Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Sở khoa học - Công nghệ và Môi trường, Cục Thống kê và nhân dân địa phương ở khu vực nghiên cứu thuộc các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Minh H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2VINH - 2010
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy PGS TS Nguyễn Hữu Dực, PGS TS Hoàng Xuân Quang đã hết lòng tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh, khoa Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh, tổ bộ môn Động vật - Sinh lý đã tạo điều kiện thuận lợi và góp nhiều ý kiến quý báu, động viên, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Sở khoa học - Công nghệ và Môi trường, Cục Thống kê và nhân dân địa phương ở khu vực nghiên cứu thuộc các huyện
Bố Trạch, Quảng Trạch, Minh Hóa, Tuyên Hóa, cũng như người thân trong gia đình và tất cả bạn bè đã cùng góp sức, động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Vinh, tháng 01 năm 2010
Tác giả
Trang 4
BẢNG CHỮ CÁC CÁI VIẾT TẮT
tuyệt chủng trong tương lai
Trang 52.3 Địa điểm và số đợt khảo sát 8
3.6 So sánh mức độ đa dạng thành phần loài cá khu vực nghiên cứu với cá khu hệ lân cận 26
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ Hình Nội dung Trang
Biểu đồ Nội dung Trang
Trang 63.2 Tỷ lệ % số loài trong các bộ ở khu hệ cá sông Gianh 24
Trang 7MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nguồn lợi cá đang bị khai thác quá mức, dân cư tăng lên cùng với nạn phá rừng, cháy rừng, khai thác vật liệu xây dựng đã ảnh hưởng đến dòng chảy cửa sông và môi trường cá Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng đến thành phần, số lượng các loài cá, đặc biệt nhiều loài cá quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
Quảng Bình là tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, dựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ và hướng ra biển Đông rộng lớn Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 năm trước tới tháng 3 năm sau, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 Hệ thống sông ngòi với mật độ khá dày 0,8 - 1,1km/km2 Có
5 con sông chính là sông Nhật Lệ, sông Dinh, sông Lý Hoà, sông Gianh, sông Roòn với các
hồ tự nhiên, nhân tạo và các đầm lầy [58]
Sông Gianh chảy trên địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ khu vực ven núi Cô
Pi cao 2017m thuộc dãy Trường Sơn, chảy qua địa phận các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Quảng Trạch Ngoài ra còn có chi lưu sông Con bắt nguồn ở xã Thượng Trạch huyện Bố Trạch và chảy qua động Phong Nha - Kẻ Bàng sau đó sông Con nhập vào sông Gianh đổ ra biển Đông ở Cửa Gianh
Cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về thành phần loài cá ở sông Gianh
Vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng sinh học cá ở đây là rất cần thiết, tạo cơ sở khoa học đề xuất biện pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài :"Khu hệ cá sông
Gianh tỉnh Quảng Bình".
Mục tiêu của đề tài:
- Xác định thành phần các loài cá ở sông Gianh
- Mô tả và xây dựng khóa định loại các loài cá ở khu vực nghiên cứu (KVNC)
- Xác định sự phân bố các loài cá theo địa điểm thu mẫu và theo địa hình
- Tìm hiểu tầm quan trọng, tình hình khai thác đánh bắt cá ở địa phương
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt ở Việt Nam
Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta được chia làm 3 thời kỳ:
1.1.1 Thời kỳ phong kiến (trước năm 1881)
Thời kỳ này những hiểu biết về đời sống của các loài cá, nghề nuôi cá cũng như nghề khai thác và chế biến được ghi chép đơn giản trong các cuốn sách "Dược học" và các tác phẩm "Sử học", "Kinh tế học" thời phong kiến Trong đó có cuốn "Vân đài loại
ngữ" của Lê Quý Đôn Những ghi chép này cũng giúp ích cho việc nghiên cứu Ngư loại
học trong các thời kỳ tiếp theo
1.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc (1881 - 1954)
Bắt đầu có những công trình nghiên cứu về hình thái, phân loại khu hệ cá, phân
bố địa lý, giải phẩu, sinh lý, sinh hóa và về nghề nuôi cá Nhưng hầu như chưa có cán
bộ nghiên cứu nào của Việt Nam, chủ yếu là các nhà Ngư loại học người Pháp, ngoài ra
có thêm một số nhà khoa học người Anh, Mỹ
* Về hình thái, phân loại khu hệ cá và phân bố địa lý của cá
Công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở nước ta là H E Sauvage (1881) trong tác phẩm "Nghiên cứu về khu hệ cá Á châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương"
đã thống kê được 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta; G Tirant (1883) đã công bố thành phần loài và mô tả 70 loài cá ở sông Hương (Huế) trong đó có 3 loài mới [2, 10] H E Sauvage (1884) trong tài liệu "Đóng góp cho khu hệ cá Bắc Bộ" đã thu thập và định loại được 10 loài cá ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới L.Vaillant (1891 - 1904) thu thập 6 loài, mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài ở sông Kỳ Cùng, trong đó có một loài mới (1904); J Pellegrin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932) với tác phẩm "Cá nước ngọt ở Đông Dương - Cá vịnh Hạ Long" (1906) đã phân tích mẫu thu thập ở Hà Nội của đoàn thường trực khoa học Đông Dương gồm 29 loài,
có 2 loài mới (1907), mô tả loài Protosalanx brevirostris (1923), mô tả loài
Discognathus bouretti (1928); G Petit và T L Tchang, (1933) đã mô tả loài Garra polanei sưu tập được ở Thanh Hóa P Chevey, (1930, 1932a, b, 1935, 1936, 1937) trong tài
liệu "Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam" đã thông báo bắt được cá Chình nhật Anguilla japoníca ở Sông Hồng (1935, 1936)
Trang 9P Chevey & J.Lemason (1937) đã công bố công trình "Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam" gồm 98 loài thuộc 71 giống, 17 họ.
* Về giải phẫu, sinh thái, sinh lý và sinh hóa của cá
Trong thời kỳ này, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu sinh lý, sinh thái và giải
phẫu cá như: Chabanaud, (1926) nghiên cứu "Hiện tượng mẫu xương ở cá Đù"; P
Chevey, (1929 - 1930) với "Phương pháp tính tuổi cá bằng vảy"; J Lemasson & Nguyễn Hữu Nghị, (1939 - 1942) với nghiên cứu "Sinh học sinh sản cá Chép, cá Trê, cá Chuối ở miền Bắc Việt Nam" [30, tr 4]
* Về nuôi cá [10]
Thời kỳ này có J.Lemasson, (1933 - 1935) "Nuôi cá nước ngọt ở Bắc Bộ"; Nguyễn Văn Liêm, (1939) "Nuôi cá ở xứ Thái"; J Lemasson & Benas (1942 - 1943)
"Nuôi cá ruộng miền núi và đồng bằng Bắc Bộ"
Từ cuối thế kỷ thứ XIX đến giữa thế kỷ thứ XX (1945) các nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê thành phần loài, còn nghiên cứu
về sinh học và nguồn lợi cá mới chỉ là bước đầu
Các công trình tiêu biểu nghiên cứu về khu hệ cá thời kỳ này ở miền Bắc như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) nghiên cứu sơ bộ khu hệ cá sông Bôi (Hoà Bình) gồm 44 loài; Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959) nghiên cứu về khu hệ cá ở ngòi Thia (nhánh cửa sông Hồng) gồm 54 loài cá; Mai Đình Yên (1966) điều tra khu hệ
cá sông Hồng với 92 loài và phân loài cá nước ngọt, không kể cả nước lợ; Năm 1969 tài liệu "Các loài cá kinh tế nước ngọt miền Bắc Việt Nam" của Mai Đình Yên đã được xuất bản
Ở miền Nam Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu như: K.Kuronuma (1961) đã tổng hợp một danh lục cá ở Việt Nam gồm 139 loài; Trần Ngọc Lợi và
Trang 10Nguyễn Cháu (1964); Fourmanoir (1964); Yamarmura M (1966); Kawamoto, Nguyễn Viết Trương và Trần Tuý Hoa (1972) đã đưa ra một danh sách cá nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long gồm 93 loài [10].
+ Giai đoạn từ 1975 đến nay:
Kế thừa những thành quả của giai đoạn trước, ở giai đoạn này, công tác nghiên cứu cá được tiến hành trong phạm vi cả nước Những công trình điều tra giai đoạn này phục vụ cho công tác nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ đa dạng sinh học cá như: Vũ Trung Tạng và Đặng Thị Sy (1978) nghiên cứu khu hệ cá đầm phá ở phía Nam sông Hương; Nguyễn Hữu Dực (1982) "Thành phần loài cá sông Hương" gồm 58 loài; Nguyễn Thái Tự (1983) nghiên cứu khu hệ cá sông Lam, với 157 loài, sau này Nguyễn Thái Tự (1999) có các công bố về nghiên cứu khu hệ cá tại Phong Nha - Kẻ Bàng có 72 loài, vườn quốc gia Bến En có 68 loài,
KBTTN Vũ Quang có 65 loài và đã công bố các loài mới như: Chela quangbinhensis,
Parazacco vuquangensis Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991) nghiên cứu thành
phần và sự phân bố của cá nước ngọt các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ đã xác định ở sông Thu Bồn có 85 loài, sông Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài, đầm Châu Trúc 27 loài Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Hữu Dực (1994) nghiên cứu thành phần cá ở một số sông suối Tây Nguyên đã thống kê được 82 loài; Nguyễn Hữu Dực (1995), nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ có 134 loài; Vũ Trung Tạng (1997), đánh giá khả năng tự khôi phục số lượng của quần thể cá Mòi cờ hoa và đề ra các biện pháp nhằm duy trì và phát triển nguồn lợi; Vũ Trung Tạng và Nguyễn Thị Thu Hè (1997) ''Dẫn liệu bước đầu về thành phần cá ở sông Krông Ana (Đắc Lắc)''; Ngô Sĩ Vân và Nguyễn Hữu Dực (1999) "Nghiên cứu hiện trạng khu hệ cá hồ chứa Thác Bà Yên Bái" với 76 loài; Võ Văn Phú (1995) "Khu hệ cá đầm phá Thừa Thiên - Huế" với 163 loài; Vũ Trung Tạng (1999) ''Thành phần các loài cá ở đầm Trà Ổ và sự biến đổi của nó liên quan diễn thế của đầm";
Ở các KBTTN khác như: Pù Mát, Ba Bể, U Minh Thượng, Cát Tiên, cũng được các nhà khoa học nghiên cứu Trong thời gian gần đây Nguyễn Hữu Dực và các cộng sự công bố thêm các
loài cá mới như: Taxobrmis nhatleensis, Monopterus bicolor Gần đây nhất Nguyễn Văn Hảo
(2001, 2005) đã công bố 1027 loài thuộc 427 giống, 98 họ, 22 bộ cá trong bộ sách gồm 3 tập
"Cá nước ngọt Việt Nam" Đây là công trình lớn nhất giới thiệu và mô tả đầy đủ nhất từ trước đến nay về thành phần loài của khu hệ cá nội địa trên toàn lãnh thổ nước ta [10, 11, 12] Ngoài
ra một số tác giả nước ngoài cũng đã nghiên cứu khu hệ cá Việt Nam như: Kottelat; J Freyhof
Trang 11& D V Serov trong đó có rất nhiều loài cá mới như: Schistura songhuongensis, S konphengi,
Yunalilus cruciatus, Oreoglanis infulatus, Rhinogobius boa, R sulcatus Hoàng Xuân
Quang và cs, (2008) nghiên cứu khu vực Tây Bắc Nghệ An có 103 loài, trong đó phát hiện
giống Esomus phân bố ở Bắc Trung Bộ [27].
Nhìn chung, công tác nghiên cứu về cá nước ngọt ở nước ta trong những năm qua đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực như: phân loại, sinh học, sinh thái và phân bố địa
lý cá Từ đó, đã tạo tiền đề vững chắc cho các nghiên cứu sau này
1.2 Lược sử nghiên cứu cá nước ngọt ở khu vực nghiên cứu
Từ trước tới nay có ít công trình nghiên cứu về cá ở khu hệ này: Mai Đình Yên,
1978 "Định loại các loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam" đã phát hiện được 14 loài
cá ở sông Nhật Lệ [45] Nguyễn Thái Tự và cộng sự (1999) "Nghiên cứu khu hệ cá Phong Nha" với 72 loài [40] Ngô Sỹ Vân và cộng sự (2003) "Nghiên cứu khu hệ cá ở Phong Nha - Kẻ Bàng và các vùng phụ cận" với 177 loài [41] Trần Đức Hậu (2003) ''Nghiên cứu về độ đa dạng các loài cá ở lưu vực nhánh sông Long Đại thuộc sông Nhật
Lệ - Quảng Bình" với 65 loài Trần Đức Hậu (2006) "Góp phần nghiên cứu khu hệ cá sông Long Đại - Quảng Bình" với 137 loài [13] Tạ Thị Thủy (2006) "Góp phần nghiên cứu khu hệ cá sông Kiến Giang thuộc địa phận tỉnh Quảng Bình" với 130 loài [37]
1.3 Tình hình tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý
Quảng Bình nằm ở 16055’08’’ - 18005’12’’ vĩ độ Bắc, 105036’55’’ - 106059’37’’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp Hà Tĩnh (136,5km đường biên), phía Nam giáp Quảng Trị (78,8 km đường biên), phía Đông giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 126 km và phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn của CHDCND Lào với đường biên giới dài 201,9km
1.3.2 Đặc điểm địa hình
Địa hình nhìn chung khá phức tạp, thấp dần từ tây sang đông Phía tây là sườn đông của dãy Trường Sơn hùng vĩ, càng về phía đông địa hình càng thấp dần nhưng do hẹp ngang nên độ dốc tương đối lớn Địa hình được chia thành các dạng sau:
+ Địa hình núi cao và đồi trung du: Khu vực núi cao thuộc sườn đông Trường Sơn có độ cao từ 250m đến 2000m, thấp dần từ đông sang tây và từ bắc vào nam Khu vực đồi trung du chỉ cao 50 - 250m với độ dốc trên 30
Trang 12+ Dải đồng bằng ven biển: Có độ cao từ 10m trở xuống, có nơi còn thấp hơn mực nước biển Nơi đây thuận lợi cho việc phát triển các cây lương thực, nhất là lúa có ở các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Lệ Thủy, Quảng Ninh.
+ Dải cát nội đồng, ven biển có dạng lưỡi liềm hay dẻ quạt với độ cao từ 2 - 3m đến 50m, độ dốc lớn, nhiều khi tới 500 Điều đó gây ra nhiều khó khăn đối với sản xuất cũng như đời sống, nhất là nạn cát bay và sự di chuyển của các cồn cát vào đồng ruộng,
do chúng có độ cao lớn và cấu tạo kém bền vững
1.3.3 Đặc điểm khí hậu
Nằm trong đới khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới nóng ẩm, Quảng Bình có khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam với nét đặc trưng là vào tháng lạnh nhất, nhiệt độ đã vượt quá 180C Nhiệt độ trung bình của Quảng Bình là 240C - 250C, tăng dần từ bắc vào nam, từ tây sang đông Cân bằng bức xạ năm đạt 70 - 80kcal/cm2 Số giờ nắng bình quân năm khoảng 1700 - 2000 giờ Nhìn chung khí hậu Quảng Bình khắc nghiệt Điều đó thể hiện qua chế độ nhiệt, độ ẩm và tính chất chuyển tiếp của khí hậu được trình
1.3.4 Đặc điểm thủy văn
Quảng Bình có hệ thống sông suối dày chằng chịt với mật độ khá dày 0,8 - 1,1 km/km2 Do lãnh thổ hẹp ngang, độ dốc lớn nên sông ngòi thường ngắn, dốc, có hiện tượng đào lòng mạnh
Trang 13Sông Gianh dài khoảng 160 km, chảy qua địa phận các huyện Minh Hoá, Tuyên Hoá, Quảng Trạch Các chi lưu của sông Gianh: Sông Con bắt nguồn từ tây Bố Trạch chảy qua vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hợp lưu với sông Gianh đổ ra biển Đông, Sông Giang bắt nguồn từ Cha Lo chảy theo hướng Đông Bắc nhập với sông rào Cái đổ về sông Gianh, ngoài ra
có phụ lưu rất nhỏ như sông Nan ở khu vực Cao Quảng, rào Nậm ở Thuận Hóa
Vị trí cửa sông: 17042’677’’vĩ độ Bắc và 106026’526’’kinh độ Đông Diện tích lưu vực 4.680km2, độ cao trung bình 360m, lượng nước năm 7,95 km3 ứngvới lưu lượng
tấn/năm ứng với độ đục trung bình năm 192 g/m3 và hệ số xâm thực 168 tấn/km2
1.3.5 Đặc điểm xã hội và nhân văn vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu thuộc địa phận bốn huyện: Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch với tổng diện tích, dân số và mật độ dân số được trình bày ở bảng 1.2
Bảng 1.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2009
Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Bình năm 2009 [3]
chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hóa và Minh Hóa Cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và đánh bắt cá Vẫn còn hiện tượng du canh du cư, chặt phá rừng làm nương rẫy, do mật độ dân cư khá đông đúc Chính những điều đó đã làm môi trường sống của cá ngày càng bị suy thoái và làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học cá ở đây
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, TƯ LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài cá trên sông Gianh
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 1/2009 đến tháng 8/2010 bao gồm: tiến hành thu thập tài liệu, điều tra, khảo sát, thời gian thu mẫu ở ngoài thực địa, phỏng vấn ngư dân
và nhân dân địa phương về những vấn đề có liên quan đến đối tượng cần nghiên cứu, phân tích mẫu tại Phòng thí nghiệm Động vật, Khoa Sinh học - Trường Đại học Vinh và viết luận văn
- Các đợt thu mẫu ngoài thực địa
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu thu mẫu tại 8 điểm trên sông Gianh thuộc 4 huyện (bảng 2.3 và hình 2.1)
Bảng 2.3 Địa điểm và số đợt khảo sát
Các đợt
5
19/01/200915/08/200920/12/200912/03/201022/07/2010
(cửa sông)
N: 17041’734’’E: 106028’586’’
Trang 1519/01/200913/08/200918/07/2010
048’803’’E: 106011’602’’
N: 17057’506’’E: 105048’714’’
3
19/01/200910/03/201016/07/2010
049’461’’E: 106010’538’’
N: 17048’212’’E: 105056’226’’
N: 17054’382’’E: 105049’383’’
N: 17043’116’’E: 105057’349’’
N: 17047’965’’E: 106013’688’’
2.1.4 Tư liệu sử dụng viết luận văn
- 874 mẫu cá thu được ở KVNC, trong các đợt đi thực đi và tại các điểm nhờ người dân thu, mua hộ
- Nhật ký quan sát thực địa và phiếu điều tra, phỏng vấn ngư dân, nhân dân trong các đợt đi thực địa
- Các tài liệu đã công bố có liên quan đến khu hệ cá và các vùng phụ cận
Trang 16Hình 2.1 Bản đồ các điểm nghiên cứu khu hệ cá sông Gianh - Quảng Bình
Trang 172.1.5 Phương pháp nghiên cứu
2.1.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
* Phương pháp thu mẫu cá
- Nguyên tắc
+ Thu mẫu tất cả các loài bắt gặp, thu số lượng nhiều với loài lạ
+ Thu mẫu ở các mùa khác nhau, vào nhiều thời điểm trong ngày
+ Thu mẫu ở các loại môi trường khác nhau bằng các phương tiện: lưới, chài, đó + Với loài nghiên cứu biến dị quần thể, số lượng thu phải lớn hơn 30 mẫu
- Cách thu mẫu
+ Trực tiếp đánh bắt hoặc đi cùng ngư dân khai thác theo yêu cầu
+ Thu mẫu ở các chợ gần địa điểm thu mẫu và cần phải hỏi kỹ nơi đánh bắt cá
+ Đặt thùng hoặc bình đựng mẫu ở những nơi có nguồn quan trọng có kèm theo phiếu hướng dẫn cách thu, hóa chất và các dụng cụ để ngư dân thu mua mẫu hộ
- Ghi nhãn cho mẫu
+ Dùng bút chì hoặc bút viết không mờ chữ, nhòe và giấy không thấm nước
+ Nhãn cá có các thông tin sau: Địa điểm thu mẫu; số thứ tự; thời gian; tên loài cá (tên khoa học, tên địa phương, tên phổ thông) và đặt vào bình thu mẫu
- Xử lý và bảo quản mẫu
+ Làm chết mẫu vật (nếu cá còn sống): mẫu vật được làm chết bằng cách thả trực tiếp mẫu vật vào dung dịch formalin 9 - 10%
+ Định hình mẫu vật: Chất định hình dùng dung dịch formalin 10% Thời gian cho giai đoạn này 24 giờ
+ Bảo quản mẫu vật: Sau khi định hình cho mẫu vật vào dung dịch formalin 4 - 5% hay cồn 900
* Phương pháp thu thập các yếu tố môi trường, khai thác nguồn lợi:
Trên cơ sở quan sát môi trường tự nhiên cần ghi chép đầy đủ về các đặc điểm sinh cảnh:
- Điều kiện môi trường (nhiệt độ không khí, nắng, mưa, gió )
+ Độ sâu, rộng, tốc độ dòng chảy, màu nước, động thực vật, thủy sinh học
+ Dạng địa hình (núi đất, núi đá vôi ) và khu dân cư sinh sống
- Hoạt động khai thác và các phương tiện đánh bắt của ngư dân
Trang 18+ Những hiểu biết về cá của ngư dân và nhân dân địa phương.
+ Vị trí địa điểm đánh bắt, quan sát
* Điều tra, phỏng vấn ngư dân và nhân dân địa phương
Đây là phương pháp để thu thập thêm thông tin về cá như: tên địa phương, mùa xuất hiện, mùa đánh bắt, phương tiện đánh bắt, số lượng cá thể nhiều hay ít, nơi sinh sản, cách sinh sản, giá trị kinh tế, tác dụng chữa bệnh
2.1.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
* Phương pháp phân tích các số liệu hình thái
Phân tích đặc điểm hình thái theo I F Pravdin (1963) [26] (bản dịch của Phạm Thị Minh Giang) (1973) và tham khảo tài liệu của Nguyễn Văn Hảo & Ngô Sĩ Vân (2001) [10]
+) Các chỉ tiêu đo và đếm (được thể hiện ở hình 2.2)
Hình 2.2 Sơ đồ đo và đếm cá họ cá Chép (Cyprinidae)
- Các chỉ tiêu đo:
ab: chiều dài toàn thân; ac: chiều dài theo Smith; ad: chiều dài không có C; od: chiều dài mình; an: chiều dài mõm; np: đường kính mắt; po: phần đầu sau mắt; ao: chiều dài đầu; lm: chiều cao đầu ở chẩm; gh: chiều cao lớn nhất của thân; ik: chiều cao nhỏ nhất của thân; aq: khoảng cách từ mõm đến vây lưng; sd: khoảng cách từ vây lưng đến vây đuôi; fd: chiều dài thân đuôi; qs: chiều dài gốc D; tu: chiều cao lớn nhất của D; yy 1 : chiều dài gốc A; ej: chiều cao lớn nhất của A; vx: chiều dài P; zz 1 : chiều dài V; vz: khoảng cách giữa P và V; zy:
khoảng cách giữa V và A; ở bên phải hình vẽ có sơ đồ đo chiều rộng trán
- Các chỉ tiêu đếm:
Trang 19Số vảy đường bên (Ll), số vảy quanh cán đuôi, số vảy dọc cán đuôi Số lượng tia cứng, tia mềm của các vây lưng (D), vây hậu môn (A), vây ngực (P), vây bụng (V), vây đuôi (C).
• Tính tỷ lệ % các chiều đo:
- Chiều dài tiêu chuẩn (Lo) với: Chiều cao thân (H), chiều dài đầu (T), khoảng cách trước vây lưng (daD), khoảng cách sau vây lưng (dpD), dày thân, chiều dài cuống đuôi (lcd), chiều cao cuống đuôi (ccd)
- Chiều dài đầu (T) với: Chiều dài mõm (Ot), đường kính mắt (O), dài đầu sau mắt (Op), khoảng cách hai mắt (OO), chiều dài đầu (hT)
- Chiều cao thân lớn nhất (H) với: Dày thân, chiều cao thân nhỏ nhất
- Khoảng cách hai mắt (OO) với: Đường kính mắt (O)
- Tỷ lệ giữa P-V và V-A; chiều dài cuống đuôi (lcd) và chiều cao cuống đuôi (ccd)
* Định loại các loài dựa vào các tài liệu chính:
+ Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam của Mai Đình Yên, (1978) [45]
+ Định loại cá nước ngọt Nam Bộ của Mai Đình Yên và cộng sự, (1992) [46] + Cá nước ngọt Việt Nam - Tập 1, 2, 3 - Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân, (2001, 2005) [10, 11, 12]
+ Fishes of the Cambodian Mekong by W J Rainboth, (1996) [54]
+ Tài liệu FAO [56]
- Trình tự các bộ, họ, giống, loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại của William N Eschmeyer, 1998
- Mỗi loài nêu tên khoa học, tác giả, năm công bố, tên Việt Nam (tên địa phương, tên phổ thông), các tác giả đã nghiên cứu ở Bắc Trung Bộ, địa điểm thu mẫu và số mẫu nghiên cứu
- Với những loài đã được mô tả trong các tài liệu tham khảo thì chỉ nêu các đặc điểm cơ bản, chủ yếu nêu lên sự sai khác với các tác giả khác Còn đối với những loài chưa được mô tả hoặc đang còn nghi ngờ thì mô tả kỹ và chi tiết
- Ngoài ra còn sử dụng phương pháp chuyên gia để thẩm định những mẫu còn nghi ngờ trong quá trình định danh
- Xử lý số liệu và tính toán
Trang 20CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài và cấu trúc phân loại học cá sông Gianh
3.1.1 Thành phần loài
Kết quả phân tích 874 mẫu thu được ở hệ thống sông Gianh đã xác định được 123 loài cá thuộc 94 giống, 49 họ và 12 bộ (bảng 3.4) Trong danh lục này đã bổ sung cho danh lục cá Bắc Trung Bộ 21 loài, và có 6 phenon chưa xác định tên khoa học là:
Hemiculter sp, Cobitis sp, Schistura sp, Eleotris sp, Rhinogobius sp, Channa sp (ảnh
phụ lục 1)
3.1.2 Cấu trúc phân loại học khu hệ cá sông Gianh
- Về bậc bộ: Trong 12 bộ ở KVNC thì bộ cá Vược có nhiều họ nhất với 26 họ (chiếm 53,06%); tiếp theo là bộ cá Nheo với 6 họ (12,24%); bộ cá Chép có 3 họ (6,12%); bộ cá Chình, bộ cá Trích, bộ cá Nhái, bộ Mang liền, bộ cá Bơn mỗi bộ có 2 họ (4,08%); còn lại 4 bộ khác mỗi bộ có 1 họ (2,04%) (bảng 3.5, biểu đồ 3.1)
Bảng 3.5 Tỷ lệ % các bộ, họ, giống, loài theo các bậc phân loại.
Trang 21Bảng 3.4 Thành phần các loài cá khu hệ sông Gianh
Trang 22(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16)
Phân họ cá Lòng tong Danioninae
Trang 23(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16)
1936)
Trang 24(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16) Phân họ cá Chạch bùn Cobitinae
(8) Họ cá Chạch vây bằng Balitoridae
Phân họ cá Chạch suối Nemacheilinae
47 Cá Chạch cật punchơ Micronemacheilus pulcher (Nichols & Pope,
1927)
49 Cá Chạch sông hương Schistura huongensis J Freyhof & D V Serov,
Serov, 2000
Phân họ cá Chạch vây bằng Balitorinae
Trang 25(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16)
Trang 27(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16)
Trang 28(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) (14) (15) (16)
Phân họ cá Bống lụa Tridentigerinae
Phân họ cá Bống trắng Gobiinae
Trang 29Ghi chú : - Địa điểm: a: Lâm Hóa, b: Hóa Thanh, c: Hồng Hóa, d: Xuân Hóa, e: Thượng Hóa, f: Kim Hóa, g: Phong Hóa, h: Thanh Trạch.
- Phân bố theo (ĐH) địa hình: i: Thượng lưu, k: Trung lưu, l: Hạ lưu, m: Cửa sông
* Loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007)
Trang 30- Về bậc họ: Trong 49 họ tìm được ở KVNC thì họ cá Chép có nhiều giống nhất với 28 giống (chiếm 29,79%); tiếp đến họ Bống trắng có 6 giống (6,38%); họ Chạch vây bằng có 3 giống (3,19%); họ Chình rắn, họ cá Trích, họ cá Chạch, họ cá Lăng, họ Rô mo, họ cá Căng, họ cá Liệt, họ cá Móm, họ cá Sạo, họ cá Sặc mỗi họ có 2 giống và cùng (2,13%); những họ còn lại đều
có 1 giống (1,06%) (bảng 3.5, biểu đồ 3.3)
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ % số họ trong các bộ ở khu hệ cá sông Gianh
- Về bậc loài: Trong tổng số 123 loài thuộc các bộ khác nhau thì bộ cá Chép, bộ cá Vược có số loài nhiều với 49 loài (chiếm 39,84%); bộ cá Nheo có 9 loài (7,32%); bộ cá Chình, bộ cá Trích mỗi họ có 3 loài (2,44%); tiếp đến bộ cá Nhái, bộ cá Mang liền, bộ
cá Bơn mỗi bộ có 2 loài (1,63%); còn lại bộ cá Thát lát, bộ cá Cóc, bộ cá Mù làn, bộ cá Nóc mỗi bộ có 1 loài (0,81%) (bảng 3.5, biểu đồ 3.2)
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ % số loài trong các bộ ở khu hệ cá sông Gianh
Trang 31Biểu đồ 3.3 Thành phần, tỷ lệ các giống và loài trong các họ cá ở KVNC
Trang 323.1.3 Nhận xét khu hệ cá sông Gianh
3.1.3.1 So sánh thành phần cá ở khu vực nghiên cứu với khu hệ lân cận
Để thấy rõ về tính chất đa dạng và phong phú của cá ở khu vực nghiên cứu chúng tôi tiến hành so sánh về số lượng, thành phần loài so với các khu hệ lân cận: Sông Kiến Giang (Tạ Thị Thủy, 2006) [37], Sông Long Đại (Trần Đức Hậu, 2006) [13], Phong Nha
- Kẻ Bàng (Ngô Sỹ Vân và cs, 2003) [41], Sông Ngàn Sâu (Vũ Thị Liên Phượng - 2009) [25] (bảng 3.6, biểu đồ 3.4)
Bảng 3.6 So sánh mức độ đa dạng thành phần loài cá KVNC với các khu hệ lân cận
Biểu đồ 3.4 So sánh số lượng loài ở KVNC với các khu hệ lân cận
Qua bảng 3.6 và biểu đồ 3.4 nhận thấy: Tính đa dạng về thành phần loài, họ, bộ, giống của khu hệ cá sông Gianh đạt mức độ trung bình Sự đa dạng này thua kém hơn ở khu hệ cá sông Kiến Giang, sông Long Đại và Phong Nha - Kẻ Bàng nhưng đa dạng hơn khu hệ cá sông Ngàn Sâu
Trang 333.1.3.2 Những loài cá quý hiếm ở khu vực sông Gianh
Ở KVNC có 5 loài quý hiếm đã được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật) năm 2007 [1] chiếm 5,62% trong tổng số 89 loài cá ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật) (Bảng 3.4, Bảng 3.7 và Phụ lục 1)
Bảng 3.7 Những loài cá quý hiếm có trong SĐVN (2007) ở KVNC
Ở khu hệ sông Gianh có 2 loài đặc hữu của miền Trung đó là: Hemibagrus
centralus và Cyprinus melanes.
- Loài Hemibagrus centralus có ở 4/8 điểm thu mẫu (Lâm Hóa, Hóa Thanh, Xuân Hóa
và Kim Hóa)
- Loài Cyprinus melanes có ở 2/8 điểm thu mẫu (Hóa Thanh, Kim Hóa).
3.1.3.3 Các loài cá bổ sung cho khu vực Bắc Trung Bộ
Trong tổng số 123 loài cá xác định được ở khu vực sông Gianh, có 21 loài bổ sung cho khu vực Bắc Trung Bộ (chiếm 17,07%) (bảng 3.8)
Bảng 3.8 Các loài cá bổ sung cho khu vực Bắc Trung Bộ
Trang 343.2 Sự phân bố các loài cá sông Gianh
3.2.1 Phân bố theo địa hình
Biểu đồ 3.5 Phân bố cá theo địa hình ở sông Gianh
Sự phân bố các loài cá theo địa hình ở khu hệ cá sông Gianh được thể hiện qua biểu đồ 3.5 và bảng 3.4, cho thấy:
Ở Thượng lưu số loài phân bố nhiều nhất với 71 loài chiếm 57,72%, tiếp đến ở Cửa sông có 49 loài (39,84%), Hạ lưu có 30 loài (24,39%) và Trung lưu có số loài phân
bố ít nhất là 29 loài (23,58%)
Trang 353.2.2 Phân bố các loài cá có nguồn gốc từ biển ở KVNC
Bảng 3.9 Số loài cá ở sông Gianh có nguồn gốc từ biển
Nhận xét: Qua bảng 3.9 và phụ lục 5 cho thấy :
- Số họ có nhiều loài cá biển là họ Gobiidae có 7 loài (chiếm 14,58% tổng số loài cá biển ở khu vực nghiên cứu; tiếp đến là các họ Teraponidae có 3 loài (6,25%); Ophichthidae,
Trang 36Clupeidae, Carangidae, Leiognathidae, Gerridae, Haemalidae, Mugilidae, Eleotridae mỗi
họ có 2 loài (4,17%) và các họ còn lại chỉ có 1 loài (2,08%)
Trong 48 loài cá biển hoặc cá nước lợ có phạm vi phân bố ở sông Gianh với những khoảng cách khác nhau: Ở vùng Cửa sông có 17 loài cá phân bố (chiếm 35,42%); phạm vi đến 10 km (Thanh Trạch) có 30 loài cá phân bố (chiếm 62,5%); Xa nhất là 50km (Kim
Hóa) có 4 loài cá phân bố (chiếm 8,33%) như các loài: Eleotris fuscca; Eleotris sp.;
Glossogobius fasciato - punctatus; Glossogobius aureus.
Như vậy có nhiều loài cá thích nghi rộng, sống ở nước mặn và nước lợ và thường di
cư vào vùng Trung lưu sông Gianh; nước ngọt Khu hệ cá sông Gianh mang tính chất của khu hệ cá nước ngọt nhưng đồng thời cũng có thành phần cá nước mặn, nước lợ (chiếm 39,02%)
3.2.3 Các nhóm cá về sinh thái
Qua quá trình thu mẫu và điều tra ngoài thực tế (phụ luc 6) có các nhóm cá sau:
- Có 75 loài cá có nguồn gốc nước ngọt (chiếm 60,98%), trong đó bộ cá Chép có số loài nhiều nhất với 49 loài (chiếm 39,84%) và số bộ có loài ít nhất là Bộ Mang liền có 2 loài (1,63%)
Ngoài ra, theo Mai Đình Yên (1995), Việt Nam có 10 khu phân bố địa lý cá nước ngọt, trong đó khu hệ cá miền Trung được xem là khu hệ phân bố chuyển tiếp (trích dẫn
từ Lê Vũ Khôi & Nguyễn Nghĩa Thìn, 2001 [17, tr.153] Như vậy sông Gianh cũng nằm trong khu phân bố chuyển tiếp đó
Dựa vào các tài liệu Mai Đình Yên [45], Nguyễn Thái Tự [39], Nguyễn Hữu Dực [5], Lê Viết Thắng [32], Nguyễn Xuân Khoa [16], Nguyễn Văn Hảo [10,11,12], Trần Thị Thủy [37], Trần Đức Hậu [13], Lê Văn Sơn [29], Trần Kim Tấn [33], Lê Văn Đức
Trang 37[8], Vũ Thị Liên Phượng [25] chúng tôi thấy: Có 11 loài cá phân bố ở phía Bắc và 6 loài phân bố ở phía Nam hiện có ở sông Gianh (bảng 3.10) Điều đó chứng tỏ khu hệ cá sông Gianh mang tính chất của khu hệ chuyển tiếp giữa khu hệ cá phía Bắc và khu hệ cá phía Nam.
Bảng 3.10 Các loài phân bố phía Bắc và phía Nam có ở sông Gianh
- Nicholsicypris dorsohorizontalis
- Hemibarbus umbrifer
- Acheilognathus barbatulus
- Paraspinibarbus macracanthus Phía Bắc có 11 loài - Neolissochilus benasi
1 Cá Thát Lát Notopterus notopterus (Pallas, 1769)
Gymnotus notopterius: Pallas, 1769, Spidlegia Zoological, pt7 P40, Pl16, fig 2 (Ấn Độ).
Notopterus notopterus: Smith, 1945: 59 (Siam); Taki, 1974: 46 (Laos); Mai Đình Yên,
1978: 15; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993: 44; Nguyễn Hữu Dực, 1995: 22; Nguyễn Thị Thu Hè, 2000: 8
Trang 38Địa điểm và số mẫu: Thanh Trạch 5 mẫu.
Bộ cá Chình Anguilliformes
Họ cá Chình Anguillidae
2 Cá Chình hoa Anguilla marmorata Quoy & Gaimard,1824
Anguilla marmorata: Quoy & Gaimara,1824: 241 Pl.51 (Voyage urania Lool: ref
3574) Weiges, Indonesia; Kotlelat & Lin, 1935: 228 (ref 23210); Nguyễn Hữu Dực & Mai Đình Yên, 1994 Nguyễn Hữu Dực, 1994, tr 24; Rainboth, 1996: 57; Échmeyer, 1998: 57; Nguyễn Hữu Phụng, 2001: 45
Anguilla mauritiana: Benneth, 1831: 128; Castle, 1986: ref 5644.
Anguilla bengalensis: Nguyễn Hữu Dực, 1982: 20.
Địa điểm và số mẫu: Kim Hóa, 1 mẫu; Minh Cầm,1 mẫu
Trang 39Muraenichthys malabonensis: Herre, 1923: 157, Pl 2 (fig 1) [Philipin J Sci V 23 (no
2); ref 2117]; Nguyễn Khắc Hường, 1993: 32, hình 11; Nguyễn Hữu Phụng, 2001: 92.Địa điểm và số mẫu: Thanh Trạch, 1 mẫu
Đặc điểm hình thái: L = 196,32mm; Lo = 194,76mm;
T = 26,86mm; Op = 21,49mm; Ot = 3,77mm; O = 2,46mm; OO = 3,16mm; hT = 6,33mm; H = 7,60mm; Lo/H = 25,63; Lo/T = 7,25; T/Ot = 7,12; T/O = 10,92; T/OO = 8,50
So với Nguyễn Khắc Hường [1993: 32]: T/Ot = 5,0; T/OO = 6,66
Mô tả: Thân nhỏ và dài, phần đuôi dẹp bên Mắt nhỏ hơn chiều dài mõm Đầu dẹp bên
và chiều dài lớn gấp 2,3 lần so với chiều cao thân Vây lưng, vây hậu môn, vây đuôi dài
và nối liền nhau Không có vây bụng, vây ngực Thân không có vảy Cá có thân màu đen nhạt, các vây có màu vàng nhạt
Phân họ cá Chình rắn Ophichthinae
4 Cá Nhệch ăn cua Pisodonophis cancrivorus Richardson, 1884
Ophisurus cancrivorus: Richardson, 1848: 97 pl 50 (fig 6 9).
Ophisurus sinensis: Richardson, 1848: 96.
Ophisurus baccidens Cantor, 1850: 1302.
Ophisurus schaapi: Bleeker, 1853: 735.
Pisodonophis zophistius: Jordan & Snyder, 1901: 868.
Pisodonophis brachsoma: Bleeker, 1864: 64
Pisodonophis cancrivorus: Richardson, 1884: 97 pl 50 (fig 6 9) [Ichthy Erebus &
Terror volo 2 (2); ref 1740] Port Essington, Northern, Terte, Australia Nguyễn Hữu Phụng, 2001: 105, hình 47
Địa điểm và số mẫu: Thanh Trạch,1 mẫu
Đặc điểm hình thái: Lo = 266,74mm; T = 27,46mm;
Op = 19,74mm; Ot = 4,67mm; O = 3,48mm; OO = 3,60mm; hT =7,69mm; H = 6,42mm; Lo/H = 41,55; Lo/T = 9,71; T/Ot = 5,88; T/O = 7,89, T/OO = 7,63
Mô tả: Thân rất dài, tròn Chiều dài của mõm tương đương với đường kính mắt và khoảng cách hai mắt Miệng tương đối rộng, nằm ngang Khởi điểm vây lưng cách gốc vây ngực một khoảng bằng 1/2 chiều dài vây ngực Thân không có vảy Thân có màu nâu nhạt, các vây không có màu
Bộ cá Trích Clupeiformes
Trang 40Họ cá Trích Clupeidae
Phân họ cá Mòi Dorosomatinae
Ở KVNC phân họ này có 2 loài thuộc 2 giống được phân biệt như sau:
1(2) D = 16; L1 = 46 - 50 Nematolosa nasus 2(1) D = 17; L1 = 53 Konosirus punctatus
5 Cá Mòi mõm tròn Nematolosa nasus (Bloch, 1795)
Clupea nasus: Bloch, 1795: 116, Pl 429 (fig.1)[Natrg Aust Fische V.9; ref 464.]
Malabar India
Chatoesus nasus: Cuvier & Valenciennes, 1848: 104; Tirant, 1885: 30.
Dorosoma (Chatoessus) nasus: Gruvel, 1925: 73; Bourret, 1927: 301.
Dorosoma nasus: Atlat, 1866 - 72: 142; Chevey, 1932: 19.
Clupanodon nasus: Regan, 1917: 313, Ann mag; Nguyễn Khắc Hường, 1991: 36;
Rainboth, 1996: 62; Kottelat, 2001: 13; Nguyễn Hữu Phụng, 2001: 198
Anodontostomus nasus: Suvatti, 1937: 14.
Địa điểm và số mẫu: Thanh Trạch, 3 mẫu
Đặc điểm hình thái: L = 95,98 - 143,37mm; Lo = 74,76 - 113,70mm;
D = 16; A = 2,18; P = 1,13; V = 1,6; L1 = 46 - 50 ; C = 5,16;
Lo/H = 2,84; Lo/T = 3,57; T/Ot = 5,11; T/O = 3,18; T/OO = 3,65; OO/O = 0,87; Lo/dày thân = 8,57
So với Nguyễn Khắc Hường [1991: 36 - 38]: D = 16; A = 22 - 24; P = 16; V = 8
Giá trị khoa học: Nematalosa nasus là loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (phần
Động vật) năm 2007, bậc VU
6 Cá Mòi cờ chấm Konosirus punctatus (Schlegel, 1846)
Chaetorus punctatus: Schlegel in Temminck & Schlegel, 1846: 240, Fau Janonica Poiss,
10-14, Pl 109, fig.1 (Nhật Bản)
Chatoessus aquosus: Richardson, 1846: 307.
Clupanodon punctatus: Svertovidev, 1952: 319; Vương Văn Tân, 1962: 118, hình 90;
Mai Đình Yên, 1978: 11, hình 4; Nguyễn Khắc Hường, 1991: 40; Nguyễn Hữu Dực, 1995: 21
Konosirus punctatus: Mátubara, 1955: 188; Nguyễn Hữu Phụng, 2001: 195.
Địa điểm và số mẫu: Thanh Trạch, 1 mẫu