1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các địa danh ở thành phố thanh hoá

91 420 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát các địa danh ở thành phố Thanh Hoá
Tác giả Nguyễn Văn Dũng
Người hướng dẫn GS. TS Phạm Đức Dương
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Khoa học ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 733,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là ngời bản địa, đợc sinh ra, lớn lên và hiện đang công tác tại địa phơng, chúng tôi chọn đề tài " Khảo sát các địa danh ở thành phố Thanh Hoá " với mong muốn tìm hiểu cấu tạo, ý nghĩa,

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo TRờng Đại học VInh

Trang 2

Mục lục

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……… 3

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 4

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu……… 5

4 Lịch sử vấn đề……… 5

5 Phơng pháp nghiên cứu……… 8

6 Những đóng góp của luận văn……… 9

7 Bố cục của luận văn……… 10

Nội dung. Chơng 1 Một số vấn đề chung ……… 11

1.1 Khái niệm, chức năng và phân loại địa danh……… 11

1.2 Địa danh thành phố Thanh Hoá - những vấn đề liên quan…… 18

1.3 Địa danh thành phố Thanh Hoá - kết quả thu thập và……… 25

1.4 Tiểu kết……… 33

Chơng 2 Đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa địa danh thành phố Thanh Hoá ……… 35

2.1 Đặc điểm cấu trúc……… 35

2.2 ý nghĩa……… 62

2.3 Tiểu kết……… 70

Chơng 3 Đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá đợc thể hiện trong địa danh thành phố Thanh Hoá … 71

3.1 Về quan hệ ngôn ngữ - văn hoá……… 71

3.2 Một số đặc điểm văn hoá thể hiện trong địa danh……… 75

3.2.1 Các dạng tồn tại của văn hoá đợc thể hiện trong địa danh… 75

3.2.2 Sự thể hiện các phơng diện văn hoá trong địa danh…… 83

3.2.2.1 Sự thể hiện phơng diện văn hoá sinh hoạt……… 83

3.2.2.2 Sự thể hiện phơng diện văn hoá sản xuất……… 85

3.2.2.3 Sự thể hiện phơng diện văn hoá vũ trang……… 85

3.3 Tiểu kết……… 87

Kết luận ……… 88

Tài liệu tham khảo ……… 91

Phụ lục ……… 94

Lời nói đầu

Tìm hiểu đôi nét về hệ thống các địa danh trên mảnh đất mà mình đã sinh ra và lớn lên, chúng tôi nh có dịp may để bày tỏ tấm lòng , sự thành kính biết ơn đối với “ quê cha đất tổ”

Để hoàn thành Luận văn , chúng tôi xin chân thành cảm ơn GS TS

Trang 3

học này; cảm ơn sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong Tổ Ngôn ngữ ,Khoa Sau đại học, trờng Đại học Vinh.

Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBNDthành phố Thanh Hoá, UBND các phờng xã, các bạn đồng nghiệp, các anh chịsinh viên trờng CĐ VHNT Thanh Hoá đã giúp chúng tôi có nhiều t liệu quí đểhoàn thành Luận văn này

Tác giả

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngay từ khi con ngời xuất hiện, ngôn ngữ cũng bắt đầu nảy sinh, để

thoả mãn nhu cầu giao tiếp, truyền đạt và tàng trữ thông tin giữa ngời với ngờitrong một cộng đồng xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác Với chức năngquan trọng nhất là phơng tiện giao tiếp và công cụ t duy, ngôn ngữ cũng ngàycàng phong phú, đa dạng; số lợng vốn từ vựng tăng lên nhanh chóng nhằm đápứng đầy đủ nhu cầu giao tiếp của con ngời Có thể nói, vốn từ đợc xem nh là hệthống mở, bởi thế khó có một cuốn từ điển nào, cho dù đó là cuốn từ điển có

số lợng 3 – 4 vạn từ thì cũng khó có thể thu nạp và tờng giải hết vốn từ củangôn ngữ đó Với tiếng Việt, kho từ vựng cũng rất phong phú và đa dạng Dựavào những tiêu chí khác nhau chúng ta sẽ có những hệ thống vốn từ khác nhau.Theo tiêu chí nguồn gốc : từ thuần Việt và từ vay mợn; theo tiêu chí ngữnghĩa : từ đa nghĩa , từ đồng nghĩa, từ đồng âm, từ trái nghĩa; theo tiêu chíphạm vi : từ phổ thông và từ địa phơng…ở một tiêu chí khác, vốn từ đợc phân

ra địa danh, tên riêng (nhân danh), tên sách báo, tạp chí, các tổ chức chính trị

Trang 4

– xã hội Chúng nằm trong một hệ thống riêng thuộc vốn từ của một ngôn

ngữ Nói khác đi, trong ngôn ngữ học có bộ môn danh xng học ( onomasiologie) gồm : địa danh học (Toponimic) và nhân danh học

1.2 Là công cụ giao tiếp xã hội, ngôn ngữ sản xuất, trao đổi, lu giữ và

bảo quản các thông tin Vì vậy, vốn từ này ( địa danh ) về phơng diện cấu tạo

và ý nghĩa còn chịu sự ảnh hởng, tác động qua lại bởi những yếu tố văn hoá,lịch sử, địa lý và dân c nơi nó hiện diện Nghiên cứu địa danh trong mối liên hệvới những nhân tố trên hẳn chúng ta có thể phác thảo ra một chân dung về sựgiao thoa giữa các yếu tố đó trong một vùng miền Đặc biệt, nghiên cứu địadanh dới góc độ ngôn ngữ học góp phần không nhỏ trong việc nghiên cứu vănhoá của một vùng lãnh thổ - một xu hớng đang đợc nhiều ngời chú ý Mặtkhác, dới góc độ ngôn ngữ, việc nghiên cứu địa danh còn có ý nghĩa lớn trongviệc tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của ngôn ngữ

1.3 Thành phố Thanh Hoá ( trớc kia là thị xã Thanh Hoá ) là trung tâm

kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của tỉnh Thanh Hoá Nơi đây đã ghi dấu ấncủa nhiều tầng văn hoá cổ, không những vậy vùng đất này còn lu giữ nhữnglớp văn hoá phong phú đa dạng Là ngời bản địa, đợc sinh ra, lớn lên và hiện

đang công tác tại địa phơng, chúng tôi chọn đề tài " Khảo sát các địa danh ở

thành phố Thanh Hoá " với mong muốn tìm hiểu cấu tạo, ý nghĩa, cách thức

đặt tên của một vùng phơng ngữ và chỉ ra những đặc trng văn hoá, lịch sử, địa

- Hệ thống hoá các địa danh trên địa bàn ở mức độ cao nhất

- Tìm ra các mặt cấu tạo, ý nghĩa, cách thức định danh địa danh

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa chúng với các nhân tố lịch sử, địa lý, vănhoá…Từ đó giúp chúng ta thấy ảnh hởng qua lại giữa ngôn ngữ với các nhân tốtrên

2.2 Nhiệm vụ

Trang 5

2.2.1 Bớc đầu nghiên cứu các vấn đề lý luận - lý thuyết về địa danh :

định nghĩa, phân loại, cách thức định danh

2.2.2 Điều tra, khảo sát các địa danh thuộc các loại hình khác nhau

đang tồn tại hoặc đã tồn tại trớc đây

2.2.3 Phân tích, miêu tả hệ thống địa danh về các mặt cấu tạo, ý nghĩa,

phơng thức định danh trong mối quan hệ với các yếu tố về địa lý, lịch sử, dân

c và đặc biệt là văn hoá

2.2.4 Chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá qua hệ thống địa danh trên

trên địa bàn thành phố Thanh Hoá

2.2.4.Chúng tôi còn tiến hành so sánh, đối chiếu với một vài địa danh

trên các vùng miền khác, qua đó khái quát những nét đặc trng riêng của địadanh thành phố Thanh Hoá

3 đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

3.1.Đối tợng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh trên địa bàn

thành phố Thanh Hoá trong tiến trình lịch sử ( tức là bao gồm cả những địadanh hiện nay không còn tồn tại chính thức )

Bên cạnh đó, những câu ca dao, tục ngữ , truyện kể dân gian chứa đựngcác yếu tố địa danh ở thành phố Thanh Hoá cũng đợc chúng tôi quan tâm đến

3.2 Đây là một luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ, với nhiệm vụ trọng tâm là

khảo sát các địa danh trên địa bàn thành phố Thanh Hoá Dĩ nhiên có những

địa danh đợc nhiều nhà địa danh học quan tâm: công ty, xí nghiệp, đoàn… nh

-ng vì mục đích và hớ-ng -nghiên cứu của mình, do vậy chú-ng tôi khô-ng khảosát

Những địa danh mà chúng tôi thu thập đợc, dẫu cha phải đã là tất cả

nh-ng về cơ bản chừnh-ng ấy địa danh cũnh-ng đã đa đến một cái nhìn tổnh-ng quát nhất,khái quát nhất Và tất nhiên chúng cũng nằm trong chủ định và hớng nghiêncứu của chúng tôi

4 Lịch sử vấn đề

4.1 Trên thế giới.

Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học với nhiệm vụ nghiên cứu

tất cả những vấn đề liên quan đến địa danh: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cáchthức đặt tên và sự biến đổi của các địa danh Mặt khác, địa danh luôn gắn chặtvới đời sống của mỗi ngời cùng những kỷ niệm vui buồn trong đời và cũng nhờ

địa danh mà con ngời xác định đợc địa điểm, nơi chốn Do vậy, việc nghiêncứu địa danh đã xuất hiện từ rất lâu ở cả phơng Đông và phơng Tây Nhng địadanh học đợc coi là một bộ môn khoa học theo đúng nghĩa của nó, tức là có

đối tợng nghiên cứu riêng, phơng pháp nghiên cứu riêng, nguyên tắc nghiên

Trang 6

cứu riêng, hệ thống lý thuyết riêng chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỷ XIX ở Tây

Âu

ở Trung Quốc, nhiều sách lịch sử, địa chí thời cổ đã ghi chép nhiều địadanh trong đó có không ít địa danh đợc tờng giải về hàm nghĩa, chỉ ra cách

đọc, qui luật gọi tên…Ví nh: Ban Cố, thời Đông Hán ( 32- 92) đã ghi chép hơn

4000 địa danh trong " Hán Th "; trong " Thuỷ Kinh Chú ", Lệ Đạo Nguyên đời

Bắc Nguỵ ( 466? - 527 ) có chép hơn 20.000 địa danh, số đợc giải thích là trên2000

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về địa danh, có liên quan đến địadanh thờng là những công trình ghi chép, su tầm, tổng hợp các địa danh nhnhững cuốn sổ, những cuốn từ điển địa danh

Đến cuối thế kỷ XIX ở châu Âu, ngành địa danh học mới chính thức ra

đời Các công trình thời kỳ này đi sâu vào nhiều vấn đề lý thuyết, nguồn gốc,diễn biến, sự lan toả và sản sinh của địa danh

Cũng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều công trìnhnghiên cứu về địa danh có tính chất lý luận cao, có giá trị nh: J J Egli ( Thuỵ

Sĩ ) với cuốn " Địa danh học " ( 1872 ); J W Nagl (áo) có cuốn " Địa danh

học" ( 1903 ); Isac Taylor có cuốn Từ địa điểm, hay sự minh hoạ có tính

nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và địa lý học (” 1864)…

Sang thế kỷ XX, vấn đề nghiên cứu về địa danh đã có những bớc chuyểnmới, cả hớng nghiên cứu lý thuyết lẫn thực hành cũng ra đời Càng về sau, cáctác giả càng cố gắng xây dựng một hệ thống lý thuyết về địa danh Ví dụ: J

Gilénon đã viết Atlat ngôn ngữ Pháp“ ”, tìm hiểu địa danh dới góc độ địa lý

học Còn A Dauzat với Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh“ ” đề xuấtphơng pháp văn hoá - địa lý học để nghiên cứu các lớp niên đại của địa danh

Bên cạnh đó là sự ra đời của các Uỷ ban nghiên cứu địa danh nh: năm

1890 thành lập uỷ ban địa danh nớc Mỹ, uỷ ban địa danh Thuỵ Điển ( 1902),

uỷ ban địa danh nớc Anh ( 1919)…

Tiên phong trong lĩnh vực xây dựng một hệ thống lý luận về lí thuyết địa

danh là các nhà khoa học Xô viết Chẳng hạn, N I Niconov trong " Các

khuynh hớng nghiên cứu địa danh " ( 1964 ), E M Muraev trong " Những khuynh hớng nghiên cứu địa danh học " ( 1964 ), đáng chú ý là A V.

Superanskaja trong tác phẩm " Địa danh là gì ?" Tác phẩm đã đi sâu vào vấn

đề nhận diện và phân tích địa danh

Từ đó đến nay, địa danh học ngày càng đợc nhiều các nhà nghiên cứuthuộc nhiều ngành khác nhau, nhất là các nhà ngôn ngữ học, những nhà làmchính sách ngôn ngữ, những ngời làm công tác bản đồ…quan tâm Mặt khác,

Trang 7

đối tợng, tính chất, phơng pháp nghiên cứu của ngành địa danh học cũng ngàycàng đợc mở rộng, cả về hệ thống lý thuyết và thực tiễn.

