1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo chí với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Khảo sát các báo lao động,Thanh niên, Sài Gòn tiếp thị 2008 - 2010

104 837 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài sẽ được thực hiện thông việc khảo sát ba tờ báo in: Lao động, Thanh niên, Sài Gòn tiếp thị, trong thời gian từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2010 - là thời gian nền kinh tế và tình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9

7 Kết cấu luận văn 10

Chương 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA BÁO CHÍ VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG

11 1.1 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong điều kiện hiện nay 11

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 11

1.1.2 Quan hệ giữa tiêu dùng và phát triển kinh tế 13

1.2 Chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam 17

1.2.1 Các văn bản quy định chủ yếu 17

1.2.2 Các cơ quan, tổ chức thực hiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

21 1.3 Vai trò của báo chí với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 23

1.3.1 Phản ánh thực trạng bảo vệ quyền lợi NTD trong tiến trình hội nhập quốc tế

25 1.3.2 Tuyên truyền chủ trương, định hướng bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Nhà nước

28 1.3.3 Ủng hộ, phản biện, tạo dư luận góp ý cải thiện tình hình bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

30 1.3.4 Góp phần hình thành thế giới quan mới cho người tiêu dùng về việc bảo vệ quyền lợi của mình

31

Trang 4

Tiểu kết Chương 1 35 Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU

2.2.1 Tuyên truyền chống hàng giả, hàng gian, hàng kém chất lượng 39

2.2.2 Phản ánh thực trạng vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến quyền

lợi người tiêu dùng

46

2.2.3 Đề xuất, kiến nghị giải pháp mới để tăng cường bảo vệ quyền

lợi người tiêu dùng

52

2.3 Hình thức phản ánh vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 60

2.3.1 Các chuyên mục, chuyên trang, diễn đàn 60

2.3.2 Sự luân chuyển linh hoạt giữa các thể loại báo chí và các trang

báo

66

2.3.3 Đặc thù của mỗi tờ báo 72 Tiểu kết Chương 2 80 Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG TRÊN BÁO CHÍ

82

3.1 Đối với các cơ quan Nhà nước 83 3.2 Đối với các cơ quan báo chí 85

3.2.1 Cần có định hướng, chỉ đạo dài hơi về tổ chức tin, bài 85

3.2.2 Đổi mới nội dung, hình thức phản ánh về vấn đề bảo vệ quyền

lợi người tiêu dùng

86

3.2.3 Bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ phóng viên, biên tập

viên giỏi nghề và am hiểu về lĩnh vực chuyên trách

86 3.3 Đối với phóng viên, biên tập viên 88

Trang 5

3.3.1 Nắm chắc chính sách của Nhà nước và tăng cường nghiên cứu

chính sách của nước ngoài về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

88

3.3.2 Thường xuyên trau dồi, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp 89

3.3.3 Chú trọng thu thập ý kiến độc giả về hiệu quả tuyên truyền bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng

91

Tiểu kết Chương 3 93 KẾT LUẬN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 6

PT-TH Phát thanh-truyền hình

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Từ thời kỳ đổi mới đến nay, nước ta đã chuyển mạnh từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Cũng từ đây, quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ với một bên là người bỏ tiền ra mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình và tổ chức (được gọi chung là người tiêu dùng) đã được xác lập với vai trò ngày càng được nâng cao của người tiêu dùng (NTD)

Bảo vệ quyền lợi NTD là một trong những nhiệm vụ của quản lý nhà nước và là trách nhiệm của các đơn vị sản xuất, kinh doanh Thực tiễn nước ta hiện nay cho thấy, khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, mức độ tự do hóa thương mại càng gia tăng thì càng nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh hưởng đến quyền lợi NTD

Song hành với sự phát triển của nền kinh tế, báo chí Việt Nam những năm gần đây luôn kịp thời phản ánh thực trạng cả những mặt tốt, mặt chưa tốt của vấn đề bảo vệ NTD

Đề cập đến vấn đề mà cả xã hội quan tâm; luận văn sưu tầm, nghiên cứu, đánh giá những tác phẩm báo chí trên các tờ báo viết về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Cũng thông qua sự khảo sát, đánh giá đó, chúng tôi hy vọng

sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm, kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền các khía cạnh của vấn đề Vì vậy, chúng

tôi chọn đề tài “Báo chí với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” để nghiên

cứu

Trang 8

Đề tài sẽ được thực hiện thông việc khảo sát ba tờ báo in: Lao động,

Thanh niên, Sài Gòn tiếp thị, trong thời gian từ tháng 01/2008 đến tháng

12/2010 - là thời gian nền kinh tế và tình hình tiêu dùng hàng hóa ở nước ta

có những thay đổi lớn mang tính bước ngoặt trong bối cảnh ngày càng hội nhập với nền kinh tế và giao thương hàng hóa toàn cầu, cũng đồng thời là thời

kỳ ra đời và hiện thực hóa nhiều chủ trương, quyết sách mới liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD…

Sở dĩ đề tài có tên gọi “Báo chí với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu

dùng” nhưng Luận văn khoanh gọn đối tượng khảo sát, nghiên cứu là các tờ

báo in Việt Nam vì những lý do sau đây:

- Báo in là một kênh quan trọng bậc nhất không thể thiếu trong hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay

- Loại hình báo in có tiếng nói chính thống, mạnh mẽ không chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế mà tất cả các lĩnh vực xã hội khác

- Tư liệu khảo sát của loại hình báo in là đầy đủ, có cơ sở thực tế rõ ràng nhất, hệ thống nhất, do được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia

- Báo in có tính đại chúng, phù hợp với đông đảo nhân dân, thỏa mãn

và thích hợp với văn hóa đọc, lưu giữ tư liệu của công chúng Việt Nam

- Trước mỗi vấn đề, báo in đều có cách thức thể hiện riêng, tạo dấu ấn không giống như bất cứ loại hình nào khác, như truyền hình, phát thanh hay báo điện tử Từ đó tạo được hiệu quả thông tin tuyên truyền riêng

- Đặc biệt ở phương diện phản biện vấn đề, với các thế mạnh của mình, báo in luôn có tiếng nói mạnh mẽ nhất, có hệ thống nhất

Trong thực tế tiến hành thực hiện, tuy lựa chọn khảo sát đối tượng chính là các tờ báo in nhưng Luận văn luôn có sự soi chiếu, đặt loại hình báo

Trang 9

in trong hệ thống các thể loại báo chí nói chung để có cái nhìn hệ thống và tổng hợp nhất

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Là vấn đề nảy sinh cùng với sự phát triển kinh tế thị trường - hàng hóa

có yếu tố hội nhập sâu rộng với các nền kinh tế khác trên thế giới trong ít năm trở lại đây nên có thể nói, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD là phạm vi đề tài khoa học còn khá mới mẻ

Trên thực tế, chỉ đến những năm gần đây mới bắt đầu xuất hiện những công trình nghiên cứu với cấp độ khác nhau về các khía cạnh của đề tài bảo

vệ người tiêu dùng Với đề tài khoa học cấp Bộ, ngành, có thể kể đến đề tài

khoa học “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện,

nghiệm thu tháng 9/2008 Với công trình nghiên cứu cấp Đại học, sau Đại

học, có thể kể đến luận văn “Thực trạng quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền

lợi người tiêu dùng tại Việt Nam” của một sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân

Hà Nội thực hiện năm 2006

Riêng đối với khía cạnh bảo vệ quyền lợi NTD trên báo chí thì hầu như còn rất ít đề tài đề cập Trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp cũng như luận văn thạc sỹ của sinh viên, học viên trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) từ năm 2004 trở lại đây, mới chỉ có một vài công trình riêng lẻ nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên phạm vi, đối tượng khảo sát

khác nhau Ví dụ, năm 2009, có luận văn “Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng trên

báo trực tuyến (khảo sát trên VietnamNet và VTC News các năm 2008 – 2009)” của học viên Trần Huy Hưng, lớp Cao học K11 - chuyên ngành Báo

chí học Tuy nhiên, luận văn nói trên mới chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu đề tài theo hướng khảo sát, phân tích việc đấu tranh, bảo vệ NTD, chống hàng

