Nghiên cứu cấu tạo, phương thức định danh và ý nghĩa của các yếu tố cũng như những qui luật biến đổi trong sự tương tác với văn hoá của địa danh nói chung và của địa danh thành phố Thái
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Hoàng Thị Đường
KHẢO SÁT ĐỊA DANH
Ở THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN - NĂM 2008
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM HÙNG VIỆT
THÁI NGUYÊN - NĂM 2008
Trang 2MỤC LỤC
Mục lục 1
Lời nói đầu 4
Danh mục qui ước chữ viết tắt 5
Danh mục bảng biểu 6
Bản đồ hành chính thành phố Thái Nguyên 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lí do chọn đề tài 8
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 9
5 Lịch sử vấn đề 10
6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài 14
7 Cấu trúc của luận văn 15
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 16
1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học 16
1.1.1 Khái niệm địa danh 16
1.1.2 Khái niệm địa danh học 18
1.2 Chức năng và phân loại địa danh 18
1.2.1 Chức năng của địa danh 18
1.2.2 Phân loại địa danh 19
1.2.3 Vấn đề đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu địa danh 24
1.3 Địa danh thành phố Thái Nguyên - những vấn đề liên quan 25
1.3.1.Vị trí địa lí 25
1.3.2 Lịch sử 26
1.3.3 Dân cư, dân tộc 29
1.3.4 Ngôn ngữ, chữ viết, văn hoá 30
1.4 Địa danh thành phố Thái Nguyên - kết quả thu thập và phân loại 32
1.4.1 Kết quả thu thập 32
1.4.2 Phân loại 33
Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ Ý NGHĨA ĐỊA DANH THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 42
2.1 Đặc điểm cấu trúc 42
2.1.1 Khái niệm cấu trúc 42
2.1.2 Mô hình cấu trúc địa danh ở thành phố Thái Nguyên 42
2.1.2.1 Về mô hình cấu trúc phức thể địa danh 42
2.1.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở thành phố Thái Nguyên 44
2.1.3 Về thành tố chung 46
2.1.3.1 Khái niệm thành tố chung 46
2.1.3.2 Thành tố chung trong địa danh thành phố Thái Nguyên 47
2.1.4 Về tên riêng 57
2.1.4.1 Khái niệm tên riêng 57
2.1.4.2 Đặc điểm tên riêng trong phức thể địa danh ở thành phố Thái Nguyên 57
2.2 Ý nghĩa địa danh thành phố Thái Nguyên 70
2.2.1 Vấn đề ý nghĩa được phản ánh trong địa danh 70
2.2.2 Các nhóm ý nghĩa được phản ánh trong địa danh 71
2.2.2.1 Địa danh chỉ hình dáng, kích thước đối tượng 71
2.2.2.2 Địa danh chỉ phương hướng, vị trí đối tượng 72
2.2.2.3 Địa danh chỉ nghề nghiệp và sản phẩm kinh tế đặc trưng của địa phương 72
2.2.2.4 Địa danh mang tên người 72
2.2.2.5 Địa danh chỉ số 73
2.2.2.6 Địa danh chỉ đặc trưng, tính chất đối tượng 73
Trang 32.2.2.7 Địa danh chỉ tâm lí, nguyện vọng 73
2.2.2.8 Địa danh phản ánh tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống văn hoá tâm linh 74
Tiểu kết 75
CHƯƠNG 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ THỂ HIỆN TRONG ĐỊA DANH THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 76
3.1 Một số vấn đề về ngôn ngữ - văn hóa 76
3.1.1 Khái niệm văn hoá 76
3.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá 77
3.2 Một số đặc điểm văn hoá thể hiện trong địa danh 79
3.2.1 Các dạng tồn tại của văn hoá được thể hiện trong địa danh 79
3.2.1.1 Đặc điểm văn hoá trong địa danh thành phố Thái Nguyên qua hiện tượng phản ánh sự tồn tại của các di sản vật thể 79
3.2.1.2 Đặc điểm văn hoá trong địa danh thành phố Thái Nguyên qua hiện tượng phản ánh sự tồn tại của các di sản phi vật thể 79
3.2.2 Sự thể hiện các phương diện văn hoá trong địa danh thành phố Thái Nguyên 83
3.2.2.1 Sự thể hiện các phương diện văn hoá sinh hoạt 83
3.2.2.2 Sự thể hiện các phương diện văn hoá sản xuất 84
3.2.2.3 Sự thể hiện các phương diện văn hoá vũ trang 84
Tiểu kết 86
KẾT LUẬN 87
Danh mục công trình đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn 89
Tài liệu tham khảo 90
Phụ lục ảnh 94
Phụ lục các địa danh sắp xếp theo tần số từ cao xuống thấp theo tiêu chí tự nhiên, không tự nhiên 96
LỜI CẢM ƠN Được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Thái Nguyên anh hùng là niềm tự hào lớn của chúng tôi Nay lại được tìm hiểu đôi nét về hệ thống địa danh trên địa bàn, chúng tôi như có dịp may để bày tỏ tấm lòng biết ơn, sự thành kính của mình đối với quê hương Để hoàn thành luận văn, chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Phạm Hùng Việt, người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài khoa học này, cảm ơn sự giúp đỡ của các Thầy, Cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, Khoa Sau đại học, trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và các thầy cô giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND, Thành uỷ, các cơ quan thuộc Sở văn hoá Thông tin, Uỷ ban Nhân dân các Phường, Xã, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ chúng tôi có những tư liệu để hoàn thành Luận văn này
Tác giả
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
C G Phường Cam Giá
Đ Q Phường Đồng Quang
G S Phường Gia Sàng
H S Phường Hương Sơn
H V T Phường Hoàng Văn Thụ
Q Triều Phường Quan Triều
Q Trung Phường Quang Trung
Q V Phường Quang Vinh
T Cương Xã Tân Cương
Trang 5BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nghiên cứu địa danh là một trong những lĩnh vực rất quan trọng và
cần thiết trong ngôn ngữ học truyền thống cũng như ngôn ngữ học hiện đại
Nó không chỉ làm sáng tỏ những đặc điểm, những qui luật nội bộ của địa danh, góp phần vào nghiên cứu ngôn ngữ ở một vùng miền, một đất nước mà còn có ý nghĩa liên quan đến một số vấn đề khác, đặc biệt là mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá Nghiên cứu cấu tạo, phương thức định danh và ý nghĩa của các yếu tố cũng như những qui luật biến đổi trong sự tương tác với văn hoá của địa danh nói chung và của địa danh thành phố Thái Nguyên nói riêng
là hướng đến những ý nghĩa, những giá trị trên
1.2 Nghiên cứu địa danh giúp ta thấy được sự biểu đạt khác nhau của
ngôn ngữ về vốn từ Hiểu biết một cách thoả đáng vốn từ về nhiều mặt nhất là
về phương diện cấu tạo, ngữ nghĩa, từ đó có được nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ và văn hoá của dân tộc Mặt khác nghiên cứu sâu vốn từ về địa danh sẽ góp phần tìm hiểu sâu hơn về địa phương trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là về sự phát triển của ngôn ngữ và văn hoá
1.3 Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội của tỉnh Thái Nguyên Nơi đây đã ghi biết bao dấu ấn văn hoá, lịch sử của đất nước Là người bản địa, được sinh ra, lớn lên và hiện đang làm việc tại địa phương, chúng tôi mong muốn tìm hiểu các địa danh vùng đất quê hương mình về các các mặt: cấu tạo, ý nghĩa, phương thức đặt tên và chỉ ra những đặc trưng văn hoá, lịch sử, địa lí, dân cư của vùng, do vậy chúng tôi chọn đề
tài: "Khảo sát địa danh ở thành phố Thái Nguyên" làm đề tài để thực hiện
luận văn của mình
Trang 62 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Qua việc nghiên cứu hệ thống địa danh của người Việt trên địa bàn thành
phố Thái Nguyên, luận văn hướng tới việc tìm ra quy luật cơ bản cũng như
những nét đặc thù về cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc, phương thức định danh, và
mối quan hệ với các nhân tố lịch sử, địa lí, văn hoá của hệ thống địa danh
thành phố Thái Nguyên
2.2 Nhiệm vụ
2.2.1 Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết về địa danh
2.2.2 Điều tra, khảo sát các địa danh trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
2.2.3 Phân tích, miêu tả hệ thống địa danh về các mặt: cấu tạo, ý nghĩa,
phương thức định danh, v.v
2.2.4 Chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá qua hệ thống địa danh trên địa
bàn thành phố Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danh trên địa bàn
thành phố Thái Nguyên
3.2 Với nhiệm vụ trọng tâm là khảo sát địa danh trên địa bàn thành phố
Thái Nguyên, chúng tôi tập trung khảo sát các địa danh đang tồn tại trên địa
bàn (có chú ý đến một số địa danh đã có trước đây) Riêng lớp từ ngữ chỉ tên
gọi: công ty, xí nghiệp, cơ quan không được chúng tôi đưa vào đối tượng
khảo sát vì xuất phát từ quan niệm và hướng nghiên cứu của luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương pháp
Để thực hiện được mục đích đã nêu, luận văn vận dụng các phương pháp:
4.1.1 Điều tra, điền dã, khảo sát các địa danh đang tồn tại
4.1.2 Thống kê định lượng, so sánh - đối chiếu
4.1.3 Phân tích, miêu tả hệ thống địa danh về các mặt cấu tạo, ý nghĩa,
phương thức định danh
Trong đó phương pháp sử dụng chủ yếu là phân tích tổng hợp tư liệu,
miêu tả để lí giải những vấn đề có liên quan, đưa ra nhận định đánh giá và kết luận theo mục đích nghiên cứu đã xác định
- Bản đồ, tranh, ảnh các loại khi cần để so sánh đối chiếu với các địa danh trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Sau khi khảo sát, thu thập tư liệu, chúng tôi tiến hành sắp xếp, thống kê, phân loại địa danh theo những hệ thống khác nhau (cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc và phương thức định danh) để phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ của đề tài Khi cần thiết, có đối chiếu, so sánh với địa danh ở Hải Phòng, Quảng Trị, Nghệ An để làm nổi bật những nét đặc trưng riêng của địa danh thành phố Thái Nguyên
5 Lịch sử vấn đề
5.1 Trên thế giới
Là một bộ môn của ngôn ngữ học, địa danh học chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến địa danh như: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cách thức đặt tên
và sự biến đổi của các địa danh Việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu ở
cả phương Đông và phương Tây Tuy nhiên, địa danh học được coi là một bộ
Trang 7môn khoa học thực sự, có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ phương pháp,
nguyên tắc nghiên cứu riêng, có hệ thống lí thuyết riêng, theo các nhà nghiên
cứu, chỉ thực sự bắt đầu vào thế kỉ 19 ở Tây Âu
Vấn đề nguồn gốc, ngữ nghĩa của các địa danh thường được các nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu và họ coi đây là những vấn đề trung tâm, quan trọng
Khi nghiên cứu về địa danh lịch sử văn hoá du lịch và thương mại Hoà
Bình, các nhà nghiên cứu đã viết: “Cuộc tranh luận của họ thường xoay quanh
hai nội dung: một là, địa danh cũng như tên riêng, có nghĩa hay không có
nghĩa, nếu có thì biểu hiện ngữ nghĩa của nó ra sao, liên quan đến những
thành tố nào; hai là, địa danh được hình thành do ai, thần thánh hay con người
là chủ thể của nó Tuy nhiên, sự bàn luận của họ thường được nhìn nhận và
xem xét từ góc độ bản thể luận (ontology) nhưng đã có một số điều chỉnh, họ
thường hướng đến góc độ quy chiếu trong lí thuyết quy chiếu (reference
theory), ví dụ như John R Searle, Keith Dounellan Những bàn luận như vậy
xuất hiện nhiều ở các nhà triết học cổ đại như Socrates, Platon Ngoài ra, ở
Trung Quốc có rất nhiều người đã tiến hành công tác ghi chép, sưu tập, tổng
