Nghiên cứu những thuộc tính của thành ngữ và những cách thức khu biệt chúng với những đơn vị ngôn ngữ khác: tTục ngữ, cụm từ tự do, từ ghép các bài viết này chủ yếu đăng trên tạp chí ngô
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh khoa ngữ văn
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh khoa ngữ văn
khảo sát nhóm thành ngữ tiếng việt
Trang 3lờI CảM ƠN
Tiến hành nghiên cứu "khảo sát nhóm thành ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ
động vật", chúng tôi mong muốn đây là bớc đầu tập dợc nghiên cứu của bản thân
về đơn vị thành ngữ tiếng Việt của các tác giả dân gian Hy vọng trong tơng lai chúng tôi sẽ có điều kiện nghiên cứu về thành ngữ một cách công phu hơn.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Tiến sĩ Trần Văn Minh - Thầy giáo hớng dẫn đã giúp đỡ tôi tận tình chu đáo, triển khai, hoàn thành khóa luận này Xin đợc tỏ lòng biết ơn đối với tập thể giáo viên khoa Ngữ văn trờng đại học Vinh
đã dày công giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập để việc nghiên cứu hôm nay đợc thuận lợi.
Tuy nhiên lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu, xây dựng một đề tài khoa học thì chắc chắn khóa luận của chúng tôi không tránh khỏi những hạn chế thiếu sót Rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 16 tháng 5 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thu
Trang 4mở đầu
1 lý do chọn đề tài
1.1 Mỗi ngôn ngữ đều có một kho từ vựng riêng, trong đó có thành ngữ Đơn
vị này đợc sử dụng tơng đơng nh từ, tham gia vào quá trình hoạt động giao tiếp rất
đa dạng, phong phú trong cả khẩu ngữ lẫn văn bản
Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ do nhân dân sáng tạo ra cùng với tục ngữ, ca dao, để nói và giao tiếp hằng ngày Có khi nó đ… ợc dùng để ví von, đôi khi đợc dùng với hình thức ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, song thành ngữ trở thành một trong…những đơn vị đợc nhiều nhà ngôn ngữ cũng nh các nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm Tuy nhiên mỗi ngời có cách tiếp cận khác nhau tùy theo mục đích, nhiệm
vụ nghiên cứu của mình, nhng diểm chung vẫn là làm rõ bản chất của thành ngữ
1.2 Thành ngữ tiếng Việt là một loại đơn vị từ vựng của ngôn ngữ Việt Nó
phong phú về số lợng, đa dạng về kiểu loại kết cấu và nội dung ý nghĩa Trong các chất liệu cấu tạo nên thành ngữ tiếng Việt có lớp từ chỉ động vật Khảo sát nhóm thành ngữ này, chúng tôi đi sâu vào phơng diện kết cấu và ngữ nghĩa của thành ngữ
để tìm hiểu mối quan hệ giữa nhóm từ có trong vốn từ cơ bản của tiếng Việt với thành ngữ
1.3 Nghiên cứu nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật nhằm góp phần tìm
hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ và thực tế bên ngoài ngôn ngữ trong đó có thế giới động vật
Vai trò của lớp từ chỉ động vật trong thành ngữ, phản ánh sự nhận thức thế giới bên ngoài ngôn ngữ theo các phơng thức: ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, Ng… ời Việt tạo ra đơn vị thành ngữ với lớp nghĩa bóng bẩy (dùng tơng đơng nh lớp từ cơ bản)
Trang 5Từ các hình ảnh con vật bên ngoài khi đi vào ngôn ngữ chỉ là hình ảnh biểu trng Chính vì thế, khảo sát nhóm thành ngữ chỉ động vật góp phần nghiên cứu sâu hơn
về cơ chế cấu tạo nghĩa của thành ngữ tiếng Việt nói chung và của nhóm thành ngữ này nói riêng
1.4 Đề tài chúng tôi tiến hành là một đề tài mới, cha ai nghiên cứu chúng
một cách cụ thể Đề tài này nhằm chứng minh sự biểu hiện phong phú của thành ngữ về mặt số lợng, đa dạng về hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Kết quả của đề tài này là nguồn t liệu tham khảo cho việc dạy - học hoặc nhng ai quan tâm đến thành ngữ
2 lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt
Vốn thành ngữ của một ngôn ngữ là một trong những kho báu của dân tộc nó phản ánh đầy đủ lịch sử, kinh nghiệm lao động, những giá trị tinh thần, quan điểm tôn giáo của nhân dân Thành ngữ cũng phản ánh những hình tợng do nhân dân sáng tạo nên, cách đánh giá của nhân dân đối với những đồ vật, con vật, sự kiện thuộc những thời đại xa xa cũng nh gần đây Chính thành ngữ biểu hiện rõ nét nhất
đặc thù dân tộc của ngôn ngữ trên các bình diện ngữ nghĩa, từ vựng - ngữ pháp, hình tợng tâm lý, âm điệu, ngữ điệu Tất cả những đặc điểm đó làm cho thành ngữ…học trở nên là một trong những ngành khoa học hấp dẫn
Số lợng thành ngữ trong tiếng Việt rất lớn Ví dụ nh trong cuốn "Từ điển
thành ngữ" của Nguyễn Lực và Lơng Văn Đang đã thu thập đợc trên năm nghìn
đơn vị Song trên thực tế, số lợng thành ngữ còn lớn hơn rất nhiều Thành ngữ trở thành đối tợng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Có khi chúng đợc nghiên cứu ở góc độ văn hóa, có khi đợc nghiên cứu dới góc độ ngôn ngữ học
Cách tiếp cận của mỗi ngời, mỗi ngành về đơn vị này có khác nhau Đã có nhiều công trình, nhiều bài viết về thành ngữ tiếng Việt, trong đó có những bài chỉ chú ý đến đặc trng cấu trúc hoặc đặc trng ngữ nghĩa, và cũng không ít các công trình đề cập trên cả hai phơng diện này kể cả trong nớc và ngoài nớc
Trong số những nhà ngôn ngữ học nớc ngoài, ngời đầu tiên nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt là nhà ngôn ngữ học ngời Pháp V.Barbier - tác giả công trình
Trang 6"Những ngữ so sánh trong tiếng An Nam" (1925) Công trình của ông chỉ miêu tả
một số thành ngữ so sánh của tiếng Việt mà cha đề cập đến những vấn đề liên quan
đến thành ngữ học
ở Việt Nam, tác phẩm đợc xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về thành
ngữ: "Về tục ngữ và ca dao" của Phạm Quỳnh, công bố vào năm 1921.
Công trình "Tục ngữ và phong dao" của Nguyễn Văn Ngọc (1928), đợc
xem là một hợp tuyển thành ngữ tiếng Việt đầu tiên, có chứa một số lợng lớn thành ngữ Tác giả đã chứng minh một cách thuyết phục rằng tất cả các loại tài sản dân tộc quý báu đều thuộc về "kKho vàng của toàn nhân loại"
Trong công trình của Nguyễn Văn Ngọc, thành ngữ đợc xem xét không phải với t cách là đối tợng phân tích ngôn ngữ học mà là đối tợng phân tích văn học Nghĩa là ông đi vào phân biệt một cách cụ thể các loại ngữ cố định mà giữa chúng
đang còn lẫn lộn
Vào những năm 1970, thành ngữ mới trở thành một đối tợng nghiên cứu khoa học thật sự Cũng từ giai đoạn này các tài liệu nghiên cứu về thành ngữ mới gặt hái đợc nhiều thành tựu Vào đầu những năm 70, tham gia bàn luận về đơn vị này mới chỉ dừng lại ở việc xác định khối lợng của thành ngữ, phân suất các thành ngữ trong tiếng Việt Nghiên cứu những thuộc tính của thành ngữ và những cách thức khu biệt chúng với những đơn vị ngôn ngữ khác: tTục ngữ, cụm từ tự do, từ ghép các bài viết này chủ yếu đăng trên tạp chí ngôn ngữ với các tác giả tiêu biểu…nh: Nguyễn Thiện Giáp, Cù Đình Tú, Hoàng Văn Hành, Hồ Lê, Trơng Đông San…
Mốc son quan trọng trong nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là: "Thành
ngữ tiếng Việt" của hai tác giả Nguyễn Lực - Lơng Văn Đang (xuất bản 1979)
Tác phẩm tuy không bao quát hết đợc thành ngữ tiếng Việt nhng đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học và cho những ai quan tâm đến thành ngữ một tài liệu bổ ích Tác phẩm không chỉ cung cấp khối lợng lớn (trên ba nghìn thành ngữ tiếng Việt),
mà còn nêu những luận điểm khái quát về tình hình su tập, nghiên cứu thành ngữ và
đặc biệt là tiêu chí xác định, lựa chọn thành ngữ Các tác giả đã nêu lên đợc những
đặc tính quan trọng của thành ngữ về kết cấu cũng nh ngữ nghĩa
Trang 7Năm 1989 cuốn "Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam" của Nguyễn Lân ra đời Gần thời điểm này là một loạt cuốn sách "Kể chuyện về thành ngữ và
tục ngữ" do Hoàng Văn Hành chủ biên (NXB KHXH - 1988 - 1990).
Sau khi thành ngữ trở thành đối tợng nghiên cứu khoa học thì các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã tiến hành nghiên cứu nó với mục đích tìm ra các tiêu chí phân biệt thành ngữ với những đơn vị ngôn ngữ khác (từ ghép, cụm từ tự do, tục ngữ ) …
Trong cuốn "Từ và vốn từ tiếng Việt", Nguyễn Văn Tu đã dành cả chơng
VII (tr.178-205) để khảo sát về cụm từ cố định nói chung và thành ngữ nói riêng
Gần đây có nhiều công trình về thành ngữ đề cập đến cả hai bình diện cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa Có thể thấy rằng, từ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc,
Vũ Ngọc Phan cho đến Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Nguyễn Văn Tu, Trơng Đông San, Nguyễn Nhã Bản đều cho rằng: … "Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ bản thân nó là cụm từ" (xét trên bình diện cấu trúc hình thức), "Là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa đ-
ợc tái tạo mang tính hình ảnh cao" (xét trên bình diện ý nghĩa).
Nh vậy khoa học về thành ngữ tiếng Việt đã có nhiều khởi sắc với nhiều công trình su tập và nghiên cứu đa dạng của các nhà ngôn ngữ học, văn hóa học Nhìn chung thành ngữ đang đợc nghiên cứu ở cấp độ khái quát nhằm hoàn thiện hơn những vấn đề lý thuyết Đến nay đang có hớng chuyên biệt hóa: đi sâu vào các khía cạnh của thành ngữ Đề tài chúng tôi đang thực hiện theo hớng đó
Khảo sát nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật là một đề tài hoàn toàn mới, hầu nh cha có ai đề cập đến một cách cụ thể Trớc đây một số bài viết đề cập đến con vật trong ngôn ngữ nhng chỉ nghiên cứu ở góc độ văn hóa, chẳng hạn nh:
- "Con rắn trong tâm thức của ngời Việt" qua thành ngữ Việt Nam của Trí
Trang 8- "Đặc điểm t duy liên tởng về thế giới động vật của ngời Việt" của Nguyễn
Thúy Khanh (Tạp chí Ngôn ngữ số 4 1997)
- "Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật" của Nguyễn
Thúy Khanh (Tạp chí Ngôn ngữ số 3 1995)
- "Rồng có thực hay huyền thoại" của Hoàng Văn Khoán (Báo giáo dục và
thời đại Xuân Canh Thìn 2000)
- "Hình ảnh con trâu trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam" của Hà
Quang Năng (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1 1997)
- "Hình ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca
dao" của Nguyễn Tài Hòe (Luận văn Thạc sỹ Ngữ văn - Đại học Vinh 2002).
- Gần đây có bài viết: "Hình ảnh con chó trong tâm thức dân gian xứ
Huế" của Nguyễn Xuân Tùng (tr.11) Báo Giáo dục và thời đại, số 18, 2006).
Nhìn chung trong các tài liệu trên, hình ảnh các con vật đợc các tác giả nghiên cứu dới góc độ văn hóa ngôn ngữ Họ đi vào nghiên cứu nội dung cơ bản, thiết yếu nhất của thành ngữ, song cha tìm hiểu ở một nhóm thành ngữ cụ thể nh nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật (hay chứa từ chỉ thực vật hoặc chỉ các bộ phận cơ thể v.v ).…
Khảo sát phân tích, tìm hiểu về nhóm thành ngữ có từ chỉ động vật còn nhằm làm rõ vai trò cấu tạo và ngữ nghĩa của nhóm từ này khi tham gia vào thành ngữ
3 mục đích, nhiệm vụ, đối tợng nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
a) Khảo sát cấu tạo và nội dung của nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật
để thấy rõ vai trò của nhóm thành ngữ này đối với thành ngữ tiếng Việt đồng thời thấy đợc vai trò của các từ chỉ động vật trong cấu tạo và ngữ nghĩa đối với thành ngữ Việt
b) Tìm hiểu cấu tạo và ngữ nghĩa của lớp thành ngữ chứa từ chỉ động vật còn nhằm xác định dấu ấn văn hóa của ngời Việt trong thành ngữ và góp thêm t liệu cho việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn
3 2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 9a) Thống kê, phân loại, miêu tả cấu tạo ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ chứa
từ chỉ động vật để nhằm làm rõ sự phong phú và đa dạng của thành ngữ Việt Nam
b) Thống kê, phân loại, miêu tả cấu tạo ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ chứa
từ chỉ động vật nằm làm rõ mối quan hệ đặc biệt với thế giới bên ngoài ngôn ngữ, thấy rõ tầm quan trọng sự tác động qua lại giữa chúng
c) Phân tích vai trò của lớp từ chỉ động vật đối với cơ chế tạo nghĩa của thành ngữ, nhằm chứng minh sự thật "phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam"
3.3 Đối tợng nghiên cứu
Nhóm thành ngữ có chứa từ chỉ động vật trong cuốn "Thành ngữ tiếng Việt" của Nguyễn Lực và Lơng Văn Đang (NXB Khoa học - 1993).
Từ kết quả thống kê phân nhóm, chúng tôi tiến hành so sánh đối chiếu các
đơn vị ngôn ngữ có chứa từ chỉ động vật nhằm làm rõ cấu tạo và ngữ nghĩa của nhóm từ khi tham gia cấu thành nên thành ngữ
4.3 Phơng pháp phân tích tổng phân hợp
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp phân tích, tổng phân hợp nhằm làm rõ mục đích, yêu cầu của đề tài
5 Đóng góp của đề tài
Kết quả của khóa luận là đóng góp nhỏ bé của đề tài nghiên cứu khoa học
đồng thời cũng là nguồn t liệu tham khảo cho việc dạy - học môn Ngữ văn và cho những ai quan tâm đến thành ngữ
Trang 106 Cấu trúc của khóa luận
1.1 Xung quanh định nghĩa về thành ngữ
Bất cứ hoạt động nghiên cứu khoa học ở lĩnh vực nào cũng chỉ có thể đợc công nhận là có tính khoa học thực sự, tồn tại độc lập khi nó xác lập đợc đối tợng, mục đích, nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu của riêng mình Đặc biệt, việc xác
định chính xác, rõ ràng ranh giới của đối tợng là điều kiện tiên quyết để đa công việc nghiên cứu khoa học đi sâu vào khám phá bản chất của đối tợng, đạt tới chân
lý và đi đến sự hoàn thiện Sự phân định rõ ràng về đối tợng nghiên cứu và sự nắm bắt chính xác, đầy đủ các đặc điểm, thuộc tinh đặc thù của đối tợng là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết gắn bó hữu cơ với nhau Cái này đồng thời vừa là tiên đề và
hệ quả của cái kia (và ngợc lại) trong đó vấn đề thứ hai vừa là động lực vừa là mục
đích đi tới của nghiên cứu khoa học
Khoa học về thành ngữ đã xem "thành ngữ" là đối tợng nghiên cứu của mình, nhng cho đến nay cha có ý kiến thống nhất về thuật ngữ này trên thế giới nói chung,
ở Việt Nam nói riêng
Khoa học về thành ngữ ở Việt Nam là một bộ môn khoa học trẻ Nó đang
đ-ợc nghiên cứu ở bớc đầu, ở cấp độ chung, cấp độ khái quát Việc khảo sát những
Trang 11thuộc tính để xác định một cách rõ ràng về thành ngữ vẫn đang là vấn đề trọng yếu, cho đến nay cha đi đến kết quả cuối cùng Chính vì thế vẫn cha có đợc một định nghĩa hoàn hảo, chính xác, đầy đủ đối tợng này Để tìm hiểu sâu hơn, hoàn thiện hơn về đơn vị này chúng ta có thể tham khảo qua một số các quan niệm của các tác giả đi trớc.
Đỗ Hữu Châu trong cuốn "Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt" (NXB
ĐHQGHN 1996) đã nêu: "Ngữ cố định là những cụm từ nhng cha đợc cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt chẽ sẵn có, bắt buộc có tính chất xã hội nh từ" Ông giải thích: "Do sự cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các ngữ cố định ít hay nhiều đều có thành ngữ" Từ đó ông nêu lên định nghĩa về thành ngữ: "Cho một tổ hợp từ có nghĩa S do các đơn vị A, B, C mang nghĩa lần lợt S [1], S [2], S [3], tạo nên, nếu nh… nghĩa S không thể giải thích bằng các ý nghĩa S [1], S [2],
S [3] thì tổ hợp A, B, C có tính thành ngữ" (tr.71 - 72)
Nguyễn Văn Tu trong cuốn "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại" (H.1976)
định nghĩa: "Thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập
đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc hoàn chỉnh Ngôn ngữ của chúng không phải do nghĩa từng thành tố tạo ra, có thể có tính hình tợng, cũng có thể không có Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của nhiều từ nh-
ng cũng có thể cắt nghĩa thành từ nguyên" (tr.185).
Nguyễn Thiện Giáp "Từ vựng học tiếng Việt" (NXB Giáo dục 1998) đã nêu:
"Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm" (tr.98)
Đái Xuân Ninh trong cuốn "Hoạt động của từ tiếng Việt" (NXB KHXH
H.1978) đã định nghĩa: "Thành ngữ là một cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành
đã mất tính độc lập ở cái mức nào đó và kết hợp lại thành một khối tơng đối vững chắc hoàn chỉnh" (tr.129)
Đinh Trọng Lạc trong cuốn "9 9 9 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt"
đã nêu: "Thành ngữ là những đơn vị định danh, biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu tợng cụ thể" (tr.37).
Trang 12Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong cuốn
"Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" (NXB Giáo dục, 2002) có nêu: "Thành ngữ là
cụm cố định hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa của chúng có tính hình tợng hoặc gợi cảm" (tr.157).
Gần đây, Nguyễn Nhã Bản trong cuốn "Đặc trng cấu trúc ngữ nghĩa của
thành ngữ , tục ngữ, ca dao" (NXB Văn hóa - Thông tin, 2005) có nêu tên định
nghĩa ngắn gọn: "Thành ngữ là đơn vị tơng đơng với từ có tính chất cố định bền chặt về kết cấu, mang ý nghĩa biểu tợng" (tr.20).
Có thể khẳng định rằng tất cả các học giả đầu tiên nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt - từ những chuyên gia trong lĩnh vực văn học dân gian (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan) đến những chuyên gia trong lĩnh vực tiếng Việt hiện đại (Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Thiện Giáp, Đinh Trọng Lạc, ) trong khi xác định những đặc điểm của thành ngữ tiếng Việt ít nhiều đều…xuất phát từ hai bình diện cơ bản, đó là bình diện bên ngoài và bình diện bên trong
a) Bình diện bên ngoài, nghĩa là cấu trúc hình thức của thành ngữ Họ cho rằng thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ bản thân nó là cụm từ cố định
b) Bình diện bên trong, tức ngữ nghĩa Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa đợc tái tạo mang tính hình ảnh cao
Nhìn chung các bài nghiên cứu về thành ngữ đều đa ra một sự hình dung sơ
bộ về khái niệm thành ngữ Trên cơ sở đóng góp, phát hiện về đặc điểm, thuộc tính của đối tợng và đề xuất một giải pháp phân biệt đối tợng, nhng có thể thấy rằng tất cả các giải pháp mà các nhà nghiên cứu đề nghị là đúng đắn, song chúng không bao quát đợc toàn bộ những đặc điểm nội taị của thành ngữ tiếng Việt
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các tác giả đi trớc chúng tôi cho rằng định nghĩa về thành ngữ mới mẻ nhất có cơ sở khoa học và đầy đủ nhất là của tác giả Nguyễn Văn Hằng Bằng cách tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm từ kết quả của các tác giả đi trớc, đồng thời khắc phục những nhợc điểm, hạn chế trong các
khuynh hớng khác Nguyễn Văn Hằng trong cuốn "Thành ngữ bốn yếu tố trong
tiếng Việt hiện đại" (NXB Khoa học xã hội, 1999) đã đi từ sự xác định vị trí của
Trang 13thành ngữ giữa những đơn vị ngôn ngữ khác, bám sát đặc điểm của loại hình tiếng Việt để phân biệt thành ngữ với từ, cụm từ tự do, tục ngữ Từ đó tác giả nêu lên…những đặc điểm cơ bản của thành ngữ tiếng Việt nh sau:
"Thành ngữ là một loại cụm từ đặc biệt có cấu trúc bền chặt (cố định), có vần điệu và thành phần ngữ âm đặc biệt Nghĩa của thành ngữ không chỉ suy ra
từ tổng ý nghĩa của các thành tố thành ngữ nó Thành ngữ có nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh, nghĩa khái quát, thờng có kèm theo giá trị biểu cảm - Thành ngữ thờng dùng để định danh những hiện tợng của hiện thực và thờng hoạt động trong câu với t cách là một bộ phận cấu thành của nó" (tr.71)
1 2 Phân biệt thành ngữ với tục ngữ
1.2 1 Những tiêu chí nhận diện thành ngữ trong sự phân biệt với tục ngữ
Để nhận diện thành ngữ, truyền thống văn học của ta đã có những cố gắng nhằm xác định ranh giới giữa thành ngữ với tục ngữ và quán ngữ Cũng có những công trình su tập, giải thích và nghiên cứu nhằm tìm hiểu những đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ
Hoàng Văn Hành trong cuốn "Thành ngữ học tiếng Việt" (NXB Khoa học
xã hội, 2004) cho rằng: "Theo cách hiểu thông thờng thì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh bóng bẩy về ý nghĩa,
đợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ" (tr.27).
không nói "chân phải đá chân trái", mặc dù hai câu này nó hoàn toàn giống nhau
về sắc thái ý nghĩa, vì hai từ "đăm - chiêu" đồng nghĩa với "phải - trái"
Trang 14- Tính bền vững về cấu trúc của thành ngữ còn đợc thể hiện ở sự cố định về trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ Chẳng hạn, thờng nói: "tai to mặt lớn" chứ
không nói: "mặt lớn tai to".
Tính bền vững về hình thái cấu trúc có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau Chủ yếu nhất là các nguyên nhân sau:
a) Do đặc điểm nguồn gốc của thành ngữ đợc ra đời từ chuyện cổ tích, truyền thuyết, điển cố sách vở Ví dụ "s tử Hà Đông", "nợ nh chúa Chổm".
b) Do hệ quả của quá trình mờ nhạt về ngữ nghĩa của các thành tố và những mối quan hệ ngữ pháp giữa chúng Các yếu tố này mất đi mối liên hệ ngữ nghĩa với các yếu tố xung quanh, do đó nảy sinh quan hệ thay thế, ví nh: "chim sa cá nhảy".
c) Do tính vần điệu, tiết tấu Quan hệ đối nhịp giữa các yếu tố trong thành ngữ cũng làm tăng tính bền vững về hình thái cấu trúc cho thành ngữ Ví dụ: "đợc voi đòi tiên", ''lên voi xuống chó", "nh chó với mèo"…
nó vẫn uyển chuyển Có nghĩa là cái chuẩn này nó có sự bắt buộc, có tính quy định của xã hội nhng không hạn chế sự sáng tạo của cá nhân Điều này nó đợc chứng minh trong các tác phẩm văn chơng, cụ thể, tiêu biểu là trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du đã sử dụng 123 thành ngữ
Trang 15Ví dụ: Khi nói đến số phận của ngời phụ nữ gặp cảnh éo le, bất hạnh "phận bạc nh vôi", hay nói đến thân phận con ngời không làm chủ đợc mình "nớc chảy bèo trôi"…
Hoặc trong câu thơ: "Dân bị hai tròng vào một cổ
Ta liều với trăm đắng ngàn cay"
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng thành ngữ một cách rất độc đáo: Ngời vừa
đảo trật tự, vừa chia tách các yếu tố trong thành ngữ "một cổ hai tròng", "trăm
đắng ngàn cay" nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong cách thể hiện t tởng tình cảm của
mình cho nên tính bền vững của thành ngữ trong hệ thống chuẩn mang tính xã hội cao và tính uyển chuyển trong sử dụng là hai mặt của một vấn đề nhng không loại trừ lẫn nhau, không hề mâu thuẫn nhau mà ngợc lại nó bổ sung cho nhau tạo nên những sắc thái riêng cho thành ngữ tiếng Việt
Tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa Nó biểu thị những khái niệm hoặc
biểu tợng trọn vẹn về các thuộc tính, quá trình hay sự vật Nói một cách khác thì thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ Ví dụ: "lòng lang dạ sói" nói
đến lòng ngời hiểm độc, "nớc mắt cá sấu" nói đến giọt nớc mắt "giả tạo" Song…khác với các đơn vị từ vựng bình thờng thì thành ngữ là loại đơn vị định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữ không hớng tới điều đợc nói trong nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên thành ngữ, mà ngụ ý điều gì đó suy ra từ chúng Ví dụ: "cá nằm trên thớt" không phải miêu tả con cá nằm trên thớt nh cuốn sách nằm trên bàn
mà ngụ ý nói đến trạng thái nguy hiểm đến sự sống còn Đó là nghĩa bóng hay nghĩa biểu trng đợc hình thành nhờ quá trình biểu trng hóa
Giá trị biểu trng hóa của định danh ngôn ngữ có nhiều loại:
- Biểu trng hóa dựa vào quan hệ tơng thích giữa âm và nghĩa tức là dựa vào giá trị biểu trng hóa ngữ âm
- Biểu trng hóa dựa vào quan hệ tơng đồng và tơng cận trong quá trình liên
hệ ngữ nghĩa thì gọi là giá trị biểu trng hóa ngữ nghĩa Hình thái liên hội ngữ nghĩa theo quan hệ tơng đồng là so sánh: So sánh hiện và so sánh ẩn Hình thái liên hội
Trang 16ngữ nghĩa theo quan hệ tơng cận là hoán dụ hóa Ví dụ: ba chân bốn cẳng, khéo chân khéo tay.
Nh vậy nghĩa của thành ngữ tiếng Việt là kết quả của hai hình thái biểu tợng hóa: Hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm)
1.2.2 Điểm giống và khác nhau của thành ngữ và tục ngữ
a) Điểm giống nhau giữa thành ngữ - tục ngữ
- Thành ngữ và tục ngữ đều là những đơn vị (ngữ cố định) có sẵn, có kết cấu chặt chẽ, bền vững cố định, trong đó không thể thay đổi trật tự các yếu tố Nội dung ngữ nghĩa của chúng thờng mang tính khái quát, hình ảnh và biểu thị nghĩa bóng, hơn nữa chúng thờng đợc sử dụng vần và điệu
đợc với từ để tạo thành câu Bởi vậy trong giao tiếp nếu biết vận dụng thành ngữ, tục ngữ thành thạo nhằm thể hiện sự hiểu biết, cách nói có văn hóa, đảm bảo truyền tải nội dung thông tin chính xác
Ví dụ: - Chỉ tính ích kỷ, keo kiệt của con ngời:
+ đãi cứt gà lấy tấm
- Chỉ tính lúng túng của con ngời:
+lúng túng nh gà mắc tóc
- Thành ngữ và tục ngữ đều thể hiện đợc điểm văn hóa của ngời Việt Đó có thể là cách ứng xử, là tâm t tình cảm, là cái tốt, cái xấu của con ng… ời trong một cộng đồng, làng xã, dòng họ hoặc tình yêu đôi lứa…
Trang 17Ví dụ: Nói về hình ảnh lam lũ của ngời nông dân:
b) Điểm khác nhau giữa thành ngữ và tục ngữ.
Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chức năng ngữ nghĩa và chức năng ngữ pháp
Thành ngữ thờng thể hiện chức năng định danh giống nh từ Trong câu chúng hoạt động nh những đơn vị định danh Đây là ý kiến đợc đa số các tác giả đồng tình
Ví dụ: ông nói gà bà nói vịt
Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn một ý nghĩa, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý có khi nó là một sự phê phán Có nghĩa là tục ngữ
có nội dung thông báo đầy đủ, trọn vẹn Chúng hoạt động nh những đơn vị câu mang nội dung thông báo hoàn chỉnh
Ví dụ: - công sinh không bằng dỡng dục
- tốt gỗ hơn tốt nớc sơn
* Về mặt ngữ nghĩa
Thành ngữ là một đơn vị từ vựng biểu thị một khái niệm có tính bóng bẩy về nghĩa, dựa trên các hình ảnh, các biểu tợng cụ thể Nói cách khác ý nghĩa mà thành ngữ biểu thị là nghĩa bóng đợc toát ra từ toàn bộ kết cấu chứ không phải là số nghĩa của các thành tố Thành ngữ có nghĩa định danh (gọi tên sự vật, hiện tợng, trạng thái, hoạt động tính chất, đặc điểm, phổ biến khái quát từ những sự … thực, việc thực trong cuộc sống) Giá trị gợi tả làm nên tính hình tợng cho thành ngữ
Trang 18Còn tục ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa, bởi nội dung của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Quá trình hình thành phán đoán xảy ra đồng thời với quá trình hình thành câu.
Đơn vị thông báo nhỏ nhất của phán đoán chứ không phải là từ (khái niệm và những đơn vị tơng đơng) Do vậy tục ngữ và câu là những đơn vị thông báo hoàn chỉnh Vì thế nghĩa của tục ngữ là một phán đoán, một lời nhận định, đánh giá một
sự khẳng định về một chân lý, một lẽ bình thờng đối với nền văn hóa nào đó, nghĩa
là một t tởng hoàn chỉnh Nội dung của thành ngữ thờng nghiêng về những hiện ợng có tính chất riêng lẻ, còn nội dung của tục ngữ thờng là những cái có bản chất khái quát
t-Về nghĩa của tục ngữ, ý của Hoàng Tiến Tựu cho rằng, tục ngữ có rất nhiều nghĩa: nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa rộng, nghĩa hẹp, nghĩa trực tiếp, nghĩa gián tiếp Theo ông cái tính nhiều nghĩa đó là do "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài lờiớn) mà các phần ý ở ngoài lời là phần đợc sử dụng chính thức của những câu tục ngữ ấy Một câu tục ngữ đợc sử dụng trong những hoàn cảnh khác nhau sẽ mang một ý nghĩa khác nhau
Ví dụ: "tức nớc vỡ bờ" cây này có thể hiểu theo nghĩa đen vì đây là hiện tợng
có thật, nhng cũng có thể hiểu theo nghĩa bóng "biểu thị trạng thái tâm lý quá sức chịu đựng"
Nh vậy có thể nói rằng tục ngữ đợc hiểu theo hai nghĩa (nghĩa đen và nghĩa bóng) nhng về sau này và cho đến bây giờ thì ngời ta vẫn hiểu và sử dụng chủ yếu theo nghĩa đen Bởi vì nghĩa đen là nghĩa cơ sở làm nền tảng để ngời ta áp dụng trong cách dùng ám chỉ (nghĩa bóng) cho đúng với ngữ cảnh Tục ngữ đa phần là những kinh nghiệm, những chân lý lời khuyên răn cho nên yêu cầu trong sử…dụng phải biết vận dụng một cánh tinh tế chính xác thì mới có hiệu quả Tuy nhiên có một số câu tục ngữ chỉ đợc hiểu theo nghĩa bóng mà không đợc hiểu theo nghĩa đen
Ví dụ: cốt nhục tơng tàn
nồi da nấu thịt
Trang 19ý nghĩa của của những câu tục ngữ này mang ngụ ý (phúng dụ), tức là nó
đ-ợc hiểu theo nghĩa bóng ngay từ khi mới ra đời
* Về mặt cấu tạo
Sự khác biệt giữa thành ngữ và tục ngữ là ở cấp độ Thành ngữ thuộc cấp
độ thấp hơn cấp độ tục ngữ Có những trờng hợp tục ngữ lấy thành ngữ làm yếu tố cấu tạo nên nó (mà cha thấy có hiện tợng ngợc lại)
Mấy đời mẹ ghẻ nâng niu con chồng
Hầu hết các thành ngữ có hình thức cấu tạo là cụm từ Tục ngữ hầu hết có cấu tạo là một câu, Ví dụ: " cC ái nết đánh chết cái đẹp" Tuy nhiên có những tục
ngữ có cấu trúc nh một cụm từ " Ăă n cỗ đi trớc, lội nớc đi sau" Đây là một phán
đoán, một kinh nghiệm trong đời sống xã hội xa và cũng là lời khuyên răn mang tính chất chân thực đối với những ngời luôn luôn có t tởng vụ lợi cho mình Đó là khi đợc mời đi ăn cỗ thì nên đi trớc mọi ngời để đợc hởng của ngon vật lạ, còn lội nớc thì nên đi sau để tránh sự nguy hiểm cho mình
Khi Bác Hồ viết: "Mọi ngời hãy ra sức góp công, góp của để xây dựng nớc nhà thì chớ nên ăn cỗ đi trớc, lội nớc đi sau" thì câu tục ngữ trên mất đi chức năng
là một kinh nghiệm, một lời khuyên mà nó có Trong câu này phê phán thái độ t lợi chỉ biết có mình mà không biết đến mọi ngời xung quanh
Trong thành ngữ có những trờng hợp có cấu trúc là một câu, chẳng hạn:
từ láy Hai đơn vị này vốn có nhiều điểm tơng đồng với thành ngữ
Trên bình diện ngữ nghĩa, chức năng ngữ pháp và chức năng định danh có thể nói thành ngữ gần với từ nhng không thể nói về sự tơng đồng hoàn toàn của chúng Cả hai cùng có cấu trúc bền chặt, có tính hoàn chỉnh về nghĩa mang chức năng định danh và cùng đảm nhận đợc chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu nh:
Trang 20chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ song giữa từ và thành ngữ cũng có những nét khác biệt…cơ bản nh sau.
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là vật liệu xây dựng chính cho các đơn vị thuộc cấp bậc cao hơn Chúng kết hợp với nhau tạo thành cụm từ hoặc kết hợp với nhau theo những quy tắc nhất định để tạo thành câu - đơn vị cao nhất của ngôn ngữ
Điều này không bao giờ có ở thành ngữ
Định danh của thành ngữ mang tính hình ảnh, thờng có sắc thái biểu cảm,
đánh giá, nhận xét Còn định danh của từ đơn giản rõ ràng, mang tính chất thuật…ngữ "Thành ngữ không chỉ gọi tên ngời, sự vật, quá trình hiện tợng mà còn vẽ lên một bức tranh về chúng, gợi tả chúng" (A.M.Bapkin - dẫn theo Nguyễn Văn Hằng,
trong cuốn "Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại", tr.48).
So sánh với "từ ghép" chúng ta thấy nghĩa của từ ghép thờng rõ ràng dễ suy
ra từ nghĩa đen của các yếu tố cấu thành nó Ví dụ: áo dài, nhà cửa Còn nghĩa của…thành ngữ không thể suy ra từ nghĩa của những yếu tố cấu thành nó
Về hình thức ở từ ghép chúng ta rất ít gặp quan hệ chủ ngữ, vị ngữ, quan hệ
đẳng lập chiếm tỷ lệ không đáng kể còn ở thành ngữ thì quan hệ chủ vị không hiếm thấy và quan hệ đẳng lập trong cấu trúc đơn vị thành ngữ là phổ biến
So sánh với "từ láy" chúng ta thấy các yếu tố trong từ hòa phối lẫn nhau về
âm thanh theo quy luật nhất định và quan hệ ngữ âm giữa các thành tố là quan hệ nổi bật nhất, cốt yếu nhất còn ở thành ngữ các từ đợc kết hợp với nhau theo tính quyết định đó là quan hệ về mặt ngữ nghĩa
Giá trị gợi tả ở từ láy đợc tạo nên bởi sự hoà phối ngữ âm giữa tiếng gốc và tiếng đợc láy lại (xinh xắn, nhỏ nhắn, xinh xinh ) còn giá trị gợi tả ở thành ngữ có…
đợc là nhờ tính hình tợng, hình ảnh biểu trng cụ thể đợc tạo nên qua việc sử dụng các phơng tiện tu từ, ngữ nghĩa nh: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ…
Điểm khác nhau chủ yếu giữa thành ngữ và "tổ hợp từ tự do" là các yếu tố
cấu tạo nên chúng mang những thuộc tính khác nhau Trong tổ hợp từ tự do các yếu
tố cấu tạo là những từ có ý nghĩa từ vựng độc lập và chức năng ngữ pháp rõ ràng
Do đó bản thân tổ hợp từ tự do không có tính chỉnh thể về ngữ nghĩa và cố định về cấu trúc Nói cách khác tổ hợp từ tự do không có ý nghĩa từ vựng vì nó không phải
Trang 21là đơn vị của hệ thống từ vựng ngôn ngữ ở thành ngữ các yếu tố cấu tạo tuy vốn có nguồn gốc là từ nhng ý nghĩa từ vựng và chức năng cú pháp của từ đã nhợc hóa hoàn toàn.
ở đây ý nghĩa từ vựng của các yếu tố đã tan biến đi, thay vì nó là ý nghĩa quan hệ biểu trng bậc hai, quan hệ cú pháp giữa các yếu tố bị đứt gãy, mờ nhạt thay vào đó là các mối quan hệ nội tại giữa các yếu tố bên trong một chỉnh thể
Cuối cùng cũng nh bao tác giả khác thừa nhận rằng không bao giờ có thể vạch ra một đờng ranh giới rõ ràng dứt khoát giữa thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác, bởi vì bao giờ cũng có những quá độ, trung gian, ở đó xẩy ra quá trình chuyển hóa dần dần từ đơn vị này sang đơn vị khác Đó là quy luật tất yếu không riêng gì trong lĩnh vực ngôn ngữ mà đối với tất cả các hiện tợng trong hiện thực khách quan Qua sự phân biệt trên chúng ta thấy thành ngữ ngoài những đặc điểm chung, còn có những nét đặc trng riêng đủ để phân suất chúng thành một ngôn ngữ khác biệt so với từ, cụm từ, tục ngữ Do vậy nó trở thành một môn khoa học thực…thụ
1 3 Đặc trng chung của thành ngữ
Khảo sát các đơn vị trung gian giữa từ và cụm từ tự do Nguyễn Thiện Giáp
đã viết: "Mặt chức năng ngữ nghĩa là mặt cơ bản quyết định bản chất của đơn vị
đợc nghiên cứu" [6,173] Chính chức năng định danh đã xác định thành ngữ là một
trong những đơn vị từ vựng ngay cả khi nó có kết cấu là một cụm chủ - vị nh tục ngữ Và cũng chính chức năng này đã gián tiếp chi phối đến các đặc trng về nguồn gốc, cấu tạo và ý nghĩa của thành ngữ tiếng Việt.…
Thành ngữ tiếng Việt là hiện tợng phổ biến đối với mọi ngôn ngữ trên thế giới nhng khác nhau ở ngôn ngữ mỗi dân tộc Sự chi phối của quy luật vận động t duy dân tộc, tập quán ngôn ngữ, đặc điểm loại hình của ngôn ngữ tới cách định danh nói chung cũng là một tác động tất yếu dẫn đến cách định danh trong thành ngữ Các yếu tố lịch sử, môi trờng, điều kiện sống, đặc điểm tâm lý, phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam và đặc điểm loại hình của ngôn ngữ đơn lập là các cơ sở
để chúng ta hiểu thêm đặc trng chung của thành ngữ tiếng Việt
Trang 221.3.1 Nguồn gốc ra đời của thành ngữ
Giống nh các từ trong ngôn ngữ thành ngữ là những đơn vị có sẵn, xuất hiện dần dần từ nhiều nguồn gốc, nhiều thời điểm khác nhau và đợc sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội Các kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố tạo nên thành ngữ vốn là những từ độc lập tức là những đơn vị định danh có nghĩa từ vựng và chức năng cú pháp ổn định Tuy vậy trong hệ thống thành ngữ của mỗi ngôn ngữ cũng có những thành ngữ không dễ dàng nhận biết đợc ý nghĩa của các yếu tố Do đó việc suy xét nghĩa của thành ngữ càng trở nên khó khăn nh việc tìm kiếm nguồn gốc của
Thành ngữ Hán đợc sử dụng trong hình thức nguyên dạng chiếm số lợng khá lớn so với toàn bộ thành ngữ gốc Hán trong tiếng Việt Theo thống kê của Hoàng Văn Hành, tổng số 354 thành ngữ mợn tiếng Hán trong tiếng Việt thì có 71 thành ngữ nguyên dạng Chiếm khoảng 20% Trong khảo sát nhóm từ này chúng tôi không tính đến các thành ngữ Hán - Việt bởi vì chúng là những thành ngữ đợc vay mợn hoàn toàn từ tiếng Hán Do vậy chúng tôi chỉ xét những thành ngữ có các yếu
tố thuần Việt hoặc một số các thành ngữ có pha trộn giữa các từ tiếng Việt và tiếng Hán
Nhìn chung trong cuốn thành ngữ tiếng Việt thì hầu hết các yếu tố tham gia cấu tạo là những từ thuần Việt (89%) Chúng là một bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện tợng cơ bản nhất và tồn tại rất lâu đời trong hệ thống tiếng Việt
Số những yếu tố gốc Hán đợc sử dụng trong thành ngữ tiếng Việt chiếm tỷ lệ
ít (khoảng 11%) chúng xuất hiện trong những thành ngữ nửa tiếng Việt, nửa tiếng
Trang 23Hán, nhng tính chất Việt thì rất rõ ràng bởi chúng đợc sắp xếp theo trật tự riêng của tiếng Việt trong cấu trúc của thành ngữ.
Ví dụ: bBách chiến bách thắng
Nh vậy có thể thấy rằng: ở những lớp từ vựng khác trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, hiện tợng vay mợn xẩy ra rất nhiều, còn với thành ngữ thì hiện tợng vay mợn các yếu tố chiếm số lợng hạn hữu, vì các thành ngữ là những đơn vị từ vựng có lịch sử ra đời từ rất sớm, gần gũi, gắn bó với cuộc sống của nhân dân lao động Vì vậy nhân dân sáng tạo nên trong lời ăn tiếng nói của mình cho sinh động, dễ hiểu
Hơn đơn vị nào khác thành ngữ là nơi lu giữ đợc nhiều di sản ngôn ngữ của dân tộc và tính dân tộc cũng thể hiện rất rõ một phần ở đơn vị thành ngữ này
1.3.2 Đặc trng ngữ nghĩa của thành ngữ
1 3.2.1 Tính hình ảnh
Dựa vào những hình ảnh, những biểu tợng cụ thể; bằng nhiều phơng thức biểu hiện nh: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, khoa trơng với các cách kết hợp, tổ hợp…ngôn từ, ngời Việt đã tạo nên đơn vị thành ngữ có giá trị hình ảnh tu từ Tính hình
ảnh là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của thành ngữ Nó đóng vai trò
đáng kể trong việc làm nảy sinh và phát triển thành ngữ, là nhân tố cải biến ngữ nghĩa của thành ngữ Đa số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận điều này, tuy nhiên
đề cập tới nó từ những góc độ khác nhau với cách diễn đạt khác nhau
Nguyễn Văn Hằng dựa theo V.G Gắc định nghĩa tính hình ảnh ở thành ngữ bằng nhiều tiêu chí ngôn ngữ học: "Cơ sở của tính hình ảnh là phải nhìn thấy "hai bức tranh chồng lên nhau", tính chất song diện ngữ nghĩa của cách biểu hiện hình
ảnh; một bình diện phù hợp với nghĩa gốc, một bình diện thì tạo hình ảnh (nghĩa bóng) và mức độ tính hình ảnh của thành ngữ phụ thuộc vào cả những quan hệ ngữ pháp tồn tại giữa các yếu tố của thành ngữ" [6, 124-127].
Đỗ Hữu Châu lại phân tích nó ra thành những đặc điểm, tính hình tợng, tính
cụ thể và tính biểu trng khi nói chung về ngữ cố định Ông có ý kiến sau:…
"Hầu hết tất cả các ngữ cố định có tính thành ngữ cao hay thấp đều là những bức tranh nhỏ về những vật thực, việc thực cụ thể riêng lẻ đợc nâng lên để
Trang 24nói về cái phổ biến, khái quát tru tợng Chúng là các ản dụ, so sánh hay hoán
dụ và nhắc đến một ngữ cố định tr… ớc hết là cái hiện đại chính những hình ảnh
về các sự vật, hiện tợng" [1, 82-84].
Bàn về nội dung và hình thức của thành ngữ, Đái Xuân Ninh cũng từng nhắc
đến: "Mối liên tởng đồng dạng giữa hình ảnh sự vật này với sự vật kia về nội dung" hay mỗi dân tộc thờng tìm thấy cho mình những "hình ảnh quen thuộc thích
đáng cho sự biểu hiện khái niệm" [4, 216 - 217].
Ví dụ: Hình ảnh "ếch ngồi đáy giếng" biểu trng cho tầm nhìn thiển cận, tầm
hiểu biết nông cạn của con ngời
Tóm lại chúng ta có thể khẳng định một lần nữa rằng: Đặc trng tính hình ảnh trong thành ngữ tiếng Việt và các định danh đầy độc đáo, đặc sắc, hiệu quả mà ngời Việt đã triệt để vận dụng khi sáng tạo nên những đơn vị thành ngữ Với cách định danh dựa trên những hình ảnh biểu tợng cụ thể và bằng sự tổ hợp các yếu tố, hình
ảnh trong một kết cấu nhất định để tạo nên hình ảnh chung (hay hình ảnh tơng ứng)
có tính biểu trng, tính hình tợng, tính cụ thể Thành ngữ tiếng Việt xét về nội dung ngữ nghĩa có đợc đặc tính bản chất đó là nghĩa bóng Nghĩa của thành ngữ không phải là sự tổng hợp nghĩa của các yếu tố tạo thành
Bên cạnh đó, chúng ta phải thấy rằng thành ngữ tiếng Việt, hiện tợng đa nghĩa, sự tồn tại những thành ngữ đợc dùng với nghĩa bóng hoặc nghĩa đen lẫn nghĩa bóng cha khác nghĩa gần, nghĩa cụ thể, nghĩa của từng yếu tố là bao Giữa những hình ảnh gốc (đợc tạo nên bởi tính độc lập ngữ nghĩa nhất định của các yếu tố) với hình ảnh tơng ứng đợc gợi lên trong ý thức sử dụng thành ngữ luôn có mối liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau Vì thế với thành ngữ tiếng Việt việc kết hợp ngữ pháp và ngữ nghĩa giữa các yếu tố trong việc tạo ra hình ảnh, tổ chức mối tơng quan giữa các hình ảnh (nói cách khác là cấu trúc kết cấu) có ý nghĩa rất lớn đối với việc nhận thức đặc trng ngữ nghĩa của chúng
Tìm hiểu bản chất, tính hình ảnh trong thành ngữ tiếng Việt có ý nghĩa phơng pháp luận đối với việc "phân loại để làm rõ đặc trng đối tợng" (ý của Đỗ Hữu
Châu), trên sự thống nhất giữa hình thức lẫn nội dung cấu tạo lẫn ý nghĩa của nó
Trang 25Nhìn chung xét về nghĩa của thành ngữ, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng: Nghĩa của nó là nghĩa bóng Điều này không sai, nhng chúng ta cũng không thể phủ nhận nghĩa đen của nó Vì thế ta phải xét nghĩa của thành ngữ trên hai bình diện: Bình diện tiếp xúc và tiếp nhận.
* Bình diện tiếp xúc
Khi tiếp xúc với các thành ngữ ta thờng tiếp xúc với các hình ảnh cụ thể nào
đó, tức là thành ngữ tái hiện lại các hình ảnh về sự vật, hiện tợng, trạng thái có…thật không
Ví dụ: - "lúng túng nh gà mắc tóc"
"- lúng túng nh chó ăn vụng bột"
Trong đời sống nếu nh chúng ta không nhìn thấy đợc các hình ảnh, các hiện tợng "con gà mắc tóc", "con chó ăn vụng bột" trắng cả mõm bị chủ bắt đợc thì ta
sẽ không có đợc cách so sánh, biểu trng ví von tài tình đến thế ở bình diện này tính
cụ thể của thành ngữ sẽ đợc tăng lên và sắc thái biểu cảm bị giảm xuống, do đó thành ngữ đợc hiểu theo nghĩa đen
Vẫn công nhận rằng thành ngữ có đặc trng bản chất là nghĩa bóng, nó góp phần xem xét một cụm từ cố định có thể trở thành thành ngữ hay không, song không nên tuyệt đối hóa vấn đề này Bởi vì trong thực tế có rất nhiều những thành ngữ mang nghĩa đen bên cạnh nghĩa sử dụng là nghĩa bóng Nói cách khác bên cạnh nghĩa bóng thành ngữ còn có nghĩa đen, do vậy ta vẫn phải hiểu nghĩa bóng trên cơ sở tiếp cận với nghĩa đen cụ thể của từng yếu tố
Ví dụ: "hôi nh chuột chù", thành ngữ chỉ phù hợp với những cá nhân mà
chúng ta coi thờng, khinh bỉ, thù ghét chứ không phải ám chỉ cho tất cả mọi ngời Bởi trên thực tế chuột chù là loại động vật rất hôi, rất đáng ghét Do đó thành ngữ mang nghĩa bóng thôi thì cha đủ
* Trên bình diện tiếp nhận
Trang 26Trên bình diện tiếp nhận chúng ta tiếp nhận thành ngữ ở nghĩa bóng (nghĩa
ẩn, biểu trng, so sánh, hoán dụ ) mặc dù giữa nghĩa đen và nghĩa bóng có tính…lôgíc nhng khi hiểu về nghĩa trong thành ngữ ta không nên hiểu theo nghĩa đen mà chủ yếu là hiểu theo nghĩa bóng Ví dụ: "mẹ tròn con vuông"; là nói đến sự an toàn
tốt đẹp của ngời phụ nữ sau khi sinh nở
Tóm lại, mỗi tình huống, mỗi hiện tợng trong cuộc sống đều đợc quan sát, phát hiện những nét bản chất, đặc trng, sự phân biệt bằng hình ảnh rất tinh tế, do vậy mỗi hình ảnh là một sự cụ thể hóa thuộc tính trên một phơng diện nhất định Nhng tất cả đều là kết quả của sự quan sát và chọn lựa hình ảnh cho phù hợp với từng thành ngữ
1 3.2.2 Tính biểu thái
Bất cứ một hình tợng, một sự vật nào, một hình ảnh nào cũng đ… ợc nhìn nhận, quan sát qua quan điểm, thái độ, tình cảm, cảm xúc mạnh mẽ của đối tợng sự khám phá càng độc đáo, đặc sắc thì quan điểm thái độ, đánh giá càng sâu sắc và thâm thúy Với sự quan sát tài tình và cách liên tởng độc đáo của ngời Việt (tác giả dân gian) thành ngữ tiếng Việt, phong phú, tinh tế trong việc biểu lộ cảm xúc của chủ thể Đó là thái độ kính trọng, lòng cảm phục, sự ái ngại, xót thơng hoặc khinh
bỉ, chê bai đối với đối t… ợng đợc nói tới có thể là ngời hoặc vật "Thành ngữ chỉ…hình thành ở những phạm vi mà sự phản ánh đòi hỏi cần có sự đánh giá và biểu cảm" Giá trị biểu cảm này là một phần phụ thuộc vào sắc thái ý nghĩa của những hình ảnh, những biểu tợng trong quan niệm của ngời Việt đã đợc đa vào sử dụng của các yếu tố đã đợc lựa chọn và kết hợp trong cấu tríúc thành ngữ
Ví dụ: - lúng túng nh chó ăn vụng bột
- lúng túng nh gà mắc tóc
- lúng túng nh thợ vụng mất kim
Tất cả các thành ngữ trên đều chỉ trạng thái lúng túng, bối rối không biết cách giải quyết nhng ngời nói đã sử dụng các hình ảnh nhằm biểu đạt sự quan sát các tình huống, các hiện tợng trong cuộc sống, phát hiện ra những sắc thái tình cảm khác nhau
Trang 27Không riêng thành ngữ mới mang tính biểu thái Trong các đơn vị khác cũng có tính biểu thái, nhng tính biểu thái của thành ngữ đợc thể hiện ngay trong từng yếu tố của chúng, tức là bản thân thành ngữ cũng mang tính biểu thái cao.
1 3.2.3 Tính dân tộc
Tính dân tộc là đặc điểm nói chung của một ngôn ngữ cụ thể, đợc thể hiện
đậm nét trong đơn vị thành ngữ của các dân tộc với thành ngữ tiếng Việt, đây là đặc
điểm nổi bật trên cả hai bình diện nội dung và hình thức qua các dấu hiệu từ vựng - ngữ pháp âm điệu, vần điệu
ở bình diện nội dung ngữ nghĩa, thành ngữ phản ánh các biểu hiện, các sắc
thái khác nhau của sự vật, hiện tợng đã có tên gọi hoặc ch… a có tên gọi Bằng sự tổ chức các hình ảnh biểu trng, ngời Việt ghi giữ những biểu hiện, những sắc thái mà mình cho là đáng chú ý Chính những biểu hiện, những sắc thái của sự vật hiện tợng
đợc ghi giữ ấy phản ánh cách nhìn nhận, cách đánh giá, khám phá, lối t duy, những kinh nghiệm của dân tộc Việt
Mỗi dân tộc đều có vốn thành ngữ riêng Đơn vị thành ngữ là một trong những nơi lu giữ thông tin, lu giữ những đặc trng văn hóa Ngời Việt thờng nói ví von, so sánh, khoa trơng cho nên khi đọc thành ngữ ta cũng có thể hiểu rõ đặc…trng văn hóa của dân tộc Bởi tính dân tộc là đặc điểm chung của ngôn ngữ
Các hình ảnh, biểu tợng đợc sử dụng làm biểu trng cho nội dung ngữ nghĩa của chúng cũng bộc lộ tính dân tộc Ví dụ: Hình ảnh con mèo, con chó, con cá, con ong hay cảnh … "con rắn mất đầu, con đỉa phải vôi"… trong các thành ngữ, mang
đậm màu sắc quê hơng xứ sở Việt Nam Trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử
cụ thể chúng đã đợc ngời xa quan sát một cách tài tình liên tởng một cách tinh tế,
độc đáo và chính xác với những hiện t… ợng nhân sinh Việc tìm hiểu ý nghĩa biểu trng đợc tạo nên với mối liên hệ từ các sự vật, hiện tợng, hình ảnh gốc này có ý nghĩa lớn đối với việc khám phá dấu ấn văn hóa của ngời Việt Sự hiểu biết thấu
đáo về các hình ảnh gốc sẽ giúp chúng ta hiểu đợc thật chắc chắn, chính xác nghĩa thực tại (nghĩa bóng) của thành ngữ tiếng Việt
Trang 28Ví dụ: Ngời Việt Nam so sánh hình dáng của một con ngời bằng các thành
ngữ nh: "gầy nh cá rô đực", "gầy nh mắm" Trong khi đó ngời Pháp lại có các
thành ngữ nh sau: "gầy nh que củi", "gầy nh que diêm" Các ví dụ này cho ta thấy
cùng một nội dung biểu đạt tơng ứng, những hình ảnh đợc con ngời của các dân tộc khác nhau sử dụng để ví von cũng khác nhau Điều này giải nghĩa vì sao ngời Việt lại sử dụng những hình ảnh "con vật" để ví von, so sánh Đối với ngời Việt các con
vật gần gũi với ngời nông dân và đặc biệt là gắn bó với nền nông nghiệp lúa nớc Còn "que diêm", "que củi" là sản phẩm của nền công nghiệp văn minh máy móc
Dấu ấn văn hóa trong ngôn ngữ đợc thể hiện đầu tiên qua sự lựa chọn hình ảnh phù hợp
1.3.3 Đặc trng về cấu tạo của thành ngữ
Bên cạnh những nét đặc trng chung cho mọi thành ngữ, thành ngữ tiếng Việt còn có những đặc điểm riêng về kết cấu và phơng thức cấu tạo Đặc tính cố định là
đặc tính cơ bản quan trọng nhất của thành ngữ tiếng Việt Trớc hết nó cố định bền chặt về số lợng âm tiết, vị trí âm tiết không bao giờ biến đổi Về số lợng âm tiết trong thành ngữ tiếng Việt ngắn nhất là ba âm tiết, dài nhất là 14 âm tiết Nhng số l-ợng âm tiết càng nhiều thì lợng đơn vị càng giảm
Tuy nhiên ta có thể thấy ở thành ngữ tiếng Việt mặt đối lập có mức độ với
đặc tính cố định này là: hiện tợng biến thái xuất hiện không ít trong nó ở một số thành ngữ tuy đã đạt đến mức cố định cao nhng khi sử dụng ngời Việt vẫn có thể thay đổi kết cấu đi đôi chút Tuy nhiên nó vẫn đảm bảo cho hình thái và nghĩa cơ bản đợc giữ nguyên, ý nghĩa ngữ pháp vẫn tơng tự
Là đơn vị đợc sáng tạo ra trên cơ sở những đặc điểm điển hình của cấu trúc ngôn ngữ phân tiết tính và tập quán ngôn ngữ của ngời Việt, cho nên thành ngữ tiếng Việt thờng có tiết tấu, có vần, nhịp rõ ràng và có cả lối lặp âm hài hòa Đó là những nét cơ bản nhất trong thành ngữ tiếng Việt
Là đơn vị thuộc loại cụm từ cố định là chủ yếu, do đó thành ngữ có giá trị sử dụng tơng đơng nh một từ, tham gia cấu tạo câu Ngoài ra nó còn có kết cấu dới dạng câu đợc gọi là "cụm từ chủ - vị cố định" hay "ngữ cố định" và hãn hữu một lúc
Trang 29nào đó nó đóng vai trò một câu đơn đứng độc lập trong văn cảnh Đó là xét về
phép chứ thực ra không có cơ sở chắc chắn, hiệu quả đạt đợc sẽ không cao Thành ngữ trên khi dùng vào lời nói, vào câu thì nó đợc xem nh một đơn vị từ vựng có chức năng nh từ
Xét về số lợng âm tiết, phần lớn thành ngữ tiếng Việt có số âm tiết chẵn (2,
4, 6, 8, 10, 12, 14) Trong đó loại thành ngữ 4 âm tiết đợc xem là đặc trng nhất (chiếm 70%) Theo Lơng Văn Đang nhận xét: "Kết cấu của thành ngữ là kết cấu hai vế trong thành ngữ hai vế thì kết cấu cân đối nhiều hơn là không cân đối" [6,
16]
Tính cặp đôi trong kết cấu ngữ pháp và ngữ nghĩa là một trong những đặc
điểm quan trọnh nhất của đa số thành ngữ tiếng Việt Và đợc thể hiện tập trung nhất
ở loại thành ngữ 4 yếu tố Bằng nhiều phơng thức cấu tạo nh: ghép liên hợp, láy ghép, tách ghép xen kẽ hoặc ghép 4 yếu tố rời nhau, hay ghép hai từ lại thành loại 4 yếu tố, đã tạo nên thế đối lập, thế âm xứng tạo thành một chỉnh thể hài hòa, cân…
đối và chặt chẽ làm cho cấu trúc của thành ngữ tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng
và giàu đẹp
Thành ngữ tiếng Việt cũng tồn tại phổ biến dạng thành ngữ có cấu tạo nổi bật với phơng thức so sánh Đây là bộ phận thành ngữ đợc sử dụng nhiều nhất, vì những hình ảnh biểu tợng để biểu trng ngữ nghĩa đầy đặc sắc và thú vị
Ví dụ: "ăn nh tằm ăn rỗi"
Về mặt âm vần, những kiểu hiệp vần lặp âm, đối âm trong đơn vị thành ngữ
đã tạo nên sự nhịp nhàng cân đối, tạo nên chất thơ đầy ý vị trong thành ngữ tiếng Việt Nhờ vậy mà tính cố định thêm phần vững chắc
Trang 30Ví dụ: - Lặp từ: bụng trâu làm sao bụng bò làm vậy.
- Đối vần: bớt đầu cá vạch đầu tôm
- Hiệp vần: ruộng sâu trâu náiNhìn chung, phơng thức cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt đã đợc nhiều nhà ngôn ngữ quan tâm Những đặc trng cấu trúc của thành ngữ (nh đã trình bày ở trên)
đã đợc nhiều ý kiến đồng tình Tiêu biểu là: Nguyễn Xuân Hòa trong bài viết "Thử
bàn về quan niệm xác định đơn vị thành ngữ trong tiếng Việt" Tác giả viết:
"Một thực tế hiển nhiên là một quan niệm nào đó đợc thành ngữ biểu thị đều hình thành trên cơ sở hình ảnh trọn vẹn, có hình tợng do sự nhào nặn hai hay nhiều hình ảnh cụ thể của thực tại phản ánh và nhận thức con ngời" [10, 122-123].
Hoặc Đái Xuân Ninh "Nội dung của thành ngữ phần lớn là các hình chiếu của những yếu tố tạo thành" Nói khác đi là phải hiểu nó theo "nghĩa bóng" do mối
tơng quan hình ảnh của các yếu tố tạo thành, xác định [4, 213]
Đinh Trọng Lạc cũng cho rằng: "Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái niệm nào đó dựa trên những hình ảnh, những biểu trng cụ thể" [5, 37].
Tóm lại, đặc điểm về phơng thức cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt có mối quan hệ biện chứng với các nét đặc trng về nội dung ngữ nghĩa của nó Đây là cơ sở
lý luận quan trọng nhất, là một trong những nhân tố để chúng tôi khảo sát tìm hiểu kết cấu của nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật Qua đó thấy đợc cấu tạo của thành ngữ tiếng Việt
1 4 Lớp từ chỉ động vật trong tiếng Việt
1.4.1 Nguồn gốc của lớp từ chỉ động vật
Cho đén nay, tên gọi động vật trong tiếng Việt mới chỉ đợc tìm thấy một cách tơng đối trong các công trình và tài liệu nghiên cứu động vật học nh: Danh mục để gọi tên và phân loại động vật Ngoài tên gọi khoa học, các nhà động vật học
đã rất chú ý tới việc ghi lại những tên gọi dân gian khác nhau của con vật Tuy nhiên, việc tìm hiểu đặc điểm t duy, cũng nh quan niệm của ngời Việt trong cách
định danh thế giới động vật không phải là đối tợng mà các nhà động vật học quan tâm Đó là nhiệm vụ của các nhà ngôn ngữ học
Trang 31Các từ chỉ động vật thuộc vốn từ cơ bản Vốn từ này đợc ra đời từ rất xa xa, nhằm định danh (gọi tên) các con vật trong thực tại cuộc sống, nhng cho đến nay lớp từ chỉ động vật cha có một khái niệm cụ thể mà chỉ tồn tại trong các đơn vị từ, cụm từ tự do, thành ngữ, tục ngữ, ca dao (tức là trong ngôn ngữ dân tộc) Đặc biệt…
là trong đơn vị thành ngữ, hình ảnh các con vật hiện loại sống động, phong phú, đa dạng về chủng loại
Tên gọi động vật là một nhóm từ có số lợng khá lớn trong tất cả các ngôn
ngữ Theo số liệu thống kê của Nguyễn Đức Tồn qua cuốn "Từ điển tiếng Việt" do
Hoàng Phê chủ biên, có tới 623 tên gọi động vật, trong đó có 44 tên gọi vay mợn (chủ yếu là tiếng Hán, chiếm 7%)
Sự vay mợn tên gọi động vật ở tiếng Hán do các nguyên nhân sau:
- Do "nhập" sự vật, đối tợng trong quá trình hoạt động giao tiếp nên dẫn…
đến vay mợn tên gọi, ví nh: hHải mã, hHải cẩu …
- Do nhu cầu sắc thái tu từ, và do có những nguồn gốc tên gọi khác nhau cho nên trong tiếng Việt có những trờng hợp dùng từ 2 đến 3 tên gọi cho một số đối t-ợng
Ví dụ: Thuần Việt Hán Việt
Tuy nhiên, mỗi đơn vị ngôn ngữ này đều có một giá trị riêng, đó là những
đơn vị đồng nghĩa từ vựng, cùng tồn tại với những sắc thái biểu cảm và phong cách khác nhau Thông thờng các từ vay mợn gốc Hán mang phong cách trang trọng, sách vở, thậm chí còn đợc dùng để đặt tên cho con ngời
Ví dụ: dơng (dê); long (rồng); nga (thiên nga)…
- Do trong tiếng Việt lớp từ chỉ động vật không biểu thị ý nghĩa khái quát Ví dụ: Côn trùng (côn - tiếng Hán là nhiều, là số đông) ở đây chúng tôi đi vào tìm hiểu tên gọi động vật ở lớp từ thuần Việt là chủ yếu chứ không đi vào tìm hiểu lớp
Trang 32từ vay mợn Theo số liệu thống kê của chúng tôi trong cuốn "Từ điển tiếng Việt"
của Nguyễn Lực - Lơng Văn Đang thì có 93 con vật xuất hiện với 443 lợt trong tổng số 358 đơn vị thành ngữ Trên cơ sở khối lợng t liệu này, chúng tôi đi vào xem xét tên gọi của chúng ở nguồn gốc, ở cách thức biểu thị, kiểu ngữ nghĩa tên gọi
động vật
Về phơng thức sử dụng từ ngữ có sẵn để chuyển nghĩa tạo ra những đơn vị
định danh thờng đợc sử dụng trong tiếng Việt nh từ thuần Việt, đó là trờng hợp (hổ, loan, phợng ) còn số tên gọi còn lại đa số là thuần Việt nh… : (lợn, gà, vịt, dê, chó, mèo, chuột ).…
Nh vậy để gọi tên các con vật ngời Việt sử dụng nhiều nhất là tên gọi thuần Việt Điều này chứng tỏ một đặc điểm thực tế của Việt Nam - một nớc nông nghiệp chăn nuôi và trồng trọt phát triển rất sớm đã ảnh hởng quan trọng đến ngôn ngữ Những tên gọi của các con vật đã ra đời từ rất sớm, cùng với việc tiếp xúc thuần hóa của ngời Việt chúng gắn liền với nhận thức, t duy của nhân dân ta về thế giới động vật
1.4.2 Nội dung ngữ nghĩa của lớp từ chỉ động vật
Bất cứ một đối tợng nào cũng có một khối lợng rất lớn các thuộc tính, có quan hệ với các đối tợng khác Trong quá trình thị giác nhận diện nó, con ngời đã h-ớng các mặt khác nhau của đối tợng về phía mình Ngời ta thấy các mặt khác nhau này nhng không phải mức độ rõ nh nhau mà diễn ra sự xóa mờ một số đặc trng này
và nhấn mạnh, làm sáng tỏ một số đặc trng khác tùy thuộc vào mối quan hệ của đối tợng đó với thực tiễn Brak nói: "Tri giác của con ngời là cái giản lợc đa dạng"
[37] Trong "Bút ký triết học" của Lênin cũng đã đồng tình với ý kiến của Hêghen
rằng: "Tên gọi là cái gì đó phổ biến thuộc về t duy, làm cho cái đa dạng trở nên
đơn giản", sự đơn giản hóa tính đa dạng khi tri giác hình thành khái niệm và do đó
nó tạo nên tên gọi có thể theo hai hớng (dẫn theo ý của Nguyễn Đức Tùng)
Một là, chỉ nêu lên một số nét chung ở các đại diện vốn rất đa dạng của một
lớp khách thể nhất định, nếu theo hớng này thì nó tạo ra những tên gọi có tác dụng
Trang 33phân biệt các loại với nhau hoặc chia loại lớn ra thành những loại nhỏ Ví dụ: Chim,
gà, cá (loại lớn trong đó bao gồm các loại nhỏ nh… sau):
- Chim - chim chích, chim chích chòe…
- Gà - gà chọi, gà trống, gà rừng, gà đen…
- Cá - cá trê, cá mè cá sấu
Những tên gọi loại lớn (chỉ loại) có ý nghĩa rộng nhằm đại diện cho lớp khách thể, còn những tên gọi loại nhỏ có tác dụng phân biệt từng khách thể trong cùng một loại cho nên nó biểu thị nội dung ý nghĩa hẹp hơn
Hai là, sự nhợc hóa tính đa dạng có thể chỉ động chạm đến một khách thể và
đợc biểu hiện ở sự trừu tợng khỏi những nét khác biệt của nó và chỉ chọn lựa với t cách là cơ sở để định danh một trong nét độc đáo của nó
Nh vậy phạm trù hóa hiên thực khách quan và bức tranh ngôn ngữ về thế giới
động vật trong thành ngữ tiếng Việt, nó rất gần gũi, liên quan, gắn kết mật thiết với nhau
có cấu tạo là từ ghép hoặc là cụm cố định Từ ghép là những từ có thể phân chia nhỏ
ra đợc thành các thành phần cấu tạo; Ví dụ: gà trống, bọ ngựa, ếch ơng …
Nh vâỵ các tên gọi động vật thờng đợc tạo ra theo phơng thức cấu tạo từ phổ biến phù hợp với đặc điểm loại hình "phân tích tính" của tiếng Việt Lớp từ chỉ
động vật thuộc lớp từ cơ bản, sự đa dạng trong cấu tạo của chúng tạo nên sự đa dạng trong cách đặt tên gọi động vật của ngời Việt
Trang 341 4.3.2 Xét về mức độ tính rõ lý do của tên gọi động vật
Tên gọi động vật có những lý do, cơ sở của những lý do đó nh sau:
- Dựa vào điều kiện, lý do nh tiếng kêu, tức là tên gọi động vật đợc mô
phỏng theo âm thanh tiếng kêu của chúng Đây là trờng hợp tên gọi có lý do tuyệt
đối, ví dụ: (quạ, hùm, bìm bịp, chích chòe ).…
- Dựa vào hình thái bên trong của từ, tức là dựa vào ý nghĩa các thành
phần đợc tách ra trong tên gọi ngời ta có thể giải thích lý do của nó Đây là trờng hợp tên gọi có lý do tơng đối Ví dụ: gà chọi, cá sấu, cá mè …
- Cũng có thể dựa vào đặc điểm của chúng để làm cơ sở định danh nh:
Đặc điểm và hình thức, hình dạng, đặc điểm về màu sắc của cơ thể, về môi trờng sống của chúng, về nguồn gốc lai tạo …
Nh vậy việc sử dụng các hình thức đã biết để biểu hiện một nội dung mới bằng cách tổ chức chúng lại (lập nên một đơn vị mới từ những yếu tố đã có sẵn theo một mô hình cấu tạo từ nhất định) là phơng pháp cơ bản không chỉ riêng của tiếng Việt Bởi vì, "khi đặt tên gọi cho những đối tợng mới, khi thực hiện sự quy nhóm, phân loại chúng, chủ thể nói năng sử dụng các yếu tố của mặt biểu hiện và mặt nội dung đã có mặt trong ngôn ngữ này Việc sử dụng các hình thức ngôn ngữ quen thuộc để gọi tên các đối tợng và hoàn cảnh mới phù hợp với đặc điểm nền tảng của tâm lý con ngời là con ngời tri giác đợc thông tin nào đó chỉ trên cơ sở thông tin nhất định đã có Con ngời không thể lĩnh hội đợc một cái gì đó tuyệt đối mới Một tên gọi trớc đợc liên tởng với một biểu tợng nào đó đã biết, là chiếc cầu nối mà ý thức con ngời bắc từ cái đã biết đến cái cha biết" [122 - 123], Nguyễn
Đức Tồn Tuy nhiên, áp dụng vào tiếng Việt - một loại hình ngôn ngữ đơn lập, việc
sử dụng một yếu tố có sẵn làm tên gọi chỉ loại và cộng thêm một đặc trng lựa chọn của đối tợng còn trở thành một hình thức cấu tạo phổ biến của tiếng Việt
Tóm lại, những đặc trng trên đợc chọn là cơ sở định danh trong tiếng Việt nói chung và trong thành ngữ nói riêng là những đặc trng về bản thể của con vật Đó là những đặc trng thuộc ngoại hình hay thuộc tính bản năng của chúng đều có tác
động trực tiếp đến các giác quan con ngời, đó là những hình ảnh ''đập vào mắt"
Trang 35đ-ợc lấy làm đại diện cho đối tợng, định danh đối tợng để hình dung đối tợng trong chỉnh thể của nó.
Theo thống kê của Nguyễn Đức Tồn về những đặc trng đợc chọn lựa làm cơ
sở định danh trong các tên gọi động vật chúng tôi thấy: "Đặc trng về tiếng kêu" là
lớn hơn hẳn so với các đặc trng khác Điều này phải chăng từ thời xa xa trong quá trình tri giác và nhận diện nó, âm thanh là nhân tố đầu tiên tác động đến giác quan của con ngời ngay cả khi con ngời cha nhìn nhận rõ chúng Vì vậy đặc trng về âm thanh là đặc trng cơ sở mà con ngời lựa chọn để đặt tên cho động vật Tuy nhiên quá trình tri giác và nhận thức của ngời Việt đợc phản ánh trong tên gọi nguyên sinh của động vật trong đơn vị thành ngữ tiếng Việt không nằm ngoài quy luật này
Nh vậy nghiên cứu từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt với mục đích làm rõ phơng thức cấu thành và nội dung ý nghĩa của chúng Qua đó thấy đợc cách
t duy, cách nghĩ, cách cảm, đặc biệt là mối quan hệ của con ngời đối với thế giới
động vật (xét từ góc độ ngôn ngữ), cụ thể là đơn vị thành ngữ Từ góc độ ngôn ngữ này nó làm giàu thêm nét đẹp của ngời Việt
1 5 Tài liệu nghiên cứu của khóa luận
1.5.1 Vị trí và giá trị
Có thể nói rằng: Thành ngữ tiếng Việt đã đợc các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu từ rất lâu Nó đã trở thành một bộ môn khoa học độc lập, ngời có công lớn nhất,
đánh dấu mốc quan trọng trong nghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là từ điển
"Thành ngữ Việt Nam" năm 1976 của Nguyễn Lực - Lơng Văn Đang Cuốn từ
điển này mặc dù không bao quát hết đợc thành ngữ tiếng Việt nhng nó đã cung cấp cho các nhà ngôn ngữ học cũng nh tất cả những ai quan tâm tới ngôn ngữ Việt một tài liệu bổ ích có một không hai
Đi vào tìm hiểu công trình nghiên cứu là "Thành ngữ tiếng Việt" (NXB
KHXH - 1993) chúng tôi thấy đây là một t liệu thu thập số lợng thành ngữ không lớn lắm cụ thể (trên ba nghìn đơn vị thành ngữ) đợc sắp xếp theo trật tự A, B, C các thành ngữ tiếng Việt đợc cấu tạo bằng ba con đờng nh sau:
a) Định danh hóa các tổ hợp từ tự do thành một cụm từ cố định
Trang 36b) Tạo thành thành ngữ mới theo mẫu đã có trớc.
c) Liên kết các thành ngữ có nguồn gốc khác nhau tạo thành những đơn vị mới.Trong các phơng thức trên, phơng thức biến tổ hợp từ tự do thành một thành ngữ và phơng thức loại suy theo mẫu đã có sẵn giữ vai trò quan trọng hàng
đầu
Định danh hóa các tổ hợp từ tự do thành cụm từ cố định có tính ổn định về thành phần, chặt chẽ về cấu trúc, chỉnh thể về ngữ nghĩa Ví dụ: "cháy nhà ra mặt chuột", "không có lửa làm sao có khói" Đây là những thành ngữ xuất hiện theo
con đờng này Nhng điểm khác biệt để chúng ta không lẫn lộn giữa thành ngữ và cụm từ tự do là: Các yếu tố cấu tạo nên chúng mang thuộc tính khác nhau Trong tổ hợp từ tự do yếu tố cấu tạo là các từ có ý nghĩa từ vựng độc lập và chức năng cú pháp rõ ràng Do đó bản thân nó không có tính chỉnh thể về ngữ nghĩa và cố định về thành phần cấu trúc Nói một cách khái quát, tổ hợp từ tự do không có ý nghĩa từ vựng vì nó không phải là đơn vị của hệ thống từ vựng ngôn ngữ Ngợc lại trong thành ngữ các yếu tố cấu tạo tuy vốn không có nguồn gốc là từ, nhng các thuộc tính của từ (nh có ý nghĩa từ vựng, chức năng cú pháp) đã đợc nhợc hóa hoàn toàn ở
đây ý nghĩa từ vựng của các yếu tố tan đi, mờ dần đi, thay vào đó là ý nghĩa quan hệ biểu trng bậc hai, quan hệ cú pháp giữa các yếu tố bị đứt gãy, thay vào đó là mối quan hệ giữa các yếu tố bên trong một chỉnh thể
Nh vậy tổ hợp từ tự do đến thành ngữ là quá trình chuyển từ quan hệ cú pháp thành quan hệ hình thái Hệ quả của quá trình này là hiện tợng cố định hóa thành phần cấu trúc của tổ hợp từ tự do, hiện tợng nhợc hóa ngữ nghĩa của các thành tố từ nghĩa đen đến nghĩa bóng, khái quát và hiện tợng nảy sinh nghĩa từ vựng mới có tính biểu trng vốn không có trong các thành tố, trong tổ hợp từ tự do Phổ biến hơn cả là những thành ngữ xuất hiện bằng con đờng mô phỏng theo mẫu cấu trúc của các thành ngữ đã có trớc Phơng thức này cho phép tạo ra các đơn vị thành ngữ tính không cần qua thời gian sử dụng phơng thức thành ngữ hóa từ cổ nói trên Ví dụ:
"chân trong chân ngoài" đợc hình thành dựa trên cấu trúc các thành ngữ có kiểu
cấu tạo AB - AC "bữa đực bữa cái", "mắt trớc mắt sau"… Từ các thành ngữ có cấu
Trang 37trúc nh thuộc tính B; Ví dụ: "nh vịt nghe sấm", "nh sét đánh"… đã xuất hiện thành
các thành ngữ sau: "nh cái máy", "nh vẹt"… Từ lối nói: "nhanh nh sóc", "nhanh
nh chớp"… đã làm nảy sinh các thành ngữ: "nhanh nh máy", "nhanh nh sóc"…
Nh vậy con đờng hình thành nên đơn vị thành ngữ của công trình này nó là tiền đề cho việc tìnm ra nguồn gốc hình thành nên hệ thống của một ngôn ngữ, là
đề tài khoa học lý thú, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu phối hợp giữa ngôn ngữ học và nhiều ngành khoa học khác Vấn đề này có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn vợt ra ngoài phạm vi thành ngữ học
1.5.2 Nội dung ngữ nghĩa và cấu tạo của thành ngữ trong công trình
1 5.2.1 Phơng thức cấu tạo
Thành ngữ đợc cấu tạo theo nhiều phơng thức khác nhau Trớc hết đợc biểu
đạt dới hình thức các yếu tố chẵn, lẻ, trong đó các yếu tố chẵn chiếm phần lớn Điều này tạo nên phơng thức cấu tạo theo quy tắc điệp, đối giữa các thành tố trong đơn vị thành ngữ
Ví dụ: Thành ngữ đối: - "lừa thầy phản bạn"
Thành ngữ điệp: - "hứa hơu hứa vợn"
Các thành ngữ này có ý nghĩa biểu trng nhờ phép ẩn dụ hóa đối xứng Loại thành ngữ này chiếm 2/3 trong tổng số các thành ngữ tiếng Việt (theo thống kê của
Hoàng Văn Hành) và nó đợc dùng rất phổ biến trong gia tiếp hàng ngày cũng nh trong văn học
Bên cạnh đó thành ngữ còn đợc cấu tạo theo hình thức so sánh Ví dụ: "ngu
nh bò", "học nh vẹt"… Loại thành ngữ này cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các
thành ngữ tiếng Việt nói chung và trong công trình của Nguyễn Lực - Lơng Văn
Đang nói riêng, đồng thời cũng là loại thành ngữ dùng dễ hiểu hơn cả so với các thành ngữ kiểu khác
Ngoài thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng và thành ngữ so sánh còn có loại thành ngữ đợc tạo thành nhờ phơng thức ghép từ thông thờng Ví dụ: "theo voi hít bã mía", "trăm voi không bằng bát nớc xáo"… ta thấy ở loại thành ngữ này không sử
dụng phép so sánh mà sử dụng phép ẩn dụ hóa để tạo nghĩa biểu trng, cũng không
Trang 38dùng luật đối ứng để ghép các yếu tố mà cố định hóa hay thành ngữ hóa một đoạn tác ngôn, vốn đợc cấu tạo trên cơ sở luật kết hợp bình thờng trong tiếng Việt.
Nh vậy có thể thấy vốn thành ngữ trong tiếng Việt rất đa dạng, phong phú tạo thành một kiểu hệ thống có vai trò rất quan trọng trong hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
1 5.2.2 Đặc điểm nội dung
Sự đa dạng, phong phú về cấu tạo của thành ngữ dẫn đến sự đa dạng về nội dung ngữ nghĩa Mỗi hình thức cấu tạo sẽ tạo ra ít nét một phơng thức tu từ (ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, phúng dụ ) đó ch… a kể đến bình diện chuyển nghĩa bên trong của thành ngữ, bởi vì thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có ý nghĩa đợc tái tạo mang tính hình ảnh cao Ví dụ: "hôi nh chuột chù" Thành ngữ này đợc dựa trên những đặc
Vậy với thành ngữ tiếng Việt nói chung và những đơn vị trong công trình của các soạn giả nói riêng, sự kết hợp ngữ pháp và ngữ nghĩa giữa các thành tố trong việc tạo hình ảnh, tổ chức mối tơng quan giữa các hình ảnh có ý nghĩa rất lớn đối với việc nhận thức đặc trng ngữ nghĩa của đơn vị này
Trang 39Chơng 2.
Cấu tạo và ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật
Lớp từ chỉ động vật có vai trò rất quan trọng trong việc làm phong phú thêm
đơn vị thành ngữ tiếng Việt Chúng tham gia cấu thành nên đơn vị thành ngữ này
d-ới nhiều hình thức khác nhau, làm cho lớp từ cơ bản này đa dạng về kết cấu, phong phú về nội dung ngữ nghĩa
Thành ngữ chứa từ chỉ động vật chiếm số lợng khá lớn trong vốn thành ngữ tiếng Việt Hình ảnh các con vật đợc phản ánh rất phong phú trong đơn vị thành ngữ này Theo thống kê các con vật đợc xuất hiện là 93 con với tần suất là 443 lợt Từ những con vật có thật nh: cò, gà, lợn, voi cho đến những con vật chỉ tồn tại trong…quan niệm, trong tâm linh nh: Loan, phợng, rồng Từ những con vật khổng lồ: voi,…trâu, ngựa cho đến những con vật nhỏ bé phù du: chi chi, cóc, vò, b… ớm Từ…những con vật trên không trung nh: cò, chim, chích chòe, quốc đến những con vật…
Trang 40dới nớc nh: trạch, cá, lơn, tôm, cua đã đi vào thành ngữ tạo nên một bức tranh…sinh động về thế giới động vật trong ngôn ngữ.
Các con vật xuất hiện trong thành ngữ không đơn thuần là đơn vị định danh, mỗi con vật nó gắn với một đặc điểm, một thuộc tính, một trạng thái tâm lý nhất
định Vì thế khi đi vào thành ngữ chúng mang những hình ảnh biểu trng nhằm để ví von, so sánh hoặc là để liên tởng tới các vật, hiện tợng, tâm lý biểu thị những đặc…
điểm tính chất đó bằng nhiều hình thức: ẩn dụ, hoán dụ, so sánh Nh vậy đời sống vĩnh hằng của các con vật vẫn là đơn vị ngôn ngữ
2.1I kết cấu và nội dung thành ngữ trong nhóm thành ngữ chứa
từ chỉ động vậtthống kê và phân loại nhóm thành ngữ chứa từ chỉ động vật
2.1.1 Số liệu thống kê
Với sự tham gia cấu tạo của từ chỉ động vật, thành ngữ chỉ động vật chiếm số lợng phong phú trong các từ điển về thành ngữ, và tỷ lệ nó chiếm không hề giảm khi lợng thành ngữn đợc su tầm trong các từ điển tăng lên
Thống kê cuốn từ điển "Thành ngữ tiếng Việt" của Nguyễn Lực - Lơng Văn
Đang (NXBKHXH, 1993), chúng tôi thấyKết cấu thành ngữ chứa từ chỉ động vật
có số lợng 358 đơn vị (chiếm 12%) so với con số cụ thể trong tổng số gần 3.000
đơn vị thành ngữ
2.1.2 Phân loại thành ngữ chứa từ chỉ động vật
2.1.12 1 Kết cấu dựa theo số lợng các yếu tố
Phân loại dựa theo số lợng yếu tố
- Bảng 1.
Số liệu
Số yếu tố