Trang 10

nhái, hàng giả… trên báo trực tuyến, chưa đi sâu, phân tích những khía cạnh, nội dung khác của vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trên báo chí nói chung

Như vậy, có thể khẳng định rằng, cho tới thời điểm hiện tại, chưa có đề tài nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện và triệt để những vấn đề cấp thiết về bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay dưới góc nhìn đa chiều cũng như xem xét các hình thức chuyển tải các vấn đề này trên báo chí Với đề tài nghiên

cứu “Báo chí với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, chúng tôi hy vọng

trên cơ sở nghiên cứu, tìm tòi và cùng với việc tham khảo có chọn lọc một số kết quả nghiên cứu đã được công bố, sẽ tìm hiểu vấn đề này một cách nghiêm túc, có hệ thống Từ đó đưa ra được các bài học kinh nghiệm cũng như các giải pháp hiệu quả, có khả năng ứng dụng và thiết thực đối với các tờ báo khảo sát nói riêng, đồng thời có thể vận dụng với các báo khác khi thực hiện tác phẩm báo chí về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

đề quyền lợi NTD và việc bảo vệ quyền lợi NTD

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, luận văn triển khai những nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 11

- Sưu tầm, khảo sát tất cả các bài báo có nội dung liên quan đến các vấn

đề về bảo vệ quyền lợi NTD trên ba tờ báo: Lao động, Thanh niên và Sài Gòn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD, cách thức phản ánh các vấn đề này trên ba tờ

báo: Lao động, Thanh niên và Sài Gòn tiếp thị từ tháng 01/2008 – tháng

12/2010

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và

tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa trên đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ của báo chí; về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Bên cạnh đó, luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đã được công bố

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: thống kê - so sánh, phương pháp điều tra - khảo sát thực tiễn, phân tích - tổng hợp; đồng thời tác giả sẽ tập hợp, nghiên cứu các văn bản, tài liệu liên quan đến đề tài Bên cạnh

đó, tác giả sẽ áp dụng các thủ pháp khác như: phỏng vấn, điều tra xã hội học

để hoàn thành đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trang 12

- Ý nghĩa lý luận:

Luận văn làm rõ một số lý luận về các nội dung bảo vệ quyền lợi NTD;

về vai trò của báo chí Việt Nam trong việc thông tin, phản ánh sự kiện nói chung, các vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng Đồng thời, luận văn khảo sát có hệ thống các cách thức thông tin, phản ánh; cách thức tổ chức thông tin

về các vấn đề quyền lợi NTD trên báo chí

- Ý nghĩa thực tiễn:

Luận văn góp phần phác họa những nét cơ bản nhất về các vấn đề bảo

vệ quyền lợi NTD nổi bật giai đoạn hiện nay thông qua hoạt động báo chí tuyên truyền; nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền các vấn đề này trên báo chí

Đồng thời, luận văn có thể sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà báo, các bạn sinh viên và những người quan tâm tới đề tài này

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Quan hệ truyền thông giữa báo chí và người tiêu dùng

- Chương 2: Thực trạng vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên

báo chí

- Chương 3: Giải pháp tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

trên báo chí

Trang 13

CHƯƠNG 1: QUAN HỆ TRUYỀN THÔNG GIỮA BÁO CHÍ VÀ

NGƯỜI TIÊU DÙNG

1.1 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong điều kiện hiện nay

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng

Khái niệm NTD hiểu theo nghĩa hẹp của lý thuyết Mark là người mua sắm và tiêu dùng những sản phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu và ước muốn cá nhân Họ là người cuối cùng tiêu dùng sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra Người tiêu dùng có thể là một cá nhân, một hộ gia đình, hoặc một nhóm người nào đó

Hiểu theo nghĩa rộng, NTD ngoài mục đích mua bán hàng hoá, sử dụng dịch vụ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, là NTD cuối cùng, có thể còn phục vụ cho nhu cầu tái sản xuất kinh doanh (như nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, các thiết bị chi tiết để phục vụ cho sản xuất hàng hoá)

Theo Từ điển tiếng Việt, quyền lợi được hiểu là quyền được hưởng

những lợi ích nào đó về vật chất, tinh thần, chính trị, xã hội…[39, tr.786]

Trong khi đó, từ góc độ kinh tế học, quan niệm NTD (tiếng Anh: consumer)

nghĩa là khách hàng, người mua hàng hóa và dịch vụ để sử dụng cho riêng mình chứ không phải để bán [13, tr.158]

Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD (năm 1999) – Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên của nước ta về vấn đề Bảo vệ quyền lợi NTD quan niệm:

NTD là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh

hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức

Gần đây nhất, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua năm 2010 thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ

Trang 14

quyền lợi NTD (năm 1999) định nghĩa: NTD là người mua, sử dụng hàng hóa,

dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức

1.1.1.2 Khái niệm quyền lợi người tiêu dùng

Theo quy định của Liên hợp quốc, NTD có 8 quyền cơ bản: Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản; Quyền được an toàn; Quyền được cung cấp thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được lắng nghe hay đại diện; Quyền được khiếu nại và bồi thường; Quyền được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng; Quyền được sống trong một môi trường trong sạch và bền vững

Các quyền này, tại Việt Nam cũng được quy định rõ trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD (1999) và sau này là Luật Bảo vệ quyền lợi NTD (2010) Đó là: Quyền được lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng; được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, môi trường; được hướng dẫn những hiểu biết về tiêu dùng; Quyền được bồi hoàn, bồi thường thiệt hại; được khiếu nại,

tố cáo, khởi kiện; Quyền đóng góp ý kiến và yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình, quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá phải đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu đã đăng ký công bố; Quyền được thành lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và trực tiếp thông qua đại diện để thực hiện việc bảo vệ này

1.1.1.3 Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Theo “Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ quyền lợi NTD”, bảo

vệ quyền lợi NTD là: bảo vệ NTD tránh khỏi những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn; ủng hộ vào bảo vệ các quyền lợi kinh tế của NTD; thông tin đầy đủ cho NTD để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân; giáo dục NTD, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế,

Trang 15

xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của NTD Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho NTD; cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức NTD thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ; thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng XHCN mà Việt Nam đang theo đuổi như hiện nay, luôn

có mối hệ khăng khít, tác động qua lại với nhiều yếu tố khác nhau, trong đó

có tiêu dùng và NTD

1.1.2 Quan hệ giữa tiêu dùng và phát triển kinh tế

1.1.2.1 Vai trò của người tiêu dùng đối với tăng trưởng kinh tế

GS John Quelch, Hiệu trưởng Trường kinh doanh quốc tế châu Âu - Trung Quốc, nguyên phó hiệu trưởng Trường kinh doanh Harvard (Hoa Kỳ) khi chia sẻ những nghiên cứu, phát hiện thú vị về xu hướng tiêu dùng thế kỷ

21 đã khẳng định: “Không có NTD, sẽ không có kinh doanh và cũng chẳng có doanh thu”

Thật vậy, theo lý thuyết kinh tế học, mô hình một nền kinh tế giản đơn

mà người ta thường gọi là biểu đồ chu chuyển có hai vòng luân chuyển [19, tr.3] Trong mô hình này, nền kinh tế có hai nhóm người ra quyết định là hộ gia đình (NTD) và doanh nghiệp (nhà sản xuất) Các hộ gia đình và doanh nghiệp tương tác với nhau trên hai thị trường:

Thị trường hàng hóa và dịch vụ: Doanh nghiệp là người bán; Hộ gia đình là người mua sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) do doanh nghiệp sản xuất ra Các hộ gia đình sẽ quyết định mua bao nhiêu hàng hóa mỗi loại thông qua nhu cầu của họ, biểu hiện ở mức giá mà họ sẵn sàng chi trả

Trang 16

Thị trường yếu tố sản xuất: Hộ gia đình là người bán, cung cấp các yếu

tố đầu vào cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp; ba nguồn lực cơ bản đó là: Lao động, vốn và đất đai Trong khi đó, doanh nghiệp là người mua