hợp và phần nào đó giải thích cách đọc, ngữ nghĩa của địa danh Ví dụ như:
Ban Cố đời Đông Hán (32- 92) đã sưu tập và ghi chép đến 4000 địa danh
trong Hán Thư ; sách Thuỷ kinh chú đời Bắc Ngụy (380- 535) đã đề cập đến
hơn 2 vạn địa danh
Các công trình về địa danh và liên quan đến địa danh sau đó thường là
những công trình sưu tầm, tập hợp các địa danh lại với tư cách là những cuốn
sổ tay, những cuốn từ điển địa danh
Đến cuối thế kỉ 19, ngành địa danh học chính thức ra đời ở Châu Âu Các
công trình thời kì này đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề lí thuyết, nguồn gốc,
diễn biến, sự lan toả và sản sinh của địa danh Cũng vào cuối thế kỉ 19, đầu
thế kỉ 20 đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về địa danh có tính chất lí
luận cao, có giá trị như: Từ và các địa điểm, hay, sự minh hoạ có tính nguyên lai về lịch sử, dân tộc học và địa lí học của Issac Taylor (1864); Địa danh học của J.J Eghi (1872); Địa danh học của J.W Nagh (1903)
Vào đầu thế kỉ 20, hàng loạt công trình nghiên cứu địa danh theo hướng
lí thuyết, thực hành hoặc cả hai hướng đã ra đời Càng về sau, trong các công trình nghiên cứu, các tác giả càng cố gắng xây dựng một hệ thống lí thuyết địa
danh học Ví dụ: Atlat ngôn ngữ Pháp của J Gilenon; Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh của tác giả A Dauzat; Địa danh học, kho trí thức, các qui tắc và ngôn ngữ của các tên địa lí của Naftali Kadmon Nhiều cuộc hội thảo
được tổ chức ở Mỹ, Anh và các tổ chức nghiên cứu về địa danh có tính chất quốc gia, quốc tế được thành lập Năm 1890, 1902, lần lượt thành lập Uỷ ban địa danh Mỹ, Uỷ ban địa danh Thuỵ Điển và ở Đức năm 1925 đã có tạp chí chuyên ngành Nghiên cứu địa danh ”[47, tr.16-17]
Bên cạnh đó, trong công trình nghiên cứu của mình, Từ Thu Mai đưa ra nhận định: “Các nhà khoa học Xô Viết như N I Niconov; E M Muraev;
A V Superanskaja là những người tiên phong trong lĩnh vực xây dựng một
hệ thống lí luận về lí thuyết địa danh Trong đó, đáng chú ý là A V
Superanskaja với Địa danh là gì ?, tác phẩm đã đi sâu vào vấn đề nhận diện
và phân tích địa danh Ngoài việc đưa ra cách hiểu về khái niệm địa danh, tác giả này còn đề cập đến tính liên tục của tên gọi, không gian tên riêng và các loại địa danh cũng như tên gọi các đối tượng địa lí theo loại hình Có thể nói, đây là công trình lớn có giá trị tổng kết những kết quả nghiên cứu mới, làm cơ
sở vững chắc cho việc nghiên cứu địa danh tiếp theo ở Liên bang Xô Viết trước đây” [27, tr.11-12]
Ngày nay, địa danh học ngày càng thu hút mạnh mẽ các nhà nghiên cứu
thuộc nhiều ngành khác nhau, nhất là các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là những người làm công tác chính sách ngôn ngữ, những người làm công tác bản đồ,
Trang 8những người nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc, nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ
Các tổ chức nghiên cứu về địa danh ngày càng được thành lập nhiều hơn Mặt
khác, đối tượng, tính chất, phương pháp nghiên cứu của ngành địa danh học
cũng ngày càng được mở rộng cả về hệ thống lí thuyết và thực tiễn
5.2 Ở Việt Nam
Cùng với xu hướng phát triển của ngôn ngữ học, đặc biệt là của địa danh
học trên thế giới, vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam cũng đã có từ lâu
nhưng mới chỉ đề cập tới góc độ địa lí - lịch sử, địa chí nhằm tìm hiểu đất
nước, con người Phải đến những năm 60 của thế kỉ trước, các vấn đề nghiên cứu
địa danh và lí luận về địa danh học mới được quan tâm một cách đích thực
Một số tác giả như Đào Duy Anh, Hoàng Thị Châu, Phạm Đức Dương,
Trần Trí Dõi, Lê trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai đã vận dụng
nhiều tri thức, phương pháp của ngôn ngữ học so sánh lịch sử vào trong
nghiên cứu địa danh Nhiều kết luận của họ rút ra có tính chất liên ngành cao,
được nhiều ngành sử dụng, tham chiếu
Hoàng Thị Châu được xem là người đầu tiên nghiên cứu địa danh dưới
góc nhìn của ngôn ngữ học với bài viết Mối liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở
Đông Nam Á qua một vài tên sông (1964) Lê Trung Hoa khi nghiên cứu Địa
danh ở Thành phố Hồ Chí Minh (1991) đã đưa ra những cơ sở lí thuyết để
phân tích và chỉ ra những đặc điểm cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi
của địa danh Đến năm 1996, với luận án Những đặc điểm chính của địa
danh Hải Phòng, Nguyễn Kiên Trường đã bổ sung một số vấn đề lí thuyết
địa danh mà Lê Trung Hoa đã đưa ra trước đó Đặc biệt, luận án khái quát
được những đặc điểm về cấu tạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi của địa
danh Hải Phòng trong sự so sánh với địa danh các vùng khác ở Việt Nam
Tiếp đó, nhằm góp phần cho sự đa dạng của các khuynh hướng, các
phương pháp nghiên cứu địa danh, tác giả Trần Trí Dõi đã công bố một số bài
viết về địa danh theo khuynh hướng so sánh - lịch sử Đó là các bài viết Về
địa danh Cửa Lò (2000); Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa (2000); Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam) (2001) và Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam: một vài nhận xét và những kiến nghị (2001)
Nếu như các tác giả trên nghiên cứu địa danh theo kiểu tiếp cận ngôn ngữ học xuất phát từ chính bản thân đối tượng địa danh thì công trình nghiên
cứu Một số vấn đề địa danh học Việt Nam (2000) của Nguyễn Văn Âu lại
theo hướng tiếp cận địa lí - lịch sử - văn hoá Gần đây nhất là hai luận án Tiến
sĩ tìm hiểu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ của Từ Thu Mai với Nghiên cứu địa danh Quảng Trị (2004) và Phan Xuân Đạm với Khảo sát các địa danh ở Nghệ An (2005) Ngoài ra, còn có khá nhiều luận văn Thạc sĩ của các học viên
ở các trường Đại học khi tìm hiểu địa danh ở các huyện, thị xã, thành phố Như vậy, có thể thấy rằng các khuynh hướng nghiên cứu địa danh ở Việt Nam là rất phong phú và đa dạng Chính vì thế mà chúng ta có thể nhìn nhận địa danh ở những khía cạnh khác nhau Và điều quan trọng là để làm sáng tỏ vấn đề địa danh, sự tiếp cận liên ngành là rất cần thiết
5.3 Ở Thái Nguyên
Cho đến nay, chưa có một công trình thật sự chuyên sâu nào nghiên cứu địa danh thành phố Thái Nguyên dưới góc độ ngôn ngữ Hiện nay, ở Thái Nguyên mới chỉ có công trình Địa chí Thái Nguyên đang dần hoàn chỉnh và
đi vào in ấn Do đó, nghiên cứu địa danh thành phố Thái Nguyên dưới góc độ ngôn ngữ là hướng tiếp cận mới, cũng qua đó cho phép ta nhận diện được đặc trưng văn hoá, yếu tố lịch sử, địa lí của địa phương
6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của đề tài 6.1 Trước đây đã có những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khảo cứu địa
danh ở những vùng khác nhau như TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nghệ An,
Trang 9Quảng Trị và các vùng khác Luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát địa
danh thành phố Thái Nguyên về cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc, phương thức
định danh và sự biến đổi của nó cũng như mối quan hệ của địa danh với văn hoá
6.2 Luận văn mô tả bức tranh tổng thể về hệ thống địa danh ở thành phố
Thái Nguyên Những tư liệu và kết quả có được trong luận văn có thể sẽ là sự
chuẩn bị để xây dựng Từ điển địa danh thành phố Thái Nguyên
6.3 Luận văn thống kê và trình bày hệ thống địa danh ở 26 xã, phường
thuộc thành phố Thái Nguyên Tìm, phân tích những địa danh tiêu biểu cho
các đối tượng địa lí, tự nhiên và nhân văn ở địa bàn
6.4 Từ góc độ địa danh học, đề tài góp phần tìm hiểu các mặt địa lí, lịch
sử, văn hoá của thành phố Thái Nguyên
7 Cấu trúc của luận văn
Theo mục đích, nhiệm vụ đã được xác lập, ngoài phần mở đầu, kết luận,
luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung
Chương 2: Đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa địa danh thành phố Thái Nguyên
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá thể hiện qua địa danh thành phố
Thái Nguyên
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái niệm địa danh và địa danh học
1.1.1 Khái niệm địa danh
Tuỳ theo mục đích, qui ước nhất định trong từng hoàn cảnh, không gian
cụ thể mà con người khi đã nhận thức, nhận diện về bất kì một thực thể nào trong thế giới thực tại cũng đều gọi tên và đặt tên Do đó, có thể nói nhu cầu đặt tên, gọi tên là một nhu cầu thường trực, tất yếu và quan trọng của con người Tên đất, tên sông, tên núi, tên biển, tên suối, tên đường phố đều là những địa danh Một địa danh, xét về mặt lôgíc học, tương đương với một khái niệm; xét về mặt ngôn ngữ, địa danh được cấu tạo là từ hoặc cụm từ Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có cấu tạo gồm hai bộ phận topos (địa điểm, vị trí) và omoma/ onyma (tên gọi) [18, tr.11] Như vậy,
ý nghĩa chung nhất của thuật ngữ này là "tên gọi điểm địa lí"
Khái niệm địa danh cần được hiểu theo đúng phạm vi xuất hiện của nó
Nếu hiểu theo lối chiết tự thì địa là đất, danh là tên, vậy địa danh tức là tên
đất Tuy nhiên, khái niêm này cần phải được hiểu ở mức độ rộng hơn, khái quát hơn vì đây là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học Cụ thể, địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí gắn với từng vùng đất cụ thể mà là tên gọi của tất cả các đối tượng địa lí tồn tại trên trái đất Nó có thể
là tên gọi của các đối tượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lí cư trú hay là công trình do con người xây dựng, tạo lập nên
Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong từ vựng của một ngôn ngữ, được dùng
để đặt tên, gọi tên các đối tượng địa lí Vì vậy, nó hoạt động và chịu sự tác động, sự chi phối của các qui luật ngôn ngữ nói chung về mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và ngữ pháp
Trang 10Hiện nay có rất nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào cách lập luận và hướng
tiếp cận của mình để đưa ra cách định nghĩa khác nhau về địa danh Ở Việt
Nam, các nhà nghiên cứu xem xét địa danh theo hai hướng là: nghiên cứu địa
danh theo góc độ ngôn ngữ và nghiên cứu địa danh theo góc độ địa lí - văn hoá
Với cách tiếp cận địa danh theo góc độ ngôn ngữ, Lê Trung Hoa đưa ra
cách hiểu "Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định được dùng làm tên riêng
của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ
(không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian
hai chiều" [23, tr.21] Nguyễn Kiên Trường quan niệm "Địa danh là tên riêng
của các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn xác định trên bề mặt trái đất"
[44, tr.16] Phan Xuân Đạm xem "Địa danh là lớp từ đặc biệt được sinh ra để
đánh dấu vị trí, xác lập các tên gọi đối tượng địa lí và nhân văn" [18, tr.16]
Từ Thu Mai lại cho rằng "Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối
tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [27, tr.22]
Từ góc độ địa lí - văn hoá, Nguyễn Văn Âu quan niệm "Địa danh là tên