4.2 ở Việt Nam

ở Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan đến địa danh cũng xuất hiện khásớm Các tài liệu Tiền Hán th, Hậu Hán th, Tấn th… thời Bắc thuộc cũng có đềcập đến địa danh Việt Nam

Sang thế kỷ XIV trở đi, những suy nghĩ, tìm hiểu về địa danh mới đợccác nhà nghiên cứu nớc ta quan tâm một cách đặc biệt Các tác giả đã cố công

trong việc su tầm, thu thập, tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh: D địa

chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chơng loại chí và Hoàng Việt d địa chí

của Phan Huy Chú, Phơng Đình d địa chí của Nguyễn Văn Siêu…

Còn nghiên cứu địa danh dớc góc độ ngôn ngữ học thì xuất hiện muộnhơn ( khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ XX) Tuy nhiên, các vấn đề nghiên cứu địadanh và hệ thống cơ sở lý luận về địa danh cũng đợc quan tâm một cách thích

đáng

Dới góc nhìn của ngôn ngữ học, đã xuất hiện không ít những công trình,

các bài viết Ngời đầu tiên phải kể đến là Hoàng Thị Châu với bài viết " Mối

liên hệ ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam á qua một vài tên sông " ( 1964), Lê

Trung Hoa khi nghiên cứu địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh , đã bớc đầu đa

ra những hệ thống lý thuyết làm cơ sở cho việc phân tích chỉ ra các đặc điểmcấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi địa danh Tiếp đến, năm 1996,

Nguyễn Kiên Trờng với luận án PTS " Những đặc điểm chính của địa danh

Hải Phòng " đã bổ sung nhiều vấn đề lý thuyết địa danh mà Lê Trung Hoa đã

dẫn ra trớc đó Năm 2000, Trần Trí Dõi đã công bố hàng loạt bài viết về địa

danh theo khuynh hớng so sánh - lịch sử Đó là các bài viết : " Về địa danh

Cửa Lò ", " Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội a"; “Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh ( qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam )” ( 2001), và " Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam : một vài nhận xét và những kiến nghị " ( 2001).

Theo hớng tiếp cận địa lý - lịch sử - văn hoá , Nguyễn Văn Âu đã có

công trình " Một số vấn đề địa danh học Việt Nam " ( 2000) Gần đây nhất, có hai luận án TS tìm hiểu địa danh dới góc độ ngôn ngữ là " Nghiên cứu địa

danh Quảng Trị” ( 2004 ) của Từ Thu Mai và " Các địa danh ở Nghệ An nhìn

từ góc độ ngôn ngữ học " (2005) của Phan Xuân Đạm Bên cạnh đó phải kể

đến hàng loạt các luận văn Thạc sĩ của các học viên của các trờng đại học khitìm hiểu địa danh ở các vùng huyện, thị xã, thành phố

4.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh thành phố Thanh Hóa

Trang 8

Cho tới nay, cha có một công trình thật sự chuyên sâu nào nghiên cứu

địa danh thành phố Thanh Hoá dới góc độ ngôn ngữ Các địa danh trên địa bànchủ yếu đợc thống kê, tập hợp dới góc nhìn của địa lý, lịch sử Nó đợc thể hiện

trong các công trình : " Địa chí Thanh Hoá " ( NXB VHTT, H 2000) , " Địa

chí thành phố Thanh Hoá " (NXB VHTT, H 1999), " Tên làng xã Thanh Hoá

"( NXB Thanh Hoá, 2001)…Vì vậy, nghiên cứu địa danh thành phố ThanhHoá dới góc độ ngôn ngữ học rõ ràng là hớng tiếp cận mới cũng qua đó chophép ta nhận diện đợc đặc trng văn hoá, yếu tố địa lý, lịch sử của địa bàn

5 Phơng pháp nghiên cứu.

5.1 Nguồn t liệu:

Để có thể dựng lại bức tranh tổng quát nhất về hệ thống địa danh hiện

đang tồn tại trên địa bàn hoặc không còn tồn tại nữa, chúng tôi đã cố gắng sutầm, tập hợp ở mức độ cao nhất Cứ liệu địa danh đợc chúng tôi thu thập từcác nguồn:

- T liệu điền dã thực tế: tại 12 phờng và 6 xã

- Các tài liệu: Địa chí Thanh Hoá, Địa chí thành phố Thanh Hoá, bản đồ,

và các bài viết, các tham luận …có liên quan đến địa bàn thành phố

5.2 Xử lý t liệu.

- Thống kê, sắp xếp và phân loại theo tiêu chí loại hình

- Tìm hiểu những yếu tố có liên quan đến những địa danh đó nh: ca dao,tục ngữ, truyền thuyết, lịch sử ra đời…

6 Những đóng góp của luận văn

6.1 Dựng lại bức tranh tổng quát nhất về hệ thống địa danh ở thành phố

Thanh Hoá

6.2 Tìm hiểu cấu tạo, phơng thức định danh và nhất là ý nghĩa của các

địa danh ở địa bàn thành phố Thanh Hoá Đặc biệt, chúng tôi cố gắng tìm rathật nhiều địa danh gắn với các sự kiện lịch sử, văn hoá của địa phơng

Trang 9

6.3 Lâu nay, nghiên cứu về địa danh Thanh Hoá nói chung và thành phố

nói riêng, các nhà nghiên cứu chỉ tìm hiểu ở góc độ lịch sử, văn hoá, địa lý Vìthế nghiên cứu địa danh thành phố Thanh Hoá từ phơng diện ngôn ngữ học sẽcung cấp một cái nhìn mới mẻ, tạo nên sự liên thông giữa ngôn ngữ( địa danh)với các nhân tố văn hoá

7 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì phần nộidung chính gồm 3 chơng:

Trang 10

1.1 Khái niệm, chức năng và phân loại địa danh

1.1.1.Khái niệm địa danh.

Bất kỳ một đối tợng nào trong thế giới thực tại khách quan khi đã đợccon ngời nhận thức, đều đợc con ngời gọi tên, đặt tên theo mục đích, qui ớctrong từng bối cảnh không gian cụ thể Có thể nói, đặt tên, gọi tên sự vật, đối t-ợng là nhu cầu thờng trực và tất yếu của con ngời

Tên đất, tên nớc, tên sông, tên biển, tên đờng phố, đều là những địadanh Một địa danh, xét về mặt logic học, tơng đơng với một khái niệm; xét vềmặt ngôn ngữ, đợc cấu tạo từ từ, cụm từ

Trớc hết, thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Topos( địa

điểm, vị trí) và omoma/onima( tên gọi) với ý nghĩa chung nhất là “ tên gọi địalý” Nói khác đi, tất cả các tên gọi địa lý đợc đánh dấu và ghi nhận bởi các địa

danh Địa danh là một phân ngành đặc biệt của khoa học về ngôn ngữ nghiên

cứu tên riêng của các đối tợng địa lý, lịch sử hình thành và phát triển, sự hành chức và lan rộng, cấu tạo ngôn ngữ của chúng và là một trong những khu vực hấp dẫn và đầy hứng thú của ngôn ngữ học [15,tr.15]

ở Việt Nam, nếu theo chiết tự Hán – Việt thì thuật ngữ địa danh có

nghĩa là tên đất Tuy vậy, là một đối tợng của một ngành học mà phạm vi quan

tâm của nó rất lớn nên khái niệm này cần đợc hiểu ở mức độ rộng hơn, kháiquát hơn Và thực tế đó đã dẫn đến những cách hiểu không hoàn toàn thốngnhất ở các nhà nghiên cứu

Tác giả Đào Duy Anh cho rằng Địa danh là tên gọi các miền đấ [1, tr.220] Còn trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên lại giải thích địa danh là "tên đất, tên địa phơng" [38,tr 34]

Nguyễn Văn Âu cho rằng : " Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi.

làng mạc hay là tên địa phơng, làng mạc " [4, tr.18]

Với cách tiếp cận địa danh theo góc nhìn ngôn ngữ học, Nguyễn Kiên

Trờng quan niệm: Địa danh là tên riêng của các đối tợng địa lý tự nhiên và

nhân văn xác định trên bề mặt trái đất [43, tr.16].

Lê Trung Hoa đa ra cách hiểu : " Địa danh là những từ ngữ cố định đợc

dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ ( không có ranh giới rõ ràng ) và các công trình xây dựng thiên

về không gian hai chiều "[20, tr 21].

Phan Xuân đạm xem : " Địa danh là lớp từ đặc biệt đợc sinh ra để

đánh dấu vị trí, xác lập các tên gọi đối tợng địa lý và nhân văn "[15, tr 16].

Còn Từ Thu Mai lại đồng ý với cách hiểu của Superanskaja : " địa danh là

Trang 11

những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tợng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất " [31, tr 22].

Suy đến cùng, một số sự khác biệt trong các quan niệm trên chủ yếu làxuất phát từ phơng diện, góc nhìn không giống nhau vì vậy để tiện cho thaotác làm việc, và tránh đi sự rối rắm, có thể hiểu một cách chung nhất về địa

danh nh sau: Địa danh là những từ, cụm từ dùng để gọi tên các đối tợng, không

gian địa lý, các địa hình, địa vật; có tác dụng khu biệt, định vị những đối ợng, không gian địa lý, các địa hình, địa vật này với các đối tợng, không gian

t-địa lý, các t-địa hình, t-địa vật khác.

1.1.2 Chức năng

Thừa nhận địa danh là tên gọi đối tợng địa lý ( tự nhiên hay nhân văn),thì cũng nh các danh từ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật.Tuynhiên ,địa danh lại đối lập, khu biệt với danh từ chung ở chỗ, địa danh cònmang chức năng của danh từ riêng là phân biệt và cá thể hoá đối tợng Nóicách khác, ngay từ buổi đầu, địa danh là tên riêng và nó có tác dụng đánh dấu,cá thể hoá đối tợng tơng ứng với những cái xung quanh và lân cận nó Ví dụ:con suối, dòng sông có đặc điểm chung là có một dòng chảy Ngọn núi, quả

đồi có đặc điểm chung là có một khu đất, đá nhô lên cao khỏi mặt đất Nhnglại đợc đặt tên bởi con sông này, dòng suối kia, ngọn núi nọ… vì chúng mang

hai đặc trng: một là, đặc trng chung, phổ quát, lặp lại ở nhiều đối tợng trong một loại hình; hai là, đặc trng khu biệt không lặp lại các đối tợng trong cùng

một loại hình Do vậy, chức năng định danh và cá thể hoá đối tợng là một chứcnăng quan trọng và thờng trực của địa danh Nó là kết quả của quá trình khámphá, nhận thức của con ngời về thế giới thực tại khách quan và đợc con ngời

đặt tên cho chúng.Với đặc trng nh vậy, địa danh cũng đồng thời giúp con ngờithực hiện tốt quá trình giao tiếp, t duy

Mỗi địa danh hay một lớp địa danh đều gắn với văn hoá của từng cộng

đồng, từng khu vực địa lý cụ thể Do vậy, phản ánh đặc điểm văn hoá cũng là

một chức năng của địa danh Ví dụ: qua những tên gọi nh: đình làng Nam

Ngạn ( phờng Nam Ngạn), nơi thờ vị tớng Chu Nguyên Lơng, đợc phong là

Thành Hoàng làng; đình làng Đông Sơn ( phờng Hàm Rồng), nơi thờ thần

Chàng út Đại Vơng, con của Lê Ngọc đã cùng nhân dân Cửu Chân chống lạinhà Đờng Chàng út Đại Vơng đợc phong là Thành Hoàng làng… Những địadanh trên đã phản ánh phong tục tín ngỡng thờ Thành Hoàng của ngời Việt nóichung và ngời dân thành phố Thanh Hoá nói riêng

Ngoài ra, địa danh hay một lớp địa danh đều ra đời trong những bốicảnh lịch sử xã hội nên chúng còn có chức năng phản ánh lịch sử địa phơng

Trang 12

Và thực tế, có những địa danh đã trở thành tấm bia hoá thạch ghi lại nhữngbiến cố, những chứng tích, những sự kiện lịch sử đã xảy ra

Tên làng Thọ Hạc( phờng Đông Thọ) thực chất lúc đầu có tên là làng

Hạc Vào năm 1788, trên đờng tiến quân ra Bắc chinh phạt quân Thanh, vuaQuang Trung – Nguyễn Huệ đã dừng chân tại làng Hạc để nghỉ ngơi, tậptrung binh lính Nhân dân làng Hạc nhiệt tình hởng ứng Cảm phục trớc tấmlòng và tình cảm mà nhân dân đã dành cho nghĩa quân, trớc khi ra Bắc, vuaQuang Trung – Nguyễn Huệ đã tặng nhân dân làng Hạc chữ Thọ Từ đó, làngHạc có tên là làng Thọ Hạc

Hay địa danh cầu Hàm Rồng, làng Nam Ngạn, đồi Quyết Thắng… đã

để lại những chứng tích về cuộc chiến đấu oanh liệt và hào hùng của quân dânThanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc

1.1.3 Phân loại địa danh

Do cha có sự thống nhất cao trong cách hiểu về thuật ngữ địa danh nên

đã dẫn tới cách phân loại cũng trở nên phức tạp Và thực tế cho tới nay ch a cómột mô hình phân loại khái quát tối u để có thể áp dụng phổ biến cho mọicông trình nghiên cứu Vì vậy, tuỳ từng đối tợng, tuỳ từng cách tiếp cận, tuỳtừng mục đích mà ngời nghiên cứu cần đa ra cách phân loại địa danh sao chophù hợp Có thể kể ra đây một số cách phân loại tiêu biểu ở phơng Tây và Việtnam

1.1.3.1 Cách phân loại của các nhà địa danh học phơng Tây.

- A Dauzat trong " La toponymie Francaise" ( 1963) đã chia địa danh

nớc Pháp làm 4 phần và mỗi phần lại gắn với nguồn gốc ngôn ngữ

1- Những cơ sở tiền ấn - Âu

2- Các danh từ tiền La tinh về nớc trong thuỷ danh học

3- Các từ nguyên Gô Loa- La Mã

4- địa danh học Gô Loa- La Mã của ngời Auvergne và Velary

- Với tiêu chí của sự hỗn hợp nguồn gốc ngôn ngữ và đối tợng, Ch

Rostaing trong " Les nom de lieux " đã chia địa danh nớc Pháp thành 11 loại

Trang 13

7- Các hình thức của thời phong kiến.

8- Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo

9- Những hình thái hiện đại

10- Các địa danh và tên đờng phố

11- Tên sông và tên núi

Nếu nh cách phân loại của A Dauzat còn quá chung chung, cha cụ thểthì cách phân loại của Ch Rostaing lại quá chi tiết, rờm rà, cha có tính kháiquát cao

- Với mức độ khái quát hơn, rõ ràng hơn các nhà địa danh học Xô viết

đã cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ khi phân loại địa danh

G P Smolicnaza và M V Gorbanevsky chia địa danh Matxcơva làm 4loại

1- Phơng danh : Tên địa phơng

2- Phố danh : Tên các đối tợng trong phố

3- Sơn danh : Tên núi, gò, đồi

4- Thuỷ danh : Tên các dòng chảy, ao, hồ, sông

A V Superanskaja trong " Địa danh là gì? " đã chia địa danh là 8 loại:

Cách phân loại của các nhà địa danh học Xô viết khái quát, rõ ràng, tơng

đối đầy đủ và chi tiết Tuy nhiên hầu nh các nhà nghiên cứu không chú ý đếncác địa danh chỉ công trình xây dựng : cầu, cống, đờng xá…, những địa danhrất gần gũi với đời sống con ngời

1.1.3.2 Cách phân loại của các nhà địa danh học Việt Nam.

Các nhà địa danh học Việt Nam cũng đã đa ra những tiêu chí cho riêngmình để phân loại địa danh

* Dựa vào tiêu chí địa lý - lịch sử, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địadanh làm ba tầng bậc :

- Loại địa danh

- Kiểu địa danh

- Dạng địa danh

Trang 14

Theo đó, có 2 loại địa danh :

- Địa danh tự nhiên

- Địa danh kinh tế xã hội

Trong hai loại địa danh này lại có 7 kiểu :

7 kiểu đó tác giả đa ra 11 dạng nhỏ hơn là sông ngòi, hồ đầm, hải đảo,

đồi núi, rừng núi, truông trảng, làng xã, huyện quận, tỉnh, thành phố và quốcgia

* Lê Trung Hoa trong Những đặc điểm chính của địa danh thành phố

Hồ Chí Minh” đã dựa vào nhiều tiêu chí để phân loại địa danh

Căn cứ vào tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên để chia địa danh thành

phố Hồ Chí Minh làm 2 loại : tự nhiên và không tự nhiên

- Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tợng địa hình thiên nhiên

+ Địa danh chỉ các đơn vị hành chính : ấp, phờng, xã …

+ Địa danh gọi tên vùng: địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có biêngiới rõ ràng

Từ phơng diện khác , căn cứ vào ngữ nguyên ( nguồn gốc ), tác giả phân

loại địa danh làm 2 nhóm :

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh không thuần Việt ( gốc Hán , gốc Pháp…)

* Nguyễn Kiên Trờng trong : " Những đặc điểm chính của địa danh Hải

Phòng " đã đa ra 3 riêu chí để phân loại địa danh.

Dựa vào thuộc tính của đối tợng, tác giả chia địa danh Hải Phòng làm

2 nhóm : địa danh tự nhiên và địa danh chỉ đối tợng nhân văn

- Nhóm địa danh tự nhiên:

+ Nhóm địa danh đất liền

Trang 15

+ Nhóm địa danh vùng biển giáp ranh.

- Nhóm địa danh chỉ đối tợng địa lý nhân văn gồm :

+ Địa danh c trú - hành chính và địa danh gắn với hoạt động của con

ng-ời tạo nên : ấp, bộ, châu, di chỉ, xóm…

+ Địa danh đờng phố, công trình, xây dựng: đờng, ngã t, ngõ, cầu, chợ,nhà thờ, khách sạn

Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên, có thể phân chia địa danh thành các

nhóm :

- Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt

- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt

- Địa danh có nguồn gốc Pháp

- Địa danh có nguồn gốc Tày - Thái, Việt - Mờng, Chăm, Môn - Khơme

- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp

- Địa danh cha xác định đợc nguồn gốc

Cuối cùng, dựa vào chức năng giao tiếp, có thể phân chia địa danh

đựơc những ảnh hởng qua lại giữa ngôn ngữ ( địa danh ) với lịch sử, địa lý, vănhoá Không những vậy, nếu đi theo khuynh hớng này sẽ giúp chúng ta thấy đ-

ợc đặc điểm cấu tạo của từng địa danh, sự thay đổi, chuyển hoá của các địadanh và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh

Cũng phải nói thêm rằng, các cách phân loại trên chỉ mang tính chất

t-ơng đối mà thôi, miễn sao sự phân loại, phân lớp đó càng ứng khớp với thực tếcàng tốt, càng có sức bao quát nhiều đối tợng càng tốt, càng ít các trờng hợptrung gian càng tốt

1.2 Địa danh thành phố Thanh Hoá - những vấn đề liên quan

1.2.1 Về địa lý.

Trang 16

Thành phố Thanh Hoá là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hộicủa cả tỉnh Thanh Hoá Về địa giới, phía Tây và Tây Bắc giáp huyện ĐôngSơn, phía Bắc giáp huyện Thiệu Hoá, phía Đông giáp huyện Hoằng Hoá, phía

Đông và Đông Nam giáp huyện Quảng Xơng Xét theo vĩ độ và kinh độ trênmặt địa cầu, thành phố Thanh Hoá nằm ở 19 47' vĩ độ Bắc và cách thành phố

Hồ Chí Minh 1600 km về phía Nam, cách biển Sầm Sơn 16 km về phía Đông

và cách biên giới Việt - Lào 135 km về phía Tây Diện tích tự nhiên 5.858,64

ha (1996) gồm 12 phờng : Ba Đình, Điện Biên, Đông Sơn, Đông Vệ, Lam Sơn,Phú Sơn, Ngọc Trạo, Trờng Thi, Tân Sơn, Hàm Rồng, Nam Ngạn, Đông Thọ

và 6 xã: Đông Cơng, Đông Hơng, Đông Hải, Quảng Hng, Quảng Thành vàQuảng Thắng

Thành phố Thanh Hoá gần nh nằm ở trung tâm của đồng bằng tỉnhThanh Hoá Hơn thế nữa, một điểm nổi bật về địa lý tự nhiên của vùng là cónhiều núi đất, đá nằm rải rác hoặc cụm lại thành từng nhóm nhỏ xen kẽ cáclàng mạc đồng ruộng, tạo nên những cánh đồng rộng hẹp, nông sâu khác nhau

1.2.2 Về lịch sử.

Thành phố Thanh Hoá tiền thân là thị xã Thanh Hoá, nằm trên phần đấtgiáp ranh của hai huyện Đông Sơn và Quảng Xơng đợc tách ra khi trấn thànhThanh Hoá dời từ làng Dơng Xá ( Thiệu Hoá ) về làng Thọ Hạc ( 1804) và bấy

giờ thành phố Thanh Hoá đợc thành lập với tên gọi " Trấn thị Thanh Hoa ".

Thời thuộc Hán, làng Dơng Xá hay còn gọi là Kẻ Ràng – Kẻ Giàngthuộc huyện Thiệu Hoá là trị sở sớm nhất và lâu đời nhất của Thanh Hoá, với

tên gọi là quận trị T Phố của quận Cửu Chân Theo Phan Văn Kính trong Đô

thị cổ Việt Nam ” thì Quận trị T Phố thuộc cả vùng Dơng Xá, trên sờn phía tây núi Vồm hiện còn địa danh mang tên Tây trấn thành ; d“ ” ới chân núi có

địa điểm xa gọi là Trạm Trung Đồ Tại khu vực núi Vồm, D” ” ơng Xá nhân dân thu lợm đợc nhiều hiện vật, vũ khí bằng đồng, nhiều gốm Hán tiền ngũ thù… Mật độ mộ táng thời Hán dày đặc trong các di chỉ Đông Sơn, Thiệu Dơng, đặc biệt có nhiều ngôi mộ thời Tây Hán cho phép giả định rằng trung tâm Cửu Chân vào buổi đơng thời không kém gì Giao Chỉ” [23, tr 15]

Từ thời tiền Tống đến Tiền Lê ( 420 – 1009), quận trị T Phố dời về

Đông Phố - Đồng Pho Theo Đinh Xuân Lâm – Vũ Đức Nghi trong Lịch sử

thành phố Thanh Hoá” : Quận trị Cửu Chân từ đời Tuỳ đã dời từ T Phố về

Đông Phố ( tức làng Đồng Pho, xã Đông Hoà, huyện Đông Sơn) Và suốt trong thời kỳ đô hộ của nhà Đờng thì Đông Phố vẫn là quận trị của Cửu Chân”.[30, tr 10]

Trang 17

Và cho đến khi Dơng Đình Nghệ dấy quân từ làng Ràng và địa điểm

xuất quân của Ngô Quyền ra Bắc dẹp thù trong giặc ngoài cũng có nhiều khả năng từ trị sở Đông Phố” [30, tr.10] Rồi Đinh Bộ Lĩnh thống lĩnh 12 xứ quân,

thống nhất đất nớc và Lê Hoàn làm vua cho đến khi nhà Lý dời đô ra ThăngLong thì quân trị Châu ái vẫn là Đông Phố

Đến thời Lý – Trần ( 1009 – 1419), trấn thị Thanh Hoa đóng đô ở

Duy Tinh thuộc xã Văn Lộc huyện Hậu Lộc Sách Lịch sử Thanh Hoá“ , tập 2”

có ghi “…Thời Đinh, Tiền Lê, Duy Tinh đã là một trong những trung tâm sản

xuất và thơng mại lớn của Châu ái bao gồm các xã văn Lộc, Mỹ Lộc, Thuần Lộc huyện Hậu Lộc ngày nay Là một vùng dân c đông đúc, đồng ruộng màu

mỡ, Duy Tinh còn có tên gọi khác: Thiện La, Hà Liên, Yên Thờng, Thái ờng…”[24, tr 123]

Th-Và từ thời hậu Lê đến khi Gia Long lên ngôi vua ( 1802) thì trấn lỵThanh Hoa lại chuyển về làng Ràng, đóng ở Dơng Xá và Doanh Xá thuộchuyện Thiệu Hoá

Nh vậy, trải qua hơn 2000 năm, địa điểm đặt quận trị, trấn lỵ Thanh Hoá

đợc di chuyển ở nhiều nơi: T Phố - Đông Phố- Duy Tinh – Dơng Xá - HạcThành, có nơi đợc đặt một lần rồi dời đi nơi khác, có nơi dời đi một thời gianlại đợc chọn đặt quận trị, trấn lỵ trở lại nh vùng T Phố – Dơng Xá Tuynhiên, việc nhà Nguyễn dời trấn thành Thanh Hoá về làng Thọ Hạc có thể xem

là một quyết định đúng đắn Vì đây là vùng đồng bằng, có hai thuận lợi: một

là, Thọ Hạc nằm ngay trên con đờng thiên lý nối liền hai miền Bắc Nam với

mạng lới giao thông thuận tiện trong thời chiến và trong thời bình thì nó lại

càng đợc phát huy; hai là, nằm kề với các địa phơng có ngành nghề thủ công

khá phát triển: sản xuất đá ở Nhồi ( Đông Sơn), nghề chum vại, tiểu sành ở

Đức Thọ Vạn và Cốc Hạ, sản xuất giấy ở Đồng Pho…, do vậy rất thuận tiệncho việc phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên, lúc bấy giờ vùng đất quanhlàng Thọ Hạc vẫn là một bãi đồng hoang, dân c tha thớt, cây cối um tùm

Theo Đinh Xuân Lâm, Vũ Đức Nghi trong “Lịch sử thành phố Thanh Hoá” thì

“ Tỉnh lị Thanh Hoá đợc quen gọi với tên Hạc Thành Thành chim Hạc Phải chăng ngời xa tin vào thuyết phong thuỷ cho rằng địa thế Thanh Hóa có hình chim Hạc Hạc ở đây chỉ giống cò trắng rất phổ biến tại vùng l u vực sông Mã, sông Chu Sự thật cũng có cơ sở là: Thọ Hạc và các vùng lân cận tr -

ớc đây chắc là vùng ven sông, lầy lội, cây cối um tùm, nên chim cò a về làm

tổ, tạo thành nét độc đáo cảnh quan trong vùng” [30, tr 19].

Trang 18

Sau khi chuyển về địa điểm mới, nhà Nguyễn cắt đất làng Thọ Hạc, làngPhủ Cốc, làng Mật Sơn để chia làm 2 giáp : Đông Phố và Nam Phố Mỗi giáplại chia làm các ấp.

- Giáp Đông Phố : 10 ấp

+ Vân Trờng: khoảng ngã ba Bia

+ Đông Truờng: khoảng nhà thờ Thanh Hoá

+ Tiền Nghĩa: Ngân hàng tỉnh

+ Hậu Thành: Công ty thực phẩm

+ Đông Lân: phía sau khu nhà tầng Phan Chu Trinh

+ Đồng Lạc: khoảng chùa Hai Voi

+ Tả Biên: khoảng phố Trần Phú ( cũ) và Hà Huy Tập ( cũ)

+ Phú Mỹ: khoảng chùa Hội Quản

+ Hữu Biên: cửa hàng Intershop

+ Bắc Biên: phố Bà Triệu

- Giáp Nam Phố :7 ấp

+ Tây Lý: khu nhà ga Thanh Hoá

+ Hữu Môn: dọc đờng xe lửa, khu Lam Sơn (cũ)

+ Tiền Môn: phố Nguyễn Trãi

Thanh Hoá thắng địa là đây

Trang 19

Nhằm trực tiếp nắm toàn quyền cai trị tỉnh lỵ, thực dân Pháp buộc vuaThành Thái ký đạo dụ ngày 12 – 07 – 1899 thành lập thị xã Thanh Hoágồm 7 làng : Thọ Hạc, Đông Phố, Nam Phố ( tổng Thọ Hạc ); Đức Thọ Vạn,Cẩm Bào Nội, Cốc Hạ, Phủ Cốc ( tổng Bố Đức ).

Tiếp đó là đạo dụ ngày 19 – 03 – 1901 của nhà vua, đợc nghị địnhngày 4-7 – 1901 của Khâm sứ Trung kỳ phê chuẩn, từ đây quan lại Nam triềukhông còn quyền hành quản lý thị xã Cho đến 1918, thành phố có 10 phờng:Tả Môn ( cửa Tả), Bắc Môn ( cửa Hậu), Nam Môn ( cửa Tiền), Đông Lạc,Thành Thi, Nam Lý, Phú Cốc, Vạn Tờng, Bào Giang, Đức Thọ Vạn

Nhằm đẩy mạnh chơng trình khai thác thuộc địa, bóc lột nhân dân, ngày

31 – 05- 1929, toàn quyền Đông Dơng ký quyết định nâng cấp thị xã ThanhHoá lên thành phố Thanh Hoá

Nghị định ngày 21- 09 – 1929 của Công sứ - Đốc lý điều chỉnh địagiới thành phố Thanh Hoá: Bắc giáp làng Thọ Hạc, Nam giáp làng Mật Sơn,

Đông giáp sông Bến Ngự, Tây giáp phủ Đông Sơn

Đông Thọ, Đông Cơng và Đông Vệ quản lý

Thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra toàn miền Bắc Nhiều cơ sở sảnxuất và nhân dân liên khu III tản c vào vùng tự do Thanh Hoá Nhận rõ tráchnhiệm tổ chức đời sống, nhân dân thị xã tích cực tham gia kháng chiến Ngày

14 – 05 – 1949, Uỷ ban hành chính kháng chiến Liên khu IV cho phépthành lập khu phố đặc biệt cầu Bố do Uỷ ban hành chính kháng chiến điềuhành, trực thuộc huyện Đông Sơn, sau đó thành thị trấn đặc biệt cầu Bố

Ngày 20 – 08 – 1952, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh ra quyết

định thành lập Uỷ ban kháng chiến hành chính thị trấn đặc biệt Thanh Hoá, cótrách nhiệm và quyền hạn nh một xã lớn Đầu năm 1953, đợc nâng cấp ngangvới cấp huyện và trở thành Uỷ ban kháng chiến hành chính thị trấn đặc biệtThanh Hoá Địa giới trải dài từ Phố Kết – Rừng Thông đến Dốc Ga – cầuSâng - Vờn Hoa – cầu Bố – làng Voi – làng Nấp – cầu Trầu – cầu Cáo vàtoàn bộ nông dân trên vùng đất thị xã cũ

Trang 20

Tháng 7 – 1954, hoà bình lập lại trên miền Bắc, Uỷ ban kháng chiếnhành chính khu vực thị trấn đặc biệt Thanh Hoá trở về tiếp quản vùng đất thịxã cũ.

Ngày 16 – 03 – 1963, Chính phủ quyết định sáp nhập xã Đông Giang( 3 làng: Nghĩa Phơng, Đông Sơn, Nam Ngạn) thuộc huyện Đông Sơn và xómNúi thuộc xã Hoằng Long huyện Hoằng Hoá vào thị xã Thanh Hoá

Ngày 28 – 08 – 1971, Chính phủ ban hành nghị định số 266 TTg sápnhập xã Đông Thọ, Đông Vệ, Đông Hơng, Đông Hải thuộc huyện Đông Sơnvẫn đợc coi là đơn vị hành chính cấp thị xã trực thuộc tỉnh Thanh Hoá

Ngày 3 5 1994, chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá ký quyết định số 361 QĐUB phê duyệt kế hoạch xây dựng thị xã Thanh Hoá đến năm 2000

-Ngày 1- 5- 1994 , Thủ tớng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký nghị định số 37/

CP thành lập thành phố Thanh Hoá trực thuộc tỉnh Thanh Hoá trên cơ sở thị xãThanh Hoá

Ngày 28 – 08 – 1994, Thủ tớng Chính phủ Võ Văn Kiệt ký nghị định

số 55/ CP thành lập phờng Đông Thọ, phờng Đông Vệ và chia phờng NamNgạn thành 2 phờng Trờng Thi và Nam Ngạn

Ngày 6 – 12 – 1995, Chính phủ ra nghị định số 85/CP điều chỉnh địagiới thành phố Thanh Hoá, sáp nhập xã Đông Cơng thuộc huyện Đông Sơn, xãQuảng Thành, xã Quảng Hng và 49,03ha đất của xã Quảng Thịnh thuộc huyệnQuảng Xơng vào thành phố Thanh Hoá

Từ khởi điểm ban đầu địa giới nhỏ hẹp, đến nay thành phố Thanh Hoágồm 18 đơn vị hành chính cơ sở, trong đó 12 phờng và 6 xã 12 phờng gồm:

Điện Biên, Nam Ngạn, Đông Sơn, Ngọc Trạo, Đông Vệ, Đông Thọ, Phú Sơn,Lam Sơn, Tân Sơn, Hàm Rồng, Trờng Thi và 6 xã gồm: Đông Cơng, ĐôngHải, Đông Hơng, Quảng Thành, Quảng Thắng, Quảng Hng

Nh vậy, thành phố Thanh Hoá chỉ có bề dày lịch sử 200 năm nhng nơi

đây đã chứng kiến rất nhiều những biến đổi thăng trầm của lịch sử, nhiều lầnthay đổi địa bàn hành chính Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứunớc, thành phố Thanh Hoá đã cùng với nhân dân cả nớc đánh tan cuộc xâm lợccủa đế quốc Mỹ, góp phần thắng lợi chung của cả dân tộc Những biến cố sựkiện lịch sử đó đã dẫn tới sự ra đời của nhiều địa danh, có những địa danh mớixuất hiện, có những địa danh mất đi chỉ còn lại trong trí nhớ dân gian Tất cả

đã làm nên sự phong phong phú, đa dạng của hệ thống địa danh trên vùng đất

có thể coi là “ địa linh nhân kiệt” này

1.2.3 Về đặc điểm dân c:

Trang 21

Cho đến nay, khó có thể xác định vùng nào trên địa bàn thành phố có cdân bản địa Song, dựa vào những thần tích, thần phả, truyền thuyết dân gian,nhất là các di chỉ khảo cổ học đã cho những minh chứng thuyết phục về sự cómặt của ngời Việt cổ.

Với những di chỉ khảo cổ học đợc khai quật tại núi Đọ thuộc 2 xã ThiệuTân và Thiệu khánh ( huyện Thiệu Hoá ), cách trung tâm thành phố ThanhHoá khoảng 6- 7 km, cho phép chúng ta đa ra một nhận định rằng : c dân nơi

đây đã có những mối liên hệ cộng c dọc theo triền sông Mã và núi Hàm Rồngthuộc địa phận thành phố Thanh Hoá ngày nay cách chúng ta khoảng 3- 4 chụcvạn năm

Trên địa bàn thành phố Thanh Hoá, di chỉ Đông Khối thuộc xã Đông

C-ơng đợc khai quật 1960 đã khẳng định : đây là giai đoạn tiếp theo của văn hoánúi Đọ, cách chúng ta khoảng 30 - 40 ngàn năm

Đặc biệt, vào năm 1926, tại làng Đông Sơn ( Phờng Hàm Rồng ) ngời taphát hiện ra đợc các hiện vật : trống, thạp, mũi tên, dáo , mác, lỡi cày… vớiniên đại khoảng hơn 4000 năm Sự kiện này đã đa làng Đông Sơn lên vị trí là

địa danh của một nền văn minh trống đồng- văn minh Đông Sơn Điều đó càngchứng tỏ, vào thời đại vua Hùng, c dân đã định c ở đây đông đúc và có mộttrình độ t duy phát triển cao Họ đã đa nghề chế tác kim loại lên một trình độtinh xảo

Hiện nay, trên địa bàn thành phố Thanh Hoá, cộng đồng dân tộc Kinh

đến c trú là chính Ngoài ra, còn có một số ít những ngời có nguồn gốc HoaKiều, ấn Độ, đến định c từ thời Bắc thuộc

1.2.4 Về văn hoá

Trên địa bàn thành phố Thanh Hoá, có rất nhiều địa danh gắn với các ditích văn hoá Có thể kể đến : thành Thanh Hoá ( P Lam Sơn ), thành Trờng thiHơng ( P Trờng Thi), đền Nhà Lê ( P Đông Vệ ), đền thờ Đức Thánh Cả ( P.Hàm Rồng ), chùa Mật Đa ( P Nam Ngạn ), chùa Đại Bi ( P Đông Vệ ), nhàthờ Thanh Hoá ( P Trờng Thi)… Chính những địa danh trên đã làm nên đặc tr-

ng văn hoá, phong tục tập quán, tín ngỡng của vùng

1.3.Địa danh Thành phố Thanh Hoá:kết quả thu thập và phân loại 1.3.1.Kết quả thu thập

Căn cứ vào phạm vi, đối tợng, và nguyên tắc, chúng tôi đã thu thập đợc

754 địa danh, kể cả những địa danh hiện nay không còn tồn tại trên địa giớihành chính Số địa danh này gồm 47 loại, đợc phân bố rộng khắp trên địa bàn

và xuất hiện trên nhiều địa điểm khác nhau Trong những địa danh này có địadanh tồn tại nhiều tên gọi( chỉ chung một đối tợng) Ví dụ: làng Vĩnh Yên còn

Trang 22

có tên gọi làng Ướn, làng ốc thuộc xã Quảng Thành; làng Lai Thành còn cótên khác là làng Quốc Thích thuộc xã Đông Hải…Ngoài ra, để dựng lại diệnmạo của một vùng đất qua các thời kỳ lịch sử, chúng tôi khảo sát, thu thập cảnhững địa danh hiện chỉ còn trong trí nhớ của ngời dân Tuy nhiên chúng tôikhông đi sâu phân tích, phân loại cụ thể những địa danh này mà chỉ điểm qua

mà thôi Đơng nhiên trên đây không phải là tổng số các địa danh hiện diện trên

địa bàn Vì mục đích nghiên cứu và hớng giải quyết vấn đề mà có những địadanh không đợc chúng tôi quan tâm và khảo sát nh: công ty, xí nghiệp, hội ( cơquan)…Đành rằng chúng có ý nghĩa về mặt ngôn ngữ nhng không có ( nếu cóthì rất ít) giá trị về mặt lịch sử, văn hoá - vấn đề đáng lu tâm nhất của địa danh

Số lợng các địa danh trên đợc thu thập từ các nguồn: văn bản hànhchính, bản đồ các loại, th tịch ghi chép lại và cứ liệu điền dã thực tế

1.3.2.Phân loại.

Nh phần đầu đã đề cập, chúng tôi sử dụng cách phân loại của tác giả LêTrung Hoa Theo đó, địa danh thành phố Thanh Hoá đợc phân loại theo 2cách( dựa vào 2 tiêu chí): tự nhiên – không tự nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ

1.3.2.1.Phân loại theo tiêu chí tự nhiên không tự nhiên.

a Địa danh tự nhiên.

- Sơn danh: núi, đồi, hang, động…

- Thuỷ danh: hồ, bến, sông, kênh…

- Vùng đất phi dân c: đồng, bãi

b Địa danh không tự nhiên.

- Địa danh c trú:

+ Địa danh c trú do chính quyền đặt: xã, phờng, phố…

+ Địa danh c trú có từ thời phong kiến: làng, thôn, xóm, ấp…

- Địa danh chỉ công trình nhân tạo:

+ Địa danh chỉ các công trình giao thông:đờng phố, cầu, ga, sân bay…+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng: chợ, chùa, đền thờ…

Để tiện theo dõi, chúng tôi trình bày cách phân loại này qua bảng phânloại với số liệu cụ thể :

 Vài điều qui ớc:

Số thứ tự: chính là số lợng loại hình địa danh thu thập đợc.

Tần số : số lần xuất hiện của chúng chính là số lợng địa danh, nhng

không trùng với số lợng đối tợng vì có những đối tợng hoặc có nhiều tên gọihoặc không còn tồn tại

Trang 23

Tiêu chí sắp xếp: căn cứ vào số lần xuất hiện từ cao xuống thấp của các

danh từ chung Nếu tần số nh nhau thì xếp theo thứ tự chữ cái của các danh từchung đó

Qui ớc viết tắt:

Phờng Ba Đình(B Đ) Phờng Tân Sơn( T S) Phờng Điện Biên( Đ B) Phờng Nam Ngạn( N N) Phờng Đông Sơn( Đ S) Phờng Ngọc Trạo(N T)Phờng Đông Vệ( Đ V) Xã Đông Cơng( Đ C)Phờng Đông Thọ( Đ T) Xã Đông Hải( Đ Hải)Phờng Phú Sơn( P S) Xã Đông Hơng( Đ Hơng) Phờng Lam Sơn( L S) Xã Quảng Hng( Q H)

Phờng Hàm Rồng( H R) Xã Quảng Thành( Q Thành)

Phờng Trờng Thi( T T) Xã Quảng Thắng( Q Thắng)

Bảng 1 Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên- không tự nhiên.

( Xếp theo tần số từ cao xuống thấp)

Động

2412332

Núi Mật( Đ V)Cồn Miếu ( Đ V)

Đồi Quyết Thắng( H R)Hang Mắt Rồng( H R)

Động Tiên( H R)

Thuỷ danh SôngHồ

BếnKênh

8722

Sông Lai Thành( Đ Hải)

Hồ Làng Quảng( Đ V)Bến Ngự( T T)

Kênh Bắc( P S)

Vùng đất nhỏ phi dân c

ĐồngBãi 554 Đồng Hè( Q Thành)Bãi Ông Giác( Q Thành)

PhốPhờngXã

Khu phố

1471265

Phố Cửa Tiền( B Đ)Phờng Lam Sơn( L S)Xã Quảng Hng( Q H)Khu phố Tây Ga (P S)

Địa danh

c trú có từ thời phongkiến

ThônXómLàng

ấp GiápTổng

4644331722

Thôn Hạc Oa( D C)Xóm Đoàn( Đ T)Làng Ngọc Mai( Q Thành)

ấp Hữu Biên( L S)Giáp Nam PhốTổng Thọ Hạc

Trang 24

ĐờngCầuNgã baCảngQuốc lộGaSân bayTỉnh lộ

Đại lộ

174145221111

Đờng Đào Tấn( B Đ)Cầu Bố( Đ V)

Ngã ba Bia( T T)Cảng Hàm Rồng( H R)Quốc lộ 1 A, 1 B

Ga Thanh Hoá( P S)Sân bay Lai Thành( Đ S)Tỉnh lộ 8

Đại lộ Lê Lợi

Địa danh chỉ các công trìnhxây dựng

Đền thờChùaNhà thờ họChợ

Sân vân động

ĐìnhNhà văn hoá

NghèTợng đàiCông viênNghĩa trangThànhKhu công nghiệpNhà hát

Nhà thờNhà tởng niệmQuảng trờng

272119168533322221111

Đền thờ Nguyễn Tĩnh(Đ.Hơng)Chùa Thanh Hà( TT T)

Nhà thờ họ Nguyễn ( Đ T).Chợ Tân An( N T)

Sân vân động Tỉnh( B Đ)

Đình làng Nam Ngạn( N N)Nhà văn hoá Hội An( B Đ).Nghè Cốc Hạ(Đ Hơng)

Tợng đài TNXP( H R)Công viên Thanh Quảng( L S)

Nghĩa trang LS Hàm Rồng( N N)

Thành Trờng thi Hơng( T T)Khu công nghiệp Lễ Môn( Q H)Nhà hát Lam Sơn( Đ B)

Nhà thờ Thanh Hoá( T T)Nhà tởng niệm Bác Hồ(Đ B)Quảng trờng Lê Lợi( L S)

* Với cách phân loại theo thuộc tính đối tợng: tự nhiên – không tự

nhiên cho phép chúng ta nhận diện đợc những đặc điểm địa lý, văn hoá của địabàn Thành phố Thanh Hoá là địa bàn có sự phân chia rất rõ rệt giữa nội thành

và ngoại thành ở nội thành xuất hiện nhiều các địa danh đờng phố, phố, khuphố, chợ…những địa danh gắn nhiều với hoạt động thơng mại Có 2 địa danhxuất hiện với tần số nhiều nhất : đờng(175) và phố(147) Còn ở ngoại thành lạitồn tại nhiều địa danh tự nhiên gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp:

đồng(55), núi(24), thôn(46), xóm(44), làng(33)…Ngoài ra, thành phố ThanhHoá còn là vùng đất hội tụ nhiều yếu tố văn hoá, phong tục tín ngỡng qua các

địa danh nh : đình(5), chùa(21), nhà thờ(1), nhà thờ họ(19), đền thờ(27)…

1.3.2.2.Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ( ngữ nguyên)

a Địa danh có nguồn gốc Hán- Việt: 625/754 trờng hợp, chiếm

82,89% Trong 625 địa danh đó, địa danh c trú hành chính có 230 trờng hợp,

Trang 25

chiếm 36,80%; địa danh công trình xây dựng – giao thông có 383 trờng hợp, chiếm 61,28% ; địa danh chỉ đối tợng tự nhiên có 12 trờng hợp, chiếm 1,92% Ví dụ : thôn Thành Yên ( Q Thành), làng Đông Sơn( H R), phờng LamSơn( L S), chùa Đại Bi( Đ V)…

Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt chiếm tỉ lệ rất lớn và số lợng yếu tốHán – Việt xuất hiện với tần số cao Các yếu tố này chủ yếu đợc dùng trong

địa danh c trú hành chính và công trình xây dựng – giao thông phản ánh tâm

lý, nguyện vọng hay chỉ vị trí, phơng hớng Đó là các yếu tố : yên, bình, tân,

phú, chiến, liêm, chính, hoà, bắc, nam , đông, tây, tiền, hậu, tả , hữu

Mặc dù vẫn có một số yếu tố ( âm tiết) Hán – Việt xuất hiện độc lậptrong các địa danh đơn yếu tố nhng phần lớn chúng xuất hiện trong tổ hợp gồmhai hoặc hơn hai từ tố kết hợp với nhau Điều này thật đúng với nguyên lý cấutạo của từ Hán – Việt, bởi vì các yếu tố Hán không hoạt động tự do nênchúng phải kết hợp trong những từ song tiết Vì thế một từ Hán – Việt thờnggồm 2 hoặc hơn 2 âm tiết kết hợp với nhau Trong khi đó, tiếng Việt về cơ bản

âm tiết trùng với từ Cho nên khi tiếp nhận tiếng Hán và để phù hợp với t duycủa ngời Việt thì một bộ phận lớn từ Hán – Việt đợc việt hoá và chúngnghiễm nhiên có giá trị tơng đơng với từ

- Các yếu tố Hán – Việt có thể xuất hiện độc lập trong địa danh c trúhành chính và địa danh tự nhiên với mục đích chỉ tính chất, phơng hớng, vị trí,hình thù của đối tợng

Ví dụ: xóm Phú( L S), xóm Cần, xóm Kiệm, xóm Liêm, xóm Chính( Đ.V), xóm Trung, xóm Nam, xóm Bắc( Đ T); núi Long, núi Hổ( Đ V),

- Các yếu tố Hán – Việt xuất hiện trong các địa danh biểu đạt nguyệnvọng, ớc mơ thờng có cấu trúc đôi Loại cấu trúc này xuất hiện chủ yếu trong

địa danh c trú hành chính

Ví dụ: làng Vĩnh Yên( Q Thành), xóm Thành Công( Đ T), làng ĐịnhHoà( Đ C), làng ái Sơn ( Đông Hải)…

Từ những cứ liệu địa danh Hán – Việt nh trên, nhất là địa danh c trúhành chính cho phép chúng ta khẳng định rằng sự du nhập ngôn ngữ và vănhoá Hán vào đời sống nhân dân trên địa bàn thành phố Thanh Hoá là hết sức

đậm nét

b Địa danh có nguồn gốc thuần Việt: 95/754 trờng hợp, chiếm

12,60% Trong 95 địa danh đó, địa danh c trú hành chính có 15 trờng hợpchiếm 15,79% ; địa danh địa hình tự nhiên có 72 trờng hợp, chiếm 75,79% ;

địa danh công trình xây dựng – giao thông có 8 trờng hợp, chiếm 8,42% Vídụ: xóm Thợ( T.T), phố Lò Chum(T.T), phố Hàng Đồng( Đ B); bãi Ông

Trang 26

Giác(Q Thành), đồng Khoai ( Q Thành); chợ Vờn Hoa( L S), cầu Cốc(L S),cầu Cao( P S)…

Về số lợng âm tiết, loại địa danh có nguồn gốc thuần Việt có thể là đơn

âm tiết và đa tiết:

- Địa danh thuần Việt đơn tiết: Trong tổng số 754 địa danh đợc thu thập,

có 42 địa danh đợc cấu tạo bằng các yếu tố thuần Việt đơn tiết trong tiếngtoàn dân, chiếm 5,57% , trong đó:

+ Địa danh tự nhiên: có 29 trờng hợp, chiếm 69,05%

* Sơn danh: núi Cuộc, núi Mớn( H R), núi Voi (Đ V) hang Dơi, hangBò( H R)

* Vùng đất nhỏ phi dân c: đồng Me, đồng Chẹt( H R), cồn Làng ( Đ.Hải), cồn Chùa( Q Hng)…

* Thuỷ danh: sông Cốc( Đ S), sông Bố( Đ V)…

+ Địa danh không tự nhiên: có 13 trờng hợp chiếm 30,95%

* Địa danh c trú hành chính: xóm Bãi( Đ Hải), làng Bố( Đ V)…

* Địa danh chỉ công trình xây dựng – giao thông: cầu Cao, cầu Sâng(N.N), ngã ba Voi(Đ V), ngã ba Bia(T T), ngã ba Cảng( Q Hng), cầu Bố(Đ V),

đờng Đồi C4( H R)…

- Địa danh thuần Việt đa tiết: có 53 địa danh thuần Việt đa tiết trongtổng số 754 địa danh, chiếm 7,02%, trong đó:

+ Trong địa danh tự nhiên: có 37 trờng hợp, chiếm 69,81%

* Sơn danh: núi Đa Si( Đ V), núi Mâm Xôi, núi Con Mèo , núi ĐámCháy, núi Hang Cá( H R)…

* Thuỷ danh: hồ Máy Đèn( P S), sông Cầu Sâng(N N)…

* Vùng đất phi dân c: đồng Cột Cờ(Đ V), cồn Cá Gáy(Đ V), đồng CâyBàng(H R), đồng Ao Làng( Q Hng), đồng Hố Bom(Đ Hải), đồng MảTrắng( Đ Hải)…

+ Địa danh không tự nhiên: có 16 trờng hợp, chiếm 30,19%

* Địa danh c trú do chính quyền đặt: phố Hàng Đồng(Đ B), phố HàngThan, phố Hàng Nan, phố Hàng Sứ (L S)…

* Địa danh chỉ các công trình giao thông: đờng Hàng Đồng( B Đ), đờngNhà Thờ, đờng Lò Bát(T T), đờng Cột Cờ(P S)…

* Địa danh chỉ công trình xây dựng: chùa Tù Và(Đ Hơng), chùa Mật

Đa( N N), chợ Vờn Hoa( L S), công viên Cây Xanh(Đ B)…

Về ý nghĩa, với địa danh có nguồn gốc thuần Việt, chúng ta có thể giảinghĩa từng yếu tố hay cả địa danh một cách tờng minh và dễ dàng

Trang 27

Ví dụ: phố Lò Chum ( T T): là nơi trớc đây chuyên sản xuất chum vại,xóm Thợ ( T T): là nơi mà thời thuộc Pháp có rất nhiều ngời đến làm thuê, phốHàng Nan(L S) là nơi mà trớc đây thờng buôn bán các đồ đan lát… Dĩ nhiêncũng có những địa danh thuần Việt đợc ngời dân địa phơng gọi tên một cáchngẫu nhiên cho nên rất khó có thể lý giải đợc ý nghĩa của nó.

c Địa danh có nguồn gốc Pháp: Trong tổng số 754 địa danh đợc thu

thập, có 03 trờng hợp địa danh có nguồn gốc Pháp, chiếm 0,40% Trong đó, 02

địa danh chỉ công trình xây dựng: sân vận động Balít ( Đ B), sân vân độngCăngxíchtát ( B Đ), và có 01 địa danh chỉ đối tợng tự nhiên: hồ Ga( P S)

d Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp: 26 trờng hợp, chiếm 3,45%, chủ

yếu xuất hiện trong địa danh chỉ đơn vị hành chính

Những địa danh có nguồn gốc hỗn hợp đợc cấu tạo bằng sự kết hợp giữamột yếu tố thuần Việt với một yếu tố Hán – Việt, lại có khi đợc kết hợp giữamột yếu tố Hán – Việt với một yếu tố gốc Pháp

- Có nguồn gốc thuần Việt – Hán Việt:

Ví dụ: làng Bố Vệ( Đ V), phố Cầu Hạc( Đ T), đờng Cửa Hậu( Đ B)…

- Có nguồn gốc Hán Việt – Pháp:

Ví dụ: khu phố Tây Ga ( L S)

e Địa danh không xác định đợc nguồn gốc: 5/754 trờng hợp địa danh

không xác định đợc nguồn gốc, chiếm 0,66% , chúng đều là địa danh chỉ đốitợng tự nhiên: bãi Cm( Q Thành), đồng Nẫn( Q Thành), đồng BảnTừ( Q.Thành), đồng Trối( Q Thành), đồng Nguốn( H, R)

Bức tranh địa danh thành phố Thanh Hoá cho chúng ta một số nhận xétsau đây:

Thông thờng địa danh nớc ta có 2 gốc cơ bản : đó là địa danh thuầnViệt(tên Nôm) và địa danh Hán – Việt Thanh Hoá là một thành phố mới, tuynhiên địa danh thành phố Thanh Hoá đa phần là Hán – Việt(82,90%) Đó lànhững địa danh do chính quyền các thời đại đặt ra để gọi tên các vùng c trúhành chính(36,80%), các công trình xây dựng giao thông(61,28%) và thờng lànhững địa danh chỉ nguyện vọng đợc sống bình yên, phát triển, vì thế phần lớn

địa danh các phố, các đờng đều lấy tên danh nhân đặt cho đờng phố Còn địadanh thuần Việt do ngời dân địa phơng đặt tên Do đó, ở thành phố ít có tênNôm (12,60%) mà phần lớn là địa danh địa hình tự nhiên(75,79%), trong đósơn danh khá nhiều ( ví có dãy núi ở phía Tây) và các cánh đồng; còn vùng ctrú chỉ còn lại(15,79%) mà phần lớn không mang tên ngời

Bảng 2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ

Trang 28

Hỗn hợp

Gốc Pháp

Không xác

định đợc nguồn gốc

* Phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên lại cho phép chúng ta nhận diện

địa danh ở chiều hớng khác Nói cụ thể hơn, nó giúp chúng ta hiểu đợc cácluồng dân c, sự giao thoa văn hoá trên địa bàn Đó là văn hoá Việt bản địa, vănhoá Hán, văn hoá Pháp…

1.4 Tiểu kết

1.4.1 Khi nghiên cứu địa danh, phải nhất quán trong việc hiểu khái

niệm và cách phân loại chúng Bởi với những phơng diện góc nhìn khác nhau

sẽ đa lại những kết quả khác nhau Do vậy, sự nhất quán trong quan niệm củangời nghiên cứu ngay từ đầu là rất cần thiết Nó ảnh hởng đến cách trình bày

và nội dung của vấn đề đang nghiên cứu

1.4.2 Địa danh Việt Nam nói chung và địa danh thành phố Thanh Hoá

nói riêng quả là phong phú, đa dạng nhng cũng rất phức tạp Sự phong phú đadạng đợc thể hiện ở số lợng địa danh mà chúng tôi thu thập đợc gồm nhiều loạihình, nguồn gốc Nhng chính sự phong phú, đa dạng lại đi liền với sự phức tạp.Bởi thế khi phân loại, có những địa danh đợc xếp ở loại hình này nhng cũng cóthể xuất hiện ở loại hình khác Ví dụ: các địa danh là công trình xây dựng:

đình làng, đền thờ, chùa chiền…cũng có thể xếp vào địa danh văn hoá; hoặccác địa danh công trình giao thông đờng xá cũng có thể xếp vào địa danh hànhchính Do vậy, trong cách hiểu của chúng tôi, đôi chỗ vẫn chỉ là tơng đối màthôi

1.4.3 Nh đã nói, địa danh – thành tố của ngôn ngữ luôn chịu sự chế

định của văn hoá, lịch sử, địa lý, dân c Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu địadanh, việc quan tâm đến những nhân tố trên cần phải đợc lu tâm đặc biệt.Chính điều này sẽ dẫn đến sự khác biệt trong việc nghiên cứu địa danh thuầntuý lịch sử, địa lý so với nghiên cứu địa danh dới góc độ ngôn ngữ học

Trang 29

Chơng 2 Đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa địa

danh thành phố Thanh Hoá

2.1 Đặc điểm cấu trúc.

2.1.1.Khái niệm cấu trúc:

Cùng với khái niệm hệ thống, khái niệm cấu trúc đợc sử dụng rất phổ

biến trong ngành ngôn ngữ học Có thể hiểu cấu trúc là toàn bộ “ những quan

hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể"[38, tr.128]

Hệ thống địa danh vùng miền nào bao giờ cũng liên quan mật thiết vớidân c, văn hoá, tâm lý của vùng miền đó và chúng mang một khuôn mẫu –mô hình chung nhất định Vì vậy, để phân biệt mô hình địa danh giữa các địabàn khác nhau, thuật ngữ cấu trúc đợc chúng tôi dùng là để mô hình hoá các

địa danh

Địa danh là một đơn vị định danh, gọi tên đối tợng tự nhiên- không tựnhiên và bao giờ cũng liên quan chặt chẽ với đối tợng và chủ thể đăt tên Dovậy mỗi vùng có cấu trúc địa danh khác nhau

2.1.2 Mô hình cấu trúc địa danh ở thành phố Thanh Hoá.

2.1.2.1 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh.

Từ trớc đến nay, khi xem xét, lý giải mô hình cấu trúc của một địa danh,tuy diễn đạt có khác nhau, nhng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã thống nhất

Trang 30

với nhau ở việc xác định các thành phần cấu tạo nên Theo đó, mỗi địa danhgồm hai thành tố: thành tố A và thành tố B Thành tố A là danh từchung( thành tố chung), thành tố B là tên riêng( địa danh) Ví dụ: chợ VờnHoa( L S), cầu Hàm Rồng( H R), làng Yên Biên( Đ V)…Trong đó, chợ, cầu, làng…là thành tố chung; Vờn Hoa, Hàm Rồng, Yên Biên là tên riêng.

Xung quanh mô hình cấu trúc của một địa danh, có một vấn đề đặt racho các nhà nghiên cứu là quan hệ giữa thành tố A và B nh thế nào? Nói khác

đi, “ tôn ti giữa hai thành tố trong phức thể địa danh sẽ đợc lý giải ra sao; cả

hai thành tố A và B là một địa danh hay chỉ thành tố B mới là địa danh; khi xây dựng từ điển địa danh thì các mục từ đợc sắp xếp ra sao cho hợp lý, chuẩn mực và nguyên tắc chính tả sẽ nh thế nào trớc những địa danh…[15, tr.66]

Trên thực tế, có những địa danh, để hiểu đợc thành tố B nhất thiết phảidựa vào thành tố A Chẳng hạn: sông Lai Thành- cầu Lai Thành- làng LaiThành( Đ Hơng) Hoặc qui tắc viết hoa, nếu chỉ viết hoa âm tiết đầu thì trongnhững trờng hợp nh: núi Hàm Rồng( H R), chùa Đại Bi( Đ V) … sẽ viết hoa

âm tiết nào Có lẽ giải pháp tốt nhất là vấn đề quan niệm phức thể địa danh Về

vấn đề này, Nguyễn Kiên Trờng cho rằng: “ Địa danh mang trong mình hai

thông tin:a/đối tợng đợc gọi tên thuộc loại hình địa lý nào(đồi, sông, phố, làng ) thể hiện qua ý nghĩa của danh từ chung; b/ Có nghĩa nào đó( phản ánh

điều gí đó) thể hiện qua tên riêng.[43, tr 53] Còn Phạm Tất Thắng: Sự khác

nhau giữa các từ chung với tên riêng là nhóm từ thứ nhất mang tính khái quát cao nhất, còn nhóm từ thứ hai mang tính định danh cao nhất”[15, tr 66]

Nh vậy thành tố A và B có vai trò, chức năng riêng.Thành tố A mangtính khái quát, chỉ ra loại hình đối tợng, còn thành tố B mang tính cụ thể, giúpchúng ta phân biệt các đối tợng Theo đó, địa danh chỉ đợc hiểu là phần tênriêng, còn tên chung đặt trớc tên đó có tính chất đi kèm, chỉ loại đối tợng.Việc nhận diện ý nghĩa, tìm hiểu thông tin của yếu tố thứ nhất – thành

tố A khá đơn giản, đa số chúng khá quen thuộc, gần gũi với nhiều ngời và cóthể tìm hiểu qua những cuốn từ điển thông thờng Tuy vậy, nếu đi vào chi tiết,tìm hiểu cho cạn kiệt ý nghĩa của thành tố A quả là không đơn giản tý nào, vìrằng thành tố chung – thành tố A lại gắn chặt với từng địa phơng, từng phơngngữ cụ thể với đặc trng văn hoá, lịch sử, tâm lý riêng Gặp những hoàn cảnhnày, nếu không phải là ngời bản ngữ am tờng thì cũng khó có thể giải mã cácthông tin cần giải mã từ thành tố A

Còn việc nhận diện, tìm hiểu thành tố thứ hai- tên riêng( địa danh) đơngnhiên phức tạp và khó khăn hơn nhiều, nó đòi hỏi công sức và thì giờ, đôi khi

Trang 31

không chỉ cần đợc lý giải qua cảm thức của ngời bản ngữ thông thờng mà cần

có sự gia công, trợ giúp của các chuyên gia Tuy nhiên, nếu khai thác hết cácthông tin ở yếu tố thứ hai này thì sự đóng góp vào việc nghiên cứu địa danh là

có giá trị lớn, đành rằng sẽ khó khăn và rất phức tạp

Ví dụ về sông Mã, nếu nh con sông Hồng có đến 50 tên gọi khác nhau

nh : Hồng Hà, Nhị Hà, Hồng Thuỷ, Diệp Du, Tây Nhĩ, Lê Xá, Tây Đạo, VănLang… thì con sông Mã cũng chẳng hề kém cạnh tý nào Nó có các tên gọinh: Định Minh, sông Ngu, sông Ngung, Nguyệt Thờng, Hội Thơng, ThanhGiang, Hồng Cừ… nhng tên phổ biến nhất là sông Mã Tuy nhiên giải thíchcho rõ nghĩa của địa danh này là gì thì lại có hai cách giải thích

Thứ nhất: theo sử sách, truyền thuyết ghi nhận và chiết tự theo từ Hán –Việt thì sông Mã có nghĩa là sông Ngựa

Thứ hai: mã nghĩa là mẹ vì mã đợc biến âm từ mạ trong tiếng Thái nên

gọi là sông Mẹ.( vì thực tế con sông này là con sông lớn nhất tỉnh, đợc chialàm nhiều nhánh trớc khi đổ ra biển)

Về cách viết hoa, theo qui định hiện hành của tiếng Việt, thành tốchung viết thờng, chỉ viết hoa tên riêng nếu là từ đơn tiết hoặc từ Hán – Việt;nếu tên riêng là từ thuần Việt đa tiết thì cũng viết hoa cả hai âm tiết

2.1.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh thành phố Thanh Hoá

Qua thực tế điều tra, khảo sát, chúng tôi khái quát mô hình cấu trúc phứcthể địa danh trên địa bàn thành phố Thanh Hoá nh sau:

tố B có số lợng âm tiết dài nhất là 5 âm tiết( ở Nghệ An là 7 âm tiết, Hải Phòng

là 4 âm tiết và Quảng trị là 4 âm tiết) Tuy nhiên cũng cần phải nói thêm rằngmô hình cấu trúc địa danh của các địa phơng trên có sự khác nhau còn tuỳthuộc vào quan niệm và chủ ý của ngời nghiên cứu

Mô hình cấu trúc địa danh này đợc chúng tôi lập ra dựa trên kết quả khảosát các địa danh qua t liệu hiện có Tất nhiên, không phải tất cả các địa danh đ-

ợc phân bố đầy đủ, trọn vẹn và lấp đầy các vị trí trên

Trang 32

Trong khi đó, mỗi bộ phận của phức thể địa danh có vai trò, chức năngriêng biệt Quan hệ giữa thành tố A và thành tố B là quan hệ giữa cái hạn định

và cái đợc hạn định; A biểu thị một loạt đối tợng cùng thuộc tính, còn B dùng

để chỉ những đối tợng cụ thể, đợc xác định trong lớp đối tợng mà A đã chỉ ra.Nói theo kiểu logic học, thành tố B có tác dụng thu hẹp nội hàm của kháiniệm(phức thể địa danh) Tức là nội hàm và ngoại diên bao giờ cũng tỷ lệnghịch với nhau: nội hàm tăng thì ngoại diên giảm và ngợc lại Với một phứcthể địa danh, có thể hiểu đơn giản nh một tiên đề rằng kích thớc của thành tố Bcàng lớn, tức là ngoại diên càng rộng thì cái nội hàm do khái niệm phức thể địadanh đó biểu thị càng bị thu hẹp, do đó ngoại diên của nó sẽ đợc mở rộng Nóikhác đi, thành tố B trong một phức thể địa danh càng lớn, thì các đối tợng địa

lý và nhân văn mà chúng gọi tên càng giảm Còn nói theo kiểu ngôn ngữ họcthì yếu tố thứ hai – thành tố B đóng vai trò là định ngữ trong một danh ngữ

Nh vậy, số lợng định ngữ có mặt trong địa danh càng nhiều bao nhiêu, thì khảnăng biểu hiện, gọi tên các đối tợng tự nhiên và nhân văn càng ít bấy nhiêu.Minh chứng cụ thể hơn cho vấn đề này, chúng tôi lần lợt tìm hiểu từng thànhtố

đạt sự cha thống nhất đó

Theo chúng tôi, địa danh thông thờng là một danh từ hoặc một cụm danh

đợc bao bọc bởi hai bộ phận: chỉ loại- phân loại Sự kết hợp giữa chúng cho tamột phức thể địa danh và trong đó danh từ chung chỉ loại luôn đi trớc tênriêng, nó là một bộ phận, một thành tố trong phức thể địa danh Do vậy, hiệnnay, dùng thuật ngữ thành tố chung đề gọi đơn vị thứ nhất trong phức thể địadanh là đợc nhiều ngời chấp nhận hơn cả

b Khái niệm thành tố chung:

Khái niệm thành tố chung đã đợc nhiều nhà địa danh học quan tâm và cơbản đã có sự thống nhất chung về đối tợng Xin đơn cử vài quan niệm

Trong luận án Tiến sĩ của mình, Nguyễn Kiên Trờng đã dẫn ra hai ýkiến: một là, ý kiến của Popov cho rằng: Bất cứ hiện tợng hàng loạt nào ( lặp lại, tơng tự ) trong toàn bộ địa danh, luôn cần đợc nghiên cứu cẩn thận vì

Trang 33

các yếu tố lặp lại đó thờng biểu hiện thể và giống của địa danh và cũng là đặc trng của một ngôn ngữ” [43, tr 57]; hai là, ý kiến của A.V.Superanskaja: Tên

chung là những tên gọi chung liên kết các đối tợng địa lý với mọi vật khác của thế giới hiện thực Chúng đợc diễn đạt bằng các danh từ chung vốn đợc dùng

để gọi tên và để xếp loại các đối tợng cùng kiểu, có cùng đặc điểm nhất định”

[43, tr 66]

Qua những quan niệm trên, có thể hiểu một cách chung nhất về thành tố

chung nh sau: Thành tố chung là những thuật ngữ địa lý thuộc về danh từ

chung, đợc dùng để chỉ một lớp đối tợng ( địa lý ) cùng loại hình, cùng thuộc tính bản chất, và về vị trí nó đứng trớc địa danh để chỉ ra loại hình đối tợng.

Nh vậy, thành tố chung vừa có ý nghĩa về mặt hình thức : tạo nên chỉnhthể cho phức thể địa danh, tạo nên một khái niệm, cho phép hiểu đúng địadanh; vừa mang ý nghĩa về mặt nội dung : xác định loại hình đối tợng đợc gọitên

Ví dụ: núi Kim Đồng ( Đ V), núi Ngọc Nữ( Đ V), làng Ngọc Mai( Q.Thành), làng Đông Sơn( H R), chùa Thanh Hà ( T T), chùa Đại Bi( Đ V),

đồng Trối( Đ V), đồng Hố Bom( Đ Hải)…

2.1.3.2 Thành tố chung trong địa danh thành phố Thanh Hoá.

a Về số lợng:

Với tổng số 754 địa danh đợc thu thập trên địa bàn thành phố, có 47 loạihình đối tợng địa lý, tơng đơng với 47 thành tố chung và đợc phân bổ theo từngnhóm địa danh

* Địa danh tự nhiên:

- Sơn danh: 5 thành tố Ví dụ: núi Mật ( Đ V ), đồi Quyết Thắng ( H

R ), cồn Vờn Dới( Q Hng), cồn Con Cá( Đ Hải), động Tiên( H R), hangBò(H R)…

- Thuỷ danh: 4 thành tố Ví dụ: hồ Làng Quảng ( Đ V ), sông Cầu Sâng( N N ), kênh Bến Ngự(T T), bến Ngự( T T)…

- Vùng đất nhỏ phi dân c: 2 thành tố Ví dụ: đồng Hè ( Q Thành), bãi

Ông Giác ( Q Thành), đồng Cha Cao( Q Hng), đồng Cồn Che( Q Thắng)…

* Địa danh không tự nhiên:

- Địa danh c trú do chính quyền đặt: 4 thành tố Ví dụ: phố Cửa Tiền ( B

Đ ), phờng Lam Sơn ( L S ), xã Quảng Hng( Q Hng), khu phố Tây Ga( P.S)

- Địa danh c trú vốn có từ thời phong kiến: 6 thành tố Ví dụ: xóm Đoài (

Đ T), thôn Hạc Oa ( Đ C ), làng Ngọc Mai ( Q Thành )

Trang 34

- Địa danh chỉ các công trình giao thông: 9 thành tố Ví dụ: cầu Bố ( Đ.

V ), đờng Đào Tấn ( B Đ), quốc lộ 1A

- Địa danh chỉ các công trình xây dựng: 17 thành tố Ví dụ:đền thờ Đứcthánh cả Lê Uy ( H R ), chùa Mật Đa ( N N ), đình làng Nam Ngạn( N N)

b Về cấu tạo:

Qua t liệu hiện có, số lợng đơn vị ( âm tiết ) trong thành tố chung trong

địa danh trên địa bàn thành phố Thanh Hoá có thể từ 1 đến 3

Bảng 3: Số lợng âm tiết trong thành tố chung của phức thể địa danh

thành phố Thanh Hoá

TT Số lợng âm

tiết

Tần số xuất hiện

(Đ.B)

Tổng 754 100%

Rõ ràng, số lợng thành tố chung càng ít thì số lần xuất hiện càng nhiều,

và ngợc lại, số lợng âm tiết của thành tố chung càng cao thì tần số xuất hiệncàng thấp

* Ghi chú: Hầu hết các địa danh đều có cấu trúc 3 phần: danh từ chung +danh từ đi kèm + tên riêng Ví dụ: Nghĩa trang + Liệt sĩ + Hàm Rồng ( N

N ) Vấn đề đặt ra là: Liệt sĩ xếp vào thành tố chung A hay địa danh ( tên

riêng) Nếu xếp vào địa danh là không hợp lý vì chúng có sự lặp đi lặp lạinhiều lần, xuất hiện trong nhiều địa danh cùng loại Ngợc lại, nếu xem là bộphận của thành tố chung thì số lợng của chúng là quá lớn và không phù hợpvới mô hình cấu trúc phức thể địa danh mà chúng tôi đa ra Thực tế, những từngữ trên có vai trò làm định ngữ cho thành tố chung, hơn nữa nhiều trờng hợpngời ta cũng có thể rút gọn Ví dụ: Nghĩa trang Hàm Rồng Do vậy chúng tôichấp nhận sự vắng mặt của các yếu tố có vai trò làm định ngữ cho thành tốchung

c Chức năng.

* Chức năng phân biệt loại hình đối tợng.

Trang 35

Để đặt tên , gọi tên cho một đối tợng nào đó, trớc hết con ngời – chủthể đặt tên phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của chúng ở sự lặp lại mangtính khái quát và không lặp lại mang tính chuyên biệt Từ sự tri nhận đó màtrong một phức thể địa danh, bao giờ cũng có một thành tố chỉ ra loại hình đốitợng và một thành tố khu biệt, cá thể hoá đối tợng Và thành tố A – thành tố

tố thứ nhất trong phức thể địa danh là thành tố có nhiệm vụ, chức năng lớnnhất của mình là chỉ ra cho đợc loại hình của đối tợng Ví dụ sông Bố(Đ V),sông Lai Thành( Đ Hải), sông Mã( H R)… chỉ chung một đối tợng có đặctính chung là dòng chảy; làng Nam Ngạn( N N), làng Thọ Hạc( Đ T), …có

đặc tính chung là đơn vị hành chính có từ thời phong kiến Không những vậy ,thành tố chung A còn có chức năng phân biệt loại hình và các địa danh cụ thểtrong các phức thể địa danh Ví dụ sông Bố, cầu Bố Cũng nh vậy, các thành

tố chung nh thành, thành phố, ga có chức năng phân biệt loaị hình và tên riêng

cụ thể trong phức thể địa danh: thành Thanh Hoá, thành phố Thanh Hoá, gaThanh Hoá Nh vậy có thể xem chức năng phân biệt loại hình cho địa danh làchức năng thờng trực, thờng xuyên rất quan trọng của thành tố chung

* Chức năng chuyển hoá.

Thành tố chung luôn đứng trớc tên riêng, đi kèm và phân biệt loại hình

địa danh và điều này là bất biến Tuy nhiên, thành tố chung trong khi làm tròn

và đảm nhịêm tốt vai trò đó thì nhiều khi nó đã vợt khỏi quyền hạn của mình

để nhập vào, chuyển sang một hoặc một vài vị trí của tên riêng Hiện tợng này

là biểu hiện sự phong phú, đa dạng về mối tơng liên giữa các bộ phận trongcấu trúc địa danh

Trong địa danh thành phố Thanh Hoá, số lợng địa danh đợc chuyển hoá

từ A sang B là 35/754 trờng hợp, chiếm 4,64% Trong đó nhóm danh từchung chỉ công trình xây dựng – giao thông chuyển hoá mạnh nhất chiếm73,44% Ví dụ: ga Thanh Hoá , phố Tây Ga( P S); cầu Hạc phố CầuHạc(Đ T); chùa Mật Đa đờng Chùa Mật Đa( N N), nhà thờ Thanh Hoá đ-ờng Nhà thờ ( T T ) Danh từ chung chỉ đơn vị hành chính chuyển hoá là14,28% Ví dụ: làng Đông Sơn đình làng Đông Sơn( H R), làng Nam Ngạn

 đình làng Nam Ngạn( N N), làng Quảng  hồ Làng Quảng( Đ V) Vàdanh từ chung chỉ đối tợng tự nhiên chuyển hoá chiếm 14,28% Ví dụ: đồngThăng núi Đồng Thăng( H R), cồn Mành  đồng Cồn Mành( Q Hng)…

So sánh đối chiếu với địa danh Hội An, sẽ thấy có sự khác biệt rất rõ

Theo Trịnh Thị Nh Thuỳ trong Địa danh Hội An“ ” thì Sự chuyển hoá mạnhnhất là danh từ chung chỉ đối tợng tự nhiên: 35,62%, còn lại là danh từ chung

chỉ đối tợng không tự nhiên và tác giả đi đến kết luận: Điều này cho thấy

Trang 36

trong cách đặt tên của c dân Hội An buổi đầu, các đặc điểm địa lý địa hình

đ-ợc họ quan tâm nhất và dùng làm yếu tố cơ sở để đặt tên cho đất mới vì chúng mang tính thực tiễn, đồng thời giúp họ dễ xác định nơi chốn, địa điểm.” [44,

tr 35] Còn đối với địa danh thành phố Thanh Hoá, qua những cứ liệu trên chothấy, c dân trên địa bàn lại quan tâm nhiều đến đặc điểm địa lý không tự nhiên

Do vậy, danh từ chung chỉ đối tợng không tự nhiên chiếm tỷ lệ cao hơn danh từchung chỉ đối tợng tự nhiên

Bảng 4 Bảng thống kê các loại đối tợng chuyển hoá:

TT Danh từ chung chuyến hoá Tỷ lệ

1 Danh từ chung chỉ đối tợng tự nhiên 14,28%

ga Thanh Hoá phố Tây Ga ( P S ), thành Thanh Hoá hồ Thành Và trongnhững tròng hợp chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng, có 50% chuyển hoásang vị trí thứ nhất và 50% chuyển sang vị trí thứ hai

Về từ nguyên, trong địa danh thành phố Thanh Hoá, danh từ chungchuyển hoá sang tên riêng có nguồn gốc thuần Việt chiếm 83,33%, nguồn gốcHán – Việt chiếm 11,11%, nguồn gốc Pháp: 5,56%

* Chức năng khu biệt, hạn định cho tên riêng.

Hai thành tố A và B trong phức thể địa danh luôn có mối quan hệ mậtthiết với nhau, nơng tựa và tơng tác lẫn nhau, dẫu cho mỗi thành tố có chứcnăng và quyền hạn riêng Theo cách hiểu thông thờng, thành tố B có chức nănghạn định cho thành tố A, đánh dấu, định vị, khu biệt đối tợng đợc thể hiệntrong yếu tố tổng loại – thành tố A Tuy nhiên, trong nhiều trờng hợp, thành

tố A vẫn thể hiện chức năng khu biệt, hạn định cho tên riêng – thành tố B Vídụ: cầu Hàm Rồng – phờng Hàm Rồng, làng Thành Mai – thôn Thành Mai,cầu Bố – làng Bố…Trong những trờng hợp nh vậy, các thành tố B vốn mangsẵn trong mình chức năng hạn định, khu biệt đối tợng thì giờ đây chức năng vàquyền đó không còn nữa, vì những biểu hiện đồng nhất về mặt ngữ âm Dovậy, chức năng hạn định của thành tố B lúc này đã đợc chuyển giao cho thành

tố A

Trang 37

* Khả năng kết hợp của các nhóm thành tố chung chỉ đối tợng tự nhiên:

- Nhóm thành tố chung trong sơn danh:

+ Núi: Núi là “ Địa hình lồi, sờn dốc, nổi cao lên trên mặt đất thờng cao

trên 200 mét” [38, tr 742] Nếu nh các c dân ở vùng Nghệ Tĩnh, Quảng Bình,

Quảng Trị gọi “núi” là “ rú ” hoặc “ động” ( đôộng)thì trên địa bàn Thanh Hoánói chung, thành phố Thanh Hoá nói riêng hầu nh nhất loạt gọi bằng tên “núi”

Qua khảo sát chúng tôi thấy, có 24 lần “núi” đợc sử dụng với t cách làthành tố chung: núi Hàm Rồng ( H R), núi Kim Đồng ( Đ V ), núi Kỳ Lân( Đ.V ) không có trờng hợp nào chuyển sang tên riêng hoặc bộ phận tênriêng

+ Đồi: Đồi là “ Dạng địa hình lồi, có sờn thoải, thờng không cao quá

- Nhóm thành tố chung trong thuỷ danh:

+ Hồ: Hồ là Nơi đất trũng chứa nớc, thờng là nớc ngọt, tơng đối rộng

và sâu, nằm trong đất liền” [38, tr 456 ] Có 7 lợt thành tố chung “hồ” xuất

hiện: hồ Làng Quảng ( Đ.V ), hồ Thành ( P.S ), hồ Kim Quy ( H R ) Không

có trờng hợp nào chuyển hoá sang tên riêng Mặt khác, chúng có đợc là hầu

hết nhờ sự chuyển hoá từ các thành tố khác sang Ví dụ: làng Quảng hồ Làng Quảng ( Đ V ), thành Thanh Hóa hồ Thành ( P S )

+ Sông: Là Dòng nớc tự nhiên tơng đối lớn, chảy thờng xuyên trên mặt

đất, thuyền bè thờng đi lại đợc” [38, tr 867] Có 8 lần thành tố chung “ sông ”

xuất hiện Ví dụ: sông Cầu Sâng ( N N), sông Nhà Lê ( Đ V ), sông Cốc ( Đ

S ) Không có trờng hợp nào chuyển sang tên riêng hoặc bộ pnận tên riêng

- Nhóm thành tố chung trong vùng đất nhỏ phi dân c:

+ Đồng: Khoảng đất rộng và bằng phẳng dùng để cày cấy và trồng trọt

” [38, tr 341] Có 55 lần “ đồng” xuất hiện làm thành tố chung Ví dụ: đồngGiếng ( Q Hng), đồng Cổ Hạc( Q Hng), đồng Cheo ( H R), đồng Kỵ( Đ.Hải), đồng Cọc( Đ Hơng), đồng Nam Ngạn( N N)…Có 01 trờng hợp chuyểnsang tên riêng: đồng Thăng núi Đồng Thăng(H R)

Trang 38

+ Bãi: Khoảng đất bồi có tính chất rộng, bằng phẳng ( bại ) Chỉ có 4 lần

“ bãi ” xuất hiện với t cách là thành tố chung Ví dụ: bãi Ông Giác ( Q.Thành ), bãi Cm ( Q Thành), bãi Công, bãi Tha Ma( Q Thắng)

* Khả năng kết hợp của các nhóm thành tố chung chỉ đối tợng không tự nhiên.

- Nhóm thành tố chung trong địa danh c trú do chính quyền đặt: nhómthành tố này chủ yếu có nguồn gốc từ Hán – Việt

+ Phố: “ Đờng ở thành phố, thị trấn, dọc hai bên có nhà cửa” [38, tr 785] Nói rõ hơn, theo GS Phan Thiều phố nguyên là nơi bán hàng, nay ta

gọi là cửa hiệu cửa hàng Sau, một dãy cửa hiệu sát kề nhau cũng gọi là phố…

Và con đờng hai bên xếp dài các cửa hiệu lại cũng gọi là phố ( hoặc là đờng phố) [42, tr 66] Nh vậy, phố trớc hết là nơi buôn bán, tra đổi hàng hoá và về

sau mới trở thành đơn vị hành chính Vì thế trong xã hội trớc đây, khi nói đếnphố( kể cả phờng) lại thờng xuất hiện những địa điểm tập trung buôn bán mộtmặt hàng nhất định Cho đến nay, những hoạt động thơng mại đó vẫn còn đợcbảo lu qua sự phản ánh của địa danh chỉ đơn vị hành chính Trên địa bàn thành

phố, những địa danh nh phố Hàng Thao, phố Hàng Sứ, phố Hàng Nan ( L S),

phố Hàng Đồng(T T) … chính là phản ánh những hiện t ợng đó.

Mặt khác, thành tố chung này thờng kết hợp với tên chỉ những vị anhhùng, nhà văn hoá lớn…để tạo thành phức thể địa danh chứa “ phố” và chúngxuất hiện với tần số cao ở vùng thị xã, thành phố mà ít xuất hiện ở những vùngnông thôn Trên địa bàn thành phố Thanh Hoá, có 147 lần “ phố” đảm nhiệmvai trò và t cách là thành tố chung Ví dụ: phố Đinh Công Tráng ( B Đ), phố

Đình Hơng( Đ T), phố Hàm Long 1( H R), phố Lê Hữu Lập( L S)… Đâycũng là tần số xuất hiện cao trong các loại địa danh của thành phố Điều nàycũng phản ánh một thực tế với các vùng miền thành phố hay thị xã là thành tốchung này xuất hiện trong phức thể địa danh là phổ biến

+ Phờng: “ Đơn vị hành chính ở nội thành, nội thị, tổ chức theo khu vực

dân c ở đờng phố, dới quận” [38, tr 793] Cũng theo GS Phan Thiều, Phờng

là khối dân c gồm những ngời làm cùng một nghề ( phờng nón, phờng vải … ) , nay là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị, d

Trang 39

- Nhóm thành tố chung trong địa danh c trú có từ thời phong kiến:

+ Thôn: Khu vực dân c ở nông thôn gồm nhiều xóm và là một phần của làng hoặc xã” [38, tr 951] Thôn tơng đơng với làng, đợc dùng trong tất cả các

văn bản hành chính.Có 46 lần “ thôn” xuất hiện với t cách là thành tố chung

Ví dụ: thôn Thành Mai ( Q Thành ), thôn Hạc Oa ( Đ.C ) Không có trờnghợp nào “ thôn” chuyển hoá sang tên riêng

+ Xóm: Khu dân c ở nông thôn, nhỏ hơn làng gồm nhiều nhà ở liền nhau” [38, tr 1155] Xóm có thể tơng ứng với làng, thôn; là đơn vị nhỏ cấp xã,

trực thuộc cấp xã Khác với thành tố chung làng, thành tố chung xóm lại đợc dùng nhiều trong các văn liệu hành chính Có 44 lợt xóm làm thành tố chung

Ví dụ: xóm Toàn ( N N), xóm Thành Công ( Đ T ), xóm Phú ( L S ) Không

có trờng hợp nào “ xóm ” chuyển hoá sang tên riêng

+ Làng: Khối dân c ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng về nhiều mặt và là đơn vị thấp nhất thời phong kiến” [38, tr 542] Không

chỉ ở Việt Nam mà các quốc gia khác trên thế giới đều có đơn vị hành chính

làng Nhng với ngời Việt, làng còn đọng lại trong tâm thức của ngời dân là

một cái gì đó thiêng liêng, gắn bó với phong tục, tập quán, tín ngỡng , văn hoá.Nói một cách khái quát, làng ngời Vịêt đã hàm chứa trong đó đặc trng văn hoácủa c dân nông nghiệp có truyền thống trồng lúa nớc và mang đậm tính chấtcộng đồng

Tơng ứng với khái niệm làng là thôn, kẻ, đôi khi còn tơng ứng với xóm,

đội Khảo sát địa danh ở thành phố Thanh Hoá, có 33 lợt làng ở vị trí thành

tố chung Ví dụ: làng Ngọc Mai ( Q Thành), làng Đông Sơn ( H R), làng

Quảng Xá ( Đ V ) Có 5 trờng hợp làng chuyển hoá sang tên riêng Ví dụ:

làng Đông Sơn đình làng Đông Sơn ( H R), làng Thọ Hạc hồ làng ThọHạc ( Đ T ), làng Thọ Hạc đền thờ làng Thọ Hạc ( Đ T), làng Nam Ngạn

đình làng Nam Ngạn(N N), làng Quảng hồ Làng Quảng(Đ V)

Nh vậy, làng là một khái niệm, tuy không hiện diện trong các văn bảnhành chính nhng lại rất quen thuộc, gần gũi thờng ngày trong đời sống của ng-

ời dân

- Nhóm thành tố chung các địa danh chỉ các công trình giao thông:

+ Đờng: Lối đi nhất định đợc tạo ra để nối liền hai địa điểm hai nơi”

[38, tr 357] Trong t liệu thu thập đợc có 174 lợt “ đờng ”ở vị trí thành tốchung Ví dụ: đờng Phan Bội Châu ( B Đ ), đờng Dã Tợng ( Đ B), đờng LêLai ( Đ S) Không có trờng hợp nào chuyển sang tên riêng hoặc bộ phận tên

+ Cầu: Công trình xây dựng trên các chớng ngại vật nh sông, hồ, chỗ trũng để tiện đi lại” [38, tr 126] Trong t liệu của chúng tôi có 14 lợt “ cầu”

Trang 40

xuất hiện với t cách là thành tố chung Ví dụ: cầu Bố ( Đ V ), cầu Sâng ( N N), cầu Lai Thành ( Đ Hải Có 1 trờng hợp thành tố chung chuyển hoá sangtên riêng : cầu Sâng sông Cầu Sâng ( N N )

- Nhóm thành tố chung địa danh chỉ các công trình xây dựng

+ Đền thờ: Đợc hiểu nh là nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật đợc

xem nh thần thánh Có 27 lợt thành tố chung “ đền thờ” xuất hiện Ví dụ: đềnthờ Nguyễn Tĩnh ( Đ Hơng ), đền thờ Trần Hng Đạo ( L S ), đền thờ SầmQuận công ( Q Thắng) Không có trờng hợp nào chuyển sang tên riêng

+ Chùa: “ Công trình đợc xây cất làm nơi thờ Phật ” [38, tr.180] Chùa

xuất hiện 21 lợt làm thành tố chung Ví dụ: chùa Đại Bi ( Đ V ), chùa Mật Đa( N N ), chùa Thanh Hà ( T T ) Không có trờng hợp nào chuyển hoá sang tênriêng

+ Nhà thờ họ: là nơi thờ phụng tổ tiên của cả dòng họ Có 19 lần thành

tố chung “ nhà thờ họ” xuất hiện, không có trờng hợp nào chuyển sang tênriêng Ví dụ: nhà thờ họ Nguyễn( Đ T), nhà thờ họ Phạm ( Q Thắng)…

+ Chợ: “ Nơi công cộng để đông ngời đến mua bán vào những ngày,

buổi nhất định” [38, tr 171] ở địa bàn nghiên cứu, có 16 lần “ chợ” xuất hiện

với t cách là thành tố chung Ví dụ: chợ Nam Thành ( Đ V ), chợ Phú Thọ ( P

S ), chợ Đình Hơng ( Đ T ) Không có trờng hợp nào chuyển sang tên riêng

+Đình: “ Nhà công cộng của làng thời trớc, dùng làm nơi thờ thành

hoàng làng và họp việc làng”[38, tr 324] Có 5 lần “đình”xuất hiện với t cách

là thành tố chung Ví dụ: đình làng Định Hoà(Đ C): thờ tớng công Lê Thành,

đình làng Vệ Yên( Q Thắng): thờ tớng quân Nguyễn Phục…

+ Nghè: Miếu thờ thần“ ”[38, tr 675] Có 3 lần “ nghè” xuất hiện làmthành tố chung Ví dụ: nghè Cố Hạ( Đ Hơng) thờ hai ông tổ nghề gốm ngờiBắc Hà là Vũ Đức Nông và Nguyễn Đình Diện; nghè Vạn Sơn( Đ Hải) thờ

Đức Long Vơng

Trên đây, chúng tôi chỉ miêu tả một vài thành tố chung tiêu biểu vàthành tố chung xuất hiện với tần số cao

2.1.4 Tên riêng ( Thành tố B )

2.1.4.1 Khái niệm tên riêng:

a Về tên riêng( địa danh).

Trong một phức thể địa danh, ngoài thành tố chung(thành tố A) chỉ raloại hình đối tợng thì còn một thành tố có chức năng khu biệt đối tợng này với

đối tợng khác Nó luôn luôn đi sau và hạn định cho thành tố chung Vậy nêncác nhà nghiên cứu gọi thành tố đó bằng thuật ngữ tên riêng hoặc địadanh(thành tố B)

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Số lợng âm tiết trong thành tố chung của phức thể địa danh thành phố Thanh Hoá. - Khảo sát các địa danh ở thành phố thanh hoá
Bảng 3 Số lợng âm tiết trong thành tố chung của phức thể địa danh thành phố Thanh Hoá (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w