1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát từ ngữ chỉ không gian trong thơ tố hữu

111 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 919,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về nghiên cứu từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian trong tiếng Việt, trong các văn bản nghệ thuật Nghiên cứu về từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian trong

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THƠM

KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN

TRONG THƠ TỐ HỮU

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÁI NGUYÊN - 2013

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ THƠM

KHẢO SÁT TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN

TRONG THƠ TỐ HỮU

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60 22 02 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Quang Năng

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thơm

Trang 4

Sau cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học viên Cao học Ngôn ngữ K19 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và viết luận văn

Thái Nguyên, ngày 02 tháng 4 năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Thơm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của luận văn 7

8 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8

1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài 8

1.1.1 Từ và đoản ngữ 8

1.1.2 Danh từ và danh ngữ 9

1.1.3 Nghĩa và trường nghĩa 10

1.1.4 Ngôn ngữ và văn hóa 12

1.1.5 Khái niệm về không gian 19

1.1.6 Khái niệm không gian nghệ thuật 20

1.1.7 Không gian và vấn đề tri nhận không gian 22

1.2 Một số nét khái quát về nhà thơ Tố Hữu và về từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 23

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp thơ ca và phong cách thơ Tố Hữu 23

1.2.2 Sơ lược về từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 27

Tiểu kết 29

Trang 6

Chương 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ CÁC TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG

GIAN VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG

GIAN TRONG THƠ TỐ HỮU 30

2.1 Kết quả thống kê các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 30

2.1.1 Nhận xét chung 30

2.1.2 Danh từ, danh ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 31

2.1.3 Đại từ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 48

2.2 Khả năng kết hợp của từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 50

2.2.1 Danh từ chỉ không gian kết hợp với danh từ 51

2.2.2 Danh từ chỉ không gian kết hợp với đại từ 55

2.2.3 Danh từ không gian kết hợp với động từ 57

2.2.4 Danh từ chỉ không gian kết hợp với tính từ 58

2.2.5 Danh từ không gian kết hợp với số từ 61

Tiểu kết 63

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN TRONG THƠ TỐ HỮU 64

3.1 Không gian chân thực, cụ thể 64

3.1.1 Không gian làng quê 64

3.1.2 Không gian thành thị 67

3.1.3 Không gian chiến tranh 69

3.1.4 Không gian lao tù 71

3.2 Không gian ước lệ 73

3.2.1 Không gian liên tưởng – tưởng tượng 73

3.2.2 Không gian tâm linh 75

3.2.3 Không gian văn hóa – tín ngưỡng 77

3.3 Không gian thiên nhiên – vũ trụ 79

3.4 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 83

Tiểu kết 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 96

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 2.1: Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu 30Bảng 2.2 Bảng thống kê khả năng kết hợp của danh từ chỉ không gian

với các từ loại khác 51

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Không gian là một trong những đối tượng phản ánh của tác phẩm văn học,

là một phạm trù thẩm mĩ Không có hình tượng nghệ thuật nào lại không tồn tại trong không gian của chủ thể sáng tác Không gian gắn với những quan niệm

về nghệ thuật, về con người, về thế giới chủ quan Không gian còn là một yếu

tố quan trọng góp phần làm sáng tỏ được những vấn đề thực sự của ngôn ngữ liên quan đến văn học với tư cách là “nghệ thuật ngôn từ”

Không gian trong nghệ thuật cũng được coi là một hình tượng nghệ thuật Cũng như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không gian nghệ thuật là sản phẩm của nghệ sĩ nhằm biểu hiện về con người, về thế giới, đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh Không gian trong nghệ thuật có mô hình và ngôn ngữ riêng của mình vì nó thể hiện quan niệm về trật tự thế giới, về sự lựa chọn của con người

1.2 Tố Hữu là một nhà thơ lớn của dân tộc Ngay từ khi mới xuất hiện, thơ Tố Hữu đã được xem là “bó hoa lộng lẫy”, là “lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng” và

đã sớm thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học Đúng như Phong Lan và Mai Hương nhận xét: “Trên bầu trời của văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu luôn được coi là ngôi sao sáng, là người mở đầu và dẫn đầu tiêu biểu cho thơ ca Cách mạng Sáu mươi năm gắn bó với hoạt động Cách mạng

và sáng tạo thơ ca, ông thực sự tạo nên được niềm yêu mến, nỗi đam mê bền chắc trong nhiều độc giả Ông là người đem đến cho công chúng và rồi cũng nhận lại từ

họ sự đồng điệu, đồng cảm, đồng tình tuyệt diệu, đang là niềm mơ ước của mọi sự nghiệp thơ ca, kể cả những nhà thơ lớn cùng thời với ông ”

Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị và là sự kết hợp sáng tạo giữa tính dân tộc và tính hiện đại cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện Thơ ông đã chinh phục được nhiều thế hệ bạn đọc qua giọng điệu trữ tình Cách mạng ấm

áp tính đời, tình người và đã lắng sâu trong lòng quần chúng nhân dân trong suốt thời gian qua

Trang 9

Mỗi tác giả có một phong cách nghệ thuật đặc trưng được tạo nên từ chính việc lựa chọn chất liệu ngôn ngữ để sáng tạo tác phẩm, tạo nên những từ ngữ mang dấu ấn cá nhân của từng thi sĩ Nghiên cứu từ ngữ cũng chính là đi tìm những yếu tố làm nên phong cách của một nhà thơ, từ đó tìm ra con đường khám phá thế giới nghệ thuật riêng của tác giả

1.3 Tuy đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu, khám phá thơ Tố Hữu

từ nhiều góc độ nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào chọn từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu làm đối tương nghiên cứu Xuất phát từ thực tế

ấy, với mong muốn tìm được hướng nghiên cứu văn học dưới cái nhìn ngôn

ngữ học, chúng tôi đã mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát từ ngữ

chỉ không gian trong thơ Tố Hữu” nhằm tìm hiểu sự vận động và biến đổi của

từ ngữ chỉ không gian trong hoạt động hành chức Từ đó, luận văn sẽ làm sáng tỏ phần nào đặc trưng từ ngữ - một phần làm nên phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

1.4 Tố Hữu là một tác gia lớn, có vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại Thơ ông được đưa vào giảng dạy ở chương trình phổ thông, cao đẳng, đại học Bởi vậy, việc nghiên cứu và khảo sát các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu là một việc làm có ý nghĩa, góp phần thiết thực vào việc giảng dạy

và học tập thơ Tố Hữu trong nhà trường phổ thông hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sơ lƣợc tình hình nghiên cứu các sáng tác thơ Tố Hữu

Tố Hữu là một cây đại thụ của nền văn học Việt Nam hiện đại Khối lượng tác phẩm của ông rất đồ sộ: hàng chục tập thơ với gần một nghìn bài Đây quả là một con số không nhỏ Vì vậy, trong suốt thời gian qua ngay từ khi bước chân vào thi đàn, Tố Hữu đã gây được sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong cả nước như: K và T, Trần Minh Tước, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình Sử và các

Trang 10

nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông,

Tuy nhiên xuất phát từ những góc độ, khía cạnh tiếp cận khác nhau, nhưng các nhà nghiên cứu đều gặp gỡ và thống nhất trong nhận định: Tố Hữu

là một phong cách lớn trong sự phát triển của nền văn học dân tộc Thơ ông không chỉ đặc sắc ở nội dung, tư tưởng mà còn đặc sắc về nghệ thuật trên các phương diện phong cách và ngôn ngữ Bằng những hiểu biết sâu rộng và tài năng riêng, mỗi người theo một cách thức riêng của mình đã chỉ ra thế giới nghệ thuật mới mẻ, phong phú, khác biệt cùng các giá trị nhân văn và thẩm mĩ, sâu sắc, lâu bền của thơ Tố Hữu Trong những công trình biên khảo chuyên sâu

về thơ ông nổi bật nhất là ba công trình: “Thơ Tố Hữu” của Lê Đình Kỵ (1979), “Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” và

“Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu” của Nguyễn Văn Hạnh (1985), và “Thi pháp thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử (1987)

2.2 Khái quát về nghiên cứu từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian trong tiếng Việt, trong các văn bản nghệ thuật

