1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát địa danh ở huyện lộc hà luận văn thạc sỹ ngữ văn

140 572 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Địa Danh Ở Huyện Lộc Hà
Tác giả Phan Thị Minh
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Nhã Bản
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó là sự ra đời của các Uỷ ban nghiên cứu địa danh như: năm 1890 thành lập Uỷ ban địa danh nước Mỹ, Uỷ ban địa danh Thụy Điển1902, Uỷ ban địa danh nước Anh 1919… Tiên phong tron

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

GS.TS NGUYỄN NHÃ BẢN

VINH – 2011

Trang 3

Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài những nổ lực của bản thân,tôi còn nhận được sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trongkhoa Ngữ văn - trường Đại học Vinh và sự giúp đỡ động viên của bè bạn Đặcbiệt, sự hướng dẫn nhiệt tình của GS.TS Nguyễn Nhã Bản đã tạo điều kiệncho tôi thực hiện luận văn này Tôi xin gửi đến thầy giáo hướng dẫn cùng quýthầy, cô và các bạn lời cảm ơn chân thành!

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nổ lực nhất định song luận văn không thểtránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được sự lượng thứ của bạn đọc

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

PHAN THỊ MINH

Trang 4

MỤC LỤC

B GIÁO D C VÀ ÀO T O`Ộ Ụ Đ Ạ 1

TRƯỜNG ĐẠI H C VINHỌ 1

LU N V N TH C S NG V NẬ Ă Ạ Ỹ Ữ Ă 1

B GIÁO D C VÀ ÀO T OỘ Ụ Đ Ạ 2

Chuyên ng nh: LÝ LU N NGÔN NG H Cà Ậ Ữ Ọ 2

Mã s : 60.22.01ố 2

LU N V N TH C S NG V NẬ Ă Ạ Ỹ Ữ Ă 2

V m t l h i truy n th ngề ặ ễ ộ ề ố 22

Chương 3 63

C I M NG NGH A CÁC A DANH L C HÀ ĐẶ Đ Ể Ữ Ĩ ĐỊ Ộ 63

K T LU NẾ Ậ 83

Trang 5

Tìm hiểu địa danh Lộc Hà cho chúng tôi thấy những vấn đề:

Thứ nhất: Địa danh Lộc Hà cung cấp những tư liệu quý để nghiên cứuphương ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng, lịch sử hình thành phát triển Tiếng Việt nóichung, đặc biệt là trên phương diện ngữ âm

Thứ hai: Lộc Hà là một huyện mới được thành lập năm 2007, được tách

từ hai huyện chịu ảnh hưởng khá sâu sắc văn hóa Hán đó là huyện Can Lộc vàhuyện Thạch Hà Sự tồn tại song song một Nôm một Hán làm cơ sở cho việc

so sánh đối chiếu vốn từ địa danh thuần Việt và Hán Việt, chỉ ra sự ảnh hưởngqua lại trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Đồng thời chứng minh sức sốngtrường tồn của ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, thể hiện sự tiếp biến văn hóa độcđáo, sáng tạo của người Hà Tĩnh chuyển phương thức định danh kiểu Hánthành phương thức định danh của người bản địa

Thứ ba: Với vị trí một huyện ở miền trung có đấy đủ các yếu tố: đồngbằng, đồi núi, sông, biển nên việc nghiên cứu địa danh Lộc Hà sẽ góp thêm cứliệu phong phú để lý giải đặc điểm địa danh Hà Tĩnh nói riêng và địa danh

Trang 6

Với những lý do trên nên chúng tôi lựa chọn đề tài “Khảo sát địa danh

Lộc Hà” Mặc dù năng lực hạn hẹp, nội dung vấn đề lớn, song chúng tôimong muốn đóng góp một phần hiểu biết nhỏ của mình trong việc tìm hiểunhững giá trị lịch sử, văn hóa của quê hương trên lĩnh vực địa danh học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Việc nghiên cứu địa danh trên thế giới.

Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học với nhiệm vụ nghiên cứu

tất cả những vấn đề liên quan đến địa danh: lịch sử, cấu tạo, ý nghĩa, cáchthức đặt tên và sự biến đổi của các địa danh Việc nghiên cứu địa danh đãxuất hiện từ rất lâu ở cả phương Đông và phương Tây

Từ xưa một số sách lịch sử, địa chí ở Trung Quốc đã ghi chép nhiều địadanh trong đó có không ít địa danh được tường giải về hàm nghĩa, chỉ ra cáchđọc, qui luật gọi tên… Ban Cố, thời Đông Hán (32- 92) đã ghi chép hơn 4000

địa danh trong " Hán Thư "; trong "Thuỷ Kinh Chú ", Lệ Đạo Nguyên đời Bắc

Ngụy (466? - 527 ) có chép hơn 20.000 địa danh, số được giải thích là trên2000

Nhìn chung các công trình nghiên cứu về địa danh, có liên quan đến địadanh thường là những công trình ghi chép, sưu tầm, tổng hợp các địa danhnhư những cuốn sổ, những cuốn từ điển về địa danh

Đến cuối thế kỷ XIX ở châu Âu, ngành địa danh học mới chính thức rađời, địa danh học được coi là một bộ môn khoa học theo đúng nghĩa của nó,

Trang 7

tức là có đối tượng nghiên cứu riêng, phương pháp nghiên cứu riêng, nguyêntắc nghiên cứu riêng, hệ thống lý thuyết riêng Các công trình thời kỳ này đisâu vào nhiều vấn đề lý thuyết, nguồn gốc, diễn biến, sự lan toả và sản sinhcủa địa danh.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều công trình nghiêncứu về địa danh có tính chất lý luận cao, có giá trị như: J J Egli ( Thụy Sĩ )

với cuốn "Địa danh học” (1872); J W Nagl (Áo) có cuốn "Địa danh học" (1903); Isac Taylor có cuốn “Từ địa điểm, hay sự minh hoạ có tính nguyên lai

về lịch sử, dân tộc học và địa lý học”(1864)…

Sang thế kỷ XX, vấn đề nghiên cứu về địa danh đã có những bướcchuyển mới, cả hướng nghiên cứu lý thuyết lẫn thực hành cũng ra đời Càng

về sau, các tác giả càng cố gắng xây dựng một hệ thống lý thuyết về địa danh

Ví dụ: J.Gilénon đã viết “Atlat ngôn ngữ Pháp”, tìm hiểu địa danh dưới góc

độ địa lý học, còn A Dauzat với “Nguồn gốc và sự phát triển của địa danh”

đề xuất phương pháp văn hoá - địa lý học để nghiên cứu các lớp niên đại củađịa danh

Bên cạnh đó là sự ra đời của các Uỷ ban nghiên cứu địa danh như: năm

1890 thành lập Uỷ ban địa danh nước Mỹ, Uỷ ban địa danh Thụy Điển(1902), Uỷ ban địa danh nước Anh (1919)…

Tiên phong trong lĩnh vực xây dựng một hệ thống lý luận về lí thuyếtđịa danh là các nhà khoa học Xô viết đó cho ra đời hàng loạt các công trình

nghiên cứu Chẳng hạn, N I Niconov trong " Các khuynh hướng nghiên cứu địa danh " (1964), E M Muraev trong " Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học" (1964), đáng chú ý là A V Superanskaja trong tác phẩm " Địa danh là gì ?" Tác phẩm đã đi sâu vào vấn đề nhận diện và phân tích địa danh.

Từ đó đến nay, địa danh học ngày càng được nhiều các nhà nghiên cứuthuộc nhiều ngành khác nhau, nhất là các nhà ngôn ngữ học, những nhà làm

Trang 8

chính sách ngôn ngữ, những người làm công tác bản đồ… quan tâm Mặtkhác, đối tượng, tính chất, phương pháp nghiên cứu của ngành địa danh họccũng ngày càng được mở rộng, cả về hệ thống lý thuyết lẫn thực tiễn

2.2 Việc nghiên cứu địa danh ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nhiều tài liệu liên quan đến địa danh cũng xuất hiện khásớm, nhưng chỉ mới dừng lại ở góc độ địa lý, lịch sử để tìm hiểu đất nước,con người

Sang thế kỷ XIV trở đi, những suy nghĩ, tìm hiểu về địa danh mới đượccác nhà nghiên cứu nước ta quan tâm một cách đặc biệt Các tác giả đã cốcông trong việc sưu tầm, thu thập, tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa của địa danh:

Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Lịch triều hiến chương loại chí và Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú, Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu…

Còn nghiên cứu địa danh dước góc độ ngôn ngữ học thì xuất hiệnmuộn hơn (khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ XX) Tuy nhiên, các vấn đề nghiêncứu địa danh và hệ thống cơ sở lý luận về địa danh cũng được quan tâm mộtcách thích đáng

Hoàng Thị Châu là người đầu tiên nghiên cứu địa danh trên bình diện

ngôn ngữ học với bài viết " Mối liên hệ ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông " (1964) Những công trình tiếp theo của bà cũng nghiên cứu

địa danh theo hướng này, nhưng đi sâu vào phương ngữ nhiều hơn [19], [20]

Công trình nghiên cứu đầu tiên mang tính chuyên khảo về hệ thống địadanh ở một địa phương là Luận án PTS của Lê Trung Hoa, “ Những đặc điểmchính của địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh ” [ 34 ] , đã bước đầu đưa ranhững hệ thống lý thuyết làm cơ sở cho việc phân tích chỉ ra các đặc điểm cấutạo, nguồn gốc, ý nghĩa và sự biến đổi địa danh Tiếp đến, năm 1996, Nguyễn

Kiên Trường với Luận án PTS "Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng " đã bổ sung nhiều vấn đề lý thuyết địa danh mà Lê Trung Hoa đã dẫn

Trang 9

ra trước đó Hai Luận án này đã trình bày hai cách khác nhau những vấn đềcần quan tâm khi nghiên cứu địa danh (đối tượng, nội dung, nguyên tắc,phương pháp) và đã giải thích tương đối rốt ráo những vấn đề lý thuyết liênquan đến địa danh và địa danh học, đem đến cho người đọc những hiểu biếtmới mang tính khoa học về địa danh.

Năm 2000, Trần Trí Dõi đã công bố hàng loạt bài viết về địa danh theo

khuynh hướng so sánh - lịch sử Đó là các bài viết : " Về địa danh Cửa Lò ",

"Về một vài địa danh, tên riêng gốc Nam Đảo trong vùng Hà Nội xưa";

“Không gian ngôn ngữ và tính kế thừa đa chiều của địa danh (qua phân tích một vài địa danh ở Việt Nam)” (2001), và "Vấn đề địa danh biên giới Tây Nam : một vài nhận xét và những kiến nghị " ( 2001).

Theo hướng tiếp cận địa lý - lịch sử - văn hoá , Nguyễn Văn Âu đã có

công trình " Một số vấn đề địa danh học Việt Nam " ( 2000) Gần đây nhất, có hai Luận án TS tìm hiểu địa danh dưới góc độ ngôn ngữ là " Nghiên cứu địa danh Quảng Trị” ( 2004 ) của Từ Thu Mai và " Các địa danh ở Nghệ An nhìn

từ góc độ ngôn ngữ học " (2005) của Phan Xuân Đạm Bên cạnh đó phải kể

đến hàng loạt các Luận văn Thạc sĩ của các học viên của các trường đại họckhi tìm hiểu địa danh ở các vùng huyện, thị xã, thành phố

2.3 Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Hà Tĩnh

Ở Hà Tĩnh, từ xưa các vấn đề thuộc lĩnh vực địa danh học, địa chí họcđược đề cập trong các sách được viết từ thời phong kiến Các nhà địa phươnghọc, các nhà nghiên cứu văn hóa có uy tín ở Hà Tĩnh như Thái Kim Đỉnh, VõHồng Huy đã có những tác phẩm chuyên khảo có giá trị về đất nước, conngười Hà Tĩnh, trong đó vấn đề địa danh như là một tiêu điểm, một nội dung

chủ yếu

Hà Tĩnh và Nghệ An gắn bó máu thịt với nhau theo chiều dài lịch sử

do vậy những công trình nghiên cứu trước đây của các tác giả như Phan Huy

Trang 10

Chú, Bùi Dương Lịch, cũng đã nhắc đến và lý giải một số địa danh thuộc cả

Hà Tĩnh lẫn Nghệ An Gần đây ở Hà Tĩnh đã xuất hiện một số sách địa chícủa các huyện có liên quan đến địa danh Thời gian vừa qua, một số Luận vănThạc sỹ cũng nghiên cứu địa danh một số huyện thuộc Hà Tĩnh, Luận vănThạc sỹ của Bùi Đức Hạnh, nghiên cứu địa danh Can Lộc, Bùi Đức Nam,nghiên cứu về địa danh huyện Hương Sơn, Nguyễn Trọng Bằng, khảo sát cácđịa danh ở Thạch Hà Riêng huyện Lộc Hà một huyện mới được tách ra từ 7

xã của huyện Can Lộc sáp nhập cùng 6 xã ven biển của huyện Thạch Hà, nênchưa có công trình nào nghiên cứu một cách bài bản và hệ thống về địa danhnày

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua việc khảo sát, nghiên cứu hệ thống địa danh huyện Lộc Hà, chúngtôi hướng đến mục đích:

- Hệ thống hoá các địa danh trên địa bàn ở mức độ cao nhất

- Tìm ra những quy luật cơ bản về mặt cấu tạo, ý nghĩa, nguồn gốc,cách thức định danh địa danh và sự biến đổi của địa danh trên địa bàn

- Tìm hiểu mối quan hệ giữa chúng với các nhân tố lịch sử, địa lý, vănhoá… Từ đó giúp chúng ta thấy sự tiếp xúc, giao thoa và sự tác động qua lạigiữa ngôn ngữ với các nhân tố trên

Ngoài ra, Luận văn cũng nhằm mục đích làm sáng tỏ mối quan hệ gắn

bó giữa Địa danh học với Ngữ âm học, Từ vựng học, Ngữ pháp học và cácngành khoa học khác như: Địa lý học, Sử học, Dân tộc học, Khảo cổ học…trong việc nghiên cứu địa danh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Bước đầu nghiên cứu các vấn đề lý luận - lý thuyết về địa danh : địnhnghĩa, phân loại, cách thức định danh

Trang 11

- Điều tra, khảo sát các địa danh thuộc các loại hình khác nhau đangtồn tại hoặc đã tồn tại trước đây.

- Phân tích, miêu tả hệ thống địa danh về các mặt cấu tạo, ngữ nghĩa,phương thức định danh trong mối quan hệ với các yếu tố về địa lý, lịch sử,dân cư và đặc biệt là văn hoá

- Chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ - văn hoá qua hệ thống địa danh trên trênđịa bàn huyện Lộc Hà

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng và pham vi nghiên cứu của luận văn là hệ thống địa danhtrên địa bàn huyện Lộc Hà bao gồm hệ thống địa danh địa lý tự nhiên (núi,sông, đồng, bãi, ao, hồ… ) và hệ thống địa danh địa lý nhân văn (đình, chùa,lăng, miếu, làng, xóm, chợ… ) trong tiến trình lịch sử (tức là bao gồm cảnhững địa danh hiện nay không còn tồn tại chính thức)

5 Phương pháp nghiên cứu.

5.1 Nguồn tư liệu:

Để có thể dựng lại bức tranh tổng quát nhất về hệ thống địa danh hiệnđang tồn tại trên địa bàn hoặc không còn tồn tại nữa, chúng tôi đã cố gắng sưutầm, tập hợp ở mức độ cao nhất Cứ liệu địa danh được chúng tôi thu thập từnhiều nguồn:

- Tư liệu điền dã thực tế tại 13 xã trên địa bàn huyện Lộc Hà và thôngqua cán bộ văn hóa, các giáo viên dạy lịch sử, địa lý ở các trường trên địa bàntoàn huyện

- Sách báo, tạp chí, gia phả các dòng họ, các cuốn sách như : Lịch sử

Đảng bộ của các xã, Lịch sử Đảng bộ huyện Cạn Lộc, Lịch sử Đảng bộ huyệnThạch Hà, Dư địa chí huyện Can Lộc, Từ điển Hà Tĩnh và những bài viết liênquan đến địa danh, địa chí huyện Lộc Hà

Trang 12

5.3 Phương pháp nghiên cứu.

- Để đạt được mục đích như đề ra, chúng tôi sử dụng phương pháp

tổng hợp, dựa trên phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học là chính, đồng thờikết hợp với việc vận dụng phương pháp nghiên cứu địa danh ngoài ngôn ngữnhư: địa lý, lịch sử, văn hóa

- Khi đưa ra các nhận xét khái quát, kết luận chúng tôi chủ yếu sử dụng

hai phương pháp: quy nạp và diễn dịch

- Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa địa danh Lộc Hà vớicác địa danh khác có những nét tương đồng cũng như dị biệt nhằm làm nổibật vấn đề cần nghiên cứu

Tuy nhiên trong quá trình trình bày, không phải bao giờ các phươngpháp trên cũng được chúng tôi sử dụng tách bạch mà có sự kết hợp, xen kẻ,vận dụng một cách tổng hợp để rút ra những kết luận cuối cùng

6 Những đóng góp của luận văn

- Dựng lại bức tranh tổng quát nhất về hệ thống địa danh ở địa bàn

huyện Lộc Hà, một vùng phương ngữ quan trọng của miền Trung qua các lớpđịa danh được thu thập trong một chỉnh thể có hệ thống

Trang 13

- Tìm hiểu cấu tạo, phương thức định danh và nhất là ý nghĩa của cácđịa danh.

- Nghiên cứu địa danh huyện Lộc Hà từ phương diện ngôn ngữ học sẽcung cấp một cái nhìn mới mẽ, góp phần làm cụ thể hóa về các mặt địa lý,lịch sử, văn hóa của một huyện mới được thành lập với những nét đặc thùriêng

7 Bố cục của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì phần nộidung chính gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Đặc điểm cấu tạo của các địa danh Lộc Hà

Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa của các địa danh Lộc Hà

Chương 1:

NHỮNGVẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận về địa danh và địa danh học

Trang 14

1.1.1 Khái niệm địa danh

Mỗi một đối tượng tồn tại trong thế giới thực tại khách quan khi đãđược con người nhận thức, đều được gọi tên, đặt tên theo mục đích, qui ướctrong từng bối cảnh không gian cụ thể Vì vậy có thể nói, đặt tên, gọi tên sựvật, đối tượng là nhu cầu thường trực và tất yếu của con người

Bất kỳ một tên đất, tên nước, tên sông, tên biển, tên đường phố đều lànhững địa danh Một địa danh, xét về mặt logic học, tương đương với mộtkhái niệm; xét về mặt ngôn ngữ, được cấu tạo từ từ, hay cụm từ

Thuật ngữ địa danh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: Topos (địa điểm, vịtrí) và omoma/onima (tên gọi) với ý nghĩa chung nhất là “tên gọi địa lý” Nóikhác đi, tất cả các tên gọi địa lý được đánh dấu và ghi nhận bởi các địa danh

“Địa danh là một phân ngành đặc biệt của khoa học về ngôn ngữ nghiên cứu tên riêng của các đối tượng địa lý, lịch sử hình thành và phát triển, sự hành chức và lan rộng, cấu tạo ngôn ngữ của chúng và là một trong những khu vực hấp dẫn và đầy hứng thú của ngôn ngữ học [26, tr 15]

Ở Việt Nam, nếu theo chiết tự Hán - Việt thì thuật ngữ địa danh có

nghĩa là tên đất Tuy vậy, là một đối tượng của một ngành học mà phạm vi

quan tâm của nó rất lớn nên khái niệm này cần được hiểu ở mức độ rộng hơn,khái quát hơn Và thực tế đó, đã dẫn đến những cách hiểu không hoàn toànthống nhất ở các nhà nghiên cứu

Tác giả Đào Duy Anh cho rằng Địa danh là tên gọi các miền đất [2, tr 220] Còn trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên lại giải thích địa danh là "tên đất, tên địa phương" [39, tr 34]

Nguyễn Văn Âu cho rằng: " Địa danh là tên đất, gồm tên sông, núi làng mạc hay là tên địa phương, làng mạc " [5, tr 18]

Trang 15

Với cách tiếp cận địa danh theo góc nhìn ngôn ngữ học, Nguyễn Kiên

Trường quan niệm: Địa danh là tên riêng của các đối tượng địa lý tự nhiên và nhân văn xác định trên bề mặt trái đất [40, tr 16].

Lê Trung Hoa đưa ra cách hiểu : "Địa danh là những từ ngữ cố định được dùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ (không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều " [34, tr 21].

Phan Xuân Đạm xem : " Địa danh là lớp từ đặc biệt được sinh ra để đánh dấu vị trí, xác lập các tên gọi đối tượng địa lý và nhân văn " [26, tr 16] Còn Từ Thu Mai lại đồng ý với cách hiểu của Superanskaja:"địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của các đối tượng địa lý có vị trí xác định trên bề mặt trái đất" [36, tr 22].

Do xuất phát từ những góc nhìn không giống nhau nên giữa các tác giảchưa có sự thống nhất trong cách định nghĩa về địa danh Mặc dù khôngthống nhất nhưng những định nghĩa trên đều đã nêu được tính chất cơ bản của

địa danh: là tên đất (Nguyễn Văn Âu ), là tên riêng (Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường ) Tuy nhiên, mỗi định nghĩa đều có những điểm cần xem xét

lại

Tổng hợp từ những định nghĩa trên, theo chúng tôi có thể định nghĩa về

địa danh như sau: Địa danh là những từ hoặc ngữ dùng để gọi tên các đối tượng địa lý tự nhiên hay địa lý nhân văn, có tác dụng khu biệt, định vị những đối tượng đó.

1.1.2 Phân loại địa danh

Vì chưa có sự thống nhất cao trong cách hiểu về thuật ngữ địa danh nênphân loại địa danh là một vấn đề cực kỳ phức tạp Và thực tế cho tới nay chưa

có một mô hình phân loại nào có thể áp dụng phổ biến cho mọi công trìnhnghiên cứu về địa danh Vì vậy, tuỳ từng đối tượng, tuỳ từng cách tiếp cận,

Trang 16

tuỳ từng mục đích mà người nghiên cứu cần đưa ra cách phân loại địa danhsao cho phù hợp Có thể kể một số cách phân loại tiêu biểu ở phương Tây vàViệt nam

1.1.2.1 Cách phân loại của các nhà địa danh học phương Tây.

- A Dauzat trong " La toponymie Francaise" (1963) đã chia địa danh

nước Pháp làm 4 phần và mỗi phần lại gắn với nguồn gốc ngôn ngữ

1- Những cơ sở tiền Ấn - Âu

2- Các danh từ tiền La tinh về nước trong thuỷ danh học

3- Các từ nguyên Gô Loa- La Mã

4- Địa danh học Gô Loa - La Mã của người Auvergne và Velary

- Với tiêu chí của sự hỗn hợp nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng, Ch

Rostaing trong " Les nom de lieux " đã chia địa danh nước Pháp thành 11 loại

6- Những đóng góp của tiếng Giécmanh

7- Các hình thức của thời phong kiến

8- Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo

9- Những hình thái hiện đại

10- Các địa danh và tên đường phố

11- Tên sông và tên núi

Nếu như cách phân loại của A Dauzat còn quá chung chung, chưa cụthể thì cách phân loại của Ch Rostaing lại quá chi tiết, rườm rà, chưa có tínhkhái quát cao

Trang 17

- Với mức độ khái quát hơn, rõ ràng hơn, các nhà địa danh học Xô viết

đã cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ khi phân loại địa danh theo nội dungbiểu thị

G.P Smolicnaza và M.V Gorbanevsky trong “Toponymyja moskvi ”

chia địa danh Matxcơva làm 4 loại

1- Phương danh : Tên địa phương

2- Phố danh : Tên các đối tượng trong phố

3- Sơn danh : Tên núi, gò, đồi

4- Thuỷ danh : Tên các dòng chảy, ao, hồ, sông

A V Superanskaja trong " Choto takoe toponymika " đã chia địa danh

là 8 loại:

1- Điểm dân cư

2- Điểm phi dân cư

3- Tên gọi sông

4- Tên gọi núi

5- Tên đường phố

6- Tên mạng lưới giao thông

7- Tên quảng trường

8- Tên các công trình bên trong thành phố

Cách phân loại của các nhà địa danh học Xô Viết khái quát, rõ ràng,tương đối đầy đủ và chi tiết Tuy nhiên, hầu như các nhà nghiên cứu khôngchú ý đến các địa danh chỉ công trình xây dựng : cầu, cống, đường xá…những địa danh rất gần gũi với đời sống con người

1.1.2.2 Cách phân loại của các nhà địa danh học Việt Nam.

Các nhà địa danh học Việt Nam cũng đã đưa ra những tiêu chí củariêng mình để phân loại địa danh

Trang 18

* Đặng Xuân Bảng trong Sử học bị khảo phần Địa lý khảo hạ đã trình

bày địa danh Việt Nam theo duyên cách, sự biến đổi: cũ - mới Cách trình bàynày giúp chúng ta tìm hiểu được nguồn gốc của một số địa danh

* Trần Thanh Tâm trong “ Thử bàn về địa danh Việt Nam ” đã chia địa

danh ra 6 loại khác nhau:

- Loại đặt theo địa hình và đặc điểm

- Loại đặt theo không gian và thời gian

- Loại đặt theo tên người, tôn giáo, lịch sử

- Loại đặt theo hình thái, chất đất, khí hậu

- Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế

- Loại đặt theo sinh hoạt xã hội

Cách phân loại này tương đối khái quát, nhưng chưa thể hiện đầy đủcác mặt hiện thực được phản ánh trong địa danh của một địa phương

* Dựa vào tiêu chí địa lý - lịch sử, Nguyễn Văn Âu đã phân loại địadanh làm ba tầng bậc :

- Loại địa danh

- Kiểu địa danh

- Dạng địa danh

Theo đó, có 2 loại địa danh :

- Địa danh tự nhiên

- Địa danh kinh tế xã hội

Trong hai loại địa danh này lại có 7 kiểu :

Trang 19

* Lê Trung Hoa trong “ Những đặc điểm chính của địa danh thành phố

Hồ Chí Minh” đã dựa vào nhiều tiêu chí để phân loại địa danh:

Dựa vào thuộc tính của đối tượng, ông chia địa danh thành làm 2nhóm

- Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên: gồm các đối tượng địa lý nhiênnhư : núi, đồi, sông, rạch…

- Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo Loại địa danh này gồm 3 nhómnhỏ

+ Địa danh chỉ các công trình xây dựng: phố danh, viên danh, lộ danh

và đạo danh

+ Địa danh chỉ các đơn vị hành chính : ấp, phường, xã …

+ Địa danh gọi tên vùng: địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có biêngiới rõ ràng

Dựa vào ngữ nguyên, tác giả phân loại địa danh làm 2 nhóm :

- Địa danh thuần Việt

- Địa danh không thuần Việt: Trong địa danh không thuần Việt lại gồm

3 nhóm nhỏ hơn:

Địa danh Hán Việt

Địa danh gốc Pháp

Địa danh gốc Khơme

* Nguyễn Kiên Trường trong : " Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng " đã đưa ra 3 riêu chí để phân loại địa danh.

Trang 20

Dựa vào thuộc tính của đối tượng, tác giả chia địa danh Hải Phònglàm 2 nhóm : địa danh tự nhiên và địa danh chỉ đối tượng nhân văn

- Nhóm địa danh tự nhiên:

+ Nhóm địa danh đất liền

+ Nhóm địa danh vùng biển giáp ranh

- Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn :

+ Địa danh cư trú - hành chính và địa danh gắn với hoạt động của conngười, do con người tạo nên : ấp, bộ, châu, di chỉ, xóm, trại, xó, xứ, khu tậpthể…

+ Địa danh đường phố, công trình xây dựng: đường, ngã tư, ngõ, cầu,chợ, nhà thờ, khách sạn,

Dựa vào nguồn gốc ngữ nguyên ông chia địa danh Hải Phòng thànhcác nhóm :

- Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt

- Địa danh có nguồn gốc thuần Việt

- Địa danh có nguồn gốc Pháp

Địa danh có nguồn gốc Tày Thái, Việt Mường, Chăm, Môn Khơme

Địa danh có nguồn gốc hỗn hợp

- Địa danh chưa xác định được nguồn gốc

Cuối cùng, dựa vào chức năng giao tiếp, ông phân chia địa danh ra cácloại

- Tên chính thức (do nhà nước đặt và có trong các văn bản hành chính)

- Tên gọi dân gian (tên quen dùng trong dân gian)

- Tên cổ, tên cũ

- Các tên khác

Trang 21

Hai cách phân loại trên đều có những ưu điểm riêng Cách phân loạicủa Nguyễn Kiên Trường chi tiết, cụ thể, bao quát địa danh ở nhiều khía cạnh,nhất là chú ý đến chức năng giao tiếp, qua đó có thể chỉ ra các địa danh theotên gọi chính thức, tên dân gian, tên cổ, tên cũ và các tên khác Còn cách phânloại của Lê Trung Hoa mặc dù chỉ căn cứ vào hai khía cạnh thuộc tính vànguồn gốc nhưng lại phù hợp với cách làm việc và mục đích của chúng tôi.Qua cách phân loại của tác giả Lê Trung Hoa cho phép chúng ta dễ dàng xácđịnh đựơc những ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ (địa danh) với lịch sử, địa

lý, văn hoá Không những vậy, nếu đi theo khuynh hướng này sẽ giúp chúng

ta thấy được đặc điểm cấu tạo của từng địa danh, sự thay đổi, chuyển hoá củacác địa danh và ý nghĩa của các yếu tố trong địa danh

Cũng phải nói thêm rằng, các cách phân loại trên chỉ mang tính chấttương đối mà thôi, miễn sao sự phân loại, phân lớp đó càng ứng khớp vớithực tế càng tốt, càng có sức bao quát nhiều đối tượng càng tốt, càng ít cáctrường hợp trung gian càng tốt

1.2 Một vài nét về địa bàn huyện Lộc Hà

1.2.1 Vị trí địa lý

Lộc Hà là huyện nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hà Tĩnh có toạ độ địa lý:

18023’10’’ - 18032’40’’ vĩ độ Bắc, 105048’45’’ - 105055’36’’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Nghi Xuân;

- Phía Nam giáp huyện Thạch Hà và Thành phố Hà Tĩnh;

- Phía Tây giáp huyện Can Lộc;

- Phía Đông giáp Biển Đông

Huyện Lộc Hà có 13 đơn vị hành chính cấp xã với 137 thôn, dân số83.397 người Huyện có vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ với hai huyệnThạch Hà và Can Lộc sau khi chia tách, với Thành phố Hà Tĩnh và khu mỏsắt Thạch Khê, mà còn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Với

Trang 22

vị trí địa lý như trên là điều kiện rất thuận lợi để Lộc Hà phát triển kinh tế - xãhội, mở rộng quan hệ thông thương, giao lưu với các vùng lân cận

1.2.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu.

- Địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, phía Tây Bắc được chắnbởi dãy Hồng Lĩnh; phía Đông giáp biển Đông; phía Nam - Tây Nam có dòngsông Nghèn bao quanh

- Trên địa bàn huyện có 3 con sông chảy qua là sông Đò Điệm, Sông Én

và sông Cửa Sót, là hợp lưu của sông Nghèn và sông Rào Cái Các con sông đềungắn, dốc, dễ gây lũ nhưng cũng nhanh cạn

- Lộc Hà là một trong những nơi có khí hậu khắc nghiệt của vùngDuyên Hải miền trung Đây là vùng chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam từnước bạn Lào thổi sang Vì vậy, mùa hè nóng, nắng nhiều và gay gắt Bêncạnh đó, địa bàn huyện là nơi có tần suất bão khá cao, bão kèm theo mưa lớn,gió lốc gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân

- Nhiệt độ trung bình hàng năm trên địa bàn huyện là 280C, về mùakhô do ảnh hưởng trực tiếp của gió Lào, nhiệt độ có lúc trên 390C; độ ẩmtrung bình hàng năm là 80%; lượng mưa hàng năm vào loại trung bình, phân

bổ không đều, mùa khô (tháng 4 – 8) thiếu nước, còn mùa mưa lại thừa nước(trên 2.000 mm) gây khó khăn cho sản xuất và đời sống

1.2.3 Tài nguyên:

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 11853.06 ha Đất Lộc Hà phầnlớn là đất cát pha, độ màu mỡ không cao, khả năng giữ nước thấp, 86,6 %diện tích đất của huyện đã được đưa vào sử dụng trong các lĩnh vực nông,lâm, ngư, diêm nghiệp (7130.81 ha) và phi nông nghiệp (3137.66 ha) Phầnlớn đất canh tác của huyện thích hợp cho việc trồng cây rau màu chịu hạn.Chỉ có một ít đồng bằng màu mỡ, chiếm khoảng 1/3 diện tích canh tác, thíchhợp cho việc trồng lúa nước và một số loại cây công nghiệp ngắn ngày Còn

Trang 23

14 % diện tích chưa được sử dụng, tập trung chủ yếu ở các dãi cát ven biển từ

xã Thịnh Lộc đến xã Thạch Bằng và các vùng bãi ven sông thuộc các xã HậuLộc, Hồng Lộc, Thạch Châu, Mai Phụ… Huyện cũng còn một số ít đất đồi núichưa sử dụng, tập trung ở các xã Thịnh Lộc, Thạch Bằng, Thạch Kim, v.v Huyện có bãi biển dài 12 km, bờ cát phẳng và thoải rộng Đây là một nguồntài nguyên quan trọng nhưng chưa được khai thác Ngoài cát, sỏi là những loạivật liệu xây dựng tốt, bãi biển Lộc Hà còn có khả năng phát triển thành các điểmnghĩ dưỡng, khu du lịch Cuối bãi biển về phía Nam là Cửa Sót, một cửa biểnquan trọng của cả tỉnh Cửa Sót có tiềm năng phát triển lớn do có vùng bãi ngậpmặn nước lợ 700 ha cho phép nuôi trồng các loại tôm, cua, hến và rau câu…, cóthể mở rộng và phát triển từ một cảng cá thành cảng biển có thể đón tàu 500 tấn.Cảng Hộ Độ có khả năng tiếp nhận tàu và sà lan 200- 500 tấn Đặc biệt, trênvùng bãi biển Thạch Bằng - Cửa Sót, có những điều kiện tự nhiên khá thuận lợi

để xây dựng một đô thị - biển

- Với 12km đường biển có cảng biển Hộ Độ là lợi thế lớn để phát triểnnghề nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy hải sản và các ngành chế biến thủyhải sản liên quan

- Là một huyện có đa dạng về nguồn lực, tạo ra sự phong phú đa dạngtrong hoạt động kinh tế Trong vận hội mới, cơ hội được đổi mới sản xuất

Trang 24

theo hướng vừa đảm bảo an ninh lương thực, mạnh dạn chuyển đổi các diệntích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang công nghiệp, phát triển thươngmại dịch vụ và các ngành nghề khác, theo hướng tạo ra hàm lượng giá trịhàng hóa cao, phấn đấu trở thành khu vực kinh tế có thu nhập khá, ổn định

cho người dân

1.2.5 Về mặt Văn hóa

Nơi đây từ xa xưa đã có nhiều làng nổi tiếng như làng Phù LưuThượng, Ích Hậu, Mai Phụ, An Sơn

Làng Mai Phụ là quê hương của Mai Thúc Loan, vị Hoàng đế có công

đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường Làng Thu Hoạch, trấn Nghệ An (nay là

xã Thạch Châu) là quê hương của dòng họ Phan Huy, một dòng họ văn hóacủa thế kỷ 18 và 19, mở rộng ra cả Bắc Hà Dòng họ này có các tên tuổi lớnnhư: Bình Chương Đô đốc Phan Huy Cận, Thượng thư Phan Huy Ích, nhà báchọc Phan Huy Chú, các nhà thơ Phan Huy Thực, Phan Huy Ôn, Phan HuyVịnh, Phan Huy Thàng, Thủ tướng Phan Huy Quát Giáo sư sử học Phan HuyLê ; Thừa chính sứ kiêm Quản đô lực sĩ Nguyễn Tông Tây (1436-?

Làng An Sơn, trấn Nghệ An (nay là xóm 3 xã Thạch Mỹ) là quê hương

của dòng họ Phan Trọng, một dòng họ văn hóa của thế kỷ 17 mở rộng ra cả

Hà Tây Dòng họ này có các tên tuổi lớn như: Bình Chương sự kiêm tri Quốc

Tử Giám tư nghiệp Phan Trọng Phiêu, Tri phủ Hoài Đức Tiến sĩ KỷMão(1879) Phan Trọng Mưu, Quan khâm sứ triều đình Phan Trọng Hoa,Quan nha môm Phan Trọng Dung sau ra ở Hà Tây, Danh tướng khởi nghĩaLam Sơn Phan Trọng Búp, nhà thơ cao dao Phan Trọng Bàng, Phó thủ tướngPhan Trọng Tuệ, Chiến sỹ cánh mạng Phan Trọng Bình, Chiến sỹ cánh mạngPhan Trọng Quảng, Giáo sư Phan Trọng Luận ; Tiến sĩ Phạm Tông Tây

Làng Ích Hậu là quê hương của Hoàng Giáp Đông các hiệu thư Trần

Đức Mậu đời Lê Thánh Tông (đền thờ đã bị đổ nhưng sắc phong hiện còn),

Trang 25

Tam nguyín Hoăng giâp, Tể tướng Nguyễn Văn Giai mở đầu thời Lí TrungHưng (hiện còn đền thờ vă một tấm bia lớn dựng ngay sau khi ông mất), vădòng họ Nguyễn Chi nổi tiếng về truyền thống yíu nước, văn chương vă khoabảng Dòng họ Nguyễn Chi (tức họ Nguyễn Đức, châu chắt trực hệ Trần ĐứcMậu) sinh ra những tín tuổi lớn như: nhă giâo vă chí sĩ Nguyễn Hiệt Chingười đồng sâng lập Công ty Liín Thănh vă Trường Dục Thanh theo tinhthần Duy Tđn ở Phan Thiết, lênh tụ phong trăo chống thuế Nghệ Tĩnh, Giâo

sư nhă văn hóa học Nguyễn Đổng Chi, Giâo sư dđn tộc học Nguyễn Từ Chi,Giâo sư cổ văn học Nguyễn Huệ Chi, Ngoăi ra, cũng ở Ích Hậu còn có nhăcâch mạng tiếng tăm Lí Viết Lượng

Một văi lăng khâc cũng có những tín tuổi như Thạch Kim có Tiến sĩThiím đô Ngự sử Nguyễn Phi Hổ thời Lí Uy Mục; Hồng Lộc có Hoăng Giâp

Tể tướng Phan Đình Tâ dưới triều nhă Mạc, Tiến sĩ Giâm sât ngự sử quyềntham chânh Bùi Đăng Đạt thời Lí Trung Hưng (mộ phần tâng tại TrungLương, TX Hồng Lĩnh, Hă Tĩnh); Phù Lưu có võ tướng Nguyễn Biín giúp LíThâi Tổ chống giặc Minh khôi phục đất nước, được truy tặng Thâi phóNghiím Quận công (1425), truy phong thần tích Đại vương; thời hiện đại cónhă thơ Chính Hữu

Di tích vă danh thắng ở Lộc Hă có Núi Bằng Sơn tức Rú Bờng, lă ngọnnúi có tâng mộ tổ Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh Núi Bằng Sơn tức RúBờng, lă ngọn núi có Chùa Kim Dung Chùa nằm giữa núi, xê Thạch Bằng văThạch Mỹ Chùa được được xđy dựng văo đời năo không rõ, thờ Phật Tổ,Ngọc Hoăng vă Thânh Mẫu Do dòng họ Phan Hữu xđy dựng nín đứng đầu lẵng Quyền Quang thời kỳ chống Phâp, câc chí sĩ yíu nước đê lấy chùa lămtrụ sở

Chùa Chđn Tiín: Chùa nằm trín núi Tiín Am, xê Thịnh Lộc Chùa

được được xđy dựng văo đời năo không rõ, thờ Phật Tổ vă Thânh Mẫu Cũng

Trang 26

có giả thuyết cho rằng chùa Chân Tiên là để thờ vị tiên Chân Nhân, ngườihuyện Nghi Xuân, vào "hóa" ở đây vào cuối thế kỷ 17 Chùa nhìn xuống BầuTiên, tương truyền xưa là nơi tiên xuống tắm và còn lưu dấu chân trên đá.Mỗi mùa lễ hội du khách các vùng đến dự rất đông để cầu phúc lộc, nam nữthì đến cầu duyên

Đền Cả: còn có tên là đền Lớn hoặc Tam tòa Đại Vương thuộc xã Ích

Hậu, huyện Can Lộc Đền thờ 3 vị: Lý Nhật Quang (hoàng tử thứ 8 của vua

Lý Thái Tổ), Lý Đạo Thành và Lý Thế Giai (là 2 vương hầu của nhà Lý).Đình Đỉnh Lự ở xã Tân Lộc: Di tích lịch sử thế kỷ 15 Đây là nơi để nhân dânquanh vùng tưởng nhớ công ơn của võ tướng Nguyễn Xí thời Lê Sơ Thời kỳchống Pháp, các chí sĩ yêu nước đã lấy đình làm trụ sở Đền thờ Tể tướngHoàng giáp Nguyễn Văn Giai ở xã Ích Hậu Mộng Thương thư trai và Chi giatrang: Thư viện lớn bậc nhất xứ Nghệ của gia đình Nguyễn Chi ở xã Ích Hậu,

có từ cuối thế kỷ 19 Nhà thờ họ Phan Huy ở xã Thạch Châu: Di tích văn hóathế kỷ 18 Nhà thờ họ Phan Trọng Búp ở xã Thạch Mỹ (Danh tướng Khởinghĩa Lam Sơn):Di tích văn hóa thế kỷ 17

Nhà thờ họ Phan Huy, nhà thờ Nguyễn Đức Mậu ở làng Phù Lưu, xã Phù Lưu, nhà thơ họ Nguyễn Đức ở xã Ích Hậu

Về làng nghề, điển hình có các làng nghề sau: Nghề muối Hộ Độ,

Gia Mỹ - xã Thạch Châu Hàng năm cung cấp một lương muối khá lớn cho nhà máy chế biến muối I ốt của tỉnh và cho nhân dân các vùng lân cận Nghề làm dầu lạc ở làng xóm Thụy xã Thạch Châu Nghề làm hương ở làng An Sơn

xã Thạch Mỹ Nghề làm nón, làm chổi ở làng Hàn Mỹ xã Thạch Mỹ

Về mặt lễ hội truyền thống

Lễ hội Đền Tam Lang ở Đền Cả ở Phan Xá, Ích Hậu Thời gian: vào ngày

mồng 5 và 6 tháng Giêng âm lịch

Trang 27

Lễ Xuân Điển: Lễ hội diễn ra tại làng Phan Xá, Lợi Xá, xã Ích Hậu Lễ hội

tưởng nhớ thần Tam Lang có công giúp quân Đại Việt đánh thắng giặcngoại xâm Lễ hội được tổ chức từ ngày 4 đến ngày 8 tháng 1 âm lịch rấttrọng thể với nghi thức quốc lễ Lễ hội có hát tụng thần, có hát chèo,tuồng, thi nấu cơm Ba năm một lần làng có tổ chức bơi thuyền rồng, rướcthần trên kênh trước đền

Lễ hội Chùa Chân Tiên, xã Thịnh Lộc Thời gian: 3 tháng 3 âm lịch

Lễ hội Chùa Kim Dung, xã Thạch Bằng Thời gian: 15 tháng 3 âm lịch

Lễ hội đền Phan Trọng Búp, Xã Thạch Mỹ, 27 tháng 5 âm lịch

Hội làng Thanh Lương, xã Thụ Lộc Thời gian: 6 tháng 6 âm lịch

Hội cờ người ở Trung Thịnh, Yên Điềm xã Thịnh Lộc Thời gian: Đầu

Xuân

Lễ hội đền Lê Khôi, xã Thạch Kim, 2 tháng 5 âm lịch Lễ hội diễn ra trong

ba ngày

Lễ hội Chùa Hộ Độ: xã Hộ Độ, vào ngày 14 tháng Giêng âm lịch

Xét về ngôn ngữ, cư dân Lộc Hà thuộc vùng phương ngữ trung bộ,nhưng không đồng nhất về thanh điệu Mấy xã thuộc vùng hạ Can cùng mộtdãi ven biển với Nghi Xuân, có giọng nói na ná giống nhau về thanh điệu.Còn các xã vùng biển ngang Thạch Hà lại có giọng nói khác

Những đặc điểm địa lý tự nhiên, về truyền thống văn hóa, tôn giáo, tínngưỡng, ngôn ngữ trên đây liên quan đến sự ra đời, phát triển và biến đổi địadanh ở huyện Lộc Hà

1.3 Địa danh huyện Lộc Hà: kết quả thu thập và phân loại.

1.3.1 Kết quả thu thập

Trang 28

mà chỉ điểm qua mà thôi Đương nhiên, trên đây không phải là tất cả các địadanh hiện diện trên địa bàn huyện Vì mục đích nghiên cứu và hướng giảiquyết vấn đề nên có những địa danh không được chúng tôi quan tâm và khảosát như: công ty, xí nghiệp, xưởng, hội … Những địa danh này chúng có ýnghĩa về mặt ngôn ngữ nhưng không có (nếu có thì rất ít) giá trị về mặt lịch

sử, văn hoá; nên nó không thuộc vấn đề đáng lưu tâm nhất của địa danh

Số lượng các địa danh trên được thu thập chủ yếu từ các nguồn: vănbản hành chính, bản đồ các loại, thư tịch ghi chép lại và cứ liệu điền dã thực

tế của bản thân ở các xã trên địa bàn huyện Lộc Hà- Hà Tĩnh

Trang 29

Trong cách phân loại địa danh theo đối tượng phản ánh, chúng tôi chiađịa danh Lộc Hà ra 2 nhóm lớn:

a Địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên: sông, hồ, ao, bãi, mương, đò,trại, vườn, truông, đìa, trộ, hói, hủm, dăm, dốc, núi, bàu, cồn, đồng, lạch,cụp…

b Địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn Nhóm địa danh này bao gồm

3 nhóm nhỏ hơn:

b1 Địa danh cư trú hành chính: huyện, tổng, làng, xã, xóm, thôn…b2 Địa danh chỉ các công trình văn hóa tín ngưởng: chùa, đình, đền,miếu, lăng, am, nhà thờ…

b3 Địa danh chỉ các công trình xây dựng: cầu, cống, đập, giếng, chợ,đường, cảng…

Việc phân chia 2 loại đối tượng như trên ở một số địa danh chỉ mangtính chất tương đối, vì có những địa danh vừa mang tính chất nhân văn, vừamang tính chất tự nhiên Bởi vậy trong việc phân loại, chúng tôi thấy tính chấtnào nổi trội hơn thì xếp chúng vào nhóm địa danh có đặc điểm, thuộc tính nổitrội đó

Để tiện việc theo dõi, chúng tôi trình bày cách phân loại này qua bảngphân loại và thống kê số liệu cụ thể với quy ước sau:

Số thứ tự: chính là số lượng loại hình địa danh thu thập được.

Tần số: số lần xuất hiện của chúng chính là số lượng địa danh, nhưng

không trùng với số lượng đối tượng vì có những đối tượng hoặc có nhiều têngọi hoặc không còn tồn tại

Tiêu chí sắp xếp: căn cứ vào số lần xuất hiện từ cao xuống thấp của

các danh từ chung Nếu tần số như nhau thì xếp theo thứ tự chữ cái của cácdanh từ chung đó

Những qui ước viết tắt trong Luận văn:

Trang 30

Đồng mơng ( A L )Cồn Đuồi ( M P )Khe Cụi Lợn ( T L )Dăm Mụ Bảy ( T B )

Hồ Phụ Lạo ( M P )Hói Con Trữa ( I H )Bàu Tiên ( TH L )Trại Cửa Khâu ( H L )

Đá Chân Tiên ( Th L )Nương Nhà théch ( B L )

Trang 31

Vụng Bè ( H Đ )Núi Đồng Quan ( H L )Trộ Cố Thành ( T L )Kênh 407 ( H L )Đìa Làng Chùa ( A L )Bãi Sầu Lòi ( I H )Bến Đò Điệm ( T M )Truông Vùn ( TH L )Hang Rú Mã ( T L )

Đò Ngang ( T K )Rào Mát ( T L )Vườn Dung ( A L )

Mã Sư Lan ( A L )Rừng 61 ( T B )

Ao Cố Cụ ( T M )Lối Đập ( A L )Cụp Miệu ( H L )Động Mai (TH L)

Mỏ Cục Nghèn ( H L )Cửa Truông ( T L )Lạch Trong Ao ( TH L )Bãi biển Xuân Hải ( T B )Hòn Đá Mặt Mụ ( T B )Truông Gió ( H L )Sông Cửa Sót ( T K )Vực Sành ( T M )Hủm Thổ Đìa ( T L )

Trang 32

Biền Đồng Híu ( H L )Đồn 164 ( T B )Trẹm Lát ( T B )

Họ văn hóaMiếuLăngKhu lăng mộNhà bảo tàngTháp

4238262017143211

Nhĩa địa Truông vùn ( TH L )Đền thờ Lê Khôi ( M P )Chùa Chân Tiên ( TH L )Đình Tam Lang ( H Đ )

Họ Phan Huy ( T C )Miếu Biên Sơn ( H L )Lăng Con Khái ( T B )Khu lăng mộ Phan Huân ( H L)Đình Đỉnh Lự ( T L )Tháp Cây Mai ( TH L )

99783913111121

Xóm Phú Ca ( T C )Thôn Quang Trung ( TH L )Làng Thanh Lương ( P L )

Xã Bình Lộc (B L)Ngã ba Cầu Trù ( P L )Nhà thờ giáo xứ Xuân Tình (H.Đ) Phù Lưu Thượng ( T L )Huyện Lộc Hà (T B)

544320

Cầu Cửa Đình ( TH L )Giếng làng Vĩnh Thọ ( H Đ )Sân vân động Nam Sơn (Th L)

Trang 33

Đập Bình Đình ( T C )Đường tĩnh lộ 7 ( P L )Chợ Huyện ( B L )Mương Gia Thiện ( T C )Cống Đồng Và ( T B )

Kè Sầu Lòi ( I H )Trường THPT Nguyễn Văn TrổiCảng Âu Thuyền ( T K )Thư viện Chi Gia Trang ( I H )Bến phà Hộ Độ ( H Đ )Nhà máy gạch TuyNel ( A L)

* Phân loại đia danh Lộc Hà theo danh từ chung chúng tôi thống kê

được 74 địa danh, trong đó nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tự nhiên là 40chiếm 54 %, nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn là 34 chiếm 46 %.Với kết quả trên, có thể nói ở Lộc Hà nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý tựnhiên chiếm tỷ lệ cao hơn

1.3.2.2 Phân loại địa danh theo chức năng giao tiếp và thời gian xuất hiện.

Trong cách phân loại địa danh theo chức năng giao tiếp và thời gianxuất hiện, cũng như nhiều địa phương khác, ở huyện Lộc Hà trong giao tiếpthường gặp hiện tượng, một địa danh nhưng cùng lúc tồn tại những tên gọikhác nhau: bên cạnh tên gọi chính thức, tên gọi mới, còn tồn tại tên gọi dângian và tên gọi cũ Tuy nhiên theo số liệu thống kê của chúng tôi nhữngtrường hợp này là không nhiều Ở huyện Lộc Hà chỉ có khoảng 16% đối

Trang 34

Hoặc một số trường hợp ngoài tên gọi mới còn có tên gọi cổ, cũ

Trong hành vi tạo lời, khi giao dịch mang tính chất nhà nước, người tathường dùng nhóm địa danh mới, khi gần gủi thân quen hoặc nói về quá khứngười ta thường dùng nhóm địa danh cổ, cũ

Việc so sánh đối chiếu địa danh theo nhóm như trên rất quan trọngtrong lĩnh vực địa chí học, làm từ điển địa danh hay viết sách lịch sử địaphương

Trang 35

1.3.2.3 Phân loại địa danh theo nguồn gốc ngôn ngữ ngữ nguyên

a Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt:

Địa danh có nguồn gốc Hán - Việt gồm 492 /1182 trường hợp, chiếm41,7% Trong 1182 địa danh, địa danh cư trú hành chính có 230 trường hợp,chiếm 19,5%; địa danh chỉ các công trình văn hóa tín ngưỡng 105 trường hợp,chiếm 8,9 %, địa danh công trình xây dựng – giao thông có 80 trường hợp,chiếm 6,7 % ; địa danh chỉ đối tượng tự nhiên có 77 trường hợp, chiếm 6,6%

Ví dụ : thôn Trường An (HồngLộc), làng Trung Đình (Thạch Mỹ), phườngGia Mỹ (Thạch Châu), chùa Xuân Đài (Thạch Bằng), nhà thờ giáo xứ ĐôngXuân (Thạch Bắc), thôn Quyết Thắng (An Lộc)…

Địa danh có nguồn gốc Hán – Việt chiếm tỉ lệ khá lớn nhưng khôngđồng đều giữa các nhóm địa danh Số lượng yếu tố Hán – Việt xuất hiện vớitần số khá cao ở trong địa danh cư trú hành chính (230/256 - chiếm 89,8%) vàđịa danh chỉ các công trình văn hóa tín ngưỡng (105/159 - chiếm 66,03%),công trình xây dựng – giao thông (80/196 - chiếm 40,8%), nhưng lại xuất hiện

ít ở địa danh chỉ tự nhiên (77/ 570 - chiếm 13%) Và tập trung vào những địadanh phản ánh tâm lý, nguyện vọng hay chỉ vị trí, phương hướng với các yếu

tố : yên, bình, tân, xuân, chiến, giang, quang, hoà, bắc, nam, đông, tây, thịnh, mỹ,…

Mặc dù vẫn có một số yếu tố (âm tiết) Hán – Việt xuất hiện độc lậptrong các địa danh đơn yếu tố nhưng phần lớn chúng xuất hiện trong tổ hợpgồm hai hoặc hơn hai từ tố kết hợp với nhau Điều này thật đúng với nguyên

lý cấu tạo của từ Hán – Việt, bởi vì các yếu tố Hán không hoạt động tự do nênchúng phải kết hợp trong những từ song tiết Vì thế một từ Hán – Việt thườnggồm 2 hoặc hơn 2 âm tiết kết hợp với nhau Trong khi đó, tiếng Việt về cơbản âm tiết trùng với từ Cho nên khi tiếp nhận tiếng Hán và để phù hợp với

Trang 36

tư duy của người Việt thì một bộ phận lớn từ Hán – Việt được việt hoá vàchúng nghiễm nhiên có giá trị tương đương với từ

b Địa danh có nguồn gốc thuần Việt: 612 /1182 trường hợp, chiếm

51,7% Trong địa danh đó, địa danh cư trú hành chính có 35 trường hợpchiếm 2,96 % và địa danh chỉ các công trình văn hóa tín ngưỡng 52 trươnghợp, chiếm 4,39%; địa danh địa hình tự nhiên có 459 trường hợp, chiếm 38,83

%; địa danh công trình xây dựng – giao thông có 70 trường hợp, chiếm 5,92

%

Ví dụ: đồng Bà Đời (H.L), hang Rú Mã (H.L), bàu Thớt (A.L); dăm

Mụ Chòi (T.B), đồng Sim (T.B), đồng Hói (B.L); chợ Cồn (T M), chùa LàngBến (T.M), đền Cơm Mới ( H.L)…

Về số lượng âm tiết, loại địa danh có nguồn gốc thuần Việt có thể làđơn âm tiết hay đa âm tiết:

b Địa danh có nguồn gốc khác- tổng hợp: Nguồn gốc từ tiếng Pháp,

ngôn ngữ Tày- Thái, Việt – Mường, Chàm, Môn – Khơ Me Theo tư liệuchúng tôi thu thập được gồm 65 trường hợp, chiếm 5,4%, chủ yếu xuất hiện ởđịa danh chỉ tự nhiên

Ví dụ: đồng Mơng (A.L), đồng Chà Mé (T.B), cồn Ràng (T.L), bàuMưng (A.L), rú Bin (H.L), rú Bờng (T.B), đìa Hạ Đờng (H.L), làng Chi Nê,cồn Trếu (P.L), cầu Ngạo (B.L), dăm Vùn Ngâm (A.L)

c Địa danh không xác định được nguồn gốc: gồm 13/1182 trường hợp

thuộc loại địa danh không xác định được nguồn gốc, chiếm 1,2%, chúng đều

là địa danh chỉ đối tượng tự nhiên

Ví dụ: bàu Chăn Măn (T.L) đồng Xò Xó (P.L), bãi Sầu Lòi (I.H), đồngMăn (I H), dăm Súc Sỉu (P.L), đồng Híu (B.L), đồng Đung (B.L), đồng Đèm(A.L)

Thông thường địa danh nước ta có 2 gốc cơ bản : đó là địa danh thuần

Việt (tên Nôm) và địa danh Hán – Việt Theo Nguyễn Văn Dũng trong “Địa

Trang 37

danh thành phố Thanh Hoá” đa phần là các địa danh có nguồn gốc Hán – Việt

(82,90%), còn Lộc Hà một địa danh ven biển chủ yếu là nông thôn và lấy sảnxuất nông nghiệp làm chính thì số lượng từ có nguồn gốc Thuần Việt lại khálớn, chiếm 51,7 % Tuy vậy, sự phân bố lại thiếu đồng đều giữa các nhóm,cụm, nhóm địa danh có nguồn gốc thuần Việt chỉ xuất hiện tập trung ở nhữngđịa danh chỉ loại hình tự nhiên (459/570 - chiếm 80,5%), còn các nhóm địadanh khác lại chiếm một số khiêm tốn hư nhóm địa danh chỉ cư trú hànhchính (35/268 - chiếm 0,13%)

Bảng 2 Phân loại địa danh theo tiêu chí nguồn gốc ngôn ngữ.

Không xác định được nguồn gốc

* Phân loại theo nguồn gốc ngữ nguyên lại cho phép chúng ta nhận

diện địa danh ở chiều hướng khác Nói cụ thể hơn, nó giúp chúng ta hiểuđược các luồng dân cư, sự giao thoa văn hoá trên địa bàn Đó là văn hoá Việtbản địa, văn hoá Hán, văn hoá Pháp…

1.4 Tiểu kết

Ở trên, chúng tôi đã trình bày về khái niệm địa danh, đưa ra kết quảthu thập, phân loại địa danh và trình bày một vài nét tiêu biểu về địa danhhuyện Lộc Hà - tỉnh Hà Tĩnh

Trang 38

Mỗi địa danh hoặc một lớp địa danh được ra đời trong một hoàn cảnhlịch sử nhất định Do đó, địa danh có chức năng phản ánh lịch sử của mỗi dântộc, từng vùng, khu vực cụ thể Địa danh học là một ngành trong ngôn ngữhọc, nghiên cứu cấu tạo, ngữ nghĩa, nguồn gốc và sự biến đổi của các địadanh

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu địa danh đã có từ rất lâu, nhưng chủ yếuchỉ mới đề cập đến từ góc độ địa lý, lịch sử … Nhằm tìm hiểu đất nước, conngười và cũng có những công trình tiếp cận địa danh kiểu khoa học liênngành Mấy năm lại đây đã xuất hiện các luận án, công trình nghiên cứu địadanh từ góc độ ngôn ngữ học Người ta đã nghiên cứu địa danh TP Hồ ChíMinh, Hải Phòng, Đắc Lắc, Quảng Trị, Nghệ An, Hội An, thành phố ThanhHóa, huyện Can Lộc

Lộc Hà một vùng địa linh nhân kiệt, có truyền thống lịch sử, văn hóalâu đời và có thể xem là bức tranh thu nhỏ của địa danh Hà Tĩnh nói riêng vàđịa danh miền trung Việt Nam nói chung Với hệ thống địa danh phong phú,

đa dạng nhưng mang đậm những nét đặc trưng riêng, các địa danh Lộc Hàgóp phần phản ánh rõ đặc điểm về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ của vùng quênày Sự phong phú đa dạng được thể hiện ở số lượng địa danh mà chúng tôithu thập được gồm nhiều loại hình, nguồn gốc Nhưng chính sự phong phú, đadạng nó lại đi liền với sự phức tạp Bởi thế, khi phân loại, có những địa danhđược xếp ở loại hình này nhưng cũng có thể xuất hiện ở loại hình khác Dovậy, trong cách hiểu của chúng tôi, đôi chỗ vẫn chỉ là tương đối mà thôi

Luận văn này cố gắng miêu tả về cấu trúc, cấu tạo và ngữ nghĩa củacác địa danh tại huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh Đây hệ thống địa danh ở khu vực ẩnchứa, mang theo những đặc điểm của phương ngữ Nghệ - Tĩnh, trong đó thểhiện rõ nhất ở hai phương diện ngôn ngữ và văn hóa

Trang 40

Địa danh là một đơn vị định danh, là tên gọi đối tượng địa lý tự nhiênhoặc nhân văn, luôn gắn với ý nghĩa nhất định có quan hệ chặt chẽ với đốitượng của chủ thể đặt tên Mỗi dân tộc, mỗi vùng địa phương có nguyên tắccấu tạo địa danh, tạo ra những địa danh khác nhau Trong chương này, chúngtôi tập trung mô tả về mặt cấu tạo, sự chuyển hóa của các địa danh tại huyệnLộc Hà, Hà Tĩnh.

2.2 Mô hình cấu trúc phức thể địa danh ở Lộc Hà.

Từ trước đến nay, khi xem xét, lý giải mô hình cấu trúc của một địadanh, tuy diễn đạt có khác nhau, nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu đãthống nhất với nhau ở việc xác định các thành phần cấu tạo

Mỗi địa danh đều có cấu tạo riêng của nó Cách gọi tên hay ý nghĩa củatên gọi có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để xác định, nghĩa là phải xemxét về mặt nguồn gốc phát sinh, đặc điểm cấu tạo Vốn từ của tiếng Việt vănhoá có thể phân ra: từ cổ và từ mới, từ thuần Việt và từ vay mượn, từ toàn dân

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Số lượng âm tiết trong thành tố chung của phức thể địa danh huyện Lộc Hà - Khảo sát địa danh ở huyện lộc hà luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 3 Số lượng âm tiết trong thành tố chung của phức thể địa danh huyện Lộc Hà (Trang 46)
Bảng 4: Số lượng các yếu tố (âm tiết) trong địa danh: - Khảo sát địa danh ở huyện lộc hà luận văn thạc sỹ ngữ văn
Bảng 4 Số lượng các yếu tố (âm tiết) trong địa danh: (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w