Mô hình vòng chu chuyển này là mô hình đơn giản về nền kinh tế, nó

bỏ qua nhiều chi tiết mà đối với các mục đích khác có thể rất quan trọng Song mô hình đơn giản này cũng đủ để hiểu khái quát về cách thức tổ chức của nền kinh tế và nhận ra vai trò quan trọng của NTD đối với toàn bộ nền kinh tế Chính họ là động lực thúc đẩy việc sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ, nếu không có NTD thì sẽ không có sản xuất, không có NTD thì quá trình sản xuất không có mục tiêu Lúc đó, hàng hóa sản xuất ra không có nguồn tiêu thụ, sản xuất đình trệ, nền kinh tế sẽ dần đi vào khủng hoảng

Trên thực tế, NTD có vai trò quan trọng hơn trong cơ chế hoạt động tổng quát của nền kinh tế thị trường so với nền kinh tế chỉ huy Thậm chí, các nền kinh tế thị trường đôi khi được miêu tả như là các hệ thống thuộc "chủ quyền của NTD" vì các quyết định chi tiêu hàng ngày theo sự lựa chọn của NTD sẽ quyết định một phần lớn đến việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ gì trong nền kinh tế Nếu NTD dừng mua, hoặc nếu họ quyết định tiêu ít tiền hơn cho một sản phẩm - vì bất kỳ lý do gì - giá sẽ hạ xuống Nếu họ mua nhiều hơn, cầu tăng lên và giá sẽ tăng lên Như vậy, có thể nói chi tiêu của NTD đại diện cho nguồn cầu căn bản đối với các sản phẩm được bán trên thị trường, ảnh hưởng phân nửa đến việc xác định giả cả thị trường của hàng hóa

và dịch vụ Nửa còn lại dựa trên quyết định của các doanh nghiệp về việc sản xuất cái gì và như thế nào

NTD cũng là chủ các nguồn lực, cung cấp các nguồn lực chủ yếu: Lao động, vốn và đất đai cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp Đây là các yếu

tố không thể thiếu được cho một quá trình sản xuất Hơn nữa, những nguồn

Trang 17

lực này đều là những nguồn lực có hạn, trong đó nguồn lao động vừa là đầu vào thông thường nhất vừa là đầu vào quan trọng đối với các nền công nghiệp tiên tiến và nó càng quan trọng trong một nền kinh tế tri thức Chất lượng của nguồn nhân lực chi phối toàn bộ hành động của nền kinh tế, vì nó quyết định đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác

Ngoài ra, tác động qua lại giữa NTD và nhà sản xuất chính là tác động giữa cung và cầu là cơ sở để xác định hệ thống giá cả thị trường, lợi nhuận, thu nhập Tất cả những yếu tố này đều có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế Nếu NTD không được bảo vệ, bị thiệt hại sẽ tác động tiêu cực đến các nhân tố khác của nền kinh tế

Chính vì vậy, NTD có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe khi mau và sử dụng háng hóa của các nhà sản xuất hay kinh doanh Không những thế, họ còn có quyền yêu cầu pháp luật bảo vệ cho họ trong trường hợp hàng hóa được họ mua gây thiệt hại về tài sản cho họ, ảnh hưởng đến sức khỏe của họ hoặc môi trường sống xung quanh

1.1.2.2 Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là thực hiện công bằng xã hội

Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm sự thay đổi cả về lượng và về chất, là quá trình hoàn thiện cả về kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia Tăng trưởng và phát triển kinh

tế là những mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người thấp, muốn nhanh chóng đạt được sự tiến bộ về kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới Tất cả những tiến bộ, những tác động chuyển đổi nhanh chóng về mặt thể chế và cơ cấu cuối cùng cũng nhằm một mục đích là sao cho có thể mang lại một cách hiệu quả nhất những thành quả của tiến bộ kinh tế đến cho hầu hết các tầng lớp nhân dân của xã hội đó

Trang 18

Phát triển kinh tế luôn luôn gắn liền với công bằng xã hội Công bằng

xã hội là giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa cống hiến và hưởng thụ của mọi thành viên trong xã hội và đảm bảo mọi người dân đều có cơ hội được hưởng công bằng và không để ai phải sống dưới mức nghèo khổ

Xét trên khía cạnh kinh tế, bất kỳ chủ thể nào của nền kinh tế cũng có khả năng trở thành NTD Với một xã hội công nghiệp, NTD không thể tự sản xuất tất cả mọi hàng hóa đáp ứng mọi nhu cầu của mình, mà có sự phân công ngành nghề cao, tất yếu diễn ra quá trình mua – bán Trong mối quan hệ này, cần có sự đảm bảo công bằng Trường hợp nhà sản xuất đã được xã hội phân công sản xuất hàng hóa và dịch vụ lại kinh doanh gian dối, lừa gạt NTD hay chính các cơ quan chức năng thiếu biện pháp kiểm tra, giám sát và xử lý đối với những hành vi tiêu cực của nhà sản xuất đều có nguy cơ mang lại những tổn hại rất cao cho NTD Ngược lại, người tiêu dùng thiếu ý thức, trách nhiệm đối với việc tiêu dùng, tiếp tay cho cái xấu cũng sẽ tạo điều kiện cho các nhà sản xuất kinh doanh xấu lợi dụng, đưa ra thị trường những hàng hóa kém chất lượng, hàng nhái, hàng lậu gây cản trở cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp chân chính, phản lại quy luật cạnh tranh của thị trường

“Thực hiện bảo vệ quyền lợi NTD là đảm bảo cho NTD biết thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời kiểm tra, kịp thời xử lý những hành vi tiêu cực xâm hại đến quyền lợi của NTD Có như thế, mới đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong xã hội” [19, tr.4]

Ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền lợi NTD cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo sự công bằng trong hoạt động cạnh tranh thương mại, là điều kiện để phát triển bền vững về kinh tế, là đòi hỏi quyền lợi chính đáng cho NTD về vật chất, tinh thần sức khỏe và bảo vệ môi trường sống

Trang 19

Trên thế giới hiện nay, bảo vệ quyền lợi NTD đang là vấn đề rất quan trọng và đạo luật liên quan đến lĩnh vực này là một trong những luật quan trọng nhất vì tính áp dụng rộng rãi Và trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chính sách quốc gia về NTD luôn hướng đến mục tiêu bảo vệ sự phát triển lành mạnh cho thị trường hàng hóa, chống nạn cạnh tranh bất hợp pháp và tạo điều kiện giúp người dân được hưởng những quyền lợi chính đáng

1.2 Chính sách bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam

Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD có thể hệ thống thành hai nội dung chính là: Các văn bản quy định và các tổ chức thực hiện nhiệm vụ này

1.2.1 Các văn bản quy định chủ yếu

Trong thời đại ngày nay, với xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhiều phương thức kinh doanh hiện đại đã ra đời, phát triển và du nhập vào Việt Nam Điều đó đã tạo cho NTD nhiều sự lựa chọn hơn với sự tiện lợi ngày càng tăng

Bảo vệ NTD là một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Không chỉ tại Việt Nam, hầu hết các nước trên thế giới đều rất coi trọng công tác này bởi lẽ bảo vệ NTD chính là bảo vệ sự phát triển bền vững của xã hội Do đó, nhiều quốc gia đã sớm ban hành các đạo luật với mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD

Tại Việt Nam, ngày 27/4/1999, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về bảo vệ NTD Đây có thể coi là một bước ngoặt quan trọng trong công tác bảo vệ NTD ở nước ta cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác này

Trang 20

Là văn bản pháp luật đầu tiên về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD, về cơ bản, những quyền được quy định tại Pháp lệnh là phù hợp với 8 quyền mà Liên hợp quốc, cộng động quốc tế và Chính phủ nhiều nước thừa nhận Cụ thể, NTD có các quyền chính: Quyền lựa chọn hàng hoá, dịch vụ; được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hoá, dịch vụ; được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ và môi trường khi

sử dụng hàng hoá, dịch vụ; được hướng dẫn những hiểu biết cần thiết về tiêu dùng Quyền đòi bồi hoàn, bồi thường thiệt hại khi hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật đối với việc sản xuất, kinh doanh hàng cấm, hàng giả, hàng hoá, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng và việc thông tin, quảng cáo sai sự thật Quyền đóng góp ý kiến trong việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD; yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thực hiện đúng trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi NTD Quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá, dịch vụ thuộc nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, học tập, bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ môi trường và các hàng hoá, dịch vụ khác đã đăng ký, công bố Quyền được thành lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật

Để việc thực thi Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999 vào đời sống xã hội được hiệu quả, ngay sau khi Pháp lệnh có hiệu lực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh nói trên Sau đó, để phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh tế – xã hội đất nước đã có nhiều đổi mới, phát triển đồng thời phát sinh các vấn đề mới của hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, ngày 24/4/2008, Chính phủ đã ban

Trang 21

hành Nghị định số 55/2008/NĐ-CP thay thế cho Nghị định 69/2001/NĐ-CP Điểm đáng chú ý ở Nghị định 55 chính là quy định chi tiết về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của NTD đối với trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ

Bám sát và thích ứng với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bên cạnh Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD (1999) và hai Nghị định nói trên, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD còn được đề cập ở các mức độ khác nhau tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật như : Bộ luật Dân sự (2005), Bộ luật Hình sự (2000), Luật Thương mại (2005), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (2005), Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm (1999), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (2003), Pháp lệnh Quảng cáo (2001),… Đây là cơ sở hành lang pháp lý quan trọng để các cơ quan chức năng triển khai, thực hiện công tác bảo vệ NTD

Trước yêu cầu đưa nền kinh tế đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, thách thức, phát triển nhanh, bền vững, đồng thời giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội, tháng 7/2009, Bộ Chính trị tổ chức cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” Một trong những nhiệm vụ cơ bản thực hiện cuộc vận động là tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm; nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ; thực hiện các cam kết bảo vệ quyền lợi của NTD…

Có thể nói, qua hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD

số 13/1999/PL-UBTVQH đã giải quyết phần nào vi phạm ảnh hưỏng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NTD như sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng Tuy nhiên, việc thực thi còn nhiều bất cập, các quy định trong đó chưa đầy đủ và còn quá chung chung dẫn đến kết quả hoạt động pháp lệnh

Trang 22

còn hạn chế và hiệu quả thực thi chưa cao vì còn sơ sài, chủ yếu chỉ nêu những nguyên tắc chung mà chưa có những chế tài cụ thể trong từng trường hợp

Với bối cảnh nền kinh tế đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, mối quan hệ cung - cầu hàng hóa ngày càng gia tăng và phức tạp, vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD vì thế cũng nảy sinh nhiều khía cạnh, nội dung mới Các vụ vi phạm quyền lợi NTD ngày càng gia tăng ở mức độ báo động Hiện trạng trên đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trong lĩnh vực bảo vệ NTD, trong

đó có việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD là một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo quyền lợi của đối tượng này đồng thời góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và sự phát triển của đất nước

Từ yêu cầu thực tiễn đó, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đã được soạn thảo, hoàn chỉnh, trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp tháng 10/2010, thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999

So với Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD năm 1999, các quy định tại Luật Bảo vệ quyền lợi NTD được đánh giá là hệ thống đầy đủ hơn, cải tiến và cập nhật với tình hình đời sống xã hội và kinh tế của nước ta hiện nay Chính sách mới nhất của Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD được thể hiện rõ ở Điều 5 của Luật này Đó là: 1 Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân chủ động tham gia vào việc bảo vệ quyền lợi NTD 2 Khuyến khích tổ chức, cá nhân ứng dụng, phát triển công nghệ tiên tiến để sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ an toàn, bảo đảm chất lượng 3 Triển khai thường xuyên, đồng

bộ các biện pháp quản lý, giám sát việc tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ 4 Huy động mọi nguồn lực nhằm tăng đầu tư cơ sở vật chất, phát triển nhân lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện công

Trang 23

tác bảo vệ quyền lợi NTD; thường xuyên tăng cường tư vấn, hỗ trợ, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn kiến thức cho NTD 5 Đẩy mạnh hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm quản lý trong việc bảo vệ quyền lợi NTD

Một điểm mới quan trọng trong Luật là quy định về trách nhiệm ràng buộc đối với bên thứ 3 trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng, có thể hiểu là những đơn vị truyền thông, quảng cáo về hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh tới NTD Cụ thể, Luật quy định khá chi tiết trách nhiệm của bên thứ ba về các vấn đề như: Phải bảo đảm chính xác, đầy đủ thông tin về hàng hóa, dịch vụ cung cấp; yêu cầu tổ chức,

cá nhân kinh doanh cung cấp chứng cứ chứng minh tính xác thực và đầy đủ của thông tin Những quy định mới trong Luật không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi NTD tối đa mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp

Tựu trung lại, có thể thấy, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 thực

sự là một bước phát triển mới trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta

Nó tạo ra hành lang pháp lý cụ thể hơn, toàn diện hơn; điều này sẽ giúp việc thực thi bảo vệ quyền lợi NTD của các cơ quan chức năng và toàn xã hội trở nên đúng hướng và hiệu quả thiết thực hơn

1.2.2 Các cơ quan, tổ chức thực hiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Kinh nghiệm trong công tác bảo vệ NTD của nhiều nước trên thế giới cho thấy, vai trò của các tổ chức bảo vệ NTD là rất quan trọng, góp phần quyết định vào sự thành công của công tác này Ở nước ta, các tổ chức bảo vệ NTD ra đời tương đối sớm và góp phần rất lớn vào hoạt động bảo vệ NTD

Mới đây nhất, theo quy định tại Điều 47, Luật bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 thì Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi

Trang 24

NTD Bộ Công Thương là cơ quan có trách nhiệm chính trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Cụ thể, theo phân cấp quản lý thì Cục Quản lý cạnh tranh là cơ quan giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, trong đó có nhiệm vụ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD

và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được ban hành; phát hiện và kiến nghị cơ quan có liên quan giải quyết theo thẩm quyền về những văn bản đã ban hành có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD; tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật và các chính sách có liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD.… Bên cạnh Cục Quản lý cạnh tranh, một cơ quan khác của Bộ Công Thương cũng có vai trò quan trọng liên quan đến công tác bảo vệ quyền lợi NTD, đó là Cục Quản lý thị trường với các nhiệm vụ như thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đấu tranh chống các vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại (vi phạm quy định về chất lượng hàng công nghiệp lưu thông trên thị trường…); đấu tranh chống buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng; chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ,

vệ sinh an toàn thực phẩm và các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác trái quy định của pháp luật; xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật…

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ như: Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế,

Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Bưu chính viễn thông… trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ được giao chịu trách nhiệm phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý

Trang 25

nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương Trách nhiệm của UBND các cấp là: Ban hành hoặc trình các cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình, dự án về bảo vệ quyền lợi NTD; Quản lý hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức hoà giải, tại địa phương; Tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD theo thẩm quyền Trong phạm vi tỉnh, thành phố, Sở Công Thương là cơ quan giúp UBND tỉnh, thành phố quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD

Về phía các tổ chức phi Chính phủ, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam (VINASTAS) là tổ chức thực hiện vai trò bảo vệ quyền lợi NTD theo quy định của pháp luật Tính đến cuối năm 2010, VINASTAS có tổng cộng 38 chi hội ở 38 tỉnh, thành trên cả nước Bên cạnh đó còn có Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ Thương hiệu Việt Nam (VATAP)

Công tác bảo vệ NTD, quá trình triển khai những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD, bên cạnh sự chủ động phối hợp, thực hiện của các cơ quan, tổ chức còn có sự tham gia tích cực của chính bản thân NTD và các cơ quan thông tin đại chúng

1.3 Vai trò của báo chí với vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD, tuy là một vấn đề mới xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đất nước chuyển từ hình thái kinh tế tự cung tự cấp sang hình thái kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước nhưng luôn là vấn đề nóng hổi, nhạy cảm được mọi tầng lớp nhân dân và toàn xã hội quan tâm, theo dõi Bởi lẽ, vấn đề chi tiêu, mua sắm hàng hóa thiết yếu, diễn biến giá cả

và chất lượng của các loại hàng hóa – dịch vụ, đều là những vấn đề thiết

Trang 26

thân, liên quan đến quyền lợi cụ thể và cao hơn nữa là liên quan đến sức khỏe,

sự an toàn của người dân khi sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ

Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống

xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân Cả nước ta hiện có hơn 500 cơ quan báo chí với gần 700 ấn phẩm báo chí, cộng với mạng lưới báo điện tử, các đài phát thanh - truyền hình (PT-TH) tạo thành những kênh thông tin hết sức đa dạng, phong phú về mọi vấn đề của đời sống xã hội trong nước và quốc tế, trong đó có vấn đề bảo vệ NTD

Chúng ta biết rằng, bảo vệ quyền lợi NTD trong nền kinh tế thị trường, giao thương hàng hóa như hiện nay, chính là biểu hiện cụ thể của việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, đảm bảo công bằng xã hội, một yếu tố không những có ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn là một điều kiện quan trọng

để duy trì sự phát triển bền vững của đất nước chúng ta

Hiện nay, hầu hết các tờ báo in, báo điện tử, đài PT-TH từ trung ương đến địa phương của nước ta đều tổ chức các chuyên mục, chuyên trang, diễn đàn về vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Đặc biệt, trong những năm gần đây, sát cánh cùng NTD Việt trong công cuộc xây dựng một thế giới tiêu dùng an toàn

và minh bạch, nhiều báo đều chú trọng phát triển mạnh chuyên mục, chuyên trang về vấn đề bảo vệ NTD, làm cầu nối trực tiếp đưa tiếng nói người dân kể

cả ở thành phố lẫn, nông thôn, vùng sâu, vùng xa đến mọi doanh nghiệp và các cơ quan chức năng Nội dung truyền tải đến NTD cũng ngày càng được cải tiến phù hợp với nhu cầu của NTD [35, tr.7] Ở mảng báo in, có thể kể đến: Tạp chí NTD (Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Việt Nam); Tạp chí Hàng hóa và thương hiệu (Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ Thương hiệu VN);

chuyên mục “Bảo vệ quyền lợi NTD” của báo Lao động; “Câu lạc bộ chống

Trang 27

hàng giả và bảo vệ NTD” (SACC) của báo Sài Gòn Giải phóng; trang “Thị

trường và NTD” của báo Sài Gòn tiếp thị… Ở nhóm báo điện tử, hoạt động

khá hiệu quả là cổng thông tin điện tử www.hanghoavathuonghieu.com.vn;

chuyên mục “Bảo vệ NTD” của Vietnamnet.vn; chuyên mục “Tin & Dùng”

của báo điện tử Thời báo Kinh tế Việt Nam (VnEconomy.vn); chuyên mục

“Bảo vệ NTD”, báo điện tử VTC News… Còn ở nhóm PT– TH, đáng chú ý là chuyên mục “Hàng Việt” của Đài Truyền hình Việt Nam, mục “Thị trường –

Tiêu dùng” của kênh Thông tin kinh tế - tài chính và thị trường chứng khoán

(InfoTV) trên mạng truyền hình cáp Việt Nam VCTV; chương trình “Thị

trường 24h” – kênh VTV9 (Đài Truyền hình Việt Nam), chuyên san “Nhịp cầu sức khỏe” (kênh Truyền hình SCTV13 – Phụ nữ và gia đình - Truyền

hình cáp SAIGONTOURIST)…

Nhìn chung, vai trò của báo chí nói chung, báo in nói riêng đối với vấn

đề bảo vệ quyền lợi NTD có thể tập hợp lại trong các khía cạnh chủ yếu sau đây

1.3.1 Phản ánh thực trạng bảo vệ quyền lợi NTD trong tiến trình hội nhập quốc tế

Thực trạng bảo vệ quyền lợi NTD mà báo in nói riêng, báo chí nói chung muốn phản ánh khách quan phải dựa trên hai nguồn tư liệu chính: Từ các báo cáo chính thức, tài liệu thống kê của các cơ quan chức năng và từ chính thực tiễn hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD diễn ra trong xã hội mỗi ngày

Trước hết, chúng ta sẽ đề cập nguồn tin từ phía các tổ chức, cơ quan chức năng Không khó để thấy rằng, trong những năm gần đây, hầu hết các cơ quan chức năng có trách nhiệm về việc thực hiện bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay đều thường xuyên có nhiều hoạt động triển khai, tổng kết, báo cáo tình

Trang 28

hình hoạt động theo định kỳ hàng tháng, quý, năm Chỉ tính riêng VINASTAS, mỗi năm đều có rất nhiều hoạt động như vậy Thường kỳ nhất

có thể kể đến Đại hội theo nhiệm kỳ của Hội từ cấp Hội ở trung ương đến cấp Chi hội ở các địa phương; Hội nghị triển khai công tác, hoạt động của Hội, Chi hội diễn ra vào dịp đầu năm và Hội nghị tổng kết hoạt động sau một năm thường tổ chức vào dịp cuối năm; các chương trình tập huấn về công tác bảo

vệ quyền lợi NTD do Hội tổ chức hàng năm ở các địa phương; hội nghị tổng kết định kỳ hàng năm của các câu lạc bộ NTD như: Câu lạc bộ tiêu dùng nữ tỉnh Kiên Giang, câu lạc bộ NTD Thăng Long, câu lạc bộ chống hàng giả Bên cạnh đó là những hoạt động mang tính không định kỳ như: Các cuộc hội thảo, tọa đàm với quy mô khác nhau, chủ đề khác nhau về thực trạng và giải pháp tăng cường hoạt động bảo vệ NTD; các hoạt động, chương trình hưởng ứng ngày Quyền của NTD thế giới hàng năm (ngày 15/3) Thông qua những hoạt động, chương trình như thế, các cơ quan chức năng đã cung cấp cho báo chí một cái nhìn khá bao quát về thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của cả nước Các báo cáo, tham luận tại những chương trình đó đồng thời cũng chỉ ra những thành tựu, những hạn chế yếu kém, rút ra những bài học thành công và chưa thành công cho hoạt động bảo vệ NTD nói chung

Những tài liệu trên là hết sức cần thiết đối với những người làm báo, là

cơ sở để phục vụ công tác viết bài, đưa tin về hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, nhưng với báo chí như thế là chưa đủ Bởi vì những thông tin do cơ quan quản lý cung cấp cho báo chí là những thông tin chung nhất và có thể vẫn phiến diện và thiếu khách quan, chưa thể hiện hết thực trạng hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong xã hội

Giống như trong các lĩnh vực khác của nghề báo, “thường thì những tin bài kinh tế hay nhất lại phát xuất từ sự chủ động của phóng viên, được kích

Trang 29

thích bằng trực giác hay gợi ý từ biên tập viên, từ một cổ đông, từ một nhân viên hay một khách hàng bực tức” [42, tr.340] Chính vì vậy, báo chí nói chung, đặc biệt là báo in là phải bằng con đường riêng của mình phản ánh đúng thực trạng của xã hội nói chung, của hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD nói riêng Báo chí không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin chính thống

từ các cơ quan hữu quan trong lĩnh vực bảo vệ NTD mà còn thường xuyên cử phóng viên chuyên trách theo dõi, bám sát tình hình, hoạt động của Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD từ trung ương tới địa phương, tiếp cận những tổ chức,

cơ quan làm tốt và những cơ quan còn yếu kém, khó khăn trong hoạt động để

bổ sung thực tiễn sống động cho bài viết của mình Nhờ theo dõi có hệ thống, lại kịp thời đi sâu đi sát thực tiễn nên các tin bài phản ánh, các chuyên mục, phóng sự điều tra về thực trạng bảo vệ quyền lợi NTD trong điều kiện hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay trở nên sống động, có sức thuyết phục hơn Đặc biệt với loại hình báo in, thế mạnh tổng hợp, lưu trữ, hệ thống tốt, dễ theo dõi đã giúp báo in ngày càng khẳng định được tiếng nói quan trọng của mình trên mặt trận phản biện về mảng hoạt động này Trên thực tế, có những sáng kiến, ý tưởng mới trong việc bảo vệ quyền lợi NTD, những nỗ lực không ngừng nghỉ của một số cá nhân, tổ chức tâm huyết với công tác này… tuy không có trong những bản tham luận, diễn đàn ý kiến của bất cứ hội nghị, hội thảo chuyên ngành nào nhưng đã được báo chí phát hiện, nêu gương, tuyên truyền cổ vũ Tương tự như vậy, có những yếu kém, sai lầm, những khó khăn, những tồn tại ở địa phương này, cơ quan kia trong công tác thực thi bảo vệ quyền lợi NTD cũng không thể tìm thấy ở báo cáo sơ kết, tổng kết của các cơ quan quản lý, cũng đã được báo chí lôi ra ánh sáng, chỉ rõ nguyên nhân và tác hại của những hiện tượng đó Từ những phản ánh đúng của báo chí mà hoạt

Trang 30

động bảo vệ quyền lợi NTD cả nước đã ít nhiều khắc phục các hiện tượng trì trệ, yếu kém

1.3.2 Tuyên truyền chủ trương, định hướng bảo vệ quyền lợi NTD của Nhà nước

Cũng như các loại hình báo chí khác, tuyên truyền chủ trương định hướng của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, sự chỉ đạo của các cấp bộ, ngành, tổ chức là chức năng nhiệm vụ và tôn chỉ mục đích của báo in Luật Báo chí ghi rõ: Nhiệm vụ của báo chí là “thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; tuyên truyền phổ biến, góp phần bảo vệ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ mục đích của

cơ quan báo chí; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật

và các hiện tượng tiêu cực khác” Trong khi đó, Điều 28, Chương 3 của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 cũng nhấn mạnh: “Các tổ chức xã hội, trong

đó có báo chí, có trách nhiệm tham gia bảo vệ quyền lợi NTD bằng các hoạt động: Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và kiến thức tiêu dùng; Tham gia xây dựng pháp luật, chủ trương, chính sách, phương hướng,

kế hoạch và biện pháp về bảo vệ quyền lợi NTD”

Về phía mình, mỗi cơ quan báo chí đều có tôn chỉ mục đích của mình, chủ yếu là phục vụ nhu cầu thông tin của đối tượng mà tờ báo phục vụ Bằng các tác phẩm cụ thể, các cơ quan báo chí đã, đang ngày ngày thực hiện trách nhiệm, sứ mệnh đó một cách riêng biệt

Ngoài các văn bản chính thức được phổ biến tới các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan hữu quan và các đối tượng liên quan, báo chí nói

Trang 31

chung và báo in nói riêng, là phương tiện hữu hiệu để tuyên truyền rộng rãi trong mọi người dân Việt Nam đang sống trong, ngoài nước và cả những người nước ngoài quan tâm tới các chủ trương, chính sách, định hướng của Đảng, Nhà nước về hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD Không chỉ riêng những tạp chí, tập san chuyên ngành của VINASTAS hay Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương) mà tất cả các tờ báo của các cơ quan trung ương, bộ, ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp đều chú trọng tuyên truyền nhóm chủ trương, định hướng về vấn đề này Hàng tuần, Bộ Thông tin & Truyền thông đều phối hợp với Ban Tuyên giáo trung ương và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức giao ban báo chí, phổ biến những nội dung trọng tâm, quan trọng cần tuyên truyền trên báo chí, trong đó không thể thiếu vắng những hoạt động liên quan đến thông tin về hàng hóa – sản phẩm và tình hình bảo vệ quyền lợi NTD Tại những buổi giao ban đó, các chương trình hành động nhằm triển khai chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ đều được đại diện các tổ chức hội, cơ quan chức năng trực tiếp báo cáo và cung cấp tài liệu cho lãnh đạo các cơ quan báo chí Bên cạnh đó, các cuộc họp báo

do VINASTAS hay các cơ quan chức năng tổ chức cũng là một kênh cung cấp hữu hiệu để báo chí lĩnh hội và tuyên truyền đến người dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD

Nhờ có báo chí, trong đó có loại hình báo in, mà nhân dân được thông tin thường xuyên, chính xác những chủ trương, định hướng thực hiện hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD – một vấn đề liên quan mật thiết đến quyền lợi của mỗi người dân Với sự tuyên truyền tích cực, kịp thời của mình, báo chí nói chung và báo in nói riêng đã góp phần hiện thực hóa, cụ thể hóa chủ trương, chính sách trên trang giấy thành những hoạt động thực tiễn bảo vệ quyền lợi NTD

Trang 32

1.3.3 Ủng hộ, phản biện, tạo dư luận góp ý cải thiện tình hình bảo vệ quyền lợi NTD

Phản ánh những khía cạnh khác nhau của tình hình bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hiện nay, báo chí Việt Nam nói chung, báo in nói riêng không chỉ đi sâu đi sát thực tiễn cung – cầu, mua sắm – chi tiêu, trao đổi hàng hóa của mọi tầng lớp nhân dân đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ để đưa tin khách quan, kịp thời, cổ vũ các gương điển hình tiên tiến, phê phán lên án các hiện tượng tiêu cực, mà thực sự là cầu nối giữa thực tiễn xã hội và chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần giúp các cơ quan Nhà nước tạo nên những quyết sách mới để thực thi hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD hiệu quả hơn

Để thực hiện chủ trương, định hướng đổi mới công tác bảo vệ quyền lợi NTD, các cơ quan chức năng phải xây dựng các văn bản chỉ đạo và điều hành, các chương trình hành động trong từng chặng đường phát triển đổi mới, tham mưu cho Chính phủ ban hành các Chỉ thị, quyết định mới về mảng công tác này Trong số các văn bản soạn thảo và ban hành nói trên, hầu hết văn bản đều được các cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo đăng tải trên trang web chính thức của mình và trên các báo để xin ý kiến rộng rãi của nhân dân Những đề án đổi mới lớn, ngoài việc tổ chức các hội nghị, hội thảo để tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý về các vấn đề liên quan, những ý kiến phản biện của báo chí là vô cùng quan trọng Có những văn bản sau khi lấy ý kiến rộng rãi của công luận, phản biện của báo chí đã phải sửa chữa bổ sung khá nhiều Có những vấn đề nêu lên, sau khi tổng hợp dư luận và phản biện của báo chí, Chính phủ và những cơ quan hữu quan cũng thấy rằng chưa thể đưa vấn đề đó ra trong thời điểm này, mà phải để lại, xem xét đưa ra vào thời điểm khác

Trang 33

Như vậy, có thể thấy rằng, bất cứ một sự thay đổi về chính sách liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD, các vụ việc gian lận trong cung ứng hàng hóa ra thị trường, hay những hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD,… đều được phản ánh trên báo chí, lan truyền rất nhanh, thu hút được

sự quan tâm lớn của người dân Không những thế, các chuyên mục này đã tạo diễn đàn cho hàng triệu NTD và nhiều cơ quan chức năng lên tiếng, khiến nhiều doanh nghiệp phải rốt ráo giải quyết khiếu nại, tiếp thu góp ý về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, cung cách bán hàng và thái độ phục vụ của đơn vị mình Ở phương diện này, có thể nói, báo chí đã thực hiện rất tốt chức năng tạo diễn đàn nhân dân của mình

1.3.4 Góp phần hình thành thế giới quan mới cho NTD về việc bảo vệ quyền lợi của mình

Khía cạnh mới đáng chú ý trong vai trò của báo chí đối với vấn đề bảo

vệ quyền lợi NTD là thông qua những bài báo, tác phẩm của mình, báo chí nói chung đã cổ vũ, góp phần hình thành nên một cái nhìn mới, thế giới quan nhận thức mới cho cộng đồng NTD về quyền lợi của mình và việc bảo vệ chính những quyền lợi ấy khi sử dụng các loại hàng hóa tiêu dùng

Trước đây, ở giai đoạn nền kinh tế chưa có sự chuyển mình mạnh mẽ theo hướng thị trường có điều tiết của Nhà nước, trong quan niệm của người dân và cả doanh nghiệp thường là “bán gì dùng nấy”, nhà sản xuất tự quyết định việc sản xuất và cung ứng ra thị trường mặt hàng, sản phẩm theo ý mình NTD sử dụng, tiêu dùng hàng hóa theo kiểu thị trường có cái gì thì dùng cái

ấy Hầu như không có sự phản hồi, yêu cầu ngược trở lại của NTD đối với nhà sản xuất về chủng loại, kích cỡ, đặc điểm cần thay đổi hay cải tiến của sản phẩm, hàng hóa Mối quan hệ giữa nhà sản xuất hàng hóa đối với NTD, vì

Trang 34

thế, cũng chỉ diễn ra một chiều theo hướng chủ động, áp đặt của doanh nghiệp

Tuy nhiên, từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới đến nay, đặc biệt là trong những năm gần đây, khi thị trường cung – cầu hàng hóa trong nước ngày càng phát triển phong phú, NTD ngày càng có nhiều lựa chọn hơn đối với sản phẩm mình muốn mua, muốn sở hữu Đồng thời, diễn biến phức tạp và việc phát sinh nhiều hiện tượng hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng, uy tín, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của NTD – người mua và sử dụng hàng hóa cũng khiến yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD được đặt ra cấp bách hơn Trong hoàn cảnh mới đó, sự tham gia vào công tác bảo vệ quyền lợi NTD của báo chí thông qua các tác phẩm, bài viết cụ thể đã từng bước giúp NTD định hình được vị trí và quyền lợi chính đáng của mình trong mối quan hệ với nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa Từ những bài báo tuyên truyền, phổ biến về quyền lợi hợp pháp mà NTD được hưởng theo các quy định của pháp luật khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đông đảo NTD – những người trong cuộc bắt đầu hiểu và thay đổi quan niệm của bản thân mình đối với sản phẩm, hàng hóa và đối với nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa Bên cạnh đó, những bài báo thông tin, phản ánh

về ưu, nhược điểm của các loại hàng hóa, sản phẩm trên thị trường lại giúp người đọc – NTD nhận biết và đưa ra những yêu cầu, đề xuất đòi hỏi nhà sản xuất phải cải tiến, sản xuất hàng hóa, sản phẩm phù hợp hơn với thị hiếu, nhu cầu của NTD – người tiêu thụ sản phẩm

Nói cách khác, báo chí đã góp phần giúp NTD trở nên những NTD hàng hóa thông minh, hiểu biết được quyền lợi của mình, trách nhiệm của nhà sản xuất cũng như tự nắm bắt, lựa chọn được những loại hàng hóa, sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình mình Đây có thể gọi

là một nét văn hóa, hay biểu hiện tính văn hóa của báo chí, bởi thông qua việc

Trang 35

bảo vệ quyền lợi NTD trên các ấn phẩm, các bài báo, báo chí đã góp phần bảo

vệ quyền lợi cả về tinh thần và vật chất của NTD, của con người nói chung [34] Kết quả là, khác với thói quen “bán gì dùng nấy” thời bao cấp, NTD ngày nay đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa biết tôn trọng khách hàng và vì khách hàng nhiều hơn, đặc biệt là các mặt hàng có liên quan đến sức khỏe Những sản phẩm mập mờ về nhãn mác, chất lượng và hạn sử dụng

sẽ khó tồn tại và các doanh nghiệp, muốn có sự tin dùng của NTD cần có sự chú trọng đặc biệt đến chính sản phẩm và chất lượng dịch vụ của mình thay vì

cứ ra sức quảng cáo “lời hay, ý đẹp” Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên tâm lý mới trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất, cung cấp và NTD hàng hóa, đó là “khách hàng là thượng đế” như hiện nay chúng ta thường nghe thấy

Nhận thấy vai trò, sức mạnh của báo chí, để bảo vệ quyền lợi của NTD

về sức khỏe và chất lượng cuộc sống, Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức vì quyền lợi NTD cũng không ngừng chỉ đạo, phối hợp với các tờ báo, phương tiện truyền thông để thường xuyên cập nhật thông tin, hướng dẫn, cảnh báo nhằm bảo vệ, khuyến cáo người dân quan tâm hơn đến quyền lợi tiêu dùng của chính mình Đồng thời nhắc nhở các doanh nghiệp nên học cách

vì NTD trước khi nghĩ đến lợi nhuận của mình như một phần không thể thiếu trong đạo đức kinh doanh và cũng có thể nói giống như một chiến lược kinh doanh hiệu quả cần chú trọng

Điển hình trong những hoạt động như vậy có thể kể đến việc hàng loạt

tờ báo tham gia đưa tin, phản ánh, tuyên truyền về cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” do Bộ Chính trị phát động từ tháng 7/2009 Một trong những nhiệm vụ cơ bản thực hiện cuộc vận động là tuyên truyền, vận động các doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm; nâng

Trang 36

cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ; thực hiện các cam kết bảo vệ quyền lợi của NTD; xây dựng được thương hiệu quốc gia cho nhiều sản phẩm, hàng hóa Việt Nam… Và báo chí, với tư cách là cơ quan ngôn luận của các cơ quan, tổ chức xã hội đồng thời là diễn đàn của mọi tầng lớp nhân dân, đã tham gia nhiệt tình và hiệu quả trong cuộc vận động này Hàng loạt bài báo, tác phẩm cùng những đợt tuyên truyền, phổ biến có trọng điểm về những khía cạnh khác nhau của cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trên khắp các mặt báo từ thời điểm được phát động tháng 7/2009 đến nay đã thực sự trở thành đợt học tập, rèn luyện chính trị - xã hội mới trong cộng đồng nhân dân, doanh nghiệp và xã hội nói chung

Tựu trung lại, báo chí đã cùng lúc thực hiện được hai mục tiêu mang ý nghĩa xã hội – nhân văn to lớn, đó là: Vừa khuyến khích NTD tăng cường sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước như một hành động cụ thể của tinh thần yêu nước trong thời đại mới; vừa khích lệ, cổ vũ các doanh nghiệp chân chính trong nước đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh những sản phẩm, hàng hóa chất lượng phục vụ nhu cầu đời sống của NTD

Trang 37

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, tác giả luận văn nêu ra hệ thống một số quan điểm cơ bản về thế nào là NTD, thế nào là bảo vệ quyền lợi NTD; Quan hệ giữa tiêu dùng và phát triển kinh tế, vai trò của NTD đối với tăng trưởng kinh tế trên bình diện thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Luận văn đồng thời nêu bật ý nghĩa xã hội – nhân văn của hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD trong từng giai đoạn, thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thông qua việc luận chứng “Bảo vệ quyền lợi NTD là thực hiện công bằng xã hội”

Ở Chương này, Luận văn cũng khái quát về hệ thống chính sách bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta từ trước đến nay, thông qua hai khía cạnh chủ yếu là: Các văn bản quy định chủ yếu về bảo vệ quyền lợi NTD và các cơ quan, tổ chức thực hiện bảo vệ quyền lợi NTD

Một nội dung đáng chú ý khác trong Chương này là Luận văn hệ thống

và luận chứng những vai trò chủ yếu của báo chí đối với bảo vệ quyền lợi NTD trong điều kiện, tình hình đất nước hiện nay Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh vai trò góp phần hình thành nên thế giới quan nhận thức mới của NTD

và cả cộng đồng doanh nghiệp về việc sử dụng hàng hóa, sản phẩm và việc bảo vệ những quyền lợi chính đáng của NTD khi sử dụng các loại hàng hóa, dịch vụ Đây chính là điểm nhấn mới đáng chú ý trong ý tưởng triển khai đề tài không quá cũ nhưng cũng không hoàn toàn mới của Luận văn này

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN LỢI

NGƯỜI TIÊU DÙNG TRÊN BÁO CHÍ

Liên quan đến quyền lợi thiết thực của mỗi người dân, mỗi gia đình trong xã hội nên không khó để nhận thấy hầu như các tờ báo in hiện nay đều dành sự quan tâm đáng kể đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD Trong số đó,

sự phản ánh trên ấn bản báo in của ba tờ báo: Lao động, Thanh niên và Sài

Gòn tiếp thị, tuy mức độ và góc nhìn khác nhau nhưng đều nêu bật được thực

trạng bảo vệ quyền lợi NTD ở nước ta và sự cải tiến, thay đổi trong chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước về vấn đề này

2.1 Khái quát về ba tờ báo lựa chọn khảo sát

Báo Lao động - cơ quan ngôn luận của Tổng liên đoàn Lao động Việt

Nam, diễn đàn của những người lao động về các vấn đề lao động, công đoàn,

việc làm và các vấn đề chính trị - xã hội khác Báo Lao động thành lập năm

1959 đến nay đã hơn 50 năm xây dựng và phát triển Là tờ báo khổ lớn, ra hàng ngày với số lượng phát hành trung bình khoảng 300.000 bản/kỳ, nhằm đối tượng là cán bộ, đoàn viên công đoàn và đông đảo người lao động cả nước

Báo Lao động là tờ báo từ lâu đã có uy tín về nghiệp vụ làm báo hiện

đại và thông tin nhanh nhạy, chính xác với những hoạt động xã hội từ thiện

rất rộng rãi và hiệu quả Từ năm 2001, báo Lao động được phép ra báo điện

tử - laodong.com.vn cập nhật thông tin hàng ngày, hàng giờ phục vụ bạn đọc

Báo Thanh niên: Là cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thanh niên

Việt Nam, cùng với báo Tiền phong, báo Thanh niên là một trong những diễn đàn quan trọng của lực lượng đoàn viên, thanh niên đông đảo ở nước ta hiện nay

Trang 39

Báo Thanh niên phát hành số đầu tiên ngày 3/01/1986 với tên gọi ban

đầu là Tuần tin Thanh niên Hiện nay, nhật báo Thanh niên là là một trong những tờ báo có số lượng phát hành lớn nhất Việt Nam với 300.000 bản/ngày (có thời điểm phát hành hơn 400.000 bản/ngày) Với số lượng phát hành lớn,

Thanh niên cũng là một tờ báo có dung lượng thông tin về mọi mặt của thời

sự kinh tế - đời sống xã hội trong và ngoài nước được cập nhật hàng ngày

Bên cạnh đó, báo còn có nhiều ấn phẩm phụ khác như: Thanh niên tuần san, Thanh niên thể thao & giải trí, Thanh niên online tiếng Việt (thanhnien.com.vn), Thanh niên online tiếng Anh (thanhniennews.com.vn) Ngoài hoạt động báo chí, báo Thanh Niên còn tổ chức nhiều hoạt động văn hóa xã hội như: Chương trình ca nhạc Duyên dáng Việt Nam, giải vô địch bóng đá U21 Việt Nam, Quỹ học bổng Nguyễn Thái Bình trao hàng năm cho những học sinh nghèo học giỏi

Báo Sài Gòn tiếp thị: Là cơ quan của Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư TP.Hồ Chí Minh, báo Sài Gòn tiếp thị hiện là một trong những tờ báo

chuyên về kinh tế - thương mại – tiếp thị hàng đầu Việt Nam Đối tượng phục

vụ chính của Sài Gòn tiếp thị chính là NTD hàng hóa nói chung, báo đồng thời là cầu nối kết nối thông tin hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ ở mọi lĩnh vực khác nhau giữa nhà sản xuất, doanh nghiệp với NTD

Báo phát hành 3 lần/tuần, vào thứ Hai, Tư, Sáu, khổ A3; bên cạnh đó, báo còn có các ấn phẩm phụ là: tạp chí Kiến trúc & đời sống, Sài Gòn tiếp thị chuyên san đều phát hành hàng tháng và Sài Gòn tiếp thị online (www.sgtt.com.vn) Ngoài ra, báo cũng trực tiếp tham gia lĩnh vực kinh doanh – dịch vụ với mạng lưới siêu thị Sài Gòn tiếp thị khá phổ biến tại địa bàn TP.Hồ Chí Minh

Trang 40

2.2 Nội dung phản ánh vấn đề bảo vệ NTD trên ba tờ báo trong thời gian khảo sát

Là vấn đề được đông đảo người dân quan tâm hàng ngày, hàng giờ nên

có thể nói, đặc thù mảng thông tin tuyên truyền về bảo vệ quyền lợi NTD của báo chí nói chung, trong đó có ba tờ báo mà Luận văn lựa chọn khảo sát, là liên tục, thường xuyên và có tính hệ thống qua từng số báo, từng tuần, từng tháng, từng quý trong năm Đặc biệt, trong những dịp cao điểm của hoạt động tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ như: Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (15/4 – 15/5 hàng năm) mảng thông tin này còn được chú trọng, đầu tư hơn nữa

Một đặc thù khác về mặt nội dung thông tin bảo vệ quyền lợi NTD trên báo chí là, qua mỗi năm, dù vẫn là từng đó chủ đề, vấn đề cũ, đã tồn tại rất lâu trong đời sống xã hội nhưng các tờ báo luôn thông tin, chuyển tải kịp thời đến độc giả - những NTD về các khía cạnh mới, hiện tượng mới của mọi vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD hiện nay

Từ những đặc thù nói trên và từ việc tổng hợp, phân tích các số báo của

ba tờ báo: Lao động, Thanh niên và Sài Gòn tiếp thị trong thời gian từ tháng

01/2008 đến tháng 12/2010, Luận văn trình bày phần Nội dung thành ba tiểu mục chính gồm: Tuyên truyền chống hàng giả, hàng gian, hàng kém chất lượng; Phản ánh thực trạng vi phạm pháp luật ảnh hưởng quyền lợi NTD; Đề xuất, góp ý cải tiến chính sách, chủ trương bảo vệ quyền lợi NTD

Sự phân chia này chỉ là tương đối nhằm mục đích làm rõ mục tiêu, định hướng nghiên cứu của Luận văn, còn trong thực tế, những khía cạnh khác nhau của vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD trên báo chí luôn gắn kết, liên hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII (2001), Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII
Năm: 2001
2. Ban Chỉ đạo 127/TW (2010), Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 10 năm đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả cụm các tỉnh phía Bắc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tại Hội nghị tổng kết 10 năm đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả cụm các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Ban Chỉ đạo 127/TW
Năm: 2010
3. Bộ Chính trị khóa VIII (1997), Chỉ thị số 22/CT/TW ngày 17/10/1997 về tiếp tục đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 22/CT/TW ngày 17/10/1997 về tiếp tục đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí xuất bản
Tác giả: Bộ Chính trị khóa VIII
Năm: 1997
4. Bộ Chính trị khóa X (2009), Thông báo Kết luận số 264-TB/TƯ ngày 31/7/2009 về tổ chức Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo Kết luận số 264-TB/TƯ ngày 31/7/2009 về tổ chức Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
Tác giả: Bộ Chính trị khóa X
Năm: 2009
5. Phạm Đăng Binh, Nguyễn Văn Lập (1995), Từ điển kinh tế, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế
Tác giả: Phạm Đăng Binh, Nguyễn Văn Lập
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
6. Chính phủ khóa X (2001), Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ khóa X
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Dững - chủ biên (2006), Tác phẩm báo chí, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững - chủ biên
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2006
9. Hà Minh Đức - chủ biên (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức - chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
10. Vũ Quang Hào (2009), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Thông tấn
Năm: 2009
11. Nguyễn Quang Hòa (2002), Phóng viên và tòa soạn, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng viên và tòa soạn
Tác giả: Nguyễn Quang Hòa
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
12. Hội Nhà báo Việt Nam (1992), Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp và công việc của nhà báo
Tác giả: Hội Nhà báo Việt Nam
Năm: 1992
13. Nguyễn Quốc Hùng, MA (2006), Từ điển Tiếng Anh thương mại, Nxb Văn hóa Sài Gòn, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Anh thương mại
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng, MA
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006
14. Đinh Văn Hường (2006), Các thể loại báo chí thông tấn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
15. Đinh Văn Hường (2007), Tổ chức và hoạt động của toà soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động của toà soạn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
16. Phạm Thành Hưng (2007), Thuật ngữ Báo chí - truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Báo chí - truyền thông
Tác giả: Phạm Thành Hưng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
17. Nguyễn Xuân Lãn, Phạm Thị Lan Hương, Đường Thị Liên Hà (2010), Hành vi người tiêu dùng, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi người tiêu dùng
Tác giả: Nguyễn Xuân Lãn, Phạm Thị Lan Hương, Đường Thị Liên Hà
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2010
18. Mai Quỳnh Nam (2001), Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội
Tác giả: Mai Quỳnh Nam
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Nguyễn Tuấn Nghĩa, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong điều kiện hiện nay, www.trieufile.vn, 11/5/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong điều kiện hiện nay
20. Phân viện Báo chí và tuyên truyền (2001), Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn
Tác giả: Phân viện Báo chí và tuyên truyền
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2001
21. Trần Quang (2005), Các thể loại báo chí chính luận. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí chính luận
Tác giả: Trần Quang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT - Báo chí với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Khảo sát các báo lao động,Thanh niên, Sài Gòn tiếp thị 2008 - 2010
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm