1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các địa danh ở huyện thạch hà hà tĩnh

57 456 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Các Địa Danh Ở Huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh
Tác giả Nguyễn Trọng Bằng
Người hướng dẫn GS. TS. Nguyễn Nhã
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 401,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi địa danh hoặc một số lớp địa danh đều đợc rang đời trong một hoàncảnh lịch sử nhất định, do đó địa danh có chức năng phản ánh lịch sử của mỗidân tộc từ phịa phơng, địa bàn cụ thể Ngh

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh

Trang 2

Vinh - 2007

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngời và là

ph-ơng tiện biểu đạt t duy Địa danh là vốn từ vựng có mặt hầu khắp các ngônngữ Mỗi ngôn ngữ có một cách biểu đạt khác nhau (cả về phơng diện cấu tạolẫn ngữ nghĩa về vốn từ vựng này Sự khác nhau này còn đợc thể hiện ra ở cácphơng ngữ của một ngôn ngữ Hiểu biết một cách thoả đáng vồn từ này sẽ là tliệu quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ và văn hoá dân tộc Mặtkhác, việc nghiên cứu sâu vốn từ này (địa danh sẽ đặt nền móng quan trọngcho ngành địa phơng học và sẽ có đợc các cứ liệu cho việc khẳng định những

đặc trng ngôn ngữ vùng, đặc biệt cho việc nghiên cứu địa - văn hóa

Vì những lí do trên và bản thân là ngời bản ngữ chúng tôi lựa chọn đề tài

“ Khảo sát các địa danh tại huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh”

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc khảo sát đại danh ở một huyện trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh,luận văn hớng tới việc thu thập thống kê hệ thống địa danh đang sử dụng hoặccòn lu giữ, và trên cơ sở đó tìm ra quy luật cơ bản cũng nh những nét đặc thù

Trang 3

về cấu tạo, ý nghĩa nguồn gốc và sự biến đổi địa danh tên địa bàn Trong điềukiện có thể, luận văn cố gắng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa địa danh học vớingữ âm học, từ vựng học và với cả khoa học khác nh địa lý, lịch sử, khảo cổ,văn hóa.

3 Phơng pháp nghiên cứu

Lụân văn sử dụng phối hợp các phơng pháp nghiên cứu bằng điều tra

điền dã, miêu tả đồng đại, thống kê định lợng, so sánh đối chiếu, so sánh lịch sử, phân tích - tổng hợp Trong đó phơng pháp đợc sử dụng chủ yếu làphân tích - tổng hợp số liệu và t liệu để lý giải các vấn đề có liên quan, đa racác nhận định, đánh giá và kết luận theo các mục đích nghiên cứu đã đợc xác

-định

a T liệu điều tra tại huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh

b Các số liệu thống kê của một số cơ quan Nhà nớc nh Sở giao thôngvận tải, sở địa chính, Sở Văn hoá thông tin

c Gia phả, địa bạ, văn bia (đã đợc dịch ra Tiếng việt)

d Bản đồ, tranh, ảnh các loại khi cần thiết, chúng tôi có thể so sánh đốichiếu với các địa danh trên địa bàn Nghệ - Tĩnh

4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trớc đây đã có những luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ khảo cứu địa danh

ở những vùng khác nhau nh TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Trị, Nghệ

An, Hơng Sơn, Can Lộc và luận văn của chúng tôi khảo sát các địa danh tạihuyện Thạch hà, Hà Tĩnh Luận văn cố gắng tìm hiểu các địa danh ở huyệnThạch Hà cả về cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc, tình hình biến đổi T liệu có đợctrong luận văn sẽ giúp cho việc nghiên cứu đ danh của ngời việt nói chung vàphơng ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng Hơn thế, những t liệu này sẽ giúp giúp cho

việc xây dựng từ điển địa danh Nghệ - Tĩnh.

5 Từ góc độ địa danh học

Luận văn này sẽ góp phần tìm hiểu các mặt địa lý, lịch sử, văn hoá củakhu vực văn hoá Nghệ Tĩnh

Trang 4

6 Cấu trúc của luận văn

Theo những nhiệm vụ, mục đích đã đợc xác lập, ngoài phần mở đầu vàkết luận phục lục, luận văn đợc triển khai khai theo 3 chơng:

Chơng 1: Một số vấn đề về lýthuyết địa danh và địa danh Thạch Hà Chơng 2: Về cấu tạo của các địa danh ở Thạch Hà.

Chơng 3: Việc phân loại địa danh và ngữ nghĩa của các địa danh ở Thạch

Chơng 1: Một số vấn đề về lý thuyết địa

danh và địa danh Thạch Hà

1.1 Tiểu dẫn

Trang 5

Trọng vốn từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có những bộ phận riêngnhằm phản ánh, gọi tên, địa danh các sự vật, hiện tợng của thế giới kháchquan Trong đó có một khối lợng vốn từ là các địa danh Hệ thống vốn từ vựng

của một ngôn ngữ cụ thể Trong ngôn ngữ học, ngành địa danh học (toponymic) và nhân danh học (Athronymic) thuộc vào bộ môn có tên là danh

xng học (onomasiologic) Xét về lý thuyết, danh xng học còn có một ngành

khoa học nữa là vật danh học (nghiên cứu tên riêng của các thiên thể, nhãn

hiệu sản phẩm, biểu hiện )

Mỗi địa danh hoặc một số lớp địa danh đều đợc rang đời trong một hoàncảnh lịch sử nhất định, do đó địa danh có chức năng phản ánh lịch sử của mỗidân tộc từ phịa phơng, địa bàn cụ thể Nghệ Tĩnh một khu vực văn hoá từ khenớc lạnh đến đèo Ngang, dẫu có khi hợp khi phân do vậy, trong chơng này,chúng tôi sẽ trình bày sơ lợc về lý thuyết địa danh và những vấn đề lịch sử liênquan đến địa bàn nghiên cứu

1.2 Những vấn đề về lý thuyết địa danh

1.2.1 Việc nghiên cứu địa danh trên thế giới

Địa danh học là một ngành trong ngôn ngữ học, nghiên cứu cấu tạo ngữnghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của các địa danh Việc nghiên cứu địa danhxuất hiện từ rất lâu Rất nhiều sách lịch sử Trung Quốc không những khi chépcác địa danh mà còn chỉ ra cách đọc, ngữ nghĩa, diễn biến, quy luât gọi tên

Đầu thời Đông Hán 32 - 92 sau CN), ban bố đã ghi chép hơn 4000 địa danh

Đến thời Bắc Nguỵ (380 – 535), lịch đạo Nguyên viết thuỷ Kinh chú sở,

trong đó ghi chép 3 vạn địa danh

Cuối thế kỷ XIX, ở phơng Tây môn địa danh học chính thức ra đời năm

1872, J.J E ghi (Thuỵ Sỹ) viết địa danh học và vào năm 1903 J.W.Nagl (ngời

áo) cũng cho ra đời tác phẩm địa danh học Những năm 90 của thế kỷ XIX và

20 năm đầu thế kỷ XX các uỷ ban địa danh ở nhiều nớc đợc thành lập, ví nh

Uỷ ban địa danh nớc Anh (1919) Thời kỳ đầu các nhà địa danh học quan tâm

đến việc khảo cứu nguồn gốc địa danh Và bắt đầu từ thế kỷ XX J.Gillenon

(1854-1926) đã viết “Atlat ngôn ngữ Pháp ,” nghiên cứu địa danh theo hớngphát triển địa lý học

Trang 6

Hiện tại, địa danh học phổ thông nghiên cứu tổng hợp các nguyên lý cơbản về địa danh: sự xuất hiện, quy luật phát triển và quan hệ địa danh với lịch

sử, địa lý Địa danh học khu vực nghiên cứu hệ thống địa danh phản ánh điều kiện luịch sử đuịa lý trong một khu vực, địa danh, địa chí học nghiên cứu

từng địa danh về cách đọc, cách viết, cách dịch, tiêu chuẩn hóa có mục đíchthực tiến hơn thế, địa danh học còn sử dụng phơng pháp phân tích bản đồ đểnghiên cứu sự phân bố của các địa danh Nhìn chung phải kể đến công lao củacác nhà nghiên cứu địa danh tại Liên Xô cũ ví nh “Từ điển địa danh bỏ túi”(M.1968) của Via.Nhikônv, “Môn địa lý trong các tên gọi” (M.1979( củaE.M.Muzaev, “Địa danh Matxcơva” (1982) của G.P.Xmolixkậ vàM.V.Gorbanhexki, “Địa danh học là gì của A.V.Xuperanxkaja

1.2.2 Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Trên thực tế, ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh cũng đã có từ lâu,

nhng chỉ mới đề cập đến từ góc độ địa lý lịch sử, địa chí nhằm tìm hiểu đất n

-ớc, con ngời và cũng đã có công trình tiếp cận địa danh kiểu khoa học liên

ngành GS Hồng Thị Châu công bố bài “Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở

Đông Nam á qua một và tên sôn ” phải đợc coi nh dấu mốc đầu tiên nghiêncứu địa danh dới góc độ ngôn ngữ học Tiếp đó là các luận án tiến sỹ của một

số tác giả Nếu xếp theo thời gian có thể kể: Lê Trung Hoa “Địa danh ở thành

phố Hồ Chí Minh” (1991), Nguyễn Kiên Trờng “Những đặc điểm chính của

địa danh Hải Phòng (trong vài nét đối sánh với địa danh Việt Nam) (1996),

Từ Thu Mai “Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004), Trần Văn Dũng “Những