Nghiên cứu về từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian trong tiếng Việt, trong các văn bản nghệ thuật đã có các công trình của các tác giả

như: “Thời gian và không gian trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao” của Trần Đăng Xuyền (Tạp chí Văn học số 5-1991), “Sự biểu đạt bằng các tín hiệu

thẩm mĩ không gian trong ca dao” của Trương Thị Nhàn (Luận án Phó tiến sĩ

Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội-1995), “Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn

Mặc Tử” của Nguyễn Thị Thanh Đức (ĐHSP Vinh-2002), “Không gian nghệ thuật trong thơ trữ tình” của Bùi Thị Minh Duyên (ĐHSP Hà Nội-2005), “Múa

võ trong không gian hẹp” của Lê Quang Trang (NXB Hội Nhà văn-2006),

“Không gian trong mảng ca dao về lao động sản xuất” của Cao Thị Thu Hường (ĐH Vinh-2009), “Trường nghĩa không gian trong thơ Nguyễn Bính” của Nguyễn Thị Thu Vân (ĐH Hải Phòng-2011), “Trường nghĩa không gian trong

thơ Nguyễn Duy” của Nguyễn Thị Dung (ĐH Hồng Đức-2011), “Khảo sát các

Trang 11

từ ngữ chỉ không gian trong thơ Đồng Đức Bốn” của Tống Thị Diễm Hương

(ĐH Hải Phòng - 2012)

Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian trong tác phẩm văn chương rất phong phú Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình riêng biệt nào nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về từ ngữ chỉ không gian, trường nghĩa không gian trong thơ Tố Hữu Từ cơ sở đó, luận văn này hi vọng sẽ là một đóng góp mới cho hướng nghiên cứu trên

2.3 Nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Tố Hữu

Nghiên cứu về thơ Tố Hữu từ phương diện ngôn ngữ đã có các công

trình của các tác giả như: “Về cách dùng từ chỉ mầu sắc trong thơ Tố Hữu” của

Lê Anh Hiền (Tạp chí Ngôn ngữ số 4-1976), “Tính dân tộc hiện đại của ngôn

từ thơ Tố Hữu” của Trần Đình Sử (Báo Văn nghệ số 36-1985), “Nhạc điệu thơ

Tố Hữu” của Nguyễn Trung Thu (Tạp chí Văn học số 6-1968), “Từ láy trong

ba tập thơ Từ ấy, Việt Bắc và Gió Lộng của Tố Hữu” của Nguyễn Thị Hương

Trang (Luận văn tốt nghiệp trường ĐHSP TN-2003), “Ẩn dụ tu từ trong thơ Tố

Hữu” của Nguyễn Huệ Yên (Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn, trường ĐHSP

TN, năm 2004) và nhiều công trình khác Trong bài viết “Nhạc điệu trong thơ

Tố Hữu”, Nguyễn Trung Thu đã có nhận định, đánh giá khá sâu sắc và khái

quát về ngôn ngữ thơ trongphong cách nghệ thuật của Tố Hữu: “Tố Hữu là

người rất am hiểu ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ quần chúng, rất am hiểu thơ ca dân gian và thơ cổ điển Qua sáng tác của Tố Hữu chúng ta có thể tìm thấy nhiều mặt Tố Hữu đã tiếp thu thành quả của ca dao, dân ca, thơ văn cổ điển và hiện đại”

Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương có rất nhiều hướng đi, nhất là những năm gần đây, nhiều vấn đề của văn học được soi rọi dưới cái nhìn của ngôn ngữ học hiện đại Đi sâu vào lí giải sức hấp dẫn của ngôn ngữ thơ Tố Hữu, hầu hết các bài viết, các bài phê bình, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến ngôn ngữ thơ Tố Hữu như là dẫn chứng để minh họa cho những

Trang 12

phát hiện về những vấn đề lớn như: thi pháp thơ, phong cách nghệ thuật, bản sắc thơ Tố Hữu,…Một số bài viết, bài phê bình có đưa ra những nhận xét về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Tố Hữu trong việc tạo dựng không gian Trong bài viết của mình, Đặng Thai Mai đã nhận xét Tố Hữu “là một nhà thơ

đã vận dụng âm điệu và âm hưởng của tiếng Việt một cách hết sức tài tình”

Trên cơ sở nguồn tư liệu quý báu có tính gợi mở, định hướng của các nhà

nghiên cứu, thẩm bình, lựa chọn đề tài “Khảo sát từ ngữ chỉ không gian trong

thơ Tố Hữu” chúng tôi cố gắng tìm ra cách tiếp cận thơ Tố Hữu ở một góc độ

mới: tìm hiểu cách tổ chức ngôn từ của nhà thơ trong việc biểu hiện không gian nghệ thuật

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài thực hiện các mục đích sau:

- Xác định không gian như một phạm trù thẩm mĩ của nghệ thuật biểu thị thi ca - một phạm trù cho phép lí giải những quan niệm của chủ thể sáng tạo

- Khảo sát và nêu kết quả thống kê các từ ngữ chỉ không gian, cách kết hợp của những từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

- Tìm hiểu về ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ không gian và một số hiện tượng chuyển nghĩa của từ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu nhằm giúp cho công việc giảng dạy và hoạt động văn học trong nhà trường có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

- Xây dựng cơ sở lí luận việc thực hiện nghiên cứu về từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

- Trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân loại các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu, chỉ ra những đặc điểm nổi bật trong cách tổ chức ngôn từ của nhà thơ khi biểu hiện không gian nghệ thuật Nêu các đặc điểm về ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu Từ đó luận văn khái quát chung về đặc trưng ngôn ngữ thơ Tố Hữu - một phần làm nên diện mạo thơ ông

Trang 13

- Từ những vấn đề về nội dung và phương pháp của đề tài, luận văn hướng vào đóng góp thực tiễn trong việc phân tích và giảng dạy các tác phẩm văn chương trong trường phổ thông

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do khuôn khổ của luận văn có hạn nên chúng tôi chỉ tập trung khảo sát

các từ ngữ chỉ không gian trong 3 tập thơ của Tố Hữu, đó là: “Từ ấy”, “Việt

Bắc” và “Gió lộng” Các tư liệu khảo sát và trình bày trong luận văn được thu

thập từ 113 bài thơ đã được chính Tố Hữu chọn lựa, sửa chữa và sắp xếp trong

cuốn “Thơ Tố Hữu”, Nxb Văn hóa và Thông tin, Hà Nội, 2002

6 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối kết hợp các phương pháp

và thủ pháp nghiên cứu sau:

6.1 Thi pháp học thể loại: vận dụng thi pháp thể loại (thơ trữ tình)

6.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Bước đầu tiên của quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành khảo sát các

tác phẩm thơ của Tố Hữu trong tuyển tập “Thơ Tố Hữu” thu thập, thống kê và

phân loại các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu Đây là phương pháp giúp luận văn có cơ sở khoa học, chính xác và thuyết phục

6.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Bằng phương pháp này, chúng tôi có thể phân tích nội dung các bài thơ

của Tố Hữu trong tuyển tập “Thơ Tố Hữu” để rút ra các từ ngữ chỉ không gian

với tư cách là thi liệu, trên cơ sở đó tiến hành thống kê các từ ngữ, từ đó khái quát, tổng hợp thành các đặc điểm cụ thể của từ ngữ chỉ không gian trong thơ

Tố Hữu cũng như hiệu quả của nó trong việc biểu hiện không gian nghệ thuật trong thơ ông

6.4 Phương pháp miêu tả

Chúng tôi tiến hành phân tích ngữ liệu, miêu tả các hiện tượng, để thấy được một cách cụ thể đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ

Trang 14

không gian trong thơ Tố Hữu Từ đó rút ra nhận định tổng quát về đối tượng

nghiên cứu

7 Đóng góp của luận văn

7.1 Về lý luận: Khảo sát từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu góp phần làm sáng tỏ những nét độc đáo trong phong cách thơ Tố Hữu nhằm khẳng định tài năng “lá cờ đầu của thơ ca cách mạng” Đồng thời, xác định giá trị của từ ngữ chỉ không gian trong sự phát triển của thơ ca đương đại

7.2 Về thực tiễn: Luận văn đóng góp thực tiễn vào việc phân tích và giảng dạy thơ Tố Hữu nói riêng cũng như các tác phẩm thơ ca trong nhà trường phổ thông nói chung Nó còn góp phần thúc đẩy việc tìm hiểu tác phẩm văn học dựa trên mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, nhất là con đường tiếp cận ngôn ngữ tác hẩm ở cấp độ từ ngữ

