1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân quỳnh lưu bùi thị thu dung

92 719 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân Quỳnh Lưu
Tác giả Bùi Thị Thu Dung
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 308 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chínhvì vậy mà chúng tôi muốn tìm hiểu, khảo sát vốn từ chỉ nghề đánh bắt cá, nghềlàm nớc mắm và nghề làm muối của c dân địa phơng này để phần nào thu thập đ- ợc vốn từ của một ngành ngh

Trang 1

Trờng đại học vinh

khoa ngữ văn

Bùi thị thu dung

khảo sát vốn từ nghề biển của c dân

Trang 2

khảo sát vốn từ nghề biển của c dân

có những hạn chế nhất định Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô giáo

và những ngời quan tâm đến đề tài

Thực hiện đề tài này, em đã nhận đợc sự hớng dẫn tận tình của TS HoàngTrọng Canh, cũng nh những ý kiến bổ ích của các thầy cô trong tổ ngôn ngữ, khoaNgữ văn, trờng Đại học Vinh Nhân đây cho phép em bày tỏ lòng biết ơn đến thầygiáo hớng dẫn, cùng tập thể các thầy cô giáo Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơnbác Bùi Nẫm, bác Thao (xã Quỳnh Long), dì Năm, bác Mơi (xã Quỳnh Thuận)

Và bạn bè, những ngời đã hết sức giúp đỡ chúng tôi trong quá trình điền dã, khảosát đề tài

Vinh, ngày 20 tháng 5 năm 2009

Trang 3

đồng ngời Việt Cùng với sự phát triển của xã hội, vốn từ ngữ ngôn ngữ dân tộccàng ngày càng không ngừng đợc bổ sung từ nhiều nguồn, trong đó có nguồn ph-

ơng ngữ, từ ngữ nghề nghiệp Cho nên khảo sát nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp làcần thiết đối với nghiên cứu vốn từ tiếng Việt nói chung

1.2 Từ vựng của một ngôn ngữ là vô cùng quan trọng bởi “Từ vựng là chất

liệu cần thiết để cấu tạo ngôn ngữ” (Nguyễn Thiện Giáp Từ vựng học tiếng Việt,

tr.15) Từ vựng của một ngôn ngữ thờng phong phú, đa dạng trong biểu hiện trêncác vùng miền, trên các nghành nghề Sự đa dạng và phong phú của vốn từ tiếngViệt còn đợc thể hiện ở chỗ, nếu ngôn ngữ dân tộc là một hệ thống thì trong lòng

nó lại chứa nhiều hệ thống nhỏ Về từ vựng, bên cạnh vốn từ toàn dân, tiếng Việtcòn có hệ thống vốn từ phơng ngữ, hệ thống từ ngữ nghề nghiệp, vốn từ tiếnglóng, hệ thống thuật ngữ, Các hệ thống từ vựng đó hoạt động, vận động không

Trang 4

cô lập tách biệt khỏi nhau mà tác động đến nhau vì thế chúng tạo nên những mốiquan hệ chằng chéo đan xen hết sức phức tạp, Xét về phạm vi sử dụng, nếu vốn

từ toàn dân đợc sở dụng rộng rãi, đại chúng thì các lớp từ vựng này có phạm vi sửdụng hẹp hơn, nếu không có điều kiện tiếp cận thì rất nhiều ngời không thể biết

đến Lâu nay trong Việt ngữ học nói chung, phơng ngữ học nói riêng, các côngtrình nghiên cứu về phơng ngữ còn rất ít, đặc biệt mảng nghiên cứu từ nghềnghiệp hãy còn rất tha thớt Tìm hiểu vốn từ nghề nghiệp ở một địa phơng là gópphần tìm hiểu phơng ngữ vùng và cũng là để thấy sự phong phú của vốn từ tiếngViệt

1.3 Văn hoá truyền thống là vốn quý mà mỗi dân tộc đều cố gắng lu giữ

và phát triển Trớc xu thế công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã có nhiều ngànhnghề thủ công truyền thống mất đi Cùng với sự mất đi của ngành nghề thủ công,lớp từ nghề nghiệp cùng có nguy cơ biến mất Hiện nay chúng ta đang ra sức bảotồn gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong đó việc lu giữ và phục hồicác ngành nghề truyền thống là một công việc vừa có ý nghĩa đối với kinh tế xãhội vừa có ý nghĩa về ngôn ngữ - văn hoá Nghề làm cá, làm nớc mắm và làmmuối là một trong những nghề truyền thống của ngời dân huyện Qùnh Lu Chínhvì vậy mà chúng tôi muốn tìm hiểu, khảo sát vốn từ chỉ nghề đánh bắt cá, nghềlàm nớc mắm và nghề làm muối của c dân địa phơng này để phần nào thu thập đ-

ợc vốn từ của một ngành nghề thủ công truyền thống mang đậm nét đặc trng của

c dân vùng sông nớc, mặt khác còn góp phần bảo tồn, phát huy sự đa dạng củavăn hóa dân tộc, thấy đợc nét văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc qua tên gọi và cáchgọi tên

1.4 Việt Nam là một quốc gia có bờ biển dài hơn 3260km Do vậy, có mộtphần c dân sống và gắn bó với biển Chính vì thế mà nghề đánh cá, nghề làm nớcmắm và nghề làm muối có tính chất truyền thống của ngời dân Việt Nam NghệTĩnh đợc xem nh một Việt Nam thu nhỏ không chỉ về điều kiện tự nhiên, lịch sửvăn hoá mà cả ngôn ngữ Quỳnh Lu là huyện có nghề nông, nghề biển truyềnthống giống nh các huyện biển khác ở Nghệ Tĩnh Cho nên khảo sát vốn từ nghềbiển của c dân Qùnh Lu cũng là góp phần tìm hiểu vốn từ nghề nghiệp phơngngữ Nghệ Tĩnh

Trên đây là những lí do khiến chúng tôi lựa chọn thực hiện đề tài “Khảo sátvốn từ chỉ nghề biển của c dân huyện Quỳnh Lu”

Trang 5

1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trớc tới nay, việc nghiên cứu từ nghề nghiệp vẫn cha đợc quan tâm

đúng mức Kết quả nghiên cứu về từ nghề nghiệp (đặc biệt là liên quan đến nghềcá) chỉ có một số công trình của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam, nhng việcnghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở các quan niệm, định nghĩa Có thể nhắc tớinhững giáo trình khi viết về Từ vựng tiếng Việt hoặc phơng ngữ Việt đều có mộtmục giới thiệu khái niệm, đặc điểm từ nghề nghiệp nh:

Nguyễn Văn Tu (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, HN; Đỗ Hữu Châu (1989), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng

Việt, Nxb KHXH, HN; Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất

n-ớc, Nxb KHXH, HN; Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb

Đại học và trung học chuyên nghiệp, HN

Ngoài những công trình nghiên cứu chung về từ vựng tiếng Việt có giới thiệu

từ nghề nghiệp nh trên, thì cũng đã có một số tác giả đi vào nghiên cứu vốn từ chỉnghề nghiệp đối với một số ngành nghề cụ thể nh:

Trầnt Thị Ngọc Lang (1982), Nhóm từ có liên quan đến sông nớc trong

phơng ngữ Nam Bộ- phụ trơng Ngôn ngữ, số 2, HN; Phạm Hùng Việt (1989),

Về từ ngữ nghề gốm, Viện ngôn ngữ học, HN; Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng

Canh (1996), Văn hoá ngời Nghệ qua vốn từ chỉ nghề cá, Tap chí Đông Nam á,

số 1; Lơng Vĩnh An (1998), Vốn từ chỉ nghê cá ở tỉnh Quảng Nam và Thành phố

Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh; Võ Chí Quế (2000), Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ Thanh Hoá, Ngữ học trẻ, Nxb Nghệ An;

Nguyễn Viết Nhị (2002) Vốn từ vựng chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ

Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh; Phan Thị Mai Hoa (2002), Thế giới thực tại trong con mắt ngời Nghệ Tĩnh qua tên gọi một số nhóm từ cụ thể, Khoá luận

tốt nghiệp, Đại học Vinh; Nguyễn Thị Quỳnh Trang (2004), Khảo sát vốn từ chỉ

nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh; Nguyễn

Thị Nh Quỳnh (2004), Đặc điểm lớp từ chỉ nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ

Tĩnh, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Vinh; Trần Thị Phơng Thảo (2005), Vốn từ chỉ nghề nớc mắm Vạn Phần, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh; Trần Thị Ngọc

Hoa (2005), Vốn từ chỉ nghề mộc ở làng Yên Thái, Đức Thọ, Hà Tĩnh, Luận văn

Thạc sĩ, Đại học Vinh

Trang 6

Ngoài ra, còn có một số bài viết của Tiến sĩ Hoàng Trọng Canh nh: Phơng

thức định danh một số nhóm từ chỉ nghề cá và nghề trồng lúa trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Hội thảo, “Ngữ học trẻ”, 2004 Hay bài viết Thực tế nghề cá đợc phân cắt ,

” “chọn lựa qua tên gọi và cách gọi trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Tạp

chí khoa học, Trờng Đại học Vinh, 2004

Nhìn chung, các bài viết đã đi vào khảo sát tên gọi, nghiên cứu sự phản ánhthực tại của các từ, chỉ ra nét độc đáo của lớp từ chỉ nghề nghiệp trên từng địaphơng cụ thể Qua những công trình đó, chúng tôi thấy việc nghiên cứu từ nghềnghiệp ngày càng đợc quan tâm, chú ý và nghiên cứu chuyên sâu một cách cụ thểhơn Tuy đã có một số bài viết về từ chỉ nghề cá trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh nh-

ng đó là những khảo sát ở một số phơng diện nào đó mà cha đi khảo sát nghiêncứu đặc điểm vốn từ trên một địa phơng cụ thể nh huyện Qùnh Lu Do vậy, đề tài

“Khảo sát vốn từ chỉ nghề biển của c dân huyện Quỳnh Lu” là đề tài đầu tiên cótính độc lập

3 Đối tợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tợng điều tra nghiên cứu của đề tài là từ ngữ chỉ nghề biểnbao gồm từ chỉ nghề đánh cá, làm muối, làm nớc mắm của c dân biển huyệnQuỳnh Lu

+ Phạm vi t liệu điều tra và nghiên cứu là từ ngữ chỉ nghề biển của

c dân các xã Quỳnh Long, Quỳnh thuận, Quỳnh Hải, Quỳnh Tiến, Quỳnh Thọ,Quỳnh Lập, Quỳnh Phơng, Quỳnh Dị

Ngoài ra, để so sánh sự khác biệt trong cách gọi tên và tên gọi của từ địaphơng chỉ nghề nghiệp, chúng tôi còn điều tra điền dã, thu thập từ ngữ một sốnơi làm nớc mắm, làm muối khác nh ở một số xã của huyện Diễn Châu, NghiLộc… Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới nguồn t Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới nguồn t liệu trong hai cuốn “Từ

điển phơng ngữ Nghệ Tĩnh” của nhóm tác giả Nguyễn Nhã Bản (chủ biên),

Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên và cuốn “Từ điển

tiếng Việt” Hoàng Phê (chủ biên) để so sánh đối chiếu.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Điều mà đề tài muốn hớng tới đó là chỉ ra đợc vốn từ chỉ nghề đánh cá,nghề làm nớc mắm, nghề làm muối và nêu ra những đặc điểm riêng của lớp từnày về mặt nguồn gốc, cấu tạo cũng nh phơng diện phản ánh Bên cạnh đó,

Trang 7

chúng tôi làm rõ mối quan hệ giữa nghề đánh cá, nghề làm muối và nghề làmnớc mắm Đồng thời còn làm rõ mối quan hệ giữa lớp từ này và nét văn hoá thểhiện qua ngôn ngữ của một làng vùng trong cùng một nghề Cụ thể khóa luậnhớng tới những nhiệm vụ sau:

+ Thu thập, xây dựng bảng từ nghề biển của c dân huyện Quỳnh Lu+ Phân tích, miêu tả đặc điểm vốn từ nghề biển của c dân vùngQuỳnh Lu về cấu tạo, về nguồn gốc, về định danh

4 Phơng pháp nghiên cứu

Ngoài các phơng pháp chung mang tính chất phổ biến , do tính chất vànhiệm vụ của đề tài này, nên chúng tôi sử dụng kết hợp một số phơng phápnghiên cứu chủ yếu sau:

+ Phơng pháp điền dã, điều tra, phỏng vấn

Chúng tôi đã tiến hành trực tiếp điều tra điền dã ở một số địa phơng

có nghề đánh cá, nghề làm nớc mắm và làm muối lâu đời ở huyện Quỳnh Lu vàchọn đối tợng là những gia đình có truyền thống làm nghề, và những ngời caotuổi có kinh nghiệm trong nghề Tiếp cận những cơ sở sản xuất các sản phẩm vềcá, nớc mắm, làm muối nổi tiếng để tìm hiểu về tên gọi công cụ, sản phẩm, cáchthức quy trình làm nghề

5 Những đóng góp của đề tài

Với đề tài này, chúng tôi đã thu thập vốn từ, miêu tả đặc điểm của chúngtrên các phơng diện chủ yếu (cấu tạo, nguồn gốc, ngữ nghĩa, định danh); đây là

Trang 8

đề tài đầu tiên nghiên cứu từ nghề nghiệp của c dân Qùynh Lu nên kết quả củakhoá luận sẽ có đóng góp mới về cả ngôn ngữ và văn hoá

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn đợc triển khai thành bachơng:

Chơng 1: Những vấn đê lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chơng 2: Đặc điểm vốn từ chỉ nghề biển của c dân huyện Quỳnh Lu

Chơng 3: Sắc thái văn hoá địa phơng xét qua tên gọi và cách gọi tên của từchỉ nghề biển

Sau cùng là phần phụ lục: Bảng từ ngữ chỉ nghề biển của c dân huyệnQuỳnh Lu

Trang 9

Chơng 1những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

1.1 Ngôn ngữ dân tộc và phơng ngữ

Do vị trí địa lí và những điều kiện lịch sử đặc biệt Việt Nam là một nớc có

bờ biển dài từ Bắc tới Nam Bên cạnh sự phát triển của văn hoá núi, văn hoá đồngbằng thì văn hóa biển cũng song song tồn tại và phát triển Đất nớc chúng ta có

54 dân tộc anh em, đồng nghĩa với 54 ngôn ngữ khác nhau Tuy ngôn ngữ mỗidân tộc là khác nhau nhng các ngôn ngữ này cùng lấy tiếng Việt làm ngôn ngữquốc gia thống nhất

Trải qua bao sự thăng trầm của lịch sử, ngôn ngữ tồn tại, vận động và pháttriển cho tới ngày nay Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ của quốc gia, là công cụgiao tiếp chính, phổ biến của toàn thể dân tộc Việt Nam Có thể nói, tiếng Việt đ-

ợc hội tụ các đặc điểm chung thống nhất của những phơng ngữ khác nhau Chonên, ngời Việt dù sống ở vùng phơng ngữ nào trên đất nớc thì khi giao tiếp bằngtiếng Việt cũng vẫn hiểu nhau Vì vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ văn hoá vớiphơng ngữ là mối quan hệ giữa cái riêng vơi cái chung, giữa cái cụ thể và cái trừutợng Sự khác biệt giữa phơng ngữ Nghệ tĩnh so với ngôn ngữ toàn dân và các ph-

ơng ngữ khác thể hiện trên các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và ngữpháp, trong đó sự khác biệt giữa ngữ âm - từ vựng là rõ nhất

Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ là sản phẩm của tập thể, của xã hội, là phơngtiện giao tiếp giữa ngời với ngời trong xã hội và xã hội không tồn tại nếu thiếungôn ngữ Ngôn ngữ hình thành từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, đợc tích luỹ, tàngtrữ hàng ngàn năm chính là điều kiện cho xã hội phát triển Con đờng hình thànhngôn ngữ dân tộc gắn với sự phát triển của dân tộc Đối với dân tộc Việt thì việchình thành và thống nhất ngôn ngữ là gắn liền với sự hình thành và thống nhấtdân tộc Do đó, ngôn ngữ của ngời Việt thể hiện sự thống nhất ở chỗ dù ở thế kỷnào, dù ngời miền xuôi hay miền ngợc, dù Nam hay Bắc nếu là ngời Việt Namthì ngôn ngữ đó là ngôn ngữ Việt Chúng ta đã biết, ngôn ngữ dân tộc là sảnphẩm của một thời đại lịch sử nhất định, thời đại hình thành thống nhất dân tộc.Nhng không phải khi ngôn ngữ dân tộc đợc hình thành và thống nhất thì không

Trang 10

còn phơng ngữ Tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng Tuy nhiên do những

điều kiện kinh tế, địa lí, văn hoá xã hội khác nhau và do sự phát triển biến đổiliên tục không đều của ngôn ngữ, cho nên, ngoài cái mã chung ngôn ngữ còn tồntại những cái riêng Bên cạnh cái chung thì cái riêng ấy thể hiện ở phơng ngữ mà

đặc biệt là ở thổ ngữ

Ngôn ngữ địa phơng hay phơng ngữ đợc tạo ra do sự phát triển biến đổiliên tục của ngôn ngữ, cho nên nó tồn tại trong lòng ngôn ngữ dân tộc Chính sự

đa dạng của phơng ngữ mà ta xem đó nh là những bức tranh muôn màu, muôn vẻ

để tạo nên môt bức tranh chung của ngôn ngữ dân tộc đa màu sắc

Xét về bình diện dân c, ta thấy rằng nếu không có sự phân bố tách biệtnhau về mặt địa lý dân c thì không có phơng ngữ Chính sự ngăn cách về khônggian địa lí c dân giữa các vùng đã tạo ra sự giao tiếp trở nên khó khăn, không th -ờng xuyên, liên tục, vì vậy đã tạo ra những thói quen sử dụng ngôn ngữ khônggiống nhau Việc sử dụng ngôn ngữ khác nhau chính là do quy luật phát triển,biến đổi của ngôn ngữ, điều đó đã tạo nên phơng ngữ Ngoài cái mã chung củangôn ngữ mà ta gọi là ngôn ngữ toàn dân thì do sự biến đổi và phát triển củangôn ngữ đã tạo nên những khác biệt giữa các vùng dân c Nơi thì sử dụng dạngmới của ngôn ngữ, nơi lại duy trì cách dùng cũ, đồng thời ta lại thấy ở mỗi vùng

nh vậy có những giọng nói khác nhau, cách gọi tên khác nhau Chính vì vậy màtạo nên sự khác nhau, sự đa dạng giữa các vùng ngôn ngữ Nói cách khác, nếungôn ngữ là một tập hợp những thói quen, tập quán nói năng, thì sự tác động từbên trong cấu trúc hệ thống ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ liên tục biến đổi, và sựbiến đổi đó đợc thể hiện ra ở mặt hành chức, ở hoạt động giao tiếp, điều đó đãthay đổi thói quen ngôn ngữ, tạo ra sự khác biệt giữa các vùng, giữa các tầng lớptrong xã hội

Nh vậy, phơng ngữ là biến thể của ngôn ngữ dân tộc trên một vùng địa lídân c hay tầng lớp xã hội nào đó Nhng cũng phải nói thêm rằng, những biến thểhay những khác biệt ấy lại đợc ngời địa phơng đó quen dùng Cho nên, tập hợpnhững từ ngữ có sự khác biệt ít nhiều so với ngôn ngữ toàn dân về mặt ngữ âm,ngữ nghĩa, ngữ pháp đợc ngời địa phơng quen dùng thì gọi là phơng ngữ

Ngôn ngữ văn hóa (ngôn ngữ chung) và các biến thể địa phơng vừa có tínhthống nhất vừa có sự khác biệt, trong đó tính thống nhất đóng vai trò chủ đạo, làcơ sở tạo nên tính thống nhất của ngôn ngữ quốc gia Vì vậy, mối quan hệ giữa

Trang 11

ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữacái bất biến thể và cái biến thể, giữa cái trừu tợng và cái cụ thể Trên bình diệnkhu vực dân c, tiếng Việt có nhiều vùng phơng ngữ khác nhau và phơng ngữNghệ Tĩnh là phơng ngữ còn tồn tại và bảo lu những yếu tố cổ của ngời Việt.Trong một vùng phơng ngữ, các tầng lớp ngời có thể làm các ngành nghề khácnhau nên điều đó cũng tạo nên những sự khác nhau ít nhiều về ngữ âm, từ vựng

sự khác biệt đó ngời ta gọi là thổ ngữ Cho nên, ngôn ngữ nghề nghiệp tuy nằmtrong một phơng ngữ, mang tính phơng ngữ nhng cũng có nét riêng nhất định Sựkhác biệt về ngữ âm, ngữ nghĩa giữa vốn từ của các thổ ngữ, các phơng ngữ xãhội trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, so với các phơng ngữ khác và so với vốn từ toàndân là khá rõ nét Phơng ngữ là kết quả của sự tác động bên trong và bên ngoàingôn ngữ, nhng trớc hết chủ yếu là từ nguyên nhân bên trong Từ cấu trúc ngônngữ, mặt biến đổi của nó đợc thể hiện trên từng phơng ngữ về ngữ âm, từ vựng,ngữ pháp Tuy nhiên, sự biến đổi của phơng ngữ là không đồng đều trên từngbình diện ngôn ngữ cũng nh trên khắp các vùng miền dân c Vì thế, mà tạo nên

đặc trng riêng của từng phơng ngữ và làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ trong

định và có cấu tạo hoàn chỉnh dùng để đặt câu” [16]

Thế nhng lại có rất nhiều định nghĩa khác về từ Vậy từ là gì? Tại sao lại

có nhiều định nghĩa về từ nh vậy? Từ là một đơn vị tồn tại hiển nhiên, có sẵn củangôn ngữ Do tính chất hiển nhiên có sắn của từ mà ngôn ngữ của loài ngời baogiờ cũng đợc gọi là ngôn ngữ của các từ Tính chất hiển nhiên cơ bản của các từ

là vật liệu mà thiếu nó không thể nào hình dung ra đợc một ngôn ngữ Chính các

từ đã biến đổi và kết hợp ở trong câu theo quy luật ngữ pháp của ngôn ngữ F deSaussure đã viết: “ Từ là một đơn vị luôn luôn ám ảnh t tởng chúng ta nh mộtcái gì đó trung tâm trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ” [1, tr.111] Cái khó nhấttrong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về định hình, về chức năng và những đặc

Trang 12

điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng nh trong một ngôn ngữ:

Có từ mang chức năng định danh và có từ thì không (số từ, các thán từ, phụ từ),

có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ dấu hiệu của những cảm xúc nào đó nh (thántừ), có từ liên hệ với những sự vật, hiện tợng ngoài thực tế (các thực từ), có từ lạibiểu thị những quan hệ trong ngôn ngữ mà thôi (h từ), có từ có kết cấu nội bộ, có

từ chỉ tồn tại trong nhiều dạng thức ngữ pháp khác nhau, nhng có từ chỉ tồn tạitrong một dạng thức mà thôi

Chính vì vậy, việc định nghĩa từ thờng thiếu đi sự thống nhất Hiện nay, đã

có trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Có những định nghĩa thiên về mặt ngữ

âm nh định nghĩa của K Bukher: “Các từ là những ký hiệu âm thanh của mộtngôn ngữ đợc cấu tạo từ các âm vị và có thể tạo thành trờng” Có định nghĩa lạithiên về mặt ngữ nghĩa nh định nghĩa của E Sapir: “Từ là một đoạn nhỏ nhất cónghĩa hoàn toàn độc lập và bản thân nó có thể làm thành một đơn vị tối giản ”

Có một số định nghĩa sau này lại khá chung chung không cụ thể nh: “Từ làbất kỳ âm nào của lời nói, trong ngôn ngữ từ là một ý nghĩa khác với ý nghĩa củanhững âm cũng là từ khác” (F Ffortunatov)

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về từ nh:

“Từ là đơn vị cơ bản chủ yếu có khả năng vận dụng độc lập mang ý nghĩa từvựng ngữ pháp” (Nguyễn Văn Tu)

“Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến mangnhững đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứngvới một kiểu ý nghĩa nhất định lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạocâu ” (Dẫn theo Đỗ hữu Châu [9])

Nhìn chung, các định nghĩa trên đây và còn nhiều định nghĩa khác nữa về

từ không làm mọi ngời thỏa mãn Để có sự nhất quán trong quá trình làm luậnvăn, chúng tôi thống nhất lấy định nghĩa của Giáo s Nguyễn Thiện Giáp: “Từ là

đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” (Nguyễn ThiệnGiáp, 1995, Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, HN, tr 61) Đây là địnhnghĩa đợc nhiều ngời chấp nhận Sở dĩ chúng ta lấy định nghĩa này bởi vì nó đãhàm chứa đợc hai vấn đề cơ bản đó là:

- Vấn đề khả năng tách biệt của từ (tính độc lập của từ)

- Vấn đề tính hoàn chỉnh của từ (từ có vỏ âm thanh hoàn chỉnh, có nộidung)

Trang 13

Tính hoàn chỉnh và tính tách biệt về ý nghĩa của từ là bắt buộc đối với mỗi

từ, là cơ sở của tính hoàn chỉnh và tính tách biệt về mặt hình thức, nhng tự thânchúng cha đầy đủ Bởi vậy, chúng đợc bổ sung thêm các đặc trng về hình thứcnh: Những đặc trng về ngữ âm, những đặc trng về ngữ pháp Trong tiếng Việt,

đơn vị ngôn ngữ độc lập hoàn chỉnh về ngữ âm và ngữ nghĩa đợc vận dụng linhhoạt tự do trong lời nói đó chính là từ và toàn bộ từ và ngữ cố định tập hợp lạithành vốn từ vựng tiếng Việt Do vậy, từ là đơn vị hết sức quan trọng giống nhviên gạch để xây dựng nên tòa lâu đài ngôn ngữ

1.2.1.2 Vốn từ tiếng Việt

Khi nói đến ngôn ngữ dân tộc hay một phơng ngữ nào đó thì không thểkhông nói đến một bình diện quan trọng đó là “vốn từ” Vốn từ của một ngônngữ là khối thống nhất của toàn bộ từ, và ngữ cố định đợc tổ chức theo quy luậtnhất định, nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau

Nguyễn Văn Tu (1978), trong Từ và vốn từ tiếng Việt, (Nxb Đại học và

trung học chuyên nghiệp, HN) cho rằng: Vốn từ làm thành một hệ thống tập hợpnhững yếu tố khác nhau, phân biệt lẫn nhau thành một tổ chức hệ thống, vốn từ

đợc xác định bằng những yếu tố đợc liệt kê theo một trật tự nào đó hoặc bởi đặc

điểm nào đó của những yếu tố, chẳng hạn: Trong tiếng Việt hệ thống những từchỉ loại có số lợng hạn chế nhất định còn hệ thống từ ghép lại vô hạn, vì chúng đ-

ợc cấu tạo theo những kiểu đã có sẵn song song với những kiểu cụm từ tự do.Hàng chục vạn đơn vị từ vựng làm thành vốn từ của tiếng Việt, chúng có nhữngtiêu chí riêng biệt làm cho từ này khác với từ kia, từ này tồn tại đợc nhờ sự đốilập, tồn tại của từ kia và ngợc lại Ngời ta có thể dựa vào những nét khác biệt của

từ về mặt hình thức (vỏ ngữ âm), hay về mặt nội dung (ý nghĩa) của từ cùng loạikhác nhau hay là biến thể của bản thân có

Vốn từ tiếng Việt đợc các nhà ngôn ngữ học chia ra thành các lớp từ khácnhau dựa vào sự đối lập đó Tiếng Việt của chúng ta có một vốn ngôn ngữ vănhóa (ngôn ngữ toàn dân) phong phú thống nhất, đồng thời ta lại có các từ khácnhau nh từ địa phơng, từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học và tiếng lóng Đó làcác lớp từ đợc phân theo tiêu chí phạm vi sử dụng Lớp từ của ngôn ngữ văn hóa

là lớp từ đợc sử dụng rộng rãi, phổ thông, còn các lớp từ khác có phạm vi sử dụnghẹp hơn (các lớp từ hạn chế về phạm vi sử dụng) Tuy nhiên, các lớp từ này lại cókhả năng tạo nên những nét đặc thù của một địa phơng, hay một nghề nghiệp

Trang 14

Điều này sẽ đợc phân tích trong nội dung của đề tài Có một vấn đề chúng ta đềuthấy và cần nhấn mạnh đó là tất cả các lớp từ sử dụng hạn chế về phạm vi trongtiếng Việt (có thể là lãnh thổ, có thể là trong một cộng đồng ngời cùng chungmột nghề nghiệp hoặc một nhóm ngời trong xã hội) đã tạo nên bức tranh đa dạngtrong sự thống nhất của tiếng Việt

Tính thống nhất đó trớc hết đợc biểu hiện trong thực tế giao tiếp của ngờiViệt Tức là khi vận dụng tiếng Việt, ngời Việt Nam dù ở miền Bắc hay miềnNam hễ nói tiếng Việt là có thể hiểu nhau dễ dàng, mặc dù khi nói ngời nói cóthể phát âm theo giọng của mỗi miền khác nhau Từ địa phơng thậm chí là thổngữ dù có phong phú đa dạng và mang đậm chất địa phơng đến đâu, nhất là khinói viết đều tự giác tuân thủ các quy tắc ngữ pháp, quy tắc chính tả thống nhất.Tính thống nhất của tiếng Việt còn đợc biểu hiện ngay trong cơ chế nội tại của

nó Về mặt này, chúng ta thấy rằng vốn từ ngữ cơ bản giữa ba vùng phơng ngữBắc, Trung, Nam đã đợc các nhà ngôn ngữ học Việt Nam so sánh và đa ra kếtluận: 92% từ ngữ là đồng nhất và ngay cả những từ (tiếng) không giống cả bavùng phơng ngữ thì khi dùng ngời của ba vùng này đều có thể hiểu đợc Chẳnghạn: Hoa/bông; lợn/heo; quả/trái; cá tràu/cá quả, trái dứa/trái thơm Sở dĩ mọingời có thể hiểu đợc là vì những từ của tiếng địa phơng nằm trong sự đối lập về

âm và nghĩa với lớp từ của ngôn ngữ văn hóa (ngôn ngữ toàn dân)

Sự phong phú và đa dạng trong sự thống nhất của từ tiếng Việt là yếu tốlàm cho vốn từ tiếng Việt phát triển, ngày càng hoàn thiện đầy đủ Nếu tiếng Việtkhông có tính thống nhất cao, không có tính toàn dân thì mọi ngời sống trên mọimiền đất nớc sẽ không sử dụng đợc công cụ này để thực hiện giao tiếp một cách

có hiệu quả nhất Lớp từ của ngôn ngữ văn hóa là lớp từ cơ bản, lớp từ chủ yếutạo nên kho từ vựng tiếng Việt Lớp từ này có phạm vi rộng rãi trên phạm vi sửdụng toàn quốc cho mọi tầng lớp nhân dân, từ nhà khoa học cho đến những ngờinông dân, công nhân Cho nên lớp này gọi là lớp từ toàn dân hay lớp từ phổthông Lớp từ vựng của ngôn ngữ văn hóa không chối bỏ sự có mặt, sự đồng thờitồn tại của các lớp từ khác và phạm vi sử dụng của nó hạn chế hơn lớp từ ngônngữ văn hóa Ngợc lại, các lớp từ hạn chế về mặt phạm vi, mức độ sử dụng nàylại là nguồn bổ sung cho lớp từ toàn dân ngày một đầy đủ và ngày càng hoànthiện vào việc phát triển tiếng nói của ngời Việt Nam

1.2.2 Vốn từ ngôn ngữ toàn dân và vốn từ phơng ngữ

Trang 15

Từ toàn dân (lớp từ vựng văn hóa) là những từ toàn dân hiểu và sử dụng, đó

là vốn từ chung cho tất cả những ngời nói ngôn ngữ nào đó, thuộc các địa phơngkhác nhau Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng cơ bản nhất của mộtngôn ngữ Do vậy, khi nói đến ngôn ngữ dân tộc, hay nói đến một phơng ngữ nào

đó không thể không nói đến một bình diện vô cùng quan trọng của ngôn ngữ đó

là “vốn từ” Việc nghiên cứu từ nói riêng và vốn từ nói chung gặp nhiều khókhăn, bởi từ trong phơng ngữ có nhiều quan hệ đan xen chồng chéo và những từ

ấy có thể nằm trong vốn từ toàn dân lại có thể nằm trong vốn từ phơng ngữ Vìvậy, có những từ và nhóm từ ta có thể xếp chúng vào nhóm này và có thể xếp

chúng vào nhóm kia Ví dụ: Cá bò, cá căng (các từ chỉ các loại cá này vừa dùng

trong phơng ngữ nhng cũng vừa đợc thu nạp vào từ điển phổ thông nên trongngôn ngữ toàn dân nó có thể đợc dùng)

Chúng ta biết rằng nghĩa của mỗi từ là cụ thể, nhng trong từng ngữ cảnh cụthể lại khác nhau ít nhiều (nó có thể biến đổi, thêm bớt các sắc thái nghĩa) Dovậy, khi nghiên cứu nghĩa của từ, ngữ nghĩa của vốn từ ta sẽ thấy rất phức tạp Vànghiên cứu từ nghề nghiệp trong phơng ngữ nói chung thì ngời ta phải tiến hành

đối chiếu từ trong vốn từ toàn dân và cả trong vốn từ phơng ngữ vì vậy lại càngphức tạp Do nhiều nguyên nhân mà ta thấy sự tơng ứng về nghĩa của từ trong ph-

ơng ngữ nói chung và từ chỉ nghề nói riêng với từ trong ngôn ngữ toàn dân theotừng cặp ít có sự sóng đôi trọn vẹn, mức độ đồng nhất và đối lập là khá phức tạp.Vì vậy, việc xem xét và nghiên cứu vốn từ chỉ nghề cá, làm nớc mắm, làm muốicủa một phơng ngữ là việc vô cùng cùng khó khăn, bởi từ nghề nghiệp trong ph -

ơng ngữ không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể, mà

có thể còn có thể là biến thể của từ trong phơng ngữ đó

Sự biến đổi của ngôn ngữ có tính lịch sử và các biến thể của ngôn ngữchồng lớp lên theo thời gian Nh chúng ta đã nói, từ nghề nghiệp nói riêng, phơngngữ nói chung, ngoài cái mã chung cơ bản mang tính thống nhất với ngôn ngữtoàn dân còn có nét khác biệt và chính những nét khác biệt không trùng khớp ấy

đã giúp chúng ta tìm hiểu tốt hơn mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn từtoàn dân và vốn từ địa phơng Khi đối sánh ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữtrong đó có lớp từ nghề nghiệp, ta thấy sự khác biệt đầu tiên chính là ngữ âm, sựkhác biệt thứ hai chính là ngữ nghĩa Vốn từ của phơng ngữ trong đó có vốn từchỉ nghề với vốn từ của ngôn ngữ toàn dân khác biệt nhau chính là do sự phát

Trang 16

triển của lịch sử ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa nói riêng, ngôn ngữ nói chung củatiếng Việt.

Trong phơng ngữ có lớp từ chỉ nghề khác nhau và rất đa dạng với nhữngmức độ phơng diện khác nhau, có thể đó là sự khác nhau hoàn toàn (không cóquan hệ về âm và nghĩa) vì chúng có nguồn gốc, sự vay mợn tiếp xúc và giaothoa ngôn ngữ hoàn toàn khác nahu Và sự khác nhau này có thể chỉ là ở dung l -ợng rộng hay hẹp, số lợng nhiều hay ít Về việc nghiên cứu, để chỉ ra mối quan

hệ toàn dân với vốn từ phơng ngữ trong đó có lớp từ chỉ nghề giúp chúng ta hiểu

đợc phần nào sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ Chính những đặc điểm giống

và khác nhau giữa ngôn ngữ toàn dân và phơng ngữ điều đó đã thể hiện bản sắcvăn hóa của c dân vùng phơng ngữ Vốn từ vựng phơng ngữ nói chung, từ chỉnghề nói riêng góp phần vun đắp xây dựng ngôn ngữ văn hóa ngày một pháttriển

1.3 Vốn từ nghề nghiệp trong phơng ngữ và trong vốn từ toàn dân

1.3.1 Khái niệm vốn từ nghề nghiệp“ ”

1.3.1.1 Khái niệm từ nghề nghiệp“ ”

Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ đợc sử dụngnhằm biểu thị các tên gọi, sự vật hiện tợng, công cụ sản phẩm, quá trình hoạt

động, sản xuất trong phạm vi của những ngời cùng làm khác nghề nào đó trongxã hội

Theo giáo s Đỗ Hữu Châu: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị

từ vựng đợc sử dụng để phục vụ cho các hoạt động sản xuất và hành nghề của cácngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và ngành lao động trí óc(ngành thuốc, ngành văn thơ )” [9, tr 234] So với từ địa phơng, tiếng lóng,thuật ngữ khoa học thì từ nghề nghiệp cũng có những đặc điểm chung hơn cácloại từ trên, phạm vi sử dụng hạn chế Tuy nhiên, từ nghề nghiệp khác tiếng lóng

ở chỗ: Từ nghề nghiệp là tên gọi duy nhất của hiện tợng thực tế nhng không có từ

đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân (nó không song song tồn tại với từ của ngônngữ toàn dân) Cũng chính vì vậy, mà từ nghề nghiệp dễ dàng trở thành vốn từtoàn dân khi khái niệm riêng của nghề nào đó đã trở thành phổ biến rộng rãi

trong xã hội Ví dụ: Ca, đục, xẻ, bào (nghề mộc); quăng chài, thả lới (nghề cá); ớp chợp, chợp (nghề làm nớc mắm); nớc ót, nạo muối (nghề làm muối).

Trang 17

Nh vậy, từ nghề nghiệp chỉ sinh ra và tồn tại trong quá trình sản xuất củanghề Trong quá trình hoạt động, từ nghề nghiệp đợc tạo ra và sử dụng phụ thuộcvào các yếu tố do hoạt động sản xuất của nghề quy định Nói cách khác từ nghềnghiệp chỉ có ý nghĩa trong môi trờng của nó.

Nguyễn Văn Tu, trong giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” cũng

đã so sánh “những từ ngữ nghề nghiệp khác thuật ngữ ở chỗ đợc chuyên dùng đểtrao đổi miệng về chuyên môn chứ không phải dùng để viết Từ nghề nghiệp cònkhác thuật ngữ ở chỗ chúng gợi cảm, gợi hình ảnh, có sắc thái vui đùa” [23, tr.126] Khi so sánh từ nghề nghiệp với thuật ngữ khoa học thì Nguyễn Văn Tu đãnhấn mạnh phơng thức truyền miệng của từ nghề nghiệp và cũng chính phơngthức truyền miệng này làm từ nghề nghiệp mang tính khẩu ngữ rõ nét Bên cạnh

đó tác giả còn đề cập đến tính chất gợi hình, tính gợi cảm của từ nghề nghiệp.Mặt khác, từ nghề nghiệp sản sinh là do yêu cầu của nghề và nó sẽ mất đi khinghề đó không còn tồn tại Đó chính là tính lâm thời của từ nghề nghiệp

Ta biết rằng, khi một nghề nào đó ra đời thì cần phải có từ ngữ để đặt têncho những công cụ, quy trình, sản phẩm trong nghề thì vốn từ đó ngời ta lấyngay trong vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng để lâm thời gọi tên cho các đối t-ợng trong nghề (đó là xét trên bình diện ngôn ngữ học) Do vậy, ý nghĩa của từnghề nghiệp chỉ tồn tại trong bối cảnh của nghề nghiệp mà thôi Vì từ nghềnghiệp không có vốn từ ngôn ngữ riêng Từ nghề nghiệp chỉ ra đời khi có mộtnghề mới ra đời, do nghề thủ công tồn tại và phát triển trong một phạm vi hẹpnên tính xã hội của từ nghề nghiệp bị hạn chế, nó gần nh biệt lập trong phạm vihoạt động của nghề

Chúng ta biết rằng, từ nghề nghiệp đợc lấy trong vốn từ toàn dân và vốn từ

địa phơng, nên tiếng địa phơng thể hiện rất rõ trên hình thức ngữ âm của từ, sau

đó là ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa Nh vậy, “từ nghề nghiệp là các từ ngữ đặctrng cho ngôn ngữ của các nhóm ngời thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùngmột lĩnh vực hoạt động nào đó” [8]

1.3.1.2 Khái niệm vốn từ nghề nghiệp“ ”

ở mục (1.2.2) chúng tôi đã trình bày hiểu biết chung về vốn từ Vốn từ làtoàn bộ những từ ngữ cố định của một ngôn ngữ, đợc tổ chức theo những quan hệnhất định, nằm trong mối quan hệ hữu cơ với nhau

Trang 18

Vậy có thể suy ra vốn từ nghề nghiệp là toàn bộ những từ ngữ của nhữngngời làm một nghề nào đấy trong xã hội, phục vụ cho hoạt động sản xuất hànhnghề của nghề nào đó Nói nh vậy, chúng ta sẽ hiểu rằng vốn từ nghề nghiệp cóphạm vi sử dụng hẹp và thờng đợc dùng trong khẩu ngữ của ngời cùng nghề, nócũng đợc sử dụng trong vốn từ chung của ngôn ngữ dân tộc khi cần và khi phạmviu sử dụng của nó đợc mở rộng.

Ví dụ: Hình mẫu lí tởng trong gia đình xã hội cũ là:

“Chồng đọc sách ngâm thơ

Vợ quay tơ dệt cửi”

Hay “bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ”

Nếu là ngời bình thờng, không tham gia trực tiếp vào quá trình lao động của nghề

đó, thì mức độ hiểu biết về từ của họ cũng chỉ dừng lại ở hình ảnh quay tơ, dệtcửi mà không hiểu đợc nghĩa sâu của từ

Nh vậy, trong vốn từ nghề nghiệp có những từ vừa đợc dùng trong nghề lạivừa đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân Nhng có những từ lại chỉ dùng riêngtrong c dân làm nghề đó mà thôi Tóm lại, từ nghề nghiệp có quan hệ với từ toàndân, là nơi cung cấp, làm giàu vốn từ toàn dân

1.3.2 Vốn từ nghề nghiệp trong phơng ngữ và trong vốn từ toàn dân

Từ toàn dân thuộc lớp từ vựng tích cực, là những từ toàn dân biết, hiểu và

sử dụng Từ nghề nghiệp khác từ toàn dân ở chỗ: Phạm vi sử dụng bị hạn chế vềmặt xã hội, chỉ những ngời nội bộ ngành nghề mới hiểu rõ và sử dụng đợc

Quan hệ từ nghề nghiệp với từ toàn dân là mối quan hệ giao thoa, đan xentrong quy luật phát triển của ngôn ngữ Trong một giai đoạn lịch sử nhất định,theo một nhát cắt thời gian nào đó từ nghề nghiệp không có từ đồng nghĩa trongngôn ngữ toàn dân, nó là tên gọi duy nhất của hiện tợng thực tế

Chúng ta biết rằng từ toàn dân là lớp từ cơ bản nhất, quan trọng nhất củamỗi ngôn ngữ, từ vựng toàn dân là cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ dân tộc, là

bộ phận nòng cốt của từ vựng học Từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiệntợng, những khái niệm quan trọng và cần thiết trong đời sống, đồng thời vốn từtoàn dân là những từ trung hòa về mặt phong cách Bên cạnh đó, từ nghề nghiệplại có phạm vi sử dụng hẹp hơn mà chỉ ngời trong nghề mới hiểu

Ví dụ: Khi nói đến từ “diệu giát”, “đổ ô” không phải ai cũng hiểu đợc

nghĩa của từ nếu ngời đó không sống trong làng nghề làm muối Diệu giát có thể

Trang 19

hiểu đây là một hoạt động lấy nớc từ dới khanh, mơng (nơi nớc biển chảy vào) đổ lên cái hố hình chữ nhật gọi là giát (xem ảnh ở phần cuối luận văn); đổ ô: là đổ

nớc mặn vào các ô, nớc mặn sau quá trình đợc lọc, ngời ta dùng bầu đổ nớc lêncác ô để phơi nắng (lợng nớc mỗi ô dựa vào nhiệt độ trong ngay để điều chỉnh l-ợng nớc vừa phải) sẽ tạo ra muối Nh chúng ta đã biết từ nghề nghiệp không có

từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân, nhng có một bộ phận từ nghề nghiệp cóthể dễ dàng trở thành ngôn ngữ toàn dân, đó là khi những công cụ sản xuất,những khái niệm riêng của nghề đã trở nên phổ biến rộng rãi Trong xã hội ViệtNam có những nghề đặc biệt, có tính chất hạn chế về phạm vi hoạt động thì từnghề nghiệp thuộc các nghề này có phạm vi hoạt động rất hạn chế Ví dụ: Nghềlàm giấy, nghề làm sơn mài, nghề làm muối Lớp từ nghề nghiệp của nhữngnghề này chỉ có những ngời trong nghề mới hiểu

Sở dĩ, nhiều từ chỉ nghề trồng lúa đã trở thành quen thuộc với mọi ngời vàtrở thành lớp từ toàn dân là vì Việt Nam đợc xem có nền văn minh lúa nớc bởi tỷ

lệ c dân trồng lúa chiếm số đông, địa bàn c dân làm nghề lại phân bố rộng rãi từbắc đến nam, từ miền xuôi đến miền ngợc Do vậy, có một số lớp từ đã trở thành

từ toàn dân nh: Bừa, cày,cuốc, mạ, lúa, gặt Những từ này không hề xa lạ với

những ngời làm ngành nghề khác trong xã hội, chúng đợc dùng một các tự nhiên

Đây là một biểu hiện nói lên mối quan hệ khăng khít giữa vốn từ toàn dân và vốn

từ nghề nghiệp Nhng không phải từ nào trong lớp từ nghề nghiệp cũng có tínhchất phổ biến rộng rãi nh vậy, vì nghề nào cũng có lớp từ nghề nghiệp riêng nhngmức độ phổ biến của nó lại không giống nhau,tùy thuộc vào mức độ phạm vi củatừng nghề nên có những từ ngữ chỉ riêng ngời trong nghề mới hiểu và dùng, có từnghề nghiệp đợc hiểu trong vùng phơng ngữ, có từ trở thành từ dùng chung trongtoàn dân tộc

Ví dụ: Trong nghề đánh cá ngoài những từ khá quen thuộc với mọi ngời nh:

Thuyền, thúng, lới mang tính chất toàn dân thì có những từ rất xa lạ với mọi

ng-ời nh: Rạo, xăm, bốn sào có những từ mang tính chất phơng ngữ cả vùng nh:

Nốc, lái

Đất nớc Việt Nam trải dài từ địa đầu Móng cái đến đất mũi Cà Mau vàhình thành nên nền văn minh lúa nớc do ba nền văn hóa hội lại (văn hóa núi - vănhóa đồng bằng và văn hóa biển) Mỗi nền văn hóa có những điểm riêng và ngờicủa c dân vùng biển cũng nh nghề trồng lúa có tính chất ổn định Vì vậy, mà hình

Trang 20

thành nên những nét văn hóa riêng biệt của c dân chài lới Từ nghề nghiệp trongmối quan hệ đó thờng gắn với đặc điểm địa phơng, gắn với những biến thể ngônngữ, phơng ngữ nơi c dân làng nghề c trú, tổ chức sản xuất.

Từ nghề nghiệp còn có những đặc điểm riêng gắn với từng thổ ngữ Bởi vì.mỗi vùng dân c, mỗi làng nghề do đặc điểm canh tác, đặc điểm khí hậu môi tr-ờng, phong tục tập quán không giống nhau nên ngôn ngữ phản ánh nghề nghiệpcũng có thể khác nhau trong một ngôn ngữ Đó chính là cơ sở làm nên tính đadạng của từ nghề nghiệp

Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với vốn từ phơng ngữ diễn ra tự nhiêntrong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, khi đối sánh ta thấy từ nghề nghiệp khôngtrùng khít hoàn toàn với ngôn ngữ và bản thân từ nghề nghiệp cũng không táchkhỏi vùng phơng ngữ nơi sinh sống của c dân làng nghề Quan hệ giữa từ ngữtrong phơng ngữ là quan hệ tác động qua lại đan xen phức tạp Có những từ nghềnghiệp trùng khít với phơng ngữ, nhng có những từ lại chịu ảnh hởng thói quendùng ngôn ngữ của c dân sống trên vùng phơng ngữ đó nên có thể có những từriêng, nh để chỉ phơng tiện, công cụ đánh bắt hay công cụ làm nớc mắm, làmmuối của làng nghề đó Ngoài việc dùng chung một số từ ngữ toàn dân, họ còn

sử dụng những từ vừa là chỉ nghề nghiệp nhng lại mang đặc điểm của phơng ngữ

về âm và nghĩa

Ví dụ các từ ngữ khác nhau đợc tạo ra do thói quen khác nhau giữa các vùng

nhng đều cùng gọi một đối tợng: Làng chài, làng vạn, dân vạn, kẻ vạn Lại có

những từ nghề nghiệp mà phạm vi sử dụng của nó rất hẹp, chỉ ngời trong nghề

mới hiểu, thậm chí chỉ có một vùng, một làng nào đó mới có Ví dụ: Chặn ô, đổ

nớc, đập mô (nghề làm muối); xã mắm, nớc cốt, (nghề làm nớc mắm).

Trớc khi đi vào khảo sát lớp từ chỉ nghề của c dân vùng biển, cụ thể lànghề đánh cá, làm nớc mắm và làm muối, chúng tôi sẽ khái quát về vốn từ vựngchỉ nghề của c dân nơi đây, để thấy đợc mối quan hệ từ vựng chỉ nghề trong ph-

ơng ngữ Nghệ Tĩnh về đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa, cách thức định danh gọi têncác từ này

Việc nghiên cứu ngôn ngữ, dù dới góc độ nào cũng phải liên quan đến từ.Tiếng Việt là thống nhất trong sự đa dạng, sự đa dạng đó thể hiện trên các phơngngữ Việc tìm hiểu từ chỉ nghề cá trong ngôn ngữ văn hóa sẽ giúp chúng ta hiểu

Trang 21

đợc những nét nào đó về đặc trng tâm lí, bản sắc văn hóa ngời Việt Nam là nghềbiển nói chung và ngời Việt là nghề này sống trên vùng phơng ngữ đó nói riêng.

1.3.3 Vốn từ chỉ nghề cá, nớc mắm, muối của c dân vùng biển huyện Quỳnh Lu

1.3.3.1 Với nghề đánh cá

Cũng nh nhiều địa phơng trong cả nớc, nghề đánh cá không chỉ dành riêngcho những ngời làm nghề cá (ng nghiệp) mà cả ngời làm nghề khác cũng thamgia vào việc đánh cá (nh nông nghiệp, lâm nghiệp ) Cũng theo xu hớng của thời

đại, xã hội càng phát triển thì mọi hoạt động của xã hội cũng đổi thay Tronghoạt động đánh bắt cá cũng vậy, phơng tiện công cụ thay đổi theo thời gian, từ

đánh bắt bằng tay đến các công cụ thô sơ, thì nay có thể đánh bắt bằng các công

cụ rất hiện đại, từ đánh bắt đợc những con cá nhỏ gần bờ đến những loại cá to

đánh bắt xa bờ, và từ đánh bắt ngắn ngày nay có thể đi dài ngày Sản phẩm thu

đ-ợc là hàng trăm loài hải sản với nhiều tên gọi và nhiều cách chế biến thành cácmón ăn khác nhau

1.3.3.2.Với nghề làm nớc mắm

Trong các cách chế biến từ sản phẩm đợc bắt lên từ biển thì ta phải nhắctới quy trình làm nớc mắm, một sản phẩm đợc làm từ tôm tép, cá biển Đã từ lâucác gia đình Việt Nam đã quen dùng hơng vị nớc mắm để chế biến thức ăn, haylàm nớc mắm để chế biến thức ăn trong bữa ăn gia đình, vì vậy, chén nớc mắmngày càng đóng vai trò quan trọng không thể thiếu trong bữa cơm thân mật ấmcúng ấy của gia đình

Cũng giống nh nghề đánh cá, ngời làm nghề nớc mắm cũng dần sáng tạo

ra cho mình những công cụ muối mắm hiện đại hơn và quy trình làm ra nớc mắmcũng nhanh hơn Nghề chế biến và sản xuất nớc mắm gắn liền với nghề đánh bắtcá biển, nghề đánh bắt cá biển thì cung cấp nguyên liệu cho nghề sản xuất chếbiến nớc mắm, còn nghề nớc mắm lại cung cấp cho bữa ăn hàng ngày thêm mộtgia vị thêm ngon

1.3.3.3 Nghề làm muối (làm nại hay còn gọi là diêm nghiệp)

Cũng giống với hai nghề trên, nghề làm muối đã có từ bao đời nay và muối

là nguyên liệu không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của mỗi con ngời Chúng ta chếbiến thức ăn rất cần đến muối Muối có vai trò quan trọng giống nh con ngờikhông thể thiếu nớc vậy

Trang 22

Nghề làm muối đẫ có từ rất lâu, không ai còn nhớ đến nguồn gốc, trớc đâyngời ta gọi là nấu muối, đó là một nghề rất thô sơ, đơn giản chỉ gồm hai bớc lóngnớc khắt (nớc mặn) và nấu muối, thế nhng do cuộc sống ngày càng hiện đại nênngời ta đã từng bớc cải tiến dần các công cụ và quy trình làm muối sao cho cónăng suất nhiều hơn Và từ công cụ thô sơ đó, ngời ta đã tiến lên bớc hiện đạihơn đó là từ hoạt động nấu muối đến sử dụng ánh nắng mặt trời để làm ra muối.

Đó chính là bớc chuyển đáng kể của ngời dân làm muối

Ba ngành nghề có tên gọi chung là vốn từ chỉ nghề biển, chúng ta thấygiữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau và vốn từ của ba nghề trở thành vốn từchung - nghề biển Tuy vậy, mà nghề có lớp từ riêng, chính cái sự đa dạng ấy nêntìm kiếm một cách đầy đủ các từ có liên quan là rất khó nếu không nói là khôngthể Đó là cha nói tới việc nhiều tên gọi khác nhau ở cùng một đối tợng

Ví dụ: Cùng là một con cá bơn nhng có xã lại gọi là cá thờn bơn; hay cá bống nhng có nơi gọi là cá thòi lòi Điều này chứng tỏ việc tìm kiếm và khảo sát tất cả

những từ liên quan đến từ chỉ nghề là điều không dễ Chúng tôi đã cố gắng tìmkiếm và khảo sát những từ mang tính thông dụng trong phạm vi hẹp một huyệnthuộc phơng ngữ Nghệ Tĩnh Phơng thức chủ yếu của chúng tôi ở đây là “tainghe, mắt thấy”, tuy nhiên, cũng có nhiều đối tợng lại đợc tiếp cận gián tiếp quamiêu tả của nhân dân nên rất khó để xác định độ chính xác Vì vậy, đây chỉ là kếtquả bớc đầu, cần phải có thời gian và hỗ trợ nhiều hơn nữa để tập hợp, miêu tả từchỉ nghề của c dân vùng biển huyện Quỳnh Lu một cách chính xác và đầy đủ

Chơng 2

đặc điểm vốn từ chỉ nghề biển của c dân vùng biển huyện

Quỳnh Lu

2.1 Sơ lợc về nghề cá, làm muối, nớc mắm ở huyện Quỳnh Lu

Quỳnh Lu là một huyện địa đầu xứ Nghệ (nằm ở phía bắc tỉnh Nghệ An).Tuy là một huyện đồng bằng nhng có rừng núi, có biển cả, Quỳnh Lu có vị trí,phía Bắc giáp huyện Tĩnh Gia - Thanh Hóa, phía Tây giáp huyện Nghĩa Đàn,phía Nam giáp huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành, phía Đông là biển

Trang 23

Quỳnh Lu có 34km bờ biển, có ba cửa biển là: Cửa Cờn, Cửa Quèn, CửaThơi Với ba cửa biển trên, vùng Quỳnh Lu còn có nhiều phù du sinh vật vànhiều thức ăn từ đất liền sông Mai Giang, kênh Nhà Lê và sông Thai đổ ra tạonên một ng trờng, hàng năm có thể khai thác hàng trăm tấn hải sản Không chỉ

13 xã ven biển làm nghề biển mà bên cạnh đó, c dân một số xã khác ở ven biểncũng làm nghề đánh bắt cá, có nơi vừa làm ruộng vừa làm nghề truyền thống nhlàm muối, chế biến hải sản

Nghề đánh cá là nghề vất vả nhất của c dân vùng này Đây là một nghềphải thờng xuyên đối mặt với thiên tai, sinh mệnh của ng dân vô cùng bấp bênh.Nghề đánh cá biển thờng làm cho họ chỉ biết nay mà không biết mai Nhiều khi

họ chèo thuyền ra sóng to gió dữ, lòng nặng trĩu lo âu:

“Không đi vợ đói con xanh

Đi thì vất vả thân anh thế này”

Đánh đợc con cá thì phải dùng muối để ớp cá, cá đợc chế biến sản xuấtthành nớc mắm, làm nghề nớc mắm ở đây cũng tơng tự nh Vạn Phần Thế là từlâu đời c dân đánh cá cũng là c dân làm thêm nghề muối, nớc mắm

Cũng nh đánh cá, nghề làm muối cũng không kém phần vất vả, chúng tabiết rằng, nghề muối ở đây đã có từ lâu đời Trớc đây với công cụ rất thô sơ vàcách làm đơn giản nhng sau này ngời ta đã tạo ra những công cụ làm muối, vàbiết lợi dụng ánh nắng mặt trời Những làng làm muối đều là những làng gầnbiển để lấy nớc mặn từ biển, trải qua nhiều công đoạn vất vả ngời ta mới tạo ra đ-

ợc những hạt muối mặn mòi

Có thể nói, nghề cá, nghề làm muối và nghề làm nớc mắm, ba nghề này cómối quan hệ chặt chẽ không tách rời, gắn bó với nhau, tuy ba mà một Tuy nhiên,mỗi nghề có mỗi đặc điểm khác nhau về công cụ, quá trình hoạt động và sảnphẩm đợc tạo ra Tiến hành khảo sát vốn từ chỉ nghề biển của c dân biển huyệnQuỳnh Lu, chúng tôi mong muốn góp một phần bé nhỏ của mình vào việc gìn giữnhững giá trị mà cha ông để lại, nơi mảnh đất mà không mấy đợc thiên nhiên u

Trang 24

tính truyền thống lâu đời nhất, vì thế nó góp phần làm giàu cho quê hơng,cho đấtnớc Dới đây là kết quả bớc đầu về vốn từ vựng chỉ nghề của c dân vùng biểnhuyện Quỳnh Lu:

- Về nghề cá:

+ Tổng số từ ngữ mà chúng tôi điều tra, thống kê đợc là 536 đơn vị

+ Trong đó từ chỉ công cụ, phơng tiện là 190 từ (chiếm 35,45%);

+ Từ chỉ quy trình, hoạt động đánh bắt là 39 từ (chiếm 7,28%);

+ Trong đó từ chỉ công cụ là 51 từ (chiếm 38,35%);

+ Từ chỉ quy trình sản xuất là 52 từ (chiếm 39,09%);

+ Từ chỉ sản phẩm là 30 từ (chiếm 22,56%)

Nhìn chung, tổng số từ điều tra của ba nghề thu đợc là khác nhau và cũngcha nhiều nh trên thực tế Chẳng hạn, các loài cá ở trong lòng biển thì ta khôngthể nào biết hết đợc tên gọi Tuy nhiên, số lợng từ ngữ mà chúng tôi điều tra đợc

là tên gọi chỉ các loại cá phổ biến

Qua thống kê ta thấy rằng, số từ chỉ tên các phơng tiện, công cụ đánh bắt,các quá trình, hiện tợng liên quan có số lợng không nhiều Tuy nhiên, đối tợng

mà chúng tôi đã phản ánh ở đây là đối tợng có tính chất truyền thống Bên cạnhcái truyền thống, chúng tôi cũng đề cập đến tính chất hiện đại của nghề

Tìm hiểu, nghiên cứu vốn từ vựng của c dân vùng biển huyện Quỳnh Lugiúp chúng ta tìm hiểu thêm vốn từ của phơng ngữ, đồng thời hiểu thêm vốnngôn ngữ toàn dân và hiểu thêm đặc trng tâm lí, bản sắc văn hóa của ngời Việt

Qua khảo sát, thông kê ta thấy kho từ vựng về nghề làm muối và nghề làm

nớc mắm là không nhiều (nghề nớc mắm 133 từ (chiếm 17,80); Nghề làm muối

78 từ (chiếm 10,44%); Nghề cá 536 từ (chiếm 71,76%)) trên tổng số từ của ba

nghề Nh vậy, qua đó ta thấy, vốn từ vựng của nghề cá là nhiều hơn so với nghềlàm muối và nớc mắm Chính vốn từ vựng này là công cụ giao tiếp thờng xuyên

Trang 25

của c dân làm nghề biển đã góp phần làm cho phơng ngữ Nghệ Tĩnh nói riêngngôn ngữ Việt thêm phong phú, đa dạng Lớp từ vựng này nh là một lẽ tất yếu đã

đợc bổ sung qua năm tháng làm cho vốn từ tiếng Việt văn hóa ngày càng giàu có,bởi đó là những nghề chính của đại bộ phận nhân dân ta Vì thế, qua tên gọi công

cụ, quá trình hoạt động sản xuất và tạo ra sản phẩm cũng biểu hiện nét đặc trngcủa vùng này

Qua thực tế điều tra, thống kê với số lợng từ thu đợc là cha thật đầy đủ,

nh-ng ở luận văn này tạm thời dừnh-ng lại ở con số thốnh-ng kê đợc là:

- Về nghề cá: Tổng số từ là 536 từ trong đó từ chỉ các công cụ, ph ơng tiện

là 190 từ (chiếm 35,45%); Từ chỉ quy trình hoạt động là 39 từ (chiếm 7,28%); Từ chỉ sản phẩm đánh bắt đợc là 307 từ (chiếm 57,27%).

- Nghề lam muối: Tổng số điều tra đợc là 78 từ trong đó từ chỉ công cụ là

39 từ (chiếm 50%); Từ chỉ quy trình hoạt động 26 từ (chiếm 33,33%); Từ chỉ sản phẩm 13 từ (chiếm 16,67%).

- Nghề làm nớc mắm: Tổng số điều tra đợc là 133 từ, trong đó từ chỉ công

cụ là 51 từ (chiếm 38,35%); Từ chỉ quy trình sản xuất là 52 từ (chiếm 39,09%);

Từ chỉ sản phẩm là 30 từ (chiếm 22,56%).

Căn cứ theo nội dung phản ánh hiện thực mà từ chỉ nghề đã phản ánh,chúng tôi đã phân chia vốn từ cụ thể nh trên Từ chỉ nghề của c dân vùng biểnhuyện Quỳnh Lu tập trung phản ánh một số phạm vi hiện thực chủ yếu nh vềcông cụ, phơng tiện, sản xuất, sản phẩm, các qúa trình hiện tợng có liên quantrong các đối tợng đó mà chúng ta đã xét

Nh vậy, có thể thấy ràng, từ chỉ nghề có nội dung phản ánh rất hẹp vàchiếm số lợng không nhiều Tuy vậy, nhng có một lợi thế rất hiển nhiên mà ngờilàm bất cứ nghề nào cũng thấy đợc, đó là, số lợng từ ngữ toàn dân mà mỗi ngờithờng dùng hằng ngày là rất nhiều vì nó có sẵn và quen dùng một cách tự nhiênvới cộng đồng Ngời làm nghề nào cũng khai thai lợi thế này một cách tự nhiên,ngoài ra ngời làm nghề còn dùng những từ mà cha ông ta đã lu truyền lại trongnghề riêng của mình và dựa trên đó để tạo ra một lớp từ mới, trong trờng hợp mà

sự vật, hoạt động đó cha có từ sẵn trong vốn từ toàn dân và cha có sự tơng ứng vềngữ âm và ngữ nghĩa Mặc dù nội dung phản ánh là rất hẹp và số lợng từ khôngnhiều, nhng ta vẫn thấy đợc tính đa dạng, phong phú của từ chỉ nghề Hay nóicách khác, các nội dung, các mảng hiện thực mà từ chỉ nghề phản ánh là những

Trang 26

sự vật, quá trình, hoạt động liên quan và gắn bó trực tiếp với nghề nghiệp mà từphản ánh Hầu nh không có từ chỉ thái độ tình cảm nên tính chất định danh củaloại từ chỉ nghề mang đặc điểm riêng rất rõ

Ví dụ: cũng nói tới một loại cá là “cá chim” nhng có nhiều tên gọi khác nhau

nh cá chim trắng, cá chim đục Hay cùng nói về một loài “còng” nhng cũng có nhiều tên gọi khác nhau nh còng đen và còng dầm Gọi là còng đen vì dựa vào

đặc điểm bên ngoài thân con còng có màu đen; Còn gọi là còng dầm Tuyvốn từ chỉ nghề ở đây có số lợng không nhiều và có nội dung phản ánh hẹp Songchúng ta cũng biết đây là những nghề truyền thống đã có từ lâu đời và có vai tròquan trọng trong đời sống c dân vùng biển mà không chỉ đem đến giá trị kinh tế,

nó còn mang đến giá trị tinh thần rất cao Vốn từ này theo thơi gian nó đợc bồi

đắp thêm và ngày càng làm cho vốn từ tiếng Việt thêm phong phú

2.3 Vốn từ chỉ nghề của c dân biển huyện Quỳnh Lu - xét về cấu tạo

Kết quả khảo sát, bớc đầu chúng tôi thu thập đợc vốn từ chỉ nghề biển của

c dân biển huyện Quỳnh Lu về mặt số lợng từ ngữ của ba nghề nh sau:

nghề đánh cá Đó có thể là tên gọi các công cụ nh: Thuyền, tàu, bè, thúng, sào,

vợt hoặc các hoạt động thiết yếu với đời sống nghề chài lới nh: Đánh, bắt, chèo các từ đơn này có mặt hầu hết ở các nội dung phản ánh hiện thực

Trang 27

Tóm lại, số lợng từ đơn trong vốn từ vựng của nghề đánh bắt cá là khôngnhiều, nhng nó đợc sử dụng một cách rộng rãi và quen thuộc với c dân làm nghề

đánh cá Do vậy, những từ đơn ấy có từ đã trở thành từ toàn dân, có từ trở thành

từ phơng ngữ

Từ đơn chỉ nghề làm nớc mắm, qua khảo sát, thống kê chúng tôi thu đợc

có số lợng là 27 từ (chiếm 34,62%) trong tổng số là 78 từ Nh vậy, cũng giống

nh từ đơn chỉ nghề đánh cá, số lợng từ đơn và tỉ lệ giữa nó so với từ ghép ít hơn.Song so với từ chỉ nghề đánh cá thì tỉ lệ từ đơn nghề là nớc mắm so với nghề

đánh cá cao hơn 3 lần (34% so với 10,82%) Phần lớn từ đơn chỉ nghề làm nớc

mắm là những từ chỉ công cụ làm nớc mắm nh: Thùng, thảng, đá, vỉ, nõ kế đến

là các từ chỉ thao tác làm nớc mắm nh: Chụi, trộn, muối, đánh, ớp, chợp Nhng

nếu xét về mức độ phạm vi sử dụng thì các từ chỉ nghề nớc mắm thờng đợc dùnghẹp hơn so với từ chỉ nghề đánh cá Vì vậy phần lớn các từ đơn chỉ nghề nớcmắm, phải là những ngời làm trong nghề thì mới hiểu đợc còn với ngời ngoàinghề cha chắc đã hiểu vì nghề nớc mắm có ít ngời tham gia, tính chất làng nghềkhá rõ, thờng nghề là nghề trong từng làng nghề nhỏ hoặc có tính đơn lẻ tự pháttrong từng hộ gia đình Cho nên từ của nghề này phần lớn là những từ mà chỉ ng-

ời làm nghề mới hiểu và quen dùng

Tồn tại song song giữa hai nghề nớc mắm và nghề đánh cá là nghề làm

muối (hay ngời ta gọi là nghề làm nại) Nếu so sánh từ ngữ với hai nghề kia thì

số lợng từ đơn của nghề này cũng không nhiều, chỉ có 27 từ (chiếm 34,62%, tỷ lệ

tơng đơng với từ đơn chỉ nghề nớc mắm) Tuy số số lợng rất ít, nhng có một điểmchung của từ đơn ở ba nghề này là ở chỗ, tuy số lợng ít nhngaso với từ ghép cùngchỉ nghề đánh cá, là nớc mắm, muối thì từ đơn đợc dùng rộng rãi và quen thuộcvới c dân trong vùng hơn, không chỉ ở một làng xã nào đó mà nó có thể thởthành từ dùng khá phổ biến rộng rãi trong phơng ngữ

Kết quả khảo sát thống kê về cấu tạo từ ghỉ nghề đánh cá, làm nớc mắm,muối của c dân huyện Quỳnh Lu đợc thể hiện qua bảng 2.1

Trang 28

Khác với từ đơn, từ ghép của c dân biển đều chiếm số lợng khá lớn và chiếm

tỉ lệ cao hơn so với từ đơn ở cả ba nghề Nhng có điều đặc biệt, số lợng từ ghéphợp nghĩa (từ ghép đẳng lập) chiếm tỉ lệ rất thấp, thấp hơn rất nhiều lần so với từghép phân nghĩa (ghép chính phụ) Nói cách khác, từ ghép chỉ nghề biển của cdân huyện Quỳnh Lu tuyệt đại bộ phận là từ ghép phân nghĩa Cụ thể nh sau:

mà chúng tôi thu thập đợc chiếm phần lớn trong tổng số từ chỉ nghề Số lợng từghép phân nghĩa cụ thể nh sau:

- Nghề đánh cá: Tổng số từ ghép phân nghĩa thu đợc là 474 từ (chiếm

Trang 29

Tên nghề Tổng

số từ ghép

Từ ghép hợp nghĩa

Từ ghép phân nghĩa

Từ ghép hợp nghĩa

Từ ghépphân nghĩa

là nghề nớc mắm (90,62 %) Trong lớp từ ghép phân nghĩa có những từ không

phải là những từ ghép quen thuộc với mọi ngời nh: Bên đốc, bên lái, vây lụ

(nghề cá); diệu giát, tát ô, bàn diệu, cồn ô, nớc khắt, (nghề muối); lào cá, mắm nêm, mắm lơi, mắm ỉnh, mái lụp (nghề làm nớc mắm)

Nh vậy, có thể nói từ chỉ nghề biển, loại từ có cấu tạo theo kiểu ghép hợpnghĩa có nội dung khái quát đợc dùng rấ ít Cấu tạo từ chỉ nghề biển chủ yếu làtheo hớng tạo từ ghép phân nghĩa Đây là một trong những đặc điểm riêng nổi bậtkhác với các lớp từ toàn dân Khuynh hớng chủ đạo trong cấu tạo ngữ nghĩa làchú trọng cấu tạo các từ có nghĩa biệt loại, cá thể, cụ thể hóa Vai trò tạo nên ngữnghĩa cụ thể chính là do yếu tố phụ và đây cũng là yếu tố thể hiện cách nhìnnhận, cách phân chia phản ánh hiện thực của chủ nhân sáng tạo và sử dụng ngônngữ Nh vậy, về nghĩa, từ chỉ nghề mang tính biệt loại, tính cụ thể chính là do sốlợng từ ghép phân nghĩa chiếm số lợng lớn, do vai trò của lớp từ này trong biểunghĩa Chỉ riêng để định danh công cụ “lới” xét về từ ghép phân nghĩa đã có

những trờng hợp sau: lới rê (yếu tố phụ chỉ phơng thức đánh bắt phải di chuyển chân lới đều đều và chậm), lới m ực (chuyên dùng để đánh mực), lới cao giả (có

nhiều tấm lới chồng vào nhau) Cũng tơng tự nh vậy, để chỉ công cụ đánh bắt là

giã, có các từ ghép chính phụ: giã ruốc (trong đó giã là yếu tố chính, ruốc là yếu

tố phụ, do lới chuyên dùng để đánh ruốc (tép biển) nên gọi là lới ruốc), giã ốc

(l-ới chuyên dùng để đánh ốc), giã cào (l(l-ới chuyên dùng để đánh các loại cá nhỏ, cá

ở đáy, phơng thức đánh bắt là kéo lới nhanh bằng thuyền, giống nh cào, quét)

Theo quan điểm của Giáo S Hồ Lê và các nhà nghiên cứu về cấu tạo từtiếng Việt thì cấu trúc từ ghép chính phụ trong tiếng Việt có rất nhiều kiểu nh:Danh từ + danh từ; danh từ + động từ; danh từ + tính từ; động từ + danh từ; động

Trang 30

từ + động từ; tính từ + danh từ Qua điều tra và đối chiếu, những kiểu ghép trên,chúng tôi thấy hầu hết những từ ghép trong vốn từ chỉ nghề của c dân vùng biển

mà chúng tôi điều tra đợc là những từ ghép chính phụ (ghép phân nghĩa) có kếtcấu dạng: Danh từ + danh từ và danh từ + tính từ trong hai dạng đó thì dạng

“danh từ + tính từ” là rất phổ biến

Ví dụ: - Từ ghép danh + danh

+ Nghề đánh cá: Cá + voi  cá voi (do đặc điểm cá to lớn giống con voi nêngọi là cá voi)

Ngao + mèo  ngao mèo (do vỏ ngao có màu xanh nh mắt củacon mèo nên gọi là ngao mèo)

Ngao + đất  ngao đất (do giống ngao này chuyên sống trong

lòng đất nên gọi là ngao đất)

Tàu + gỗ  tàu gỗ (do tàu đợc đóng bằng gỗ nên gọi là tàu gỗ) + Nghề làm nớc mắm: Vải + màn  vải màn (do đợc cắt ra từ tấm vải màn để

đậy nớc mắm nên gọi là vải màn)

+ Nghề làm muối: Cái + thêu  (yếu tố phụ chỉ lỡi, hình dạng giống lỡi xẻngnhng nhỏ hơn)

Cái + bầu  Cái bầu (Do đợc làm từ quả bầu khô dùng để múc

nớc nên gọi là cái bầu)

- Từ ghép danh + tính (số lợng rất nhiều)

Còng + đen  Còng đen (do đặc điểm mai có màu đen nên gọi

là còng đen)

Mực + đại  Mực đại (là loại mực lớn nhất khi phơi khô) Ghẹ + xanh  Ghẹ xanh (dựa vào đặc điểm ghẹ có mai màu

xanh nên gọi là ghẹ xanh)

Muối + chát  Muối chát (định danh dựa vào vị của muối có vị

chát nên gọi là muối chát)

Ruốc + hôi  Ruốc hôi (định danh dựa vào đặc trng của ruốc có

mùi hôi (nặng mùi nhng không phải ruốc hỏng)

Ruốc + ỉnh  Ruốc ỉnh (dựa vào đặc điểm mùi của ruốc chỉ

ruốc đã bị hỏng)

Ruốc + chua  Ruốc chua (có mùi vị đặc trng là chua nên gọi là

ruốc chua)

Trang 31

Bên cạnh loại từ có cấu tạo theo cấu trúc nh trên, chiếm số lợng khá phổbiến thì ở nghề làm muối và làm nớc mắm, mô hình “động từ + danh từ” lạinhiều hơn cả.

Ví dụ: Trang đất, xúc đất, bới giát (nghề làm muối)

Đánh mắm, dằn đá, rút nõ (nghề làm nớc mắm)

Trong những từ ghép chính phụ vừa nói ở trên thì thành phần phụ, nghĩacủa chúng còn có lí do, nhng có loại nghĩa của các yếu tố phụ không còn có lí do

về mặt ngữ nghĩa (từ ghép võ đoán) Loại từ ghép mà về tên gọi, nghĩa ít nhiều có

thể giải thích đợc lí do từ gọi tên chiếm số lợng lớn Ví dụ: Cá thu trắng (là cá thu có da lng màu trắng, thịt nhão hơn cá thu đen), cá cựng thụt (thịt nhão, da trơn có hoa màu xám đen, khi sờ vào thân nó giật mạnh), cá lá dứa (thân hình mỏng giống lá dứa), cá cu cam (cá có da màu vàng giống màu vỏ cam chín), cá

cháo (thịt trắng nhão, xơng mềm, nấu lên thịt mềm nh cháo), bầu dịêu n ớc (dùng

- Loại có 4 âm tiết:

+ Nghề đánh cá: Có 17 từ, chiếm 3,59% vốn từ ghép chính phụ

trong vốn từ chỉ nghề của huyện Quỳnh Lu Ví dụ: Cá chai kắc kè, cá lão dao

cầu, cá ve năn nỉ, cá thửng dày vảy

+ Nghề làm muối: Không có từ ghép nào có 4 âm tiết

Trang 32

+ Nghề muối: Có 10 từ, chiếm 20% trong vốn từ chỉ nghề muối.

Ví dụ: Kho trữ muối, ô phơi muối, bầu vỡi nớc

đặc điểm của đối tợng đợc thể hiện Ví dụ: Cá + nóc + hoa (định danh dựa vào

đặc điểm ngoại hình của cá có hoa), cá trỏng cơm (định danh dựa vào đặc điểm hình dáng nhỏ của cá), cá trích bầu (định danh dựa vào đặc điểm hình dáng bụng

to, bầu) Yếu tố hạn định đứng sau danh từ có nghĩa chuyên chỉ đặc điểm thuộctính của loại, có tác dụng hạn định nghĩa, phân biệt nghĩa một cách cụ thể để

định danh một cách rõ ràng tên gọi của các đối tợng đợc đề cập Không gọi tênmột cách chung chung, có đợc nghĩa biệt loại chính là nhờ giá trị thông báo cao,vai vai trò tạo nên nghĩa cụ thể của yếu tố mà ngữ pháp truyền thống hay gọi làyếu tố “phụ” Và khi nhìn vào yếu tố này ta sẽ phân biệt đợc một cách rạch ròicác đối tợng Qua cách gọi tên nh vậy ta cũng thấy đợc phần nào cách phản ánhhiện thực bằng tên gọi của chủ nhân sáng tạo và chủ nhân sử dụng ngôn ngữ Vídụ: Trong từ ghép chính phụ, riêng từ chỉ công cụ chúng tôi thấy có những loại từghép gọi tên đối tợng theo đặc trng phản ánh sau:

- Kiểu từ ghép chính phụ gọi tên công cụ theo chất liệu: Lới cớc, lới dù, lới

nilon (Phần giải thích xin xem phụ lục).

- Kiểu từ ghép chính phụ gọi tên công cụ theo tính chất hoạt động: Lới rê,

lới rùng, lới keo, lới rút, lới vó

- Kiểu từ ghép chính phụ gọi tên công cụ theo tính chất đối tợng đợc đánh

bắt: Lới ghẹ, lới gúng, lời cháo, lơí mực

Từ chỉ nghề của c dân biển huyện Quỳnh Lu, nếu xét các từ ghép về cấutạo theo tính chất ngữ nghĩa và nguồn gốc của các yếu tố cấu tạo, chúng tôi thấy,

đối với từ ghép phân nghĩa có các kiểu kết hợp sau:

Trang 33

Nếu gọi A là yếu tố có nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân, B là yếu tố phơng ngữ

ta có các kiểu kết hợp tạo từ nh sau:

Công thức 1: A+ B  A.B

Ví dụ: Cá + cu  cá cu (nghề đánh cá)

Mắm + đâm  mắm đâm (nghề làm nớc mắm)

Xe + cu kít  xe cu kít (nghề làm muối) Công thức 2: B+A  B.A (B là yếu tố phơng ngữ, a là yếu tố toàn dân)

Ví dụ: Ruốc + hôi  ruốc hôi

Ruốc + chua  ruốc chuaCông thức 3: A + A  A.A

Đây là những từ mà cả hai yếu tố đều đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân,nhng A.A với t cách là từ thì chỉ thấy trong phơng ngữ

Ví dụ: Mực + sim  mực sim

Mực + lá  mực lá

Chèo + lái  chèo lái

Công thức 4: B + B  B.B (cả hai yếu tố có tính chất phơng ngữ)

Ví dụ: Giã + ruốc  giã ruốc

Nạo + mói  nạo mói Rong + bờ  rong bờ

Chúng ta biết rằng, ngôn ngữ về bản chất cấu tạo là mang tính võ đoán,

nh-ng mức độ võ đoán khônh-ng nh nha Thờnh-ng loại từ láy manh-ng tính võ đoán thấp nhất,vì đây là lớp từ phần lớn là mô phỏng Song qua khảo sát thực tế và phân loạichúng tôi thấy số lợng từ ghép hợp nghĩa là rất ít Đặc biệt những từ chỉ nghề của

c dân vùng biển là không có từ láy (chỉ có yếu tố phụ là láy) mà chỉ có từ ghép,

có yếu tố phụ là láy nh: Cá trác trác, cá rù rì, cá lão lão

Lí do chính của đặc điểm này là từ chỉ nghề, là loại từ trực tiếp phục vụcho công việc sản xuất, nên tính cụ thể, xác thực trong ngôn ngữ là một yêu cầu utiên của việc đặt tên gọi và đặc điểm công việc sản xuất, vốn yêu cầu tên gọimang tính cụ thể rạch ròi cao Nên khác với các loại từ trong ngôn ngữ toàn dân,lớp từ phân nghĩa của c dân nghề biển có số lợng cao nhất Một điều không thể

bỏ sót khi khảo sát đặc điểm vốn từ nghề nghiệp là phải đối chiếu kết quả thu đợc

từ khảo sát theo ngành nghề đó với vốn từ trong các cuốn từ điển tiếng Việt phổthông Đối chiếu từ thu thập đợc với từ trong cuốn từ điển tiếng Việt, kết quả cho

Trang 34

thấy: Cùng là loại từ phản ánh nghề nghiệp, xét tên gọi theo phạm vi phản ánhnào, ta cũng thấy số lợng từ đợc dùng trong đời sống thực tế của phơng ngữ làkhá phong phú, tuy nhiên, số lợng từ nghề nghiệp điều tra thu thập đợc phản ánhvào từ điển phơng ngữ là không nhiều (khi chúng tôi thu hẹp diện điều tra khảosát chỉ trong một huyện nhỏ) Điều đó cho thấy, hoạt động giao tiếp hằng ngàydiễn ra trong thực tế vô cùng đa dạng trong khi đó vốn từ thu thập đợc trong từ

điển chỉ phản ánh đợc bộ phận từ vựng dùng phổ biến trong xã hội Vì thế, bộphận từ vựng nghề nghiệp có mặt trong từ điển chiếm một tỉ lệ không lớn Và đểthấy đợc bức tranh ngôn ngữ xã hội phong phú, đa dạng, đa màu sắc cần phải cóthêm các cuốn từ điển phơng ngữ, từ điển nghề nghiệp Qua quá trình điều tra, cómột điều chúng tôi khẳng định đợc là những cách gọi, cách định danh của từ chỉnghề nghiệp là sự phản ánh hiện thực và cuộc sống mang đậm dấu ấn chủ quancủa con ngời khi sử dụng ngôn ngữ Đó là quá trình đúc rút kinh nghiệm tronglao động sản xuất của c dân vùng chài lời, là những thói quen, nếp nghĩ, bản sắc

t duy văn hóa Những nét dị biệt của những từ nghề nghiệp so với ngôn ngữ toàndân khẳng định thêm sự phong phú của vốn từ tiếng Việt

2.4 Nguồn gốc, thành phần các loại từ chỉ nghề biển của c dân vùng biển huyện Quỳnh Lu

Do nhu cầu kĩ thuật sản xuất ngày ngày càng cao và đời sống xã hội ngàycàng phát triển, do vậy, từ ngữ chỉ nghề cũng thay đổi theo Chính vì thế khi khảosát nghiên cứu nguồn gốc của từ chỉ nghề là một điều không mấy dễ dàng Mặc

dù vẫn biết bất cứ môt sự vật hiện tợng nào trong đời sống xã hội cũng có nguồngốc riêng của nó tìm hiểu nguồn gốc của từ chỉ nghề ở một địa phơng là một

điều tuy khó nhng cần thiết Nghiên cứu nguồn gốc của từ ngữ để thấy đợc mốiquan hệ qua lại giữa ngôn ngữ (cụ thể là từ ngữ nghề nghiệp) với xã hội Tìmhiểu vốn từ chỉ nghề ở đây, chúng tôi cho rằng đại đa số các từ ngữ đều ra đời từlúc khởi nguyên của nghề Trong quá trình vận động, từ chỉ nghề cũng đợc bồi

đắp theo thời gian Nhng trong quá trình đó chúng tôi thấy từ chỉ nghề có hai xuhớng sau đây xảy ra:

- Thứ nhất: Xu hớng xuất hiện thêm một số từ ngữ mới bổ sung vào vốn từ

có sẵn của nghề Sở dĩ xuất hiện xu hớng này bởi nhu cầu của xã hội, nhu cầutiêu dùng, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mở rộng kinh tế Nên tên gọi do

đó mà đa dạng hơn

Trang 35

- Xu hớng triệt tiêu hóa một số từ ngữ Cơ sở của xu hớng này là do sự pháttriển, nhận thức của xã hội và sự phát triển khoa học kỹ thuật Xu hớng nàykhông phổ biến trong các nghề của c dân biển huyện Quỳnh Lu Bởi vì, các nghề

mà chúng tôi đi khảo sát là những nghề mang tính chất truyền thống Do vậy, cáctên gọi phần nào giữ nguyên tính chất truyền thống ấy Đồng thời, do sự tiếp cậnvới khoa học công nghệ còn ít nên các nghề truyền thống này vẫn cha phát triểntheo hớng chuyên nghiệp và hiện đại mà vẫn còn thủ công Các công cụ phần lớnvẫn còn là thô sơ và làm bằng sức lao động của con ngời Vì thế các từ chỉ nghềthủ công truyền thống vẫn tồn tại

Nhìn chung, các từ chỉ nghề biển ở huyện Quỳnh Lu mà chúng tôi điều tra,

cụ thể là ở ba nghề (đánh cá, làm muối, làm nớc mắm) đều tồn tại bền vững quathời gian Nghĩa là, từ khi ra đời ngời ta gọi nh thế nào thì đến nay vẫn đợc gọi

nh thế Xét về nguồn gốc thành phần cấu tạo của các từ chỉ nghề trong huyệnQuỳnh Lu, chúng tôi nhận thấy từ chỉ nghề có thành phần cấu tạo rất đa dạng

2.4.1 Từ chỉ nghề đợc dùng rộng rãi trở thành từ trong ngôn ngữ toàn dân

Những từ chỉ nghề đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân có phạm vi sử dụngrất lớn Những từ chỉ nghề (cụ thể là: Từ chỉ nghề đánh cá, làm muối, làm nớcmắm) đợc sử dụng rộng rãi, dần trở thành từ thuộc vốn từ ngôn ngữ toàn dân đãgóp phần không nhỏ vào việc bổ sung làm phong phú vốn từ toàn dân Bức tranhxã hội về mặt ngôn ngữ vì thế cũng trở nên sinh động và rõ nét hơn

Cũng nh từ chỉ nghề trong nghề trồng lúa của phơng ngữ Nghệ Tĩnh, một

số lợng từ đáng kể đang đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân, trong lao động sảnxuất, thì từ chỉ nghề của c dân biển huyện Quỳnh Lu cũng vậy nó có một số lợng

từ đang đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân và trong lao động sản xuất, thì ngờilàm nghề này cũng thờng xuyên sử dụng

Một số từ đợc dùng trong ngôn ngữ toàn dân nh: Cá cơm, cá thu, cá chim,

nớc mắm cốt, muối tinh Đây là những từ chỉ nghề nghiệp đã gia nhập, bổ sung

vào vốn từ toàn dân Do đặc điểm của các nghề này là một nghề truyền thống của

c dân Việt, hơn nữa nghề cá cũng là nghề chính của c dân Suốt một dải bờ biểndài 3260km, nghề đánh cá của c dân biển có khắp nơi, từ Mómg Cái tận Cà Mau,vì vậy, phạm vi giao thoa, đan xen của từ nghề nghiệp với từ toàn dân là không

Trang 36

nhỏ (tuy nghề làm nớc mắm và làm muối sự giao thoa có phần hạn chế hơn sovới từ nghề nông).

Nguồn gốc của những từ vừa là từ chỉ nghề dùng trong những ngời làmnghề, vừa là từ dùng trong ngôn ngữ toàn dân đợc hiểu nh sau: Đời sống xã hộingày càng phát triển, nhu cầu có một vốn từ tơng ứng với bức tranh xã hội trởthành nhu cầu thờng xuyên Có nh vậy, con ngời mới có thể hòa nhập vào cuộcsống mà không bị tụt hậu về ngôn ngữ Vốn từ nghề nghiệp cũng nh thuật ngữhay phơng ngữ đã “toàn dân hóa” Theo cách này từ khi gia nhập vào vốn từ toàndân, ban đầu có nhiều khó khăn trở ngại nhng do cuộc sống cùng với thời giannhững từ chỉ nghề đợc sử dụng rộng rãi và trở thành toàn dân nh thế Phần khác,

do các nghề này có tính chất truyền thống lâu đời của ngời Việt, nhng có một

điều cần lu ý, nếu nghề đánh cá có thể là một nghề không độc quyền vì bất cứnghề nào dù làm nông hay làm lâm thì ngời ta cũng có thể đánh bắt cá Thế nh-

ng, không phải c dân nào cũng có thể làm muối, làm nớc mắm Ta có thể xemnghề làm muối, nớc mắm nh là hai nghề có tính chất độc quyền của c dân vùngbiển, nhng nếu nh vậy thì tính toàn dân của hai nghề này có phần hạn chế hơnnghề đánh cá Do vậy, nghề đánh cá có số lợng c dân làm nghề đông địa bà sinhsống và hành nghề rộn nên mật độ sử dụng từ của nghề cao, thờng xuyên dẫn đến

sự gia nhập của từ chỉ nghề cá vào vốn từ toàn dân trở nên dễ dàng hơn (giốngvới sự gia nhập từ chỉ nghề trồng lúa)

2.4.2 Từ nghề biển có nguồn gốc từ từ vay mợn

Khoa học kĩ thuật phát triển dẫn đến sự giao lu văn hóa giữa các quốc gia

với nhau, vì vậy, sự gia nhập một số đơn vị từ ngữ nớc ngoài vào hệ thống từ bản

địa rất dễ dàng Sự xuất hiện của từ ngữ ngoại lai trong ngôn ngữ dân tộc, cũnggóp phần tăng khả năng diễn đạt của tiếng Việt trên mọi lĩnh vực Đặc biệt, trongthời hội nhập, chúng ta thấy Việt Nam tăng cờng mối quan hệ với các quốc giatrên thế giới, học hỏi khoa học kĩ thuật của các nớc nên hệ thống thuật ngữ khoahọc đợc gia nhập nhiều Riêng đối với từ nghề nghiệp, từ ngữ nớc ngoài xâmnhập vào ngày càng có xu hớng nhiều hơn

Ví dụ: Nghề mộc có từ giờng mô đéc, ghế sô pha

Trong vốn từ chỉ nghề mà chúng tôi đang điều tra, thì số lợng từ vay mợn

từ từ tiếng nớc ngoài là không nhiều, chỉ có một ít từ chỉ nghề đánh cá Nghề làmmuối và sản xuất nớc mắm không có từ nào là từ vay mợn Điều đó cũng dễ hiểu

Trang 37

vì hai nghề này là nghề cổ truyền còn mang tính thủ công, truyền thống rất cao.

Do vậy, chúng tôi chỉ nêu lên kết quả tiến hành khảo sát đợc từ ngữ ở nghề đánhcá Theo nh kết quả khảo sát của chúng tôi thì trong vốn từ chỉ nghề đánh cá có

11/ 536 từ có yếu tố vay mợn, nh: vô lăng, máy diezel, máy cole Nh vậy, từ vay

mợn chỉ chiếm 2,05%, một tỉ lệ rất nhỏ so với từ bản địa Tuy nhiên, đây chaphải là con số đầy đủ nh trên thực tế đã phản ánh Để có một kết quả chuẩn xácphải có công trình nghiên cứu thật sâu, thật quy mô đối với mảng đề tài này

Sở dĩ ở nghề cá có các từ ngoại lai là vì trong quá trình phát triển của nghề

có nhiều công cụ, sản phẩm mới ra đời cần đợc gọi tên mà trong nghề đánh bắtcá chúng ta lại cần rất nhiều các phơng tiện công cụ, trang thiết bị hoạt động mới

để nâng cao năng suất đánh bắt cá Trong khi ở nớc ta điều kiện các trang thiết bịhoạt động cha nhiều và cha hiện đại nên khi trong nghề có sử dụng những công

cụ có nguồn gốc sản xuất ở nớc ngoài thì đi kèm với nó từ nghề nghiệp cũng đợcmợn theo Do những sản phẩm phải nhập từ nớc ngoài về mà chúng ta cha có têngọi cho những sản phẩm đó vì vậy, ta dễ dàng vay mợn vốn từ nớc ngoài chỉ

những sản phẩm đó Ví dụ: Vô lăng, máy diezel Bởi những từ du nhập từ nớc

ngoài nếu đối chiếu trong tiếng Việt khó có từ tơng ứng, nên việc vay mợn từ nơcngoài có xu hớng sẽ gia tăng Do vậy, việc vay mợn từ để diễn đạt là điều dễhiểu

2.4.3 Từ chỉ nghề đợc dùng trong phơng ngữ

Trong vốn từ chỉ nghề (nghề cá, nghề làm muối, nghề làm nớc mắm), đặcbiệt là nghề cá có một số lợng từ trở thành từ phơng ngữ, đây là một số lợngkhông nhỏ Huyện Quỳnh Lu cũng nh các địa bàn khác của xứ Nghệ, có những

từ đợc dùng ở địa bàn c dân Nghệ Tĩnh mà những từ này có những nét khác biệt

so với ngôn ngữ toàn dân, nó mang sắc thái của vùng phơng ngữ Nghệ Tĩnh Ví

dụ: Nghề làm muối (hay gọi là nghề làm nại) có các từ phơng ngữ nh nớc rặc (thủy triều triều xuống), cạo, chế, mói, Từ chỉ nghề đã mợn những từ này trong

phơng ngữ, hay nói đúng hơn đó là những từ nghề nghiệp đã gia nhập vào vốn từphơng ngữ Từ chỉ nghề, đặc biệt là từ chỉ nghề cá, do phạm vi sử dụng ngàycàng mở rộng nên ngời ngoài nghề ở Nghệ Tĩnh đều hiểu và sử dụng, trải quathời gian nó trở thành từ trong vốn từ phơng ngữ

Sự vật hiện tợng đợc phản ánh vào ngôn ngữ bằng nhiều phơng thức khácnhau Mức độ, kết quả, phạm vi chia cắt hiện thực hoàn toàn không giống nhau ở

Trang 38

các phơng ngữ cũng nh các c dân vùng biển ở những phơng ngữ khác nhau, tùytừng sự vật, hiện tợng, hình thái cụ thể mà các phơng ngữ lại sử dụng phơng tiện

từ vựng và chọn lựa các đặc trng chính của các sự vật khác nhau để gọi tên Vìthế, mà tạo thành những nét riêng nếu xét trên góc độ định danh Đồng thời, ph-

ơng ngữ Nghệ Tĩnh chịu ảnh hởng của những điểu kiện lịch sử, địa lí nhất địnhcùng với những biến đổi của ngôn ngữ qua thời gian, nên qua thực tế lao độngcủa c dân vùng biển, phơng ngữ này đã tạo đợc nhiều từ chỉ nghề có những nétkhác biệt so với những từ chỉ nghề ở vùng phơng ngữ khác Đó là sự phản ánhquy luật vận động và tiếp xúc ở các vùng phơng ngữ

- Nghề đánh cá: Tổng số từ điều tra đợc là 536 từ, trong đó số lợng từ riêng

của nghề có 334 từ (chiếm 62,31%), số còn lại là những từ đã đợc dùng rộng rãi

trong ngôn ngữ toàn dân hoặc phơng ngữ (có thể gọi là toàn dân hoá hay phơngngữ hoá)

- Nghề làm muối: Tổng số từ điều tra đợc là 78 từ, trong đó từ chỉ nghề

riêng có 45 từ (chiếm 57,69%), số còn lại là những từ đã đợc dùng rộng rãi trong

ngôn ngữ toàn dân hoặc phơng ngữ

- Nghề làm nớc mắm: Tổng số từ điều tra đợc là 133 từ, trong đó từ riêng

của nghề có 57 từ (chiếm 42,86%), số còn lại là những từ đã đợc dùng rộng rãi

trong ngôn ngữ toàn dân hoặc phơng ngữ

Trang 39

Nh vậy, đối chiếu từ của ba nghề biển chúng ta thấy từ dùng riêng trongnghề có số lơng, tỉ lệ cao, trung bình trên 50 % Điều này cũng cho thấy một đặc

điểm của từ chỉ nghề là phạm vi sử dụng rất hạn chế

Qua số liệu khảo sát, thống kê đợc, chúng tôi nhận thấy rằng, đối với nghề

đánh cá của c dân biển huyện Quỳnh Lu, từ riêng của nghề là khá lớn nhng các

từ này chủ yếu tập trung ở mảng từ có phạm vi phản ánh là quy trình sản xuất và

sản phẩm của nghề Ví dụ: Các từ nh giềng (là bộ phận gắn vào phần đầu và phần cuối của lới có tác dụng để cột phao và chì vào lới ); đòi (vật dạng tròn làm từ

kim loại là sắt (tùy thuộc vào cần câu lớn hay bé để làm hòn đòi cho phù hợp),gắn vào sợi cớc cột vào phía trên lỡi câu làm cho lỡi câu chìm xuống nớc để câucá),

Ta biết rằng nghề cá không phải là nghề của riêng ai, tức nó không phải lànghề độc quyền, vậy mà số lợng từ riêng của nghề là rất lớn Điều đó càng chothấy đặc điểm của từ chỉ nghề là địa bàn, phạm vi sử dụng rất hẹp

Bên cạnh đó, chúng tôi khảo sát vốn từ chỉ nghề nớc mắm và nghề làmmuối thì số lợng từ riêng của nghề cũng chiếm số lợng khá cao: Nghề muối có 45

từ (chiếm 57,69%); nghề làm nớc mắm 57 từ (chiếm 42,86%) Chúng tôi, có thể nêu ra một số ví dụ sau: Chợp, nõ, trúp, thảng, chụi, giỏ lóng, nớc hâm (nghề làm nớc mắm); diệu giát, đùm, vỡi đất (nghề làm muối),

Các từ nh đã nêu, phải là ngời trong nghề thì mới có thể hiểu vá sử dụngchúng một cách dễ dàng, nếu không phải là ngời trong nghề thì không thể hiểu đ-

ợc

Ví dụ: Từ thảng chỉ cái gì thì ngời ngoài nghề không hiểu đợc Thảng là một loại thùng dùng để muối mắm Hay từ phụt nớc (hoạt động làm cho nớc mặn đợc rải đều ra trên đất), từ vỡi đất (hoạt động làm cho đất mặn tơi ra trên sân

phơi).v.v

Các từ riêng của nghề về hình thức vẫn hoàn toàn chịu sự chi phối của quyluật ngữ âm, cách cấu tạo và quy tắc của tiếng Việt Tuy nhiên, xét về mặt ngữ

nghĩa thì có sự khác nhau Ví dụ: Từ giát, trong ngôn ngữ toàn dân thì nó là động

từ, tức nó là hoạt động làm cho đều, cho mỏng ra một vật nào đó Nhng ở đây,

trong từ chỉ nghề làm muối thì giát lại là tên gọi của một cái hố đợc đào để đổ đất

vào nhằm để lọc nớc mặn (nớc mặn này qua quá trình phơi nắng sẽ tạo thành

muối), hay từ kéo, trong ngôn ngữ toàn dân thì có hai từ kéo: Kéo 1: dụng cụ

Trang 40

dùng để cắt các vật mềm hơn nó; Kéo 2: hoạt động đẩy đối tợng ra (kéo ngời ra) Nhng ở đây, trong từ chỉ nghề làm nớc mắm thì kéo có nghĩa là lấy nớc mắm

trong bể ra để đa vào nồi nấu Trong quá trình đó, có kéo lần 1, lần 2, lần 3 cho

đến hết chất nớc mắm thì thôi Lí giải nguồn gốc của các từ riêng chỉ nghề,chúng tôi nhận định nh sau: Có hai lí do để giả thích mà chúng tôi cho là đáng tincậy:

Thứ nhất, trong quá trình phát triển nghề nghiệp, xuất hiện một bộ phậnnhững công cụ, phơng tiện, quá trình hoạt động sản xuất và các thành phẩm cha

có tên gọi Vì vậy, ngời ta đã tự đặt tên, gọi tên chúng, có thể là theo hình dáng,theo cách thức hoạt động của nghề và theo nguyên liệu độ tăng giảm của các sảnphẩm

Ví dụ: Từ trúp (chúp): là dụng cụ đậy (thùng nớc mắm) hình nón đợc làm bằng lá dừa hoặc bằng nilon Trúp hay chúp đó là tên gọi của đỉnh chóp nón ngời

ta đa vào đặt tên cho nó Muối già (muối phơi cháy khô vì quá nắng)

Qua một số từ riêng của nghề chúng ta thấy chúng ra đời là có lí do mộtphần, có thể giải thích đợc theo nhận thức của c dân địa phơng Nhng cũng cónhững từ ra đời mang tính võ đoán (không giải thích đợc), ngời ta gọi theo thói

quen khi thờng xuyên sử dụng Đấy là lí do thứ hai Ví dụ: Từ bung (từ chỉ nồi

đồng để nấu nớc mắm) Từ thêu (dụng cụ xúc đất, xúc muối của nghề làm muối,

từ này có thể có quan hệ với từ xêu trong xêu cơm) Những c dân làm nghề đã

thực sự sáng tạo nên một số lợng những từ mới Vì vậy, nếu không mợn vỏ ngữ

âm có sẵn của từ trong vốn từ toàn dân để cấu tạo từ nghề nghiệp thì vốn từ riêngcủa nghề càng nhiều, càng phong phú, cho nên khả năng đóng góp vào vốn từtoàn dân của vốn từ chỉ nghề càng lớn Tuy nhiên, vốn từ riêng của nghề cànglớn, lại càng chứng tỏ điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó chậm phát triển, và

từ nghề nghiệp cũng cha phát triển theo hớng mở (tức hội nhập), nghề nghiệp đóvẫn bó gọn trong tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, mamh mún

Nghề đánh cá và nghề làm nớc mắm ở đây ngày càng giảm do điều kiệnkinh tế thu nhập thấp, số lợng lao động đi xuất khẩu nớc ngoài ngày một đông

Do vậy, ngành nghề truyền thống ở đây ngày càng mai một đi Và để khôi phụccác ngành nghề ấy cần phải có đầu t đồng bộ cho nghề, nhng dù sao đi nữa, vốn

từ riêng của nghề càng nhiều, càng phong phú thì khả năng đóng góp vào vốn từ

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng2.1: Số lợng và tỉ lệ từ đơn chỉ nghề đánh cá, làm nớc mắm, muối - Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân quỳnh lưu  bùi thị thu dung
Bảng 2.1 Số lợng và tỉ lệ từ đơn chỉ nghề đánh cá, làm nớc mắm, muối (Trang 33)
các loại từ ghép theo từng nghề và giữa các nghề thể hiện qua bảng sau: - Khảo sát vốn từ nghề biển của cư dân quỳnh lưu  bùi thị thu dung
c ác loại từ ghép theo từng nghề và giữa các nghề thể hiện qua bảng sau: (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w