đặc điểm chính của các địa danh ở Đắc Lăk ” (2006), Phan Xuân Đạm “Khảosát các địa danh ở Nghệ An” (2005) Ngoài ra các tác giả Nguyễn Văn ÂU,Trần Thanh Tâm và Huỳnh Đình Kết, Đinh Xuân Vịnh, Bùi Thiết đã lần lợtcho ra đời các cuốn từ điển địa danh một số địa phơng và sổ tay địa danh, địadanh lịch sử văn hóa

1.2.3 Việc nghiên cứu địa danh ở Nghệ Tĩnh

Hà Tĩnh và Nghệ An gắn bó máu thịt với nhau theo chiều dài lịch sử dovậy những công trình nghiên cứu trớc đây của các tác giả nh Phan Huy Chú,Bùi Dơng Lịch, Nguyễn Văn Liêu cũng đã nhắc đến và lý giải một số địa

Trang 7

danh thuộc cả Hà Tĩnh lẫn Nghệ An Gần đây cả Hà Tĩnh lẫn Nghệ An xúâthiện một số sách địa chí của các huyện có liên quan đến địa danh Thời gianvừa qua, một số luận văn thạc sỹ cũng nghiên cứu địa danh một số huyện ởNghệ An, luạn án tiến sỹ của Pham Xuân Đmạ nghiên cứu địa danh (cáchuyện ven biển và đồng bằng Huyện Thạch Hà - Hà Tĩnh cha có công trìnhnghiên cứu nào.

1.2.4 Về địa danh và địa danh học

Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Huy Lạp: “Topos” (vị trí) vàomoma/onyma” (tên, gọi) Những tên gọi địa lý đợc đánh dấu, ghi nhận bằng

các địa danh, ngời nghiên cứu tên gọi đó là các nhà địa danh học.Địa danh rõ

ràng là một ngành nghiên cứu, một bộ phận rất quan trọng trong ngôn ngữ họcnày xem xét, nghiên cứu tên riêng của các đối tợng địa lý, lịch sử hình thànhcấu tạo, ngữ nghiã của chúng Việc định nghĩa thuật ngữ điạ danh hiện đangrất phức tạp Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển địa danh là tên gọi cácmiền đất” Từ điển tiếng việt (Hoàng Phê chủ biên) cũng giải thích rất đơn

giản: “Tên đất, tên địa phơng” Các tác giả Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Kiên

Trờng, Lê Trung Hoa, Phan Xuân Đạm cũng đã đề xuất cách hiểu riêng của

mình Ví nh Nguyễn Văn Ân xác định: “ Địa danh học (toponymic) là một

môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên địa lý các địa phơng” Nguyễn Kiên

Trờng cho rằng “Địa danh là tên riêng chỉ các đối tợng địa lý tự nhiên và

nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất (” trang 16) hoặc Lê Trung

Hoa “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, đợc dùng làm tên riêng của địa

hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chánh, các vùng lãnh thổ trớc địa danh ta có thể đặt một danh từ chung chỉ tiểu loại địa danh

đó: Sông Sài Gòn, đờng Ba Tô, ấp Bàu Trăn, sông Bà Quẹo ” (trang 21)

Muộn hơn Phan Xuân Đạm xác định: “Địa danh là lớp từ ngữ đặc biệt đợc

định ra để đánh dấu vị trí xác lập tên gọi các đối tợng địa lý tự nhiên và nhân văn Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học nghiên cứu hệ thống địa danh về các mặt, nguồn gốc, cấu trúc, ý nghĩa, sự chuyển hoá, biến đổi, các phơng thức định danh ” (tr.12) Có lẽ bằng chừng đó định nghĩa có thể giúpchúng ta hiểu thêm thuật ngữ địa danh, và do đó chúng tôi cũng không dám đa

Trang 8

ra định nghĩa riêng cho mình Chúng tôi lấy đó làm cơ sở trong quá trình khoảsát xử lí t liệu của mình.

1.2.5 Những nét khu biệt của của thuật ngữ địa danh

Nh đã nêu, thuật ngữ địa danh hàm chứa trong đó những nét nghĩa khácnhau Tại đây chúng tôi muốn làm rõ nội dung này

1.2.5.1 Địa danh là các từ và đơn vị tơng đơng với từ

Chức năng cơ bản của từ là chức năng định danh (gọi tên) Địa danh trênthực tế cũng là điạ danh, gọi tên, phân biệt các sự vật, hiện tợng với nhau Ví

dụ: Hồ Hoàn Kiếm, cầu Long Biên, Chùa Một cột, ga Hàng Cỏ, đề An Dơng

Vơng, rú Quyết, bãi Vọt, Ngã ba Đồng Lộc, thị trấn Nghèn, Thành phố Vinh

Địa danh đánh dấu đúng bằng các từ, địa danh là từ rõ ràng địa danh gần gũivới tên ngời, tên động vật

1.2.5.1 Địa danh có chức năng xã hội.

Địa danh nói riêng cũng nh tên riêng nói chung mang chức năng xã hội.Mỗi tên riêng nhất định đều gắn liền với cộng động, xã hội Trong mỗi chúng

ta, ai cũng có những kỷ niệm vui buồn khác nhau gắn bó với địa danh, nơichốn nào đó Địa danh cũng nh lớp từ vựng khác đều là sản phẩm của xã hội

GS Hoàng Tuệ đã nhận xét rất hay rằng : “Với chức năng xã hội của nó, tênriêng không phải là một con số, một cái nhãn chỉ có tác dụng đủ để phân biệt,

mà là một biểu trng Ngay cả trong từ trờng hợp là cái nhãn thật, nh nhãn rợu,nhãn thuốc lá, nhãn máy thu hình thì khi sản phẩm đã có tên trên thị trờng

nó cũng có một giá trị biểu trng, giá trị mà ngời ta phải phấn đấu để xây dựng

và bảo vệ” (tr.234) Cũng giống nh tên ngời, cha biết tên nhau là xa lạ, nhngkhi biết tên nhau rồi thì giữa họ có mối quan hệ xã hội nhất định

1.2.5.2 Địa danh phản ánh đặc điểm văn hoá của cộng đồng

Địa danh và lớp địa danh phản ánh đặc điểm văn hoá từng cộng đồng,khu vực Mỗi đại danh ẩn chứa trong đó giá trị văn hoá Ví dụ: Chùa một cột,

hồ Gơm, hoặc nh ở Hà Tĩnh có đền Củi là đền thờ vọng ông Hoàng Mời

hiểu đợc giá trị ngữ nghĩa của các địa danh của từng địa danh, chúng ta thu

Trang 9

nhận đợc nhiều thông tin, giá trị văn hoá Về vấn đề này chúng tôi xin dẫn lại

đoạn trích dẫn của Phan Xuân Đạm trong luận án của mình: “Địa danh nh đài

Kỷ niệm ngôn ngữ học độc đáo và bảo giã những thông tin về văn hoá (từ đợc

sử dụng với t cách là cơ sở tên gọi, căn cứu của cách gọi tên, mối quan hệ củatên gọi với giá trị lịch sử - văn hoá của đối tợng Tất cả điều đó đợc “gói lại”trên cơ sở các danh từ riêng và khả năng cấu tạo của chúng ở nhiều địa danhcũng giống nh các tợng đài kiến trúc bất hủ, mặt vật chất, đặc thù của mình, làvật chất ngôn ngữ để từ đó xây dựng nên tên gọi Khái niệm không gian, danh

từ riêng đợc thay đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và từ dân tộc này

đến dân tộc kia” (tr.16)

1.3 Hà Tĩnh, Nghệ An, Nghệ - Tĩnh hay xứ Nghệ vàmột đặc đặc điểm về lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ

1.3.1 Diên cách Hà Tĩnh, Nghệ An, Nghệ Tĩnh

Xét theo chiều dài lịch sử địa danh Hà Tĩnh, Nghệ Anh, Nghệ Tĩnh hay

xứ Nghệ đã trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, nhiều cách gọi lúc phân lúchợp: Có khi là một huyện, một quận, một châu, một trấn, một thừa tuyên, mộttỉnh, có khi hai hộ, hai trại, hai phủ, hai châu, hai tỉnh Nhng vẫn gắn kếtlàm mợt bằng là Hoan Diễn ngày xa và Nghệ Tĩnh hay xứ Nghệ Ngày nay Sựgắn bó thành một chỉnh thể về mật địa lý, hành chính cũng phản ánh từ bêntrong sự thống nhất về ngôn ngữ, văn hoá, phong tục, tính cách con ngời.Ngay trong Đại nam nhất thống chí đã xác định rõ địa giới: “Đông tây cáchnhau 384 dặm, nam bắc cách nhau 356 dặm, phía đông đến biển 21 dặm, phíatây đến địa giới nớc Nam chởng 363 dặm, phía nam đến Hoành Sơn địa giớihuyện Bình Chánh, tỉnh Quảng Bình 219 dặm, phía bắc đến khe nớc lạnh giáp

địa gới huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá 137 dặm, phía đông nam đến cửa

