Ngôn ngữ học phát triển trên cơ sở, nền tảng các học thuyết, luận điểm đã được khẳng định và trở thành những tiền đề mang tính chất đột phá, điều đó được đánh dấu bởi công lao đóng góp c
Trang 1NGUYỄN QUỐC VƯƠNG
KHỎA SÁT CAC ĐỊA DANH HUYỆN HOA
LƯ, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Trang 2
Vinh - 2011LỜI NÓI ĐẦU
Tìm hiểu về cội nguồn, quê hương, là một trong những nhiệm vụ và cũng
là để thể hiện tình cảm của mỗi con người đối với nơi chôn rau cắt rốn củamình, trở về với quê hương, ta như được tiếp thêm nguồn sinh khí mới, cóthêm động lực, điểm tựa giúp chúng ta vững bước hơn trong cuộc sống Mỗingười có một cách suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng, và cách thể hiện tình cảmriêng của mình đối với quê hương, với tôi quá trình làm đề tài luận văn khảosát về các địa danh huyện Hoa lư, là một trong những điều kiện thuận lợi đểtôi có dịp bày tỏ thái độ, sự hiểu biết, tình cảm, và lòng thành kính, biết ơnđối với mảnh đất quê hương, nơi tôi sinh ra
Luận văn được hoàn thành là nhờ sự giúp đỡ của các cấp, ban ngành, các
cá nhân và tập thể, đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn tới GS - TS NguyễnNhã Bản, người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong xuất quá trình tôithực hiện đề tài khoa học này; cảm ơn sự đóng góp ý kiến trân thành, của cácgiảng viên trong tổ ngôn ngữ, khoa sau đại học trường Đại Học Vinh
Tôi cũng trân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của các cấp,ban, ngành trong Tỉnh Ninh Bình, UBND Huyện Hoa Lư, UBND các Xã,Phường, Thị Trấn, các bạn đồng nghiệp, đã giúp tôi có nhiều tư liệu quý phục
vụ tốt cho việc hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nỗ lực nhưng luận văn không tránh khỏinhững sai sót vì vậy, tôi mong sự đóng góp ý kiến trân thành, kịp thời củacác thầy, cô, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Tác giả
Trang 31 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Những đóng góp của luận văn 10
7 Bố cục của luận văn 11
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH HOA LƯ 12
1.1 Khái niệm, chức năng và phân loại địa danh 12
1.1.1 Khái niệm địa danh 12
1.1.2 Chức năng của địa danh 14
1.1.3 Phân loại địa danh 16
1.2 Những vấn đề liên quan đến địa danh ở Hoa Lư 21
1.2.1 Về địa lý 21
1.2.2 Về lịch sử 21
1.2.3 Về dân cư 25
1.2.4 Về văn hoá 26
1.3 Địa danh Hoa Lư – kết quả thu thập và phân loại 29
1.3.1 Kết quả thu thập 29
1.3.2 Phân loại 29
1.4 Tiểu kết 37
Chương 2: ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊA DANH HOA LƯ 38
Trang 42.1.3 Thành tố chung A 40
2.1.4 Thành tố B (tên riêng) 42
2.1.5 Các phương thức định danh 47
2.2 Ý nghĩa của địa danh Hoa lư 55
2.2.1 Vấn đề ý nghĩa và đặc điểm phản ánh hiện thực trong địa danh 55
2.2.2 Các nhóm ý nghĩa được phản ánh trong địa danh Hoa Lư 56
2.3 Tiểu kết 61
Chương 3: ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ - VĂN HOÁ THỂ HIỆN TRONG ĐỊA DANH HOA LƯ 63
3.1 Một số vấn đề lý thuyết chung về ngôn ngữ và văn hoá 63
3.1.1 Khái niệm văn hoá 63
3.1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá 65
3.2 Sự phản ánh đặc điểm văn hoá trong địa danh Hoa Lư 68
3.2.1 Đặc trưng văn hoá được thể hiện qua các thành tố cấu tạo của địa danh Hoa Lư 68
3.2.2 Sự thể hiện các dạng tồn tại của văn hoá trong địa danh Hoa Lư 72
3.2.3 Sự thể hiện các phương diện văn hoá trong địa danh Hoa Lư 74
3.3 Tiểu kết 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC ĐỊA DANH HUYỆN HOA LƯ 89
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của ngôn ngữ loài người đãđược biết đến từ rất sớm Chính do nhu cầu giao tiếp cần phải trao đổi, nói vớinhau một cái gì đó, là cơ sở, nhân tố để hình thành ngôn ngữ, ngôn ngữ ra đờiđảm nhận chức năng trọng yếu: là phương tiện giao tiếp và là công cụ của tưduy Ngôn ngữ học phát triển trên cơ sở, nền tảng các học thuyết, luận điểm
đã được khẳng định và trở thành những tiền đề mang tính chất đột phá, điều
đó được đánh dấu bởi công lao đóng góp của Fe.de Sausure, tư tưởng của ôngđược cụ thể hoá trong các luận điểm, lý thuyết có vai trò tạo bước ngoặt trongquá trình nghiên cứu ngôn ngữ nhân loại
Tiếng Việt được các nhà nghiên cứu đề cập đến từ rất nhiều phương diện,soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau, để có thể đưa ra một cách nhìn toàn diện
về ngôn ngữ này Các cấp độ ngôn ngữ đã được nghiên cứu khá cụ thể, chitiết, từ cấp độ ngữ âm đến cấp độ từ vựng ngữ - nghĩa, cho đến ngữ pháp,dụng học và phong cách học
Bộ phận từ vựng Tiếng Việt phát triển khá phong phú, đa dạng, số lượng
từ vựng trong Tiếng Việt tăng nhanh qua các giai đoạn, thời kỳ, thậm chí từngngày, không có ai, dù là giỏi đến mức nào đi chăng nữa cũng không dámkhẳng định mình có thể biết hết vốn từ của một ngôn ngữ, vốn từ được xemnhư là một hệ thống mở, do đó khó có một cuốn từ điển nào cho dù với sốlượng từ đồ sộ đến đâu cũng khó có thể dung nạp và tường giải một cách cặn
kẽ, đầy đủ vốn từ của ngôn ngữ đó
Địa danh học (Toponimic) là một ngành cụ thể của bộ môn danh xưnghọc (Onomasiologie), nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến định danh cácđối tượng Cùng với ngành nhân danh học (Arthronomy), tuy chưa có bề dày
Trang 6về lịch sử nghiên cứu như các ngành khoa học khác, nhưng những đóng gópcủa nó đối với danh xưng học nói riêng và các ngành khoa học khác nóichung là đáng trân trọng.
Địa danh cũng là một trong những lớp từ góp phần vào sự phong phú, đadạng của vốn từ vựng dân tộc, nên khảo sát vốn từ vựng của một dân tộc takhông thể bỏ qua lớp từ này Tìm hiểu về địa danh là điều kiện thuận lợi giúpngười nghiên cứu một mặt thấy đươc sự phát triển của vốn từ, đồng thời cũng
có thêm hiểu biết về cơ tầng văn hoá, đặc điểm chính trị, xã hội
Nghiên cứu về địa danh chúng ta thấy được sự phong phú, đa dạng phứctạp của ngôn ngữ, qua đó giúp chúng ta có một cách nhìn thấu đáo hơn, triệt
để hơn về lịch sử hình thành, tồn tại, phát triển và biến đổi của ngôn ngữ.Địa danh là thành tố được cấu tao từ chất liệu ngôn ngữ, là đơn vị ngônngữ, do đó nó mang những đặc trưng tiêu biểu của đối tượng giữ chức nănggiao tiếp và phản ánh tư duy (ngôn ngữ) về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp,chính vì thế quá trình ra đời, tồn tại, phát triển và biến đổi của địa danh chịu
sự chi phối, tác đông của cơ chế ngôn ngữ, ngoài ra những tác động của cơchế ngoài ngôn ngữ: lịch sử, chính trị, văn hoá, tín ngưỡng, phong tục tậpquán , cũng góp phần không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của địa danh.Địa danh lưu giữ trong nó nhiều yếu tố thuộc về ngôn ngữ, văn hoá, lịch
sử Có thể nói địa danh là bảo tàng, nơi chứa đựng những giá trị, nét độc đáo
về truyền thống cũng như hiện đại của ngôn ngữ - văn hoá dân tộc
Hoa Lư một vùng đất “địa linh nhân kiệt”, gắn liền với nó là một nền vănhoá cổ với bề dày lịch sử đáng tự hào, địa danh Hoa Lư đã được biết đến quanhững sự kiện trọng đại của dân tộc, những biến cố, thăng trầm của lịch sử.Tìm hiểu về các địa danh Hoa Lư, tôi như được trở về với quá khứ hào hùngoanh liệt của cha ông trong buổi đầu dựng nước, chống giặc ngoại xâm, tìm
về những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của quê hương
Trang 7Địa danh Hoa Lư cung cấp cho chúng tôi những tư liệu có giá trị để đisâu tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của vùng phương ngữBắc Bộ nói riêng và của Tiếng Việt nói chung.
Tìm hiểu về địa danh Hoa Lư là điều kiện thuận lợi để chúng tôi có cơhội đóng góp một phần nhỏ vào quá trình nghiên cứu ngôn ngữ của quêhương và có thêm vốn hiểu biết về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tínngưỡng nơi mình được sinh ra và lớn lên
Về Hoa Lư đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học trên các lĩnhvực lịch sử, văn hoá, chính trị, địa lý , nhưng các công trình nghiên cứumang tính chất hệ thống trên phương diện ngôn ngữ còn rất hạn chế nếu nhưkhông muốn nói rằng chưa có Nghiên cứu Hoa Lư trên dẫn liệu ngôn ngữvẫn còn là “mảnh đất” cần được khám phá và khai thác Mặc dù năng lực cóhạn, vấn đề của đề tài đưa ra lại rộng, nhưng tác giả vẫn mong muốn đónggóp một phần năng lực hạn chế của mình vào việc nghiên cứu, tìm hiểu địadanh Hoa Lư ở phương diện cơ sở lý thuyết của sự hình thành, phát triển vàbiến đổi của nó trên cứ liệu ngôn ngữ
Chọn đề tài “Khảo sát các địa danh huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Binh”,chúng tôi muốn tìm hiểu cấu tao, ý nghĩa, cách thức định danh, gọi tên cácđối tượng, qua đó thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữ, lịch sử và văn hoátrong vùng, chỉ ra nét độc đáo và những đặc trưng về lịch sử, văn hoá nơi đây
Trang 8hoạt của loài người là quá trình phân biệt đối tượng trên cơ sở các thuộc tínhcủa nó Như vậy ta có thể thấy rằng xét về bản chất, địa danh là đơn vị ngônngữ, là bộ phận của vốn từ xã hội nên nó cũng có nguồn gốc từ lâu đời, xuấthiện từ thủa sơ khai khi hình thành ngôn ngữ loài người.
Địa danh học (Toponimic) là một trong những ngành học của bộ môndanh xưng học (Onomasiologie), nó là ngành khoa học nghiên cứu những vấn
đề liên quan đến địa danh, cách thức định danh, gọi tên các đối tượng tựnhiên, xã hội, các vùng thổ cư, các địa bàn cư trú của con người và sự biếnđổi của địa danh
Việc nghiên cứu địa danh đã xuất hiện từ rất lâu và có lịch sử phát triểntương đối ổn định qua các giai đoạn, địa danh học đã có những đóng góp kháquan trọng sự phát triển của một số ngành khoa học nhân văn, làm sáng tỏnhiều vấn đề ngôn ngữ học, địa lý học, lịch sử học và văn hoá học
Nghiên cứu bộ môn danh xưng học nói chung và địa danh học nói riêngxuất hiện từ rất lâu ở cả phương Đông và phương Tây Nhưng nó thực sự trởthành một bộ môn khoa học theo đúng nghĩa của nó phải đến đầu thế kỷ XIX
ở Tây Âu, đến lúc này địa danh học mới có một đối tượng nghiên cứu riêng,phương pháp nghiên cứu riêng, nguyên tắc nghiên cứu riêng và một hệ thống
lý thuyết riêng
2.1.Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
Trung Quốc là một trong những quốc gia ở phương Đông đề cập đến vấn
đề này khá sớm Sau Công nguyên trong một số sách lịch sử địa chí ở TrungQuốc đã ghi chép về địa danh, trong đó có một số địa danh không những đượcghi chép mà họ còn giải thích một cách tường tận về ngữ nguyên và ý nghĩacủa nó, trình bày rõ cách đọc, nêu quy luật của cách gọi tên Chẳng hạn Ban
Cố thời Đông Hán (32 - 92 Sau C.N) trong “Hán Thư”, ông đã ghi chép hơn
4000 địa danh, hay trong “Thuỷ Kinh Chú” Lệ Đạo Nguyên đời Bắc Nguỵ
Trang 9(466 - 527) có ghi chép hơn hai vạn địa danh, trong đó số được giải thích ýnghĩa là trên 2300.
Những công trình nghiên cứu địa danh của các học giả Trung Quốc thời
kỳ này chủ yếu chỉ dừng lại ở phương diện ghi chép, sưu tầm, tổng hợp, việcgiải thích ý nghĩa, căn nguyên, ngữ nguyên của địa danh chưa được chú trọng,quan tâm một cách thấu đáo
Địa danh được quan tâm nghiên cứu sâu rộng và toàn diện phải đến cuốithế kỷ XIX ở phương Tây với sự xuất hiện một số cuốn sách như: “Địa DanhHọc” (1872) của J.J.Egli (Thuỵ Sĩ), “Địa Danh Học” (1903) của J.W Nagl(Áo), hay Isac Taylor với cuốn “Từ địa điểm, hay sự minh họa có tính nguyênlai về lịch sử, dân tộc học và địa lý học” (1864)
Vấn đề địa danh ngày càng được chú ý, quan tâm đúng mức hơn Quaquá trình phát triển của lịch sử thì sự biến đổi của xã hội ảnh hưởng nhiều đếncác lĩnh vực của đời sống văn hoá Sang thế kỷ XX, khoa học kỹ thuật pháttriển mạnh mẽ, trong đó bộ mặt của các ngành khoa học xã hội cũng có nhiềuthay đổi, vấn đề nghiên cứu về địa danh đã có những bước chuyển biến mới
kể cả về số lượng cũng như chất lượng các công trình nghiên cứu Nghiên cứuđịa danh trong mối quan hệ với ngôn ngữ học và đia lý học đã được tác giả J.Gilenon trình bày trong cuốn “Át lát ngôn ngữ pháp” (1902 - 1910) A Dauzattrong cuốn “Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh” (1906), đã đề xuất phươngpháp văn hoá - địa lý học để nghiên cứu địa danh theo các lớp niên đai
Sự ra đời của các uỷ ban chuyên nghiên cứu về địa danh cũng góp phầnđổi mới ngành địa danh học Cuối thế kỷ XIX với sự ra đời của uỷ ban địadanh nước Mỹ (1890), bước sang thế kỷ XX hai uỷ ban ở châu Âu được thànhlập: uỷ ban địa danh Thuỵ Điển (1902) và uỷ ban địa danh nước Anh (1919)
Ở Liên Xô các nhà khoa học Xô Viết đã xây dựng được một hệ thống lýluận về lý thuyết địa danh khá hoàn chỉnh, điều đó được phản ánh trong các
Trang 10công trình: “Các khuynh hướng nghiên cứu địa danh” (1964), của N.I Niconov,
“Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học” (1964) của E.M Muraev hayA.V Superanskaja với cuốn “Địa danh là gì?”, đã đề cập đến vấn đề địa danhmột cách có hệ thống và đi sâu vào bản chất của địa danh học
Nghiên cứu địa danh trên thế giới đã đạt được những thành tựu đáng kể
và ngày càng có những đóng góp tiến bộ cho sự phát triển của địa danh học
2.2 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Tình hình nghiên cứu về địa danh ở Việt nam cũng đã được đề cập đếnkhá sớm Trong sách của một số nhà nho, vấn đề địa danh cũng đã được họphản ánh tương đối nhiều nhưng ở trong các công trình này các tác giả đềcập tới địa danh qua phương diện địa chí học, có nghĩa là những công trìnhchỉ mang tính chất ghi chép, miêu tả đặc điểm thuộc tính, hệ thống địadanh Chẳng hạn như: “Dư Địa Chí”, “Ức trai thi tập” của Nguyễn Trãi,
“Lịch triều hiến chương loại chí” và “Hoàng Việt dư địa chí” của Phan HuyChú, “Phương đình dư địa chí” của Nguyễn Văn Siêu”, “Đại Nam nhấtthống chí” của Quốc tử quán triều Nguyễn, “Đại Việt dư địa toàn biên” củaphương đình Nguyễn Văn Siêu , đây chưa phải là những công trình địadanh học thuần tuý, mới đề cập đến cách định danh tên đất, nơi cư trú,hành chính, nhưng nó có giá trị to lớn là những tư liệu quý báu cho việcnghiên cứu địa danh sau này
Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam trở thành một hệ thống và đượcquan tâm thích đáng phải đợi đến những năm của thập kỷ 60 Người mở đầucho công việc nghiên cứu địa danh ở nước ta phải kể đến G.S Đào Duy Anhvới “Đất nước Việt Nam qua các thời kỳ”, tác phẩm đã đi sâu vào tìm hiểu địadanh theo hướng lịch đại, tiếp đến là Hoàng Thị Châu với “Mối liên hệ ngônngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” (1964), ở tác phẩm này tácgiả đã trực tiếp bàn đến vấn đề địa danh dưới góc độ ngôn ngữ học, sau đó Lê
Trang 11Trung Hoa khi nghiên cứu về địa danh ở Thành Phố Hồ Chí Minh và NguyễnKiên Trường khi nghiên cứu về địa danh Hải Phòng trong các luận án PTSchuyên ngành lý luận ngôn ngữ “Những đặc điểm chính của địa danh ở ThànhPhố Hồ Chí Minh” (1991) và “Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng”(1996), đã đề ra và bổ xung hoàn chỉnh hệ thống lý thuyết, lý luận mang tínhchất tiền đề, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích, chỉ ra các đặc điểm cấutạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi địa danh Sau đó 4 năm Trần Trí Dõi đãcho công bố hàng loạt các bài viết về địa danh như: “Về địa danh Cửa Lò”(2000), “Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo ở địa bàn Hà Nội xưa”(2000), “Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh, qua phântích một vài địa danh ở Việt Nam” (2001), cũng năm 2001 ông có bài viết
“Vấn đề địa danh biên gới Tây Nam: một vài nhận xét và những kiến nghị”.Nguyễn Văn Âu “Một số vấn đề địa danh học Việt Nam” (2000), luận án
TS của Từ Thu Mai “Nghiên cứu địa danh Quảng Trị” (2004), Phan XuânĐạm “Các địa danh ở Nghệ An nhìn từ góc độ ngôn ngữ học” cùng với hàngloạt luận văn thạc sĩ của học viên các trường đại học trong nước tìm hiểu vềđịa danh thuộc địa bàn Huyện, Thành phố, Thị Xã
2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Hoa Lư
Cho đến nay ở Hoa lư nói riêng và ở Ninh Bình nói chung chưa có mộtcông trình, một chuyên luận chuyên sâu nào nghiên cứu về địa danh nơi đây
“Khảo sát các địa danh huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” là một trong những đềtài nghiên cứu về địa danh, góp phần dựng nên bức tranh đa dạng về hệ thốngđịa danh quê hương Hoa Lư
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi nghiên cứu bất kỳ một vấn đề nào thuộc về lĩnh vực khoa học thìchúng ta cũng phải đề ra được mục đích nghiên cứu, ở đây khi khảo sát các
Trang 12địa danh huyện Hoa Lư chúng tôi cũng không ngoại lệ, thực hiện đề tài nàychúng tôi hướng đến một số mục đích nghiên cứu như sau:
- Xác lập hệ thống các địa danh ở Hoa Lư theo các tiêu chí nhất định
- Phân loại và sắp xếp một cách có hệ thống địa danh trên địa bàn Hoa Lư
- Chỉ ra đặc điểm cấu tạo, ý nghĩa, phương thức định danh, nguồn gốc
và sự biến đổi của địa danh Hoa Lư
- Tìm hiểu căn nguyên mối quan hệ giữa địa danh học với ngữ âm học,
từ vựng ngữ nghĩa học, ngữ pháp học và thấy được sự tác động, ảnh hưởngqua lại của ngôn ngữ với các nhân tố: lịch sử, văn hoá, chính trị, địa lý
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu toàn diện và có hệ thống cơ sở lý thuyết, những vấn đề cótính chất lý luận về địa danh
- Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài
- Điều tra, khảo sát, thống kê, phân loại các loại hình địa danh trướcđây và hiện nay
- Phân tích và chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ qua hệ thống địa danh trên địabàn Hoa Lư
- So sánh, đối chiếu để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt vềnguồn gốc, phương thức định danh cũng như cấu tạo, ý nghĩa ở địa danh Hoa
Lư so với địa danh ở các vùng khác
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở luận văn này là toàn bộ hệ thống địa danhtrên địa bàn Hoa Lư, qua sự soi chiếu trong quá trình lịch sử phát triểncủa địa danh và mối quan hệ của nó với các nhân tố lịch sử, văn hoá,chính trị, tôn giáo
Trang 13Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu vấn đề địa danh trên địa bàn cụthể đó là Huyện Hoa Lư thuộc Tỉnh Ninh Bình và khảo sát một cách toàn diệntrên cứ liệu ngôn ngữ.
Những cứ liệu địa danh chúng tôi thu thập sẽ được sử lý theo nhữngphương thức nhất định, tuy nhiên do thời gian và năng lực có hạn cho nêntoàn bộ địa danh ở Hoa Lư chưa thể giải quyết hết về mặt ý nghĩa mà chỉ giớihạn ở một số bộ phận địa danh đã đươc khảo sát và tìm hiểu kỹ
Tuy chưa giải quyết hết về mặt ý nghĩa của các địa danh nhưng chừng
ấy địa danh chúng tôi khảo sát, thu thập được cũng đã đưa đến một cái nhìntổng quát, chân thực về đối tượng được khảo sát, điều đó cũng nằm trong ý
đồ, chủ định và hướng nghiên cứu của luận văn này
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập và sử lý tư liệu
a.Nguồn tư liệu
- Tư liệu điều tra điền dã, thực tế, qua bạn bè đồng nghiệp, các cộng tácviên của báo địa phương, chúng tôi đã có được thông tin cần thiết, những sốliệu cơ bản về lịch sử hình thành, phát triển và biến đổi của 11 xã, thị trấntrong huyện
- Các ấn phẩm báo chí, sách, gia phả dòng họ, hương ước của làng, lịch
sử đảng bộ
- Bản đồ các loại: Địa hình, hành chính, quân sự
- Các loại hình nghệ thuật, văn bản nghệ thuật có liên quan đến địadanh, những tác phẩm thuộc văn học dân gian như: Chèo, ca dao, tục ngữ,những câu chuyện, giai thoại được lưu giữ trong nét sống văn hoá của ngườiđịa phương, lưu truyền từ đời này qua đời khác bằng hình thức truyền miệng,những áng thơ văn của các thi nhân qua những thời kỳ khác nhau
b.Phương pháp sử lý tư liệu.
Trang 14Sau khi có nguồn tư liệu, chúng tôi sử dụng một số thao tác sử lý số liệusau:
- Sắp xếp, phân loại dựa trên các tiêu chí cụ thể: đối tượng phản ánh,nguồn gốc ngữ nguyên, chức năng giao tiếp và thời gian xuất hiện
- Chọn lọc những đơn vị ngôn ngữ để có kết quả cụ thể đưa vào hệthống trên cơ sở những tiêu chí đã lập ra
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp theo hướng liên ngành, phối kếthợp phương pháp nghiên cứu của các ngành: lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, vănhoá trong đó lấy phương pháp ngôn ngữ học là chủ đạo
- Phương pháp nghiên cứu phân loại theo nhóm địa danh, theo hai hệquy chiếu: không gian và thời gian, trên cả trục đồng đại và lịch đại
- Phương pháp so sánh đối chiếu, qua phương pháp này để tìm ranhững nét tương đồng cũng như khác biệt trong cấu tạo, ý nghĩa, quá trìnhhình thành, phát triển và biến đổi của địa danh nơi địa bàn đang xét với cácđịa danh khác
- Ngoài ra ở luận văn này chúng tôi còn sử dụng phương pháp diễn dịch
và quy nạp để triển khai vấn đề trong nội dung luận văn, từ các dẫn liệu rút rakết luận, hoặc từ những nhận xét chung sẽ được chứng minh, làm rõ qua các
cứ liệu cụ thể
Trong quá trình triển khai vấn đề, chúng tôi không vận dụng các phươngpháp một cách máy móc, tách biệt mà vận dụng một cách linh hoạt, có sángtạo, kết hợp các phương pháp để làm rõ vấn đề cần triển khai
6 Những đóng góp của luận văn
- Luận văn này đã dựng lại được một bức tranh tổng quát nhất về địadanh Hoa Lư, một vùng đất địa linh nhân kiệt
Trang 15- Góp phần vào nghiên cứu về địa danh Hoa Lư từ góc độ ngôn ngữmột cách có hệ thống, mà từ trước tới nay nơi đây mới chỉ được nghiên cứu từnhững góc độ văn hoá, lịch sử, địa lý.
- Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu những nét đặc trưng về lịch sử,văn hoá của vùng đất đã một thời là kinh đô của nước ta
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì phần nộidung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý thuyết về địa danh và địa danh Hoa Lư
Chương 2 Đặc trưng cấu trúc và ý nghĩa của các địa danh Hoa Lư
Chương 3 Đặc trưng ngôn ngữ - văn hoá thể hiện trong địa danh Hoa Lư
Trang 16
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ ĐỊA DANH
VÀ ĐỊA DANH HOA LƯ
1.1 Khái niệm, chức năng và phân loại địa danh
1.1.1 Khái niệm địa danh
Mỗi vùng đất, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia, dân tộc đều có nhữngđặc trưng nhất định về địa lý, lịch sử, văn hóa riêng của mình Trên những đặcđiểm khác nhau về địa lý, lịch sử, văn hóa thì cách gọi tên người, tên các đốitượng địa lý là không giống nhau giữa các vùng, địa phương hay rộng hơn làquốc gia, dân tộc Tên gọi những đối tượng địa lý tạo thành một hệ thốngriêng và tồn tại trong vốn từ của các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Nhữngtên gọi địa lý đó được thể hiện trong khái niệm “địa danh”, khái niệm nàyxuất phát từ thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Toponima hayToponoma với nghĩa “tên gọi điểm địa lý” Theo cách triết tự thông thườngthì khái niệm “địa danh” được hiểu là tên đất Chúng ta cần phải có một cáchhiểu rộng hơn về khái niệm này vì địa danh là đối tượng nghiên cứu của mộtngành khoa học Địa danh không chỉ là tên gọi các đối tượng địa lý trên tráiđất mà nó còn là tên gọi các đối tượng địa hình thiên nhiên, đối tượng địa lý
cư trú hành chính hay các công trình xây dựng do con người tạo nên
Địa danh là khái niệm phức tạp, để đưa ra một khái niệm đầy đủ, chínhxác và có thể bao quát được toàn bộ ý nghĩa của thuật ngữ này thì không phải
là điều đơn giản Đã có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau vềkhái niệm này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về cách hiểuthuật ngữ này trong giới nghiên cứu
Tác giả Đào Duy Anh định nghĩa: “Địa danh là tên gọi các miềnđất” [3; tr.220]
Trang 17Lê Trung Hoa cho rằng “Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định đượcdùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn
vị hành chính, các vùng lãnh thổ” [26; tr.18 ]
Nguyễn Văn Âu lại đưa ra cách định nghĩa khác “Địa danh là một tên đấtgồm: sông, núi, làng mạc hay là tên đất các địa phương, các dân tộc” [5; tr.18 ] Trong “Điện Biên Phủ ý nghĩa của một địa danh”, tác giả Đào Thản viết
“Địa danh là tên đất, là tên gọi một địa điểm, một vùng dân cư, một vùng địa
lý, một nơi trốn cụ thể nào đó ” [41; tr 25 ]
Nguyễn Thanh Hải “Địa danh là lớp từ ngữ nằm trong từ vựng củamột ngôn ngữ, dùng để gọi tên một đối tượng địa lý nhất định Đối tượngđịa lý đó là các địa phương, các đơn vị dân cư bao gồm các đơn vị hànhchính như: xã, huyện, tỉnh, các đơn vị làng, thôn bản, tổ dân phố, hoặc làvùng dân cư không xác định gianh giới, dân cư cụ thể, các địa hình thiênnhiên như sông, suối, núi, đồi, ao, hồ, kênh, rạch, đầm, phá, biển, đảo
và các công trình do con người xây dựng như công viên, đường phố, cầu,cống, sân vận động ” [24; tr.23 ]
Nguyễn Kiên Trường trong “Những đặc điểm chính của địa danh HảiPhòng” lại cho rằng: “Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên
và nhân văn xác định trên bề mặt trái đất” [47; tr.16]
Phan Xuân Đạm quan niệm: “Địa danh là lớp từ đặc biệt được sinh ra đểđánh dấu vị trí, xác lập các tên gọi đối tượng địa lý và nhân văn” [20; tr.16].Qua các phương diện, dưới những góc độ và cách nhìn khác nhau, các tácgiả đã đưa ra quan niệm, cách hiểu của mình về vấn đề địa danh một cách khátoàn diện, đầy đủ
Dưới đây tôi không dám đưa ra một định nghĩa cụ thể mà chỉ đưa ra cáchhiểu mang tính chất tổng hợp từ những quan niệm nêu ở trên, để có thao táclàm việc đúng đắn, tránh sự trùng lặp trong khi triển khai vấn đề
Trang 18“Địa danh là từ hoặc cụm từ dùng để gọi tên hay đánh dấu vị trí các đốitượng địa lý tự nhiên và địa lý nhân văn trên cơ sở những đặc điểm, thuộc tínhcủa đối tượng”
1.1.2 Chức năng của địa danh
Là đơn vị của ngôn ngữ, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, địadanh mang trong mình những chức năng, đặc điểm vốn có của ngôn ngữ.Trước hết địa danh có thể là một âm tố, âm tiết hay tổ hợp nhiều âm tiết,địa danh cũng có thể là một đơn vị từ vựng hoàn chỉnh (từ, cụm từ), nó có cấutrúc ngữ pháp nhất định (hình vị - từ - cụm từ) Như vậy cũng như mọi danh
từ (hoặc danh ngữ) khác trong ngôn ngữ, địa danh cũng có chức năng cơ bản
là định danh sự vật, song địa danh là đơn vị của ngôn ngữ, là một loại tênriêng đặc biệt nên nó có chức năng đặc thù là phân biệt, cá thể hóa đối tượng.Chính nhờ vậy mà địa danh trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đờisống xã hội
Cách đặt tên cho từng đối tượng trong địa danh của mỗi vùng dân cư gắnvới cơ tầng văn hoá nhất định, chính vì vậy phản ánh, bảo tồn, lưu giữ nhữnggiá trị văn hoá cũng là một trong những chức năng của điạ danh Dấu ấn vănhóa, tín ngưỡng của cư dân Hoa Lư được phản ánh, lưu giữ trong hệ thống địadanh khá đậm nét Các địa danh đền vua Đinh Tiên Hoàng (Tr.Yên) - nơi thờĐinh Bộ Lĩnh, đền vua Lê Đại Hành (Tr.Yên) - nơi thờ Lê Hoàn, đền thờcông chúa Phất Kim - nơi thờ công chúa Phất Kim (con gái út của vua ĐinhTiên Hoàng), đền thờ Động Thiên Tôn (Tr.Yên) - nơi thờ thần Thiên Tôn là
vị thiên thần trấn đông hướng mặt trời mọc, đền Trần Quý Minh (Tr.Yên), lànơi thờ thần Quý Minh - vị thổ thần trấn ải Sơn Nam nằm ở vùng sông núiTràng An Bên cạnh đó các địa danh: chùa Nhất Trụ (hay chùa Một cột), phủVườn Thiên, phủ Đông Vương, phủ Bến Đò, Phủ Cửa Đền , phản ánh nền
Trang 19văn hóa thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phật giáo, nét đẹp trong tâm thức củangười Việt nói chung và của người dân Hoa Lư nói riêng.
Mỗi địa danh đều ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội cụ thể, chính
vì thế một trong những chức năng mà địa danh đảm nhận đó là phản ánhnhiều mặt đời sống lịch sử, xã hội của cư dân bản địa nơi cư trú, có thể nói địadanh là một bức tranh muôn màu, sinh động, phong phú, nói như Hoàng tấtThắng “Địa danh là bộ từ điển sống về một vùng đất” [43; tr.59] Thực tế địadanh là nơi lưu giữ và ghi dấu những biến cố, dấu ấn lịch sử
Chùa Kim Ngân là một ngôi chùa cổ nằm ở thôn Chi Phong, thuộc vòngthành trong ở phía tây, xưa là nơi cất giữ vàng bạc từ khi Vua Lê Đại Hànhcày tịch điền ở ruộng Kim Ngân Chùa Duyên Ninh (Tr.Yên), xưa là nơi vuichơi của các công chúa, nơi đây Lý Thái Tổ và công chúa Lê Thị Phất Ngân
đã thề hẹn ở đó mà sinh ra Lý Thái Tông Chùa Bà Ngô (Tr.Yên), là ngôichùa gắn với nhiều sự tích về con người ở vùng đất Hoa Lư Tương truyềnđây là nơi Hoàng Hậu mẹ Ngô Nhật Khánh tu hành Ở thế kỷ thứ X, ngôichùa này chính là nơi tiến hành nghi thức sám hối, rửa sạch mọi tội lỗi nghiệpchướng trần gian
Chùa Bàn Long (N.Xuân) cũng được hình thành từ thời Đinh Khi chúaTrịnh Sâm đã đến thăm, tay đề ba chữ lớn: “Bàn Long Tự” trên vách cửađộng “Bàn Long” là bệ rồng - bệ đá rồng ngồi Tấm bia ở vách núi khắc vàothế kỷ 16 có ghi: “Từ thành cổ Hoa Lư men theo núi đá mà đi về phía namđến làng Khê Đầu, ở đó có chùa Bàn Long Đây là danh thắng từ ngàn xưa.Trải qua các triều Đinh, Lê, Lý, Trần chùa này càng thêm nổi tiếng” ĐộngHoa Sơn nằm ở thôn Áng Ngũ, xã Ninh Hòa, ở độ cao gần 70 mét Tươngtruyền đây là nơi nuôi Ấu chúa thời vua Đinh Tên trước của động là chùa Bà
Đẻ, sau vua Tự Đức đến thăm đã đặt lại tên động là Hoa Sơn Chùa Động AmTiên (Tr.Yên), thời Đinh đây là nơi vua Đinh Tiên Hoàng nuôi hổ báo để
Trang 20trừng trị những người phạm tội nặng Đến thời Lý, nhà sư Nguyễn MinhKhông đã ở trong hang tụng kinh thuyết pháp, xây bệ thờ Phật ở trong hang,người đời sau mới mở ra cảnh chùa chiền để khách thập phương hành hươngđến đó
1.1.3 Phân loại địa danh
1.1.3.1 Phân loại địa danh học trên thế giới
Phân chia địa danh là vấn đề hết sức phức tạp, tuỳ theo mục đích, phươngdiện nghiên cứu, hướng tiếp cận, các tiêu chí mà trong giới nghiên cứu cónhững cách phân chia không giống nhau
Dựa trên tiêu chí sự hỗn hợp nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng thìCh.Rostaing trong “Lesnomdelieux” đã chia địa danh nước Pháp thành 11loại đó là:
1- Những cơ sở tiền Ấn – Âu
2- Các lớp tiền Xentich
3- Lớp Goloa
4- Những phạm vi Goloa – La mã
5- Các sự hình thành La mã
6- Những đóng góp của tiếng Giécmanh
7- Các hình thức của thời phong kiến
8- Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo
9- Những hình thái hiện đại
10-Các địa danh và tên đường phố
11-Tên sông và núi
Cách phân chia này của Ch.Rostaing khá chi tiết, tuy nhiên còn hơirườm rà chưa có tính khái quát cao A.Dauzat đã đưa ra cách phân loạingắn hơn, mang tính khái quát cao hơn Trong “La toponymie Francaise”
Trang 21(1963) ông đã chia địa danh nước Pháp thành 4 phần, mỗi phần lại gắn vớinguồn gốc ngôn ngữ:
1- Những cơ sở tiền Ấn – Âu
2- Các danh từ tiền La tinh về nước trong thủy danh học
3- Các từ nguyên Goloa – La mã
4- Địa danh học Goloa – La mã của người Auvergne và Velary
Dựa trên tiêu chí nguồn gốc ngữ nguyên cấu thành địa danh và theo đốitượng mà địa danh phản ánh, các nhà địa danh học phương tây và Xô Viết đãđưa ra cách phân chia với mức độ khái quát cao hơn, rõ ràng hơn
G P Smolicnaza và M V Gorbanevsky chia địa danh Matxcơva thành 4 loại:
- Phương danh (tên các địa phương)
- Sơn danh (tên núi, đồi, gò…)
- Thủy danh (tên các dòng chảy, ao, vũng…)
- Phố danh (tên các đối tượng trong thành phố)
Trong “Địa danh là gì” A V Superanskaja đã chia địa danh thành 8 loại:
- Điểm dân cư
- Điểm phi dân cư
- Tên gọi sông
- Tên gọi núi
- Tên đường phố
- Tên mạng lưới giao thông
- Tên quảng trường
- Tên các công trình bên trong thành phố
Cách phân loại địa danh của các nhà địa danh học Xô Viết đã đưa đếncho ta một cái nhìn mới mẻ, sâu sắc, khái quát hơn, đi sâu vào bản chất vấn đềcủa địa danh, giúp chúng ta có một hướng nghiên cứu đối tượng cụ thể hơn,chi tiết hơn
Trang 221.1.3.2 Phân loại địa danh học ở Việt Nam
Ở Việt Nam việc phân loại địa danh được nghiên cứu nhiều và cũng đãđạt được những kết quả nhất định
Trần Thanh Tâm trong bài viết “Thử bàn về địa danh Việt Nam” đăngtrên tạp chí nghiên cứu lịch sử 3,4/1976 đã phân các loại hình địa danh ViệtNam và thế giới thành 6 loại:
1- Loại địa danh đặt theo địa hình và đặc điểm
2- Loại địa danh đặt theo vị trí không gian và thời gian
3- Loại địa danh đặt theo hình thái, chất đất và khí hậu
4- Loại địa danh đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế
5- Loại đặt theo sinh hoạt xã hội
6- Loại đặt theo tên người, tôn giáo, lịch sử
Lê Trung Hoa trong “Những đặc điểm chính của địa danh thành phố HồChí Minh”, dựa trên tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên đã chia địa danhthành các nhóm:
- Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên: tên các đối tượng địa hình thiênnhiên: núi, đồi, sông, ngòi, rạch…
- Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo, nhóm này gồm 3 loại nhỏ:
+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng
+ Địa danh chỉ các đơn vị hành chính
+ Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng
Bên cạnh đó xuất phát từ tiêu chí nguồn gốc hay nói cách khác căn cứvào ngữ nguyên tác giả chia địa danh thành 2 loại lớn:
- Địa danh thuần Việt
- Địa danh không thuần Việt (gốc Hán - Việt, gốc Khơme, gốc Pháp)
Ở một phương diện khác, xuất phát từ góc độ địa lý - lịch sử Nguyễn Văn
Âu đã chia địa danh làm 2 loại:
Trang 23- Địa danh tự nhiên
- Địa danh kinh tế xã hội
Trong đó lại chia ra thành 7 kiểu địa danh: Thủy danh, sơn danh, lâmdanh, làng xã, huyện thị, tỉnh - thành phố, quốc gia, mỗi kiểu lại bao gồm cácdạng nhỏ hơn
Xuất phát từ 3 tiêu chí: Tiêu chí phân loại theo đối tượng địa lý, tiêu chínguồn gốc ngữ nguyên và tiêu chí chức năng thì Nguyễn Kiên Trường trong
“Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng” lại phân chia địa danh HảiPhòng thành các nhóm như sau:
1- Nhóm đối tượng tự nhiên và đối tượng nhân văn
- Nhóm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên (gồm: ao, bãi, biển…)
- Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn, bao gồm:
+ Địa danh cư trú – hành chính và các địa danh gắn với hoạt động củacon người, do con người tạo nên (ấp, bộ, châu…)
+ Địa danh đường phố và địa danh chỉ các công trình xây dựng (đường,ngõ, cầu, chợ, khách sạn, nhà thờ…)
2 - Phân loại theo chức năng giao tiếp
- Tên chính thức
- Tên gọi dân gian
- Tên cổ, tên cũ
- Các tên khác
3 - Phân loại địa danh theo nguồn gốc ngữ nguyên
- Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt
- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt
- Địa danh có nguồn gốc từ tiếng Pháp
- Địa danh có nguồn gốc từ phương ngữ Quảng Đông
Trang 24- Địa danh có nguồn gốc Tày – Thái, Việt - Mường, Chàm, Môn – Khơ
Me, Mã lai…
- Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp
- Địa danh chưa xác định rõ nguồn gốc
Mỗi cách phân chia của các tác giả đều có những chỗ hợp lý Cách chiacủa tác giả Nguyễn Trung Hoa cụ thể, chi tiết, được soi chiếu dưới nhiều góc
độ khác nhau, sắp xếp theo một hệ thống nhất định Nguyễn Kiên Trườngngoài hai tiêu chí cũng như cách phân chia của Lê Trung Hoa, tác giả cònxuất phát từ tiêu chí chức năng để phân loại địa danh, cách phân chia này baoquát khá toàn diện hệ thống địa danh, cho phép ta dễ dàng nhận ra mối quan
hệ và ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ và văn hóa, lịch sử, địa lý Nếu đi theokhuynh hướng này, chúng ta có thể thấy được lịch sử hình thành của địa danh,hay nói cách khác là sự biến đổi, chuyển hóa của địa danh, thấy được đặcđiểm cấu tạo, ý nghĩa của các yếu tố trong từng địa danh
Địa danh Hoa Lư khá phức tạp, gồm nhiều nhóm, lớp, có sự chồng chéo,giao thoa lẫn nhau, mặt khác Hoa Lư là địa bàn có bề dày lịch sử, văn hóa,nơi diễn ra nhiều biến cố lịch sử trọng đại của đất nước và cũng là nơi lưu giữkhông ít những giá trị văn hóa vật chất cũng như tinh thần của dân tộc, điều
đó tạo nên sự vận động biến đổi trong các lớp địa danh ở nơi đây, ở Hoa Lưnhiều địa danh cổ đến nay không còn hoặc đã biến đổi, một số địa danh chưaxác định được nguồn gốc hoặc nguồn gốc phức tạp Để bao quát được toàndiện các lớp địa danh đó, chúng tôi cố gắng bám chắc địa bàn, bằng nỗ lựccủa mình, dùng những tri thức, hiểu biết về lịch sử, văn hóa, sử dụng phiếuđiều tra tìm kiếm, thu thập thông tin phục vụ đề tài Để khảo sát địa danh Hoa
Lư một cách có hệ thống, trong luận văn này chúng tôi áp dụng cách phânloại địa danh dựa trên ba tiêu chí: trước hết là theo đối tượng phản ánh (tự
Trang 25nhiên, xã hội), sau đó là nguồn gốc ngữ nguyên và cuối cùng là chức nănggiao tiếp của địa danh
1.2 Những vấn đề liên quan đến địa danh ở Hoa Lư
1.2.1 Về địa lý
Hoa Lư là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Ninh bình, có vị trí bao bọcphía Bắc và Tây với thành phố Ninh Bình, phía Bắc giáp huyện Gia Viễn,ranh giới là sông Hoàng Long, phía Nam giáp huyện Yên Mô, ranh giới làsông Vo, phía Tây giáp thị xã Tam Điệp và Nho Quan, phía Đông giáp thànhphố Ninh Bình và huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, mà ranh giới là sông Đáy.Hoa Lư có diện tích tự nhiên là 139,7 km2 và dân số là 103,9 nghìn người Có
11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Trường Yên, Ninh Hòa, NinhGiang, Ninh Mĩ, Ninh Khang, Ninh Thắng, Ninh Vân, Ninh An, Ninh Hải,Ninh Xuân và thị trấn Thiên Tôn
Nằm ở vùng bán sơn địa, nơi chuyển tiếp giữa miền núi và vùng đồngbằng, Hoa Lư có những dãy núi đá vôi ngập nước được hình thành từ lâu,nhiều hang động, xen kẽ với đồng ruộng, làng mạc, tạo nên khung cảnh thiênnhiên kỳ thú, thơ mộng Có đường quốc lộ 1A dài 18km chạy qua các xãthuộc địa bàn của huyện, thêm vào đó là hệ thống sông ngòi phong phú tạođiều kiện tốt cho phát triển kinh tế thông thương giao lưu buôn bán giữa địabàn và các địa bàn khác trong tỉnh
1.2.2 Về lịch sử
Theo dòng lịch sử, đời Tần (255-207 TCN), Hoa Lư ngày nay thuộcTượng quận Trong giai đoạn Bắc thuộc lần thứ 2 (207-542 TCN), dưới thờinhà Hán, thuộc quận Giao Chỉ, đời Ngô (266-280) và đời Tấn (280-420)thuộc Giao Châu, đến cuối đời Lương (502-542) là châu Trường Yên Khi LýNam Đế đánh đuổi quân Lương, lập nên nhà Tiền Lý (542-602), thì vẫn làchâu Trường Yên của nước Vạn Xuân Trong giai đoạn Bắc thuộc lần thứ 3
Trang 26(603-905) dưới đời nhà Tùy và nhà Đường, đất này vẫn là châu Trường Yên.Khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 xứ quân, thống nhất giang sơn, lập nên triềuĐinh (968-980) đóng đô ở Hoa Lư thì đất này gọi là châu Đại Hoàng, nướcĐại Cồ Việt Đến đời Tiền Lê (981-1009) gọi là châu Trường Yên, đời nhà Lý(1010-1225) gọi là phủ Trường Yên, sau gọi là châu Đại Hoàng nước Đại CồViệt, đầu đời Trần gọi là Lộ, sau đổi là trấn Trường Yên Năm Quang thái thứ
10 (1398) đời Trần Thuận Tông đổi thành trấn Thiên Quan Thời kỳ thuộcMinh (1407-1428) lại gọi là châu Trường Yên, theo đại Thanh nhất thống chícủa Trung Quốc thì phủ Kiến Bình lãnh một châu là Trường Yên và 6 huyện
là Ý Yên, Đại Loan, Vọng Doanh, Yên Ninh và Lê Bình, nghĩa là cả một sốhuyện thuộc tỉnh Nam Định ngày nay Còn theo thiên hạ quận quốc lợi bệnhthư thì năm Vĩnh Lạc thứ 5 đời Minh (1407) châu Trường Yên nhập vào phủKiến Bình gồm 4 huyện: Yên Mô, Uy Viễn, Lê Bình và Yên Ninh Năm VĩnhLạc thứ 6 (1408) nhập huyện Uy Viễn vào châu Trường Yên, năm 1415 nhậphuyện Yên Mô vào huyện Yên Ninh, năm 1419 nhập huyện Lê Bình vào châuTrường Yên Đến triều Lê vẫn theo như thời Trần trước, đời Thiệu Bình(1434-1440) dưới triều Lê Thái Tông (1433-1442) chia làm hai phủ TrườngYên và Thiên Quan, thuộc về chấn Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay) gồm 6huyện, phủ Trường Yên có 3 huyện: Gia Viễn, Yên Khang và Yên Mô, phủThiên Quan quản 3 huyện: Phụng Hóa, Ninh Hóa và Lạc Thổ Đời Hồng Đức(1470-1498), Lê Thánh Tông cho nhập 2 phủ ấy vào Sơn Nam thừa tuyên.Đời nhà Mạc (1527-1592) gọi 2 phủ này là Thanh Hoa ngoại trấn, ngăn cáchvới Thanh Hoa ngoại Trấn là dãy núi Tam Điệp Nhà Lê Trung Hưng đóng đô
ở Thanh Hoa Từ phủ Trường Yên ra ngoài bắc, do nhà Mạc cai quản; trừTrường Yên trở vào, bắt đầu tử năm 1533 do Lê Trung Hưng cai quản Saukhi nhà Mạc bị diệt (1592) nhà Lê đem 2 phủ là Trường Yên và Thiên Quannhập vào Thanh Hoa gọi là Thanh Hoa ngoại trấn Thời Tây Sơn cũng gọi là
Trang 27Thanh Hoa ngoại trấn, thuộc Bắc Thành Dưới triều Nguyễn vẫn theo như cũThanh Hoa ngoại trấn gồm 2 phủ là Trường Yên và Thiên Quan có 6 huyện làYên Mô, Yên Khang, Gia Viễn, Yên Hóa, Phụng Hóa và lạc Thổ Năm GiaLong thứ 5 (1806) đổi Thanh Hoa ngoại trấn thành gọi là đạo Thanh Bình vẫnthuộc trấn Thanh Hoa, năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đổi tên phủ Trường Yênthành phủ Yên Khánh Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi tên đạo Thanh Bìnhthành đạo Ninh Bình Địa danh Ninh Bình có từ đó nhưng vẫn là một đạothuộc trấn Thanh Hoa Đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829) mới chính thứcđổi tên thành trấn Ninh Bình, đặt các quan cai trị là Trấn thủ, Hịêp trấn vàTham Hiệp, như các trấn khác nằm trong Bắc Thành, cũng trong năm 1829thành lập huyện Kim sơn do dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ khai khẩn đấthoang, đất bồi ven biển lập nên Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đổi trấn NinhBình thành tỉnh Ninh Bình và bỏ tổng trấn Bắc Thành theo chương trình cảicách hành chính của Minh Mệnh Tỉnh Ninh Bình dưới triều Nguyễn có 2 phủgồm 7 huyện Phủ Yên Khánh gồm 4 huyện: Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn(khi ấy gồm hai huyện Gia Viễn và Hoa Lư ngày nay) và Kim Sơn, phủ Thiênquan đến đời Tự Đức 15 tức năm 1862 đổi là phủ Nho Quan, Yên Hòa (đời
Lê gọi là Ninh Hóa, gồm một phần huyện Nho Quan và một phần huyện GiaViễn ngày nay), và huyện Yên Lạc (trước là Lạc Thổ, sau là Lạc Yên, ngàynay là huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình Thời thuộc Pháp có một số thay đổi,như cắt huyện Yên Lạc nhập vào tỉnh Hòa Bình, đổi tên huyện Phụng Hóathành huyện Nho Quan và thành lập huyện Gia Khánh gồm một phần huyệnYên Khánh và một phần huyện Gia Viễn Trước cách mạng Tháng 8/1945,Ninh Bình có 6 phủ huyện độc lập với nhau (phủ không quản huyện gồm haiphủ là Nho Quan và Yên Khánh, các huyện Gia Viễn, Gia Khánh, Kim Sơn,Yên Mô cùng với thị xã Ninh Bình Sau cách mạng Tháng 8 thì Ninh Bìnhmang tên tỉnh Hoa Lư trong một thời gian ngắn, các phủ huyện đều được gọi
Trang 28chung là huyện 9/10/1945 hội đồng chính phủ quyết định các tỉnh lấy lại tên
cũ thì Hoa Lư lại được gọi là tỉnh Ninh Bình, thuộc Bắc kỳ sau là Bắc bộ.Trong kháng chiến chống Pháp thì tỉnh Ninh Bình thuộc khu 3, ngày25/1/1948 hợp nhất các khu 2, khu 3 và khu 11 thành liên khu thì tỉnh NinhBình thuộc liên khu 3 Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976 Ninh Bìnhhợp với tỉnh Hà Nam (gồm Nam Định và Hà Nam) thành lập tỉnh Hà NamNinh Năm 1977 thành lập các huyện Hoàng Long, huyện Tam Điệp, huyệnKim Sơn và huyện Hoa Lư, trên cơ sở hợp nhất các huyện
Huyện Hoa Lư được thành lập ngày 27/4/1977 do hợp nhất huyện GiaKhánh (phủ Tràng An) và thị trấn Ninh Bình, khi đó thuộc tỉnh Hà Nam Ninh.Thị xã Ninh Bình chuyển thành thị trấn Ninh Bình, huyện lỵ huyện Hoa Lư.Ngày 9/4/1981, tái lập thị xã Ninh Bình, tách khỏi huyện Hoa Lư Trụ sởhuyện Hoa Lư chuyển về xã Ninh Khánh Sau đó nhiều lần tách đất huyệnHoa Lư nhập vào thị xã Ninh Bình Từ năm 1991, Hoa Lư thuộc tỉnh NinhBình với trung tâm là thị trấn Thiên Tôn Trong tương lai, do sức ép phát triển
đô thị của thành phố Ninh Bình, rất có thể diện tích huyện Hoa Lư tiếp tục sẽdần được chuyển nhập về thành phố này.
Về tên gọi Hoa Lư, các nhà nghiên cứu Hán Nôm khẳng định rằng: Hoa
Lư là một danh từ riêng chỉ một vùng đất chứ không phải tên người, tên vậthay thần linh Danh xưng này hiện nay vẫn còn tồn tại rất nhiều cách hiểukhác nhau Qua các tư liệu thư tịch, văn bia, dã sử, thần tích, thần phả… ghichép lại thì danh xưng này có một số cách hiểu như sau:
Hoa Lư hiểu với nghĩa là hoa lau Chữ hoa viết là hoa (花) ở đây đượchiểu với nghĩa là bông hoa, còn nếu viết hoa (華) nghĩa hiểu là tinh hoa, phồnhoa, rực rỡ Tuy vậy có lúc hai chữ hoa này dùng ngang nhau Chữ (蘆) “lư”còn có cách đọc khác là “lô” hay “lau” là: bông lau “Hoa lư” (花蘆) vớinghĩa là hoa lau, theo lô gích ngữ pháp tiếng Hán thông thường phải viết là Lư
Trang 29Hoa (蘆花) như cách viết hồng hoa (紅花) mai hoa (梅花) thì khi dịch sangtiếng Việt mới là hoa lau, hoa hồng, hoa mai được Cho nên với cách viết Hoa
Lư (花蘆) thì dịch ra tiếng Việt sẽ là Lư Hoa chứ không phải là Hoa Lư Điềunày theo cách giải thích của Giáo sư Trần Quốc Vượng thì đây là quá trình Việthoá Hán ngữ buổi đầu Có thể đây là viết theo văn phạm tiếng Việt
Hoa lư hiểu với nghĩa là cổng làng hoa (華閭) Chữ Lư (閭) mang nghĩa
là cổng làng, được viết bằng chữ (門) bên ngoài chữ lữ (呂) bên trong Vì thếcho nên chữ Lư ở đây có người hiểu là cổng làng
Theo cách viết (華鑪) người ta hiểu Hoa Lư là cái lò hoa vì thấy viết ởmột số hoành phi, câu đối, ngay cả bức đại tự ở động Hoa Lư cũng viết Hoa
Lư động (華鑪洞) vậy là xuất hiện cách viết chữ Lư (鑪) có bộ kim bên cạnh.Cho nên có ý kiến cho rằng Hoa Lư với nghĩa cái lò hoa
Hoa Lư còn hiểu theo các nghĩa là: đồ nấu cơm có hoa, là đồ đựng lúa(華蘆) hay Hoa Lư là miệng con lừa hoa được viết (華驢) v.v… Tùy theo chữviết và cách lý giải khác nhau nghĩa nào cũng có cái hay cái thâm thúy củabậc tiền nhân, song Hoa Lư cho đến nay thường được hiểu là Hoa Lau
1.2.3 Về dân cư
Theo nghiên cứu gần đây nhất của các cán bộ phòng di sản sở văn hóa vàthể thao du lịch tỉnh Ninh Bình cho thấy sự xuất hiện của người tiền sử ở địabàn hang Son thuộc xã Trường Yên qua những dấu tích còn sót lại: lớp trầmtích trong hang có màu đỏ, xuất lộ xương động vật cùng vỏ nhuyễn thể nướcngọt như ốc núi, ốc suối Điều đó chứng tỏ nơi đây đã có sự tồn tại và sinhsống của người tiền sử thuộc thời hậu kỳ pleitocene, cách ngày nay trên
10000 năm
Ngày nay địa bàn Hoa Lư không phải là nơi tập trung sinh sống của đôngđảo cư dân các dân tộc như những địa bàn khác thuộc vùng núi (Hòa Bình,Điện Biên, Lai Châu…) Cư dân tập trung sinh sống chủ yếu ở nơi đây là
Trang 30người Kinh, ngoài ra còn có một số người có nguồn gốc Hán, họ là hậu duệcủa người Hán di cư sang và định cư ở đây từ thời Bắc thuộc, bên cạnh đócòn có một số bộ phận người Việt di cư từ những vùng, miền khác thuộc đồngbằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, họ đã trởthành người dân đất Hoa Lư.
1.2.4 Về văn hoá
Cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, vùng đất Hoa Lư gắn liền vớinhững dấu ấn văn hóa của các triều đại phong kiến, mà nơi đây đã từng là đấtđịnh đô của 3 triều đại phong kiến, gắn với sự nghiệp của 6 vị vua, với các sựkiện lịch sử thống nhất giang sơn, đánh Tống, dẹp Chiêm, phát tích quá trìnhđịnh đô về Thăng Long - Hà Nội Do ở vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam nênmảnh đất này đã từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc
mà dấu tích lịch sử vẫn còn lưu lại trong các đình, chùa, đền, phủ, các hangđộng, ngọn núi, bến sông…
Hoa Lư nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực Tây Bắc, đồng bằngSông Hồng và Bắc Trung Bộ Đặc điểm đó đã tạo nên một nền văn hóa Hoa
Lư tương đối năng động, mang đặc trưng khác biệt, trên nền tảng văn minhSông Hồng Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rấtsớm Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra sự sinh sống của người tiền sử quanhững trầm tích và dấu vết được phát hiện ở hang Son (Trường Yên)
Văn hóa Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau Sau thời đạicủa văn hóa Ðông Sơn, văn minh sông Hồng, lịch sử văn hóa văn minh ViệtNam bước vào thời đại lớn thứ hai của nó là thời đại Đại Cồ Việt, tiếp đó làÐại Việt và Việt Nam, với ba thời kỳ văn hóa dài ngắn khác nhau: văn hóaHoa Lư, văn hóa Thăng Long và văn hóa Phú Xuân
Thế kỷ 10, khi đất nước Đại Cồ Việt bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủlâu dài, thời kỳ này cũng là lúc nảy sinh những mầm mống của một nền văn
Trang 31học dân tộc dưới hình thức chữ Hán và chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởngPhật giáo Các danh nhân như Khuông Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh lànhững người được triều đình trọng dụng và có tầm ảnh hưởng lớn đến vănhóa dân tộc Đinh Tiên Hoàng là người đầu tiên lập chức tăng thống đưa phậtgiáo trở thành quốc đạo Và ông cũng là người cho đúc tiền đồng có tên gọi làtiền đồng Thái Bình, là tiền tệ xưa nhất ở Việt Nam Đây là sự kiện lớn củadân tộc, sự ra đời của tiền đồng Thái Bình đặt nền móng cho nền tài chínhtiền tệ của nhà nước phong kiến Việt Nam Từ đó các thuyền buôn nướcngoài sang nước ta kết mối giao thương buôn bán, điều này tạo điều kiệnthuận lợi cho việc hợp tác giao lưu kinh tế, mở rộng giao lưu văn hóa giữanước ta và nước ngoài.
Trong lich sử Việt Nam Lê Hoàn không chỉ là một vị hoàng đế có nhữngđóng góp lớn trong công cuộc đấu tranh chống quân Tống phương Bắc, quânChiêm phương Nam, giữ gìn và củng cố nền độc lập dân tộc mà ông còn cónhiều công lao trong sự nghiệp ngoại giao, xây dựng và kiến tạo đất nước Đại
Cồ Việt Lê Hoàn cũng là người tạo tiền đề, điều kiện để thời gian sau đó LýCông Uẩn đủ khả năng dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long năm 1010, mở ramột kỷ nguyên phát triển lâu dài của văn hóa Thăng Long – Hà Nội Lê ĐạiHành khi làm vua cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nôngnghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng đất nước Ông là vị vua mở đầu cho
lễ tịch điền nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp dưới chế độ phong kiến
Việt Nam Mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tụcnoi theo để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp Lê Đại Hành cũng
là vị vua đầu tiên tổ chức đào sông Công trình đào sông Nhà Lê do Lê Hoànkhởi dựng là con đường giao thông thuỷ nội địa đầu tiên của Việt Nam Sựnghiệp mở đầu vĩ đại đó đã trở thành phương trâm hành động của các thời Lý,
Trang 32Trần, Lê, Nguyễn sau này Lê Hoàn là người mở đầu và xác lập nhữngnguyên tắc cơ bản của nền ngoại giao Đại Việt.
Hoa Lư không những là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến tậpquyền Việt Nam mà nơi đây còn là vùng đất sản sinh nhiều giá trị văn hóathuần Việt Kinh đô này là đất tổ của nghệ thuật sân khấu chèo mà người sánglập là bà Phạm Thị Trân một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh Đây làloại hình sân khấu tiêu biểu nhất của Việt Nam Các truyền thuyết lịch sử háttuồng cũng ghi rằng loại hình nghệ thuật này hình thành vào thời tiền Lê năm
1005, khi một kép hát người Tàu tên là Liêm Thu Tâm đến Hoa Lư và trìnhbày lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống và được vua Lê Long Đĩnh trưngdụng, cho làm phường trưởng để dạy các cung nữ ca hát trong cung Hoa Lưcũng là nơi diễn ra các lễ hội văn hoá độc đáo, mang đậm bản sắc của vùngđất “địa linh nhân kiệt”, tiêu biểu như: Lễ hội cố đô Hoa Lư (hay còn gọi là lễhội cờ lau), diễn ra vào đầu tháng 3 âm lịch hàng năm tại sân khấu lễ hội,trung tâm quảng trường khu di tích lịch sử văn hoá cố đô Hoa Lư, để tưởngnhớ công ơn của các vị vua ở Hoa Lư như: Đinh Tiên Hoàng, Lê ĐạiHành Lễ hội đền Thái Vi diễn ra vào giữa tháng 3 âm lịch, để tưởng nhớcông ơn của các vị vua nhà Trần , cùng với lễ hội là các công trình xây dựng,các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu: đền Vua Đinh, đền Vua Lê (Tr.Yên),chùa Nhất Trụ, chùa Cổ Am, chùa Duyên Ninh, đình Sen, đình Các, đền TháiVi…, phản ánh màu sắc văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng đậm nét của vùng
Trang 331.3 Địa danh Hoa Lư – kết quả thu thập và phân loại
1.3.1 Kết quả thu thập
Căn cứ nguyên tắc, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, quaquá trình khảo sát, điền dã trên địa bàn Hoa Lư, chúng tôi đã thu thậpđược 859 địa danh, những địa danh này được xác định trên trục phân bốkhông gian (vị trí địa lý: ở 11 đơn vị với 10 xã, 1 thị trấn) và theo trụcthời gian (thời điểm xuất hiện: quá khứ, hiện tại) Trong tổng số 859 địadanh mà chúng tôi thu thập được, bao gồm cả những địa danh hiện naykhông còn tồn tại trên địa giới hành chính mà chỉ xuất hiện trong nhữngthư tịch cổ, gia phả, thần tích và trong tâm thức của ng ười dân địaphương Còn cả những địa danh song song tồn tai, cùng chỉ một đốitượng Ngoài ra, có một số trường hợp: xóm, đội, công ty, trường, trạm ytế…, có nhà nghiên cứu cho đây là hiệu danh, nhưng trong quá trình khảosát chúng tôi thấy những trường hợp đó có đặc điểm liên quan đến địadanh, nên cũng đưa vào trong tư liệu nghiên cứu của luận văn này
1.3.2 Phân loại
Trên cơ sở đặc thù của địa danh Hoa Lư, với khả năng của bản thân, vàđược kế thừa thành quả của những tác giả nghiên cứu đi trước, chúng tôi phânchia địa danh Hoa Lư thành 61 loại dựa trên 3 tiêu chí: đối tượng phản ánh,nguồn gốc ngữ nguyên, chức năng phản ánh
1.3.2.1 Phân loại theo đối tượng phản ánh
Ở tiêu chí này chúng tôi chia địa danh làm 2 loại: đối tượng địa lý tựnhiên và đối tượng địa lý nhân văn, tuy nhiên việc sắp xếp các đối tượng địadanh vào 2 loại như trên mà chúng tôi tiến hành chỉ mang tính chất tương đốibởi vì địa danh trên địa bàn Hoa Lư khá phức tạp, có những địa danh có sựgiao thoa giữa hai loại, vừa mang đặc trưng, tính chất của loại địa danh chỉđối tượng địa lý tự nhiên, vừa mang tính chất của đối tượng địa lý nhân văn,
Trang 34vì thế trong quá trình phân loại, chúng tôi thấy tính chất nào nổi trội hơn thìxếp địa danh vào nhóm địa danh có đặc điểm, tính chất nổi trội đó.
a Đối tượng địa lý tự nhiên
Các địa danh thuộc đối tượng này bao gồm các cảnh quan thiên nhiên:núi, sông, hang, động, thung, đồng, khu du lịch…
b Đối tượng địa lý nhân văn bao gồm những địa danh được chúng tôixếp vào 3 nhóm nhỏ:
- Địa danh chỉ các đơn vị cư trú, hành chính: xã, thị trấn, thôn, xóm, đội…
- Điạ danh chỉ các công trình giao thông: ngã ba, cầu, cống, đường…
- Địa danh chỉ công trình xây dựng: đền, chùa, đình, chợ, nhà thờ…
Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi sẽ trình bày việc phân loại này thôngqua bảng số liệu cụ thể dưới đây:
Bảng phân loại địa danh Hoa Lư theo đối tư ng ph n ánhợng phản ánh ản ánh
1
Địa danh
tự nhiên
Núi 90 Núi Voi (N.Mĩ)
4 Động 6 (TTr.Thiên tôn)Động Thiên Tôn
7 Khu dulịch 2 Bích Động (N.Hải)Khu du lịch Tam Cốc
8 Vườnchim 1 Nham (N.Hải)Vườn chim Thung
Trang 35nhân văn
cư trúhànhchính
Bến xe 1 (N.Hải)Bến xe Ninh Hải
28
Côngtrìnhxâydựng
Đền 48 Đền Trình (Tr.Yên)
(N.Xuân)
31 Nhà thờ 12 Trường (N.Mĩ)Nhà thờ Nguyễn Thế
33 Sân vậnđộng 1 Thắng (N.Thắng)Sân Vận động xã Ninh
34 Nhà vănhóa 7 (N.Khang)Nhà văn hóa Đại Phú
35
Nghĩatrang liệtsĩ
8 Ninh Hải (N.Hải)Nghĩa trang liệt sĩ xã
Trang 3638 Phủ 10 Phủ Lang (N.Thắng)
41 Trạm y tế 11 Thắng (N.Thắng)Trạm Y Tế xã Ninh
42 Bưu điện 11 Lư (TTr.Thiên Tôn)Bưu Điện Huyện Hoa
43 nước sạchTrạm cấp 9 Ninh Thắng (N.Thắng)Trạm cấp nước sạch
3 đô Hoa Lư (Tr.Yên)Khu di tích lịch sử cố
51 Khu côngnghiệp 1 Quán (TTr.Thiên Tôn)Khu công nghiệp Đồng
54
Cơquan tổchứckhác
Ủy Ban Nhân Dân Huyện Hoa Lư (TTr.Thiên Tôn)
56 Sở du lịch 1 (N.Hải)Sở Du Lịch Ninh Bình
Dưỡng (N.Vân)
Trang 3758 nghiệpDoanh 5
Doanh nghiệp cơ khí Tháng 8 (N.Thắng)
59 Xí nghiệp 3 Xuân (TTr.Thiên Tôn)Xí nghiệp may Vạn
60 Nhà máy 1 Duyên Hà (N.Vân)Nhà máy xi măng
61 Hợp tácxã 5 (TTr.Thiên Tôn)Hợp tác xã Đa Giá
1.3.2.2 Phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên
a Nhóm địa danh có nguồn gốc Hán Việt
Trong tổng số 859 địa danh đã được thống kê thì nhóm địa danh này có
số lượng khá lớn là 669 trường hợp chiếm 77,88%,
- Địa danh đơn vị cư trú hành chính 210 trường hợp chiếm 31,39%trong tổng số 669 trường hợp
- Địa danh công trình giao thông là 34 trường hợp, chiếm 5,08% trongtổng số 669 trường hợp
- Địa danh công trình xây dựng là 240 trường hợp, chiếm 35,87% trongtổng số 669 trường hợp
- Địa danh chỉ cơ quan tổ chức khác là 45 trường hợp, chiếm 6,73%trong tổng số 669 trường hợp
- Địa danh chỉ đối tượng tự nhiên là 140 trường hợp, chiếm 20,93%trong tổng số 669 trường hợp
Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt chiếm tỉ lệ cao và xuất hiện với tần sốlớn, trong đó cao nhất là địa danh chỉ các công trình xây dựng (chiếm35,87%), thấp nhất là địa danh chỉ công trình giao thông (chiếm 5,08%)
Địa danh Hoa Lư trong nhóm địa danh có nguồn gốc Hán - Việt phần lớn
là địa danh phức, tức là chúng được cấu tạo bởi hai hoặc hơn hai yếu tố
Trang 38Ví dụ: thôn Phong Phú (N.Giang), phố Thiên Sơn (TTr.Thiên Tôn), thônPhú Gia (N.Khang), thôn Thanh Thượng (N.Hòa), xóm Nhân Lý (N.Mĩ),đường Tràng An (N.Xuân), động Thiên Hương (N.Hải), chùa Phúc Viên Tự(N.Thắng), chùa Khai Phúc Tự (N.Thắng)…
Một số ít được cấu tạo bởi một yếu tố (âm tiết), chỉ thấy xuất hiện trongđịa danh cư trú hành chính và địa danh tự nhiên
Ví dụ: xóm Đông (N.Giang), xóm Tây (N.Giang), xóm Nam (N.Giang),thôn Đông (Tr.Yên), thôn Trung (Tr.Yên), thôn Bắc (Tr.Yên), hang Hạnh(N.Xuân), hang Bản (N.Xuân)…
Qua đây ta có thể thấy rằng ngôn ngữ và văn hóa Hán có tác động mạnh
mẽ và ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống, tư tưởng, văn hóa của người dân trênđịa bàn Hoa Lư
b Nhóm địa danh có nguồn gốc thuần Việt, số lượng 173 trường hợp,chiếm 20,14%, trong 173 trường hợp này thì địa danh tự nhiên là 88 trườnghợp, chiếm 50,87%
Ví dụ: núi Sót (N.Xuân), núi Cóc (N.Hải), núi Gai (TTr.Thiên Tôn), hang
Cả (N.Hải), hang 2 (N.Hải), hang 3 (N.Hải)…
Địa danh chỉ các công trình giao thông là 11 trường hợp, chiếm 6,36%
Ví dụ: đường 477 (N.Thắng), đường 12C (N.Hòa), đường 491(N.xuân)…Địa danh chỉ công trình xây dựng là 14 trường hợp, chiếm 8,09%
Ví dụ: chùa Đá (N.Hải), chùa Sắn (N.Hải), đình Sen (N.Thắng)…
Địa danh chỉ đơn vị cư trú hành chính 60 trường hợp, chiếm 34,68%
Ví dụ: xóm 1, xóm 2, xóm 3 (N.Hải), xóm Dinh (N.An), xóm Cáy (N Hải)…
c Nhóm địa danh có nguồn gốc khác như: Tày - Thái, Việt - Mường,Việt –Hán Việt, Môn - Khơme… 9 trường hợp chiếm 1,05%, hầu hết làđịa danh tự nhiên
Trang 39Ví dụ: Hang Bim (Tr.Yên), Núi Sót (N Xuân), Hang Muông (N.Hải),Núi Gú (Tr.Yên)…
d Nhóm địa danh không xác định được nguồn gốc 8 trường hợp,chiếm 0,93%, trong đó 7 trường hợp là địa danh tự nhiên chiếm 87,5% và 1trường hợp là địa danh chỉ đối tượng cư trú hành chính, chiếm 13,5%
Ví dụ: hầm Vụng Quao (N.Xuân), núi Ruôm (N.Giang), xóm Gòi (N.An), đồng Guôi (N.Giang), đồng Ăng Bái (N.Giang), đồng Dộc (N.Mĩ), núiDếnh (N.Giang), núi Nhợi (Tr.Yên)
Bảng phân loại địa danh Hoa Lư theo ngu n g c ng nguyênồn gốc ngữ nguyên ốc ngữ nguyên ữ nguyên
TT Loại hình địadanh
Số lượng địa danh theo nguồn gốc
Việt
Hán-ThuầnViệt
Nguồngốc khác
Không rõnguồn gốc
Sốlượng
1.3.2.3 Phân loại theo chức năng giao tiếp và thời gian xuất hiện.
Ngôn ngữ tồn tại song hành, gắn liền với đời sống xã hội, chính vì thế sựphát triển của xã hội cũng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của ngôn ngữ,trong đó địa danh là một trong những đơn vị của ngôn ngữ, có chức năng địnhdanh đối tượng, chính vì thế khi đối tượng biến đổi thì cách định danh (gọitên) đối tượng cũng thay đổi Cũng như nhiều địa phương khác, sự thay đổi
Trang 40trong đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần dẫn đến sự tồn tại pháttriển, biến đổi của hệ thống địa danh trên địa bàn Hoa Lư là địa bàn có hệthống địa danh tương đối phức tạp, cùng lúc tồn tại cả tên gọi cũ, cổ, tên gọimới; tên gọi chính thức và tên gọi dân gian.
Tên gọi chính thức thường là từ Hán Việt, tên gọi này tồn tại trong vănbản hành chính được ghi chép lại qua các thư tịch, hương ước, quy ước củalàng, xã hay qua các tài liệu lịch sử… Trong khi giao dịch mang tính chất nhànước thì người ta thường sử dụng tên này để tạo nên tính chất trang trọng,ngược lại khi giao tiếp thân mật, xuồng xã hoặc nói về quá khứ thì người ta sửdụng tên dân gian Tên dân gian thường là những từ thuần Việt, gần gũi, dễnhớ, dễ hiểu Tên gọi này thường tồn tại trong tâm thức, ngôn ngữ, lời nóihàng ngày của người dân
Ví dụ:
Địa danh nói chung thường không có niên đại rõ ràng do đó việc phânbiệt tên cũ và tên cổ trong địa danh là hết sức phức tạp và khó khăn, chính vìvậy ở luận văn này chúng tôi xếp tất cả tên cũ, tên cổ vào nhóm tên dân gian,chẳng hạn: động Hoa Sơn (N.Hòa), trước đây tên động là “Chùa bà đẻ” vì đây
là nơi nuôi ấu chúa thời Đinh; bến Đò Đông Hội (N.An), trước đây có tên gọi
là bến Đò Chủ, đình La Mai (N.Giang), trước đây gọi là đình Nghè, thôn Tây(Tr.Yên), trước đây có tên gọi là thôn Đoài…những tên: “động Chùa bà đẻ”,
“bến Đò chủ”, “thôn Đoài” chúng tôi xếp vào nhóm tên dân gian