1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện kỳ anh

103 423 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh
Trường học Trường Đại học Hà Tĩnh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tinh thần của con ngời, cũng nh mảnh đất Kỳ Anh, đồng thời thấy đợc sự phong phú cũng nh sự biến đổi của ngôn ngữ dân tộc trong một khu vực cụ thể.Trên đây là những lí do cụ thể chúng tô

Trang 1

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trải qua một chặng đờng lịch sử dài hàng thiên niên kỉ, tiếng Việt đã

trở thành ngôn ngữ quốc gia chung cho cả 54 dân tộc anh em sống trên mọi miền Tổ quốc Cùng với sự ra đời và phát triển của dân tộc, cho đến nay tiếng Việt đã trở thành công cụ t duy và giao tiếp chung quan trọng bậc nhất của ng-

ời Việt Nam trên các vùng miền của đất nớc Lớp lớp ngời Việt Nam đã không ngừng mài dũa, sáng tạo khiến cho tiếng nói của dân tộc ngày càng trong sáng, phong phú hơn

Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trong sự đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt, ở sự khác nhau giữa các vùng địa lí dân c, ở các tầng lớp ngời sử dụng, ở phong cách thể hiện Với hàng vạn đơn vị từ và ngữ cố định, tiếng Việt trở thành một chỉnh thể gồm nhiều hệ thống có liên quan chặt chẽ với nhau Bên cạnh vốn từ toàn dân, tiếng Việt còn có hệ thống từ phơng ngữ, hệ thống vốn từ nghề nghiệp, vốn từ tiếng lóng, hệ thống thuật ngữ Các lớp từ vựng khác nhau đã phản ánh sự phong phú của vốn từ tiếng…Việt, đồng thời phản ánh sự thống nhất sáng tạo của ngời Việt trong quá trình học tập và sử dụng tiếng Việt

Xét về mặt biểu hiện trên các vùng phơng ngữ, trên các tầng lớp ngời sử dụng tiếng Việt có sự khác nhau ít nhiều về mặt ngữ âm, từ vựng ,ngữ pháp vì thế mà tạo nên tính đa dạng của bức tranh tiếng Việt Việc nghiên cứu “Khảo

sát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh ” là đi tìm một trong những biểu hiện của tính đa dạng đó

1.2 Xét về phạm vi sử dụng của vốn từ vựng tiếng Việt, chúng ta có thể thâý vốn từ toàn dân là lớp từ có số lợng lớn nhất, đợc sử dụng đại chúng nhất Bên cạnh từ toàn dân thì các lớp từ vựng, vốn từ lóng, vốn từ nghề nghiệp là…lớp từ có phạm vi sử dụng hẹp, nếu không chú ý thu thập, không tiếp cận lớp từ này thì rất nhiều ngời không thể biết đến

Trang 2

Lâu nay, trong Việt Ngữ học nói chung, phơng ngữ học nói riêng, các công trình nghiên cứu về phơng ngữ còn rất ít, đặc biệt là mảng nghiên cứu từ nghề nghiệp còn tha thớt Do đó, việc tiến hành tìm hiểu vốn từ chỉ nghề nghiệp

ở một địa phơng sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn, không chỉ về đặc điểm một lớp từ

mà còn thấy đợc sự đa dạng và phong phú của vốn từ tiếng Việt

1.3 Việt Nam là một đất nớc của nền văn nông nghiệp lúa nớc, sản xuất nông nghiệp là nghề truyền thống phổ biến lâu đời, cũng vì thế mà lớp từ nghề nông cũng vì thế mà lớp từ nghề nông có vai trò quan trọng đối với vốn từ tiếng Việt Nhng dù với bất kì vốn từ nào, kể cả vốn từ, từ nghề nghiệp nông nghiệp cũng không thể thu thập phản ánh vào từ điển một cách đầy dủ

Hà Tĩnh nói chung và Kỳ Anh nói riêng là một vùng đất cổ, c dân làm nông nghiệp trải rộng khắp địa bàn, với địa hình chiếm 74% là đồi núi, đồng ruộng kém màu mỡ, thiên nhiên khắc nghiệt, ngời dân Kỳ Anh từ lâu đời đã vơn lên khắc phục những khó khăn do thiên nhiên gây ra Điều này đã làm cho nghề nông ở Kỳ Anh có những đặc điểm khác biệt với các vùng khác trong tỉnh cũng nh các vùng miền trên đất nớc

Chính điều đó đã thúc đẩy chúng tôi thu thấp vốn từ chỉ nghề nông trên

địa bàn huyện Kỳ Anh

Kỳ Anh là vùng đất phía nam của Nghệ Tĩnh, xa kia là vùng biên viễn của Đại Việt cho nên tiếp nối vùng nông c những nét riêng Trớc đây, Kỳ Anh với dãy núi Hoành Sơn là đờng ranh giới phân chia Trịnh - Nguyễn

“Cửa này phân giới Bắc - Nam

Nớc non di chỉ trung gian một thời”

(Trích Hoành Sơn - Nguyễn Đề do Võ Minh Châu dich)

Và chịu ảnh hởng sâu sắc của vắn hoá Chàm Điều đó đã tạo cho mảnh đất Kỳ Anh những đặc điểm văn hoá phong phú đa dạng, nhiều dáng vẻ riêng

Việc đi tìm hiểu “Khảo sát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh” chúng tôi muốn hiểu hơn về vốn phơng ngữ cổ ở huyện Kỳ Anh và thấy đợc đặc

điểm về cấu tạo, sự hiện diện cũng nh đặc trng về mặt xã hội học của lớp từ này Chúng tôi mong rằng qua một hiện tợng ngôn ngữ để hiểu thêm về đời sống

Trang 3

tinh thần của con ngời, cũng nh mảnh đất Kỳ Anh, đồng thời thấy đợc sự phong phú cũng nh sự biến đổi của ngôn ngữ dân tộc trong một khu vực cụ thể.

Trên đây là những lí do cụ thể chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát vốn

từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh ”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Cho đến nay, việc nghiên cứu từ chỉ nghề nghiệp vẫn cha đợc quan tâm đúng mức Kết quả nghiên cứu về từ nghề nghiệp (đặc biệt là vốn từ liên quan đến nghề nông) chủ yếu mới chỉ dừng lại ở các quan niệm, định nghĩa của một số tác giả đa ra trong các sách về từ vựng - ngữ nghĩa hoặc dẫn luận ngôn ngữ Có thể nhắc tới những sách có đa ra các định nghĩa, đặc điểm về từ nghề nghiệp nh:

- Nguyễn Văn Tu - Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại - Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp - Hà Nội 1978

- Đỗ Hữu Châu - Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội 1989

- Hoàng Thị Châu - Tiếng Việt trên các miền đất nớc (phơng ngữ học) - Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội 1989

- Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học tiếng Việt - Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 2002

2.2 Ngoài những công trình nghiên cứu trên đề cập đến những vấn đề chung về từ nghề nghiệp thì những năm gần đây, vốn từ chỉ nghề nghiệp đợc một số tác giả chú ý đi vào nghiên cứu nhiều hơn Đặc biệt, từ chỉ nghề nông trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh đợc chú ý nghiên cứu hơn ở các công trình nghiên cứu của các tác giả cụ thể:

- Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh - Văn hoá ngời Nghệ qua vốn từ

vựng nghề cá - Tạp chí nghiên cứu Đông Nam A, số 1 năm 1996.

- Phạm Hùng Việt - Về từ ngữ nghề gốm - Viện ngữ học, Hà Nội 1989

- Lơng Vĩnh An - Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành phố

Đà Nẵng - luận văn Thạc sỹ - Đại học Vinh 1998.

Trang 4

- Trần Thị Ngọc Lang - Nhóm từ liên quan đến sông nớc trong phơng

ngữ Nam Bộ - Phụ trơng ngôn ngữ, số 2, Hà Nội 1982.

- Võ Chí Quế - Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ

Thanh Hoá - Ngữ học trẻ 99 Nhà xuất Bản Nghệ An 2000.

- Triều Nguyên - Tên gọi một số bộ phận của cái cày qua thổ ngữ của

Thừa Thiên Huế - Ngữ học trẻ 2003, Nhà xuất bản Hội ngôn ngữ học Việt

Nam, Hà Nội 2003

- Nguyễn Viết Nhị - Vốn từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ

Tĩnh - Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh 2002.

- Bùi Thị Lệ Thu - Tên goi các công cụ sản xuất nông nghiệp qua các

thổ ngữ thuộc phơng ngữ Nghệ Tĩnh - Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh 2004

- Phạm Thị Mai Hoa - Thế giới thực tại qua con mắt ngời Nghệ Tĩnh

qua một số tên gọi một số nhóm từ cụ thể - Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh

2002

- Nguyễn Thị Nh Quỳnh - Đặc điểm lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong

ph-ơng ngữ Nghệ Tĩnh - Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh 2004.

- Trần Thị Phơng Thảo - Vốn từ chỉ nghề nớc mắm Vạn Phần - Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh 2005

- Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Khảo sát vốn từ chỉ nghề cá trong phơng

ngữ Nghệ Tĩnh - Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh 2004.

- Trần Thị Ngọc Hoa - Vốn từ chỉ nghề mộc ở làng Yên Thái - Đức Thọ -

Hà Tĩnh - Luận văn Thạc sỹ, Đại học Vinh 2005.

Ngoài đề tài khoa học cấp bộ “Từ nghề nghiệp trong phơng ngữ Nghệ

Tĩnh” (Bớc đầu khảo sát lớp từ chỉ nghề cá), 2005 đã hoàn thành, PGS-Tiến sỹ

Hoàng Trọng Canh còn viết một số bài về từ chỉ nghề nh: “Phơng thức định

danh một số nhóm từ chỉ nghề cá và nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh”, “Hội thảo Ngữ học trẻ”, 2004 Hay bài viết thực tế nghề cá đợc “phân cắt” chọn lựa qua tên gọi và cách gọi tên trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Tạp chí

khoa học, Trờng Đại học Vinh, 2004

Trang 5

Nh vậy, nhìn chung các nghiên cứu, các bài viết đã đi vào khảo sát tên gọi, nghiên cứu sự phản ánh thực tại của các từ, chỉ ra nét độc đáo của lớp từ nghề nghiệp trên từng địa phơng cụ thể, trên bình diện khái quát hoặc một ph-

ơng diện cụ thể Điều này cho thấy việc nghiên cứu từ nghề nghiệp ngày càng

đợc quan tâm chú ý hơn Tuy đã có một số bài viết về từ chỉ nghề nông nghiệp trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh nhng đó là khảo sát ở một phơng diện cụ thể nào đó hoặc nghiên cứu trên bình diện chung khái quát mà cha đi vào nghiên cứu khảo sát vốn từ trên một địa phơng cụ thể nh huyện Kỳ Anh Do đó, đề tài “Khảo sát

vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh” là đề tài đầu tiên có tính độc lập.

3 Đối tợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng điều tra nghiên cứu của đề tài là tất cả các từ ngữ chỉ nghề nông nghiệp ở huyện Kỳ Anh

- Phạm vi t liệu điều tra và t liệu nghiên cứu là từ ngữ chỉ nghề nông ở các xã thuần nông trên mảnh đất Kỳ Anh: Kỳ Nam, Kỳ Phơng, Kỳ Liên, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Thịnh, Kỳ Văn, Kỳ Bắc Đồng thời chúng tôi còn kết hợp…với nguồn t liệu trong cuốn Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh của nhóm tác giả Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Hoàng Trọng Canh - Phan Mậu Cảnh (Nhà xuất bản văn hoá thông tin, 1999) Bên cạnh đó để so sánh sự khác biệt trong cách gọi tên và tên gọi của từ nghề nghiệp ở địa phơng Kỳ Anh với từ nghề nghiệp toàn dân, chúng tôi đã khảo sát đối chiếu từ trong cuốn Từ điển Tiếng

Việt - Hoàng Phê, 1998.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Điều mà đề tài muốn hớng tới đó là chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh và nêu ra những đặc điểm riêng của lớp từ này về nguồn gốc, cấu tạo cũng nh ph-

ơng diện phản ánh Đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa lớp từ này và nét văn hoá thể hiện quá ngôn ngữ của một làng vùng trong cùng một nghề

Cụ thể đề tài hớng tới nhiệm vụ sau:

+ Thu thập, xây dựng bảng từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh

Trang 6

+ Phân tích, miêu tả đặc điểm vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh xét

về cấu tạo về nguồn gốc, về định danh

+ Qua sự so sánh đối chiếu với các phơng ngữ khác để thấy đợc sự phong phú đa dạng trong cách sử dụng vốn từ cũng nh cách t duy và sự tri nhận văn hoá mỗi vùng là không giống nhau

5 Những đóng góp của đề tài

Với đề tài này, chúng tôi đã thu thập vốn từ, miêu tả đặc điểm của chúng trên các phơng diện chủ yếu (cấu tạo, nguồn gốc, ngữ nghĩa, định danh); đây là

Trang 7

đề tài đầu tiên nghiên cứu từ nghề nghiệp của c dân huyện Kỳ Anh nên kết quả của khoá luận sẽ đóng góp mới cả về mặt ngôn ngữ và văn hoá.

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn đuợc triển khai thành 3 chơng:

Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chơng 2: Đặc điểm vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh

Chơng 3: Đặc điểm cấu tạo và định danh của vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh

Trang 8

Chơng 1 cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

1.1 Ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ

Ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể, của xã hội, là phơng tiện giao tiếp giữa ngời với ngời trong xã hội Ngôn ngữ đợc xem là một hiện tợng xã hội đặc biệt: chế độ hình thái xã hội có thể thay đổi nhng ngôn ngữ vẫn vận động theo quy luật riêng của nó Lịch sử xã hội và ngôn ngữ đã xác nhận rằng: sự phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội loài ngời Xã hội không thể tồn tại nếu thiếu ngôn ngữ Ngôn ngữ hình thành từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, đợc tích luỹ, tàng trữ hàng ngàn năm chính là điều kiện cho xã hội phát triển Con đờng hình thành ngôn ngữ dân tộc gắn liền với sự phát triển của dân tộc Đối với dân tộc Việt thì việc hình thành và thống nhất ngôn ngữ là gắn liền với sự hình thành và thống nhất dân tộc Do đó, dù ở thế kỷ nào, trên các vùng thuộc nớc Việt Nam thì ngôn ngữ thống nhất của ngời Việt đó là tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất trong sự đa dạng, là ngôn ngữ chung cho 54 dân tộc anh em sống trong mọi miền của tổ quốc Tuy nhiên thống nhất không có nghĩa là đồng nhất, tính thống nhất nằm trong bản chất của ngôn ngữ Tiếng Việt trở thành công cụ của t duy và giao tiếp chung quan trọng bậc nhất của ngời Việt Nhng trong biểu hiện, ngôn ngữ lại rất đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt, ở sự khác nhau giữa các vùng địa lý dân c, ở các tầng lớp ngời sử dụng, ở phong cách thể hiện Với hàng vạn đơn vị

từ và ngữ cố định, tiếng Việt trở thành một chỉnh thể gồm nhiều hệ thống có liên quan chặt chẽ với nhau Các lớp từ vựng khác nhau phản ánh độ phong phú của vốn từ tiếng Việt đồng thời phản ánh sự thống nhất sáng tạo của con ngời Việt trong quá trình sử dụng tiếng Việt

Khi nói đến tính thống nhất và đa dạng của ngôn ngữ toàn dân cũng có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại của ngôn ngữ địa phơng hay phơng ngữ vận động trong lòng ngôn ngữ dân tộc Việt Các phơng ngữ nh một bức tranh

Trang 9

trăm hoa, muôn sắc muôn màu tạo nên tính phong phú đa dạng của ngôn ngữ dân tộc.

Chúng ta biết rằng, phơng ngữ ra đời cũng gắn liền với điều kiện lịch sử xã hội của từng quốc gia Do quy luật phát triển không đều trên các vùng lãnh thổ, do điều kiện địa lý văn hoá xã hội khác nhau, do những biến đổi liên tục của ngôn ngữ cho nên phơng ngữ hình thành trong lòng ngôn ngữ dân tộc

Có thể nói, nếu không có sự phân bố tách biệt về mặt địa lý dân c thì sẽ không có phơng ngữ Chính vì sự ngăn cách về không gian địa lý đã làm cho giao tiếp giữa các vùng trở nên khó khăn, không thờng xuyên, không liên tục Vì vậy đã tạo ra những thói quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau

Việc sử dụng ngôn ngữ khác nhau (phơng ngữ) chính là do quy luật phát triển, biến đổi của ngôn ngữ Ngoài cái mã chung của ngôn ngữ mà ta gọi là ngôn ngữ toàn dân thì sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng dân c Nơi thì sử dụng dạng mới của ngôn ngữ, nơi lại duy trì cách dùng cũ Điều này dần dần đã tạo nên sự cách xa nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng Chính vì thế tạo nên sự khác nhau, sự đa dạng giữa các vùng ngôn ngữ

Nói cách khác, ngôn ngữ là tập hợp những thói quen tập quán nói năng Vì thế sự tác động bên trong các cấu trúc hệ thống ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ liên tục biến đổi và biến đổi đó đợc thể hiện ra ở mặt hành chức, ở hoạt động giao tiếp, điều đó đã làm thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ, tạo nên sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa các vùng, giữa các tầng lớp trong xã hội

Nh vậy, phơng ngữ là một biến thể của ngôn ngữ dân tộc, trên một vùng

địa lý dân c hay một tầng lớp xã hội nào đó Những biến thể hay sự khác biệt ấy lại đợc ngời địa phơng đó quen dùng Vì vậy tập hợp những từ ngữ có ít nhiều khác biệt với những ngôn ngữ toàn dân, trên các phơng diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) đợc ngời địa phơng đó quen dùng thì đợc gọi là phơng ngữ

Ví dụ: Tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ: phơng ngữ Bắc Bộ, phơng ngữ Trung Bộ, phơng ngữ Nam Bộ

Trang 10

Ngôn ngữ toàn dân và biến thể địa phơng (phơng ngữ) vừa có tính thống nhất, vừa có sự khác biệt Trong đó tính thống nhất giữ vai trò chủ đạo làm cơ

sở tạo nên tính thống nhất của ngôn ngữ quốc gia Chính tính khác biệt đã tạo nên “chất riêng”, nét độc đáo của từng phơng ngữ, đồng thời tạo nên sự đa dạng cho ngôn ngữ quốc gia Vì vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ là mối quan hệ giữa cái chung và các riêng, giữa cái bất biến và cái biến thể, giữa cái trừu tợng và cái cụ thể Xét trên bình diện khu vực dân c, tiếng Việt có nhiều vùng phơng ngữ khác nhau, trong đó phơng ngữ Nghệ Tĩnh là vùng phơng ngữ còn tồn tại và bảo lu những yếu tố của ngời Việt Ở đó có sự khác biệt về ngữ âm, ngữ nghĩa về vốn từ so với vốn từ toàn dân và vốn từ ph-

ơng ngữ khác rõ nét Vì vậy, nghiên cứu phơng ngữ Nghệ Tĩnh nói chung và từ nghề nghiệp nói riêng, có thể đóng góp phần cứ liệu cho việc nghiên cứu lịch sử

và vốn từ tiếng Việt

1.2 Vốn từ toàn dân và vốn từ phơng ngữ

Từ toàn dân là lớp từ đợc toàn dân hiểu và sử dụng, đó là vốn từ chung cho tất cả những ngời nói ngôn ngữ nào đó, thuộc các địa phơng khác nhau

Đây là lớp từ vựng đợc xem là cơ bản nhất của một ngôn ngữ Vì vậy, khi nói

đến ngôn ngữ dân tộc, hay nói đến phơng ngữ nào đó không thể không nói đến một bình diện vô cùng quan trọng của ngôn ngữ đó là “vốn từ

Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhất toàn bộ từ, ngữ cố định của một ngôn ngữ, đợc tổ chức theo một quy luật nhất định, nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau

Nh chúng ta đã biết, vốn từ của một ngôn ngữ bao chứa nhiều lớp từ khác nhau Hay nói cách khác, nếu vốn từ là một hệ thống thì trong vốn từ của ngôn ngữ toàn dân có nhiều tiểu hệ thống Mỗi tiểu hệ thống nh vậy cũng đợc xem là vốn từ nếu xét theo một tiêu chí, một quan niệm nhất định

Ví dụ: xét về phạm vi sử dụng, ranh giới địa lý thì chúng ta có vốn từ

toàn dân, vốn từ địa phơng (phơng ngữ) Nếu xét theo tính chất xã hội, nghề nghiệp ta lại có vốn từ nghề nghiệp, vốn từ thuật ngữ khoa học

Trang 11

Việc nghiên cứu từ nói riêng và vốn từ nói chung gặp nhiều khó khăn, bởi vì trong phơng ngữ có nhiều quan hệ chằng chéo, đan xen và những từ ấy có thể nằm trong vốn từ toàn dân, lại có thể trong vốn từ phơng ngữ Vì vậy mà có những từ và nhóm từ có thể xếp chúng vào nhóm từ này và có thể xếp chúng vào nhóm từ kia.

Nghĩa của từ cụ thể, nhng trong từng ngữ cảnh cụ thể lại khác nhau ít nhiều (Nó có thể biến đổi, thêm bớt các sắc thái nghĩa) với nghĩa gốc Vì vậy khi nghiên cứu nghĩa của từ, ngữ nghĩa của vốn từ ta sẽ thấy rất phức tạp Và khi nghiên cứu từ nghề nghiệp trong phơng ngữ nói chung ngời ta phải đối chiếu với vốn từ toàn dân và với cả từ phơng ngữ, do đó lại càng phức tạp hơn

Do nhiều nguyên nhân mà ta thấy sự tơng ứng về nghĩa của từ trong phơng ngữ nói chung, từ chỉ nghề nói riêng, với vốn từ trong ngôn ngữ toàn dân theo từng cặp một, ít có sự sánh đôi toàn vẹn, mức độ đồng nhất và phân ly, về nghĩa giữa ngôn ngữ toàn dân với từ trong phơng ngữ là khá phức tạp Do đó việc xem xét

và nghiên cứu vốn từ chỉ nghề nông của một phơng ngữ là việc vô cùng khó khăn, bởi nghề nghiệp trong phơng ngữ không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể, mà còn có thể là biến thể của từ trong phơng ngữ

đó Sự biến đổi của ngôn ngữ có tính lịch sử và các biến thể của ngôn ngữ chồng lớp lên nhau theo thời gian

Chúng ta biết rằng, từ nghề nghiệp nói riêng, phơng ngữ nói chung, ngoài cái mã chung cơ bản mang tính thống nhất với ngôn ngữ toàn dân còn có nét khác biệt và chính những nét khác biệt không trùng khớp ấy đã giúp chúng ta hiểu tốt hơn mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng Đây là mối quan hệ đa chiều, về không gian và thời gian của quy luật biến đổi và tồn tại của ngôn ngữ Khi đối sánh ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ trong đó có lớp từ nghề nghiệp, ta thấy sự khác biệt đầu tiên chính là ngữ

âm, sự khác biệt thứ hai chính là ngữ nghĩa Vốn từ của phơng ngữ trong đó có vốn từ chỉ nghề với vốn từ của ngôn ngữ toàn dân khác biệt nhau chính là do sự phát triển của lịch sử ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa nói riêng, ngôn ngữ nói chung của tiếng Việt

Trang 12

Nh vậy, trong phơng ngữ lớp từ chỉ nghề khác nhau và rất đa dạng với những mức độ phơng diện khác nhau, có thể đó là sự khác nhau hoàn toàn (Không có quan hệ về ngữ âm và nghĩa) vì chúng có nguồn gốc, sự vay mợn tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau Sự khác nhau này có thể là

sự khác nhau hoàn toàn về âm và nghĩa, cũng có thể có những từ cùng âm nhng

có sự xê dịch ít nhiều về nghĩa giữa từ trong phơng ngữ so với từ trong ngôn ngữ toàn dân Hay có những từ khác nhau có thể chỉ là dung lợng ngữ nghĩa rộng hay hẹp, số lợng nghĩa nhiều hay ít Việc nghiên cứu để chỉ ra mối quan hệ giữa vốn từ của ngôn ngữ văn hoá với vốn từ của phơng ngữ giúp chúng ta hình dung

đợc phần nào lịch sử phát triển biến đổi của ngôn ngữ Chính những nét giống nhau và khác nhau của ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ đã thể hiện rõ bản sắc văn hoá của c dân vùng phơng ngữ Vốn từ vựng phơng ngữ nói chung và từ chỉ nghề nói riêng đã góp phần vun đắp, xây dựng nên một bức tranh ngôn ngữ văn hóa ngày càng phát triển

1.3 Vốn từ nghề nghiệp

1.3.1 Khái niệm vốn từ nghề nghiệp

1.3.1.1 Khái niệm từ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp là một sáng tạo về ngôn ngữ của nhân dân lao động Ngôn ngữ phát triển cùng với đời sống lịch sử xã hội con ngời - từ nghề nghiệp

ra đời cũng gắn liền với sự phát triển của quá trình lao động sản xuất của con ngời theo từng nghề trong xã hội

Vậy từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ đợc sử dụng nhằm biểu thị các tên gọi, các sự vật hiện tợng, công cụ sản phẩm, quá trình hoạt động sản xuất trong phạm vi của những ngời cùng làm nghề nào đó trong xã hội

Theo giáo s Đỗ Hữu Châu, “Từ nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ

vựng đợc sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành nghề lao

động trí óc (ngành thuốc, ngành văn th )” [11, tr 249] Khi ta so sánh từ nghề

nghiệp với từ địa phơng, tiếng lóng, thuật ngữ khoa học thì có thể thấy từ nghề

Trang 13

nghiệp có những đặc điểm chung hơn các loại từ trên Tuy nhiên, từ nghề nghiệp khác tiếng lóng ở chỗ: Nó là tên gọi duy nhất của hiện tợng thực tế nhng không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân (nó không song song tồn tại với từ của ngôn ngữ toàn dân) Chính điều đó đã giúp cho từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành phổ biến rộng rãi trong xã hội.

Ví dụ: Ca, đục, xẻ, bào, (Nghề mộc); cày, bừa, cuốc, hái, (Nghề nông); xa, thoi, cửi, tơ, mành, (Nghề dệt vải); lá, mốc, vanh, guột, triệp, nức,

nức nón, chằng nón, (Nghề làm nón); quăng chài, thả lới, (Nghề cá); ớp chợp, chợp, (Nghề làm nớc mắm); nớc ót, nạo muối, (Nghề làm muối);

Nh vậy, từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất của nghề Trong quá trình hoạt động, từ nghề nghiệp đợc hình thành và sử dụng phục thuộc vào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề quy định Nói cách khác từ nghề nghiệp chỉ có ý nghĩa trong môi trờng của nó

Theo nhìn nhận của Nguyễn Văn Tu về khái niệm từ nghề nghiệp, trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, ông đã so sánh “những từ nghề

nghiệp khác thuật ngữ ở chổ đợc chuyên dùng để trao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghề nghiệp còn khác thuật ngữ ở chổ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có sắc thái vui đùa” [29, tr 126] Nh vậy, khi so

sánh từ nghề nghiệp với thuật ngữ khoa học thì Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh

đến tính “đặc trng” của ngôn ngữ nghề nghiệp, đó chính là phơng thức truyền miệng của từ nghề nghiệp, và cũng chính phơng thức truyền miệng này làm từ nghề nghiệp mang tính khẩu ngữ rõ nét Mặt khác, từ nghề nghiệp sản sinh do yêu cầu của nghề, nh vậy nó sẽ mất đi khi nghề đó không còn tồn tại Đó chính

là tính lâm thời của từ nghề nghiệp

Nếu xét trên bình diện ngôn ngữ học, thì từ nghề nghiệp không có vốn ngôn ngữ riêng Khi một nghề nào đó ra đời, cần phải có từ ngữ để đặt tên cho công cụ, sản phẩm, quá trình trong nghề Vốn từ đó, ngời ta lấy ngay trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng để lâm thời gọi tên cho các đối tợng trong nghề Do vậy ý nghĩa của từ nghề nghiệp chỉ tồn tại trong bối cảnh của nghề nghiệp đó mà thôi Từ nghề nghiệp chỉ ra đời khi có một nghề mới ra đời, điều

Trang 14

đó thờng do tính chất thủ công của nghề nghiệp tồn tại và phát triển trong phạm

vi hẹp, nên tính chất xã hội của từ nghề nghiệp cũng bị hạn chế, nó gần nh biệt lập trong phạm vi hoạt động của nghề Tuy nhiên, cũng có một số nghề truyền thống, phạm vi hoạt động rộng nh nghề trồng lúa, nghề cá thì tính biệt lập gần

nh không có

Do từ nghề nghiệp đợc lấy trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng, nên tiếng địa phơng thể hiện rất rõ trên hình thức ngữ âm của từ, sau đó là ngữ pháp

và từ vựng ngữ nghĩa Nh vậy, “từ nghề nghiệp là các từ ngữ đặc trng cho ngôn

ngữ của các nhóm ngời thuộc cùng một nghề hoặc cùng một lĩnh vực hoạt

động nào đó” [25, tr 389].

1.3.1.2 Khái niệm “ Vốn từ nghề nghiệp”

Chúng tôi đã trình bày hiểu biết chung về vồn từ ở mục(1.2.2) Vốn từ là toàn bộ những từ ngữ cố định của một ngôn ngữ đợc tổ chức theo những quan

hệ nhất định, nằm trong những mối quan hệ hữu cơ với nhau

Vậy suy ra vốn từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ, ngữ cố định của ngời làm nghề nào đấy trong xã hội dùng phục vụ cho sản xuất hành nghề của nghề

Trớc hết, xét mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ toàn dân thì ta thấy: Vốn từ nghề nghiệp và vốn từ toàn dân có mối quan hệ giao thoa, đan xen, trong quy luật phát triển vận động của ngôn ngữ Từ nghề nghiệp không có từ đồng nghĩa tơng ứng trong ngôn ngữ toàn dân, nó là tên gọi duy nhất của hiện tợng

Trang 15

thực tế Do đó từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành từ vựng toàn dân khi những khái niệm riờng của nghề nào đó trở thành phổ biến trong xã hội Chẳng hạn: những từ nh: cày, bừa, cuốc, cào, cấy, gặt, là những từ của nghề nông (trồng lúa) nhng hiện nay nó dờng nh trở thành từ toàn dân vì những từ này trở nên quen thuộc với những ngời không làm nghề nông Từ nghề nghiệp đợc dùng trong khẩu ngữ của những ngời cùng nghề nghiệp, nó đợc sử dụng trong ngôn ngữ văn học Nh vậy, từ nghề nghiệp có nhiều loại, nếu chúng ta xét về mức độ, phạm vi sử dụng và tính khó hiểu của lớp từ này, ta thấy có những từ nghề nghiệp, tuy là từ của nghề nông - nghề phổ biến lâu đời trong xã hội, nhng không phải ngời làm nghề nông khó mà hiểu đợc các từ: “trôốc vát”, “triêng” hoặc “trốc trồi”, trong các câu sau:

“ Nấu cơm không xới thì mất một bát

Cày ruộng không lấy trôốc vát thì mất một triêng”

Hoặc “ Trốc trồi to thì cổ khoai to

Trốc trồi nhỏ thì cổ khoai nhỏ”

(Su tầm ở Kỳ Anh)

Khi nói đến những từ nh “mắc” “mành” “mốt son” “mốt mục” không phải ai cũng hiểu nếu ngời đó không sống trong làng nghề dệt vải: “Mắc” (sợi tơ nhỏ nhất) “mành” (sợi tơ to hơn) “mốt son” là sợi tơ rằn nh có cục, thờng màu son hồng dùng để dệt làm biên hai bên rìa tấm “lĩnh bởi”; “muốt cục” là sợi tơ to sần có những nốt cục, dùng dệt sồi dệt thao :

“ Quay tơ sa mắc sa mành

Mắc thì mắc cửi, còn mành đan ngang

Mốt son anh để đầu hàng Mốt cục đem bán cho nàng kẻ tơ”

Sỡ dĩ, có hiện tợng trên là do từ nghề nghiệp không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Từ nghề nghiệp không đồng nhất với từ toàn dân, nh-

ng có một bộ phận từ nghề nghiệp có thể dễ dàng trở thành ngôn ngữ toàn dân,

đó là khi công cụ sản xuất, những khái niệm riêng của nghề đã trở nên phổ biến

Trang 16

rộng rãi Chẳng hạn trong xã hội Việt Nam có những nghề phạm vi khu vực hoạt động rất hạn chế nh: nghề đúc đồng, nghề làm giấy, nghề làm nón thì lớp từ nghề nghiệp của các nghề này chỉ có ngời trong nghề mới hiểu đợc Tuy nhiên lại có những nghề lâu đời đợc gọi là truyền thống, mức độ, phạm vi phổ biến, địa bàn của nghề rộng rãi nên một bộ phận lớn những từ nghề nghiệp của nghề này đã trở thành ngôn ngữ toàn dân nh: nghề đánh cá, nghề trồng lúa.

Sỡ dĩ mà nhiều từ chỉ nghề trồng lúa đã trở thành quen thuộc với mọi

ng-ời và trở thành lớp từ toàn dân là vì: Việt Nam là một nớc có nền văn minh lúa nớc, tỷ lệ ngời dân trồng lúa chiếm số đông từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi đến miền ngợc, ngời làm nghề nông đều phân bố rộng khắp Chính vì thế có một số lớp từ trở thành từ toàn dân nh: cày, bừa, cuốc, mạ, lúa, gặt, Những ngời làm nghề khác trong xã hội không ai xa lạ với các từ này, chúng đợc sử dụng một cách tự nhiên Đây chính là biểu hịên của mối quan hệ đan xen của từ nghề nghiệp với từ toàn dân Tuy nhiên không phải từ nào trong lớp từ nghề nghiệp cũng đợc sử dụng phổ biến rộng rãi nh vậy, vì nghề nào cũng có lớp từ nghề nghiệp riêng, nhng mức độ phổ biến của các từ không giống nhau Vì vậy có những từ chỉ những ngời trong nghề mới hiểu và sử dụng

Ví dụ: Trong nghề trồng lúa có những từ rất quen thuộc với mọi ngời nh: cày, bừa, cuốc, gặt, thóc, lúa, nhng cũng có những từ rất lạ với những ngời

ngoài nghề nh: rộp (bó lại), lợm ló (bó lúa), giờng (bừa ngăn cách giữa các ruộng có lúa với nhau), bít (cắt), Nh vậy, trong lớp từ nghề nghiệp, có những

từ đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân, cũng có những từ chỉ ngời trong nghề mới hiểu Ta có thể thấy rằng: Từ nghề nghiệp là một trong những nơi cung cấp thêm vốn từ cho từ toàn dân, góp phần làm cho ngôn ngữ toàn dân thêm phong phú và đa dạng

Mặt khác, chúng ta thấy rằng, đất nớc Việt Nam trải dài từ địa đầu Móng Cái đến đất mũi Cà Mau và hình thành nên nền văn minh lúa nớc do ba nền văn hoá hội lại (văn hoá núi, văn hoá đồng bằng và văn hoá biển) Mỗi miền văn hoá có những đặc điểm riêng về địa lý Từ nghề nghiệp trong mối quan hệ đó thờng gắn liền với đặc điểm địa phơng, gắn với phơng ngữ, thổ ngữ khu vực đó

Trang 17

Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp và phơng ngữ, thổ ngữ diễn ra tự nhiên trong đời sống hằng ngày Mặc dù không tách biệt khỏi phơng ngữ, thổ ngữ, song từ nghề nghiệp không hoàn toàn trùng khít với từ phơng ngữ, thổ ngữ Quan hệ giữa từ nghề nghiệp với thổ ngữ, phơng ngữ là quan hệ qua lại tác động

đan xen phức tạp Có những từ nghề nghiệp trong một thổ ngữ trùng với từ

ph-ơng ngữ C dân của từng địa phph-ơng có thể có những từ riêng để chỉ những đặc

điểm riêng về nghề Chẳng hạn lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh nh các từ: ló má, bắc má, toóc, những từ này là những từ nghề nghiệp, nhng lại mang đặc điểm phơng ngữ về âm và nghĩa Lại có những từ nghề nghiệp mà phạm vi sử dụng của nó rất hẹp, chỉ có những ngời trong ngành nghề

đó mới hiểu, thậm chí một vùng làng nào đó mới hiểu nh: vè, cày ve, que ve, (nghề trồng lúa), hoặc những từ: chặn ô, đổ nớc, đập mô, (nghề làm muối ),

Nh vậy, đặt trong mối quan hệ với phơng ngữ, thổ ngữ và toàn dân, từ nghề nghiệp vừa có những đặc điểm riêng cũng vừa mang đặc điểm chung của lớp từ địa phơng và từ toàn dân Đi sâu vào khảo sát lớp từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh trên cơ sở khái niệm đa ra, chúng tôi sẽ chú ý miêu tả và đặt nó trong mối quan hệ với phơng ngữ, thổ ngữ và từ toàn dân để xét

là phơng ngữ đợc sử dụng trong một vùng lãnh thổ nhất định, hay những

tiếng địa phơng có thể gồm nhiều chi nhánh nhỏ nữa, gọi là thổ ngữ” Hoàng

Thị Châu lại cho rằng: “Thổ ngữ là biến thể tự nhiên của tiếng Việt thống nhất,

cũng nh xã thôn là bộ phận của quốc gia thống nhất ,” và để tránh hiểu nhầm thì bà đã dùng thuật ngữ ph“ ơng ngữ để chỉ tiếng địa phơng trong một vùng lớn, thổ ngữ là phơng ngữ nhng có phạm vi sử dụng hẹp hơn” [10, tr 24]

Trang 18

b Quan niệm về vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh

Toàn bộ từ ngữ chỉ nghề nông nằm trong những giá trị nhất định,

đợc thu thập ở Kỳ Anh, chúng tôi gọi một cách ớc định là vốn từ nghề nông thổ ngữ Kỳ Anh

Bản sắc văn hoá Việt Nam chính là nền văn hoá - văn minh nông nghiệp lúa nớc Có thể nói nông nghiệp là một hoạt động sản xuất ở cơ bản nhất của các dân tộc anh em trên mọi miền tổ quốc Việt Nam

Lịch sử nông nghiệp nớc ta, đã có hơn bốn nghìn năm và là một trong những nền nông nghiệp lâu đời trên trái đất Trong đó Hà Tĩnh nói chung và Kỳ Anh nói riêng là một mảnh đất nông nghiệp lâu đời trong lịch sử nông nghiệp n-

ớc ta

Kỳ Anh là một huyện nằm ở cuối cùng đi về phía nam của tỉnh Hà Tĩnh Phía bắc giáp Cẩm Xuyên, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp Hơng Khê và phía đông là biển Địa hình khá đặc biệt, kéo dài dọc theo đờng bờ biển,

là một trong những mảnh đất gập ghềnh và eo hẹp nhất của nớc Việt Nam

Trải qua hàng ngàn năm dựng nớc, Kỳ Anh luôn nằm ở vị trí xung yếu của đất nớc Kỳ Anh hầu nh lúc nào cũng phải gánh chịu hàng loạt “ma bom

bão đạn” của quân thù Với địa hình hội đủ ba yếu tố: rừng núi, đồng bằng và

biển Ba yếu tố này hoà hợp lẫn nhau, bỗ sung cho nhau, tạo điều kiện thuận lơị cho việc phát triển kinh tế - xã hội trong toàn huyện Trong đó nghề nông chiếm

u thế trong toàn huyện, từ phía bắc đến phía nam huyện đời sống c dân phụ thuộc vào nghề nông Mặc dù đất đai và khí hậu ở đây khắc nghiệt rất khó khăn cho việc sản xuất, đó là “đất cằn sỏi đá ,” “chảo lửa túi ma” nhng ngời dân ở

đây luôn “chung lng đấu cật” để hàng năm thu hoạch hàng trăm tấn nông sản

C dân làm nghề nông có mặt khắp nơi trên địa bàn huyện, tập trung nhiều ở các xã: Kỳ Văn, Kỳ Th, Kỳ Khang, Kỳ Tiến, Kỳ Bắc, Kỳ Phong, Kỳ Phú, Kỳ Long,

Kỳ Liên, Kỳ Phơng, Kỳ Thịnh, Kỳ Nam, T liệu trong luận văn này chúng tôi tiến hành điều tra ở các xã thuần nông, là những xã có truyền thống làm nông lâu đời Vì vậy các từ chỉ nghề nông đợc nêu trong luận văn này là phản ánh trung thực và toàn diện bức tranh lớp từ chỉ nghề nông nghiệp ở huyện Kỳ Anh

Trang 19

Về cơ bản tiếng nói giữa các vùng trong huyện Kỳ Anh không khác nhau

rõ nét về ngữ âm và từ vựng Giữa các xã có thể có những từ ngữ dùng khác nhau Điều đó cũng thể hiện trong từ chỉ nghề nông Do vậy, thu thập các từ chỉ nghề nông theo các điểm điều tra đại diện ở các xã khác nhau về tiếng chúng tôi tạm xem chúng là thổ ngữ Kỳ Anh

Tiến hành “khảo sát từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh” nhằm dựng lên bức tranh văn hoá địa phơng Kỳ Anh hiện lên rõ nét hơn Chúng tôi những mong góp một phần sức lực nhỏ bé của mình trong việc gìn giữ tiếng nói của cha ông, tổ tiên và phần nào lý giải, hé mở những giá trị văn hoá nghề nông đã tạo dựng nên và đợc bảo tồn phát triển đến ngày nay của những con ngời mộc mạc, chịu thơng chịu khó ở mảnh đất khắc nghiệt này

1.3.3.2 Vốn từ chỉ nghề nông trong thổ ngữ Kỳ Anh

Khi xét tiếng địa phơng, thổ ngữ là xét theo phơng diện địa lý của sự thể hiện ngôn ngữ Còn xét từ nghề nghiệp lại là xét theo tính chất sử dụng của ngời dùng Nh vậy, từ nghề nghiệp đợc xem là loại đơn vị thuộc phơng ngữ xã hội Lớp từ nghề nghiệp là lớp từ của một nghề Những nghề đó bao giờ cũng gắn với một địa phơng nhất định Vì thế từ nghề nghiệp chịu sự chi phối của phơng ngữ địa lý, không tách khỏi tiếng địa phơng, thổ ngữ Do vậy khảo sát từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh, dĩ nhiên lớp từ này gắn với tiếng nói của một địa phơng cụ thể của phơng ngữ Nghệ Tĩnh

Từ chỉ nghề nông là những từ đợc hình thành trong quá trình hoạt động sản xuất nông nghiệp Hệ thống từ chỉ nghề nông đợc thể hiện ở tên gọi các công cụ sản xuất, tên gọi các giống cây trồng, từ ngữ chỉ quy trình hoạt động sản xuất và các sản phẩm đợc chế biến từ giống cây trồng đó Tên gọi các từ chỉ nghề nông ở các thổ ngữ không thống nhất, tuỳ theo quan niệm, phong tục mà mỗi thổ ngữ có những cách gọi tên khác nhau (đặc biệt là trong từ chỉ tên gọi các công cụ sản xuất) Chính vì thế chúng ta có thể hình dung đợc có một bức tranh rất phong phú và sinh động về từ chỉ nghề nông trong thổ ngữ Kỳ Anh Việc tìm hiểu và khảo sát tất cả các từ chỉ nghề nông là một điều không dễ Vì

Trang 20

vậy chúng tôi chỉ tìm hiểu và khảo sát những tên gọi chủ yếu của các từ chỉ nghề nông phổ biến trong thổ ngữ ở Kỳ Anh.

Phơng pháp chủ yếu chúng tôi là “tai nghe mắt thấy” tuy vậy có nhiều

đối tợng đợc tiếp cận một cách gián tiếp, qua sự miêu tả của nhân dân nên rất khó xác định đợc độ chính xác Vì vậy đây chỉ là kết quả bớc đầu, cần phải có thời gian và hỗ trợ nhiều hơn nữa để tập hợp miêu tả từ chỉ nghề nông ở huyện

Trong hệ thống từ chỉ tên gọi các công cụ sản xuất nông nghiệp ở huyện

Kỳ Anh thì có những từ đuợc nhiều ngời biết đến nh : cày, bừa, cuốc, cào… nhng có những từ chỉ các công cụ không phải ai cũng biết: cỏm (dụng cụ đựng cơm khi đi cày, bừa ) máng (dụng cụ để rửa khoai, sắn ) trèng, ky (dụng cụ để gánh phân hoặc đất, đá) hoặc tên gọi các giống lúa, ngô, khoai, sắn phù hợp…với đặc trng khí hậu, đất đai, địa hình Kỳ Anh nh: ló ré trâu, ló ré trậm, ló ré

sớm…

Nh vậy đi tìm hiểu, nghiên cứu vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh giúp chúng ta hiểu thêm về vốn ngôn ngữ toàn dân, đồng thời hiểu thêm về đặc trng tâm lí, bản sắc văn hoá ngời Việt Từ việc khái quát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh, chúng ta có cơ sở để định hớng nghiên cứu về vốn từ chỉ nghề nông nghiệp, thấy đợc mối quan hệ giữa vốn từ chỉ nghề nông nghiệp ở huyện

Kỳ Anh vốn từ chỉ nghề nông trong vốn từ toàn dân, về đặc điểm cấu tạo, cách thức định danh, gọi tên của lớp từ này

1.4 Vấn đề cấu tạo, định danh lớp từ chỉ nghề sản xuất nông nghiệp

1.4.1 Về cấu tạo từ

Trang 21

Đặc điểm về cấu tạo từ cùng với đặc điểm cấu tạo ngữ pháp đã góp phần xác định từ và nhận thức t cách từ Khi đứng trớc một tổ hợp âm thanh nào đó chúng ta thờng đặt ra một số câu hỏi nh:

+ Nhận thức tổ hợp đó đã đủ t cách từ hay cha, hay chỉ là một yếu tố cấu tạo từ hoặc một tổ hợp hai, ba từ?

+ Nếu là từ thì do yếu tố nào tạo nên và phơng thức để tạo nó nh thế nào? Để trả lời cho những câu hỏi đó, nghĩa là chúng ta đang đi vào nhận thức

t cách từ và đặc điểm cấu tạo từ

Về nguyên tắc, là những vận động trong lòng một ngôn ngữ (đợc sự thúc

đẩy của xã hội) để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ nhu cầu mới về mặt diễn đạt mà xã hội đặt ra Mà việc sản sinh ra từ trớc hết là sản sinh ra các nghĩa mới Bởi vậy, việc nghiên cứu cấu tạo từ, phải làm sao phát hiện đợc các cấu tạo trớc đây, hiện nay và sau này vẫn còn hoạt động Tất cả những sự kiện cấu tạo

từ cần đợc lí giải dới ánh sáng của hoạt động đó, đặc biệt cần đợc lí giải trong các vận động phát sinh ra nghĩa của từ

Quá trình vận động cấu tạo của từ sẽ sản sinh ra hàng loạt từ cùng một kiểu Khi nghiên cứu cấu tạo từ, trớc hết cần phải chú ý cái vận động sản sinh ra loaị từ cùng một kiểu cấu tạo đó

Vậy để tạo ra từ thì ngôn ngữ phải dùng các yếu tố cấu tạo từ Xét theo khả năng sinh sản ra các từ cho từ vựng tiếng Việt, có thể định nghĩa về yếu tố cấu tạo từ nh sau: “Yếu tố cấu tạo từ là những yếu mà tiếng Việt sử dụng cấu

tạo ra các từ cho từ vựng” (chứ không phải tạo ra cụm từ, tạo ra câu) [12, tr 28]

Trong ngôn ngữ học hiện nay có nhiều cách gọi tên các yếu tố cấu tạo từ Chẳng hạn, nhóm tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn ThiệnThuật, Nguyễn Minh Thuyết trong “Dẫn luận ngôn ngữ học” gọi các yếu tố cấu tạo từ là “từ tố”; tác

giả Hồ Lê trong vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại (1976) gọi các yếu tố

cấu tạo từ là “nguyên vị”; Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đúc Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (1992) gọi các yếu

tố cấu tạo từ là “tiếng” Trong luận văn này chúng tôi thống nhất theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt Tác giả gọi yếu tố

Trang 22

cấu tạo từ là “hình vị” Hình vị là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là các yếu tố không thể phân chia thành các yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có thể cấu tạo ra theo phơng thức cấu tạo từ của tiếng Việt [11, tr 28].

Phơng thức cấu tạo từ là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ Từ tiếng Việt có đặc điểm cấu tạo riêng, vì nó đuợc tạo ra theo những phơng thức khác nhau Trong tiếng Việt có 3 loại từ đuợc tạo ra từ 3 ph-

- Phơng thức ghép: Là phơng thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị

có nghĩa làm cho chúng kết hợp với nhau sản sinh ra từ mới gọi là từ ghép Chẳng hạn hình vị A là “sông” ghép với hình vị B là “nớc” tạo nên từ ghép

đẳng lập là “sông nớc” Hay hình vị xe“ ” ghép với hình vị “máy” tạo thành từ ghép chính phụ “xe máy

- Phơng thức láy: Là phơng thức tác động vào hình vị gốc làm xuất hiện

hình láy lặp lại hoàn toàn hay bộ phận âm thanh của hình vị cơ sở tạo nên từ láy Đây là phơng thức điển hình cho ngôn ngữ đơn lập

Chẳng hạn: Phơng thức láy tác động vào hình vị “đỏ” cho ta hình vị láy

“đắn” Hình vị gốc và hình vị láy làm thành từ ghép “đỏ đắn”

Nói tới cấu tạo từ ngoài yếu tố cấu tạo, phơng thức cấu tạo, không thể không để ý đến các nhân tố khác có giá trị cấu tạo từ Chẳng hạn đó là hình tố quan hệ, hình tố trật tự và hình tố ngữ âm Nhiều khi các yếu tố cấu giống nhau nhng nếu tính chất quan hệ giữa các yếu tố khác nhau hay vị trí giữa các yếu tố khác nhau thì t cách đặt ra cũng khác nhau Vì vậy khi nghiên cứu cấu tạo từ, chúng ta đồng thời phải chú ý đến các nhân tố tham gia cấu tạo từ, trong đó nhấn mạnh quan hệ giữa các yếu tố và sự sắp xếp các yếu tố theo trật tự nào để phát hiện ra cơ chế, nguyên tắc cấu tạo từ

Trang 23

Nh vậy, căn cứ vào quan hệ và tính chất giữa các yếu tố, chúng ta có thể khái quát thành mô hình cấu tạo từ, giúp cho việc nhận diện từ một cách rõ ràng nhất là về nghĩa.

Từ trong phơng ngữ và thổ ngữ cũng đợc tạo ra theo những phơng thức cấu tạo từ trong tiếng Việt nhng yếu tố dùng để tạo từ và tính chất quan hệ giữa các yếu tố có thể khác trong ngôn ngữ toàn dân nên vốn từ chỉ nghề nông nghiệp ở vùng Kỳ Anh có đặc điểm riêng

1.4.2 Về định danh

Trong ngôn ngữ, từ ngoài đặc điểm có tính chỉnh thể về nội dung và hình thức còn có chức năng định danh (gọi tên các sự vât hiện tợng) Có từ đảm nhận chức năng này, cũng có từ đảm nhận chức năng khác, nhng hầu nh tất cả các từ

đều có chức năng định danh ở đề tài này chúng tôi nhấn mạnh chức năng chủ

đạo của từ là chức năng định danh và tập trung khảo sát khía cạnh định danh của từ

Trong lịch sử ngôn ngữ học cũng nh Việt ngữ học, chức năng định danh của từ đợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến trong các công trình nh: “Những

luận điểm của trơng phái ngôn ngữ học Praha” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu,

[12]); Mac - Angghen - Lênin bàn về ngôn ngữ [12]; Từ vựng ngữ nghĩa tiếng

Việt [11]; Vấn đề cấu tạo của tiếng Việt hiện đại [21]; Từ và nhận diện từ tiếng Việt [16]; Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng [12] Vấn đề định danh còn đ… -

ợc đề cập đến dới các dạng bài viết đăng trên tạp chí ngôn ngữ nh “Tên gọi và

cách gọi tên” (Nguyễn Phơng Chi, Hoàng Tử Quân, tạp chí ngôn ngữ 1984, số

phụ 2); “từ đặc trng dân tộc của định danh nhìn nhận lại nguyên lí võ đoán

của kí hiệu ngôn ngữ ” (Nguyễn Đức Tồn, Tạp chí ngôn ngữ 1997, số 4); “Về các yếu tố thứ hai trong từ ghép phân nghĩa dị biệt” [Lê Bá Miên, Việt ngữ

học, 1999]

Vậy định danh là gì? ở đây chúng tôi hiểu định danh theo quan niệm:

“Định danh là sự cố định (hay gán), cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm -

biểu hiện phản ánh đăc trng nhất định của một biểu vật - các thuộc tính phẩm

Trang 24

chất và quan hệ của các đối tợng và quá trình thuộc phạm vi vật chất, tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn ngữ” [25].

Định danh là một công cụ và phơng tiện để t duy, chính vì vậy chức năng

định danh có vai trò rất lớn cho hoạt động t duy Tên gọi là cái đại diện cho sự vật, để khi cần con ngời có thể vận dụng những hiểu biết để suy nghĩ một cách nhanh nhất, mà không cần phải huy động toàn bộ sự vật, hiện tợng, chúng tồn tại trong tri giác cảm tính Nó làm cho bộ não của chúng ta tập trung vào những thuộc tính cơ bản nhất, cần thiết nhất đối với nội dung nào đó mà không nghĩ

đến những thuộc tính có liên quan hay những thuộc tính thứ yếu không bản chất Chính nhờ phơng tiện t duy tiết kiệm nhất là tên gọi, nên bộ não khi cần

có thể “hình dung đối tợng trong tính chỉnh thể của nó”

Trong quá trình vận động và phát triển xã hội, con ngời luôn có ớc muốn

và khao khát chinh phục thế giới Nhận thức của con ngời không chỉ bó hẹp trong phạm vi những gì đã biết, mà luôn tìm tòi khám phá những gì đang tồn tại trong xã hội mà con ngời cha biết Khoa học ngày càng phát triển trợ giúp cho con ngời phát hiện ra nhiều cái mới hơn Mỗi sự vật và hiện tợng mới đợc khám phá phát hiện ra con ngời lại đặt cho nó một tên gọi và tên gọi đó đã đợc xã hôi công nhận Nhờ có tên gọi mà sự vật hiên tợng tồn tại trong lí trí của chúng ta, giúp chúng ta phân biệt đợc sự vật hiên tợng này với sự vật hiên tợng khác Khi

sự vật hiện tợng đợc gắn cho mình một tên gọi, thì sự vật hiện tợng đó đợc nhận thức có ranh giới có đặc điểm riêng, có cá tính riêng và đời sống riêng

Thực tế khách quan của ngôn ngữ là một dãy liên tục từ thấp đến cao theo quan hệ tôn ty Khi đi vào ngôn ngữ đợc chia thành những phân đoạn, mảnh đoạn mà mỗi phân đoạn, mảnh đoạn là một ý nghĩa biểu vật

Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng và có nền văn hoá riêng nhng trong

đó ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Ngôn ngữ trong nội dung phản ánh thực tại, đã hàm chứa những yếu tố văn hoá của con ngời Về nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng nh hoạt động tinh thần, cả hai

đều giúp cho xã hội phát triển

Trang 25

Ngôn ngữ đợc xem là phơng tiện, cầu nối mở rộng giao lu về văn hoá giữa các cộng đồng ngời Mỗi sự vật hiện tợng đợc gọi tên theo từng quan niệm của con ngời “Sự lựa chọn đặc tr ng thuộc tính nào của sự vật hiên tợng để gọi tên, thói quen tâm lí dùng biểu trng biểu vật ra sao, nét riêng trong liên tởng chuyển nghĩa của từ là gì, đến cả cách qui loại khái niệm của đối tợng đợc

định danh đều có thể là những biểu hiện của những nét đặc trng văn hoá dân tộc” [9, tr 157].

V.Humbold đã viết “Ngôn ngữ dờng nh là sự biểu hiện ra bên ngoài

của linh hồn của dân tộc Ngôn ngữ của dân tộc là linh hồn của nó và linh hồn của dân tộc là ngôn ngữ của nó Khó lòng hình dung đợc một cái gì giống nhau hơn thế” [12].

Ngôn ngữ phản ánh hiện thực qua lăng kính nhận thức t duy của con

ng-ời Do đó phân tích ngôn ngữ không chỉ là phân tích cấu trúc chức năng của tín hiệu trong hệ thống mà còn cần chú ý đến yếu tố con ngời Nh: Fe.de.saussure

đã khẳng định: Ngôn ngữ có tính võ đoán, song sự phản ánh nào chúng ta

cũng có thể ít nhiều nhận ra đợc dấu ấn của con ngời qua cách gọi tên đó Qua những nhóm từ vựng cụ thể, từ chỉ nghề nông giữa các thổ ngữ, phơng ngữ, dấu ấn văn hoá con ngời của từng ngôn ngữ, từng vùng phơng ngữ đợc hiện lên”.

Chẳng hạn: Cùng một sự vật có nghĩa “Bánh làm bằng bột gạo tẻ xay ớt

tráng thành tấm mỏng hình tròn, rắc vừng lên rồi phơi khô, khi ăn thì nớng lên”, ngôn ngữ toàn dân gọi bánh đó là bánh đa (dựa theo hình dáng giống hình

lá đa); có nơi ngời ta gọi là bánh tráng (gọi theo phơng thức làm bánh); có nơi gọi là bánh khô (gọi theo tính chất của bánh) Hoặc cùng sự vật có nghĩa là “cá

dữ ở nớc ngọt, thân tròn dài, có nhiều đốm đen, đầu nhọn, bơi nhanh ”, nhng

ở miền Nam thì gọi là cá quả, ở miền Bắc gọi là cá chuối, miền Trung gọi là cá

tràu.

Nh vậy, một thực tế cho chúng ta thấy rằng sự vật thì giống nhau nhng nó tồn tại ở các vùng miền lại có thể đợc định danh không hoàn toàn giống nhau,

Trang 26

nên tên gọi về chúng có thể không giống nhau Điều đó là do đặc điểm sự vật phân cắt gọi tên khác nhau giữa các vùng miền Vậy mỗi tên gọi và cách gọi tên của mỗi sự vật là một thế giới phân cắt chi tiết một sự vật cụ thê rất phong phú

và đa dạng trong các vùng Tên gọi của sự vật rất gần gũi gắn liền với đời sống quan niệm của con ngời Qua cách định danh cho sự vật, ngời ta có thể thấy đợc cách nhìn chủ quan của con ngời và sắc thái văn hoá ẩn chìm sau tên gọi đó Tuỳ theo quan niệm của mỗi ngời, mỗi địa phơng về sự vật mà gọi tên cho nó

Việc chúng ta nghiên cứu cấu tạo từ, cách định danh của từ sẽ gắn liền với nghiên cứu văn hoá ngôn ngữ và t duy con ngời Đó chính là cơ sở lý luận thực tiễn để chúng tôi đi vào khảo sát đặc điểm cấu taọ và định danh của từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh

Để làm nổi bật điều đó một cách rõ ràng hơn chúng tôi đi vào xét nhóm

từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh trên những nết cơ bản nhất

Trang 27

Chơng 2

Đặc điểm vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh 2.1 Sơ lợc về nghề sản xuất nông nghiệp ở huyện Kỳ Anh

Thành lập năm 1836, khoảng thời gian trên 170 năm vùng đất tận cùng

xứ nghệ đã có tên là huyện Kỳ Anh, nhng hình hài núi sông, địa danh của vùng

đất này đã có từ vạn cổ Kỳ Anh là huyện ở cực nam của tỉnh Hà Tĩnh, Bắc giáp Cẩm Xuyên, Nam giáp hai huyện: Tuyên Hoá và Quảng Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình, có biên giới tự nhiên là dãy Hoành Sơn - Đèo Ngang nổi tiếng, Tây giáp huyện Hơng Khê, Đông giáp biển Kỳ Anh nằm trong giải đất hẹp Bắc miền Trung Diện tích tự nhiên khoảng 105.000ha, bằng 1/6 diện tích tỉnh Hà Tĩnh, trong đó 74% là đồi núi

Thời xa xa toàn bộ vùng đất này là một thảm rừng dày từ Vọng Liệu xuống tận bờ biển Thiên nhiên ở đây có vẻ nghiêm nghị với những dãy núi đá màu xám chạy ngang ra biển Trong bài “Bàn Độ Sơn - Nghệ An phong thổ

vịnh” đã miêu tả thiên nhiên vùng này nh sau:

“Sơn tòng Vọng Liệu tằng loan hạ

Địa thị Kỳ Anh lục thụ đa

Phiếu điếu cao phong lâm cự hải

Sà nga liệt bích chớng trờng sa”

(Tiến sĩ Dơng Thúc Hạp)

(Núi non tầng tầng tầng lớp lớp từ Vọng Liệu đi xuống

Đất Kỳ Anh cây rừng rợp bóng xanh um

Những ngọn núi cao ngất ra tận biển

Nh bức thành dăng trên bãi cát dài)

Trong lịch sử cổ trung đại cho đến bây giờ cha có một cuộc khai quật khảo cổ học nào tại Kỳ Anh để khẳng định vùng đất này cũng là một trong những địa bàn c trú của ngời Việt cổ Song trên bình diện tỉnh Hà Tĩnh, qua những di chỉ Phối Phối (Nghi Xuân), Rú Dầu (Đức Thọ), Thạch Lạc (Thạch Hà) cho phép cho chúng ta nghĩ con ng… ời Kỳ Anh cũng đã trải qua xã hội

Trang 28

nguyên thuỷ, vào thời hậu đá mới Thời đó, con ngời ở đây sống bằng nghề nông trồng lúa nớc và làm đồ gốm, đạt đến trình độ văn hoá Quỳnh Văn (Nghệ An), Bàu Tró (Quảng Bình).

Vợt qua xã hội nguyên thuỷ, cộng đồng ngời ở đây đã hoà chung trong nền văn minh văn lang - Âu Lạc của các vua hùng Sau thời đại các vua Hùng,

Kỳ Anh nằm trong quốc gia phong kiến Đại Việt Thời Lý - Trần Kỳ Anh là biên giới phía nam của Đại Việt Trải qua hơn 8 thế kỷ (982 - 1800), Kỳ Anh

đạt đợc những thành tựu đáng kể trong nền văn minh Đại Việt về tất cả các mặt: sản xuất xây dựng, chiến đấu bảo vệ và văn hoá khoa cử

Kỳ Anh là vùng đất sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Ruộng đất Kỳ Anh khá nhiều, trớc cách mạng, bình quân nhân khẩu khoảng 6 sào Trung Bộ Nhng

đồng ruộng kém màu mỡ Vùng đồi ruộng bậc thang bị xói mòn, ruộng trong thung lũng bị ngập nớc Vùng dới, ruộng đất bạc màu, phèn chua, nhiều nơi bị ngập mặn hoặc cát lấp Ruộng đất xấu, thiên nhiên khắc nghiệt nên sản xuất nông nghiệp rât bấp bênh, hầu nh thờng xuyên mất mùa, đói kém Ngời Kỳ Anh

từ lâu đời đã vơn lên khắc phục khó khăn do thiên nhiên gây ra Lịch sử đào sông, đắp đê, làm thuỷ lợi có từ rất sớm Kênh hạ đợc đào vào cuối thế kỷ XIV,

đập ngăn nớc mặn và kênh chống úng ở Kỳ Anh đợc đào đắp từ cuối thế kỷ XVI sức lao động của ng… ời dân nơi đây đã khắc phục đợc phần nào khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, hạn chế đợc phần nào sức phá hoại của khí hậu khắc nghiệt

Bề dày lịch sử và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã làm cho nghề nông của ngời Kỳ Anh, ngoài những đặc điểm chung của dân tộc còn có những nét riêng Điều này cũng ít nhiều đợc phản ánh qua vốn từ nghề nghiệp chỉ nghề sản xuất nông nghiệp mà ngời ta chỉ có thể tìm thấy khi về thăm vùng quê này

2.2 Đặc điểm vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh

2.2.1 Vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh - xét về măt số lợng

2.2.1.1 Kết quả thống kê

Chúng tôi đã tiến hành “Khảo sát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh” trên các phơng diện chính liên quan đến nghề nông là: tên các giống cây trồng,

Trang 29

tên gọi các công cụ sản xuất, từ ngữ chỉ quy trình hoạt động sản xuất và hoạt

động sử dụng công cụ, tên gọi các sản phẩm đợc chế biến ra từ nghề nông Tiến hành khảo sát 7 loại cây trồng chính ở huyện nh: lúa, ngô, khoai, sắn, vừng,

lạc, đậu Chúng tôi đã trực tiếp điều tra 20 xã thuộc huyện Kỳ Anh, bớc đầu thu

đợc kết quả:

Tổng số từ ngữ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh là: 702 đơn vị, gồm các lớp từ ngữ cụ thể nh sau:

Tên gọi các công cụ sản xuất nông nghiệp: 404 đơn vị

Để khảo sát vốn từ chỉ nghề nông ở huyện Kỳ Anh chúng tôi trực tiếp

điều tra 20 xã trong huyện:

1 Xã Kỳ Nam 8 Xã Kỳ Hoa 15 Xã Kỳ Tây

a Đối với công cụ sản xuất nông nghiệp

Chúng tôi tiến hành đi sâu khảo sát 11 công cụ sản xuất nông nghiệp chủ yếu là: cày, bừa, cuốc, cào, bàn vét, liềm, gàu sòng, gàu dai, bàn trang, vằng,

quang gióng Mỗi công cụ chúng tôi đi vào khảo sát từng bộ phận một (kèm

theo hình vẽ), đánh dấu số thứ tự các bộ phận Mỗi công cụ, mỗi bộ phận của công cụ đó lại có thể có tên gọi tuỳ theo từng địa phơng Vì thế thực tế tên gọi

về nông cụ rất phong phú Chúng tôi đã thống kê đợc kết quả nh sau:

Trang 30

Tổng số từ chỉ các bộ phận của cái cày: 100 đơn vị từ ngữ cho 14 bộ phận.

Tổng số từ chỉ các bộ phận của cái bừa là: 58 đơn vị từ cho 10 bộ phận.Tổng số từ chỉ bộ phận của bàn trang: 6 đơn vị từ cho 2 bộ phận

Tổng số từ chỉ bộ phận của cái liềm: 15 đơn vị từ cho 5 bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của cái cuốc: 10 đơn vị từ cho 3bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của cái cào: 7 đơn vị từ cho 3 bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của bàn vét: 10 đơn vị từ cho 3 bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của khau tay: 19 đơn vị từ cho 6 bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của khau đôi: 18 đơn vị từ cho 4 bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của cái vằng: 7 đơn vị từ cho 2 bộ phận

Tổng số từ các bộ phận của quang gánh: 9 đơn vị từ cho 4 bộ phận

Từ kết quả thống kê đã đựơc nêu trên, dựa vào các bộ phận của mỗi công

cụ sản xuất, chúng tôi liệt kê tên gọi ở các xã chỉ bộ phận của công cụ sản xuất nông nghiệp đó Số ghi trong dấu ngoặc đơn tơng ứng với số thứ tự các địa điểm

điều tra, nơi sử dụng tên gọi đó Thứ tự tên gọi của các bộ phận dựa theo thứ tự tên gọi vốn có ở các địa phơng

1 Tờn gọi cỏc bộ phận của cỏi cày

I: 1 Lại cày (2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 16, 17, 18); 2 Lại (20,); 3 Lưỡi cày (9);

4 Lượi cày (1, 8); 5 Lượi (19); 6 Lại xớt (13, 15); 7 Đế xỏt (11 12); 8 Mụi cày (17); 9 Mũi cày (18); 10 Lưỡi xớt (10, 14)

XIII

I II VII

VI IV

V

VIII IX

X XI

XII

XIV

III

Trang 31

II: 1 Diệp cày (2, 3, 4, 5, 16, 19); 2 Bọng cày (10, 14); 3 Diệp (6, 7,

11, 12, 13); 4 Tai cày (1, 18); 5 Tai lật đất (17); 6 Điệp (15, 20); 7 Má cày (9); 8 Lá cày (8)

III: 1 Khu cày (1, 6, 17); 2 Đít cày (16, 18); 3 Gót cày (2, 3, 4, 5, 8, 9,

15, 19, 20); 4 Thuyền giữ lưỡi cày (10, 11, 14); 5 Đế cày (12, 13)

IV 1 Seo cày (1, 2, 5, 6, 7, 13, 19, 20); 2 Seo (12); 3 Tay cầm (4, 17, 18); 4 Chuôi cày (3, 14, 15); 5 Con cày (8, 16); 6 Chuôi (10, 11); 7 Thân cày (9)

V: 1 Theo (1, 3, 15, 16, 17, 19); 2 Seo (13); 3 Ngực (18); 4 Ngực cày (20); 5 Ức cày (4, 5, 6, 7); 6 Sêu (2, 12, 14); 7 Mom (8, 9, 10); 8 Ức (11)

VI 1 Ịn cày (1, 14, 16); 2 Ỉn cày (2, 3, 4, 5, 7, 8, 9, 11, 12, 16, 19, 20);

3 Ỉn (6, 7); 4 Giá đà cày (10, 17, 18)

VII: 1 Náng cày (2, 13, 14, 15, 16, 20); 2 Nảng cày (1, 7); 3 Náng (6); 4 Đà đẩy cày (10, 11); 5 Giá đỡ (9, 17, 18); 6 Trụ đỡ (12); 7 Trụ cày (19); 8 Tay vượn (3, 4, 5, 8)

VIII: 1 Ban cày (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 20); 2 Con cá (11, 12); 3 Cá (13); 4 Nêm đóng (9, 10); 5 Giá chống (14, 15); 6 Ban (16); 7 Ban ngang (17); 8 Chốt ngang (19); 9 Chốt đứng (18)

IX: 1 Ban dọc (7, 17 ,18); 2 Náp (1, 16); 3 Náp cày (2, 4, 5, 11, 12,

14, 15, 20); 4 Trục giữ nêm (8, 9, 10); 5 Giá chống (3, 6); 6 Chốt ban (13);

7 Chốt dọc (19)

X: 1 Con trối (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 19); 2 Ngoắc cày (20); 3 Lắc loai (8,

9 , 10); 4 Con chốt (11, 12); 5 Móc cày (13, 14, 16, 17); 6 Chốt đứng ( 15, 18)

XI: 1 Lắc loi (1, 15, 16, 17, 18, 20); 2 Lủng lẹng (19); 3 Đủng lẳng (2, 3, 4, 5, 13, 14); 4 Chốt ngọc (10, 11, 12); 5 Lủng lẳng (6, 7, 8)

XII: 1 Éc (1); 2 Éch cày (2, 3, 5, 6, 18, 19, 20); 3 Dù éc (10,11); 4 Éc cày (17); 5 Ách cày (8, 9); 6 Éch (15); 7 Ách (16); 8 Dù cày (12)

Trang 32

XIII: 1 Chạc niệt (2, 3, 6, 7, 16, 17); 2 Chạc ức (19); 3 Chạc cổ (20);

4 Niệt cày (4, 5, 15); 5 Cóng (10, 11, 12); 6 Dây niệt (8, 9); 7 Dợ niệt (1, 13); 8 Chạc quàng cổ (18); 9 Dây quàng cổ (14)

XIV: 1 Chạc cày (1, 2, 3, 4, 5, 6, 12, 15, 16, 17); 2 Chạc thừng (10, 11); 3 Chạc kéo cày (13, 14); 4 Dây cày (7, 8, 19, 20); 5 Dây kéo cày (18);

6 Dây thừng (9)

2 Tên gọi các bộ phận của bừa

I: 1 Mạ bừa (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 10, 19, 20); 2 Con bừa (8, 9); 3 Vóc bừa (11, 12, 13); 4 Thân bừa (14, 15, 16, 17, 18)

II: 1 Chức bừa (1, 2, 5, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17); 2 Chực bừa (3, 18); 3 Bộng (10, 11); 4 Tay bừa dọc (4, 12); 5 Tay đứng (8, 9 ,19); 6 Tay dọc (20)

III: 1 Tay bừa (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 17, 18); 2 Tay bừa ngang (8, 9); 3 Góng ngang (10, 11); 4 Gọng bừa (16); 5 Tay ngang (12, 20); 6 Tay cầm (13, 14); 7 Tay bừa ngang (19)

IV: 1 Cóng bừa (1, 14, 15); 2 Chực bừa (12); 3 Tai bừa (2, 4, 5, 6, 11,

13, 17, 18, 20); 4 Cọng bừa (7, 19); 5 Chực (8, 9, 10)

V: 1 Khâu bừa 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 14, 15, 19); 2 Khâu (8, 9 10); 3 Khâu mạ bừa (11, 17, 18); 4 Khâu sắt (12, 13); 5 Vòng sắt (16); 6 Vòng mạ bừa (20)

I II III

IV V

VI

VIII

IX

Trang 33

VI: 1 Nhướng bừa (1, 15, 16, 17, 18); 2 Ngáng bừa (2, 3, 4, 5, 6, 12,

13, 19); 3 Cóng (10); 4 Nạng bừa (7); 5 Gài răng bừa (8, 9); 6 Gài bừa (14);

7 Chốt răng bừa (20); 8 Cố định răng (11)

VII: 1 Răng bừa (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17,

18, 19, 20)

VIII: 1 Éch bừa (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 18, 19, 20); 2 Dù éc (10, 11); 3 Éc bừa (17); 4 Ách bừa (8, 9); 5 Éch (15); 6 Ách (16); 7 Éc (1); 8 Dù bừa (12)

IX: 1 Niệt bừa (2, 3, 4, 5, 6, 7); 2 Chạc niệt (16, 17); 3 Chạc óng (1, 8); 4 Giằng cổ (10); 5 Chạc cổ (12, 14, 14); 6 Chạc yếm (18); 7 Chạc ướm (19); 8 Dây niệt (9, 20)

X: 1 Chạc bừa (1, 2, 3, 4, 5, 6, 15, 16, 17); 2 Chạc thừng (10, 11); 3 Chạc kéo bừa (13, 14, 19, 20); 4 Dây kéo bừa (7, 8, 9 , 12); 5 Dây thừng (18)

3 Tên gọi các bộ phận của liềm

I: 1 Lại liềm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 17, 19, 20); 2 Lưỡi liềm (8, 9, 10, 15);

3 Lãi liềm (16, 18); Lượi liềm (11, 12, 13, 14)

II: 1 Khấu liềm (10, 11, 12, 19); 2 Óc liềm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 20);

3 Khấu liềm (13, 14, 15, 16); 4 Quai liềm (17, 18)

II

IV

III V I

Trang 34

III: 1 Răng liềm (7, 8, 9, 15, 18, 19, 20); 2 Chấu liềm (2, 3, 5); 3 Bụng liềm (1, 11, 12, 13, 14, 17); 4 Chấu (4, 6, 10).

IV: 1 Cán liềm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17,

18, 19, 20)

V: 1 Lưng liềm (1, 2, 4, 5, 6, 9, 10, 16); 2 Sống liềm (3, 7, 8, 11, 12,

13, 14, 15, 17, 18, 19, 20)

4 Tên gọi các bộ phận của cuốc

I: 1 Lại cuốc (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 10, 17, 19, 20); 2 Lưỡi cuốc (15, 16);

3 Lãi cuốc (11, 12, 13); 4 Bàn cuốc (8, 9, 14, 18)

II: 1 Vọng cuốc (9, 10, 14); 2 Óc cuốc (1, 2, 3, 12, 13, 15, 18, 19, 20);

3 Khâu cuốc (4, 5, 6, 7); 4 Bộng cuốc (8, 16); 5 Quai cuốc (11, 17)

III

Trang 35

6 Tên gọi các bộ phận của khau tay (gàu dai)

I: 1 Cầu gàu trên (2, 11, 12, 13, 14, 16, 17, 19, 20); 2 Mẹng khau (1,

3, 4, 5); 3 Miệng gàu (8, 9, 15); 4 Tay ngang (6, 7, 10, 18)

II: 1 Khu gàu (1, 2, 3,4, 5, 6, 7, 8, 19); 2 Cầu gàu dưới (11, 13, 14, 16); 3 Khung gàu dưới (9, 10, 15, 17, 18); 4 Đế khau (12); 5 Đít khau (20)

III: 1 Lợi khau (1, 2, 4, 7, 9, 10, 12, 13); 2 Lợi gàu (3, 5, 6, 8, 11, 14,

Trang 36

7 Tên gọi các bộ phận của khau đôi (gàu sòng, khau sòng)

I: 1 Cán gàu (1, 5, 8, 9, 10, 11, 12, 15, 17, 18, 19, 20); 2 Cán khau (2,

3, 7, 13); 3 Tay gàu (6, 16); 4 Tay cầm (14)

II: 1 Bạy gàu (1, 3, 4, 7, 15, 16, 18); 2 Nát gàu (2, 11, 17, 20); 3 Vành gàu (8, 9, 10); 4 Nát (5); 5 Bạy (6); 6 Vành khau (12, 13, 14, 19)

III: 1 Chạc neo (1, 3, 4, 5, 6, 7, 11, 12, 13, 15); 2 Dây neo (2, 8, 16);

3 Dây (9, 10, 18, 19); 4 Chạc gàu (14, 17); 5 Chạc neo khau (20)

IV: 1 Chân chống (1, 13, 14, 15, 17, 18); 2 Giá đỡ (19, 20); 3 Cọc trụ (2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 16)

8 Tên gọi các bộ phận của bàn trang

I: 1 Lượi trang (7, 8, 18, 19); 2 Bàn trang (6, 9, 11, 16); 3 Bàn gạt (10, 12, 13, 14, 15, 17); 4 Lại trang (1, 2, 3, 4); 5 Lưỡi trang (5, 20)

I

II

Trang 37

9 Tên gọi các bộ phận của cái vằng

I: 1 Lưỡi vằng (6, 10, 11, 12); 2 Lại vằng (1, 2, 3, 4, 5, 7, 13, 14, 18, 20); 3 Lượi vằng (8, 9, 15, 17, 19)

II: 1 Bàn vằng (1, 2, 3, 4, 13, 14, 15, 16, 17, 19, 20); 2 Tay vằng (8, 9,

10, 11); 3 Khung vằng (5, 6, 7); 4 Tay cầm (12, 18)

10: Tên gọi các bộ phận của bàn vét (cuốc bàn, vét, cuốc vét)

I: 1 Lại vét (1, 2, 4, 5, 6, 7, 10, 17, 19, 20); 2 Lưỡi vét (15, 16); 3 Bàn vét (8, 9); 4 Lượi vét (3, 11, 12, 13, 14); 5 Lượi (18)

III

Trang 38

I: 1 Khu gióng (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9); 2 Đáy gióng (10, 15, 19, 20);

Trang 39

12 Tên gọi các công cụ sản xuất khác

Đúa và Ky

Nèng vµ nÎn

Xe thå vµ xe bß lè

Trang 40

Cµo gç vµ rä (bÞt mâm, rä mâm)

Cµy s¾t

Qu¹t c¶i tiÕn

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w