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí thuyết

Chương 2 Kết quả thống kê các từ ngữ chỉ không gian và khả năng kết hợp của từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài

1.1.1 Từ và đoản ngữ

a Từ được xem là đơn vị cơ bản của tiếng Việt, là một đơn vị mà đã,

đang và có thể sẽ vẫn là đối tượng lâu dài, trọng tâm của ngôn ngữ học Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề định nghĩa từ,

có thể đã có tới trên 300 định nghĩa về từ Với mỗi mục đích nghiên cứu khác nhau, người nghiên cứu có thể nhấn mạnh tới một phương diện nhất định của từ

Có nhiều định nghĩa khác nhau về từ nhưng theo chúng tôi có hai định

nghĩa đáng quan tâm nhất Đó là quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn cho “Từ là

đơn vị nhỏ nhất mà có thể vận dụng độc lập được” [5, 360] Quan niệm này

giúp ta phân biệt từ với những đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn nó Quan niệm của

Đỗ Hữu Châu cho “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất

biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt

và nhỏ nhất để tạo câu” [10, 14] cũng đáng quan tâm Bởi quan niệm này cho

chúng ta ý thức đầy đủ về các phương diện của từ

Đơn vị cấu tạo nên từ của tiếng Việt là “tiếng” (còn gọi là các “từ tố, thành tố, yếu tố…”) Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng cách dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó Có ba phương thức cấu tạo từ:

- Dùng một tiếng làm một từ để có các từ đơn: nhà, cửa, hát, học, bay,

đi, đứng…

- Ghép các tiếng có quan hệ về nghĩa với nhau để có các từ ghép: học

tập, dân tộc, sương muối, đường sá, chim chóc, mặt mũi, gan dạ, chim chích bông…

- Ghép các tiếng trên cơ sở hòa phối ngữ âm (còn gọi là “láy”) để có các

từ láy: chuồn chuồn, mong manh, lung linh, liên miên, bấp bênh, lấp lánh…

Trang 16

b Đoản ngữ (cụm từ chính phụ, ngữ) là cụm từ trong đó có một thành tố

trung tâm và một hay một số thành tố phụ đứng quây quần xung quanh đó để

bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa Trong một đoản ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các

từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi các thành tố phụ Thành tố chính của ngữ

có thể là danh từ (tạo nên danh ngữ), động từ (tạo nên động ngữ), tính từ (tạo nên tính ngữ)

1.1.2 Danh từ và danh ngữ trong tiếng Việt

Nghiên cứu về từ loại là nghiên cứu các lớp từ của ngôn ngữ xét theo các đặc trưng ngôn ngữ của chúng Để phân định các lớp từ (các từ loại) trong tiếng Việt, người ta thường căn cứ vào các tiêu chuẩn: ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ trong câu

Các ý nghĩa khái quát chính của các lớp từ tiếng Việt là: ý nghĩa chỉ vật,

ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái, ý nghĩa tính chất, ý nghĩa số lượng, ý nghĩa quan hệ, ý nghĩa tình thái Căn cứ vào đặc trưng ngữ pháp và nội dung ý nghĩa khái quát, vốn từ tiếng Việt có thể xếp vào 10 từ loại: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, kết từ, trợ từ, tình thái từ và thán từ

Các từ ngữ chỉ không gian thường mang ý nghĩa khái quát chính là chỉ vật, hiện tượng, địa danh là cách gọi tên (định danh) các sự vật thuộc các phạm trù khác nhau

Với đối tượng nghiên cứu là “Từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu”,

chúng tôi xin chỉ giới hạn phần cơ sở lí thuyết ở danh từ và danh ngữ (cụm danh từ) - các đơn vị có vai trò định danh và có nghĩa thuộc các trường nói trên

a Khái niệm về danh từ

Từ loại là một phạm trù từ vựng - ngữ pháp Danh từ, động từ, tính từ, số từ,… là những từ loại được phân định dựa trên những tiêu chí, đặc điểm về mặt

ý nghĩa, về hình thức ngữ pháp, chức năng ngữ pháp

Danh từ, theo cách hiểu thông thường và phổ biến nhất, là những từ biểu thị sự vật (bao gồm cả người, động vật, sự vật, hiện tượng, khái niệm…)

Trang 17

Danh từ được chia thành hai lớp nhỏ là danh từ chung và danh từ riêng Danh

từ chung bao gồm:

- Danh từ chỉ đơn vị: con, cái, tấm, cân, mét, nắm, vốc,

- Danh từ chỉ sự vật: công nhân, học sinh, mèo, na, bàn,

- Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng: tư tưởng, đạo đức, thói quen,

- Danh từ chỉ chất liệu: nước, rượu, cát,

Danh từ là kết quả của quá trình dịnh danh của người nói Quá trình định danh này thể hiện rất rõ nét đặc trưng văn hóa của các dân tộc khác nhau Mỗi

sự vật hiện tượng khi được một cộng đồng gọi tên sẽ ít nhiều phản ánh trong tên gọi của mình những quan niệm, cách nhìn, thói quen,… của dân tộc chủ thể của ngôn ngữ

b Khái niệm về danh ngữ

Đoản ngữ có danh từ làm trung tâm được gọi là danh ngữ (hay ngữ danh từ) Danh ngữ bao gồm hai phần chính: bộ phận trung tâm (danh từ) và các thành tố phụ

Danh ngữ có thể tồn tại ở các mô hình cấu tạo sau (Ghi chú: D là danh từ; T là từ chỉ tính chất, trạng thái…):

D1 - D2 - D3; D1 - D2; D1 - D2 - T; D - T…

1.1.3 Nghĩa và trường nghĩa

a Khái niệm nghĩa

Từ bao gồm hai phương diện: vỏ âm thanh và nội dung cần biểu hiện, nghĩa Trong hai mặt của đơn vị ngôn ngữ này (biểu hiện và được biểu hiện, hình thức và nội dung), nghĩa thuộc mặt thứ hai

Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều cách hiểu về nghĩa của từ

“Nghĩa” là một khái niệm rất trừu tượng Đó là khái niệm gắn với tất cả các đợn vị ngôn ngữ bởi sự tồn tại của ngôn ngữ là nghĩa; không có nghĩa, sự tồn tại của hình thức âm thanh là không có mục đích

Nhiều nhà nghiên cứu có cùng quan điểm về “nghĩa” như sau: Hiện thực phản ánh vào trong nhận thức, tạo nên một mối liên hệ thường trực với một

Trang 18

hình thức âm thanh nhất định Sự phản ánh này được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ Mối liên hệ này được hiểu là nghĩa

Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Nghĩa của từ (cũng như các đơn vị ngôn ngữ khác)

là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào

đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức nó biểu thị cái gì” [26, 261]

Cần phần biệt nghĩa của từ ngữ với sự hiểu biết về nghĩa đó Hiểu biết về nghĩa của đơn vị ngôn ngữ nào đó nằm trong nhận thức của con người, còn nghĩa của đợn vị ngôn ngữ tồn tại thực sự khách quan trong lời nói, còn trong nhận thức chỉ có sự phản ánh của những nghĩa đó mà thôi

Sau khái niệm “nghĩa của từ”, thường có những sự phân biệt: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn, nghĩa biểu cảm, nghĩa biểu hiện, nghĩa cấu trúc, nghĩa chính, nghĩa phụ, nghĩa chuyển tiếp, nghĩa gốc, nghĩa gợi cảm, nghĩa hàm chỉ, nghĩa hiển ngôn…

b Khái niệm trường nghĩa

Các nhà ngôn ngữ học cũng đã bàn nhiều về trường nghĩa Dù đã có nhiều ý kiến khác nhau nhưng có thể thấy ở các tác giả có ý chung: Trường nghĩa là khái niệm dùng để chỉ phạm vi những đơn vị từ vựng có quan hệ lẫn nhau về ý nghĩa, trong đó, đơn vị từ vựng có thể là một từ vị hay một đơn vị thành ngữ Các đơn vị từ vựng trong một trường nghĩa phải có chung một thành

tố nghĩa

Tác giả Nguyễn Thiệp Giáp đưa ra khái niệm về trường nghĩa như sau:

“Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là cái được gọi là “nhóm từ vựng - ngữ

nghĩa” Tiêu chuẩn để thống nhất các từ thành một nhóm từ vựng - ngữ nghĩa

có thể rất khác nhau Chẳng hạn, có thể dựa vào sự tồn tại của các từ khái quát, biểu thị các khái niệm ở dạng chung nhất, trừu tượng nhất và trung hòa Các từ này được dùng hiển thị phạm trù chung, trên cơ sở đó, tập hợp tất cả các thành phần còn lại của trường Thí dụ: dùng từ hoa để tập hợp các tên hoa khác nhau, dùng từ cây để tập hợp các tên cây khác nhau, từ đồ đạc để tập hợp

Trang 19

các từ bàn ghế, tử, giường,… Từ mang có thể tập hợp quanh nó các từ như: đem, cõng, khiêng, vác, kiệu, đeo, đèo, địu, lai, thồ,… Nói chung, theo cách này, khi tập hợp các từ vào một trường, người nghiên cứu không chỉ dựa vào sự hiểu biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những ngươi biên soạn từ điển” [26, 112]

Các nhà nghiên cứu đã xác định được nhiều trường nghĩa thuộc vốn từ vựng của một ngôn ngữ, trong đó có các trường nghĩa như: thiên nhiên vũ trụ, sinh hoạt, lao tù, chiến tranh, văn hóa tinh thần…

Nhiệm vụ của việc phân tích tìm hiểu các trường nghĩa là xác định tính

hệ thống của những quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố ở trong trường

Trong các trường nghĩa quen thuộc, hệ thống các từ ngữ chỉ không gian

là một trường nghĩa lớn, bao gồm toàn bộ các từ ngữ được dùng để chỉ các không gian nhỏ Trường nghĩa từ ngữ chỉ không gian bao gồm các loại từ đơn,

từ ghép và cụm từ Chúng là hệ thống các từ ngữ đồng nhất với nhau về mặt ngữ nghĩa: đều dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, địa danh

Tác giả Đỗ Hữu Châu căn cứ vào quan điểm của F.de Saussure trong

Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, đã xác định hai loại trường nghĩa: trường

nghĩa ngang (trường nghĩa tuyến tính), trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Trong đó, trường nghĩa dọc có hai loại trường nghĩa: trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm Dựa theo quan điểm trên, thì từ ngữ chỉ không gian thuộc loại trường nghĩa biểu vật

Trong trường nghĩa chỉ không gian lại có thể có các trường nhỏ hơn như: trường nghĩa chỉ không gian sinh hoạt, trường nghĩa chỉ thiên nhiên vũ trụ, trường nghĩa chỉ văn hóa tâm linh…

1.1.4 Ngôn ngữ và văn hóa

a Quan niệm về ngôn ngữ

Theo Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ là:

1 Hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng cùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau

Trang 20

2 Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo Ngôn ngữ điện ảnh

3 Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng Ngôn ngữ Nguyễn Du [48, 1079]

Trong nhiều cuốn sách ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đều có quan điểm chung, được khát quát ở mốt số nội dung sau:

- Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt

- Ngôn ngữ là một loại hệ thống các tín hiệu Các tín hiệu ngôn ngữ đều

có hai mặt: mặt biểu hiện là âm thanh; mặt được biểu hiện gồm: các sự vật mà từ làm tên gọi cho chúng và nội dung ý nghĩa, khái niệm về các sự vật được gọi tên

- Chức năng cơ bản của ngôn ngữ: ngôn ngữ là công cụ của giao tiếp, công cụ của tư duy, là nhân tố cấu thành văn hóa và truyền tải văn hóa

b Quan niệm về văn hoá

“Văn hóa” là một khái niệm đã trở thành thông dụng trong nói năng

hàng ngày cũng như trong nghiên cứu khoa học Nhưng định nghĩa văn hóa là

gì vẫn đang là vấn đề được quan tâm Đã có rất nhiều khái niệm về “văn hóa”

được công bố Từ năm 1952, hai nhà nhân học Mỹ, Alfred Kroeber và Clyde Kluckhon, trong một nỗ lực tìm hiểu, đã công bố một công trình về những ý đồ

định nghĩa khái niệm “văn hóa” và những khái niệm gần gũi với nó trong khoa

học xã hội: họ tìm thấy không dưới 164 định nghĩa Sự khác nhau của chúng không chỉ là ở bản chất của định nghĩa đưa ra (bởi nội dung, chức năng, các thuộc tính), mà cả ở những cách sử dụng tương đối rộng rãi của từ này Theo A Kroeber và C Kluckhon, ít ra có hai cách sử dụng: Một là, thừa kế triết học thời Khai Sáng, gọi di sản học thức tính luỹ từ Thời Cổ mà các dân tộc phương

Tây tin chắc là đã dựng lên nền văn minh của họ trên đó, là “văn hóa” Cách

sử dụng kia, chuyên về nhân học hơn, thì gọi văn hóa là “toàn bộ những tri

thức, những tín ngưỡng, những nghệ thuật, những giá trị, những luật lệ, phong tục và tất cả những năng lực và tập quán khác mà con người với tư cách thành

Trang 21

viên của xã hội nắm bắt được”, theo định nghĩa được coi là chuẩn do Edward

B Tylor đưa ra năm 1871 Cho đến nay đã có khoảng trên 400 định nghĩa về văn hóa

Cựu Tổng Giám đốc UNESSCO Federico Mayor đưa ra định nghĩa:

"Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"

Năm 2002, UNESSCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn

hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội

và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” (Tuyên bố chung của

Unessco về tính đa dạng của văn hóa”)

Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “văn hóa" như sau:

1 Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử

2 Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần (nói tổng quát)

3 Tri thức, kiến thức khoa học (nói tổng quát)

4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh

5 Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau [48, 1079]

Trong cuốn Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hoá Việt, tác giả Nguyễn

Văn Chiến không đưa ra khái niệm ngắn gọn mà trả lời câu hỏi “Văn hoá là gì?” bằng một số ý cơ bản sau:

- Văn hoá là một hiện tượng, một phạm trù thuộc về con người, do con người làm nên Vì vậy văn hoá là tiêu chuẩn, tiêu chí hiển nhiên khu biệt con người - động vật với con vật

Trang 22

- Văn hoá là một sản phẩm đặc thù của xã hội loài người

- Một hiện tượng văn hoá luôn tồn tại với những lí do riêng của nó

- Thành tựu của nền văn hoá là con người Văn hoá không phải là các vật đơn thuần ta sờ thấy được một cách cụ thể Hiện tượng văn hoá hiện diện trước mặt

ta, trong ta như một thế giới được vật thể hoá, một thế giới được khúc xạ rõ ràng

Các nền văn hoá của các dân tộc trên thế giới vừa có tính riêng biệt vừa

có sự giao thoa với nhau

Tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa “Văn hóa là hệ thống hữu cơ

các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên

và xã hội” [53, 10]

Đồng thời tác giả cũng đã nêu và phân tích ba đặc trưng của văn hóa là: tính hệ thống, tính giá trị và tính nhân sinh

Như vậy, có thể hiểu “văn hóa” là bao gồm tất cả những sản phẩm do

con người tạo ra trong đời sống, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,

Tóm lại, “văn hóa” là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển

trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa, được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra

c Biểu tƣợng văn hoá

Nguyên nghĩa của “biểu” là bày ra, trình bày: “tượng” là hình ảnh, hình

dạng Biểu tượng là một hình ảnh cụ thể nào đó được phô bày ra nhằm thể hiện

Trang 23

một nội dung trừu tượng; “biểu tượng” là “cái được dùng để tượng trưng cho

điều gì đó”

Theo Từ điển tiếng Việt, từ biểu tượng có hai nghĩa:

1- Là hình ảnh tượng trưng, chẳng hạn, chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình

2- Hình thức của nhận thức, cao hơn cả cảm giác, cho ta hình ảnh của

sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào góc giác quan

ta đã chấm dứt [48, 64]

Biểu tượng vốn có bản chất khó xác định và biến ảo một cách sống động

trong mọi nền văn hóa Lịch sử của biểu tượng xác nhận rằng mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên hay trừu tượng C.Lévy-Straus

cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu

tượng, trong đó xếp ở hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo”

Sách Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới đưa ra quan niệm: “Khởi

nguyên, biểu tượng (symbole) là một vật được cắt làm đôi, mảnh sứ, gỗ hay kim loại Hai người, mỗi người giữ một phần, chủ và khách, người cho vay và người đi vay, hai kẻ hành hương, hai người sắp chia tay lâu dài… Sau này, ráp hai mảnh lại với nhau họ sẽ nhận ra mối dây thân tình xưa, món nợ cũ, tình bạn ngày trước… Mọi biểu tượng đềi chứa dấu hiệu bị đập vỡ; ý nghĩa của biểu tượng bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ vừa là nối kết những phần của nó bị

vỡ ra

“Lịch sử của biểu tượng xác nhận mọi vật đều có thể mang giá trị biểu tượng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây cối, hoa, quả, thú vật, suối, sông và đại dương, núi và thung lũng, hành tinh, lửa, sấm sét,… ) hay là trừu tượng (hình hình học, con số, nhịp điệu, ý tưởng,…”

Biểu tượng văn hóa mang dấu ấn nền văn hóa, dấu ấn của dân tộc sản sinh và sử dụng nó Nếu biểu tượng của khoa học mang tính phổ quát trong

Trang 24

phạm vi nhân loại thì phần lớn biểu tượng văn hóa mang tính cộng đồng, tính dân tộc Có thể là một sự vật nhưng với mỗi nền văn hóa nó lại mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Mỗi nền văn hóa luôn mang trong mình các hệ biểu tượng mang tính ổn định tương đối, lại chứa đựng một tiềm năng biến đổi, có thể thay đổi hoặc bổ sung ý nghĩa theo thời gian

Trong văn hóa Việt Nam, có nhiều sự vật, hiện tượng mang ý nghĩa biểu

tượng, như: đền, chùa, tháp, miếu, đình… hồn, vía… Theo thời gian, các biểu

tượng ấy đã trở thành tinh hoa văn hóa, những di sản văn hóa tinh thần góp phần làm phong phú hơn văn hóa dân tộc

d Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá

Khi bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, tác giả Nguyễn Văn

Chiến trong cuốn Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội) đưa ra “ba định đề cơ bản nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ

và văn hoá” như sau:

Thứ nhất: Ta nói ngôn ngữ bình đẳng với văn hoá hay độc lập với văn hoá bởi vì cả hai đều là sản phẩm con người lao động có tư duy Đó là những hiện tượng nhân loại Thế nhưng ngôn ngữ lại chính là sản phẩm văn hoá của nhân loại giống như tất cả những sản phẩm văn hoá khác Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá là mối quan hệ bao nhau

Thứ hai: Ngôn ngữ là hiện tượng văn hoá, thuộc phạm trù văn hoá, cho

nên tất cả những gì là đặc tính, thuộc tính của văn hoá cũng đều tương tự như là đặc tính, thuộc tính của ngôn ngữ và được ẩn chứa trong ngôn ngữ

Thứ ba: Ngôn ngữ là một hiện tượng văn hoá đặc thù

Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tác giả Đ.A.Silichep đã khẳng định:

“Cùng với chiều kích dân tộc, ngôn ngữ đóng vai trò không kém phần quan trọng trong sự phát triển của văn hóa Nó cũng gắn bó hữu cơ với văn hóa do tạo thành gần như là cơ sở, nền tảng của văn hóa Văn hóa dân tộc không tồn tại ngoài ngôn ngữ Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà thông thường hơn

Trang 25

cả chính ngôn ngữ đã đóng vai trò là tiêu chí khi loại hình hóa các nền văn hóa, để phân biệt các nền văn hóa với nhau”

Ngôn ngữ là một phần quan trọng trong văn hóa Các phạm vi của ngôn ngữ và văn hóa gắn bó với nhau Ngôn ngữ là phương tiện ghi nhận các hiện tượng văn hóa khác, là chỗ bảo lưu lâu dài các sự kiện văn hoá, là công cụ thể hiện các đặc trưng văn hoá cộng đồng Là một thành tố của văn hóa tinh thần, ngôn ngữ góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hóa các dân tộc

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu trong xã hội, đồng thời có vai trò lưu giữ các di sản văn hóa Sự phát triển của ngôn ngữ luôn chịu sự chi phối của các quy tắc giao tiếp văn hoá cộng đồng Vì vậy, qua ngôn ngữ, người ta nhìn thấy các đặc trưng văn hóa của một dân tộc Văn hóa là sợi dây nối liền con người với con người, qua việc thực hiện chức năng giao tiếp

Chẳng hạn, qua văn học - những tác phẩm của nghệ thuật ngôn từ có thể văn hóa các thời đại được lưu giữ, kế thừa và phát huy

Trong quá trình phát triển lịch sử của một dân tộc, ngôn ngữ dân tộc và

văn hóa dân tộc luôn luôn nương tựa lẫn nhau: “Quan niệm của mỗi dân tộc về

thế giới được khác xạ độc đáo trong bức tranh ngôn ngữ của mình Bức tranh ngôn ngữ ấy lại có ảnh hưởng trở lại đến sự tri giác đặc thù đối với hiện thực của những người thuộc cộng đồng văn hóa - ngôn ngữ tương ứng” [53, 194]

Trong không gian cũng có cái nhìn từ văn hóa, vì vậy khảo sát từ ngữ chỉ không gian là nghiên cứu một khía cạnh của văn hóa Không gian trong thơ Tố Hữu không chỉ là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn độc đáo của đời sống sinh hoạt người Việt từ bao đời nay mà còn thể hiện được tài năng sử dụng ngôn từ của tác giả

Dấu ấn văn hóa dân tộc thể hiện khá đậm nét trong việc sử dụng từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu Qua nghiên cứu từ ngữ chỉ không gian có thể thấy được những dấu ấn đặc sắc của văn hóa dân gian trong nội dung và ngôn ngữ của các tiểu không gian

Trang 26

Trong phạm vi nghiên cứu “Khảo sát từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố

Hữu”, chúng tôi chú ý đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ở các

phương diện sau:

- Không gian thiên nhiên – vũ trụ thể hiện thế giới tự nhiên rộng lớn, phong phú và gần gũi, gắn bó với cuộc sống của người Việt

- Không gian văn hóa tinh thần và cách định danh (gọi tên) phản ánh lối

tư duy, nhận thức của người Việt và đặc trưng của tiếng Việt

- Một số sự vật, hiện tượng xuất hiện trong không gian như là hình ảnh

có tính chất biểu trưng Đó là cơ sở để hình thành các biểu tượng văn hóa, các hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng cho một ý niệm trừu tượng

1.1.5 Khái niệm về không gian

Ngay từ thời xa xưa, con người đã hiểu rằng bất kì khách thể vật chất nào cũng chiếm một vị trí nhất định, ở vào một khung cảnh nhất định trong tương quan về mặt kích thước so với khách thể khác Các hình thức tồn tại như vậy

gọi là không gian A.Ja Gurevich, trong cuốn “Các phạm trù văn hóa trung cổ”

đã chỉ ra cách lí giải của người trung cổ về không gian “Không gian được quan

niệm như một hình thức có khoảng trải đồng đều hình học, có ba chiều, có thể phân cách thành những khoảng chiếu ứng được với nhau Thời gian và không gian có tính chất khách quan, những phẩm chất của chúng độc lập với chất liệu được chứa chất trong chúng” [27, 30]

Coi quan hệ của thế giới vật chất với không gian và thời gian như quan

hệ của một đối tượng trong môi trường cùng với quá trình tồn tại, hoạt động của nó, hoặc là như quan hệ của một điểm trong hệ tọa độ nhiều chiều, hai tác

giả “Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, Jean Chevalier và Alain Gheerbrant

đã định nghĩa :“Không gian, gắn không tách rời với thời gian, vừa là nơi chứa

đựng những gì có thể xảy ra - theo ý nghĩa đó, nó tượng trưng cho trạng thái hỗn mang của các gốc nguồn - vừa là nơi chứa đựng những gì đã thực hiện – khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã được tổ chức”, “không gian

Trang 27

vừa là biểu tượng chung của môi trường, ở bên ngoài hay bên trong, mà bất kì một sinh thể nào, cá thể hay tập thể, đều hoạt động trong đó” [36, 486]

Trong lịch sử triết học, không gian (cùng với thời gian) là một phạm trù xuất hiện sớm Người ta từng tranh cãi xem không gian và thời gian có hiện thực không hay đó là những trừu tượng đơn thuần chỉ tồn tại trong ý thức con người Đối lập với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm phủ nhận tính khách quan

của không gian, V.Lênin, trong cuốn “chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh

nghiệm – phê phán” đã khẳng định: “không gian và thời gian là những hình thức cơ bản của mọi sự tồn tại (…) Vũ trụ chỉ là vật chất đang vận động, mà vật chất đang vận động chỉ có thể vận động trong không gian và thời gian” ( Lênin,

chuyển dẫn từ Rôđentan M, I-u-din, Từ điển triết học, NXB Sự thật, 1972,237)

Theo cuốn “Giản yếu Hán Việt từ điển” (Đào Duy Anh biên soạn),

không gian có nghĩa là “khoảng không”, trong đó “không” là “trống không”,

“hư không” Không gian là quan niệm về bốn phương, trên dưới, ngắn dài, xa gần, trái với thời gian chỉ ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai lưu chuyển với nhau vô cùng

Trong cuốn “Từ điển tiếng Việt”, Hoàng Phê đã cắt nghĩa, lí giải về không gian như sau: “không gian là khoảng không bao la trùm lên tất cả sự

vật, hiện tượng xung quanh đời sống con người” [48, 633]

Như vậy, không gian chính là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất Do

đó, trong cuộc sống, nó là môi trường tồn tại của con người Mỗi sự vật, hiện tượng đều được xác định trong một không gian nhất định Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian Ngược lại, nếu có một không gian nào ở ngoài vật chất thì đó cũng chỉ là một sự trừu tượng vô nghĩa mà thôi

1.1.6 Khái niệm không gian nghệ thuật

Cùng với thời gian nghệ thuật thì không gian nghệ thuật cũng được coi là một hiện tượng nghệ thuật Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật Không có một hình tượng nghệ thuật nào lại không tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định Không gian nghệ thuật là sản

Trang 28

phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện về con người, về thế giới đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh Không gian trong nghệ thuật có mô hình ngôn ngữ riêng của mình và nó thể hiện quan niệm về trật tự thế giới, về sự lựa chọn của con người

Không gian nghệ thuật có thể chia ra thành các tiểu không gian, có những không gian có thể vượt qua và có những không gian không thể vượt qua

“không gian nghệ thuật có thể là không gian điểm, không gian tuyến, không

gian khối (hoặc còn gọi là không gian mặt phẳng)” [48, 90] Ngoài ra, không gian

nghệ thuật còn chia ra không gian bên trong và không gian bên ngoài Thường thì không gian bên ngoài thay đổi còn không gian bên trong thì bất biến

Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Thi pháp ca dao” cho rằng:

“Thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản

ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắccơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” [37, 287]

“Từ điển thuật ngữ văn học” đã định nghĩa như sau: “không gian nghệ

thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó”,“sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn tả trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật” [28, 162]

Trong giáo trình “Dẫn luận thi pháp học”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng, không gian nghệ thuật là “sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu

hiện con người và thể hiện quan điểm nhất định về cuộc sống, không thể quy nó

về không gian địa lí, không gian vật lí hay vật chất” [52, 89] Không gian nghệ

thuật là mô hình không gian của thế gới nghệ thuật và cũng là hình thức tồn tại

của thế giới nghệ thuật Trong thực tế “không có hình tượng nghệ thuật nào

Trang 29

không có không gian và bản thân người kể chuyện hay nhà thơ trữ tình cũng nhìn sự vật trong một khoảng cách, góc nhìn nhất định Nhờ có điểm nhìn của chủ thể mà không gian có chiều cao - thấp, rộng - hẹp, xa - gần, sâu - cạn…Có thể nói, không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một phương diện nhất định của cuộc sống” [52, 107-108]

Như vậy, có thể thấy không gian nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc biệt,

có quan hệ mật thiết với không gian vật lí và không gian địa lí Nhưng giữa hai kiểu không gian này lại có những điểm khác biệt Nếu như không gian địa lí, không gian vật lí tồn tại một cách khách quan ngoài ý thức của con người thì không gian nghệ thuật lại mang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo Đó

là không gian tinh thần của con người, là không gian sống mà con người cảm

thấy Hay nói cách khác không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ

sĩ nó gợi lên trong trí tưởng tượng của chúng ta qua các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét

Không gian nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với thời gian nghệ thuật

và chính mối quan hệ đó đã đem lại cho người thưởng thức nghệ thuật sức liên tưởng mạnh mẽ Không gian nghệ thuật không chỉ mang tính chủ quan mà còn mang tính tượng trưng, quan niệm Nghĩa là chủ thể sáng tạo luôn tạo ra không gian nghệ thuật để thể hiện một quan niệm nhất định của mình về thế giới và cuộc sống con người Không những vậy không gian nghệ thuật còn mang một cấu trúc đặc biệt, nó gắn liền với điểm nhìn của con người trong tác phẩm văn học

1.1.7 Không gian và vấn đề tri nhận không gian

Không gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và đặc

biệt là ngành nghệ thuật Trong lĩnh vực ngôn ngữ thì trong Ngôn ngữ học tri

nhận Lý Toàn Thắng đã chia không gian thành ba kiểu: không gian vật lí,

không gian văn hóa - xã hội, không gian tâm lí con người

Khi tri giác không gian vật lí, con người sử dụng một hệ tọa độ đặc trưng của mình mà khơi nguồn cho nó “là tư thế thẳng đứng của con người trong

Trang 30

không gian” Hệ tọa độ cảm tính này được phản ánh trong hệ từ ngữ định hướng như trên: trên - dưới, trước - sau, phải - trái

Về nguyên tắc, có một câu hỏi có thể đặt ra là: khi di chuyển trong không gian hay khi tĩnh tại ở một vị trí nào đó, liệu con người có thể định hướng không phải theo không gian vật lí mà sử dụng những vật mốc định hướng khác trong không gian văn hóa – xã hội hay tâm lí?

Sự tri nhận của không gian cho ta định hướng được các kiểu không gian nhỏ hơn Kiểu thứ nhất tạm gọi là “định hướng tự nhiên” trong đó có tác động của các nhân tố vật lí Kiểu thứ hai có thể tạm gọi là “định hướng nhân tạo” (hay văn hóa – xã hội) do các nhân tố văn hóa – xã hội chi phối

Và từ thực tiễn ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta còn có không gian định hướng theo tâm lí Sự tri nhận không gian của người Việt có sự tồn tạimột tôn

ti nào đấy của độ “gần gũi tâm lí” mà ta có thể trình bày bằng sơ đồ sau:

Quê hương (đất nước, làng quê) > nơi ở > nơi làm việc > nơi đến

Không gian có tính tôn ti như vậy thuộc về nhân tố ngôn ngữ học – tâm

lí tộc người vốn liên quan đến các đặc trưng tâm linh của một dân tộc và với những hình thức bị chế định về mặt tộc người của sự phản ánh và sự phản xạ lại đối với các tác động từ thế giới bên ngoài

Định hướng không gian là hiện tượng quan trọng và hấp dẫn nhất trong

sự tri nhận không gian của con người vì thế nó luôn luôn là điểm chú ý của rất nhiều công trình nghiên cứu về không gian

1.2 Một số nét khái quát về nhà thơ Tố Hữu và về từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

1.2.1 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp thơ ca và phong cách thơ Tố Hữu

a Vài nét về cuộc đời

Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê ở Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Cha ông là một nhà nho nghèo nhưng rất ham thơ và sưu tầm ca dao, tục ngữ Mẹ ông cũng là con một

Trang 31

nhà nho Bà thuộc nhiều ca dao, dân ca xứ Huế và rất giàu tình yêu thương con Quê hương và gia đình đã ảnh hưởng rất nhiều đến hồn thơ Tố Hữu sau này

Tuổi thơ Tố Hữu sớm phải chịu nhiều thiệt thòi, thiếu thốn tình cảm Năm 12 tuổi mẹ mất, cha đi làm xa Năm 13 tuổi, Tố Hữu vào học trường Quốc học Huế Lớn lên giữa lúc phong trào cách mạng do Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ Trong thời kì Cách mạng Dân chủ,

Tố Hữu sớm được giác ngộ cách mạng Năm 1936, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản và trở thành người lãnh đạo Đoàn thanh niên dân chủ ở Huế rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản năm 1938 Trong thời gian này, người chiến

sĩ cộng sản đã đến với thơ và năm 1937 đã có bài đăng báo

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Tố Hữu đã từng bị bắt giam Năm

1939, ông bị thưc dân Pháp bắt và giam ở nhiều nhà lao các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Suốt thời gian bị giam trong nhà lao, Tố Hữu vừa rèn luyện ý chí, vừa làm nhiều thơ cách mạng

Tố Hữu giữ nhiều cương vị khác nhau trong bộ máy lãnh đạo của Đảng

và Nhà nước như: Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên Huế, Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Trưởng tiểu ban văn nghệ Trung ương,

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng…

Ngày 9 tháng 12 năm 2002, Tố Hữu đã rời xa cuộc đời này để lại cho nền văn học nước nhà một sư nghiệp văn học đồ sộ

Nói đến nhà thơ Tố Hữu là nói đến nhà thơ trữ tình – chính trị Sự nghiệp thơ gắn liền với sự nghiệp cách mạng, phục vụ cho lý tưởng cách mạng Nói

như Trần Đình Sử thì “trước khi là nhà thơ và cùng với việc là nhà thơ, ông là

nhà cách mạng”

b Sự nghiệp thơ ca

Sự nghiệp thơ Tố Hữu được khẳng định qua bẩy tập thơ sau:

Tập thơ Từ ấy (1937 – 1946): Tập thơ mở đầu chặng đường thơ Tố Hữu

Từ ấy là niềm hân hoan của một tâm hồn trẻ đang “băn khoăn đi tìm lẽ đời” thì

Trang 32

gặp ánh sáng lí tưởng, tìm thấy lẽ sống Tập thơ gồm ba phần: Máu lửa, Xiềng

xích và Giải phóng Ba phần của tập thơ là tiếng reo ca nồng nhiệt của người

thanh niên yêu nước gặp gỡ lí tưởng sống và nguyện suốt đời chiến đấu vì lí tưởng đó

Tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954): Đây là chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Pháp Việt Bắc là bản anh hùng ca phản ánh

những chặng đường gian lao, anh dũng và thắng lợi của dân tộc trong cuộc kháng chiến Tập thơ kết tinh những tình cảm lớn của conn người Việt Nam mà bao trùm và thống nhất mọi tình cảm là lòng yêu nước

Tập thơ Gió lộng (1955 – 1961) tiếp tục khuynh hướng khái quát và cảm hứng lịch sử mở ra từ cuối tập thơ Việt Bắc, kết hợp với sự thể hiện cái tôi trữ tình công dân Gió lộng khai thác ba chủ đề lớn: chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu

tranh thống nhất đất nước, tình cảm quốc tế vô sản Những năm xây dựng chủ

nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc, Gió lộng vẫn có mặt kịp thời với

cái nhìn khái quát về những vấn đề trọng đại của cách mạng Việt Nam

Tập thơ Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977) là các chặng

đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của dân tộc Hai tập thơ là nguồn cổ vũ, động viên nhân dân chiến đấu để chiến thắng, vì thế mang đậm tính chính luận – thời sự, chất sử thi và âm hưởng anh hùng ca

Tập thơ Một tiếng đờn (1979 – 1992) và Ta với ta (1992 – 1999) được

viết trong thời bình, thuộc chặng cuối thơ Tố Hữu, đánh dấu bước chuyển biến mới trong thơ ông Nhiều bài thể hiện sâu sắc những chiêm nghiệm về cuộc sống, về lẽ đời mong kiếm tìm những giá trị mang tính bền vững

c Phong cách thơ Tố Hữu

Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị Tố Hữu là một chiến sĩ – thi sĩ Với ông,

làm thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho lý tưởng của

Trang 33

Đảng Ông có khả năng thơ hóa các vấn đề chính trị Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên trình độ là thơ rất đỗi trữ tình Ông là người đầu tiên mang vào thơ Việt Nam một phẩm chất mới: chất trữ tình riêng tư của người cộng sản Trong thơ ông, dù đề tài và nội dung cảm hứng có đa dạng đến đâu thì vẫn nhất quán ở chỗ lấy lý tưởng cách mạng, quan điểm chính trị làm hệ quy chiếu cách nhìn nhận và xúc cảm về mọi phương diện, mọi hiện tượng của đời sống, kể cả đời sống riêng tư của chính nhà thơ: “Tả cảnh hay tả tình, kể chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay về một sự việc nhỏ, đối với anh là để nói cho được cái lý tưởng cộng sản ấy thôi”

Nội dung trữ tình trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắn với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu đã là cái tôi chiến sĩ, về sau trở thành cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân danh Đảng và dân tộc Nhân vật trữ tình là con người thể hiện tập trung những phẩm chất của giai cấp, dân tộc, mang tầm vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hóa Cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là cảm hứng lãng mạn Thơ Tố Hữu hướng vaog tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách mạng

Một nét đặc sắc của thơ Tố Hữu là giọng điệu riêng rất dễ nhận ra Đó là giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết, giọng của tình thương mến Cái giọng “hờn dịu ngọt” của người Huế, cái giọng hò man mác thiết tha trên sông Hương và cái giọng thầm thì của chính con sông rất đỗi thơ mộng và trữ tình Có được giọng điệu ngọt ngào ấy là bởi nhà thơ được thừa hưởng từ điệu tâm hồn con người xứ Huế Đồng thời, nó còn xuất phát từ quan niệm của Tố Hữu về thơ:

“Thơ là tiếng nói đồng ý và đồng tình, tiếng nói đồng chí” Nhà thơ đặc biệt dễ rung động với nghĩa tình cách mạng, luôn hướng đến đồng bào, đồng chí mà giãi bày tâm sự, trò chuyện, kêu gọi, nhắn nhủ

Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ cổ điển, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu

Trang 34

hiện Hiện thực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lý cách mạng qua sự cảm nhận và thể hiện của Tố Hữu đã gắn bó, hòa nhập với truyền thống tinh thần, tình cảm và đạo lí của dân tộc, làm phong phú thêm cho truyền thống ấy Tố Hữu “tắm đẫm các ý tình cách mạng hiện đại trong những hình thức tư duy cổ truyền thấm thía, đậm đà”

Tố Hữu là nhà thơ xuất sắc của thơ ca cách mạng Việt Nam Con đường thơ của ông bắt đầu cùng lúc với sự giác ngộ lý tưởng cách mạng Các chặng đường thơ ông gắn bó mật thiết với các chặng đường của cuộc đấu tranh cách mạng thần thánh của dân tộc Lý tưởng cách mạng là ngọn nguồn mọi cảm hứng nghệ thuật Với Tố Hữu, làm thơ là một hành động cách mạng, nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh cho sự thắng lợi của lý tưởng cách mạng

Lý tưởng, thực tiễn đời sống cách mạng đã chi phối từ quan niệm nghệ thuật đến đề tài chủ đề, từ cảm hứng chủ đạo đến nhân vật trữ tình, cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu Cuộc đời và sự nghiệp văn học mà Tố Hữu để lại cho đời đã khẳng định ông chính là “một tài năng thơ ca thuộc về nhân dân và dân tộc” (Hà Minh Đức)

1.2.2 Sơ lƣợc về từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

Núi cao bởi có đất bồi Núi chê đất thấp, núi ngồi ở đâu?

Trang 35

Không chỉ có không gian rộng của trời, đất, núi, rừng mà đó còn là không gian thu hẹp của cuộc sống thường ngày Qua khảo sát lớp từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu có thể thấy rõ điều này

Nếu ở nông thôn thì đấy là sân phơi khoai, là giếng nước trong:

Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong?

(Mẹ Tơm)

Là khóm tre xanh, là tiếng ru ầu ơ:

Xa xôi đầu xóm tre xanh

Có bà ru cháu nằm khoanh lòng già

(Cá nước)

Là cánh đồng, nương rẫy:

Đồng xanh gợn nhớ quê hương

Bơ vơ tiếng hát bên nương nắng chiều

(Tiếng hát đi đày)

Roi điện cùm xai tóe máu tươi

Xà lim không thể khóa hồn người

(Quê mẹ)

Rồi nữa là không gian mở rộng theo cả chiều dài đất nước như Hà

Nội, Vinh, Huế

Trong thơ ông, không gian còn được mở đến không gian của mộ, của nghĩa trang, của chốn thiên thai

Không gian trong thơ Tố Hữu có chiều rộng, chiều dài và có cả chiều sâu

Trang 36

b Các kiểu không gian trong thơ Tố Hữu

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và khảo sát về các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu, chúng tôi đã chia không gian thành các kiểu: không gian chân thực, cụ thể; không gian văn hóa và không gian thiên nhiên vũ trụ Ba kiểu không gian trên bao gồm các tiểu không gian sau:

1 Không gian cư trú

2 Không gian thiên nhiên – vũ trụ

3 Không gian văn hóa tinh thần

4 Không gian chiến tranh

5 Không gian chốn lao tù

Tiểu kết

Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số vấn đề mang tính lí thuyết

và thực tiễn có liên quan đến đề tài Đó là các khái niệm về: từ, đoản ngữ; danh

từ, danh ngữ; nghĩa, trường nghĩa; ngôn ngữ, văn hóa; không gian; không gian nghệ thuật, vấn đề tri nhận không gian và một số nét khái quát về nhà thơ Tố Hữu, sơ lược về từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu Đồng thời, ở chương

1, chúng tôi cũng nêu các kiểu không gian trong thơ Tố Hữu để làm cơ sở khảo sát đặc điểm về từ loại và cách kết hợp của các từ ngữ chỉ không gian và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ không gian trong những chương sau

Trang 37

Chương 2 KẾT QUẢ THỐNG KÊ CÁC TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN

VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA TỪ NGỮ CHỈ KHÔNG GIAN

TRONG THƠ TỐ HỮU

Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu bao gồm: các danh từ, đại từ chỉ các dạng thức tồn tại của không gian; khả năng kết hợp với tính từ, động từ, giúp cụ thể hóa đặc điểm, trạng thái, tính chất, hoạt động của không gian; từ ngữ chỉ các đối tượng cùng xuất hiện với các từ ngữ chỉ không gian trong cùng một dòng thơ, giúp biểu hiện các quan hệ ý nghĩa của không gian Những từ ngữ cùng xuất hiện trên trục dọc và trục ngang như vậy được phân lập thành các nhóm từ loại có cùng đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ pháp khái quát

2.1 Kết quả thống kê các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

2.1.1 Nhận xét chung

Trên cơ sở những vấn đề lý thuyết trình bày ở chương 1, chúng tôi đã tiến hành thống kê, phân loại, sắp xếp các từ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu Sau đây là kết quả khảo sát thống kê của chúng tôi

Bảng 2.1: Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

Danh từ

Đại từ

Đại từ để hỏi và đại từ phiếm chỉ biểu thị không gian

Trang 38

Qua kết quả thống kê ở bảng 2.1, chúng tôi thấy rằng các danh từ chỉ không gian chiếm số lượng áp đảo, gồm 155 đơn vị, chiếm 95,6% trong tổng các từ ngữ chỉ không gian còn đại từ gồm 7 đơn vị, chiếm 4,3% trong tổng số các từ ngữ chỉ không gian Trong các từ ngữ chỉ không gian thì từ ngữ chỉ không gian thiên - nhiên vũ trụ chiếm số lượng lớn nhất 55 đơn vị và chiếm 33,9% tổng số các từ ngữ chỉ không gian còn chiếm số lượng thấp nhất là đại từ

để hỏi và đại từ phiếm chỉ biểu thị không gian, gồm 2 đơn vị, chiếm 1,2% tổng

số các từ ngữ chỉ không gian

2.1.2 Danh từ, danh ngữ chỉ không gian trong thơ Tố Hữu

Trong quá trình thống kê, phân loại, chúng tôi dựa vào định nghĩa

“không gian” trong Từ điển tiếng Việt ( Hoàng Phê chủ biên) để phân chia các

danh từ biểu thị các dạng thức tồn tại của không gian theo khía cạnh chức năng: không gian cư trú, không gian lao động sản xuất, không gian văn hóa tinh thần

Danh từ là từ loại cơ bản, chiếm số lượng lớn trong kho từ vựng tiếng

Việt Danh từ được định nghĩa: “là lớp từ có ý nghĩa phạm trù, sự vật biểu thị

những đơn vị có nhận thức trên cơ sở tồn tại của chúng dưới hình thức những hiện tượng và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con người” [48, 44] Trong

phạm vi khảo sát của đề tài, chúng tôi đã thống kê được:

- Tổng số danh từ biểu thị không gian: 155 từ

- Tổng số lần xuất hiện các danh từ biểu thị không gian: 835 lần

- Tỉ lệ trung bình số lần xuất hiện / từ: 5,3 lần/ từ

2.1.2.1 Danh từ chỉ không gian cƣ trú

Không gian cư trú là không gian sinh hoạt của con người ( nơi diễn ra các hoạt động hằng này trong đời sống con người ) bao gồm không gian thành

thị, không gian nông thôn và không gian về quê hương, xứ sở Số lượng các

danh từ chỉ không gian sinh hoạt trong thơ Tố Hữu là 39 từ, chiếm 24,1% tổng

số các đơn vị chỉ không gian Không gian cư trú theo nghĩa rộng chính là thiên nhiên vũ trụ, bởi con người đang cư trú dưới vòm trời rộng lớn, chịu tác động

Trang 39

của các nhân tố tự nhiên Tổng số các danh từ chỉ không gian thiên nhiên vũ trụ

55 từ, chiếm 33,9% tổng số các đơn vị chỉ không gian

a Nhóm danh từ chỉ không gian sinh hoạt

* Nhóm danh từ chỉ không gian sinh hoạt gia đình của người dân thường

Nhóm này bao gồm các danh từ chung chỉ địa điểm, nơi chốn xác định gắn với các sinh hoạt hàng ngày của con người Bao gồm không gian bên trong

và không gian bên ngoài Không gian bên trong gồm 4 từ, xuất hiện với tổng số

31 lần (tỉ lệ trung bình là 7,7 lần/từ) Cụ thể: nhà (18 lần), phòng (6 lần), buồng (6 lần), nền hoa (1lần) Trong đó không gian “nhà” xuất hiện nhiều nhất Không

gian bên ngoài gồm 15 từ, xuất hiện với tổng số 61 lần (tỉ lệ trung bình là

4,0lần/từ) Cụ thể là: cửa (7 lần), mái (12 lần), tường (10 lần), vườn (8 lần), sân (8 lần), vách (2 lần), thềm (2 lần), ao (2 lần), bậc cửa (1 lần), giếng (3 lần), cổng (2 lần), chuồng heo (1 lần), chuồng tiêu (1 lần), hành lang (1 lần), hiên (1 lần)

- Nhà

Trong thơ Tố Hữu, nhà là không gian thu nhỏ của làng quê Việt Nam,

nơi gần gũi, gắn bó nhiều kỉ niệm tuổi thơ Không gian ấy luôn được các bà, các mẹ dọn dẹp tươm tất:

Dọn nhà sửa cửa

Xới vườn luôn tay

(Bà mẹ Việt Bắc)

Ai cũng có nhiều nơi để đi nhưng chỉ có một nơi để về là gia đình, quê

hương Nhà là nơi cất giữ kỉ niệm tuổi thơ, là nơi vun đắp tình cảm gia đình để

khi đi xa mỗi lần thấy khói lam nghi ngút bằng rơm đồng không khỏi chạnh lòng nhớ thương:

Mái nhà ai khói lam lên đó

Có phải nhà anh những thủa xưa?

(Người về)

Trang 40

Nhà là nơi gắn với hạnh phúc gia đình, là nơi có những đứa con thơ,

người vợ hiền đang ngày đêm mong nhớ anh, là cái rẫy khoai, bắp lúa, con heo, không gian ấy bình dị mà đầy thân thương:

Mấy năm rồi xa cái vợ cái con

Tôi nhớ lắm! Nhớ cái nhà cái cửa

Nhớ cái rẫy nhiều khoai, nhiều bắp lúa Nhớ con bò to,nhớ mấy con heo…

(Châu Ro) Những hình ảnh ấy đi vào nỗi nhớ để khi xa nhà dấn thân vào mặt trận

hay khi rơi vào tay quân thù thì nỗi nhớ ấy càng thêm da diết cháy bỏng:

Trong hoàn cảnh đó, với những người chiến sĩ nói chung và tác giả nói

riêng thì nhà không còn là nơi gắn bó của riêng mình nữa mà nhà đã trở thành

ngôi nhà chung, các anh em đã trở thành anh em trong cùng một gia đình:

Chúng ta là con một cha, nhà một nóc

(Ta đi tới)

Và khi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta dành thắng lợi thì niềm vui sướng khi được trở về nhà không sao tả xiết:

Ta hát huyên thiên, ta chạy khắp nhà

(Huế tháng Tám)

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w