đất, gồm tên sông, núi, làng mạc, hay là tên các địa phương, các dân tộc"
[3,tr.5] Tác giả Đào Duy Anh cho rằng "Địa danh là tên gọi các miền đất"
[1, tr.220]
Theo chúng tôi, sự khác biệt trong các quan niệm trên chủ yếu là xuất
phát từ phương diện, góc nhìn không giống nhau Vì thế, để tiện cho thao tác
làm việc, chúng tôi chấp nhận cách hiểu chung nhất về địa danh như sau: Địa
danh là những từ, cụm từ dùng để gọi tên các đối tượng, không gian địa lí,
các đặc trưng địa hình, địa vật; có tác dụng khu biệt, định vị những đối
tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật này với các đối
tượng, không gian địa lí, các đặc trưng địa hình, địa vật khác
1.1.2 Khái niệm địa danh học
Địa danh học (toponymy, toponomasiology, toponomastics), theo các nhà nghiên cứu, là một trong những bộ môn của danh học (onomastics) Đặt trong khung cảnh của ngôn ngữ học, địa danh học nằm trong lòng bộ môn từ vựng học, vì đối tượng nghiên cứu của địa danh học chính là các từ ngữ được
sử dụng để gọi tên, đặt tên Địa danh học là một bộ môn khoa học có tính chất liên ngành, đa ngành, nó sử dụng nhiều phương pháp, thao tác nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như lịch sử, dân tộc học, địa lí học, văn hoá học Mỗi địa danh đều gắn chặt với những chủ thể nhất định ở những thời điểm nhất định, tương ứng với nó là một lịch sử, văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư duy Qua mỗi địa danh nào đó, ta có thể thấy được quá trình lịch sử - xã hội của một dân tộc Bộ môn khoa học này, nói chung, có nhiệm vụ nghiên cứu về hai mặt nội dung ngữ nghĩa và hình thức ngữ âm góp phần làm nên tín hiệu địa danh, khi đặt nó trong cách nhìn của tín hiệu học Chính vì thế, việc xem xét một tín hiệu địa danh chủ yếu trên phương diện của tín hiệu ngôn ngữ là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu nguồn
gốc, ngữ nghĩa, cấu tạo, sự biến đổi, lan toả, phân bố địa danh
1.2 Chức năng và phân loại địa danh
1.2.1 Chức năng của địa danh
Thừa nhận địa danh là tên gọi đối tượng địa lí (tự nhiên hay nhân văn) thì cũng như các danh từ chung, địa danh có chức năng định danh sự vật Tuy nhiên, địa danh lại đối lập với danh từ chung ở chỗ: địa danh mang chức năng của danh từ riêng là phân biệt và cá thể hoá đối tượng Nói khác đi, ngay từ đầu, địa danh là tên riêng và nó có tác dụng đánh dấu, cá thể hoá đối tượng tương ứng với những cái xung quanh và lân cận nó Ví dụ: dòng sông, con suối có đặc điểm chung là có một dòng chảy; ngọn núi, quả đồi có đặc điểm
Trang 11chung là có một khu đất, đá nhô lên cao khỏi mặt đất Nhưng lại được đặt tên
bởi dòng sông này, con suối kia, ngọn núi nọ vì chúng mang hai đặc trưng:
một là, đặc trưng chung, phổ quát, lặp lại ở nhiều đối tượng trong một loại
hình; hai là, đặc trưng khu biệt không lặp lại các đối tượng trong cùng một
loại hình Do vậy, chức năng định danh và cá thể hoá đối tượng là một chức
năng quan trọng và thường trực của địa danh Nó là kết quả của quá trình
khám phá, nhận thức của con người về thế giới thực tại khách quan và được
con người đặt tên cho chúng Với đặc trưng như vậy, địa danh cũng đồng thời
giúp con người thực hiện tốt quá trình giao tiếp, tư duy
Mỗi địa danh hay một lớp địa danh đều gắn với văn hoá của từng cộng
đồng, từng khu vực địa lí cụ thể Vì thế, phản ánh đặc điểm văn hoá cũng là
một chức năng của địa danh
Ngoài ra, địa danh hay một lớp địa danh đều ra đời trong những bối cảnh
lịch sử xã hội nên chúng còn có chức năng phản ánh lịch sử địa phương Trên
thực tế có những địa danh đã trở thành tấm bia ghi lại những biến cố, những
sự kiện lịch sử đã xảy ra ở địa phương Địa danh cầu Gia Bẩy, chùa Đán, đồi
Cao Xạ đã để lại những chứng tích về cuộc đấu tranh hào hùng và oanh liệt
của quân và dân Thái Nguyên trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
1.2.2 Phân loại địa danh
1.2.2.1 Cách phân loại của các nhà địa danh học Phương Tây
Phân loại địa danh là một vấn đề hết sức phức tạp Hiện nay vẫn chưa có
mô hình phân loại khái quát tối ưu nào để có thể áp dụng phổ biến cho mọi
công trình nghiên cứu Vì vậy, tuỳ từng đối tượng nghiên cứu, tuỳ từng cách
tiếp cận và tuỳ mục đích mà người nghiên cứu cần đưa ra cách phân loại địa
danh sao cho phù hợp
Theo Phan Xuân Đạm trong luận án "Địa danh Nghệ An" [18, tr.103] thì:
A Dauzat trong "La toponymie Francaise" (1948) đã chia địa danh làm bốn
phần và mỗi phần đều gắn với vấn đề nguồn gốc ngôn ngữ:
1- Vấn đề những cơ sở tiền Ấn - Âu
2 - Các danh từ tiền La tinh về nước trong thuỷ danh học
3 - Các từ nguyên Gô Loa - La Mã
4 - Địa danh học Gô Loa - La Mã của người Auvergne và Velary Nếu như A Dauzat thiên về phân chia địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ
thì Ch Rostaing trong "Les noms de lieux" (1963) lại lấy tiêu chí của sự hỗn
hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng để chia địa danh thành 11 loại Các địa danh theo sự phân chia của Ch Rostaing như sau:
1 - Những cơ sở tiền Ấn - Âu
2 - Các lớp tiền Xêntich
3 - Lớp Gô Loa
4 - Những phạm vi Gô Loa - La Mã
5 - Các sự hình thành La Mã
6 - Những đóng góp của tiếng Giecmanh
7 - Các hình thức của thời phong kiến
8 - Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo
9 - Những hình thái hiện đại
10 - Các địa danh và tên đường phố
11 - Tên sông và tên núi
Nếu như cách phân loại của A.Dauzat còn chưa cụ thể thì cách phân loại của Ch Rostaing lại quá chi tiết, chưa có tính khái quát cao
Với mức độ sâu hơn, rõ ràng và khái quát hơn, A V Superanskaja trong
"Địa danh là gì" đã chia địa danh thành 8 loại:
1 - Điểm dân cư
Trang 122 - Điểm phi dân cư
3 - Tên gọi sông
4 - Tên gọi núi
5 - Tên đường phố
6 - Tên mạng lưới giao thông
7 - Tên quảng trường
8 - Tên các công trình bên trong thành phố
Tuy nhiên, cách phân loại này không chú ý đến địa danh chỉ công trình
xây dựng: cầu, cống, đường vốn rất quen thuộc và gần gũi với con người
1.2.2.2 Cách phân loại của các nhà địa danh học Việt Nam
Các nhà địa danh học Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu cũng đã đưa
ra những tiêu chí cho riêng mình để phân loại địa danh
Theo Từ Thu Mai trong “Địa danh Quảng Trị”[27,tr.22-23] thì: Nguyễn
Văn Âu đã dựa vào tiêu chí địa lí - lịch sử để đưa ra cách phân chia theo:
- Loại địa danh
- Kiểu địa danh
- Dạng địa danh
Theo ông, có hai loại địa danh là:
- Địa danh tự nhiên
- Địa danh kinh tế - xã hội
Trong hai loại địa danh này lại có 7 kiểu địa danh là:
Lê Trung Hoa dựa vào đối tượng và căn cứ vào tiêu chí tự nhiên - không
tự nhiên để chia địa danh thành phố Hồ Chí Minh thành hai loại lớn là:
- Địa danh tự nhiên
- Địa danh không tự nhiên
Địa danh tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng địa hình thiên nhiên còn địa danh không tự nhiên là địa danh gọi tên các đối tượng nhân tạo Loại địa danh không tự nhiên bao gồm:
- Địa danh gọi tên các công trình xây dựng
- Các đơn vị hành chính
- Tên vùng
Trang 13Từ phương diện khác, căn cứ vào nguồn gốc ngôn ngữ (ngữ nguyên), tác
giả phân loại địa danh thành hai nhóm lớn là:
- Địa danh thuần Việt
- Địa danh không thuần Việt (gốc Hán, gốc Pháp )
Nguyễn Kiên Trường trong "Những đặc điểm chính của địa danh Hải
Phòng" đã đưa ra 3 tiêu chí để phân loại địa danh:
- Dựa vào thuộc tính của đối tượng, có thể phân chia địa danh thành hai nhóm:
+ Địa danh tự nhiên
+ Địa danh chỉ đối tượng nhân văn
Trong đó, nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lí nhân văn lại gồm hai tiểu
nhóm là:
Các địa danh chỉ đơn vị dân cư - hành chính và địa danh gắn với hoạt
động của con người
Địa danh đường phố và địa danh chỉ công trình xây dựng
- Căn cứ tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ, có thể chia địa danh thành 5 nhóm:
+ Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt
+ Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
+ Địa danh có nguồn gốc Pháp
+ Địa danh có nguồn gốc Tày - Thái, Việt Mường, Môn - Khơme
+ Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
+ Địa danh chưa xác định được nguồn gốc
- Căn cứ vào tiêu chí chức năng giao tiếp, có thể phân chia địa danh
1.2.3 Vấn đề đồng đại và lịch đại trong nghiên cứu địa danh
Trong nghiên cứu địa danh, để có thể hiểu sâu từng địa danh, từng lớp địa danh, người ta phải nhìn nhận nó cả từ góc độ đồng đại lẫn lịch đại Đây là nguyên lí rất quan trọng trong ngôn ngữ học đại cương đã được F De Saussure nêu ra từ rất lâu Đồng đại là tất cả những gì thuộc về dạng tĩnh và lịch đại là tất cả những gì có liên quan đến sự biến hoá F De Saussure đã lí giải mối quan hệ giữa đồng đại và lịch đại bằng ví dụ:
“Nếu ta cắt ngang một thân cây, ta nhận thấy trên mặt cắt những đường vân khá phức tạp Đó không phải là một cái gì khác hơn là một góc độ của những thớ dọc, và ta sẽ trông thấy được những thớ đó bằng cách bổ một đường thẳng góc với mặt kia ở đây cũng vậy, mỗi góc độ đều phụ thuộc vào góc độ kia: khi cắt dọc, ta trông thấy bản thân các thớ gỗ làm thành thân cây, còn khi cắt ngang ta thấy cách tập hợp các thớ đó trên một bình diện đặc biệt, nhưng cách cắt thứ hai khác hẳn cách cắt thứ nhất vì nó cho thấy một số quan
hệ mà khi cắt dọc không thể nào không thấy được” [31, tr.155]
Các tác giả trong và ngoài nước khi nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt đã
đề cập đến cả hai phương diện đồng đại và lịch đại Theo hướng lịch đại phải kể đến các tác giả: Maspero H, Haudricout.A.G, Nguyễn Tài Cẩn, Vương Lộc Theo hướng này chúng ta sẽ thấy tên các phường, xã như: Đồng Quang, Quang Trung, Quyết Thắng, Tân Thịnh, Thịnh Đức đang dùng hiện nay trải
Trang 14qua bao lần thay đổi tên gọi khác nhau Mỗi tên đều có những ý nghĩa gắn với
những sự kiện, biến cố mà xét nó dưới góc nhìn lịch đại, chúng ta sẽ có được
những kết quả thú vị
Như vậy, khi nghiên cứu địa danh, người nghiên cứu cần chú ý đến cả
phương diện đồng đại lẫn lịch đại mới thấy được điều thú vị của các địa danh
Tuy nhiên, trong phạm vi một luận văn, để phù hợp với mục đích và hướng
nghiên cứu của đề tài, chúng tôi mới chỉ có điều kiện nghiên cứu địa danh
thành phố Thái Nguyên chủ yếu theo hướng đồng đại
1.3 Địa danh thành phố Thái Nguyên - những vấn đề liên quan
Theo tư liệu của các nhà nghiên cứu, thành phố Thái Nguyên có những
đặc điểm nổi bật như sau:
1.3.1.Vị trí địa lí
Thành phố Thái Nguyên là tỉnh lị tỉnh Thái Nguyên, có toạ độ 21độ 29
đến 21 độ 37 vĩ độ bắc và từ 105 độ 43 đến 105 độ 55 kinh độ đông cách thủ
đô Hà Nội 80 km về phía bắc Phía bắc, đông bắc giáp huyện Phú Lương,
Đồng Hỷ; phía tây giáp huyện Đại Từ; phía nam, tây nam giáp thị xã Sông
Công; phía đông, đông nam giáp huyện Phú Bình Thành phố Thái Nguyên
nằm trên quốc lộ số 3 Hà Nội đi Cao Bằng Tổng diện tích tự nhiên là
17.707,52 ha
Địa hình thành phố Thái Nguyên khá bằng phẳng Tuy nhiên, vùng đất
này vẫn mang tính chất của diện mạo trung du với kiểu bậc thềm phù sa và
bậc thang nhân tạo, thềm phù sa mới và bậc thềm pha tích với những gò đồi
thoải xen kẽ nhau
Khí hậu của thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu
vùng đông bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa biến tính, chia làm 2
mùa rõ rệt Mùa nóng bắt đầu từ cuối tháng tư, kết thúc vào cuối tháng 10
hằng năm Mùa lạnh bắt đầu từ gần cuối tháng 11 năm trước đến gần cuối tháng 3 năm sau
Trên địa bàn thành phố có hai con sông chảy qua Sông Cầu, thời nhà Lí gọi là sông Phú Lương, thời Nguyễn gọi là sông Đồng Mỗ, ở phía đông bắc thành phố, chảy theo hướng tây bắc, đông nam tạo nên ranh giới tự nhiên với huyện Đồng Hỷ
Sông Công, xưa còn gọi là Giã Giang (sông Giã), sông Mão, chảy dọc phía Tây thành phố tạo thành ranh giới tự nhiên với huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công
Sông Cầu và sông Công là nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước cho sản xuất công nghiệp và nước tưới cho đồng ruộng, góp phần tạo nên sự phồn thịnh cho thành phố Thái Nguyên
1.3.2 Lịch sử
Từ buổi đầu dựng nước, các Vua Hùng chia nước ta thành 15 bộ, đất Thái Nguyên thuộc bộ Vũ Định Từ đó trở đi cùng với những biến thiên của lịch sử, địa danh và địa giới Thái Nguyên cũng trải qua nhiều sự đổi thay
Theo các tài liệu nghiên cứu, vùng đất thuộc thành phố Thái Nguyên ngày nay, thời nhà Lý nằm trong châu Thái Nguyên, sau đó thuộc châu Vũ Lặc, phủ Phú Lương; thời Trần thuộc trấn Thái Nguyên; đầu thời Lê thuộc về Bắc Đạo, năm 1466 thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, năm 1469 thuộc thừa tuyên Ninh Sóc; từ thời Lê Trung Hưng đến hết thời Gia Long thuộc xứ, trấn Thái Nguyên Năm Gia Long thứ 12, tỉnh thành Thái Nguyên được chuyển từ
Bình Kỳ huyện Thiên Phúc về Đồng Mỗ Sách Đại Nam nhất thống chí chép:
"Tỉnh thành đất bằng phẳng, rộng rãi, đường thuỷ, đường bộ, giao thông đều thuận tiện Chu vi tỉnh thành dài 345 trượng, cao 9 thước, mở 4 cửa, hào rộng 3 trượng, sâu 5 thước, tường thành đắp bằng đất, đến năm tự đức thứ 2 được xây bằng gạch"
Trang 15Từ đầu thế kỉ XX, dưới quyền cai trị của thực dân Pháp, đô thị tỉnh lị
Thái Nguyên được người Pháp gọi thành phố nhưng vẫn thuộc huyện Đồng
Hỷ Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, thị xã Thái Nguyên mới
chính thức là đơn vị hành chính của tỉnh Thái Nguyên
Năm 1956, Khu tự trị Việt Bắc thành lập, thị xã Thái Nguyên trở thành
thủ phủ của Khu tự trị
Ngày 19/10/1962, Thủ tướng ra quyết định số 114 thành lập thành phố
Thái Nguyên, thành phố trực thuộc tỉnh Thành phố Thái Nguyên gồm thị xã
Thái Nguyên cũ và các xã Cam Giá, Túc Duyên, Quang Vinh, Đồng Bẩm; các
xóm Chùa, Quan Triều của xã Lương Sơn; các xóm Hoà Bình, Minh Cầu,
Thống Nhất, Cầu Tre, Tiến Thành, Cấp Tiến của xã Đồng Quang; các xóm
Thành, Phố, Ôn Lương của xã Tích Lương; các xóm Nhân Thịnh, Ngọc Tân
của xax Thượng Đình; các xóm Ngân, Na Hoàng, Tiến Bộ, Phú Thái, Lương
Thịnh, Tân Trung của xã Lương Sơn; xóm Hanh của xã Trần Phú, xóm Tân
Long của xã Sơn Cẩm và thị trấn Trại Cau
Năm 1965, hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn sáp nhập thành tỉnh Bắc
Thái, thành phố Thái Nguyên trở thành tỉnh lị của tỉnh Bắc Thái
Năm 1985, theo quyết định số 102/HĐBT,Thành phố Thái Nguyên tiếp
nhận thêm 7 xã phía tây, tây bắc do huyện Đồng Hỷ bàn giao là Tân Cương,
Phúc Trìu, Phúc Xuân, Thịnh Đán, Thịnh Đức,Tích Lương, Phúc Hà; đồng
thời cắt xã Đồng Bẩm, phường chiến Thắng và Núi Voi về huyện Đồng Hỷ
Ngày 8/4/1985, bốn phường Đồng Quang, Cam Giá, Gia Sàng, Tân
Thịnh được thành lập
Ngày 13/2/1987 thực hiện quyết định số 25- HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng, xã Túc Duyên đổi thành phường Túc Duyên; phường Tân Thịnh chia
thành Tân Thịnh và Tân Lập; thành lập phường Quang Vinh
Năm 1994 phường Đồng Quang tách thành hai phường Đồng Quang và Quang Trung
Năm 1996 tỉnh Bắc Thái tách thành tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn; Thành phố Thái Nguyên là tỉnh lị của tỉnh Thái Nguyên
Năm 2002, thành phố Thái Nguyên được công nhận là đô thị loại 2 Đến tháng 12/2003, thành phố Thái Nguyên có 26 phường xã Cụ thể:
1 Phường Trưng Vương: 23 tổ dân phố, đặt tên theo thứ tự từ 1 đến 23
2 Phường Hoàng Văn Thụ: 32 tổ
10 Phường Tân Long: 20 tổ
11 Phường Quan Triều: 25 tổ
12 Phường Quang Vinh: 16 tổ
13 Phường Cam Giá: 41 tổ
Trang 16Cây Thị, Con Cốc, Khánh Hoà, Hợp Thành, Ao Sen, Phúc Hoà, Lâm Trường,
Phúc Trìu, Tân Đức 1, Tân Đức 2, Cầu Đá, Mĩ Hoà, Xóm Mới)
21.Xã Quyết Thắng: 10 xóm (Bắc Thành, Trung Thành, Nam Thành, Cây
Xanh, Gò Móc, Sơn Móc, Sơn Tiến, Thái Sơn 1, Thái Sơn 2, Xóm Mười)
22 Xã Phúc Trìu: 15 xóm (Đồng Chùa, Thanh Phong, Đồng Nội, Xóm
Chợ, Nhà Thờ, Lai Thành, Cây De, Khuôn 1, Khuôn 2, Phúc Thuần, Đồi Chè,
Đá Dựng, Soi Mít, Phúc Tiến, Hồng Phúc)
23 Xã Tân Cương: 15 xóm (Nam Đông, Nam Tiến 1, Nam Thái, Soi
Vàng, Đội Cấn, Nhà Thờ, Hồng Thái, Tân Thái,Nước Hai, Gò Pháo, Guộc,
Nam Hưng, Nam Sơn, Nam Tiến 2, Yna 1, Yna 2)
24 Xã Lương Sơn: 26 xóm (Ninh Hương 1, Ninh Hương 2, Ninh
Hương3, Ninh Hương 4, Xóm Động, Xóm Xộp, Xóm Cử, Xóm Soi, Xóm
Cầu, Nha Làng, Xóm Kè, Phúc Thái, Xóm Bầu, Xóm Pha, Tiến Bộ, Xóm
Ngân,Tân Trung, Tân Sơn 1, Tân Sơn 2, Tân Sơn 3, Tân Sơn 4, Luyện Kim,
Xóm Trước, Xóm Sau, Xóm Ga, Xóm Na Hoàng)
25 Xã Phúc Xuân:15 xóm (Đèo Đá, Cây Thị, Long Giang, Đồng Lạnh,
Xóm Giữa1, Xóm Giữa 2, Núi Nến, Đồng Kiệm, Trung Tâm, Khuôn Năm,
Dộc Lầy, Cao Khánh, Cao Trăm, Cao Sy, Xuân Hoà)
26 Xã Tích Lương: 13 xóm (Bắc Lương, Ba Nhất, Hào Thọ, Trung
Lương, Ba Cống, Cầu Thông, Xóm Mới, Trám Lãi, Núi Dài, Đông Yên, Xóm
Trung, Na Cớm)
1.3.3 Dân cư, dân tộc
Thái Nguyên là thành phố có nhiều dân tộc sống xen kẽ với nhau Theo
số liệu thống kê của Uỷ ban dân số năm 2005, thành phố Thái Nguyên có
235.581 người, mật độ dân số 1.330,44 người /km2
Dân tộc Kinh có số lượng đông nhất, do nhiều bộ phận hợp thành Một
bộ phận vốn là dân cư bản địa có mặt ở đây từ lâu đời Một bộ phận là dân
phu được tuyển mộ từ các tỉnh đồng bằng lên làm công trong các hầm mỏ, đồn điền của người Pháp và người Việt Bộ phận khác là lính của triều Nguyễn được điều lên đồn trú tại Thái Nguyên, hết hạn quân dịch ở lại sinh
cơ lập nghiệp Ngoài ra, chính quyền Pháp còn cấp đất cho một số binh lính người Việt tham gia đội quân viễn chinh của Pháp sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất hồi hương lập ra các ấp di thực như ấp vùng ỷ Na gồm 3 làng Tân Cương, Tân Thành, Thịnh Đức Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp nhân dân tản cư, bộ đội, cán bộ các cơ quan trung ương đến sinh sống và làm việc làm cho dân số thị xã tăng vọt Thời kì 1958 - 1965, hàng vạn người từ mọi miền đất nước về đây xây dựng Khu công nghiệp Gang Thép đầu tiên của cả nước
Các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu sống xen kẽ với các dân tộc khác trong thành phố Một bộ phận đồng bào đã sinh sống ở đây từ lâu đời Bộ phận khác khá lớn chuyển cư đến thành phố từ các huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn trong thời gian từ sau năm 1954 đến nay Tuy mỗi dân tộc hội tụ về Thành phố Thái Nguyên từ những vùng khác nhau, vào những thời điểm khác nhau, mỗi dân tộc lại có những phong tục tập quán riêng nhưng do đặc điểm cư trú thành những đơn vị nhỏ, xen kẽ giữa các dân tộc, nên quá trình hoà hợp giữa các dân tộc diễn ra khá sớm và dễ dàng như một lẽ tự nhiên, trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân Thành phố Thái Nguyên
1.3.4 Ngôn ngữ, chữ viết, văn hoá
Theo các nhà nghiên cứu, các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam từ xa xưa đến ngày nay đều là những quốc gia đa dân tộc Đặc trưng văn hoá Đông Nam Á là thống nhất trong đa dạng và quá trình hội tụ bắt nguồn từ những trung tâm khác nhau tạo nên những cơ chế văn hoá - tộc người đa thành phần
Trang 17Thái Nguyên với nhiều dân tộc sống xen kẽ nhau, có những ảnh hưởng
với nhau về mặt ngôn ngữ, tiếng nói và chữ viết Mỗi nhóm ngôn ngữ đều có
tính thống nhất, được phân bố trên những địa bàn nhất định và có những chức
năng xã hội khác nhau Tiếng Việt là chủ thể và phạm vi được mở rộng Đặc
biệt, thông qua hệ thống giáo dục trong nhà trường thì các ngôn ngữ của các
dân tộc khác xích gần với tiếng Việt hơn và tiếng Việt trở thành một nhân tố
thường xuyên tác động đến cấu trúc nội bộ ngôn ngữ các dân tộc khác, góp
phần thúc đẩy sự phát triển của các ngôn ngữ dân tộc
Tiếng Việt từ lâu đã là ngôn ngữ phổ thông của cả nước cũng như của
Thái Nguyên dù việc sử dụng nó không đều ở các dân tộc, lứa tuổi, với lối
sống tụ cư, xen kẽ, ở Thái Nguyên hiện tượng một dân tộc sử dụng hai hoặc
hơn hai ngôn ngữ là phổ biến
Trong tình trạng đan xen tộc người, bên cạnh việc sử dụng tiếng Kinh
được quy ước là tiếng phổ thông, một vài thứ tiếng của các dân tộc khác của
Thái Nguyên như tiếng Tày, Nùng đã được sử dụng trong giao tiếp hàng
ngày Tiếng Tày và tiếng Nùng là tiếng nói chung không chỉ cho dân tộc Tày
nùng mà người Dao, người Hoa, người Cao Lan, người Sán Dìu và cả người
Kinh miền núi cũng sử dụng tiếng Tày như ngôn ngữ phổ biến trong khu vực
Trong số các dân tộc sống ở Thái Nguyên, chỉ có dân tộc Tày - Nùng là
có chữ viết gọi là chữ Nôm Tày Chữ Nôm Tày gồm 17 loại chung nhất, phản
ánh toàn bộ hệ thống chữ Nôm Tày hiện có mà chúng ta nắm được Giới
nghiên cứu hiện nay cho rằng Bế Văn Phủng và Nông Quỳnh Văn- hai trí
thức Tày nổi tiềng thời trung đại có thể nằm trong số những người đầu tiên
sáng tạo ra chữ Nôm Tày Chữ Nôm Tày xét theo nguồn gốc hình thành có
hai loại là loại vay mượn và loại tự tạo Loại vay mượn đều là những chữ
nguyên khối, có nguồn gốc từ ba loại văn bản: văn bản Hán, văn bản
Hán-Việt và văn bản Nôm Kinh, với những cách tiếp cận, chọn lọc và biến thể tinh
vi Chữ tự tạo có hai loại: chữ nguyên khối và chữ ghép Chữ nguyên khối là chữ được người ta dùng nguyên khối chữ Hán có sẵn, từ đó bằng cách viết tắt, gọt bỏ bớt các bộ phận mà tạo thành chữ mới Ngược lại, bằng cách thêm dấu phụ vào chữ Hán nguyên khối có sẵn, chữ Nôm Tày có tới năm dấu phụ Cách đánh dấu cũng có ước định cụ thể ở loại chữ ghép có tới ba nhóm nhỏ, trong
đó giữa các yếu tố hình - âm - nghĩa, người ta có thể ghép âm với âm, nghĩa với nghĩa và âm với nghĩa Có tới 70% số chữ ghép âm với nghĩa trong các văn bản Nôm Tày thế kỉ 19 Đặc biệt còn có cách ghép lồng hai chữ Nôm Tày
với nhau tạo thành chữ Nôm Tày mới Ví dụ: "pỉ nọng = anh em; cừu vằn= ngày đêm "
Chữ viết Tày đã được nhà nước đưa vào giảng dạy trong trường học ở vùng Đông Bắc góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo nói chung Bên cạnh đó còn có những sáng tác văn xuôi, thơ bằng chữ Nôm Tày có chất lượng của các nhà văn, nhà thơ địa phương như: Nông Minh Châu,Vi Hồng, Nông Quốc Chấn, Ma Trường Nguyên
Về văn hoá, trên địa bàn Thành phố hiện có rất nhiều địa danh gắn với các di tích văn hoá Có thể kể đến: thành Nhà Mạc, đền Đội Cấn, đền Xương Rồng, chùa Đán, chùa Đồng Mỗ, nhà thờ Thái Nguyên Những địa danh này
đã làm nên nét đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán, tín ngưỡng của vùng
1.4 Địa danh thành phố Thái Nguyên: kết quả thu thập và phân loại
1.4.1 Kết quả thu thập
Căn cứ vào phạm vi, đối tượng, và nguyên tắc làm việc, chúng tôi đã thu thập được 1072 địa danh Số địa danh này gồm 40 loại, được phân bố rộng khắp địa bàn và xuất hiện trên nhiều địa điểm khác nhau Đương nhiên trên đây không phải là toàn bộ địa danh hiện diện trên địa bàn Vì mục đích nghiên cứu và hướng giải quyết vấn đề mà có những địa danh như tên gọi công ti, xí nghiệp, cơ quan, v.v không được chúng tôi đưa vào đối tượng khảo sát
Trang 181.4.2 Phân loại
Như phần đầu đã đề cập, chúng tôi sử dụng cách phân loại của tác giả Lê
Trung Hoa Do vậy, địa danh thành phố Thái Nguyên được phân loại theo hai
cách (dựa vào hai tiêu chí): tự nhiên - không tự nhiên và nguồn gốc ngôn ngữ
1.4.2.1 Phân loại địa danh theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên
* Địa danh tự nhiên
- Sơn danh: núi, đồi, hang, động
- Thuỷ danh: hồ, bến, sông, kênh
- Vùng đất phi dân cư: đồng, bãi
* Địa danh không tự nhiên
- Địa danh cư trú:
+ Địa danh cư trú do chính quyền đặt: xã, phường, phố
+ Địa danh cư trú có từ thời phong kiến: làng, thôn, xóm,
- Địa danh chỉ công trình nhân tạo:
+ Địa danh chỉ các công trình giao thông: đường phố, cầu, ga, sân bay
+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng: chợ, chùa, đền thờ
Để tiện theo dõi, chúng tôi trình bày cách phân loại này qua bảng phân
loại với số liệu cụ thể:
Số thứ tự chính là số lượng loại hình địa danh thu thập được
Tần số: số lần xuất hiện của chúng chính là số lượng địa danh, nhưng
không trùng với số lượng đối tượng vì có những đối tượng hoặc có nhiều tên
gọi hoặc không còn tồn tại
Tiêu chí sắp xếp: căn cứ vào số lần xuất hiện từ cao xuống thấp của các
danh từ chung Nếu tần số như nhau thì xếp theo thứ tự chữ cái của các danh
Sơn danh
Đồi 41 đồi Cao Xạ (G S)
10 Vùng đất nhỏ phi dân cư Đồng 40 đồng Rơm (Đ.Q)
11
Không
tự nhiên
Địa danh cư trú do chính quyền đặt
Xóm 133 xóm Cây Thị (T.Cương)
15
Địa danh chỉ các công trình giao thông
Đường 56 đường Việt Bắc (Đ.Q)
Trang 1926 Sân vận động 5 sân vận động Thái Nguyên (T.V)
27 Đài tưởng niệm 4 đài tưởng niệm Anh hùng liệt sĩ Thái Nguyên
1.4.2.2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ (ngữ nguyên)
* Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt: 197 trường hợp, chiếm 18,3%
Trong 197 địa danh đó, địa danh cư trú hành chính có 65 trường hợp, chiếm 33%; địa danh công trình xây dựng – giao thông có 115 trường hợp, chiếm 58,4%; địa danh chỉ đối tượng tự nhiên có 17 trường hợp, chiếm 8,6% Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt chiếm tỉ lệ tương đối lớn so với địa danh có nguồn gốc hỗn hợp và địa danh có nguồn gốc Tày Nùng Số lượng yếu tố Hán – Việt xuất hiện với tần số tương đối cao Các yếu tố này chủ yếu được dùng trong địa danh cư trú hành chính và công trình xây dựng – giao thông để phản ánh tâm lí, nguyện vọng hay để chỉ vị trí, phương hướng Đó là các yếu tố như: tân, kiệm, bắc, nam, đông, tây…
Mặc dù vẫn có một số yếu tố (âm tiết) Hán – Việt xuất hiện độc lập trong các địa danh đơn yếu tố nhưng phần lớn chúng xuất hiện trong tổ hợp gồm hai hoặc hơn hai từ tố kết hợp với nhau Điều này đúng thật với nguyên lí cấu tạo của từ Hán – Việt, bởi các yếu tố Hán không hoạt động tự do nên chúng phải kết hợp trong những từ song tiết Vì thế một từ Hán – Việt thường gồm hai hoặc hơn hai âm tiết kết hợp với nhau Trong khi đó, tiếng Việt nhiều âm tiết
Trang 20trùng với từ Do vậy, khi tiếp nhận tiếng Hán và để phù hợp với tư duy của
người Việt thì bộ phận lớn từ Hán – Việt được Việt hoá và chúng có giá trị
tương đương với từ
Các yếu tố Hán – Việt có thể xuất hiện độc lập trong địa danh tự nhiên
với mục đích chỉ tính chất, phương hướng, vị trí, hình thù của đối tượng
Ví dụ: đồi Nam (T Đức), bến Tượng (T V), miếu Khách (T Đức),
Các yếu tố Hán – Việt xuất hiện trong các địa danh biểu đạt nguyện
vọng, ước mơ thường có cấu trúc đôi Loại cấu trúc này xuất hiện chủ yếu
trong địa danh cư trú hành chính
Ví dụ: xã Quyết Thắng (Q Thắng), phường Tân Lập (T Lập), xóm Nam
Sơn (T Cương), xóm Bắc Thành, Trung Thành, Nam Thành (Q Thắng)…
* Địa danh có nguồn gốc thuần Việt: 807 trường hợp,chiếm 75,2%
Trong 807 địa danh đó, địa danh cư trú hành chính có 582 trường hợp, chiếm
72%; địa danh địa hình tự nhiên có 85 trường hợp, chiếm 10,5%; địa danh
công trình xây dựng – giao thông có 140 trường hợp, chiếm 17,5%
Ví dụ: xóm Mười (Q Thắng), xóm Mới, đồng Cầu Tre, đồng Cây Cọ
(T Đức), cầu Tre, cầu Phao (T Duyên)…
Về số lượng âm tiết, loại địa danh có nguồn gốc thuần Việt có thể là đơn
tiết và đa tiết:
- Địa danh thuần Việt đơn tiết: Trong tổng số 807 địa danh Thuần Việt,
có 578 địa danh được cấu tạo bằng các yếu tố thuần Việt đơn tiết trong tiếng
toàn dân, chiếm 72% trong đó:
+ Địa danh tự nhiên: có 23 trường hợp, chiếm 4%
Sơn danh: đảo Cò, đảo Dê (T Cương), đồi Thông, đồi Si (T Đức)
Vùng đất nhỏ phi dân cư: đồng Rơm (Đ Q), đồng Đình, đồng Ri (T Đức)
Thuỷ danh: bến Than (Q V), ao Chùa, ao Dài (T Đức)…
+ Địa danh không tự nhiên: có 555 trường hợp, chiếm 96,%
Địa danh cư trú hành chính: xóm Mới (T Đức), xóm Động, xóm Cử, xóm Soi (L S), xóm 1, xóm 14 (P H)…
Địa danh chỉ công trình xây dựng – giao thông: miếu Ông, miếu Bà (T Đức), quốc lộ 3, chợ Bóp (T Thịnh), cầu Phao (T D)…
- Địa danh thuần Việt đa tiết: có 229 địa danh thuần Việt đa tiết trong tổng số 807 địa danh, chiếm 28% trong đó:
+ Địa danh tự nhiên: có 59 trường hợp, chiếm 26%
Sơn danh: đồi Chống Sét (G S), đồi Yên Ngựa (Q Trung), đảo Núi Cái, đảo Hang Rắn, núi Tiên Nằm, núi Đợi Chờ (T Cương)…
Thuỷ danh: hồ Ông Trấn (Đ Q), hồ Núi Cốc (T Cương), suối Loàng (G S), suối Cầu Giạt (T Đức)…
.Vùng đất nhỏ phi dân cư: đồng Cột Cờ, đồng Cầu Tre, đồng Rừng Nghè, đồng Sau Đình, đồng Xóm Trắng (T Đức)
+ Địa danh không tự nhiên: có 170 trường hợp, chiếm 74%
Địa danh cư trú do chính quyền đặt: xóm Lò Gạch, xóm Ao Sen, xóm Soi Mít, xóm cây Thị (T Đức)…
Địa danh chỉ các công trình giao thông: cầu Số 5 (T Long), cầu Làng Đanh (Q Triều),ngã tư Gang Thép, ngã ba Dốc Lim…
Địa danh chỉ công trình xây dựng: công viên Gang Thép (Tr.Thành), chợ Vó Ngựa (Tr.Thành), chợ Bờ Hồ (T.Lập)…
Về ý nghĩa, với địa danh có nguồn gốc thuần Việt, chúng ta có thể giải nghĩa từng yếu tố hay cả địa danh một cách tường minh và dễ dàng
Ví dụ: cầu Phao: là cầu ghép nổi trên mặt nước nhờ các phao hoặc vật nổi; đồi Yên Ngựa là đồi có hình dáng giống như chiếc yên ngựa…Tuy nhiên cũng có những địa danh thuần Việt được người dân địa phương gọi tên một cách tự nhiên cho nên rất khó có thể lí giải được ý nghĩa của nó
Trang 21* Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp: Có 50 trường hợp, chiếm 5%, chủ
yếu xuất hiện trong địa danh chỉ công trình xây dựng – giao thông
Những địa danh có nguồn gốc hỗn hợp được cấu tạo bằng sự kết hợp
giữa một yếu tố thuần Việt với một yếu tố Hán – Việt
Ví dụ: đường Bến Oánh (T D), đường Ga Đồng Quang, ngã ba Dốc
Hanh (T Thành)…
* Địa danh có nguồn gốc Tày Nùng: Có 9 trường hợp, chiếm 0,9%
Ví dụ: cầu Khuôn Nặm, đồi Cốc Lùng, đồi Khủng Khảng (T Đức)…
* Địa danh không xác định được nguồn gốc: Có 9 trường hợp địa danh
không xác định được nguồn gốc, chiếm 0,9%, đó là những địa danh chỉ đối
tượng tự nhiên, chỉ đơn vị hành chính và chỉ công trình xây dựng
Ví dụ: núi Guộc, nhà thờ Guộc, chùa Yna (T Cương), đồi Gò Ra, xóm
Trám Lãi, xóm Na Cớm (T Đức)…
Một vài nhận xét về địa danh thành phố Thái nguyên: Thái Nguyên là
một thành phố với đa số địa danh là thuần Việt (75,2%) Đó là những địa
danh do chính quyền các thời đại đặt ra để gọi tên các vùng cư trú hành chính
(72%), các công trình xây dựng giao thông (17,5%), còn lại 10,5 % địa danh
địa hình tự nhiên Những địa danh này đã phản ánh rõ nét văn hoá Việt Nếu
như một số địa danh khác như địa danh Thanh Hoá, số lượng địa danh có
nguồn gốc Hán Việt lớn (82,90%) thì địa danh có nguồn gốc Hán - Việt ở
thành phố Thái Nguyên lại ít hơn (18,3%) Ở Thái Nguyên, số lượng địa danh
có nguồn gốc thuần Việt chiếm tỉ lệ cao là vì số lượng địa danh đã được danh
hoá từ số đếm (ví dụ: tổ 18 thì 18 ở đây cũng được coi là một địa danh thuần
Việt đơn tiết) Trong số các địa danh có nguồn gốc Hán Việt thì phần lớn địa
danh các phường, các đường đều được lấy tên của các danh nhân
Bảng 1.2 Thống kê phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ
STT
Loại hình địa danh
Số lượng địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ Cộng
Hán – Việt
Thuần Việt
Hỗn hợp
Tày Nùng
Không xác định được nguồn gốc
Số lượng
Tỉ lệ (%)
3
Công trình nhân tạo
- Địa danh Việt Nam nói chung và địa danh thành phố Thái Nguyên rất phong phú, đa dạng và do vậy cũng hết sức phức tạp Sự phong phú và đa dạng của địa danh được thể hiện ở số lượng địa danh mà chúng tôi thu thập được (1072 địa danh) gồm nhiều loại hình, nguồn gốc Bởi vậy, khi phân loại,
có những địa danh được xếp ở loại hình này nhưng cũng có thể xuất hiện ở loại hình khác Ví dụ: các địa danh là công trình xây dựng: đình, đền, chùa…cũng có thể xếp vào địa danh văn hoá; hoặc các địa danh công trình giao thông đường xá cũng có thể xếp vào địa danh hành chính Do vậy, việc
Trang 22phân loại địa danh thành phố Thái Nguyên trong luận văn của chúng tôi cũng
chỉ là một trong một số cách có thể
- Trong quá trình nghiên cứu địa danh, việc quan tâm đến những nhân tố
văn hoá, lịch sử, địa lí, dân cư là rất quan trọng Chính điều này sẽ dẫn đến sự
khác biệt trong việc nghiên cứu địa danh thuần tuý lịch sử, địa lí so với
nghiên cứu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học
Chương 2:
ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ Ý NGHĨA ĐỊA DANH
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN 2.1 Đặc điểm cấu trúc
2.1.1 Khái niệm cấu trúc
Trong ngôn ngữ học, cùng với khái niệm hệ thống, khái niệm cấu trúc
được sử dụng rất phổ biến Chúng ta có thể hiểu cấu trúc là toàn bộ " những quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể " [29, tr.128]
Hệ thống địa danh bao giờ cũng liên quan mật thiết với dân cư, văn hoá, tâm lí của chính vùng miền đó và chúng mang một khuôn mẫu - mô hình chung nhất định Vì vậy, để khảo sát địa danh của địa bàn nghiên cứu, trước tiên, chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc điểm cấu trúc của các địa danh
Địa danh là một đơn vị định danh, gọi tên đối tượng tự nhiên - không tự nhiên
và bao giờ cũng liên quan chặt chẽ đến đối tượng và chủ thể đặt tên Chính vì thế mà cấu trúc địa danh của mỗi vùng, bên cạnh những điểm chung với các
vùng khác, sẽ có những điểm riêng, mang dấu ấn của địa bàn đang nghiên cứu
2.1.2 Mô hình cấu trúc địa danh ở thành phố Thái Nguyên
2.1.2.1 Về mô hình cấu trúc phức thể địa danh
Địa danh nào cũng có mô hình cấu trúc của nó Có nhiều tiêu chí để xác định cách gọi tên hay ý nghĩa của tên gọi Việc xác định cách gọi tên hay ý nghĩa tên gọi của bất kì một địa danh nào, dù dựa vào tiêu chí nào thì cũng phải xem xét về mặt nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo
Từ trước tới nay, khi xem xét, lí giải mô hình cấu trúc của một địa danh, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở việc xác định các thành phần cấu tạo nên Mỗi địa danh gồm hai thành tố: thành tố A và thành
tố B Thành tố A là danh từ chung (thành tố chung), thành tố B là tên riêng
Trang 23Ví dụ: trong các địa danh cầu Gia Bẩy (H V T), đảo Tiên Nằm (T Cương),
xóm Chùa (T D), chợ Thái (T V) thì cầu, đảo, xóm, chợ là thành tố
chung; Gia Bẩy, Tiên Nằm, Chùa, Thái là tên riêng
Vấn đề đặt ra cho các nhà nghiên cứu về mô hình cấu trúc của một địa
danh là quan hệ giữa thành tố A và B như thế nào? Nói cách khác, vấn đề cần
làm rõ ở đây là: tôn ti giữa hai thành tố trong phức thể địa danh sẽ được xử lí
ra sao; cả hai thanh tố A và B là một địa danh hay chỉ thành tố B mới là địa
danh; khi xây dựng từ điển địa danh thì các mục từ được sắp xếp ra sao cho
hợp lí; chuẩn mực và nguyên tắc chính tả sẽ như thế nào đối với địa
danh, v.v
Trên thực tế, có những địa danh, để hiểu được thành tố B nhất thiết phải
dựa vào thành tố A Ví dụ: đường Mỏ Bạch, đê Mỏ Bạch, phố Mỏ Bạch
(Q Trung) Hay với quy tắc viết hoa, nếu chỉ viết hoa âm tiết đầu thì trong
những trường hợp như: núi Tương Tư, chùa Đồng Mỗ sẽ viết hoa âm tiết
nào Có lẽ giải pháp hợp lí nhất là xem xét vấn đề trong quan niệm phức thể
địa danh Về vấn đề này, Phạm Tất Thắng cho rằng: "sự khác nhau giữa các
từ chung với tên riêng là nhóm từ thứ nhất mang tính khái quát cao nhất, còn
nhóm từ thứ hai mang tính định danh cao nhất" [36, tr.66] Nguyễn Kiên
Trường thì cho là: "địa danh mang trong mình hai thông tin: a/ đối tượng
được gọi tên thuộc loại hình địa lí nào (đồi, sông, phố, làng ) thể hiện qua ý
nghĩa của danh từ chung; b/ có nghĩa nào đó (phản ánh điều gì đó) thể hiện
qua tên riêng [44, tr.53]
Như vậy trong hai thành tố nói trên, mỗi thành tố có vai trò, chức năng
riêng biệt Nếu thành tố A mang tính khái quát, chỉ ra loại hình đối tượng thì
thành tố B mang tính cụ thể, giúp chúng ta khu biệt đối tượng Theo đó địa
danh chỉ được hiểu là phần tên riêng, còn tên chung đặt trước nó có tính chất
đi kèm, chỉ loại Nhận thức thông tin từ thành tố A khá đơn giản vì đa số chúng quen thuộc, gần gũi với nhiều người và có thể tìm hiểu qua những cuốn
từ điển thông thường Chẳng hạn, với các địa danh như xóm Yna, đồi Gò Ra,
núi Guộc thì nghĩa các thành tố xóm, đồi, núi là rất quen thuộc với mọi người,
ai cũng hiểu Tất nhiên, khi đi vào từng địa phương, từng phương ngữ cụ thể thì việc tìm hiểu ý nghĩa của thành tố A lại không đơn giản vì nó gắn với đặc
trưng văn hoá, lịch sử, tâm lí riêng (Ví dụ: nghĩa của các thành tố A như hóc,
rú, kẹm, lèn, dăm trong phương ngữ Trung.) Ngược lại, việc nhận biết thông
tin ở thành tố B của địa danh hoàn toàn không đơn giản, nó đòi hỏi công sức, thì giờ, đôi khi còn cần đến sự trợ giúp của các chuyên gia, và cũng có khi là
chưa thể xác định được Chẳng hạn, nghĩa của thành tố Yna, Gò Ra, Guộc
trong các địa danh xóm Yna, đồi Gò Ra, núi Guộc của thành phố Thái Nguyên là gì thì hiện nay vẫn chưa xác định được
Về cách viết hoa, theo quy định hiện hành của tiếng Việt, thành tố chung viết thường, chỉ viết hoa tên riêng nếu là từ đơn tiết hoặc từ Hán - Việt; nếu tên riêng là từ thuần Việt đa tiết thì cũng viết hoa cả hai âm tiết
2.1.2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở thành phố Thái Nguyên
Qua thực tế điều tra, khảo sát, theo cách phân chia địa danh thành hai thành tố A, B và căn cứ vào số lượng âm tiết có trong mỗi địa danh, chúng tôi khái quát mô hình cấu trúc phức thể địa danh trên địa bàn thành phố Thái Nguyên như sau:
Thành tố chung (A) Tên riêng (thành tố B)
Trang 24Mô hình trên khác về độ dài tối đa so với mô hình địa danh ở Hải Phòng,
Quảng Trị, Nghệ An…Theo đó, thành tố A của địa danh thành phố
Thái Nguyên có số lượng âm tiết lớn nhất là 3 (trong khi đó ở Nghệ An là 4
âm tiết); thành tố B có số lượng âm tiết lớn nhất là 9 âm tiết (ở Nghệ An là 7
âm tiết, Hải Phòng là 4 âm tiết và Quảng Trị là 4 âm tiết) Tuy nhiên cũng cần
phải nói thêm rằng mô hình cấu trúc địa danh của các địa phương trên có sự
khác nhau còn tuỳ thuộc vào quan niệm của người nghiên cứu
Mô hình cấu trúc địa danh thành phố Thái Nguyên được chúng tôi lập ra
dựa trên cơ sở kết quả khảo sát các địa danh qua tư liệu hiện có Có thể nhận
thấy mỗi bộ phận của phức thể địa danh có vai trò, chức năng riêng biệt Quan
hệ giữa thành tố A và thành tố B là quan hệ giữa cái được hạn định và cái hạn
định; thành tố A biểu thị một loạt đối tượng cùng thuộc tính, còn thành tố B
dùng để chỉ những đối tượng cụ thể, được xác định trong lớp đối tượng mà
thành tố A đã chỉ ra Nói theo logic học, thành tố B có tác dụng thu hẹp nội
hàm của khái niệm (phức thể địa danh) Tức là nội hàm và ngoại diên bao giờ
cũng tỉ lệ nghịch với nhau: ngoại hàm tăng thì nội hàm giảm và ngược lại
Với một phức thể địa danh, có thể hiểu đơn giản như một tiên đề rằng, kích
thước của thành tố B càng lớn, tức ngoại diên càng rộng thì nội hàm do khái
niệm phức thể địa danh đó biểu thị càng bị thu hẹp, do đó ngoại diên của nó
sẽ được mở rộng Nói khác đi, thành tố B trong một phức thể địa danh càng
lớn, thì các đối tượng địa lí và nhân văn mà chúng gọi tên càng giảm Còn nói
theo kiểu ngôn ngữ học thì yếu tố thứ hai – thành tố B đóng vai trò là định
ngữ trong một danh ngữ Như vậy, số lượng định ngữ có mặt trong địa danh
càng nhiều bao nhiêu thì khả năng biểu hiện, gọi tên các đối tượng tự nhiên và
nhân văn càng ít bấy nhiêu Để chứng minh cho vấn đề này, chúng tôi lần lượt
đi vào tìm hiểu từng thành tố
2.1.3 Về thành tố chung (thành tố A)
2.1.3.1 Khái niệm thành tố chung
* Về tên gọi thành tố chung
Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã có cách hiểu giống nhau về tên gọi này
và họ đều cho rằng: đó là danh từ chung chỉ loại hình đối tượng nhưng lại chưa có sự thống nhất cao trong việc sử dụng thuật ngữ Những thật ngữ được dùng để gọi thành tố A như: từ chung, yếu tố chung, danh từ chung, yếu tố
tổng loại và thành tố chung chính là thể hiện của sự chưa thống nhất đó
Qua phân tích và xác định quan hệ giữa thành tố chung với bộ phận đi sau nó có thể thấy rằng, về thực chất địa danh chỉ là bộ phận thứ hai, đi sau thành tố chung Theo chúng tôi, địa danh thông thường là một danh từ hoặc một cụm danh từ Địa danh bao giờ cũng kết hợp với một danh từ (danh ngữ) chung chỉ loại đi trước Sự kết hợp giữa hai bộ phận trong cấu trúc tồn tại của địa danh sẽ tạo nên một cụm từ - phức thể địa danh và trong đó danh từ chung chỉ loại luôn đi trước tên riêng, có chức năng là một thành tố trong cụm từ Vì
thế có thể gọi nó là một "thành tố chung" Cách dùng thuật ngữ thành tố
chung để gọi tên bộ phận thứ nhất trong cụm từ chứa địa danh là cách dùng được chúng tôi áp dụng trong luận văn này
* Khái niệm thành tố chung
Khái niệm thành tố chung đã được các nhà địa danh học quan tâm đề cập đến với những cách đặt vấn đề khác nhau Tuy vậy, các ý kiến này đều hướng đến những nội dung cơ bản của khái niệm trên cơ sở sự thống nhất chung về đối tượng
Nguyễn Kiên Trường trong luận án Tiến sĩ của mình đã dẫn ra hai ý
kiến: một là, ý kiến của A.V.Superanskaja: "Tên chung là những tên gọi chung liên kết các đối tượng địa lí với mọi vật khác của thế giới hiện thực Chúng được diễn đạt bằng các danh từ chung vốn được dùng để gọi tên và để
Trang 25xếp loại các đối tượng cùng kiểu, có cùng đặc điểm nhất định" [44, tr.66]; hai
là, ý kiến của Popov cho rằng: "bất cứ hiện tượng hàng loạt nào (lặp lại,
tương tự) trong toàn bộ địa danh, luôn cần được nghiên cứu cẩn thận vì các
yếu tố lặp lại đó thường biểu hiện thể và giống của địa danh và cũng là đặc
trưng của một ngôn ngữ" [44, tr.57]
Qua những quan niệm trên, theo chúng tôi có thể hiểu một cách chung
nhất về thành tố chung như sau: Thành tố chung là tên gọi địa lí được diễn
đạt bằng danh từ chung, dùng để chỉ một lớp đối tuợng (địa lí) cùng loại
hình, cùng thuộc tính bản chất, về vị trí, trong phức thể địa danh nó đứng
trước để chỉ ra loại hình của đối tượng được định danh
Như vậy, thành tố chung tạo nên chỉnh thể cho phức thể địa danh, tạo
nên một khái niệm, cho phép hiểu đúng địa danh và cũng xác định loại hình
đối tượng được gọi tên Ví dụ: các thành tố đồi, sông, đền trong các địa danh
đồi Cao Xạ (G S), đồi T12 (Đ Q), sông Cầu (H.V.T), đền Mỏ Bạch (Q.V)
2.1.3.2 Thành tố chung trong địa danh thành phố Thái Nguyên
* Về số lượng:
Với tổng số 1072 địa danh được thu thập trên địa bàn thành phố, chúng
tôi thống kê được 40 loại hình đối tượng địa lí, tương đương với 40 thành tố
chung và được phân bố theo từng nhóm địa danh
- Địa danh tự nhiên
+ Sơn danh: 3 thành tố chung Ví dụ: núi Guộc (T Cương), đồi Yên
Ngựa (Q Trung), đảo Cò (T Cương)…
+ Thuỷ danh: 6 thành tố chung Ví dụ: sông Cầu (T V), hồ Núi Cốc
(T Cương), suối Tân Long (T Long), ao Chùa (T Đức), kênh Núi Cốc
(T Cương), bến Than (Q V)…
+ Vùng đất nhỏ phi dân cư: 1 thành tố chung Ví dụ: đồng Phốc Vầu
(T Đức), đồng Rơm (Đ Q)…
- Địa danh không tự nhiên:
+ Địa danh cư trú do chính quyền đặt: 3 thành tố chung Ví dụ: phường Đồng Quang (Đ Q), tổ 1 (T V), xã Tân Cương (T Cương)…
+Địa danh cư trú vốn có từ thời phong kiến: 1 thành tố chung Ví dụ: xóm Bắc Thành (Q Thắng), xóm Chùa (T D)…
+ Địa danh chỉ các công trình giao thông: 6 thành tố chung Ví dụ: đường
Ga Đồng Quang (Q Trung), cầu Mỏ Bạch (Q V), quốc lộ 1A, ga Đồng Quang (Đ.Q)…
+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng: 20 thành tố chung Ví dụ: nhà văn hoá tổ 15 (Đ Q), chùa Phủ Liễn (H V T), nhà thờ Guộc (T Cương), chợ
1 Một âm tiết 908 84,7 cầu Đán (T Đán), đảo Cò (T.Cương)
2 Hai âm tiết 31 2,9 nhà thờ Guộc (T Cương), công viên
Gang Thép (Tr.Thành)…
3 Ba âm tiết 133 12,4 nhà văn hoá Thiếu nhi (T V), khu
công nghiệp Gang Thép (Tr.Thành)… Tổng số 1072 100
Trang 26Rõ ràng, số lượng âm tiết của thành tố chung càng ít thì số lần xuất hiện
càng nhiều và ngược lại, số lượng âm tiết của thành tố chung càng cao thì tần
số xuất hiện càng thấp
* Ghi chú: Hầu hết các địa danh đều có cấu trúc 3 phần: danh từ chung +
danh từ đi kèm + tên riêng Ví dụ: Nghĩa trang + Liệt sĩ + Thái Nguyên
(T.Đức) Vậy có một vấn đề đặt ra là: Liệt sĩ xếp vào thành tố chung A hay
tên riêng Nếu xếp vào tên riêng là không hợp lí vì chúng có sự lặp đi lặp lại
nhiều lần, xuất hiện trong nhiều địa danh cùng loại Ngược lại, nếu xem là bộ
phận của thành tố chung thì số lượng của chúng là quá lớn và không phù hợp
với mô hình cấu trúc phức thể địa danh thông thường Thực tế, những từ ngữ
trên làm định ngữ cho thành tố chung, hơn nữa nhiều khi người ta cũng có thể
rút gọn Ví dụ: Nghĩa trang Thái Nguyên Chính vì vậy mà chúng tôi chấp
nhận sự vắng mặt của các yếu tố có vai trò làm định ngữ cho thành tố chung
* Chức năng
- Chức năng khu biệt, hạn định cho tên riêng
Hai thành tố A và B trong phức thể địa danh luôn có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, nương tựa vào nhau và tương tác lẫn nhau dẫu cho mỗi thành tố
có chức năng và vai trò riêng Theo cách hiểu thông thường, giữa hai bộ phận
trong phức thể địa danh thì thành tố B có chức năng hạn định cho thành tố A
nhưng trong một số trường hợp, thành tố A lại trở lại hạn định cho thành tố B
Cụ thể, trong một số phức thể địa danh, nhờ các thành tố A mà thành tố B
được hạn định và phân biệt rõ ràng Ví dụ: các thành tố "hồ" và "kênh"có
chức năng phân biệt loại hình và các tên riêng cụ thể trong các phức thể địa
danh hồ Núi Cốc và kênh Núi Cốc Tương tự, các thành tố chung "phường",
"ga", "chợ" có chức năng phân biệt loại hình và các tên riêng cụ thể trong các
phức thể địa danh phường Đồng Quang, ga Đồng Quang, chợ Đồng Quang…
- Chức năng phân biệt loại hình
Để đặt tên, gọi tên một đối tượng nào đó, trước hết con người – chủ thể đặt tên phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của chúng ở sự lặp lại mang tính khái quát và không lặp lại mang tính chuyên biệt Từ trong sự tri nhận đó mà trong một phức thể địa danh, bao giờ cũng có một thành tố chỉ ra loại hình đối tượng và một thành tố khu biệt, cá thể hoá đối tượng Và thành tố A – thành
tố thứ nhất trong phức thể địa danh là thành tố có nhiệm vụ, chức năng lớn nhất của mình là chỉ ra cho được loại hình của đối tượng Ví dụ: sông Cầu, sông Công …chỉ chung một đối tượng có đặc tính chung là dòng chảy; phường Đồng Quang (Đ Q), phường Gia Sàng (G S)…có đặc tính chung là đơn vị hành chính do chính quyền đặt Không những vậy, thành tố chung A còn có chức năng phân biệt loại hình và các địa danh cụ thể trong các phức thể địa danh Ví dụ: đê Mỏ Bạch (Q Trung), đền Mỏ Bạch (Q V)… Tương tự như vậy, các thành tố chung như phường, chợ, ga có chức năng phân biệt loại hình và tên riêng cụ thể trong phức thể địa danh: phường Quan Triều, chợ Quan Triều, ga Quan Triều (Q Triều) Như vậy có thể xem chức năng phân biệt loại hình cho địa danh là chức năng thường trực, thường xuyên và rất quan trọng của thành tố chung
- Chức năng chuyển hoá
Không chỉ đảm nhiệm và thực hiện tốt hai chức năng đã nêu, các thành
tố chung nhiều khi đã vượt khỏi ranh giới tồn tại của mình để xâm nhập và chuyển hoá thành một hoặc một vài yếu tố trong địa danh Hiện tượng này là biểu hiện của sự phong phú, đa dạng về mối tương liên giữa các bộ phận trong cấu trúc phức thể địa danh
Trong địa danh thành phố Thái Nguyên, số lượng địa danh được chuyển hoá từ A sang B là 168/ 1072 trường hợp, chiếm 15,7%
Trang 27Trong đó, nhóm danh từ chung chỉ đơn vị hành chính chuyển hoá mạnh
nhất: 122/168 trường hợp, chiếm 72,6% Ví dụ: xóm → đồng Xóm Trắng
(T Đức), nhà văn hoá Xóm Cây Thị (T Cương), nhà văn hoá Xóm 1 (P H);
tổ → nhà văn hoá Tổ 1, nhà văn hoá Tổ 15 (Đ Q)…
Nhóm danh từ chung chỉ đối tượng thự nhiên có 27/ 168 trường hợp
chuyển hóa, chiếm 16,1% Ví dụ: đồi → xóm Đồi Chè, bến → xóm Bến Đò
(T Đức), đồng → chợ Đồng Quang (Q Trung)…
Nhóm danh từ chung chỉ công trình xây dựng – giao thông chuyển hoá ít
hơn, chỉ có 19/168 trường hợp chuyển hoá, chiếm 11,3% Ví dụ: cầu → đồng
Cầu (T Đức); ga → đường Ga Đồng Quang (Q Trung); nhà thờ → đường
Nhà Thờ (T V); núi→ hồ Núi Cốc (T Cương), miếu → xóm Ao Miếu (T Đức)…
So sánh đối chiếu với địa danh Hội An, chúng tôi thấy có sự trùng hợp
nhất là trong cách đặt tên Các đặc điểm địa hình địa lí được quan tâm nhất và
dùng làm yếu tố cơ sở để đặt tên cho đất mới vì chúng mang tính thực tiễn, dễ
xác định nơi chốn, địa điểm
Bảng 2.2 Thống kê các loại đối tượng chuyển hoá trong địa danh
3 Danh từ chung chỉ các công trình xây dựng – giao thông 11,3
Về vị trí, danh từ chung chuyển hoá thành tên riêng là 11/168 trường
hợp, chiếm 6,5%, chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng là 157/168 trường
hợp, chiếm 93,5%
Về từ nguyên, trong địa danh thành phố Thái Nguyên, danh từ chung
chuyển hoá sang tên riêng có nguồn gốc thuần Việt là 156/168 trường hợp,
chiếm 92,9%, nguồn gốc Hán – Việt là 12/168 trường hợp, chiếm 7,1%
* Khả năng kết hợp của các nhóm thành tố chung
Khả năng kết hợp của các nhóm thành tố chung chỉ đối tượng tự nhiên
- Nhóm thành tố chung trong sơn danh:
+ Đồi: "Dạng địa hình lồi, có sườn thoải, thường không cao quá 200 mét" [28, tr.337] Trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, "đồi" xuất hiện với tư
cách thành tố chung, xuất hiện 41 lượt chủ yếu ở các xã phía Nam của thành phố Có rất nhiều địa danh gắn với những sự kiện lịch sử hào hùng của quân dân Thái Nguyên trong những năm tháng kháng chiến: đồi Cao Xạ, đồi M (G S), đồi Trận Địa (T Đức)… Có 1 trường hợp chuyển hoá thành yếu tố của tên riêng: đồi→ xóm Đồi Chè (P Trìu)
+ Núi: "Địa hình lồi, sườn dốc, nổi cao lên trên mặt đất thường cao trên
200 mét" [28, tr.742]
Qua khảo sát chúng tôi thấy, có 7 lần "núi" được sử dụng với tư cách là
thành tố chung: núi Guộc, núi Tương Tư, núi Đợi Chờ, núi Tiên Nằm (T Cương)… có 07 trường hợp chuyển sang bộ phận tên riêng: núi→ hồ Núi Cốc, xóm Núi Dài, đường Núi Cốc (T Cương)…
+ Đảo: "Khoảng đất lớn có nước bao quanh, ở sông, hồ, biển hoặc đại dương" [28, tr.289] Trên địa bàn thành phố, "đảo" xuất hiện 5 lượt với tư
cách là thành tố chung Ví dụ: đảo Tên Nằm, đảo Dê, đảo Cò (T.Cương)… Không có trường hợp nào chuyển sang tên riêng hoặc bộ phận của tên riêng
- Nhóm thành tố chung trong thuỷ danh:
+ Hồ: "Nơi đất trũng chứa nước, thường là nước ngọt, tương đối rộng và sâu, nằm trong đất liền" [28, tr.456] Có 7 lần thành tố chung "hồ" xuất hiện:
hồ Dốc Lim, hồ Nhà In (T Đức), hồ Núi Cốc (T Cương)… Không có trường hợp nào chuyển hoá sang tên riêng
+ Sông: "Dòng nước tự nhiên tương đối lớn, chảy thường xuyên trên mặt đất, thuyền bè thường đi lại được" [28, tr.867] Có 2 lần thành tố chung
Trang 28"sông" xuất hiện: sông Cầu và sông Công Không có trường hợp nào chuyển
sang tên riêng hoặc bộ phận tên riêng
+ Bến: "Nơi qui định cho tàu thuyền, xe cộ dừng lại để hành khách lên
xuống, xếp dỡ hàng hoá hoặc làm các việc phục vụ kĩ thuật cho tàu" [28, tr.58]
Có 3 lần thành tố chung "bến" xuất hiện: bến Oánh (T.D), bến Than (Q V),
bến Tượng (T V) Có 04 trường hợp chuyển sang bộ phận của tên riêng: bến
xóm Bến Đò (T Đức), đường Bến Tượng (T V), đường Bến Oánh (T D)
+ Suối: "Dòng nước tự nhiên ở miền đồi núi, chảy thường xuyên hoặc
theo mùa, do nước mưa hoặc nước ngầm chảy ra ngoài mặt đất tạo nên" [28,
tr.876] Có 5 lần "suối" xuất hiện làm thành tố chung Ví dụ: suối Loàng, suối
Mỏ Bạch…Không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng
+ Ao: " Chỗ đào sâu xuống đất để giữ nước nuôi cá, thả bèo, trồng rau"
[28, tr.8] Có 2 lần "ao" xuất hiện làm thành tố chung Ví dụ: ao Chùa, ao Dài
Có 03 trường hợp chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng: ao đồng Ngách
Ao Sen, xóm Ao Sen, xóm Ao Miếu (T Đức)
+ Kênh: "Công trình dẫn nước đào đắp hoặc xây trên mặt đất, phục vụ
thuỷ lợi, giao thông" [28, tr.486] Có 1 lần thành tố chung "kênh" xuất hiện
Ví dụ: kênh Núi Cốc Không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng
hoặc bộ phận tên riêng
- Nhóm thành tố chung trong vùng đất nhỏ phi dân cư:
+ Đồng: "Khoảng đất rộng và bằng phẳng dùng để cày cấy và trồng trọt"
[28, tr.341] Có 40 lượt thành tố chung "đồng" xuất hiện Ví dụ: đồng Cửa
Làng, đồng Hống, đồng Ngọ Kẹo, đồng Dốc Đỏ, đồng Gốc Trám (T Đức),
đồng Rơm (Đ Q)…Có 10 trường hợp chuyển sang bộ phận tên riêng: đồng
chợ Đồng Quang, ga Đồng Quang, phường Đồng Quang (Đ.Q), xóm Đồng
Nội, xóm Đồng Kiệm (P Trìu)
Khả năng kết hợp của các nhóm thành tố chung chỉ đối tượng không
tự nhiên
- Nhóm thành tố chung trong địa danh cư trú do chính quyền đặt: nhóm
thành tố này chủ yếu có nguồn gốc từ Hán – Việt
+ Tổ: "Đơn vị dân cư ở thành phố, dưới phường, gồm một số ít hộ ở gần nhau" [28, tr.1007] Có 515 lượt thành tố chung "tổ" xuất hiện Ví dụ: tổ 2, tổ 5,
tổ 15 (Đ Q)… Có 97 trường hợp chuyển hoá sang bộ phận của tên riêng Ví dụ: tổ → nhà văn hoá Tổ 1, nhà văn hoá Tổ 15 (Đ Q)…
+ Phường: "Đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị, tổ chức theo khu vực dân cư ở đường phố, dưới quận" [28, tr.793] Những đơn vị hành
chính mang tên phường chủ yếu thuộc các vùng thị xã, thành phố và ở đó kinh tế phát triển hơn ở vùng nông thôn Trên địa bàn thành phố Thái
Nguyên, có 18 lượt thành tố chung "phường" xuất hiện Ví dụ: phường Quang
Vinh (Q V), phường Gia Sàng (G S) Không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng
+ Xã: "Đơn vị hành chính cơ sở ở nông thôn, bao gồm một số thôn, xóm" [2, tr.1140] Có 8 lần "xã" xuất hiện làm thành tố chung Ví dụ: xã Thịnh Đức
(T Đức), xã Quyết Thắng (Q Thắng)… Không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng
- Nhóm thành tố chung trong địa danh cư trú có từ thời phong kiến:
+ Xóm: "Khu dân cư ở nông thôn, nhỏ hơn làng, gồm nhiều nhà ở liền nhau" [28, tr.1155] Có 135 lần thành tố chung "xóm" xuất hiện Ví dụ: xóm
Đồng Chùa, xóm Đồng Nội (P.Trìu), xóm Tiến Bộ (L S)…có 24 trường hợp
thành tố chung "xóm" chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng Ví dụ: đồng
Xóm Trắng, nhà văn hoá Xóm Hợp Thành (T Đức), nhà văn hoá Xóm Cây Thị (P Xuân), nhà văn hoá Xóm 1 (P H)
Trang 29- Nhóm thành tố chung trong địa danh chỉ công trình giao thông:
+ Đường: "Lối đi nhất định được tạo ra để nối liền hai địa điểm, hai nơi"
[28, tr.357] Có 56 lần thành tố chung "đường" xuất hiện Ví dụ: đường Nha
Trang (T V), đường Ga Đồng Quang (Q Trung)…không có trường hợp nào
chuyển hoá thành tên riêng hay bộ phận của tên riêng
+ Cầu: "Công trình xây dựng trên các chướng ngại vật như sông, hồ, chỗ
trũng… để tiện đi lại" [28, tr.126] Có 20 lần thành tố chung "cầu" xuất hiện
Ví dụ: cầu Bóng Tối (T V), cầu Đán (T Đán), cầu Làng Đanh (Q.Triều)…
Có 03 lần "cầu" chuyển hoá thành tên riêng: cầu xóm Cầu (L S), đồng
Cầu (T Đức), sông Cầu và 05 lần chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng:
cầu đồng Cầu Tre (T Đức), suối Cầu Giạt (T Đức)…
+ Ga: "Công trình kiến trúc làm nơi để hành khách lên xuống hoặc để
xếp dỡ hàng hoá ở những điểm quy định cho xe lửa, xe điện hay máy bay đỗ
trên các tuyến đường đi, đường bay" [28, tr.368] Có 4 lần "ga" xuất hiện làm
thành tố chung Ví dụ: ga Đồng Quang (Q Trung), ga Quan Triều (Q Triều),
ga Lưu Xá (P Xá)…Có 1 lần "ga" chuyển hoá thành tên riêng: ga xóm Ga
(L S) và 1 lần chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng: ga đường Ga Đồng
Quang (Q Trung)
- Nhóm thành tố chung trong địa danh chỉ công trình xây dựng:
+ Nhà văn hoá: "Nhà làm nơi tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ cho quần
chúng đông đảo" [28, tr.701] Trong tư liệu khảo sát của chúng tôi, thành tố
chung "nhà văn hoá" xuất hiện 122 lần Ví dụ: nhà văn hoá Thiếu Nhi (T V),
nhà văn hoá Công nhân Gang Thép (Tr.Thành), nhà văn hoá tổ 5 (Đ Q)…
Không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng hay bộ phận của tên riêng
+ Chợ: "Nơi công cộng để đông người đến mua bán vào những ngày, buổi nhất định" [28, tr.171] Có 23 lần thành tố chung "chợ" xuất hiện Ví dụ:
chợ Đồng Quang (Q Trung), chợ Dốc Hanh (Tr.Thành), chợ Vó Ngựa (Tr.Thành)…Có 01 trường hợp chuyển hoá thành tên riêng: chợ xóm Chợ (P Trìu)
+ Chùa: "Công trình được xây cất làm nơi thờ Phật" [28, tr.180] Có 05 lần "chùa" xuất hiện là thành tố chung Ví dụ: chùa Đồng Mỗ (T D), chùa Yna (T Cương)…Có 02 trường hợp thành tố chung "chùa" chuyển hoá thành
tên riêng: chùa ao Chùa, xóm Chùa (T Đức) và 01 trường hợp chuyển hoá thành bộ phận của tên riêng: chùa xóm Đồng Chùa (P Trìu)
+ Đền: "Nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh" [28, tr.310] Có 03 lần thành tố chung " đền" xuất hiện Ví
dụ: đền Xương Rồng (P Đ P), đền Mỏ Bạch (Q V)…Không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng hoặc bộ phận của tên riêng
+ Nhà thờ: “ Nơi thờ chúa Jesus để giáo dân đến lễ ” [28, tr.701] Có 06
trường hợp thành tố chung “ nhà thờ ” xuất hiện Ví dụ: nhà thờ Guộc (T.Cương), nhà thờ Tân Cương (T Cương)…Có 04 trường hợp chuyển hoá sang tên riêng: nhà thờ xóm Nhà Thờ, đồng Nhà Thờ (T Cương)…
+ Tượng đài: "Công thình kiến trúc lớn gồm một hoặc một nhóm tượng, đặt ở địa điểm thích hợp, dùng làm biểu trưng cho một dân tộc, một địa phương, đánh dấu một sự kiện lịch sử hay tưởng niệm những người có công lớn" [28, tr.1082] Có 04 lần thành tố chung "tượng đài" xuất hiện Ví dụ:
tượng đài liệt sĩ Thái Nguyên, Tượng đài Tân Lập (T Lập)… không có trường hợp nào chuyển hoá thành tên riêng hoặc bộ phận của tên riêng Trên đây chúng tôi chỉ miêu tả một số thành tố chung tiêu biểu và thành
tố chung xuất hiện với tần số cao
Trang 302.1.4 Về tên riêng (thành tố B)
2.1.4.1 Khái niệm tên riêng
Trong một phức thể địa danh, bên cạnh thành tố A (thành tố chung) chỉ
ra loại hình đối tượng còn có thành tố khác có chức năng khu biệt đối tượng
này với đối tượng khác Nó luôn đi sau và hạn định cho thành tố chung Các
nhà nghiên cứu đã gọi thành tố đó bằng thuật ngữ tên riêng hoặc địa danh
(thành tố B)
Thành tố B (tên riêng) là yếu tố thứ hai trong phức thể địa danh Nó có
thể là từ, cụm từ (ngữ) nếu xét về cấp độ ngôn ngữ; có thể là danh từ, động từ,
tính từ xét về mặt từ loại; có thể nó là đơn tiết hay đa tiết xét về mặt cấu tạo
và cũng có thể là gốc Hán, gốc Việt hay gốc Pháp xét về mặt nguồn gốc
Thành tố B có chức năng nhận diện, đánh dấu, khu biệt đối tượng địa lí vốn
được tách ra từ hàng loạt đối tượng địa lí khác nhau
Như vậy, tên riêng (thành tố B) trong địa danh là những từ hoặc cụm từ
dùng để định danh cho từng đối tượng tự nhiên - không tự nhiên, mang chức
năng cá thể hoá và khu biệt đối tượng trong loại hình
2.1.4.2 Đặc điểm tên riêng trong phức thể địa danh ở thành phố Thái Nguyên
* Về số lượng các yếu tố trong địa danh
Với tổng số 1072 địa danh được thu thập, chúng tôi thấy độ dài các yếu
tố (âm tiết) trong tên riêng không giống nhau Tên riêng đơn giản nhất có độ
dài một âm tiết và tên riêng phức tạp nhất có độ dài 9 âm tiết Có thể xem mỗi
âm tiết có nghĩa là một yếu tố để thuận lợi hơn khi xếp các âm tiết vào vị trí
các yếu tố trong cấu trúc địa danh
Bảng 2.3 Thống kê số lượng các yếu tố (âm tiết) trong địa danh thành phố Thái Nguyên
STT Số lượng yếu tố Số lượng địa danh Tổng số
(1072)
Tỉ lệ ( %)
Tự nhiên Không tự nhiên
Ba yếu tố Bốn yếu tố Năm yếu tố Sáu yếu tố Bẩy yếu tố Tám yếu tố Chín yếu tố
0,09 0,37 0,09 0,09
Nếu như ở thành phố Thanh Hoá, thành phố Vinh, các địa danh có 2 âm tiết chiếm tỉ lệ cao (Thanh Hoá: 60,21%; Vinh: 77,4%) thì ở thành phố Thái Nguyên, số lượng địa danh có 1 âm tiết lại chiếm tỉ lệ cao (53,5%) Tuy nhiên đây không phải là sự khác biệt quá lớn bởi địa danh thành phố Thái Nguyên
đã phát triển theo xu hướng định danh theo phương thức mới: dùng số từ để cấu tạo địa danh (ví dụ: số 15 đã được danh hoá để trở thành Tổ 15 (Đ Q)…) Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy rằng, ở thành phố Thái Nguyên số lượng địa danh có 2 âm tiết cũng chiếm tỉ lệ cao xấp xỉ với địa danh có số lượng 1 âm tiết (40,5%) Điều này cũng đã phần nào chứng minh cho xu hướng song tiết hoá của tiếng Việt hiện đại
Các địa danh khác có số lượng là 3 âm tiết trở lên thường xuất hiện với tần số thấp
Trang 31* Về cấu tạo
Giống như các địa danh khác trong cả nước, địa danh thành phố Thái
Nguyên có hai kiểu cấu tạo là cấu tạo đơn và cấu tạo phức
- Cấu tạo đơn
Địa danh có cấu tạo đơn là địa danh trong đó thành tố B có kích thước
của một từ đơn đơn tiết (một âm tiết) hoặc một từ đơn đa tiết
Có 593/1072 tên riêng có cấu tạo từ đơn đơn tiết hoặc từ đơn đa tiết,
chiếm 55,3% trong tổng số địa danh được thu thập
Xem xét thành tố B có cấu tạo đơn trong cấu trúc của phức thể địa danh
thành phố Thái Nguyên, có thể nhìn nhận ở hai phương diện: nguồn gốc và từ loại
+ Thành tố B có cấu tạo đơn xét về mặt nguồn gốc
Trong bất kì một địa bàn cư trú nào mà có nhiều dân tộc cùng sinh sống,
thì dấu ấn của các dân tộc đó có thể được thể hiện qua những tên gọi các đối
tượng địa lí, không gian địa lí Và hơn nữa, do sự ảnh hưởng qua lại về văn
hoá giữa các địa bàn, khu vực cư trú cũng đã dẫn đến sự đa dạng về nguồn
gốc của các địa danh
Thành phố Thái Nguyên là địa bàn cư trú chủ yếu của người Việt (Kinh),
và một số dân tộc ít người nên địa danh cũng phần nào phản ánh sự đa dạng
về nguồn gốc của các dân tộc trên
Địa danh đơn có nguồn gốc thuần Việt: 578/593, chiếm 97,47% địa
danh đơn Ví dụ: miếu Ông, miếu Bà (T Đức), xóm Mới (T Lương), xóm
Chùa (T Duyên), tổ 1, tổ 20 (T V)…
Địa danh đơn có nguồn gốc Hán – Việt: 12/593, chiếm 2,02% địa danh
đơn Ví dụ: đồng Hống (T Đức), chùa Đán, cầu Đán, chợ Đán (T Đán)…
Địa danh đơn không xác định được nguồn gốc: 3/593, chiếm 0,51%
Ví dụ: Núi Guộc, nhà thờ Guộc, chùa Yna (T Cương)
Như vậy, sự phân bố thành tố B có cấu tạo đơn xét về mặt nguồn gốc là không đều: địa danh đơn thuần Việt chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là địa danh đơn Hán Việt, địa danh đơn không xác định được nguồn gốc
+ Thành tố B có cấu tạo đơn xét về mặt từ loại
Thành tố B có cấu tạo đơn được tạo nên từ nhiều từ loại khác nhau nhưng phổ biến nhất là danh từ
Danh từ: chùa Đán (T Đán), miếu Khách (T Đức), cầu Đán (T Đán), xóm Chợ (T Đức), đồng Giếng (T Đức), sông Công, đảo Cò (T.Cương)… Động từ: xóm Cử, xóm Pha (L S), đồng Hống (T Đức)…
Tính từ: cầu Loàng (G S), xóm Mới (T Lương), đồi Bục, ao Dài (T Đức)… Số từ: tổ 7, 16 (T.Long), xóm 14, xóm 9 (P H), quốc lộ 3,
- Cấu tạo phức
Giống như nhiều địa danh khác của Việt Nam, địa danh thành phố Thái Nguyên đa dạng nhưng cũng rất phức tạp Thành tố B (tên riêng) có cấu tạo phức là sự kết hợp giữa hai hoặc hơn hai yếu tố (âm tiết) có nghĩa Trong địa danh thành phố Thái Nguyên, có 479 tên riêng có cấu tạo phức, chiếm 44,7% trong tổng số 1072 địa danh trên địa bàn
+ Thành tố B có cấu tạo phức xét về mặt nguồn gốc
Nhóm địa danh thuần Việt: 229/479 tên riêng có cấu tạo phức, chiếm 47,81%
Ví dụ: đường Núi Cốc (T Cương), cầu Làng Đanh (Q Triều), công viên Gang Thép (T Thành), chợ Bờ Hồ (T Lập)…
Nhóm địa danh Hán – Việt: 185/479, chiếm 38,62%
Ví dụ: chợ Quang Vinh (Q V), phường Tân Long (T Long), xã Quyết Thắng (Q Thắng), đồi Độc Lập (Tr.Thành)…
Nhóm địa danh hỗn hợp: 50/479, chiếm 10,44%
Trang 32Ví dụ: xóm Tân Đức 1 (T Đức), chợ Khu Nam (Tr.Thành), di tích Trại
lính Khố Xanh (T V), cầu Bến Oánh (T D)…
Nhóm địa danh gốc Tày Nùng: 9/479, chiếm 1,88%
Ví dụ: cầu Khuôn Nặm, đồi Cốc Lùng, đồng Ngọ Kẹo, xóm Khuôn Nặm
(T Đức)…
Nhóm địa danh không xác định được nguồn gốc: 6/479, chiếm 1,25%
Ví dụ: xóm Trám Lãi, xóm Na Cớm, đồi Gò Ra (T Đức), xóm Yna 1,
xóm Yna 2 (T Cương)…
Như vậy, địa danh phức có nguồn gốc thuần Việt chiếm tỉ lệ cao nhất
Tiếp đó là địa danh phức có nguồn gốc Hán- Việt Các địa danh phức có
nguồn gốc Hán Việt hầu hết đều là mỹ tự Loại địa danh này xuất hiện nhiều
trong thời nhà Nguyễn Do nhu cầu quản lí của chính quyền, cho nên công
việc đặt tên, gọi tên các địa danh, nhất là địa danh cư trú hành chính là rất cần
thiết Hơn nữa, việc sử dụng từ ngữ Hán – Việt để đặt tên là phù hợp vì khi
đó, chữ Hán là văn tự quốc gia, là thứ chữ được dùng trong giao dịch hành
chính của chính quyền phong kiến
Đặc biệt, trong số những địa danh phức có nguồn gốc Hán- Việt ở thành
phố Thái Nguyên, có nhiều địa danh xuất hiện trong kháng chiến chống Mĩ như:
đồi Trận Địa (T Đức), đồi Cao Xạ (G S), tượng đài Thanh Niên xung phong
(T V)… Đây đều là những địa danh mang dấu ấn của một thời chiến tranh
- Thành tố B có cấu tạo phức xét về mặt từ loại
Danh từ + danh từ (hoặc cụm danh từ)
Ví dụ: đồng Cây Cọ, đồng Cây Sữa, đồi Gốc Mít, đồi Dân Quân, xóm
Bến Đò (T Đức)…
Danh từ + số từ
Ví dụ: nhà văn hoá Xóm 1 (P H), nhà văn hoá Tổ 15 (Đ Q)…
Danh từ + tính từ (hoặc cụm danh – tính)
Ví dụ: núi Mỏ Vàng (T Cương), đồng Xóm Trắng, đồng Dốc Đỏ (T Đức), xóm Núi Dài (T Lương), cầu Mỏ Bạch…
Danh từ + cụm danh - động
Ví dụ: đường Nhà Thờ (T V), đồi Sáo Đẻ (T Đức), núi Tiên Nằm (T Cương), hồ Nhà In (T Đức)…
Số từ + chữ cái: quốc lộ 1B
- Thành tố B có cấu tạo phức xét về mặt quan hệ
Xét về quan hệ giữa các yếu tố trong tên riêng có 3 kiểu:
Quan hệ chính phụ
Quan hệ đẳng lập
Quan hệ chủ vị
+ Quan hệ chính phụ
Trong địa danh thuần Việt: yếu tố chính bao giờ cũng đứng trước yếu tố phụ
Ví dụ: đình Làng Rơm (Đ Q), cầu Vó Ngựa (T Thành), đê Sông Cầu (H V T), đồi Cột Cờ (T Đức), đồi Yên Ngựa (Q Trung)…
Trong địa danh Hán – Việt: yếu tố chính thường đứng sau yếu tố phụ Kiểu sắp xếp này thường xuất hiện ở các địa danh chỉ đơn vị dân cư
Ví dụ: phường Tân Thành, xóm Mỹ Hoà (T Đức), phường Tân Thịnh, xóm Long Giang (P Xuân), xóm Hồng Phúc (Q Thắng)…
Trong địa danh hỗn hợp
Ví dụ: chợ Khu Nam (Tr.Thành), đường Mỏ Bạch, đường Ga Đồng
Quang, cầu Bến Oánh (T D)…
+ Quan hệ đẳng lập
Theo quan hệ đẳng lập, các yếu tố có vai trò bình đẳng với nhau về mặt
ý nghĩa cũng như việc tham gia vào các vị trí trong địa danh
Ví dụ: đường Bắc Nam, đồi Dân Quân (T Đức), khu công nghiệp Gang
Thép (Tr.Thành), chợ Phú Thái (T Thịnh)…