C-ơng Gián 43 dặm, phía Tây nam đến địa giới nớc Ai Lao 515 dặm, phía đôngbắc đến của hội 27 dặm, phía tây bắc đến đại giới Châu Lang chính tỉnhThanh Hoá 362 dặm Từ tỉnh lỵ đi về phía nam đến kinh 608 dặm linh

Theo thiên văn thuộc khu vự sao Dực, sao chuẩn về tinh tứ sao Thuần Vĩtheo sự quy trắc năm Minh Mệnh thứ 18 thì mức cao nhất là 18 độ 20 phân 30giây, lệch về phía Tây 1 độ 42 phân” (tr.117)

Trang 10

Hà Tĩnh, Nghệ An, Nghệ - Tĩnh hay xứ Nghệ là Việt Thờng thời cổ Mờitám đời vua Hùng Vơng dựng nớc còn để lại trên đất này nhiều di tích truyềnthuyết Thời Thục An Dơng Vơng, nớc Âu Lạc kéo dài về phía Nam đến dãyHoành Sơn (đèo ngang) Vào năm 179 trớc CN, Triệu Đà chiếm Âu Lạc vàchia thành hai quận: Cửu Chân và Giao Chỉ, Giao chỉ bao gồm các tỉnh phíaBắc ngày nay và Cửu trân bao gồm vùng đất Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh Năm 111trớc Công nguyên Hán Vũ Đế đánh chiếm Nam Việt và chi Nam Việt là chínquận, trong đó ba quận Giao Chỉ, Cửu Trân, Nhật Nam thuộc nớc ta Giao chỉ

có 10 huyện, Cửu Trân có 7 huyện và Nhật Nám có 5 huyện Trong 7 huyệncủa Cửu Trân thì Hàm Hoan là huyện lớn nhất tơng đơng với vùng Nghệ –Tĩnh ngày nay Cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ III nhân triều đình Đông Hántan rã, nhà Ngô đã tách hợp phố, Giao chỉ Cửu Trân và NHật Nam lập thànhGiao Châu (đề ra từ năm 226 và thực hiện năm 264) Năm 271 nhà Ngô táchhẳn bộ phận phía Nam quận Cửu Trân, ngang với Hàm Hoan cũ đặt thànhquận Cửu Đức Quận cửu đức bao gồm hầu khắp đất đai Nghệ Tĩnh Ngày nay.Năm 2890 nhà Tấn diệt nhà Ngô, nới rộng quận Cửu Đức, đổi huyện DơngThanh làm Dơng Toại cắt một phần đất đai huyện Dơng Toại, lập thành huyệnPhố Dơng, đặt thêm huyện Nam Lăng và Đô Giao twong đơng với vùng NghiXuân, Hơng Sơn, Hơng Khê và Thạch Hà ngày nay Năm 542 khởi nghĩa Lý

Bí thành công, nớc vạn Xuân ra đời Sau đó nớc ta lại bị nhà Tuỳ Xâm chiếm

Đến năm 607, tuỳ Dỡng đế bỏ các châu cũ và đạt lại các châu quận mới GiaoChâu chia làm 7 quận, trong đó quận Nhật Nam gồm 8 huyện thì Cửu Đức t-

ơng đơng với Nghệ An Kim Ninh (hay Kim An) Guiao Cốc, Nam Lăng, phúclộc tơng đơng với Hà Tĩnh Năm 679, Nhà Đờng đặt An Nam đô hộ phủ gồm

12 châu, 59 huyện, 41 châu Cơ Ni Vùng Nghệ An lúc đó gồm 2 châu: DiễnChuâu và Hoan Châu Diễn Châu tơng đơng với các huyện phía bắc: DiễnChâu, Yên Thành, Quỳnh Lu và vùng núi tây bắc, Hoan Châu gồm 4 huyệnCửu Đức, Phố Dơng, Hoài Hoan, Việt Thờng, tơng đơng với cùng phía namNghệ An và bắc hà Tĩnh Phía Ba và đông Hà Tĩnh cũ là châu Phúc Lộc gồm 3huyện: Nhu Viễn, Đờng Lâm và Phúc Lộc Năm 939 Ngô Quyền đại thắngQuân Nam Hán trên Sông Bạch Đằng đã mở ra kỷ nguyên xây dựng nền độclập của nớc nhà Thời gian Tiền Lê (980 – 1009), Lê Hoàn chia nớc ta thành

Trang 11

Lộ, phủ Châu, Nghệ An lúc bấy giờ là Hoan Châu và Diễn châu Để Tăng ờng ổn định phía nam và chuẩn bị chống sự xâm lợc của nhà Tống, Lê Hoàncặt một phần đất phía nam của Châu Hoan lập ra châu Thạch Hà Đến đời Lýcác khu vực hành chính đợc củng cố xuống tận cơ sở Lý Thái Tổ chia nớc rathành lộ, phủ huyện và cuối cùng là hơng Giáp Nghệ An, Thanh Hoá đợc gọi

c-là “trại” Vào năm 1010 nhà Lý chia nớc ta thành 24 lộ Diễn Châu và HoanChâu là hai lộ Năm 1025, Lý Thái Tổ lập trại Định Phiên ở biên giới Châuhoan (Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh) Châu Thạch Hà đợc đổi sang huyệnvào năm Thông Thuỵ thứ ba (1036), Lý Thái Tông đổi Hoan Châu thành châuNghệ An Địa danh Nghệ An ra đời từ đó

Năm 1101, Lý Nhân Tông nâng châu Nghệ An thành phủ Nghệ An Năm

1225, nhà Lý mất, Nhà Trần thay Năm 1231 trại Định Phiên đổi thành câuNhật nam Đầu nửa sau thế kỷ XIV, nhà Trần đổi Nghệ An làm trấn Đến năm

1375, trấn Nghệ An chia làm ba lộ: Nghệ An Bắc, Nghệ An Trung và Nghệ

An Nam Vào năm 1397 Hồ Quý Ly đổi phủ Diễn Châu thành phủ LinhNguyên Tháng 4 năm 1407 nhà Minh Hạ chiếu đổi nớc ta làm quận giao chỉ

đợc chia thành 15 phủ và Nghệ An có hai phủ: Diễn Châu và Nghệ An Năm

1417, quân Minh cho Châu Quỳ trong phủ Diễn Châu sát nhập vào phủ ThanhHoa, Phủ Diễn Châu chỉ còn hai huyện Phù Lu và Quỳnh Lâm (Diễn Châu,Quỳnh Lu và Yên Thành) Đến năm 1428, Lê Lợi chi cả nớc ta làm năm đạo:Nam Đạo, Bắc Đạo, Đông đạo, Tây Đạo và Đạo Hải Tây Diễn Châu và Nghệ

An thuộc đạo Hải Tâ Năm 1469 Lê Thánh Tông định lại bản đồ châu hoan(Nam Nghệ An và Hà Tĩnh) và Châu Diễn hợp làm thừa tuyên Nghệ An gồm

9 phủ, 25 huyện, 2 châu Đến thời Gia Long, miền Trung nới đặt Kinh Đô cảunhà Nguyễn vừa có Trấn vừa có doanh, do triều đình trực tiếp cai trị và kiểmsoát thời Minh mệnh tổ chức thành lần lợt bị bãi bỏ, cả nớc chia 29 tỉnh trựcthuộc triều đình Dới tỉnh là các phủ, huyện châu, tổng xã Đầu thời Nguyễncác đơn vị hành chính trên đất Nghệ An vẫn giữ nguyên nh cũ Năm MinhMệnh thứ 12(1831), nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ (trớc 1822 là phủ ĐứcQuang) và Hà Hoa của Nghệ An lập thành tỉnh mới là Hà Tĩnh Địa danh HàTĩnh ra đời từ đó Hơn 20 năm sau (1852), Trị Đức lại bỏ tỉnh Hà Tĩnh đemphủ Đức Thọ nhập vào Nghệ An và lấy phủ Hoa làm thành đạo Hà Tĩnh gồm

Trang 12

3 huyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Năm 1875, Trị Đức lại bỏ đạo hàTĩnh, lập lại tỉnh Hà Tĩnh Từ 12/1831 sau 800 năm gắn kết trong một đạidanh, Nghệ An hoặc xứ nghệ giải đất Lam Hồng lại tách thành hai tỉnh, manghai địa danh Nghệ An và Hà Tĩnh.

Thời kỳ thuộc Pháp thực dân đặt miền Tây Trờng Sơn để chia tách haidân tộc Việt Lào về cả địa giới lẫn dân c để thành lập xứ Ai Lao trong cõi

đông Pháp Thời Duy Tân, Pháp bỏ cấp phủ đặt mỗi phủ chỉ là đơn vị hànhchính ngang huyện hoặc lớn hơn một ích Nghệ An lúc đó có 11 phủ huyện:Phủ Hng Nguyên, phủ Diễn Châu, phủ Anh Sơn, huyện Nam Đàn huyệnThanh Chơng, huyện Nghi Lộc, huyện Yên Thành, huyện Nghĩa Đàn ở Trung

du và miền xuôi, các phủ Tơng Dơng và Quỳ Châu ở miền núi và thành phốVinh Bến Thuỷ Hà Tĩnh lúc đó có 8 huyện phủ: Phủ Đức Thọ, phủ Thạch Hà,huyện Hơng Sơn, Huyện Hơng Khê, huyện Can Lộc, huyện Kỳ Anh, HuyệnCẩm Xuyên, huyện Nghi Xuân và thị xã Hà Tĩnh

Đến năm Gia Long thứ 3 (1804) nhà Nguyễn chuyển tỉnh lỵ về Vinh

Tr-ớc đó phần lớn thời gian lịch sử Nghệ An đóng ở Lam Thành Hng Nguyên, cólúc ở Nhạn Tháp (Hồng Long, Nam Đnà có lúc ở gần Đô Lơng (Đà Sơn, BạchNgọc hiện nay)

Cách mạng tháng 8 thành công, các phủ đều đổi làm huyện Hai địa danhNghệ An và Hà Tĩnh vẫn đợc dùng để chỉ hai đơn vị hành chính cấp tỉnh Đếntháng 12 năm 1978, hai tỉnh sát nhập lấy tên Nghệ Tĩnh Tháng 8 năm 1991lại tách thành hai tỉnh và lấy hai địa danh phủ trớc đây: Nghệ An, Hà Tĩnh

1.3.2 Một vài đặc điểm ngôn ngữ ở Nghệ Tĩnh

Xét trên tổng thể, phơng ngữ Nghệ Tĩnh có những nét chung cho cảvùng Nhìn chung là thế, còn đi vào cụ thể từng vùng, từng thổ ngữ thì bứctranh lại hiện ra đa dạng hơn rất nhiều Liên quan trực tiếpđến đề tài mà cụ thể

là các địa danh, do vậy, xuống dới chúng tôi trình bày những nét ứơ lợc nhất

về ngữ âm, từ vựng trong phơng ngữ Nghệ - Tĩnh

1.3.2.1 Khi xem xét đặc trng ngữ âm của tiếng việt nói chung và các

phơng ngữ nói riêng các nhà nghiên cứu quan tâm đến đơn vị âm tiết - đơn vị

Trang 13

ngữ âm quan trọng trong các ngôn ngữ đơn lập Đơn vị này có cấu trúc haibậc Bậc một bao gồm: thanh điệu, phụ âm đầu và phần vần và bậc hai baogồm âm điệu, âm chính và âm cuối Mỗi thành phần trong cấu trúc âm tiếttiếng Việt giữ cơng vị, chức năng hoàn toàn khác nhau, không ngang nhauthanh điệu là âm vị siêu đoạn trùm lên cả âm tiết, âm đầu có chức năng mở

đầu âm tiết: mở đầu khác nhau là âm tiết khác nhau, âm điều là nguyên âmtròn môi có chức năng làm trầm hoá âm tiết sau lúc mở đầu, âm chính lànguyên âm hạt nhân, nguyên âm tạo đỉnh âm tiết, âm cuối có chức năng đóngkhép âm tiết và căn cứ vào đặc trng kết thúc âm tiết để phân loạ:: âm tiết mở,

âm tiết nửa mở, âm tiết khép và âm tiết nửa khép Chúng tôi lần lợt sơ giảntrình bày: thanh điệu phụ âm đầu và phần vần trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh.Thanh điệu phơng ngữ Bắc có 6 thanh Phơng ngữ Nghệ Tĩnh đợc nhiềungời cho rằng nhiều ngời cho rằng có 5 thanh (thanh ngã nhập với thanhnặng) Lại có ngời cho rằng chỉ có 3 thanh (thanh ngã nhậơ với thanh nặng),lại có ngời cho rằng chỉ có 3 thanh (thanh ngà, thanh hỏi và thanh sắc nhập vớithanh nặng) Đi vào cụ thể, thanh điệu trong phơng ngữ Nghệ - Tĩnh rất phứctạp, đặc biệt là ở các thổ ngữ Ví nh một số xã thuộc huyện Nghi Lộc, NghiXuân và 3 xã thuộc Đức Thọ, Hà Tĩnh (Đức An, Đức Lập, Đức Dũng) mấtthanh hỏi và thanh hỏi nhập với thanh sắc, kiểu nh: đỏ - đó, lửa - lứa, phụ âm

đầu có chức năng mở đầu âm tiết, số lợng âm vị có mặt ở vị trí này là lớn nhất,phơng ngữ Bắc vắng mặt 3 phụ âm quặt lỡi tr, s, r lúc đó phơng ngữ NghệTĩnh có mặt đầy đủ 3 phụ âm này nh phơng ngữ Nam Hơn thế, theo một sốtài liệu, tại hà Tĩnh đang tồn tại hai tổ hợp phụ âm /tl/ và /dz/ Tổ hợp phụ âm /tl/ tồn tại tại Đức An, Đức Lập, Đức Dũng thuộc Huyện Đức Thọ Hà Tĩnh và

tổ hợp /dz/ tồn tại xã Xuân Song, huyện Nghi Xuân và một số xã thuộc huyệnCan Lộc – Hà Tĩnh

Phần vần bao chứa trong đó âm đệm, âm chính và âm cuối phần vầntrong phơng ngữ Nghệ Tĩnh biến đổi và có sự đối xứng ngữ âm với ngôn ngữvăn hoá rất phức tạp Có thể nêu ra một số đối xứng tiêu biểu giữa phơng ngữNghệ Tĩnh và tiếng Việt văn hóa kiểu nh:

- ang-ơng : đàng - đờng, náng-nớng,

Trang 14

- ui-ôi: thúi thối, túi-tối

- a-a:lả-lửa, ngá-ngứa

- ot-uôt: rọt-ruột, nót-nuốt

- oi-uôi: mói-muối, mọi-nguỗi

- ia-ê: vìa-về, ghia-ghê

- u-âu: tru-trâu, su-sâu

- it-t: đít-đứt, sít-sứt

- a-ơ: vựa-vợ, vừa-vờ

Hơn thế tại hà Tĩnh tồn tại 4 nguyên âm đơn dài | o:, : , e:, : |

địa phơng đợc coi là “cổ” điều này đã đợc phản ánh trong Từ điển tiếng địa

phơng Nghệ Tĩnh” (do Nguyễn Nhã Bản chủ biên) Đây là những từ nh: pheo,

(tre), cộ (xe), không có bánh dùng cho trâu bò kéo), trốc (đầu), lịp (nón), mấn(váy), tơi (áo ma), xán (ném), vú (ốm), sọi (đẹp), Tất cả vốn từ này đợcphản ánh trong tác phẩm vừa nêu

Chung quy lại, những đặc điểm ngữ âm đã đợc TS Nguyễn Văn Nguyênmột tả trong luận án của mình và đặc từ vựng cũng và đặc điểm từ vựng cũng

đã đợc TS Hoàng Trọng Canh phản ánh trong luận án

1.3.3 Một vài địa danh đáng lu ý ở Hà Tĩnh

Trang 15

Hệ thống địa danh ở Nghệ An đã đợc Phan Xuân Đạm mô tả trong luận

án của mình ở phần này chúng tôi muốn đa ra một số địa danh có tính chấttiêu biểu tạo tỉnh Hà Tĩnh sông Lam, núi Hồng đã ăn sâu vào tâm thức mọingời và đã trở thành biểu tợng đẹp đẽ về con ngời, mảnh đất Nghệ Tĩnh, bãiphân phối ở xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân nằm cạnh ngọn nguồn của rào

Mỹ Dơng, dới chân dãy Hồng Lĩnh là nơi mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấynhững dụng cụ bằng đá đợc ghè đẽo với cả những nồi đáy nhọn có hoa văn hai

mặt Núi Thiên Cầm ở Cẩm Xuyên đợc giải thích là núi Đàn Trời do vua Hùng

đặt cho khi tuần du qua đây là nơi cha con Hồ Quý Ly ẩn náu trớc khi rơi vào

tay giặc Núi Nam Giới Núi Nam Giới ở Thạch Hà với di tích Quỳnh Viên có liên quan đến Chử Đồng Tử, Chùa Hơng ở trên núi Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh là có trớc chùa Hơng, Hà Tây Làng Lai Khê, Hằng Nga, Ngũ Khê và Tùng Chinh ở

huyện Thể Hoàng, Hơng Khê có gắn với sự tích: Vào những năm cuối đờiTrần, bà Trần Thị Ngọc Hào (vợ vua Trần Duệ Tông), sau khi chồng chết đãcùng con gái là công chúa Huy Chân và 572 tuỳ tùng tìm về quê và cùng nhân

dân địa phơng khác phá núi rừng, lập nên nhiều làng xóm mới Thành Lục

Miên trên núi Thiên Nhẫn là đại bản doanh của Nghĩa quân Lam Sơn, vào

khoảng 1424 – 1426, Đông chủ là một trong 999 ngọn núi của Thiên Nhẫn

và ở đấy Lê Lợi xây dựng một thành đá Xung quanh thành sáu phía có sáu

thành đất nhỏ, với đờng hào ngoằn ngèo theo thế trận Lục Hoa“ ” ngày trớc

Suối Bộc Bố chạy dài từ núi cao xuống vực, nghĩa quân Lam Sơn đã sử dụng

ngọn suối này để sinh sống, chiến đấu Núi Cao Vọng huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh là nơi Hồ Hán Thơng sa lới quân thù Gần núi Tợng (hình núi nh vòi con

voi ở xã Tơng Tự phía bắc Kỳ Anh) là nơi nhà Lê lập trờng dạy voi chiến

Trong khu vực Hoành Sơn tiền tiêu trên núi Lạc Di có chứa củi đốt lửa báo hiệu khi có biến động Núi này vì lẽ đó còn có tên là núi Hoả Hiệu Phía đoè

ngang có thành cũ làng ấp xây bằng đá với nhiếu pháo đài kiên cố ở Hà Tĩnhcũng nh Nghệ An có rất nhiều đền, chùa, di tích, nhà thờ gắn với lịch sử, vănhoá địa phơng Ví nh Chùa Hơng Tích nh đã nói, Chùa Chân

Tiên, chùa Thiên Tợng, chùa Am (chùa Diên Quang Tự), chùa Tĩnh Lâm(Nghĩa Sơn Tự), chùa Tợng Sơn, chùa Yên Lạc…; đền Cả, đền Chiêu Trung,

đền Thái Yên … là những t liệu liên quan đến bảo tàng văn hoá vùng Gần thị

Trang 16

xã Hồng Lĩnh, phía tây dãy núi Ngàn Hống có đền Đô Đài Bùi Cầm Hồ dới

chân núi Bạch Ty Lễ hội Đô Đài là lễ hội lớn ở xứ Nghệ để nhớ ngời học giỏi

có công với nớc Tháng giêng Đô Đài tháng hai Hơng Tích ” Đô Đài Bùi Cầm

Hồ quê tại xã Đậu Viên thị xã Hồng Lĩnh Thời gian học tập ở Thăng Long,nhân đứng ra làm minh chứng cho vụ án “canh lơn” đợc công nhận cho là ngời

có tài trong tuy cha thi cử và triều đình đặc cách trọng dụng ông Ông đã từnggiữ chức vụ ngự sử, An vũ xứ Lạng Sơn, hai lần đi sứ Trung Quốc đợc thăngtham trị chính sự, thờ bà Triệu thời Le sơ Khi về nghỉ ở quê, ông cho ngănkhe núi dẫn nớc từ trên núi xuống đồng ruộng của làng để tới tiêu cho hàng

trăm mẫu ruộng vốn bị hạn hán Ngã Ba Đồng Lộc, một biểu tợng cao 19,5m

có phù điêu ba mặt ghi hình vành tay lái ô tô giữa bông lúa và vòng hoa chiếnthắng, khẩu súng trờng và chiếc cuốc chim trong cảnh đất trời Đồng Lộc Têntuổi 10 cô gái đã vĩnh viễn đi vào lịch sử và trở nên một biểu tợng rực rỡ Cáccô tuổi đời chỉ từ 18 đến 20, hy sinh vào lúc 16 giờ, ngày 24.7.1968: Võ ThịTần, Võ Thị Hà, Võ Thị Hợi, Trần Thị Hờng, Trần Thị Rạng, Nguyễn ThịXuân, Dơng Thị Luân, Hà Thị Xanh

1.3.4 Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc miền Trung Việt Nam, có toạ độ từ

17057’00” đến 180106030’40” độ Kinh Đông, Diện tích tự nhiên 6.055,74km2, dân số 1 270 162 ngời (năm 2001) Phía Bắc giáp Nghệ An, phíaNam giáp Quảng Bình, phía Tây giáp Lào Có 1 thành phố 1 thị xã (HồngLĩnh) và 9 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hơng Sơn, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, KỳAnh (4 huyện và 1 thị xã miền núi) ở phía đông dãy Trờng Sơn, địa hình HàTĩnh hẹp và dốc Địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, phân hoá và

bị chia cắt mạnh Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Hà Tĩnh có hai mùa rõrệt: Mùa ma và mùa khô Sông ngòi Hà Tĩnh nhiều nhng ngắn Dài nhát làsông Ngăn Sâu 131km Hệ thống sông Ngăn Sâu có lu vực rộng 2 065km2 Hệthống của sông cửa và cửa biển có: cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhợng Biển có khảnăng phát triển các bãi nghỉ dỡng có giá trị kinh tế: Thiên Cầm, Xuân Thành,Thạch Hà, Đèo Con … Xét về địa lý, huyện Thạch Hà: phía bắc giáp huyệnCan Lộc, phía nam giáp huyện Cẩm Xuyên, Hơng Khê, phía đông giáp Biển

Đông Thạch Hà cách Hà Nội 340km Địa hình đồng bằng duyên hải, sôngNghèn, Đào Cái chảy qua và đổ ra cửa Sót, Hồ Kẻ Gỗ Có 31 đơn vị hành

Trang 17

chính trực thuộc: Thạch Liên, Thạch Kênh, Thạch Long, Thạch Sơn, Phù Việt,Việt Xuyên, Thạch Tiến, Thạch Thanh, Thạch Ngọc, Thạch Lu, Thạch Vĩnh,Thạch Đài, Thạch Hơng, Thạch Tân, Thạch Lâm, Thạch Xuân, Nam Hơng,Thạch Điền, Ngọc Sơn, Bắc Sơn, Tợng Sơn, Thạch Thắng, Thạch Văn, ThạchHội, Thạch Trị, Thạch Lạc, Thạch Khê, Thạch Đỉnh, Thạch Hải, Thạch Bàn vàthị trấn Thạch Hà.

Thời Hậu Lê đến đầu nhà Nguyễn huyện Thạch Hà thuộc phủ Hà Tĩnh

xứ Nghệ An Năm 1831, vùng phía nam sông Lam của trấn Nghệ An tách rathanh lập tỉnh Hà Tĩnh và Hà Tĩnh trở thành tỉnh lẻ, 1976 huyện Thạch Hàthuộc tỉnh Nghệ Tĩnh Năm 1991, huyện Thạch Hà thuộc Hà Tĩnh Năm 2007,một số xã phía Đông Bắc huyện tách ra cùng với một số xã phía Bắc của CanLộc cắt ra lập nên huyện Lộc Hà

Làng Hà Hoàng, tổng Thợng Thấp, huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, trấnNghệ An, tỉnh Hà Tĩnh là quên hơng của dòng họ Vũ Tá nổi tiếng đời Hậu Lêvới các tên tuổi Võ Tá Sát, Võ Tá Lý, Võ Tá đao … Hội làng Long Đan, xãLong Thạch đợc tổ chức vào đầu xuân Hội Kỳ Phúc Lục Ngoạn ở các xãThạch Lạc, Thạch Trị vào ngày 14 và 15 tháng 7, hội đền Lê Khôi, xã ThạchKimtổ chức từ 13 đến 16 tháng giêng, hội đên Nen xã Thạch Tiến Theo BùiThiết: “Một trong 11 huyện, thị xã Hà Tĩnh Diện tích 440.86km2 Dân số199.754 ngời (huyện có dân số đông nhất tỉnh), mật độ 452 ngời trên km2 Làhuyện trung tâm và đặc biệt là thị xã Hà Tĩnh nằm trong lòng Thạch Hà Bắcgiáp Can Lộc, đông giáp biển, nam giáp huyện Cẩm Xuyên, tây giáp huyện H-

ơng Khê Toạ độ từ 105052’ đến 106002’ Kinh đông và từ 18022’ vĩ bắc, cáchthị xã Hà Tĩnh 5km về phía tây bắc Từ sau năm 1945 vẫn gọi tên cũ và táchmột số xã nhập vào thị xã Hà Tĩnh Có 40 xã, 2 thị trấn: Bắc Sơn, Cày (thị trấnhuyện lỵ), Hộ Độ, Mai Phụ, Nam Hơng, Nông trờng Thạch Ngọc (thị trấn),Phù Việt, Thạch Bàn, Thạch Bằng, Thạch Bình, Thạch Châu, Thạch Đài,Thạch Điền, Thạch Đình, Thạch Đồng, Thạch Hạ, Thạch Hải, Thạch Hội,Thạch Hng, Thạch Hơng, Thạch Kênh, Thạch Khê, Thạch Kim, Thạch Lạc,Thạch Lâm, Thạch Liên, Thạch Long, Thạch Lu, Thạch Môn, Thạch Mỹ,Thạch Ngọc, Thạch Tân, Thạch Thanh, Thạch Thắng, Thạch Thợng, ThạchTiên, Thạch Tại, Thạch Vân, Thạch Vĩnh, Thạch Xuân, Thạch Sơn, ViệtXuyên … Núi nằm ở phía tây, cao nhất là nui Nhật Lệ, phía băc giáp biển có

Trang 18

núi Nam giới núi Bằng (Bồng) Sông ngòi Rào Cái chảy từ Cẩm Xuyên ra vàsông Nghên từ Can Lộc vào, có sông Tày, sông Dà tất cả hội vào cửa Sót Các di tích văn hoá lịch sử Danh thắng có núi Nam Giới với nhiều đền linhthiêng Từng có 26 ngời đỗ đạt khoa và hàng trăm cử nhân tú tài nho học cũ )(tr.658)

1.4 Tiểu Kết

1 Mỗi địa danh hoặc một lớp địa danh đều đợc ra đời trong một hoàncảnh lịch sử nhất định Do đó, địa danh có chức năng phản ánh lịch sử của mỗidân tộc, từng vùng, khu vực cụ thể Địa danh học là một ngành trong ngôn ngữhọc, nghiên cứu cấu tạo ngữ nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của các địa danh

2 ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu, nhng chỉ mới đềcập đến điển từ góc độ địa lý, lịch sử … Nhằm tìm hiểu đất n Nhằm tìm hiểu đất nớc, con ngời vàcũng có những công trình tiếp cận địa danh kiểu khoa học liên ngành Mờynăm lại đây đã xuất hiện các luận án, công trình nghiên cứu địa danh từ góc

độ ngôn ngữ học Ngời ta đã nghiên cứu địa danh TP Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Đắc Lắc, Quảng Trị, Nghệ An

3 Nghệ An, Hà Tĩnh là một khu vực văn hoà từ khe Nớc lạnh đến ĐèoNgang Ngòi ta gọi đây là vùng biên Viễn, Viễn trấn, đất cổ nớc non nhà Mỗi

địa danh, mỗi lớp địa danh của khu vực này gắn với lịch sử văn hoá địa

ph-ơng Luận văn này cố găng miêu tả về cấu trúc, ngữ nghĩa của các địa danh tạihuyện Thạch Hà, Hà Tĩnh Hệ thống địa danh ở khu vực này mang theo những

đặc điểm của phơng ngữ Nghệ - Tĩnh

Trang 19

Chơng 2: Về cấu tạo của các địa danh

ở Thạch Hà

2.1 Tiểu dẫn

Thuật ngữ cấu tạo chúng tôi dùng ở đây là để mô tả, mô hình hoá địadanh Địa danh là một đơn vị đinh danh, là tên gọi đối tợng địa lý tự nhiênhoặc nhân văn, luôn gắn với ý nghĩa nhất định có quan hệ chặt chẽ với đối t-ợng của chủ thể đặt tên Mỗi dân tộc, mỗi vùng địa phơng có nguyên tắc cấutạo địa danh, cấu tạo ra những địa danh khác nhau Trong chơng này, chúngtôi cố gắng mô tả cấu tạo của các địa danh tại huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở Thạch Hà.Mỗi địa danh đều có cấu tạo riêng của nó Cách gọi tên hay ý nghĩa củatên gọi có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để xác định, nghĩa là phải xemxét về mặt nguồn gốc phát sinh, đặc điểm cấu tạo Vốn từ của tiếng Việt vănhoá có thể phân ra: từ cổ và từ mới, từ thuần Việt và từ vay mợn, từ toàn dân

và từ địa phơng, thuật ngữ khoa học … Mỗi địa danh gồm 2 thành tố: Thành

tố chung (A) và thành tố (B) là tên riêng Ví dụ: sông Rào Cái, sông Cửa Soát,

suối Ruột Thỏ, suối Làng Bàu, Khe Xai, Khe Lác, Bàu Am, bàu Trò, Hồ Rú

Đòi, hồ Thào Thào Tranh, hồ Đập Bạng, đập Quanh, đập Bàu Ao …

Trên thực tế về mặt lý thuyết tôn tỉnh giữa hai thành tố trong phức thể

địa danh sẽ đợc xem xét ra sao: cả hai thành tố A và B là một địa danh hay chỉriêng thành tố B (tên riêng) mới đợc gọi là địa danh, hơn thế, những vấn đề vềchuẩn mực chính tả, viết hoa cả hai hay chỉ thành tố B Nguyễn Kiên Trờng đãxác định: “Nh chúng ta đã biết, địa danh mang trong mình hai thông tin: a) đốitợng đợc gọi tên thuộc loại hình địa lý (đồi, sông, phố, làng …) thể hiện qua ý

nghĩa của danh từ chung; b) có nghĩa nào đó (phản ánh điều gì đó) thể hiên qua tên riêng (ví dụ lang Kênh Hữu và ở bên phải dòng Kênh” (tr 53) Phạm Tất Thắng đã rất có lý khi giải thích: Tên chung (gnenal names) là tên gọi,

thờng gắn với một lớp đối tợng cùng loại, còn tên riêng (proper names) là tên gọi cho một đối tợng các biệt, đơn nhất cà xác định ” (tr 32) Rõ ràng tronghai thành tố vừa nêu có vai trò, chức năng hoang toàn không ngang nhau.Thành tố thứ nhất cung cấp các thông tin về loại hình của đối tợng địa lý, và

Trang 20

thành tố thứ hai giúp cho việc nhận thức đối tợng Dĩ nhiên việc biết thông tin

về thông tin về thành tố A đơn giản, nhng hiểu biết và lý giải yếu tố B rất vô

cùng phức tạp Chẳng hạn nh “Cửa” là có thể hiểu đợc nhng cửa Sót, cửa Hội,

cửa Lò, cửa Vạn … thì hoàn toàn không đơn giản tí nào hết Muốn hiểu biết

thông tin thành tố thứ hai nhất thiết phải thông qua ngôn ngữ mà cụ thể là môhình cấu tạo Nguyễn Kiên Trờng đã mô hình hoá cấu trúc địa danh HảiPhòng nh sau:

Danh từ chung Tên riêng khu biệt đối tợng

(Tối đa 4 âm tiết)

về cấu trúc địa danh Hải Phòng ” (tr 55)

Trang 21

2.3 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở Thạch HàQua tài liệu có đợc chúng tôi mô hình hoá cấu trúc phức thể địa danh ởThạch Hà nh sau:

Mỗi bộ phận trong phức thể địa danh có vai trò, chc năng riêng biệt Cácnhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng quan hệ giữa thành tố A và thành tố B là quan

hệ giữa các hạn định (B) và cái đợc hạn đinh (A), hay nói khác đi A la yếu tốbiểu thị một loạt đối tợng có cùng thuộc tính, còn B đợc dung để chỉ những

đối tợng cụ thể, đợc xác định trong lớp đối tợng mà thành tố A cỉ ra Do vậy,phải trình bày sự riêng biẹt giữa thành tố A và thành tố B

2.3.1 Thành tố chung (A)

Trong tiếng Việt nói riêng và các ngôn ngữ đối lập nói chung, thành tố(A) bao giờ cũng đợc quy loại là danh từ chung và đứng trớc tên riêng Thành

tố (A) vừa mang ý nghĩa hình thức tạo nên chỉnh thẻ của phức thể địa danh

vừa mang ý nghĩa nội dung xác định của đối tợng đợc gọi tên Ví du: nghĩa

địa Khúc Khắc, nghĩa địa Bụt Mộc, đài tởng niệm liệt sĩ Thị Trấn, đài tởng niệm liệt sĩ Bắc An, mỏ sắt Thạch Khê, thôn Tùng Lâm, thôn Hoà Bình, thôn

Hà Giang, thôn Bắc Giang, Cống Cỗu Sú, Cống Gia, Cống Thanh Cao …

Xét về mặt cấu tạo trong hệ thống địa danh trên bản khảo sát, số lợng các

âm tiết (yếu tố) trong thành tố chung có từ 1 đến 5

Trang 22

3 Ba yếu tố 102 4,76% Nhà máy gạch TuyNen

Nhà thờ họ

4 Bốn yếu tố 36 1.68% Nhà thờ giáo sứ

5 Năm yếu tố 32 1.45% Đài tởng niệm liệt sỹ

Qua bảng ta thấy rằng, thành tố chung càng ngắn (một âm tiết) thì tần sốxuất hiện càng nhiều, bao trong mình nhiều lớp đối trợng, sự vật khác nhau(làng, thôn, đình, chùa, khe …) Và ngợc lại thành tố chung càng lớn thì tần

số xuất hiện càng ít Chỉ có 31 phúc thể địa danh có thảnh tố chung 5 âm tiết:

Đài tởng niệm liệt sỹ …Đây phải coi nh một sự khác biệt Theo t liêu của các

tác giả đi trớc: Nghê An thành tố A tối đa là 4, Quảng Trị tối đa là 3, HảiPhòng là 4, …Nhìn chung, tại tỉnh Hà Tĩnh, số lợng thành tố chung cũng

giống nh nơi khác: di tích thạch đài, thành Hà Tĩnh, nhà thờ Nguyễn Huy Tự,nhà thờ Bùi Dơng Lịch, ngã ba Nghèn, chùa Thiên Tợng, ngã ba Đồng Lộc,chùa Yên Lạc, mộ Phan Đình Phùng, khu lu niệm Hà Huy Tập, đền Đô ĐàiBùi Cầm Hồ, chùa Nài, chùa Dằng, đền Tam Toà (Toả Ao), đền thờ Đặng Tất

- Đặng Dung, đền thờ Nguyễn Văn Giai, đền Thái Yên, hồ Kẻ Gỗ, chùaNghèn, đền Thái Yên, miếu Biên Sơn

2.3.3 Sự chuyển hoá của thành tố chung.

Cũng nh địa danh ở những nơi khác, địa danh tại huyện Thạch Hà cũng

có khả năng chuyển hoá thành thành tố riêng, tức là dễ chuyển hoá thành Bhoặc dễ trở thành bộ phận của B Thờng thì thành tố chung đơn âm tiết là dễchuyển hoá nhất Cũng phải đợc rằng mối quan hệ giữa thành tố chung vàthành tố riêng rất khăng khít và chặt chẽ với nhau: thành tố riêng có chức nănghạn định cho thành tố chung, song, ở một số trờng hợp cụ thể thì thành tốchung tác động trở lại, hay định cho thành tố riêng Cũng giống nh ở Nghệ

An, thành tố chung sông và cầu trong các địa danh vừa có chức năng phân biết

loại hình các địa danh lại vừa có tác dụng hạn định các địa danh: sông có chứcnăng phân biệt loại hình và tên riêng cụ thể trong các phức thể đại danh: ChợVinh, thành phố Vinh, ga Vinh bến xe vinh… Nhằm tìm hiểu đất n Phan Xuân Đạm nhận xét:

“Chức năng hạn định cho thành tố riêng của tghành tố chung là rất quan trọng

và sự chuyển hoá các yếu tố trong tên riêng cũng là một chức năng rất quantrọng nữa

Trang 23

Của thành tố chung Trong thực tế sử dụng ngôn từ, khi thành tố chungkhông thực hiện nhiệm vụ đi kèm đi trớc để phân biệt loại hình cho tên riêngthì chúng rời khỏi vị trí của mình để nhjập vào, chuyển sang một hoặc vài vịtrí trong thành tố riêng đây chính là một biểu hiện đáng quan tâm, phản ánh sự

đa dạng, phong phú về mối tơng liên giữa các bộ phận trong cấu truíc địa

danh” (Phan Xuân Đạm, Trang 57) Cũng nh thế ở Thạch Hà có sông Cày,

sông Đò Điệm, sông Đò Bang và cũng có cầu Cày, cầu Đò Điệm, cầu Đò

Bang Về vấn đề này Nguyễn Kiên Trờng nhận xét về địa danh Hải Phòng:

“trong địa danh Hải Phòng, quá trình chuyển hoá diễn ra mạnh nhất, phổ biếnnhất ở các danh từ chung chỉ đối tợng, địa lý vùng viển và giáp ranh: hòn BãiCát Dài, vụng Bù Lâu, vụng So Tây, hòn Cửa Đô Cô, hòn Cửa Tùng Ngôn,thung lũng áng Nớc Lục, hòn Cập Bù Dọ, hòn Đá Vung, Sông Hoá Giang,sông Hòng Giang, hòn Thoi Nớc, hòn Thoi Van Bôi trong địa danh đờngphố: phố Chợ Cột Đèn, đờng Chùa Linh Độ, ngõ Đền trong địa danh c trú -hành chính: thông áng Sơn, thông Sông Cấm, xóm Đình, xốm Đền, thị trấnNúi Đô ” (Nguyễn Kiên Trờng, tr.58)

Xét trên tổng thể, quá trình chuyển hoá từ thành tố chung (A) sang thành

tố riêng (B) có thể xuất hiện hai khả năng: chuyển hoá thành tên riêng hoặc chuyển hoá nằng trong một bộ phân của thành tố riêng (B) Đúng nh Phạm Xuân Đạm đã nhận xét: “Chuyển hoá thành tên riêng: Khe Đền, đồng Giếng,

Động Cầu , đồng Bàu, đồng Rào, chợ Ga, đập Lèn, đền Giếng, đồng Hói, đồng

Trọt, cầu Rào, chợ Vực, khe Chùa, đồng Kênh chuyển hoá thành yếu tố thứ

nhất của thành tố riêng có hai yếu tố trở lên đạp khe Tru, khe Thung Chuối, khe Thung Càm, động Truông tròng, động Khe Cờy, động Thung Răm, khe

Đập làng, động Cồn Mũ, động Cồn Sim, Động Rộc Điếc chuyển hoá vào vị

trí thứ hai trong thành tố tên riêng: đồng Rục Làng Trống, đồng Vùng Hói Thang, đồng Thung Đông, giếng Xóm Đình và chuyển hoá vào vị trí thứ ba trong thành tố riêng : xóm Tốt Động Giáp, xóm Thợng yên Giáp, Làng Thổ

Đồi Trang, làng Xuân Nha Thôn Chỉ có hai trờng hợp thành tố chung chuyển

hoá vào vị trí thứ 4 trong thành tố chung chuyển hoá vào vị trí thứ 4 trongthành tố riêng: Làng Cầu Giát Thợng Phố, đồng Đà Đinh Cựa Đền ” (PhanXuân Đạm, Tr.58)

Trang 24

ở Thạch Hà qua t liệu của chúng tôi hầu hết là có sự chuyển hoá thành

yếu tốpp thứ nhất của thành tố riêng: sông Kênh Cạn, sông Vách Nam, sông

Rào Con, sông Rào Cái, sông Cửa Soát, suối Khe Sâu, hồ Đập Bạng, hồ Đập

Bún, đập Bàu Thợng, kênh Đập Bún, hói Cồn Đập, hói Bàu Gác, động Cồn Chè, núi Động Đá, núi Cửa Voi, đồi Truông Rọ chuyển hoá thành yếu tố thứ hai của tên riêng: suối Làng Bàu, khe Làng Bàu, đập Bàu Ao, kênh sông Vách

Nam Chúng tôi không thấy sự chuyển hoá thành yếu tố thứ ba hoặc thứ tcủa tên riêng

2.3.3 Khả năng kết hợp chuyển hoá của một số thành tố chung vơí thành tố riêng

ở Nghệ Tĩnh nói chung, Hà Tĩnh nói riêng, rú và động (có biến thể ngữ

âm là đôộng) là đồng nghĩa với núi của phơng ngữ Bắc Nhng với núi đá vôi thì ngời Nghệ gọi là lèn mà không dùng rú hoặc động.Đành tằng ở Thạch Hà không có lèn nào Ví dụ: động Cồn Chè, Động Chùa, động Câm, động Phủ,

động Tạng Bạc, động Trạng Dài, động Dê, rú Săng, rú Mồ, rú Ngói, rú Nớc,

rú Đá, rú Nam Giới, rú Đòi, rú Cổ Ngựa, rú Cửa Voi, rú Đỉnh Thợng Chỉ mộttrờng hợp thành tố chúng chuyển hoá sang vị trí thứ nhất của thành tố riêng:

rú Động Đá Truông là vùng đất khô cằn, cây cối là các bụi nhỏ, cỏ rậm rạp,

việc đi lại rất khó khăn Tại Nghệ An rất nhiều truông: truông Thành, truôngThấp, truông Vên, truông Bồn, truông Sắt, trông Băng song ở Thạch Hà chỉ

xuất hiện truông xuất hiện ở vị trí đó thứ nhất của thành tố riêng: Đồi Truông

Rọ.

Lùm chỉ cồn đất có nhiều cây cỏ mọc kín Lùm tại Thạch Hà xuất hiện

với t cách thành tố chung 4 lần: Lùm khe làng bùn, Khe Cấy, lùm Bàu Tròn,lùm Bàu Tròn, lùm Bàu Gon Và cũng chỉ một trờng hợp xuất hiện ở vị trí thứ

nhất của thành tố riêng: Khe Lùm Hói.

Cồn là chỗ đất nổi lên (không cao lắm) trên mặt phẳng có nhiều cây cỏdại mọc kín thờng ở trên cánh đồng hoặc bãi ven núi, ven khe Theo thống kê

của Phan Xuân Đạm tại Nghệ An có tất cả 362 phức thể địa danh có cồn làm

thành tố chung ở Thạch Hà có 11 phức thể địa danh có cồn làm thành tố

Trang 25

chung: cồn Ao Làng, cồn Khe Su, cồn Kênh, có hai trờng hợp chuyển hoá

sang vị trí thứ nhất: đập Cồn Sang, Ao Cồn Nội.

Hói: “nhánh sông con nhỏ, kẹp hình thành tự nhiên hoặc đặc đào để dẫn

nớc, tiêu nớc, hõm đất hình thành do nớc biển xoáy mạnh ăn sâu vào đất liền ởcác Vịnh” (TĐTVPT) ở Nghệ An “có 85 làn hói xuất hiện với t cách là thành

tố chung trong phức thể địa danh: hói Cầu Vực, hói Hội Binh, hói Bồ Đề, hóiCầu Lim, hói Tép, hói Đụm, hói Trai, hói T20 67 lần hói nằm ở vị trí thứnhất của thành tố riêng; Đồng hói Mét, cầu Hói Bói, cầu Hói Trai, đồng HóiCơn Bàng là 14 lần hói xuất hiện ở vị trí thứ hai của tên riêng: Đồng RộcHói, đồng Vùng Hói Thang ” (Phan Xuân Đạm, tr.64) Thạch Hà có 4 phứcthể địa danh có hói là thành tố chung: Hói Trộ, hói Lộ Thọ, hói Cồn Đập, hóiBàu Gác

Trọt là từ chỉ xuất hiện trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh để chỉ rằng rãnh nhỏ

tự nhiên, hai phía có bờ rành này nằm giữa đợc ngăn đôi bởi hai lớng: trọtkhoai, trọt cà, trọt ngô tại Thạch hà trọt xuất hiện Nơng Mýa, trọt RộngNởy, trọt Ló Chăm, trọt Đồng Nậy Lúc đó ở Nghệ AN “Trọt xuất hiện ở vị tríthành tố chung chỉ có 7 lần nhng ở vị trí thứ nhất của thành tố riêng có trong

104 phức thể địa danh Ví dụ: đồng Trọt Kẻ Chè, động Trọt Vớt, trồng trọtChanh, đồng trọt Mìm, Nhiều nhất là ở trong các địa danh xứ đồng, thờng

địa danh xứ đồng có trọt nằm ở vị trí cao thứ nhất của thành tố riêng là những

đồng sâu trũng, nằm ở giữa hai doi đất cao Trọt ở vị trí thứ hai trở đi củathành tố riêng trong phức thể địa danh: đồng Đò Trọt, đồng Xóm Trọt, đồng

Đội Trọt, đồng Quần Trọt, đồng Đọi Trọt, đồng Cụ Trọt Chánh” (Phan Xuân

Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì bàu là: “Chỗ đất trũng sâu, chứa

n-ớc, thờng ở ngoài đồng” (tr.37) Qua t liệu của chúng tôi, tại Thạch Hà, bàu

Trang 26

xuất hiện 8 lần ở thành tố chung trong phức thể địa danh: bàu An, bàu Lác,bàu trò bà, Bàng, Bàu lai, bàu Sim Cơm, bàu Tròn, bàu Con.

Ngoài ra ở Thạch Hà còn có những thành tố chung nh làng xóm, thông,

hồ, đập, kênh, lệch, đồi, dốc, đờng (đàng) cầu, đình, chùa,

Đồng theo từ điển tiếng Việt phổ thông là “khoảng đất rộng tơng đối

bằng phẳng dùng để cày cấy, trồng trọt” (tr.341) tại Nghệ An, đây là loại địa

danh phong phú nhất, đa dạng nhất, chiếm số lợng lớn nhất có tới 7 318 đồng.

Xuất hiện ở thành tố chung Phan Xuân Đạm nhận xét: “Sự phong phú này đợcphản ánh đều khắp trên mọi cùn, mọi miền thuộc địa bàn khảo sát Đến nhmột xã ngoại thành của thành phố Vinh Cũng có đến trên 300 địa danh về các

xứ đồng Phải chăng đây là nét khu biệt, là đặc trng nổi bật của c dân nông

nghiệp lúa nớc” (tr.72) Theo t liệu của chúng tôi đồng xuất hiện ở vị trí thành

tố chung tại huyện Thạch hà là 840 chẳng hạn nh: đồng Tứ Dung, đồng NơngKhai, đồng ông điện, đồng Trạm Xá, đồng Hơng Cát, đồng Bờ Treo, đồngTạm mua, đồng Cồn Cồ đồng Ông thành,đồng Đồng Mộc, đồng Xứ BàuVụng Chắc có lẽ tại Hà Tĩnh đại danh về đồng cũng rất phù hợp với nhậnxét vừa nêu của Phan Xuân Đạm

Cũng phải thấy rằng: khả năng kết hợp của danh từ cung đồng với các từ,

tổ hợp từ khác nhau: kết hợp tên riêng tạo thành xứ đồng mang tên ngời: đồng

Ông Bộ, đồng Mụ Trồ, đồng Mụ Nàng, đồng Ông điện hoặc đồng kết hợp

với cựa, cồn, bờ, xứ đồng xứ Bàu Vụng, đồng Cồn Cồ, đồng Cồn Lau, đồng

Bàu Nỗi, đồng Nơng Khai, đồng Trạm Xá, đồng Lùm đá, đồng Cồn Dng, Ngoài ra còn phải kể đến các danh từ chung nh: làng, đập, cầu, giếng,chợ, đền, chùa, cống, đình đã cấu tạo nên hàng loạt phức thể địa danh khácnhau Cũng cần nói thêm ở Nghệ Tĩnh có xuất hiện những thành tố chungkhác với phơng ngữ Bắc nh “dăm” (bãi tha ma), lệch (lạch riêng tại Nghệ

An, Phan Xuân Đạm đa vào t liệu của mình “hác” Ông giải thích: “Hác là chỗ nớc trũng xuống, đọng lại nh vũng”.

Qua t liệu chúng tôi thấy xuất hiện 8 trờng hợp hác ở vị trí thành tố

chung: hác Động Viên, Hác Ngọ Nghè, hác Thúng 4 trờng hợp ở vị trí thứnhất của thành tố riêng: đồng Hác Sen, đồng Hác Ngọ Nghề, đồng hác (Đô L-

Trang 27

ơng), đồng Hác (Nam Đàn) và 4 lần ở vị trí thứ hai tên riêng: đồng Bại HácThúng, đồng Rục Hác, đồng Da Hác, nghĩa địa Da Hác” (tr.66) Danh từchung này chúng tôi tìm thấy tại Thạch hà.

2.4 Về thành tố riêng

2.4.1 Đặc trng của thành tố riêng trong phức thể địa danh

Việc xem xét, xác định giá trị vai trò của các thành tố, yếu tố trong phứcthể địa danh là liên quan trực tiếp đến cấu tạo từ tiếng Việt Thành tố riêng làthành tố thứ hai trong phức thể địa danh Thành tố này gồm những từ, cụm từ

có chức năng gọn cho từng đối tợng địa lý đợc tách ra trong hàng loạt lứoploại hình khác nhau Thành tố riêng hay tên riêng bao giờ cũng đứng sau thành

tố chung làm nhiệm vụ hạn định cho đơn vị này Thành tố chung và thành tốriêng có sự tơng tác chuyển hoá lẫn nhau Thành tố riêng phản ánh sự đa dạngphong phú của tiếng Việt từng vùng phơng ngữ cụ thể Thành tố riêng có thểcáu tạo bằng những đơn vị Hán - Việt thôn Trung Tiến, thôn Phú Sơn, thônSong Hoành, thôn Đại Long, thôn Thanh Minh, thông Vĩnh Sơn, thôn Vĩnh

An, thông Quý Hải hoặc bằng yếu tố thuần việt: bàu Gon, khe Cờu, khe Lác,

hồ Dập Bùn, hói Trộ, rào Hói, rào Trẻn, rào Voọc

Qua t liệu hiện có cấu tạo thành tố riêng trong phức thể địa danh chúngtôi thấy xuất hiện các quan hệ đẳng lập, chính phụ chủ vị Việc tạo tên riêng(thành tố B) có một hoặc hai âm tiết phản ánh tâm lý, thói quen của chủ thể

đặt tên Hầu hết các tên xã là Hán Việt: Thạch Ngọc, Thạch Lu, Thạch Văn,Thạch Thắng, Thạch Hơng, Thạch Xuân, Thạch tiến, Thạch Vĩnh, ThạchTân Có dạng tên riêng tên hai âm tiết (chủ yếu là mợn danh nhân làm tênriêng): đền thờ Tam Lang Bản, đền thờ Đô Đốc Hồ Phi Chấn) đền Trịnh TớngCông, miếu thờ Đức Quận Công, chùa Tăng Phúc Tự, đờng Thạch Long- Đò

Trang 28

Hoà Hợp, thôn Đại Long, thôn Thanh minh, thông Song Hải, thôn ThanhChâu, thôn Tân Tiến, Ngọc Hồi, thôn Phú Quý

Tên riêng thuần việt kiểu nh đồng Bèo, đồng Sen, đồng Minh, đồng Đò,

đồng Lùm đá, đồng Muối, đồng Đập, đồng Lách, đồng Đùng, đồng Nẩy, đồng

Lò Rèn, đồng Cồn Rú, đồng Hộp, đồng Mót

Tên riêng một âm tiết chiếm số lợng khá lớn và đợc phân bổ khác nhautheo loại hình Tên riêng có cấu tạo đơn - một âm tiết đợc cấu tạo từ nhiều loạikhác nhau:

- Danh Từ: đồng Lạch, đồng Đập, đồng Làng, đồng Sen, đồng Muối,

2.4.2 Các phơng thức tạo địa danh.

Vấn đề các phơng thức tạo địa danh đã đợc một số tác giả đề cập đến

Nguyễn Kiên Trờng nêu ra ba phơng thức chủ yếu: Phơng thức ghép số và

ghép địa danh (Còn gọi là phơng thức tự tạo), Phơng thức chuyển hoá, Phơng thức vay mợn, Trong mỗi phơng thức lại có các loại riêng Lê Trung Hoa cũng

nêu rõ ba phơng thức: 1 Phơng thức tự tạo 2 Phơng thức chuyển hoá 3

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ông viết: “Mô hình này đợc xây dựng trên cơ sở quan niệm về độ dài lớn nhất của một phức thể địa danh - Khảo sát các địa danh ở huyện thạch hà   hà tĩnh
ng viết: “Mô hình này đợc xây dựng trên cơ sở quan niệm về độ dài lớn nhất của một phức thể địa danh (Trang 24)
2.3 Mô hình cấu trúc phức thể địa dan hở Thạch Hà - Khảo sát các địa danh ở huyện thạch hà   hà tĩnh
2.3 Mô hình cấu trúc phức thể địa dan hở Thạch Hà (Trang 25)
Qua bảng ta thấy rằng, thành tố chung càng ngắn (một âm tiết) thì tần số xuất hiện càng nhiều, bao trong mình nhiều lớp đối trợng, sự vật khác nhau (làng, thôn, đình, chùa, khe  … ) - Khảo sát các địa danh ở huyện thạch hà   hà tĩnh
ua bảng ta thấy rằng, thành tố chung càng ngắn (một âm tiết) thì tần số xuất hiện càng nhiều, bao trong mình nhiều lớp đối trợng, sự vật khác nhau (làng, thôn, đình, chùa, khe … ) (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w