Là sản phẩm dân gian mang tính tập thể cộng đồng, được lưutruyền nên nghĩa của từ được sử dụng để tạo nên hai loại sản phẩm mang tínhhình tượng này phần lớn đều được biểu trưng hóa; song
Trang 2Nhân dịp hoàn thành luân văn, chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm
ơn tới các thầy cô giáo chuyên ngành Ngôn ngữ học, các thầy cô Khoa Ngữvăn, Trường Đại học Vinh đã giảng dạy, giúp đỡ động viên chúng tôi trongquá trình học tập; đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Hoàng Trọng Canh, người đã tận tình hướng dẫn trong quá trìnhthực hiện đề tài
Nhân dịp này, cũng xin gửi lời cảm ơn tới đồng nghiệp, bạn bè,người thân gần đã động viên, ủng hộ chúng tôi trong quá trình học tập vàlàm luận văn
Vì những điều kiện khách quan và chủ quan, có thể luận văn còn cónhững điều cần bàn thêm Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận văn 5
6 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6
1.1 Thành ngữ và ca dao 6
1.1.1 Thành ngữ 6
1.1.2 Ca dao 10
1.2 Nghĩa của từ 15
1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ 15
1.2.2 Các loại nghĩa trong ngôn ngữ 17
1.2.3 Nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng của từ 18
1.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua nghĩa của từ 19
1.3.1 Khái niệm văn hóa 19
1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 20
1.3.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua thành ngữ và ca dao 21
1.4 Tiểu kết chương 1 23
Chương 2 NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC TỪ MƯA, NẮNG, GIÓ, BÃO TRONG THÀNH NGỮ 24
2.1 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ 24
2.1.1 Nghĩa biểu trưng 24
2.1.2 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ 25
Trang 42.2.1 Kết quả khảo sát về số lượng thành ngữ chứa từ mưa 27
2.2.2 Các nghĩa biểu trưng của từ mưa 27
2.3 Nghĩa biểu trưng của từ nắng trong thành ngữ 36
2.3.1 Kết quả khảo sát về số lượng thành ngữ chứa từ nắng 36
2.3.2 Các nghĩa biểu trưng của từ nắng 36
2.4 Nghĩa biểu trưng của từ gió trong thành ngữ 38
2.4.1 Kết quả khảo sát về số lượng thành ngữ chứa từ gió 38
2.4.2 Các nghĩa biểu trưng của từ gió 38
2.5 Nghĩa biểu trưng của từ bão trong thành ngữ 42
2.5.1 Kết quả khảo sát về số lượng thành ngữ chứa từ bão 42
2.5.2 Nghĩa biểu trưng của từ bão trong thành ngữ 42
2.6 Tiểu kết chương 2 44
Chương 3. NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC TỪ MƯA, NẮNG, GIÓ, BÃO TRONG CA DAO 45
3.1 Nghĩa biểu trưng của các từ mưa trong ca dao 45
3.1.1 Các nghĩa của mưa dùng độc lập trong ca dao 46
3.1.2 Mưa kết hợp với các từ khác 55
3.2 Nghĩa biểu trưng của nắng trong ca dao 56
3.2.1 Các nghĩa của nắng dùng độc lập trong ca dao 56
3.2.2 Nghĩa biểu trưng của nắng được dùng trong kết hợp với các từ khác .59
3.3 Nghĩa biểu trưng của gió trong ca dao 61
3.3.1 Các ý nghĩa của gió khi dùng độc lập trong ca dao 61
3.3.2 Nghĩa biểu trưng của gió trong sự kết hợp với các từ khác 66
3.4 Nghĩa của từ bão trong ca dao 68
3.4.1 Kết quả khảo sát số lượng câu ca dao chứa từ bão 68
Trang 53.4.2 Nghĩa biểu trưng của bão trong ca dao 69
Trang 6và ca dao 71
3.5.1 Những điểm tương đồng 71
3.5.2 Những điểm khác nhau 72
3.5.3 Bảng tổng hợp so sánh các ý nghĩa của các từ mưa, nắng, gió, bão trong thành ngữ và trong ca dao 73
3.6 Tiểu kết chương 3 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 82
Trang 7vị này Do đó tìm hiểu nghĩa biểu trưng của các từ trong thành ngữ và ca dao,trước hết là góp phần nghiên cứu các sản phẩm ngôn ngữ nghệ thuật dân gian.
1.2 Là sản phẩm dân gian mang tính tập thể cộng đồng, được lưutruyền nên nghĩa của từ được sử dụng để tạo nên hai loại sản phẩm mang tínhhình tượng này phần lớn đều được biểu trưng hóa; song thành ngữ và ca daothuộc hai đơn vị có chức năng khác nhau nên bên cạnh mặt đồng nhất, giữachúng có một số đặc điểm khác nhau, không chỉ về mặt hệ thống cấu trúcngôn ngữ mà cả trong hành chức Cũng do vậy, về nghĩa, các từ trong hai loạiđơn vị này không hoàn toàn giống nhau Vì thế, trên cơ sở miêu tả nghĩa, sosánh nghĩa biểu trưng của các từ giữa hai đơn vị đó góp phần làm rõ nhữngnét tương đồng và khác biệt ngữ nghĩa giữa thành ngữ và ca dao trong cấutrúc và sự hành chức cũng như đặc điểm chuyển nghĩa của các yếu tố
1.3 Thành ngữ, ca dao là đối tượng giảng dạy trong các cấp học nênnghiên cứu chúng ở phương diện nào cũng có ý nghĩa thực tiễn; chúng vừacung cấp tư liệu, vừa góp phần soi sáng những nội dung lí thuyết về hai đơn
vị này trong giảng dạy ngữ văn trong nhà trường
1.4 Cho tới nay chưa có công trình nào miêu tả, so sánh nghĩa biểu
trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão trong thành ngữ và ca dao nên việc tiến
Trang 8hành đề tài này là việc làm cần thiết, có ý nghĩa không chỉ về mặt ngôn ngữ
mà còn cả về phương diện văn hóa, tri nhận
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu Nghĩa biểu trưng của
các từ mưa, nắng, gió, bão trong thành ngữ và ca dao làm đề tài luận văn
của mình
2 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là khảo sát nghĩa biểu trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão trong thành ngữ và ca dao Việt Cho nên các thành ngữ và ca dao có chứa các từ mưa, nắng, gió, bão sẽ được thu thập, nghiên cứu
Tư liệu của luận văn chủ yếu được thống kê từ các từ điển và côngtrình sau:
- Từ điển giải thích thành ngữ Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý (chủ
- Thành ngữ học Tiếng Việt - Hoàng Văn Hành, Nxb KHXH, 2004.
Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thêm một số đơn vị khác thu thập đượcqua giao tiếp, sách báo và điều tra điền dã
- Kho tàng ca dao người Việt, Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật
(đồng chủ biên), Nxb Văn hóa thông tin, 1995
Trang 9- Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (in lần thứ 10), Vũ Ngọc Phan,
Nxb KHXH, 1997
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu như trên, chúng tôi đề ra nhiệm
vụ nghiên cứu là:
- Khảo sát, phân loại, thống kê thành ngữ và các câu ca dao có chứa từ:
mưa, nắng, gió, bão.
Phân tích miêu tả nghĩa biểu trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão trong
thành ngữ và ca dao
- So sánh, đối chiếu nghĩa biểu trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão
trong thành ngữ và trong ca dao, rút ra những nét tương đồng và khác biệtgiữa chúng
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Hướng nghiên cứu về thành ngữ và ca dao trên bình diện chung
Thành ngữ và ca dao là hiện tượng quen thuộc với lời ăn tiếng nóithường ngày của nhân dân lao động, nhưng trước đây, thành ngữ - ca daochưa được nghiên cứu theo hướng chuyên sâu Hai loại đơn vị này chỉ đượcgiới thiệu trong các giáo trình ngôn ngữ hoặc văn học dân gian với tính chất làmột chương, mục của bài dạy hoặc là một khái niệm trong sự phân biệt vớitục ngữ, ca dao Trong một số công trình một số tác giả còn không tách thànhngữ thành một đối tượng riêng
Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã thật sự quan tâm nghiêncứu chuyên sâu và toàn diện hơn Điều đó được thể hiện ở việc công bố hàngloạt công trình, như:
- Kể chuyện thành ngữ tục ngữ, Hoàng Văn Hành, Nxb KHXH (tái bản
lần thứ 2), 2002
- Thành ngữ học Tiếng Việt, Hoàng Văn Hành, Nxb KHXH, 2002
Trang 10- Tiếp cận nguồn gốc và cách sử dụng nhóm thành ngữ phản ánh nền văn hóa dân tộc, lịch sử và phong tục tập quán dân tộc - Nguyễn Xuân Hòa,
Tạp chí Ngôn Ngữ số 3, 2004
- Yếu tố văn hóa trong thành ngữ về ăn - Hà Thu Hương, Ngữ học trẻ
99, Hà Nội, 2000
- Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm thành ngữ Tiếng Việt
Nguyễn Văn Mệnh, Tạp chí Ngôn Ngữ số 3, 1987
- Thành ngữ gốc Hán nhìn từ góc độ ngữ nghĩa - Nguyễn Thị Tân, Tạp
chí Ngôn ngữ số 12, 2005
- Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt- Bùi Khắc Việt,
Tạp chí Ngôn ngữ số 1, 1978
- Từ điển giải thích thành ngữ Tiếng Việt - Nguyễn Như Ý(cb), 1998
- Thi pháp ca dao- Nguyễn Xuân Kính, NXB KHXH, 1992.
3.2 Nghiên cứu cụ thể về các phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ và ca dao
- Đặc trưng cấu trúc - ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao,
Nguyễn Nhã Bản, Nxb VHTT, 2005
- Hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ so sánh tiếng Việt, Bùi Thị Thi
Thơ, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh, 2006
- Một vài đặc trưng văn hóa thể hiện qua thành ngữ Tày - Thái, Vũ Tân
Lâm, Nguyễn Thị Kim Thoa, Ngữ học trẻ, 2003
- Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt, Triều Nguyên, 2003.
- Một số đặc trưng văn hóa Việt nam, thể hiện qua ca dao người Việt,Phan Mậu cảnh, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ, 2010.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra trong quá trình khảo sát, nghiêncứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Trang 114.1 Phương pháp thống kê, phân loại
- Thống kê các thành ngữ có các yếu tố mưa, nắng, gió, bão và tần số
xuất hiện của từng yếu tố trong thành ngữ và ca dao
- Phân loại các thành ngữ - tục ngữ đã thống kê theo từng tiểu loại
4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này được dùng so sánh nghĩa biểu trưng của các từ mưa,
nắng, gió, bão trong thành ngữ và ca dao; trong một chừng mực nhất định,
tiến hành đối chiếu phân tích các từ đó trong thơ Việt Nam hiện đại
4.3 Phương pháp miêu tả, phân tích tổng hợp
Phương pháp này được dùng phân tích ngữ liệu, miêu tả các thành ngữ
để thấy được ngữ nghĩa của các yếu tố và của thành ngữ làm căn cứ để từ đórút ra kết luận về những đặc điểm tương đồng và khác biệt của các từ mưa,nắng, gió, bão hoạt động trong hai đơn vị này
5 Đóng góp của luận văn
Với đề tài này luận văn này, chúng tôi hy vọng đây là công trình đề cập
một cách có hệ thống việc xác định nghĩa biểu trưng của các yếu tố mưa, nắng, gió, bão trong ca dao và thành ngữ, thông qua đó cũng góp phần làm rõ
những nét tương đồng và khác biệt của hai đơn vị này với tư cách là các thành
tố trong hệ thống và trong sự hành chức ở các ngữ cảnh
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văngồm 3 chương:
Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2 Nghĩa biểu trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão trong
thành ngữ
Chương 3 Nghĩa biểu trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão trong
ca dao
Trang 12Chương 1 NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
nghiên cứu chuyên sâu về thành ngữ như: Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt (1974) của Trương Đông San; Thành ngữ tiếng Việt (1987) của Nguyễn Lực, Lương Văn Đang; Từ điển thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt (1989) của Nguyễn Lân; Thành ngữ cố sự (1991) của Thanh Lan, Võ Ngọc Thành; Kể chuyện thành ngữ tiếng Việt (2002), Thành ngữ học tiếng Việt (2004) của Hoàng
Văn Hành Dù tiếp cận đối tượng ở từ những góc độ khác nhau và với mụcđích không như nhau nhưng trong các công trình của mình, các tác giả cũngđều đưa ra hay ủng hộ một quan niệm, một định nghĩa về thành ngữ
Tác giả Nguyễn Xuân kính trong Thi pháp ca dao đã phân biệt thành
ngữ và tục ngữ “thành ngữ là hoa còn tục ngữ là quả”, nghĩa là: thành ngữ làmột phán đoán chưa hoàn chỉnh còn tục ngữ thì đã là một câu, một phán đoán
trọn vẹn Ông nêu lên định nghĩa: Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật hoặc để chỉ tính chất, hành động
[25, tr 47] Như vậy, theo tác giả thì khái niệm thành ngữ khá ngắn gọn và đơn giản nhưng xét trong quan hệ vói từ thì định nghĩa này ta thấy chưa có sự
khác biệt rõ giữa hai đơn vị này
Trang 13Cũng phân biệt thành ngữ với tục ngữ, tác giả Dương Quảng Hàm
trong Văn học sử yếu (1943) nêu lên quan niệm: “Một câu tục ngữ tục ngữ tự
nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; cònthành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý hoặc tả
một trạng thái gì cho có màu mè” Vũ Ngọc Phan trong Tục ngữ, ca dao, dân
ca (1956) không tán thành với quan niệm này, ông nói: “Định nghĩa như vậy
không được rõ, vì nếu thế, tác dụng của thành ngữ không khác gì tác dụng củathành ngữ ( ) Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn một ý, một nhận xét,một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phê phán, cònthành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người
đã quen dùng, nhưng tự nhiên nó không diễn đạt một ý trọn vẹn Về hình thứcngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm từ, chưa phải là một câu hoànchỉnh Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh” [35, tr 39]
Sự phân biệt này khá rạch ròi, tuy nhiên tác giả đã quá tuyệt đối đặc điểmhình thức ngữ pháp - thành ngữ phải là một nhóm từ, trên thực tế có những
thành ngữ mang kết cấu c - v như: chó cắn áo rách, chó ngáp phải ruồi, chuột
sa chĩnh gạo mặt khác tác giả cũng không chú ý đến tính biểu trưng ngữ
nghĩa hay tính tương đương với từ về chức năng
Như vậy việc phân biệt tục ngữ và thành ngữ không phải là việc làmđơn giản Cố giáo sư Hoàng Văn Hành - người có công lớn trong việc nghiêncứu thành ngữ từng đưa ra một định nghĩa mà chúng tôi nghĩ là hoàn chỉnh:
“Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc,hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa, được sử dụng với những chức năng như từ”[18, tr 27]
Với đề tài đã chọn, chúng tôi không có ý định luận sâu vào khái niệmthành ngữ mà chỉ dựa trên kết quả của các nhà nghiên cứu để nêu lên một
định nghĩa ngắn gọn, dễ hiểu, tiện cho việc nghiên cứu: Thành ngữ là một
Trang 14cụm từ cố định, có cấu trúc chặt chẽ, mang ý nghĩa biểu trưng, có giá trị tương đương từ, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày.
1.1.1.2 Đặc trưng của thành ngữ
Thành ngữ là đơn vị định danh đặc biệt bởi giá trị sử dụng của nó đemđến hiệu quả tác động mà “có lúc phải dùng nhiều trang sách mới minh họađược” (Gorki), về điều này thì không một đơn vị ngôn ngữ nào khác có thểđảm nhiệm thay thế Có được điều đó là nhờ đặc trưng của thành ngữ manglại Đã có nhiều ý kiến phân tích thành ngữ, nhằm tìm ra các giá trị các đặctrưng của nó
Theo Hoàng Văn Hành thì thành ngữ có hai đặc trưng cơ bản: Một là,tính ổn định, cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc do thói quen sử dụngcủa người bản ngữ Hai là, tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa [18, tr 25]
Một số nhà nghiên cứu khác, như Đỗ Hữu Châu [8], Nguyễn Đức Dân[11],… lại cho rằng thành ngữ có ba đặc trưng cơ bản sau:
- Thành ngữ có tính hài hòa, điệp đối Đặc trưng này chủ yếu thể hiện
ở lớp thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng, được tạo thành bởi hai vế đối xứngnhau về ý và lời thông qua một trục, hài hòa về âm thanh, vần điệu Ví dụ:
Tay làm //hàm nhai, Cao chạy //xa bay, Tình xưa// nghĩa cũ, Tránh vỏ dưa // gặp vỏ dừa
- Thành ngữ giàu hình ảnh Thành ngữ là lời ăn tiếng nói hàng ngày
của người dân Việt, thói quen của người Việt là rất ít khi “ nói toạc móngheo” mà ưa dùng hình ảnh, mỗi hình ảnh tự nó đã chứa rất nhiều ý nghĩa, cókhi các nghĩa còn mang sắc thái khác nhau, thậm chí đối lập nhau về nghĩa,
mà tùy vào từng ngữ cảnh cụ thể mới biết được người nói muốn nói gì vàcũng tùy vào hoàn cảnh cụ thể của lời nói mà người nghe cần tiếp nhận hình
ảnh đó như thế nào cho đúng nghĩa Ví dụ, cùng là hình ảnh voi nhưng trong các thành ngữ khác nhau, voi góp phần cùng các thành tố khác tạo ra nghĩa
Trang 15biểu trưng khác nhau Voi trong Đầu voi đuôi chuột, cùng với chuột biểu
trưng cho sự khập khiễng, mở đầu to tát nhưng kết thúc không ra gì, còn trong
Lên voi xuống chó lại chỉ địa vị không ổn định, khi vinh khi nhục của một người nào đó, trong Tránh voi chẳng xấu mặt nào lại để cách ứng xử chỉ một thế lực bạo tợn không nên đối mặt, trong Rước voi về dày mả tổ lại chỉ hành
động bội phản, một việc làm mất gốc…
- Thành ngữ mang ý nghiã khái quát, biểu trưng Về đặc trưng này của
thành ngữ thì hiện nay đang có nhiều ý kiến, một số tác giả cho rằng thànhngữ có nghĩa biểu trưng, một số tác giả khác lại đồng nhất nghĩa và hình ảnh
Về ý kiến thứ nhất, tác giả Bùi Khắc Việt, trong bài Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt viết: “Do sự vật hoặc hình ảnh có một số phẩm
chất nào đó chung với điều nó biểu hiện nên biểu trưng gợi cho ta một ý niệm
về nội dung biểu hiện” Các tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1978), Đỗ Hữu Châu(1981), Nguyễn Đức Dân (1986) đều khẳng định thành ngữ có hai loạinghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng hay còn gọi là nghĩa biểu trưng
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Đối với thành ngữ cần phân biệt haiphương diện ý nghĩa, ý nghĩa từ nguyên là ý nghĩa hình thành từ nghĩa riêngcủa các thành tố theo qui tắc cú pháp và ý nghĩa thực tại Trong ngôn ngữhọc, ý nghĩa từ nguyên còn được gọi là hình thái bên trong ( ) Căn cứ vàohình thái bên trong người ta có thể giải thích lí do ngữ nghĩa của các ý nghĩathực tại ” [14, tr 187]
Tác giả Nguyễn Văn Mệnh thì nêu quan điểm: “Ý nghĩa của thành ngữkhông phải là số cộng giản đơn và trực tiếp ý nghĩa các thành tố như ở trườnghợp các ngữ tự do hoặc quán ngữ mà được hình thành trên cơ sở khái quát và
tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các yếu tố” [33, tr 13].
