổ đại của Trung Quốc, Khổng Tử nhấn mạnh đến khả năng bồi đắp năng lực ngôn luận cho con người của thơ : “Không học Kinh

Thi lấy gì để nói” Ông đề cao tác dụng xã hội của thơ : “Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát phong tục, hòa hợp với mọi người, bày tỏ nổi sầu oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được tên chim muông, cây cỏ”.

Nhà thơ lớn thời Trung Đường Bạch Cư Dị quan niệm : “Cảm hóa nhân

tâm thì không gì bằng tình cảm Và không thể bắt đầu bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ Không gì thân thiết bằng thanh âm Không gì sâu sắc bằng tư tưởng Gốc của thơ là tình cảm Lá của thơ là ngôn ngữ Hoa của thơ là âm thanh Quả của thơ là tư tưởng”.

Trang 21

Nhà thơ lãng mạn Pháp Đuy-pê-lây (thế kỉ XIII) quan niệm : “Thơ là

người thư kí trung thành của trái tim đa cảm” Nhà thơ A.Đơ Vi nhi cho rằng :

“Thơ là nghệ thuật, là tài nghệ, là sáng tạo có tính chất nghệ sĩ, nghĩa là thơ rốt cuộc phải được sáng tạo trong ngôn từ”

Học giả Lê Quý Đôn cho rằng : “Làm thơ có ba điều chính, một là tình,

hai là cảnh, ba là sự (…) Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là sự hợp nhất cả trời và đất Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng” nhà thơ cách mạng Tố Hữu nhấn mạnh: “Thơ là tiếng lòng hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước trời đất Thơ là tiếng hát của tình cảm thiết tha mãnh liệt … Thơ tràn ra khi trong tim ta khi cuộc sống đã tràn đầy Bài thơ hay là bài thơ làm cho người ta không còn cảm thấy câu thơ

mà chỉ thấy tình người… Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu”.

Nhà thơ Xuân Diệu cũng chung cảm nghĩ ấy khi viết “Thơ là tiếng gọi đàn, là

sự đồng thanh tương ứng,đồng khí tương cầu”.

Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng của Valêri khi cho rằng “Thơ là sự phân

vân giữa nhạc và ý” Nhà văn Nguyễn Tuân quan niệm “…thơ là ảnh, là nhân ảnh, thơ cũng ở loại cụ thể hữu hình Nhưng nó khác với cái cụ thể của văn Cũng mọc lên từ cái đống tài liệu thực tế, nhưng từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la, từ một điểm nhất định, nó mở ra một cái diện không gian, thời gian trong đó nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp… Thơ là mở

ra được một cái gì mà trước câu thơ đó, trước nhà thơ đó vẫn như là bị phong kín”.

Trong bài Tựa tự viết cho tập thơ của mình, nhà thơ Sóng Hồng đã đưa ra

định nghĩa rất sâu sắc và toàn diện về thơ : “Thơ tức là sự thể hiện con người và

thời đại một cách cao đẹp” Thơ là thơ đồng thời là vẽ, là nhạc, là chạm khắc

theo cách riêng “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng” “Thơ

là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm

và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên một nhạc điệu khác thường” “Thơ là một viên ngọc kim

Trang 22

cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời” “Thơ cũng như nhạc có thể trở thành một sức mạnh phi thường khi nó chinh phục được trái tim của quần chúng nhân dân”.

Nhà nghiên cứu Phan Ngọc góp vào lĩnh vực này một định nghĩa rất đáng

chú ý “Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp

nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ này”.

Theo Đỗ Đức Hiểu, xét về thi pháp, có thể đúc kết đặc trưng thơ thànhmột số đặc điểm chủ yếu :

- Thơ trực tiếp bộc lộ cảm xúc, nỗi lòng, suy nghĩ của tác giả: tức làkhẳng định thơ thuộc phương thức trữ tình, đồng thời nhấn mạnh vai trò cảmxúc và khả năng tạo nên sức đồng cảm mạnh mẽ đối với người đọc của thơ

- Thơ có một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt

Có thể phát biểu một cách ngắn gọn : Thơ là một loại hình văn học tồn tại bên cạnh truyện và kịch, là hình thức sáng tác văn học nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua một tổ chức ngôn từ đặc biệt thành những câu văn vần giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm.

1.2.2 Đặc trưng của Ngôn ngữ thơ.

Thơ là một hình thức nghệ thuật tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật

Vì thế, ngôn ngữ thơ trước hết là ngôn ngữ văh học, nghĩa là : Ngôn ngữ mang

tính nghệ thuật được dùng trong văn học mang những đặc trưng riêng là tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và biểu cảm.

Trang 23

Cũng như ngôn ngữ của các tác phẩm trữ tình khác, ngôn ngữ thơ là mộtthể loại văn học được tổ chức trên cơ sỡ nhịp điệu một cách cô đọng, hàm súc vàrất gợi cảm, cụ thể là đặc trưng về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp nhằm biểu trưnghóa, khái quát hóa hiện thực khách quan theo cách tổ chức riêng của thơ ca.

1.2.2.1 Về mặt ngữ âm.

Đặc điểm nổi bật nhất của ngôn ngữ thơ so với văn xuôi là tính nhạc, chú

ý tổ chức các phương tiện ngữ âm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểuhiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn cả âm thanh và nhịp điệu: Các thành tốtham gia tạo nên tính nhạc như thủ pháp nghệ thuật, biện pháp tu từ… Trongvăn xuôi, người ta không lặp lại ngữ âm thì trong thơ lặp lại ngữ âm trở thànhmột biện pháp nghệ thuật hữu hiệu Đối, điệp, láy, lặp…tạo nên tính nhạc khubiệt ngôn ngữ thơ với văn xuôi

Yếu tố quan trọng tạo nên tính nhạc và thơ là vần và nhịp Vần tạo nênnhịp, liên kết các dòng thơ, tạo nên sự hòa âm trong thi ca Vần điệu, tiết tấuđược tạo thành bởi các nguyên âm, phụ âm, thanh điệu bằng- trắc, trầm-bổng…không chỉ làm cho câu thơ có nhạc mà trong toàn bộ bài thơ, câu thơ, dòng thơđều lan tỏa ngân vang tiếng nhạc diệu kỳ Vì thế, ngôn ngữ thơ trở thành nguồncảm hứng vô tận cho các nhạc sỹ phổ nhạc bài hát Đó là sự kết hợp ăn ý giữanhạc của thơ với nhạc của âm nhạc tạo nên những rung động diệu kỳ, lay động

trái tim độc giả…Điều này chứng tỏ thi trung hữu nhạc (trong thơ có nhạc).

1.2.2.2 Về mặt ngữ nghĩa.

Nếu như văn xuôi hay văn bản khoa học, ngôn ngữ đòi hỏi nghĩa đen,chính xác, không mang tính hình ảnh thì trong địa hạt ngôn ngữ thơ, ngoài giátrị biểu niệm, nghĩa đen, nghĩa gốc còn có ý nghĩa mới nhờ sự chế tác, biến cáitài ba của thi nhân làm cho nó trở nên tinh tế hơn, đa dạng và hấp dẫn hơn Đó lànghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ hay còn gọi là nghĩa biểu trưng của ngôn ngữ thơ Vìthơ bị giới hạn bởi câu chữ, cấu trúc, thể loại khác nhau chi phối sự lựa chọn câu

chữ lời ít ý nhiều Nên, mỗi từ, ngữ được sử dụng một cách linh hoạt, linh động

và đa dạng

Trang 24

Thơ ca là ý ở ngoài lời (ý tại ngôn ngoại ) là sự dồn nén chữ và nghĩa,

giữa cái được biểu đạt và cái được biểu đạt đã xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau,cùng nâng thơ lên tầng nghĩa cao hơn Khoảng lặng trong thơ tạo nên giá trị ngữnghĩa vô tận mà chúng ta phải huy động trí tưởng tượng phong phú, kinhnghiệm dồi dào để khảo sát thơ Chính vì vậy, ngôn ngữ thơ luôn được sáng tạomới mẻ, tươi tắn làm cho cuộc hành trình của loài người thâm nhập vào địa hạtthơ trở nên thú vị, hấp dẫn

1.2.2.3 Về mặt ngữ pháp.

Ngôn ngữ thơ không bị áp chế giữa dòng thơ và câu thơ, nên trong thơ có

sự bất bình thường hay nói cách khác là quái đản Có khi những câu thơ có

nhiều dòng thơ, lại có dòng thơ bao gồm nhiều câu, các thành phần trong dòng,trong câu bị đảo lộn trật tự ngược lại với văn xuôi Đây còn gọi là hiện tượng vắtdòng trong thơ ca Việt Nam hiện đại

Thơ ca nhiều khi giữa các dòng, các vế câu, có ý là không có mối liên hệlogic gì với nhau, hay trái ngược, thậm chí phi lý nhưng người đọc vẫn ngầmhiểu được các ý trong câu, sự ẩn náu của ngữ nghĩa đằng sau bề mặt câu chữ.Tầng nghĩa đằng sau cấu trúc ngữ pháp tưởng như không lý giải được trở nênhợp lý, chấp nhận được mà chỉ có thể có trong thơ Từ sự kết hợp bất bìnhthường trong kiến trúc dòng thơ dẫn đến khả năng sáng tạo nên những kiểu câu

đa dạng: câu có một âm tiết đến câu có nhiều âm tiết, câu vắt dòng, câu trùngđiệp, đảo cú… Nó phụ thuộc vào bàn tay tài hoa của thi sĩ, không chỉ ảnh hưởngđến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản mà còn mở ra những chân trờingữ nghĩa mới

Nói tóm lại, từ đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa nói trên, ta thấyrằng: Ngôn ngữ thơ là thứ ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù Bởi nó không chỉ là con

đẻ của nhà thơ mà còn là đối tượng sáng tạo lại của người tiếp nhận, thưởngthức Ngôn ngữ thơ có khả năng diễn đạt tình sâu ý viễn trong sự lựa chọn và kếthợp từ, ngữ tạo nên khả năng vô cùng trong việc sáng tạo cũng như khám phánhững trạng thái tình cảm, tinh thần phong phú và bí ẩn của con người

Trang 25

1.3 Vấn đề không gian.

1.3.1 Khái niệm không gian.

Không gian chính là khoảng không tồn tại trong vũ trụ Theo “Từ điển

tiếng Việt” thì không gian- đó là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với

thời gian), trong đó các vật thể có độ dài và độ lớn khác nhau, cái nọ ở cách cái kia, vật chất vận động trong không gian và thời gian Không gian- đó là khoảng không bao trùm mọi vật xung quanh con người.

Theo quan điểm của triết học không gian cùng với thời gian là hai chiềutồn tại cơ bản của vật chất Không gian tồn tại ngoài vật chất chỉ là không giantrừu tượng vô nghĩa Không gian gắn bó mật thiết với thời gian và không thểtách rời vật chất, chính nó tạo nên bối cảnh, môi trường cho sự tồn tại của vậtthể Không gian khách quan của thế giới tự nhiên được tạo nên bởi sự sắp xếpmột cách khách quan giữa các sự vật, nếu thay đổi trật tự sắp xếp đó sẽ dẫn đến

sự thay đổi các mặt không gian của nó Để biểu thị không gian người ta đưa racác khái niệm biểu thị độ dài, ngắn, rộng, hẹp, cao, thấp, xa, gần, trên, dưới…

Và cụ thể hơn để đo những khoảng cách trong không gian có các đơn vị đolường như : mét, kilômét

Trong thế giới tự nhiên mỗi sự vật đều có một không gian khác nhau vàkhông gian đó là không gian của sự vật cụ thể, con người cũng là một vật thểcủa tự nhiên, bởi vậy con người cũng tồn tại trong không gian và thời gian Mỗicon người có thể có những không gian sống riêng trong những thời điểm lịch sửriêng Cuộc sống con người gắn bó với những không gian cụ thể, thay đổi địađiểm không gian khác có thể con người phải thay đổi cách sống cho phù hợp vớimôi trường, thậm chí là thay đổi cả số phận, tính cách và sống cuộc sống khác…

Vì thế mà có những câu ca dao từ xưa của ông cha ta khá sâu sắc : “Ở bầu thì

tròn, ở ống thì dài” hay “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.

Không gian có mối quan hệ mật thiết sâu sắc với con người, là yếu tốquan trọng của cuộc sống con người Trong không gian có những kiểu loại đảm

Trang 26

nhận chức năng khác nhau tạo nên môi trường sống cho con người và địa điểmcho mọi vật thể, sự vật trên trái đất Không gian cũng được biến đổi dần theo trítuệ nhận thức của con người, nó cũng tồn tại vĩnh hằng theo thời gian.

Không gian hiện thực dưới lăng kính chủ quan của nhà văn thành khônggian nghệ thuật mang tính cảm quan của người nghệ sĩ

Trong hiện thực, không gian là sự tồn tại về vật chất, còn trong văn họckhông gian là một hình thức tồn tại của nghệ thuật, một thành tố của nghệ thuật,phản ánh quan niệm chủ quan của nhà văn về cuộc sống Dưới ngòi bút sáng tạocủa cá nhân nghệ sĩ khi đi vào tác phẩm, không gian nghệ thuật tạo nên thế giớikhông gian riêng cho tác phẩm, mở ra nét phong cách cá tính riêng của tác giả

1.3.2 Từ biểu thị không gian trong ngôn ngữ.

Như chúng ta đã biết, vật chất dù ở dạng nào, vận động hay không vậnđộng đều có một vị trí nhất định, một khung cảnh nhất định trong tương quan về

mặt kích thước với các vật thể xung quanh Lênin đã khẳng định : “Trong thế

giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể ở đâu ngoài không gian và thời gian” (V.I.Lênin, tr.189- 193).

Vậy, ngôn ngữ cũng có không gian của nó Không gian ngôn ngữ khácvới không gian vật lý khách quan trong nhận thức khoa học cũng như khônggian được phản ánh trong đầu óc con người với tư cách là một chủ thể nhậnthức Không gian ngôn ngữ là kết quả của sự phản ánh có chọn lọc của khônggian nhận thức, nghĩa là không gian trong ngôn ngữ phản ánh toàn bộ khônggian nhận thức

H.Clark cho rằng : “Không gian ngôn ngữ là không gian được biểu đạt

trong ngôn ngữ của các từ chỉ không gian, nó trực tiếp liên quan với không gian được tri giác”.

Không gian có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ, Nguyễn Đức Dân cũng

đã khẳng định điều đó : … “Những năm gần đây người ta nhận ra rằng không

gian có vai trò cơ bản hơn thời gian trong tổ chức ngôn ngữ Hình ảnh thế giới

Trang 27

được phản ánh qua ngôn ngữ trước hết là phản ánh về nhận thức không gian rồi mới tới thời gian”.

Đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc tìm hiểutoàn diện về không gian ngôn ngữ nhưng qua công trình nghiên cứu về ngữnghĩa của các nhà ngôn ngữ trên thế giới như Lyons, leech, Talmy, H.Clark…

và của những nhà Ngôn ngữ Việt Nam như : Nguyễn Đức Dân, Nguyễn ĐứcTồn, Lý Toàn Thắng… chúng ta có thể biết không gian ngôn ngữ có các thuộctính và quan hệ sau :

- Hình dáng : được biểu đạt trong ngôn ngữ với các từ như tròn, vuông , méo

- Kích cỡ : được biểu đạt trong ngôn ngữ với các từ như dài, to, nhỏ.

- Khoảng cách : được biểu đạt trong ngôn ngữ với các từ như xa, gần

- Tư thế : được biểu đạt trong ngôn ngữ với các từ như thẳng đứng,

1.3.3 Khái niệm không gian nghệ thuật.

Từ không gian vật lý chuyển thành không gian nghệ thuật là cả một quátrình vận động, biến chuyển không ngừng Không gian nghệ thuật là mô hìnhnghệ thuật về thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phậncủa mình ở đó Không gian nghệ thuật được quan niệm như mối quan hệ biệnchứng của quan niệm về con người và hiểu biết cho quan niệm ấy… Không giannghệ thuật có mối quan hệ mật thiết với không gian hiện thực Không gian nghệthuật mang quan niệm suy tưởng của nhà văn, biểu hiện của cách cảm thụ, tiếp

nhận, là hiện diện của không gian tâm tưởng Trần Đình Sử có ý kiến : “Không

gian nghệ thuật được hiểu đó là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế

Trang 28

giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật trường nhìn mở ra

từ một điểm nhìn, một cách nhìn độc đáo của tác giả” [22, tr.180].

Không gian trong văn học là yếu tố không gian đã mang một nội dungthẩm mỹ mới, một yếu tố được khúc xạ qua tâm hồn nhà văn góp phần chuyểntải nội dung tư tưởng của nhà văn

Nó là quy luật của người sáng tạo ngệ thuật, là phép biện chứng tâm hồncủa người hoạt động nghệ thuật, hay nói theo khuynh hướng lý luận phê bình thì

đó là yếu tố của thi pháp học, là một hình thức cách nói không gian mang ý

nghĩa Trần Đình Sử có ý kiến : “ Khó mà hiểu hết đặc điểm trong quan niệm về

thế giới và con người của một nhà thơ nếu không tìm hiểu không gian trong các sáng tác đó”.

Không gian nghệ thuật tạo nên tính chỉnh thể trọn vẹn của tác phẩm vănhọc cùng với thời gian nghệ thuật thể hiện một cách sáng tạo mới mẻ, nhãn quansáng tác của tác giả Là hội tụ của quan điểm nghệ thuật, kết nối mạch vùng cácđiểm sáng của thi pháp học Bản thân nó cũng thể hiện quan niệm của tác giả đốivới cuộc đời

Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” thì thuật ngữ “Không gian nghệ

thuật” được hiểu : “Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên

mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể có không gian tâm tưởng Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối không quy ước vào không gian địa lý Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối quan hệ của bức tranh thế giới như : Thời gian, xã hội ,tôn ti, đạo đức… không gian có thể mang tính cản trở để mô hình hóa các kiểu tính cách con người” [ 10, tr.134].

Còn có ý kiến của Trần Đình Sử : “ Không gian nghệ thuật là mô hình

không gian của thế giới nghệ thuật Sự đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian các miền phương vị , các chiều… Tạo thành các ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan niệm của tác phẩm Sự lặp lại của hình thức không gian

Trang 29

chính là sự tạo thành tính cách loại hình của không gian nghệ thuật trong tác phẩm” [21, tr.93].

Bất cứ một hình thức nghệ thuật nào cũng mang dụng ý sáng tác của tácgiả, lý giải cho mọi logic của tác phẩm Yếu tố không gian nghệ thuật gắn liềnvới trình độ nhận thức của con người về vũ trụ về thế giới tự nhiên của conngười Thuở xưa, trong các tác phẩm truyền thuyết đã tái hiện cuộc sống conngười hoang dã bí hiểm Vũ trụ rộng lớn, kì vĩ, thần kỳ, do đó mà ngay trongnền văn học dân gian đã có ước mơ khắc phục khoảng cách Không gian trongvăn học dân gian là không gian lãng mạn, không gian của trí tưởng tượng phongphú Núi, sông, bầu trời không là trở ngại ngăn cách họ nữa bởi vì bằng đôi cánhcủa mình họ đã có vài dặm, thảm biết bay, con chim khổng lồ

Còn trong ca dao thì không gian làng quê, sinh hoạt làng quê lại chiếm ưuthế : cây đa, bến nước, mái đình, đồng ruộng là nơi xuất hiện tâm sự của nhữngnhân vật : anh trai cày, cô thôn nữ, đứa trẻ chăn trâu

- Trên đồng cạn dưới đồng sâu Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa.

- Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

- Qua đình ngã nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

Trong văn học trung đại không gian nghệ thuật thường lặp lại một kiểunhất định : Không gian trên cao, không gian tĩnh, sự tương đồng hô ứng giữacon người và không gian lớn của vũ trụ Thiên nhiên là điểm tựa của con người,con người sống hòa vào thiên nhiên vũ trụ Không gian ước lệ tượng trưng :

“ Côn Sơn suối chảy rì rầm

Trang 30

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Côn Sơn có đá rêu phơi

Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm Trong ghềnh thông mọc như nêm Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm Trong rừng có bóng trúc râm Dưới màu xanh ngát ta ngâm thơ nhàn”.

Trần Đình Sử đã nhận xét không gian nghệ thuật thể hiện quan niệm về

trật tự thế giới : “Mô hình thế giới có thể tạo thành bởi các cặp tương quan : ở

đây- ở kia, quê nhà- quê người, làng quê- thành phố, cõi tiên- cõi phàm, ngục tù- tự do, xã hội- tự nhiên” [ 21, tr.90] Mỗi không gian đều có tính chất và quy

luật của nó, có thể xem không gian nghệ thuật trong tác phẩm như là một hệ

thống mà không gian nhân vật lại là một yếu tố : “ Nếu tác phẩm thường có kiểu

không gian như : thành phố, vườn hoa, trang trại, ngôi nhà, con đường… thì không gian nhân vật bao gồm sự cảm nhận không gian ấy” [ 21, tr.91]

Trong văn chương cổ điển : “ Những cảm xúc không gian bao giờ cũng

nhuốm màu tôn giáo và triết học Không gian là một khối lượng không thuần nhất, có trung tâm và có ngoại vi” [ 21, tr.90].

Văn học hiện đại, không gian thơ Mới phong phú, giàu cảm xúc Khônggian nghệ thuật mang dấu ấn người nghệ sĩ, góp phần bộc lộ tư tưởng, tình cảmcủa nhà văn đối với con người

Xuân Diệu cảm nhận :

“Không gian như có dây tơ Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu”.

Huy Cận trợn ngợp trước không gian đất trời :

“Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu”.

Trang 31

Nguyễn Bính :

“Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn Hai người sống giữa cô đơn…”.

Hay Tố Hữu :

“ Ta đi giữa ban ngày Trên đường cái, ung dung ta bước Đường ta rộng thênh thang tám thước”.

Mỗi người sinh ra bị hoàn cảnh không gian chi phối nhiều do đó phải đặttrong mối quan hệ với môi trường ấy Không gian trong văn học hiện thực phêphán 1930- 1945 là thứ không gian tù túng chật hẹp được bao bọc bởi ranh giới

cụ thể : Những làng quê nhốn nháo trong mùa sưu thuế được bao bọc bởi lũy trelàng, rồi cảnh đình làng, ngôi nhà tù túng chật hẹp… Tất cả nói lên cảnh sốngnghèo khổ, không lối thoát của người dân lao động

Tố Hữu là một nhà văn, nhà thơ có hồn thơ phong phú, đa dạng Khônggian trong thơ Tố Hữu được biểu hiện phong phú, có những cách tân sáng tạo,tạo nên phong cách nghệ thuật riêng của ông

Trang 32

Chương 2 PHÂN LOẠI LỚP TỪ NGỮ MIÊU TẢ KHÔNG GIAN TRONG TỪ ẤY

VÀ VIỆT BẮC

Qua khảo sát, chúng tôi đã phân loại lớp từ ngữ miêu tả không gian trong

tập thơ Từ ấy và Việt Bắc ra bốn tiêu chí : Về cấu tạo từ loại của lớp từ ngữ

miêu tả không gian,về chức năng từ loại của lớp từ ngữ miêu tả không gian, vềnguồn gốc từ loại của lớp từ ngữ miêu tả không gian, về đặc điểm kết hợp củalớp từ ngữ miêu tả không gian Sau đây chúng tôi sẽ đi vào tiêu chí cụ thể sau :

2.1 Về cấu tạo từ loại của lớp từ ngữ miêu tả không gian.

2.1.1 Kết quả thống kê, phân loại cấu tạo lớp từ không gian trong tập thơ Từ ấy và Việt Bắc.

Qua thống kê và khảo sát hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc chúng tôi có bảng

tổng hợp sau

Bảng 1 : Bảng tổng hợp về cấu tạo lớp từ ngữ miêu tả không gian.

TT Cấu tạo từ Từ ấy Việt Bắc Ví dụ

1 Từ đơn tiết 363 281 Núi, đường, sông…

2 Từ đa tiết 100 185 Nước non, rừng núi,

trời đất…

2.1.2 Nhận xét

2.1.2.1 Giống nhau :

Từ đơn tiết là từ chỉ có một âm tiết, xét về mặt lịch sử thì đây là từ được

ra đời sớm nhất cùng với quá trình hình thành ngôn ngữ và xã hội loài người.Đây là lớp từ cơ bản của tiếng Việt đồng thời chiếm một vị trí quan trọng trongquá trình giao tiếp hàng ngày

Từ đa tiết là từ có hai âm tiết trở lên và có ý nghĩa, được kết hợp tạo nên

sự dính kết đi liền Nó được sinh ra trên cơ sỡ những từ đa tiết vốn có cùng với

Trang 33

sự phát triển của xã hội loài người, nhu cầu giao tiếp đòi hỏi gia tăng vốn từvựng Do đó đã nảy sinh quá trình đa tiết hóa và sự phát triển về nghĩa của từ.

Như vậy, cả hai tập thơ Tố Hữu đều sử dụng từ đơn tiết và từ đa tiết, đều

có cấu tạo chặt chẽ, linh hoạt, hoàn chỉnh và thống nhất, được sử dụng đan xenrất phong phú

(1) Gió lùa mưa rơi rơi

Trên nẻo đường sương lạnh

(Mồ côi, tr.27)

(2) Của ta, trời đất, đêm ngày

Núi kia,đồi nọ, sông rày, của ta.

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, tr.256)

(3) Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh

Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi !

Từ đơn tiết ở tập thơ Từ ấy chiếm 363 từ.

Từ đơn tiết ở tập thơ Việt Bắc chiếm 281 từ.

Cả hai tập thơ đều sử dụng các từ đơn tiết chỉ không gian tiêu biểu như :

Rừng, đường, ruộng, sông, núi, nhưng ở tập thơ Việt Bắc từ “đường” xuất hiện

rất nhiều lần trong các bài thơ, được lặp đi lặp lại trong một câu thơ như mộtđiệp khúc hành quân

(5) Ta đi giữa ban ngày

Trên đường cái, ung dung ta bước

Trang 34

Đường ta rộng thênh thang tám thước Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên Đường qua Tây bắc, đường lên Điện Biên Đường cách mạng, dài theo kháng chiến…

(Ta đi tới,tr.261)

b Về từ đa tiết.

Về từ đa tiết thì tập thơ Việt Bắc được sử dụng nhiều hơn so với tập thơ

Từ ấy : Tập thơ Từ ấy chiếm 100 từ, tập thơ Việt Bắc chiếm 185 từ.

Trong đó, từ “sông núi” được sử dụng nhiều trong tập Từ ấy.

(6) Như các bà đau đớn !

Sông núi có biên cương.

(Tình thương với chiến tranh, tr.63)Hay :

(7) Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy

Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

(9) Ngàn năm xưa, nước non Hồng

Còn đây, ơn Bác nối dòng dài lâu Ngàn năm non nước mai sau Đời đời ơn Bác càng sâu càng nồng.

(Việt Bắc,tr.272)

Trong tập thơ Việt Bắc, từ đa tiết có khi lại đứng liên tiếp nhau trong một

dòng để nói lên sự giàu có của Việt Nam về thiên nhiên, con người, sự phongphú và đa dạng về giá trị vật chất và giá trị tinh thần

(10) Bác ngồi đó, lớn mênh mông

Trang 35

Trời xanh biển rộng, ruộng đồng nước non.

(Sáng tháng năm,tr.250)

(11) Phải dành lại từ tay quân giặc

Từng cửa nhà mồ mả ông cha!

(Hành khúc,tr.249)

2.2 Về chức năng từ loại của lớp từ miêu tả không gian.

Từ loại là những lớp từ được phân loại dựa trên những đặc điểm về ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu [16,tr.103].

Theo tiêu chí phân loại từ loại theo chức năng thì có 9 từ loại : danh từ,động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, quan hệ từ

2.2.1 Kết quả thống kê, phân loại từ loại.

Ở đây chúng tôi chỉ khảo sát hai từ loại nổi bật trong thơ Tố Hữu, đó là :danh từ và tính từ

Tố Hữu đã sử dụng từ loại (danh từ và tính từ) chỉ không gian như sau :

Bảng 2 : Bảng tổng hợp về từ loại chỉ không gian.

Trang 36

Chỉ hình ảnh đối lập Rừng- núi, sông- biển…Chỉ hình ảnh điển hình Đường, gió, biển…

Chỉ đơn vị đo lường Thước, mét…

2.Tính từ

Chỉ kích thước Dài, rộng, cao…

Chỉ phạm vi Mênh mông, bao la, thênh

Hai tập thơ Từ ấy và Việt Bắc đều sử dụng nhiều danh từ và tính từ để

biểu thị không gian

Tố Hữu chủ yếu sử dụng các danh từ tiêu biểu chỉ hình ảnh đối lập như : :

rừng- núi, sông- biển (sử dụng 6 lượt ở tập thơ Từ ấy, 10 lượt ở tập thơ Việt Bắc); các hình ảnh điển hình như : đường, gió, biển…(sử dụng 8 lượt ở tập thơ

Từ ấy, 9 lượt ở tập thơ Việt Bắc); hoặc sử dụng các tính từ như : dài, rộng, cao…, xa, gần, vàng, đỏ, xanh… (sử dụng 21 lượt ở tập thơ Từ ấy, 19 lượt ở tập

thơ Việt Bắc) để chỉ tính chất của thời gian.

2.2.2.2 Khác nhau.

a Về danh từ.

Số lượng danh từ được sử dụng trong tập thơ Việt Bắc chiếm số lượng lớn hơn so với tập thơ Từ ấy.

Danh từ trong tập thơ Từ ấy có 124 từ.

Danh từ trong tập thơ Việt Bắc có 128 từ.

Danh từ được sử dụng trong tập thơ Việt Bắc chủ yếu là các địa danh liên

tiếp : 85 lượt dùng/ 95 từ

(12) Ai đi Nam- Ngãi, Bình- Phú, Khánh Hòa

Ai vô Phan Rang, Phan Thiết

Ai lên Tây Nguyên, Công Tum, Đắc Lắc

Trang 37

Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung.

(Ta đi tới,tr.263)

(13) Ai về mua vại Hương Canh

Ai lên mình gửi cho anh với nàng Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.

(Việt Bắc, tr.271)

b Về tính từ :

Cả hai tập thơ đều sử dụng tương đương nhau, tập thơ Từ ấy có 36 từ, tậpthơ Việt Bắc có 43 từ

(14) Nếu đôi nơi chưa phải

Thì trong cõi mênh mông Hỡi linh hồn rộng rãi

Để giây phút mà trông.

(Tình thương với chiến tranh, tr.62)

(15) Bác ngồi đó, lớn mênh mông

Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non…

(Sáng tháng Năm, tr.250)

Trang 38

2.3 Về nguồn gốc từ loại của lớp từ ngữ miêu tả không gian.

2.3.1 Kết quả thống kê, phân loại nguồn gốc từ.

Bảng 4 : Bảng phân loại nguồn gốc từ chỉ không gian.

Từ “không gian” trong tập thơ Từ ấy được sử dụng nhiều : 6 lượt dùng

trong tổng số 17 từ Hán Việt Đó là không gian nói chung, thiếu tính cụ thể, xácđịnh

(16) Không gian sặc sụa mùi ô uế

Trang 39

Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi…

(Dửng dưng, tr.47)

(17) Không gian hồng như giấc mộng đê mê

Tim bồng bột hát những lời âu yếm…

(Hy vọng, tr.68)

(18) Không gian xanh dội tiếng hát vanh lừng

Hồn cách mệnh đã châm ngòi thuốc nổ.

(14 tháng 7, tr.107)

Còn trong tập thơ Việt Bắc từ Hán Việt được sử dụng nhiều nhất là từ

“chiến khu”, sử dụng 7 lượt trong tổng số 9 từ Hán Việt Nó diễn đạt được

khung cảnh, vị trí tồn tại cụ thể, xác định của con người và sự kiện

(19) Đêm nay gió rét trăng lu

Rộn nghe tiếng cuốc chiến khu phá đường.

(Phá đường, tr.216)

(20) Quê hương anh đó : gió sương mù

Và rú rừng đây của chiến khu.

b Về việc sử dụng từ thuần Việt.

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh, Từ điển Hán- Việt, Nxb KHXH, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán- Việt
Nhà XB: Nxb KHXH
2. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, 2, Nxb Giáo dục, 1998- 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Nguyễn Xuân Bình, Đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ kích thước, Luận án tiến sĩ, Vinh, 2009, tr 28 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ kích thước
4. Đỗ Hữu Châu, Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Phan Mậu Cảnh, Ngôn ngữ học văn bản, Trường Đại học Vinh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học văn bản
6. Xuân Diệu, Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1900- 1945, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900- 1945
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Nguyễn Thị Thanh Đức, Các từ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử, Luận văn thạc sỹ, ĐHV, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các từ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử
8. Nguyễn Văn Hạnh, Phong cách thơ Tố Hữu, Hội san NCKH, 1997, Số 3, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách thơ Tố Hữu
9. Nguyễn Văn Hạnh, Tố Hữu, Nhà thơ trữ tình lớn của cách mạng, báo Văn học, số 72, ngày 11/ 12/ 1959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu, Nhà thơ trữ tình lớn của cách mạng
10.Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển TNVH, Nxb ĐHQGHN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển TNVH
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
11.Trần Ngọc Hưởng, Luận đề về thơ Tố Hữu, Nxb TN, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận đề về thơ Tố Hữu
Nhà XB: Nxb TN
12.Mai Hương, Thơ Tố Hữu những lời bình, Nxb VHTT, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Tố Hữu những lời bình
Nhà XB: Nxb VHTT
13.Mai Hương, Vân Trang, Nguyễn Văn Long, Tố Hữu thơ và cách mạng, Nxb Hội nhà văn, H,1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu thơ và cách mạng
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
14.Phong Lan, Tố Hữu, Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giá dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố Hữu, Về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giá dục
15.Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo duc, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo duc
16.Đỗ Thị Khiêm, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb GD
17.Đỗ Thị Khiêm, Bài tập ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18.Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb ĐHQG, HN, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật thơ
Nhà XB: Nxb ĐHQG
19.Trần Đình Sử, Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20.Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Tác phẩm mới, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Tố Hữu
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Bảng tổng hợp về cấu tạo lớp từ ngữ miêu tả không gian. - So sánh lớp từ miêu tả không gian trong từ ấy và việt bắc của tố hữu luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 1 Bảng tổng hợp về cấu tạo lớp từ ngữ miêu tả không gian (Trang 32)
Bảng 5 : Bảng thống kê từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ thời gian. - So sánh lớp từ miêu tả không gian trong từ ấy và việt bắc của tố hữu luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 5 Bảng thống kê từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ thời gian (Trang 40)
Bảng 6 : Bảng thống kê từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ tính chất,  trạng thái của sự vật. - So sánh lớp từ miêu tả không gian trong từ ấy và việt bắc của tố hữu luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 6 Bảng thống kê từ chỉ không gian kết hợp với từ chỉ tính chất, trạng thái của sự vật (Trang 43)
Bảng 8 : Bảng thống kê, phân loại các không gian tiêu biểu. - So sánh lớp từ miêu tả không gian trong từ ấy và việt bắc của tố hữu luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 8 Bảng thống kê, phân loại các không gian tiêu biểu (Trang 48)
Bảng 10 : Nhóm chỉ danh từ chỉ địa danh trong tập thơ Việt Bắc. - So sánh lớp từ miêu tả không gian trong từ ấy và việt bắc của tố hữu luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 10 Nhóm chỉ danh từ chỉ địa danh trong tập thơ Việt Bắc (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w