Đỗ Hữu Châu (1999) xem tính biểu trưng là đặc điểm ngữ nghĩa số mộtcủa thành ngữ Ông nói: “Ngữ cố định lấy vật thực việc thực để biểu trưng chonhững đặc điểm tính chất, hoạt động, tình thế phổ biến, khái quát ( ) Biểu
Trang 16trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận,diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn” [8, tr 82].
Từ những ý kiến trên, ta có thể đi đến khái quát về đặc trưng cơ bảncủa thành ngữ là: thành ngữ mang tính cố định hóa cao về cấu trúc, có ý nghĩa
biểu trưng, biểu cảm
1.1.2 Ca dao
1.1.2.1 Khái niệm ca dao
Ca dao là sáng tác dân gian, kết tinh trí tuệ và tình cảm của nhân dân,
có nguồn gốc từ xa xưa trong lịch sử hình thành và phát triển dân tộc; là phátngôn hoàn chỉnh, có tính độc lập cao như những văn bản tối giản, có tính đặcthù (tính vần điệu, tính biểu trưng hay còn gọi là tính nghệ thuật)
Ca dao phản ánh nếp cảm, nếp nghĩ của người dân, chủ yếu là củangười dân lao động, được hình thành từ trong cuộc sống thôn quê, trong laođộng sản xuất, trong giao tiếp hàng ngày Do vậy, nó là kết tinh lời ăn, tiếngnói một cách hồn nhiên, trong lành và trung thực nhất của nhân dân, chứađựng những nét văn hóa bản thể của dân tộc (văn hóa nông nghiệp lúa nước,trọng nghĩa trọng tình, thực tế giản dị)
Về khái niệm ca dao, nhiều tác giả đã bàn đến trong các công trình
nghiên cứu khoa học Từ những năm đầu thế kỉ XX, ca dao được gọi là phong dao (vì có những bài ca phản ánh phong tục), dần dần về sau (khoảng những năm 50 cho đến nay) người ta chỉ dùng từ ca dao.
Hiện nay đang tồn tại ba cách hiểu về ca dao như sau:
- Ca dao là những bài hát dân ca hay là dân ca (phần lời của điệu);
- Chỉ phần lời của bài hát;
- Những lời hay nhất
Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là một thuật ngữ Hán - Việt đượcdùng để chỉ lời của các bài hát dân ca đã tước bỏ những tiếng đệm, tiếng láy
Trang 17Theo Nguyễn Xuân Kính, “Ca dao là những lời thơ dân gian dùng đểhát (về sau, khi đã được cố định trên văn bản, ca dao còn được những ngườibiết chữ xem bằng mắt, đọc thầm) Ca dao được hình thành từ dân ca, khi nóiđến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca, khi nói đến dân ca, người ta nghĩđến làn điệu và những thể thức nhất định” [25, tr 79].
Vũ Ngọc Phan định nghĩa: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâmđược như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca” [35, tr.23] Định nghĩa này xem ca dao là một thuật ngữ chỉ một thể thơ dân gian
Theo bách khoa tri thức phổ thông thì ca dao là những bài thơ trữ tìnhdân gian truyền khẩu được phổ biến rộng rãi, lưu truyền qua nhiều thế hệ
Tóm lại, dù có nhiều cách hiểu và mỗi cách hiểu là một cách tiếp cận
khác nhau, nhưng có điểm chung khi nói về ca dao: là một thể thơ dân gian, thể hiện tâm tư tình cảm của người dân lao động.
1.1.2.2 Đặc trưng của ca dao
Ca dao là tiếng nói tự nhiên thể hiện tâm hồn người Việt có lịch sử lâuđời và sức sống mãnh liệt Điều này có được là nhờ ca dao có những đặctrưng sau:
a) Về hình thức, ngôn ngữ:
- Về hình thức:
Ca dao là một thể thơ Điều dễ nhận thấy là ca dao mang những đặcđiểm cơ bản của thơ Đó là yếu tố vần và yếu tố nhịp có mặt trong tất cả cácbài ca dao (từ bài 2 câu cho đến những bài ca dao dài) Loại vần và nhịp cơbản của ca dao trùng với thể thơ lục bát truyền thống (có đến 95% bài ca dao
ở thể lục bát), có hai loại vần cơ bản (vần chân, vần lưng) và chủ yếu là nhịpchẵn Làm phép so sánh ca dao và thơ ta sẽ thấy rõ điều này:
Ca dao: Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Trang 18Thơ: Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
(Nguyễn Du)
Ca dao là một thể thơ nhưng thuộc thể thơ dân gian, vì ca dao là loạithơ sáng tác trong dân gian, của tập thể (vô danh), lưu truyền từ đời này sangđời khác bằng phương thức truyền miệng (thời nay, sau khi truyền miệng đãđược văn bản hóa) Vì vậy, ca dao có thể có các dị bản:
- Ai đem con sáo sang sông / để cho con sáo sổ lồng nó bay
Ai đem con sáo qua sông / để cho con sáo sổ lồng bay xa…
- Râu tôm nấu với ruột bầu / Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon Râu tôm nấu với ruột bù / Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon…
Ca dao có mô hình xác định, lặp đi lặp lại rất đặc trưng của thơ dân
gian Nhiều bài ca dao có cùng một mô hình cấu trúc Ví dụ, mô hình bao giờ
Ax thì By:
Bao giờ bánh đúc có xương/ Tơ hồng có rễ thì nường lấy ta
Bao giờ gánh gạo đến nhà / Lợn kêu í oét mới là vợ anh
Nhiều bài ca dao cùng mở đầu bằng: chiều chiều ra đứng, bao giờ cho đến, đôi ta như thể
- Về ngôn ngữ:
Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ đời thường mộc mạc, giản dị, trong sáng,thuần Việt, thậm chí tác giả sử dụng cả từ địa phương để sáng tác:
Râu tôm nấu với ruột bù/ Chồng chan vợ húp gật gù khen ngon…
Có những lời ca dao lại được kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời
thường: Thương anh bụng sát tận da / Anh thì không biết tưởng là đói cơm
Cũng có lời ca dao tác giả dân gian sử dụng ngôn ngữ điêu luyện tinh tế:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già / Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non; Thuyền về có nhớ bến chăng / Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền; Cầm vàng mà lội qua sông / Vàng rơi chẳng tiếc tiếc công cầm vàng…
Trang 19b) Về nội dung:
Nội dung cơ bản nhất của ca dao là thể hiện tình cảm đối với quêhương, đất nước, con người Ca dao cũng phản ánh tập quán và có cả phêphán, trách móc Cái đọng lại trong ca dao là những suy nghĩ, tình cảm thểhiện sự ứng xử của con người đối với tất cả mọi phương diện của đời sống,
nhà cửa, gia đình, ruộng đồng, quê hương, đất nước: Làng ta phong cảnh hữu tình / dân cư đông đúc như hình con long…
Tình cảm gia đình, làng xóm, tình yêu nam nữ là mảng đậm nét trong
ca dao: Có cha có mẹ thì hơn / không cha không mẹ như đờn không giây; Yêu nhau trao một miếng trầu / Giấu thầy giấu mẹ trao sau bóng đèn…
Quan niệm về hạnh phúc, về lao động, về công ơn, về tình nghĩa:
Công cha như núi ngất trời / nghĩa mẹ như nước ngời ngời Biển Đông; Cây đa cũ bến đò xưa / người thương có nghĩa nắng mưa vẫn chờ…
Những nội dung này làm thành giá trị của ca dao: Tính nguyên sinh (Ca dao chứa cái không pha tạp, mang bản năng gốc), giá trị nhân sinh (ca dao là tâm nguyện của con người về lẽ sống), giá trị văn hóa (ca dao thể hiện
bản sắc truyền thống của dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển, tiếp biến vănhóa hiện đại)…
1.1.2.3 Phân biệt thành ngữ và ca dao
a Về nội dung ý nghĩa
- Nội dung của thành ngữ là biểu thị một khái niệm, tương đương với
từ Chẳng hạn, thành ngữ: mẹ tròn con vuông có nghĩa là tốt đẹp, may mắn (trong sinh đẻ), mặt trơ trán bóng chỉ sự bướng bỉnh, ba chân bốn cẳng chỉ
sự vội vã… Nghĩa của thành ngữ là nghĩa khái quát, nghĩa bóng (còn gọi là nghĩa biểu trưng) toát ra từ toàn bộ kết cấu Chẳng hạn, các thành ngữ: công
dã tràng, nước đổ dầu vịt, nước đổ lá khoai đều biểu thị nội dung khái
niệm: sự phí công, hoài công cho việc làm nào đó không có hiệu quả như
Trang 20mong muốn; hay các thành ngữ: ăn đói mặc rách, nhà tranh vách đất, nghèo rớt mồng tơi đều biểu thị nội dung khái niệm: cảnh nghèo, đói khổ.
- Nội dung của ca dao là một thông điệp được diễn tả đầy đủ, rõ ràng(tương đương một câu hay một văn bản, bằng văn vần), đề cập đến tâm trạng,tình cảm, tình yêu trai gái, tình yêu quê hương, làng xóm, gia đình Bởi thế
ca dao được xem là thơ ca dân gian đích thực là điệu hồn dân tộc: Gió sao gió mát sau lưng / Dạ sao dạ nhớ người dưng thế này; Trèo lên cây bưởi hái hoa / Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…
b) Về hình thức
- Thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp theo kiểu cụm từ cố định (có giá trịtương đương từ), có kết cấu bền vững Thành ngữ chủ yếu là 4 âm tiết (sốthành ngữ có số lượng âm tiết lớn rất ít )
Do có cấu tạo là cụm từ cố định nên thành ngữ mang chức năng địnhdanh (gọi tên sự vật, khái niệm, hình ảnh, thuộc tính ) và chỉ là bộ phận cấutạo nên câu
Ví dụ:
+ Bà cô ấy được cái là hay ba hoa chích chòe; Nó là một đứa chỉ biết
há miệng chờ sung thôi: hai thành ngữ vừa dẫn đều nằm trong bộ phận vị ngữ của câu
+ Quân đầu trộm đuôi cướp, đứa trời đánh thánh vật đã ăn trộm gà của
nhà bà…: hai thành ngữ vừa dẫn đều thuộc bộ phận chủ ngữ của câu…
- Ca dao là những câu - bài hoàn chỉnh, có số lượng âm tiết lớn, từ 2dòng trở lên, sử dụng thể lục bát là chủ yếu, ngoài ra còn có thể thơ ngũ ngôn,thất ngôn, song thất lục bát Lời ca dao ngắn nhất gồm hai dòng thơ:
- Cơm ăn mỗi bữa một lưng
Uống nước cầm chừng để dạ thương em
- Phải chi sông cái có cầu
Em qua em giải cơn sầu cho anh
Trang 21Có khi là 4 dòng hay nhiều hơn:
- Phải duyên em nhất định theo
Nào ai có quản khó nghèo chi đâu Đời này ai muốn chuốc lấy thảm sầu Cầu dừa mà vững nhịp, còn bằng vạn cầu Bông Miêu.
- Ngồi đêm trông thấy trăng tròn
Muốn toan hỏi nguyệt mà đoan mấy lời Nguyệt rằng vật đổi sao dời
Thân này sẽ để cho người soi chung Làm cho tỏ mặt anh hùng
Ngàn năm sương tuyết một lòng thanh quang.
Ca dao có thể bao chứa cả thành ngữ:
- Mẹ già ở cạnh lều gianh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con…
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng…
- Thiếp thương chàng keo sơn vạn đại
Chàng thương thiếp dầu dãi nắng mưa
Mặc lòng thiếp lựa lấy cho vừaNơi mô duyên đẹp, tình ưa thiếp tìm
Tóm lại, thành ngữ là tổ hợp cố định, biểu thị khái niệm, có chức năngtương đương như từ; ca dao là tổ hợp tự do, biểu thị thông báo, có chức năngcủa một câu, một văn bản
1.2 Nghĩa của từ
1.2.1 Khái niệm nghĩa của từ
Khi xem xét các loại nghĩa trong ngôn ngữ, người ta khảo sát chúngtrong các đơn vị ngôn ngữ từ thấp đến cao Bao gồm:
Trang 22- Nghĩa của hình vị, nghĩa của từ (và các đơn vị tương đương) gồm: nghĩabiểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa ngữ pháp, nghĩa biểu thái, nghĩa liên hội.
- Nghĩa của các đơn vị thông báo (tức các đơn vị được tạo ra tronggiao tiếp, như: câu, văn bản…) gồm: ý nghĩa thông tin, biểu cảm; hiểnngôn, hàm ngôn…
Nói một cách tổng quát, ngữ nghĩa học hiện đại nghiên cứu không chỉnhững ý nghĩa hiển ngôn mà cả những ý nghĩa hàm ẩn, nghiên cứu ý nghĩakhông chỉ của các đơn vị có đoạn tính mà cả các yếu tố không có đoạn tính,nghiên cứu ý nghĩa không chỉ của các đơn vị lập thành hệ thống mà cả củacác hành vi sử dụng chúng, của những quan hệ giữa các đơn vị hệ thống vớihoàn cảnh giao tiếp (Theo Đỗ Hữu Châu [8])
Hiện các tài liệu viết về nghĩa và xác định thế nào là nghĩa (của ngônngữ) chưa có được một sự rõ ràng và thống nhất Tuy vậy, ta có thể đưa ramột vài hướng xác định tiêu biểu:
- Nghĩa là một phạm trù thuộc nội dung: một đơn vị nào đó, bên cạnh
mặt hình thức (âm thanh, ký hiệu), nó còn có mặt bên trong, làm thành nộidung Chính nhờ mặt này mà đơn vị có nghĩa đó mới tồn tại trong ngôn ngữ
và mới trở thành đơn vị giao tiếp Theo Đỗ Hữu Châu, “Nghĩa là toàn bộ nộidung tinh thần mà một từ (hay các đơn vị khác) gợi ra khi chúng ta tiếp xúcvới nó Nghĩa của từ là cơ sở để tìm hiểu nghĩa của các đơn vị khác” [8]
- Nghĩa là sự phản ánh hiện thực: một đơn vị ngôn ngữ nào đó đều do
con người tạo ra, quy ước; đơn vị đó là sự thể hiện hoặc là tư tưởng, tình cảmhoặc là phản ánh hiện thực khách quan “Nghĩa là sự phản ánh đối tượng củahiện thực (các hiện tượng, các quan hệ, phẩm chất, quá trình) vào trong nhậnthức, trở thành một yếu tố của ngôn ngữ nhờ việc tạo nên mối liên hệ thườngtrực, liên tục với một chuỗi âm thanh nhất định nhờ đó sự phản ánh hiện thựctrong nhận thức được hiện thực hoá Sự phản ánh hiện thực này tham gia
Trang 23trong cấu trúc của từ như là mặt bên trong, mặt nội dung trong quan hệ vớimặt âm thamh như là vỏ vật chất cần thiết không chỉ để biểu hiện nghĩa vàthông báo cho người khác, mà còn cần tiết cho chính sự hình thành, nảy sinh,tồn tại và phát triển của nó” [33]
- Nghĩa là một sự tổng hợp: Nghĩa vừa là mặt mặt nội dung, vừa là là
tất cả những điều được các đơn vị ngôn ngữ biểu hiện, phản ánh
1.2.2 Các loại nghĩa trong ngôn ngữ
Ngôn ngữ học nói chung, ngữ nghĩa học nói riêng nghiên cứu các loạinghĩa: nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa ngữ cảnh, nghĩa ngữ pháp…
- Nghĩa gốc: là nghĩa vốn có ngay từ khi đơn vị đó xuất hiện, có từ xa
xưa (còn gọi là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát, nghĩa đen, thường được xemxét trong từ vựng) Nghĩa này thường mang tính võ đoán (không có lý do) Ví
dụ: Nghĩa gốc của từ ăn là: đưa thức ăn vào miệng, nhai nuốt (Tôi ăn cơm); nghĩa gốc của từ đi là: hoạt động dời chuyển (Mẹ đi chợ).
- Nghĩa phái sinh: là nghĩa bắt đầu từ nghĩa gốc, tạo ra các nghĩa mới
nhưng có liên quan đến nghĩa gốc Nghĩa này còn được gọi là nghĩa bóng, vì
nó định danh gián tiếp sự vật, nó xuất phát từ nghiã gốc theo phép ẩn dụ hayhoán dụ; đây là loại nghĩa có căn cứ vì có liên quan đến nghĩa ban đầu Ví dụ:
Nghĩa phái sinh của ăn là: tiêu tốn (Xe ăn xăng) Nghĩa phái sinh của đi là:
mất (Bác đã đi rồi)…
- Nghĩa ngữ cảnh: (còn gọi là nghĩa liên hội, nghĩa lâm thời): là nghĩa
của đơn vị đó chỉ liên quan đến ngữ cảnh sử dụng, tách khỏi hoàn cảnh sử
dụng, nghĩa của đơn vị đó lại trở về nghĩa thường dùng ban đầu Ví dụ: Nắng chiều đột kích mấy hàng cau (Hồng Nguyên) Đột kích là từ dùng trong quân
sự (đánh vào) nhưng nghĩa lâm thời trong câu thơ lại là: chiếu vào, soi vào
- Nghĩa ngữ pháp: là nghĩa khái quát của hàng loạt từ, tạo thành các phạm trù ngữ pháp, Ví dụ: nghĩa từ loại (danh từ, động từ), nghĩa về giống (giống đực/ cái), về số (ít / nhiều), về thời (quá khứ / hiện tại / tương lai)…
Trang 24Khi xem xét các loại nghĩa trong ngôn ngữ, người ta khảo sát chúngtrong các đơn vị ngôn ngữ từ thấp đến cao.
1.2.3 Nghĩa gốc và nghĩa biểu trưng của từ
Từ những ý kiến nêu về nghĩa trên đây, ta có thể xác định nghĩa gốc
và nghĩa biểu trưng của từ để làm cơ sở cho việc khảo sát tìm hiểu nghĩa của
các từ trong đề tài luận văn này như sau:
- Nghĩa gốc: là nghĩa vốn có ngay từ khi đơn vị đó xuất hiện, có từ xa
xưa (còn gọi là nghĩa ban đầu, nghĩa xuất phát, nghĩa đen, thường được xemxét trong từ vựng)
- Nghĩa biểu trưng:
“Biểu trưng là cách lấy một sự vật, hiện tượng nào đó để biểu hiện cótính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó khác mang tính trừu tượng” Thựcchất nguồn gốc của nghĩa biểu trưng chính là “hiện tượng chuyển nghĩa đượcdựa trên những quan hệ tương đồng hay tương cận (theo cách nói truyền thống
về cơ sở của phép chuyển nghĩa theo ẩn dụ hay hoán dụ)”… [47, tr 378]
Như vậy, nghĩa biểu trưng là những nghĩa phái sinh từ nghĩa gốc, nghĩa
này còn được gọi là nghĩa bóng, vì nó định danh gián tiếp sự vật, nó xuất phát
từ nghiã gốc theo phép ẩn dụ hay hoán dụ; đây là loại nghĩa có căn cứ vì cóliên quan đến nghĩa ban đầu Nghĩa biểu trưng cũng có thể liên quan đến
nghĩa trong ngữ cảnh (còn gọi là nghĩa liên hội, nghĩa lâm thời): là nghĩa của
đơn vị đó chỉ liên quan đến ngữ cảnh sử dụng, tách khỏi hoàn cảnh sử dụng,nghĩa của đơn vị đó lại trở về nghĩa thường dùng ban đầu
Vậy có thể hiểu nghĩa biểu trưng của từ là kết quả của sự chuyển nghĩa gốc (theo phép ẩn dụ hay hoán dụ thông qua sự liên tưởng) sang loại nghĩa tượng trưng, bóng bẩy và có tính trừu tượng.
Ví dụ: Từ tim nghĩa gốc: là một bộ phận cơ thể người nghĩa biểu trưng: chỉ tình cảm, tình yêu Chim bồ câu: đặc tính: hiền lành biểu trưng:
Trang 25hòa bình… Cây sen loại cây mọc trong đầm tỏa mùi thơm - biểu trưng cho
sự trong trắng, tinh khiết: Trong đầm gì đẹp bằng sen / Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng / Nhị vàng bông trắng lá xanh / Gần bùn mà chẳng hôi tanh
mùi bùn Cây đa, bến cũ biểu trưng cho tình quê chung thủy: Cây đa cũ, bến
đò xưa / Bộ hành có nghĩa nắng mưa vẫn chờ…
1.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua nghĩa của từ
1.3.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa ra đời và phát triển từ thuở bình minh của xã hội loài người
Đã có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, đã có hàng trăm định nghĩa vềvăn hóa Theo các công trình nghiên cứu về văn hóa, chúng tôi xin tóm lượcmột số điểm cơ bản sau đây để làm cơ sở cho việc tìm hiểu từ ngữ từ góc độvăn hóa
Thuật ngữ văn hóa bắt nguồn từ tiếng Latinh cultus với nghĩa đen là lao
động nông nghiệp, trồng trọt, canh tác và nghĩa bóng là liên quan đến giá trịtinh thần, đến giáo dục, đến phát triển trí tuệ, trình độ học vấn, tri thức
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ văn hóa được hiểu là “1 Tổng thể
nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong
quá trình lịch sử Ví dụ: Kho tàng văn hóa dân tộc, Văn hóa phương Tây.
2.Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần
[nói khái quát ] Ví dụ: Sinh hoạt văn hóa văn nghệ 3 Tri thức, kiến thức khoa học [nói khái quát] Ví dụ: Học văn hóa Trình độ văn hóa 4 Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh Ví dụ: Người thiếu văn hóa Cư xử rất có văn hóa 5.Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh
thần của một thời kì lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể
những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau Ví dụ: Văn hóa Đông Sơn Văn hóa Sa Huỳnh (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê, Nxb Đà
Nẵng, 2008, trang 1360)
Trang 26Như vậy, có thể hiểu văn hóa ở cách dùng thông thường là: sự đánh giátrình độ văn hóa của con người; đánh giá một con người về lối sống, ứng xử;các sinh hoạt phong tục, tập quán…
Ở góc độ khoa học, có thể dựa vào định nghĩa sau đây để hiểu về kháiniệm văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình sáng tạo và hoạt động thực tiễn trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [43, tr 10]
1.3.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.3.2.1 Ngôn ngữ đối với văn hóa
Ngôn ngữ như là một thành tố của văn hóa (P.A.Vrovin) Ngôn ngữ là
một trong những bộ phận của văn hóa Văn hóa có thể biểu hiện qua nhiềuhình thức khác nhau nhưng trong đó ngôn ngữ là phương tiện có vai trò quantrọng nhất biểu đạt văn hóa Ngôn ngữ có năng lực sáng tạo văn hóa, từ ngônngữ có thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa khác Ngôn ngữ chứa đựng trongmình nó toàn bộ di sản văn hóa của các thế hệ trước, xác định hành vi của conngười trong hiện tại; trong mức độ nào đó ngôn ngữ làm tiền đề cho conngười trong tương lai
Như vậy, con người sáng tạo ra ngôn ngữ, ngược lại, ngôn ngữ cũnggóp phần tạo dựng, liên kết xã hội loài người và đồng thời cũng tạo ra các giátrị văn hóa Ngôn ngữ là nơi bảo lưu tinh thần văn hóa của dân tộc, nó là sứcmạnh liên minh các dân tộc (w Humboldt)
Ngôn ngữ có vai trò lưu giữ và bảo tồn văn hóa, có khả năng lưu giữlớn nhất và lâu dài nhất Ngôn ngữ có vai trò sáng tạo và phát triển văn hóa(là chất liệu để tạo ra các tác phẩm văn học, là yếu tố thứ nhất của tác phẩmvăn học, là chất liệu tham gia vào sáng tạo nghệ thuật khác) Ngôn ngữ cònthúc đẩy nền văn hóa xã hội phát triển: pháp luật, đạo đức, các lĩnh vực liênquan đến con người, là động lực cho xã hội phát triển và ngày càng tiên tiến,
Trang 27văn minh Ngôn ngữ làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau, thếgiới ngày càng gần với nhất thể hóa, nó là trung tâm trong đời sống văn hóanhân loại Ngôn ngữ giúp con người lương thiện sống gần nhau hơn Văn hóa
góp phần làm tăng phần sáng, đẩy lùi phần tối trong con người.
1.3.2.2 Văn hóa đối với ngôn ngữ
Văn hóa đi vào ngôn ngữ và làm thành các giá trị cho ngôn ngữ (vănhóa là nội dung bên trong, ngôn ngữ là hình thức bên ngoài) Nói cách khác,giá trị của ngôn ngữ một phần rất quan trọng được làm thành từ các giá trị vănhóa Văn hóa làm cho ngôn ngữ có tính biểu trưng, đa nghĩa
Văn hóa (văn hóa sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt vật chất) góp phầnlàm ngôn ngữ trở thành một chất liệu để sáng tạo nghệ thuật và đồng thờinhờ có văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng làm cho ngôn ngữ giữa các vùngdân cư mang bản sắc, đặc trưng của từng vùng và tính đa thanh, đa nghĩacủa ngôn ngữ
1.3.3 Đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua thành ngữ và ca dao
Người dân lao động không chỉ làm ra của cải vật chất mà còn sáng tạo
ra văn hóa tinh thần, trong đó có các sáng tác dân gian Thành ngữ, tục ngữ,
ca dao là lời ăn tiếng nói của nhân dân, thoát thai từ lao động và sinh hoạthàng ngày của người dân lao động Theo các nhà nghiên cứu thì các sáng tácdân gian, trong đó có ca dao, tục ngữ, thành ngữ là hình thức sinh hoạt vănhóa cổ xưa nhất của nhân “Từ những giai đoạn đầu tiên của sự phát triển xãhội, những điều kiện môi trường đã quy định chung nhiệm vụ chinh phụcthiên nhiên, hình thành nên những điểm chung về quá trình thói quen laođộng, rồi từ đó là cả những phong tục, sinh hoạt…”(sdd; tr.123) Ca dao lànơi nương náu của dĩ vãng, là hình bóng của quá khứ Nhưng nó không phải
là quá khứ đứt quãng mà nó là sợi dây tâm tình nối liền các thế hệ Đó là tiếnglòng của quần chúng, bất luận do ai sáng tác Ca dao, tục ngữ, thành ngữ là
Trang 28nơi lưu giữ văn hóa dân tộc, vì vậy muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc thì ta cóthể tìm đến một “địa chỉ” tin cậy, trung thành nhất, đó là ca dao, tục ngữ,thành ngữ
Có thể nói rằng, những biểu hiện văn hóa dân tộc thể hiện trong ngônngữ ca dao và thành ngữ là rất phong phú và đa dạng:
- Đó là các ứng xử văn hoá trong thân tộc (gia đình, họ hàng): Vợ bìu con ríu, con ông cháu cha, mẹ tròn con vuông…(thành ngữ), Anh em như chân với tay/ Như hoa một cội như cây một cành, Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn (ca dao)…
- Là tình yêu con người, quê hương đất nước: Trăm nhớ ngàn thương, chín đợi mười chờ (thành ngữ); Chờ anh chờ ngẩn chờ ngơ/ Chờ hết mùa mận mùa mơ mùa đào (ca dao)…
- Là quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, quan hệ đối xử củacon người với thế giới loài vật; quan hệ ứng biến của con người với thế giới
tự nhiên: một nắng hai sương, đầu ghềnh cuối bãi, mạnh như hổ, khỏe như trâu (thành ngữ), Trâu ơi ta bảo trâu này…, Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa (ca dao)…
Ca dao là sản phẩm của con người, kết tinh tình cảm, nhận thức của conngười trong cuộc sống từ bao đời, là những tấm gương phản chiếu xã hội.Vậy ca dao là văn hóa, là một sản phẩm văn hóa, bao chứa văn hóa và là mộtđối tượng của văn hóa học
Ca dao là sản phẩm của con người, kết tinh tình cảm, nhận thức của conngười trong cuộc sống từ bao đời, nó như tấm gương phản chiếu xã hội Vậy,
ca dao là văn hoá, là một sản phẩm văn hoá, bao chứa văn hoá và là một đốitượng của văn hoá học
“Không có một chiếc chìa khóa vạn năng nào để mở cửa vào cuộc sốngnội tâm của dân tộc, ngoại trừ ngôn ngữ của dân tộc ấy” (Havvett) Đó là một
Trang 29tiền đề, một cơ sở để chúng tôi tìm hiểu nghĩa biểu trưng của thành ngữ, tụcngữ, ca dao từ góc độ văn hóa trong những phần tiếp theo.
1.4 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi nêu một số khái niệm, giới thuyết có liênquan đến đề tài, gồm: Khái niệm thành ngữ, ca dao; nghĩa và nghĩa biểutrưng; mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ; việc tìm hiểu thành ngữ và cadao từ góc độ văn hóa- ngôn ngữ… Những vấn đề lí thuyết này làm cơ sở để
thực hiện việc khảo sát, phân tích nghĩa biểu trưng của các từ mưa, nắng, gió, bão trong thành ngữ và ca dao ở chương 2 và 3 tiếp theo.
Trang 30Chương 2
NGHĨA BIỂU TRƯNG CỦA CÁC TỪ MƯA, NẮNG, GIÓ, BÃO
TRONG THÀNH NGỮ
2.1 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ
2.1.1 Nghĩa biểu trưng
Như đã nêu ở chương 1, nghĩa nói chung, nghĩa biểu trưng nói riêng, làmột khái niệm đã được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về ngônngữ học Cho đến nay, nghĩa biểu trưng còn có nhiều cách hiểu khác nhau
Xét theo cách sử dụng, biểu trưng là từ được dùng như một động từ,
với nghĩa: biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất (ví dụ: Con còtrong ca dao Việt Nam biểu trưng cho hình ảnh người nông dân suốt đời làmviệc thầm lặng, lam lũ); biểu trưng cũng có thể dùng như một danh từ đồngnghĩa với biểu tượng (ví dụ: Con chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình)
Biểu tượng, theo Chevalier trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,
“dẫu ta có nhận biết ra hay không, đêm ngày, trong hành ngôn, trong các cửchỉ, hay trong giấc mơ của mình, mỗi chúng ta đều sử dụng các biểu tượng nói là chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng thì chưa đủ, phải nói một
thế giới biểu tượng sống trong chúng ta” [9, tr 13].
Theo nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, biểu trưng là thuộc bình diệnnghĩa học song còn có nhiều cách lí giải khác nhau về loại nghĩa này
Theo Nguyễn Đức Tồn biểu trưng là “cách lấy một sự vật, hiện tượng
nào đó để biểu hiện có tính chất tượng trưng, ước lệ một cái gì đó khác mangtính trừu tượng Một sự vật, hiện tượng có giá trị biểu trưng thì nó (kèm theo
là tên gọi của nó) sẽ gợi lên trong ý thức người bản ngữ sự liên tưởng khá bềnvững Nghĩa biểu trưng có thể được hình thành dựa trên những đặc điểm tồntại khách quan ở đối tượng, đồng thời còn có thể có được dựa trên cả sự “gánghép” theo chủ quan của con người” [47, tr 387]
Trang 31Theo Từ Điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý
(chủ biên), “nghĩa biểu trưng là nghĩa bắt nguồn từ nghĩa đen, hoặc một nghĩabóng khác nhờ kết quả của việc sử dụng từ có ý thức trong lời nói để biểu thị
sự vật, không phải nhờ vào qui chiếu tự nhiên, thường xuyên Một từ có đượcnghĩa bóng khi nó định danh sự vật không phải trực tiếp mà là qua một sự vậtkhác theo phép ẩn dụ, hoán dụ, chơi chữ” [53 tr 144]
Như vậy, nghĩa biểu trưng không chỉ được hình thành trên cơ sở quan
hệ tương đồng hay tương cận của chính sự vật, hiện tượng đó tồn tại trongthực tế khách quan mà còn mang tính chủ quan, trừu tượng
Nghĩa biểu trưng gắn liền với nghĩa gốc của các từ (gọi là nghĩa từnguyên, theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu) Những từ có nghĩa chỉ đặc điểm,thuộc tính nổi trội của sự vật và có khả năng chuyển nghĩa hoặc mang tính quiước của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận thì mới có thể mang nghĩabiểu trưng
2.1.2 Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ
Thành ngữ, cũng như từ, là đơn vị có sẵn, là đơn vị mang nghĩa
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự có mặt của nghĩa biểutrưng trong thành ngữ nhưng không phải mọi thành ngữ đều mang nghĩa biểutrưng… Chỉ nên coi những trường hợp sử dụng có tính chất ước lệ, biểu vậtcủa từ là có tính tượng trưng [14] Một số tác giả khác như Đổ Hữu Châu,Hoàng Văn Hành, Nguyễn Đức Dân, Bùi Khắc Việt… coi nghĩa biểu trưng làngữ nghĩa số một của thành ngữ Như vậy về nghĩa biểu trưng trong thànhngữ ít nhất đang có hai luồng ý kiến khác nhau
Theo Bùi Khắc Việt trong bài viết Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng việt (1987), muốn xác định, lí giải nghĩa biểu trưng thì phải xem
xét mối quan hệ giữa sự vật hoặc hình ảnh với ý nghĩa biểu trưng trong thànhngữ, và chia nghĩa biểu trưng của thành ngữ làm hai loại: thành ngữ biểu
Trang 32trưng hóa toàn bộ và thành ngữ biểu trưng hóa bộ phận Thực tế cho thấy quátrình liên tưởng dẫn đến các nghĩa bóng, nghĩa chuyển thông qua các phươngthức ẩn dụ, hoán dụ, cải dung cũng là quá trình hình thành nghĩa biểu trưng
Khi ta tiếp cận thành ngữ nghĩa là ta đang tìm hiểu thành ngữ trên haiphương diện Phương diện tiếp xúc trực tiếp trên câu chữ theo kết hợp từ, theocác hình ảnh trong thành ngữ cho ta nghĩa gốc (còn gọi là nghĩa biểu hiện,nghĩa định danh sự vật); và phương diện tiếp nhận: lớp nghĩa ẩn sau các từngữ, hình ảnh chính là nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng) - ý nghĩaquan trọng nhất mà người nghe cần lĩnh hội được
Ví dụ: Thành ngữ: như hạn mong mưa Nghĩa gốc ban đầu: chỉ thời tiết
(hạn: hiện tượng nắng lâu ngày, không có mưa, khô nẻ / mưa: nước đổxuống) Nghĩa này sau trở thành nghĩa bóng thông qua hiện tượng nhân hóa(hạn mong mưa) Nghĩa bóng đó là cơ sở tạo ra nghĩa biểu trưng Khi nghethành ngữ này, người ta không chỉ hiểu nghĩa là thành ngữ biểu thị hiện tượngtrời nắng lâu ngày dẫn đến hạn hán, vạn vật đều héo úa, khô cằn cần có mưa,mong mỏi có trận mưa để tìm lại sự sống, mà thành ngữ này còn gợi ra nhữngliên tưởng nhiều hơn thế Chẳng hạn: để chỉ sự mòn mỏi chờ đợi, rất mongmỏi gặp lại, khát khao chờ đợi… tạo thành một ấn tượng so sánh (Anh mong
em như hạn mong mưa!); Hay như thành ngữ Trải gió dầm mưa, nghĩa của nó
không đơn thuần là để chỉ một người đứng ngoài trời mưa trời gió thườngxuyên mà còn chỉ sự vất vả, mệt nhọc, khổ cực
Nghĩa biểu trưng của thành ngữ được hình thành trên cơ sở khái quáthóa nghĩa biểu trưng của các thành tố - các hình ảnh biểu trưng trong thành
ngữ Ví dụ, thành ngữ Lên voi xuống chó mang nghĩa biểu trưng chỉ sự thay
đổi về địa vị khi cao sang khi thấp hèn, khi vinh khi nhục Nghĩa này đượckhái quát hóa từ nghĩa biểu trưng của hai thành tố - hai hình ảnh chủ yếu
trong thành ngữ, voi -biểu trưng cho địa vị cao sang, chó biểu trưng cho địa vị
thấp hèn
Trang 33Từ sự phân tích trên, ta có thể khái quát về nghĩa biểu trưng của thành ngữ là toàn bộ ý nghĩa, ý niệm khái quát suy ra từ hình ảnh hoặc sự
vật, sự việc cụ thể được miêu tả, đề cập, gọi tên trong thành ngữ Nội dungcủa thành ngữ là sự thống nhất của hai ý nghĩa đó, trong đó nghĩa gốc, nghĩađen là cơ sở để tạo nên nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng Muốn lí giải nghĩa biểutrưng phải xuất phát từ nghĩa gốc ban đầu, ngược lại, nghĩa gốc là cơ sở đểtạo nên các liên tưởng, tạo thành nghĩa biểu trưng Nghĩa biểu trưng của thànhngữ là sự khái quát từ nghĩa biểu trưng của các thành tố trong thành ngữ
2.2 Nghĩa biểu trưng của từ mưa trong thành ngữ
2.2.1 Kết quả khảo sát về số lượng thành ngữ chứa từ mưa
Qua khảo sát hơn 4000 thành ngữ chúng tôi thu được 57 thành ngữ
chứa từ mưa, với tần số xuất hiện 59 lần Trong đó từ mưa được dùng trong
sự kết hợp với từ nắng 16 lần, kết hợp với gió 19 lần, với từ bão 4 lần Nhờ
vào khả năng kết hợp, tạo nghĩa gắn với từng yếu tố và ngữ cảnh cụ thể, từ
mưa trong thành ngữ đã mang theo nhiều giá trị biểu trưng (hay nói cách
khác là tạo ra các nghĩa biểu trưng) khác nhau
Người nông dân làm ruộng, ngoài những yếu tố quan trọng nhất nước, nhì phân, tam cần, thì kể đến tứ giống Ngoài giống tốt, phải biết đổ phân
đúng thời điểm, chăm bón kịp thời, thì yếu tố thời tiết là tối quan trọng, bởi lẽ,năng suất lao động lệ thuộc vào bốn yếu tố quan trọng trên, nhưng trong bốnyếu tố đó thì ba yếu tố đầu con người có thể cố gắng để cải tạo được, còn yếu
tố thứ nhất (nước) là quyết định tất cả, nhưng nước lại hoàn toàn lệ thuộctrông chờ vào tự nhiên (mưa), bởi vậy, yếu tố này (nước, mưa) đi vào thànhngữ và ca dao với tần số cao và mang nhiều ý nghĩa
2.2.2 Các nghĩa biểu trưng của từ mưa
Mưa theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, Nxb
Đà Nẵng, 2010: là hiện tượng nước rơi từ các đám mây xuống mặt đất [36, tr.
Trang 34836] Từ chỉ mưa được dùng rất đa dạng Xuất phát từ nghĩa gốc, khi gắn với
từng ngữ cảnh, đi vào hành chức, mưa mang theo nhiều lớp nghĩa thú vị.
Theo thống kê ban đầu, chúng tôi thu được các nghĩa từ mưa như sau: Chỉ
hoàn cảnh vất vả, cực khổ, cơ hội, thời cơ, chỉ tâm trạng, chỉ sự bình yên…Sau đây là một số miêu tả, phân tích cụ thể các nghĩa biểu trưng của mưa
a Mưa chỉ điều kiện tự nhiên hoàn cảnh sống, lao động nhiều bất lợi
(vất vả, cực khổ)
Trên cơ sở chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, mưa đi vào đời sống
ngôn ngữ của dân tộc biểu trưng cho đời sống sinh hoạt của người nông dân,thường xuyên phải “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”
- Các thành ngữ Đội mưa đội gió, Đội mưa đội nắng giống nhau về cơ bản, khác nhau chỉ một từ (gió, nắng), nhưng chúng có thể thay thế cho nhau
mà không ảnh hưởng đến nghĩa chung của thành ngữ Nghĩa biểu trưng ban
đầu của mưa ở đây là gợi liên tưởng: ướt, lạnh; nằng thì gợi liên tưởng về sự
nóng nực, gắt gao khó chịu, … Từ đó, chúng tổ hợp với nhau, tạo nên ý nghĩachỉ sự chịu đựng, chống chọi với điều kiện thiên nhiên, thời tiết không thuậnlợi, gợi liên tưởng về sự vất vả Trong cấu trúc nghĩa của các thành ngữ có từ
mưa thì các thành ngữ này đều chỉ sự vất vả, lặn lội của con người (thường
gợi liên tưởng tới người nông dân chân lấm tay bùn trên đồng ruộng) khôngchỉ là trong mưa gió, hứng chịu mưa nắng khắc nghiệt của thời tiết
Tương đương nghĩa của các thành ngữ trên là Giãi gió dầm mưa, Dãi dầu mưa nắng/ Mưa nắng dãi dầu/ Dầm mưa dãi nắng, Dãi nắng dầm mưa, Dạn dày nắng mưa, mưa sa nác sỉa… Các thành ngữ này tuy có sắc thái nghĩa khác nhau (ví dụ Dạn dày nắng mưa: có sắc thái nghĩa riêng về sự dạn
dày, từng trải, chịu đựng nhiều thử thách đến mức quen với khó khăn vất vả)nhưng đều có nghĩa chung chỉ sự chịu đựng nắng mưa sương gió qua nhiềunăm tháng, hàm chỉ sự vất vả, khó nhọc trong công việc ngoài trời của con
Trang 35người Mưa trong các thành ngữ trên đều biểu trưng cho sự chịu đựng hoàn
cảnh suốt đời vất vả gian khổ trong công việc
Mẹ con no đói ngày ngày
Mò cua bắt ốc dạn dày nắng mưa
(Nguyễn Đình Thi, Người chiến sĩ)
Để tạo nên nghĩa biểu trưng chỉ sự vất vả, gian khổ, lam lũ thì nhữngthành ngữ này, ngoài sự liên tưởng dựa theo quan hệ tương cận hay tươngđồng từ các hình ảnh còn nhờ các biện pháp tu từ, như cách nói ngoa dụ,phóng đại, nói quá (đội mưa, dầm mưa), nhằm tạo ra hình ảnh với hiệu ứngnhấn mạnh, gây ấn tượng mạnh
Các thành ngữ: Bão táp mưa sa: chỉ gian nan, khổ ải, nguy hiểm trước hoàn cảnh khắc nghiệt, Gió táp mưa sa: chỉ sự gian truân, vất vả, biểu thị nỗi
nỗi cực nhục Cả hai có nghĩa tương đương, chỉ sự khắc nghiệt của thời tiết,chỉ hoàn cảnh không thuận lợi, bất lợi của thiên nhiên mà con người phảiđương đầu Các nghĩa chung này đều được khái quát hóa trên các hình ảnh
mang nghĩa biểu trưng là mưa, gió, bão…
Đòi cơn gió táp mưa sa
Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi Nam
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Tương tự nghĩa như những thành ngữ trên là: Mưa dập gió vùi Nằm
trong kết cấu với những quan hệ và cách biểu thị cụ thể ít nhiều khác nhau
nên nghĩa của thành tố mưa ít nhiều mang sắc thái khác nhau Gội gió tắm mưa tương đương Đội mưa đội nắng, nhưng hình ảnh được khắc họa sâu đậm hơn, tính ngoa dụ cao hơn:
Thân bảy thước khi dầm mưa dãi nắng khi gội gió tắm mưa,
xương thịt ấy phải đâu là sắt đá
(Đặng Vũ khiêm, Truy điệu lương dân chết đói)
Trang 36Cũng thế, ngoài nghĩa biểu trưng chung, sắc thái nghĩa biểu trưng của
mưa trong thành ngữ Mưa dầu nắng lửa cũng khác mưa trong các thành ngữ trên Nghĩa ban đầu của từng thành tố là sự so sánh mưa/ nắng với dầu/ lửa,
ghép lại: mưa như dầu tràn, nắng như lửa đốt, cảnh mưa to nắng gắt Thànhngữ mang nghĩa biểu trưng: chỉ cảnh thiên nhiên thời tiết khắc nghiệt gây
nhiều tác hại tới cuộc sống con người; nằm sau lớp nghĩa chung này, mưa chỉ
sự khắc nghiệt của hoàn cảnh, làm cho con người rơi vào sự ngột ngạt khó
chịu…Mưa biểu trưng cho sự vất vả gian khổ nên Mưa không đến mặt, nắng không đến đầu chỉ sự nhàn nhã, không phải lao động vất vả ở ngoài trời,
nhằm chỉ những con người có thì giờ rãnh rỗi, thư thả, thong dong, không vộivàng và luôn nhàn nhã trong cuộc sống
Bên cạnh các thành ngữ chung, còn có những thành ngữ địa phương có
thành tố mưa, như: Mưa to gió nậy, mưa sa nác sỉa Nghĩa chung của thành ngữ cũng như nghĩa riêng của thành tố mưa trong các thành ngữ địa phương này, về cơ bản, không khác các thành ngữ toàn dân Mưa gió đổ hồi, liên tiếp
gây nhiều vất vả, gian truân cho con người
Nghĩa biểu trưng của thành tố mưa trong thành các ngữ như nói trên
được hình thành một cách tự nhiên ít nhiều mang tính khách quan xuất phát từthực tế Trong tự nhiên, Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm nóng nênmưa là hiện tương xẩy ra thường xuyên, đi liền với gió bão, luôn gây vất vảkhổ sở cho con người
“Mưa dầm dề chín đêm mười bữa sáng Mưa rào rào chín buổi sáng mười đêm
“Mưa ở giữa đồng Mưa vòng ra bờ suối Mưa xói núi
Mưa mòn gò
Trang 37Mưa từ chân trời này Mưa sang chân trời nọ…”
(Sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước)
Trong thực tế và cả trong ấn tượng của người Việt xưa nay, cơn mưa
trong thần thoại ấy cũng là những cơn mưa trong thực tế “mưa ngập bụi”,
“mưa ngập cây”, “nước chín đồi đổ về một biển”, “nước mười đồi đổ về một sông”,…Nên nhắc đến mưa, một cách rất tự nhiên người Việt liên tưởng tới
vất vả gian nan
b Mưa chỉ thời cơ, cơ hội, tình huống, hoàn cảnh xảy ra
Cũng là mưa, nhưng trong ngữ cảnh này, mưa lại có ý nghĩa khác so với mưa trong các thành ngữ trên Hạn hán gặp trời mưa rào, như hạn mong
mưa: Các thành ngữ này có mưa, nhưng mưa không phải để chỉ hiện tượng
thời tiết bất lợi, mà mưa dùng trong quan hệ đối lập với với các thành tố hạn, hạn hán Hạn hán lâu ngày, làm xơ xác, tiêu điều cỏ cây, hoa lá, làm nứt nẻ, khô cang ruộng vườn, nên mưa, đặt trong quan hệ với hạn hán để khái quát
thành nghĩa biểu trưng, chỉ cơ hội, chỉ dịp tốt, yếu tố may mắn để thỏa mãnđiều ta đang hết sức mong muốn, cần thiết đáp ứng kịp thời, mưa là điềm tốt,điềm lành, đưa lại sự tốt tươi…
Các thành ngữ này còn có nghĩa biểu trưng, vượt ra khỏi nghĩa gốc banđầu: chỉ sự mong mỏi, chờ đợi đằng đẵng thiết tha Chẳng hạn như trongtrường hợp hai người yêu nhau mặn nồng, sâu sắc phải xa cách lâu ngày, nayđược gặp lại, ta cũng có thể dùng thành ngữ này để chỉ sự nồng nàn, đắm say,thỏa thuê của tình cảm yêu đương vô tận đang dâng tràn: Anh mong em nhưhạn mong mưa Hoặc chỉ điều may mắn, thuận lợi về thời tiết (Mấy lâu nayruộng đồng nứt nẻ, bỗng hôm nay nước thủy nông về đầy đồng, chẳng khác
nào đang Hạn hán lại gặp trời mưa rào).
Trang 38Cũng có khi mưa lại mang nghĩa chỉ hoàn cảnh, cơ hội cụ thể mà người
ta có thể gặp, ví dụ: Mưa chiều nào che chiều ấy (hoặc Gió chiều nào che
chiều ấy), …
Mưa là hiện tượng tự nhiên thất thường, con người thường không biếttrước và không chế ngự, điều khiển được được nó Chính vì thế mưa gợi nênliên tưởng chỉ hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra ngoài ý muốn mà conngười phải ứng phó phải phụ thuộc Con người có thể gặp hoàn cảnh khác
nhau như gặp những cơn mưa khác nhau, từ đó mưa gợi cho con người liên
tưởng tới sự linh hoạt, ứng phó với hoàn cảnh Con người biết tận dụng cơhội, linh hoạt trong việc xoay chuyển hoàn cảnh, tình thế, ứng biến linh hoạt,
nhằm đem đến cái lợi cho bản thân Mưa vì thế mà mang nghĩa biểu trưng chỉ
hoàn cảnh, tình huống bất ngờ (Đừng sống cứng nhắc, mưa chiều nào chechiều ấy con nhé) Cũng có thể câu thành ngữ trên chỉ kẻ cơ hội, tức khôngchỉ để chỉ sự ứng phó nhanh, linh hoạt (nghĩa tốt) của con người mà còn cóthể dùng với nghĩa tiêu cực, lớp nghĩa sâu nằm sau đó là chỉ sự bội bạc, vong
ơn, nhanh chóng thay đổi khi nhìn thấy chỗ khác có giá trị lợi ích cao hơn màsẵn sàng từ bỏ, coi thường chỗ quen biết, thân cận cũ (Đó là kẻ chỉ biết mình,
Mưa chiều nào che chiều ấy) Mưa chiều nào che chiều ấy còn để chỉ những
người lập trường không vững vàng, đến chỗ nào, tiếp xúc với ai cũng xu nịnh,ton hót để không mất lòng, nhưng sau đó lại nói xấu sau lưng (Đừng tin nó,
nó chỉ là đứa Mưa chiều nào che chiều ấy thôi)
c Mưa chỉ sự hoan lạc
Mưa gợi nên liên tưởng về tình cảm ái ân nhiều, mãnh liệt Trong thành ngữ, ngoài các nghĩa biểu trưng dùng phổ biến trên, mưa còn mang
nghĩa bóng, chỉ sự ân ái vui vẻ Nghĩa này có thể có một phần lí do xuất phát
từ điển tích văn học mây mưa Mưa sở mây tần: cảnh chung chạ, ân ái của
trai gái: “ Mặc người mưa Sở mây Tần/ Những mình, nào biết có thân là gì”
Trang 39(Nguyễn Du, Truyện Kiều) Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã xây dựngnàng Kiều, mô tả tâm trạng tái tê, chua xót của Kiều thật tài tình và sốngđộng bằng những từ ngữ chính xác, kỳ diệu đúng cái thần của sự việc, của
tâm trạng: Mặc người mưa Sở mây Tần/ Riêng mình nào biết có xuân là gì? Chỉ việc mua bán mây mưa, cảnh ân ái, cảnh chơi bời Nào là "bướm chán ong chường" nào là "mưa Sở mây Tần" Thành ngữ đã đẩy sự thông tục
lên nghĩa trừu tượng hơn, thậm chí tao nhã hơn Trong văn chương Trungđại, hay dùng Tần để đối với Sở nên có "mưa Sở" (tích vua Sở gặp Thần nữ
ở núi Vu Giáp) tất phải đối với "mây Tần", nhịp thơ nhờ thế thêm cân đối
nhịp nhàng Điển hình "mưa Sở" làm tăng thêm tính quy phạm nhưng dùng
ngữ "mây Tần" thì đã phá vỡ tính quy phạm nhưng cũng là cách sáng tạođộc đáo lại một hình ảnh
e Mưa chỉ sự bình yên, điều tốt đẹp
Mưa là hiện tượng tự nhiên đi liền với gió bão lũ lụt không chỉ đem đến
sự tàn phá, gây khó khăn vất vả cho con người, mưa còn đem đến sự mát mẻ
cho đất trời, sự tươi tốt cho cây cối mùa vụ Chính vì vậy mưa xuất hiện
trong thành ngữ có thể tạo nên nghĩa biểu trưng liên tưởng về sự thuận lợi,
điều tốt đẹp, bình yên của con người Các thành ngữ như: Mưa thuận gió hòa
là chỉ sự thuận lợi, bình yên tốt đẹp của con người Dân gian đã dùng thànhngữ này để biểu trưng cho việc thuận lợi trong công việc làm ăn hoặc cảnhgia đình ấm êm, hạnh phúc, mọi người yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau,tạo không khí vui vẻ, êm ấm trong gia đình Trong tâm thức của người Việtkhắp mọi miền, mưa có thể đưa đến hạnh phúc ấm no cho nên nghĩa biểu
trưng này của thành tố mưa trong thành ngữ được nhận cảm rất tự nhiên:
Ví dụ 1: “ Trong tâm thức của người Tày ở Bảo Yên (Lào Cai), Tết làmột dịp vô cùng thiêng liêng, là dịp để thờ cúng ông bà tổ tiên, cúng thần
rừng…mong cho mưa thuận gió hòa Không cầu kì, đa dạng như người miền
Trang 40xuôi…những món ăn ngày Tết của người Tày rất đơn giản Cốm Tày là mộtmón không thể thiếu trong mâm cơm cúng Người Tày giã cốm thật nhiều,
sau đó gói kín ” (QĐND Online, tháng 12- 2011).
Ví dụ 2: “Dù cả nước đang trải qua đợt cao điểm mùa khô năm 2011nhưng người dân lẫn doanh nghiệp thở phào nhẹ nhõm nhờ nguồn cung điệntương đối ổn định, không bị cúp điện triền miên như các năm trước Ngoài
nguyên nhân khách quan là năm nay mưa thuận gió hòa giúp các hồ thủy
điện no nước thì phong trào tiết kiệm điện (TKĐ) trong toàn xã hội đã góp
phần khắc phục tình trạng thiếu điện” (Sài Gòn Giải phóng, tháng 10- 2011)
Gió dập mưa dồn: là thành ngữ có nghĩa gốc chỉ hiện tượng thời tiết
mưa gió lớn, liên tục, nhưng hơn hết là lớp nghĩa nằm sau đó, lớp nghĩa biểu
trưng ; mưa biểu trưng cho những điều không vui trong cuộc đời về tình cảm Vì thế nhắc đến mưa có thể cũng là nhắc đến những éo le mất mát của
con người cùng tâm trạng xáo trộn, suy nghĩ, lo lắng nhiều dẫn đến nhiềubuồn đau
Gió thảm mưa sầu: Gió mưa nhiều, gây cảm giác thảm sầu; Tình cảnh thảm sầu, khốc liệt Mưa, gió kết hợp với từ chỉ tâm trạng thảm sầu gợi lên
cảnh buồn sầu Như vậy mưa, gió ở đây còn biểu thi tâm trạng của con người
trong hoàn cảnh khốc liệt Như một nỗi đợi chờ dài lâu gây cảm giác tuyệtvọng, nhìn vào thời tiết mưa gió càng tăng thêm nỗi buồn sầu: