Mảnh đất ven sông Gianh còn có tầng văn hóa lâu đời, mà một trong những biểu hiện của nó là các làng nghề truyền thống: làng nghề mộc, nghề rèn, nghề chạm, nghề đan lát, làm nón.... Với
Trang 1hướng dẫn đọc toàn văn báo cáo KQNC
! Bạn muốn đọc nhanh những thông tin cần thiết ?
! H∙y đọc qua Mục lục bên tay trái bạn trước khi
đọc báo cáo ( với Acrobat 4.0 trở lên, cho trỏ chuột vào mỗi đề mục để đọc toàn bộ dòng bị che khuất )
! Chọn đề mục muốn đọc và nháy chuột vào đó
! Bạn muốn phóng to hay thu nhỏ trang báo cáo trên màn hình ?
! Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích th Chọn, nháy chuột vào 1 trong 3 kích thưưưước ớc
có sẵn trên thanh Menu
, hoặc
! Mở View trên thanh Menu, Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to Mở View trên thanh Menu, Mở View trên thanh Menu, Chọn Zoom to Chọn Zoom to
! Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích th Chọn tỷ lệ có sẵn trong hộp kích thưưưước ớc hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn,
hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn hoặc tự điền tỷ lệ theo ý muốn, Nhấn OK , , Nhấn OK Nhấn OK
Chúc bạn hài lòng với những thông tin đ với những thông tin đưưưược cung cấp ợc cung cấp
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Th.s Lại Thị Hương – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Em cũng xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo ở Khoa Khoa học – Xã hội trường Đại học Quảng Bình, trung tâm Học liệu trường Đại học Quảng Bình, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình, Sở Công thương tỉnh Quảng Bình, Phòng Công thương UBND huyện Quảng Trạch, Phòng Văn hóa thông tin huyện Bố Trạch, UBND xã Quảng Thuận, UBND xã Quảng Thanh, UBND xã Quảng Thọ Cảm ơn các cụ, các bà, các bác tại địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận
Trong quá trình thực hiện, do bước đầu làm quen với đề tài nghiên cứu, kinh nghiệm và thời gian còn có nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn Đồng Hới, tháng 5 năm 2014
Sinh viên: Nguyễn Thị Mỹ Trinh
Trang 3BẢN CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử biết đến dòng sông Gianh như là một đường biên giới ở đồng bằng
và là ranh giới chia cách đất nước trong thời kỳ chiến tranh Trịnh – Nguyễn
Mảnh đất ven sông Gianh còn có tầng văn hóa lâu đời, mà một trong những biểu hiện của nó là các làng nghề truyền thống: làng nghề mộc, nghề rèn, nghề chạm, nghề đan lát, làm nón
Sông Gianh là một trong năm con sông lớn nhất ở Quảng Bình, dài hơn 150km, chảy vắt ngang từ Tây sang Đông, được hội tụ từ bốn nguồn chính: nguồn Nậy, nguồn Trổ, nguồn Nan và nguồn Son Thế kỷ XV, đề cập đến đặc điểm thiên nhiên của vùng Thuận Hóa (tức Bình Trị Thiên ngày nay), Nguyễn Trãi nói đến Nam Hải và sông Linh Giang (tên gọi sông Gianh lúc đó) như một vùng đất chiến lược, có núi cao biển rộng, địa thế hiểm trở Sông Gianh đã từng
là biên giới giữa Đại Việt và Chiêm Thành cho đến khi được sáp nhập vào Đại Việt từ thế kỷ XI Sau đó nối tiếp nhau các vương triều phong kiến Đại Việt thi hành chính sách di dân, đưa người Việt vào khai hoang lập ấp, sinh sống ở đó Đến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh cũng chọn ngay sông Gianh làm ranh giới về mặt hành chính, mặc dù trong thực tế chiến sự hầu như không diễn ra ở đó mà lùi mãi về phía kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là đầu mối của những mũi giao thông thủy bộ lợi hại: một ngã qua sông Son lên phà Xuân Sơn tiếp xúc với đường Trường Sơn, một ngã ra biển Đông theo con đường Hồ Chí Minh trên biển, một ngã đường bộ vào Nam theo Quốc lộ 1A Cảng sông Gianh trở thành
“tọa độ lửa” - trọng điểm địch tập trung bắn phá, còn với ta là nơi tập kết lực lượng, hàng hóa trước khi ra chiến trường, cần được bảo vệ bằng mọi giá
Với lịch sử lâu đời, những làng xã ở lưu vực sông Gianh có nền văn hóa đặc sắc, không chỉ nổi tiếng với truyền thống khoa cử, có bốn làng trong “bát danh hương” Quảng Bình: Sơn, Hà, Cảnh, Thổ (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa), ngoài ra còn có những làng nghề cổ truyền với những sản phẩm đã trở nên quen thuộc với người dân trong và ngoài tỉnh Những làng nghề đó có từ rất lâu, mà đến hôm nay con cháu cũng không rõ xuất xứ Có những làng được hình thành do nhu cầu sinh hoạt của người dân trong quá trình khai khẩn đất đai, như
Trang 6nghề đan lát, làm nón, trồng bông dệt vải Lại có những làng nghề ra đời do điều kiện lịch sử như nghề mộc, nghề rèn, nghề chạm Ví như nghề rèn, đúc ở làng Hòa Ninh, xã Quảng Hòa được hình thành từ thời chiến tranh Trịnh - Nguyễn để cung cấp vũ khí, đáp ứng yêu cầu chiến sự lúc đó Sản phẩm truyền thống của các làng nghề đã đi vào thơ ca, hò vè dân gian:
Đồ đan Thọ Đơn Hàng may Pháp Kệ Hành chiếu Thanh Sơn Ngọa Cương làng gốm Giấy bổn Diên Trường Nón Kinh chợ Ngọa Mắm cá Cảnh Dương
Hà Khương thao lụa Thanh Lạng tre nứa Dao búa Hòa Ninh Bánh tráng Lộc Điền
Lệ Sơn ngô lạc Hàng quạt Trung Thuần Thuận Bài vải sợi
Lối sống tốt đẹp đó cho đến nay vẫn còn được những người nông dân mộc mạc trân trọng gìn giữ Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là sự phát triển các làng nghề vùng ven bờ sông Gianh có nhiều bước thăng trầm, có những làng nghề đã tồn tại và phát triển khá mạnh, đồng thời còn có mở rộng lan tỏa sang các khu vực lân cận, tạo nên một cụm các làng nghề Ngược lại có những làng nghề phát triển cầm chừng, không ổn định, gặp nhiều khó khăn Thậm chí, có những làng nghề đã và đang bị mai một, dần suy vong và có khả năng bị mất đi Các nghề truyền thống ở đây hiện nay đang dần bị thất truyền, do sự cạnh tranh của những
đồ gia dụng hiện đại
Không thể giới thiệu được hết các làng nghề truyền thống ở ven sông Gianh, trong phạm vi khóa luận, tác giả chỉ xin điểm qua vài làng nghề nổi bật
Trang 7nhất như làng Thọ Đơn với nghề đan lát, Thuận Bài, Thổ Ngọa với nghề làm nón, nghề bánh đa ở Lộc Điền, nghề đóng thuyền ở Thanh Trạch
Trong sự phát triển và chuyển hóa của các làng nghề, nhất là các làng nghề trong tiến trình công nghiệp hóa ở nông thôn Việt Nam hiện nay thì những làng nghề truyền thống vùng ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình sẽ diễn ra như thế nào? Vấn đề giữ gìn và khôi phục các làng nghề truyền thống đang là vấn đề khó khăn, phức tạp cần được quan tâm nghiên cứu để trên cơ sở đó đi đến những giải pháp thích hợp nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề Đồng thời, thông qua việc tìm hiểu đề tài sẽ cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh với những điểm mạnh, yếu của các làng nghề nhằm có kế hoạch phục hồi, quy hoạch hợp lý
Xuất phát từ những lý do nêu trên, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ
bé tình yêu quê hương Quảng Bình và đồng thời cũng muốn qua đó sẽ có đóng góp rất nhỏ bổ sung thêm tư liệu cho việc nghiên cứu làng xã Quảng Bình, tạo cơ
sở và mở ra một hướng đi mới cho bản thân sau này Trên cơ sở tham khảo và kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước Với ý tưởng đó, tác giả
đã chọn vấn đề “Một số làng thủ công truyền thống ven sông Gianh tỉnh
Quảng Bình” làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử vấn đề
Trước đây, nghề và làng nghề thủ công truyền thống ở Quảng Bình nói chung ít được chú ý trong giới nghiên cứu Từ sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VII về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn của Đảng ta đề ra, việc nghiên cứu về làng xã và kinh
tế nông thôn được đẩy mạnh hơn Nhiều nhà nghiên cứu bắt đầu chú ý đến vấn
đề làng xã trong đó có làng nghề ở Quảng Bình Có các công trình như: “Làng xã
văn hóa Quảng Bình” của nhà báo Tạ Đình Nam, Luận án tiến sĩ của T.S Nguyễn
Thế Hoàn: “Cấu trúc và văn hóa làng xã người Việt ở Quảng Bình nửa đầu thế
kỷ XIX” đã giới thiệu khá đầy đủ những làng văn vật, làng nghề nổi tiếng ở
Quảng Bình nhưng vị trí của các làng nghề truyền thống ven sông Gianh rất
khiêm tốn Năm 2007, với “Nghề và làng nghề truyền thống ở Quảng Bình” tác
giả Đỗ Huy Văn đã cung cấp cho bạn đọc một cách khái quát đầy đủ các làng nghề truyền thống ở Quảng Bình nhưng chủ yếu là những làng nghề ở Lệ Thủy,
Trang 8Quảng Ninh Ngoài ra rải rác một số tạp chí, các bài viết trên internet cũng có viết về làng thủ công ven sông Gianh với các làng thủ công như làm nón, làng đan lát, chạm gỗ, làm bánh đa… nhưng chỉ mang tính giới thiệu
Năm 2011, có Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hậu với đề tài “Một
số làng thủ công truyền thống ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình” đã đề đến một
số làng thủ công truyền thống ven sông Gianh như nghề làm nón ở làng Thổ Ngọa, làm bánh đa ở Tân An, rèn đúc Hòa Ninh, đóng thuyền truyền thống Thanh Trạch
Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu diện rộng, tập hợp nhiều nguồn tư liệu để trình bày về quá trình hình thành, phát triển, các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các làng nghề, tác động của các làng nghề truyền thống với vai trò của nó trên nhiều mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội
Với việc phân tích mang tính định lượng thực trạng phát triển của các làng nghề tác giả cố gắng đưa ra những giải pháp góp phần giữ gìn, thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề tại địa bàn nghiên cứu Qua việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa làng nghề, đề tài nhằm khơi dậy những nét đẹp văn hóa dân tộc ở các làng
xã, góp phần củng cố tình yêu quê hương đất nước cũng như góp thêm một số cơ
sở khoa học cho việc quản lý, phục hồi và quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn ở vùng lưu vực sông Gianh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số làng thủ công nổi tiếng vùng lưu vực sông Gianh bao gồm: Thanh Trạch, Lộc Điền, Thọ Đơn, Thổ Ngọa
Trang 9Về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu các làng thủ công vùng ven sông Gianh từ khi mới hình thành cho đến nay Tuy nhiên do nguồn tư liệu cổ xưa tại các làng còn rất ít, vì thế chúng tôi chỉ có thể tập trung tìm hiểu, giới thiệu về nghề và làng nghề từ cuối thế kỷ XIX đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp của chuyên ngành lịch sử: phương pháp logic, phương pháp lịch sử và phương pháp điền dã Ngoài ra tác giả còn sử dụng các phương pháp
của các chuyên ngành: Dân tộc học, Khảo cổ học, Xã hội học…
6 Đóng góp của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm một số tư liệu làm cơ sở cho việc tìm hiểu về lịch sử, văn hóa của vùng lưu vực sông Gianh Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách có
cơ sở để nhìn nhận đánh giá đúng thực trạng, vai trò của kinh tế thủ công nghiệp ven sông Gianh, hiểu quy luật phát triển của nó để từ đó có chính sách phát triển phù hợp Ngoài ra, đề tài cũng góp phần rất nhỏ bổ sung vào tư liệu nghiên cứu làng xã miền Trung và mở ra một hướng nghiên cứu mới cho bản thân sau này
Ý nghĩa thực tiễn: Phát triển thủ công nghiệp là một chủ trương quan trọng trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay Trong những năm qua, tỉnh Quảng Bình đã đề ra các chương trình, các đề án nhằm thúc đẩy phát triển các ngành nghề nông thôn trong đó chú trọng đến các làng nghề Vùng ven sông Gianh là nơi hội tụ khá nhiều nghề thủ công truyền thống, nơi bảo lưu những nét đẹp văn hóa của quê hương, do đó việc nghiên cứu còn có ý
Trang 10nghĩa khơi dậy tình cảm gắn bó quê hương, giữ gìn những nét đẹp văn hóa truyền thống trong mỗi người dân
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ LÀNG XÃ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN
THỦ CÔNG NGHIỆP VEN SÔNG GIANH TỈNH QUẢNG BÌNH 1.1 Khái quát về làng xã ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên và nguồn gốc dân cư
1.1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Sông Gianh chảy qua địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ khu vực ven núi Phu Cô Pi cao 2.017m thuộc dãy Trường Sơn, chảy qua địa phận các huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch và một phần của huyện Bố Trạch để đổ ra biển Đông ở cửa biển cùng tên – cửa Gianh Sông Gianh dài khoảng 160km, cắt qua quốc lộ 1 ở tây bắc cửa Gianh 5km Tổng diện tích lưu vực 4.680km, độ cao trung bình 360m, độ dốc trung bình 19,2%, lượng nước năm 7,95km3 ứng với lưu lượng nước trung bình năm 252m3/s, môđun dòng chảy năm 53,8 1/s.km2 Mùa
lũ từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm khoảng 60 – 75% lượng dòng chảy hằng năm Dòng cát bùn khoảng 1,93x105 tấn/năm, ứng với độ đục trung bình năm 192g/m3
và hệ số xâm thực 168 tấn/km2 năm Tàu thuyền có thể qua lại đoạn sông ở hạ lưu, từ cửa Gianh đến Ba Đồn 6km, đến thị trấn Đồng Lê huyện Tuyên Hóa là 47km
Sông Gianh khởi nguyên từ 3 nguồn khác nhau: nguồn Nậy, nguồn Nan và nguồn Son (tính theo thứ tự từ Bắc vào Nam)
Nguồn Nậy (sông lớn, tiếng địa phương) bắt nguồn từ các khe suối ở triền đông đèo Mụ Giạ trên dãy Trường Sơn và các sông lạch ở triền nam núi đồi Hương Khê (Hà Tĩnh) đổ về Hòa Duyệt, kết hợp với sông Thanh Lãng ở Tân Ấp chảy đến Cổ Cảng, Minh Cầm thì tiếp thêm dòng nước Nạc Thủy từ núi Mồng
Gà ở phía bắc mà hình thành “Rào Nậy”, chảy qua Xuân Mai, Cương Gián rồi vòng qua các cồn như: cồn Quan, cồn Cưỡi, cồn Niệt tiếp nhận thêm nước sông Tiên Lương từ Trại Sim đổ về rồi tiếp tục vòng qua cồn Ngựa, cồn Lội, cồn Sẽ, vượt đò Phú Trạch đến kết hợp với sông Kinh Kịa (ở Ba Đồn) từ Khe Giang đổ
về, hợp lưu với sông Hòa Giang và sông La Hà mà hình thành cửa Hác, rồi chảy
ra cửa Thuận Bài, hợp lưu với Rào Nam và Rào Son mà hình thành sông Gianh
Trang 12Nguồn Nan tiếng địa phương gọi vùng Cao Mại là “Tiên Nan”, bắt nguồn từ khe núi triền Đông dãy Trường Sơn đổ về Yên Lạc thì tiếp nhận thêm khe suối từ Quy Đạt đổ về để hình thành Rào Nan, chảy qua Kim Bảng và đèo Laken đổ vào khu lòng chảo Lam Lang, Nam lạc Sơn, Uyên Phong và Vòi Moi mà hình thành vực Cao Mại, sử Trung Quốc gọi là Vô Lao (vì quá sâu, thuyền bè không thể chống sào được), một hồ chứa nước không bao giờ cạn, để tiếp thủy cho Linh Thủy, rồi đổ ra sông Thọ Linh, đến ngã ba sông Chợ Mới ở Minh Lệ thì kết hợp với Rào Son từ Phù Kinh đổ về, hợp lưu thành Linh Giang, chảy ra Thuận Bài, kết lưu với Rào Nậy, hình thành sông Gianh để đổ ra biển cửa Gianh, tục gọi là
“Cựa” ở Mỹ Hòa, Quảng Khê
Nguồn Son (rào của nước đỏ như son) là chi lưu cực nam của sông Linh Giang, bắt nguồn từ khe suối triền Đông của dãy Trường Sơn chảy đến Chà Nòi
đổ vào Vực Tró đổ ra kết hợp với sông Ngọn Rào từ phía bắc đổ đến và hình thành sông Troóc, còn gọi là Rào Son, chảy qua động Phong Nha, kết hợp với Rào Bồn từ thác Ba Rền ở phía nam đổ đến, chảy qua Cù Lạc, Cổ Giang, Khương Hà, Cự Nẫm, Phù Mỹ, Cao Lao Thượng, chia thành hai nhánh, một nhánh chảy dọc theo Cao Lao đến Tân Định, một nhánh chảy ra Chợ Mới (Minh Lễ) để hợp lưu với Rào Nan mà hình thành Linh Giang, chảy đến Thuận Bài thì kết hợp với Rào Nậy ở phía bắc và Rào Son ở Tân Định phía nam, mà hình thành vũng Cao Lao rồi chảy ra cửa Gianh ở Quảng Khê
Tất cả 3 lưu vực của sông Gianh đều hợp lưu cộng tác bồi đắp phù sa cho Quảng Trạch, Bố Trạch mãnh đất phì nhiêu nhưng cũng đón nhận không ít những khó khăn từ lũ lụt ở vùng này
Địa hình đồi núi chiếm hầu hết diện tích lưu vực, địa hình đồng bằng rất hẹp, giáp biển là các cồn cát di động ảnh hưởng lớn đến việc thoát nước của cửa sông Hướng chủ yếu các dãy núi trên lưu vực là tây bắc – đông nam, riêng dãy Hoành Sơn ở phía bắc có hướng tây – đông
Đất ở trên lưu vực sông Gianh được tạo thành do nhiều nguồn gốc, chủ yếu
là đất phù sa bị nhiễm mặn hằng năm, ít màu mỡ và đất thềm dốc cao cấu tạo bởi sản phẩm phong hóa của các đá Feratic, sét, sa diệp thạch Rừng sông lưu vực sông Gianh còn nhiều, chiếm khoảng 55 % diện tích lưu vực, là nơi cung cấp
Trang 13nguyên liệu cho sự phát triển thủ công nghiệp nhất là các ngành chạm khắc gỗ, đan lát, làm nón, đóng tàu…
Về mặt khí hậu
Khí hậu lưu vực sông Gianh mang những đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền Trung Trung Bộ nhưng có nhiều nét riêng biệt Cùng chung chế độ thời tiết của tỉnh Quảng Bình, vùng lưu vực sông Gianh có hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 7 năm sau, tiếp
đó là mùa mưa kèm theo bão, lụt từ tháng 8 đến tháng 10 Tuy một năm có chia ra 4 mùa, nhưng không rõ rệt mà chỉ có nắng nóng và ẩm rét Với những điều kiện tự nhiên như vậy đã có ảnh hưởng lớn đối với sản xuất sinh hoạt của cư dân
Cũng như những vùng lưu vực sông khác, các cấu trúc địa tầng đã tạo thành hình thái và bối cảnh địa lý qua các biến thiên của “tang điền thương hải” (ruộng dâu biến thành biển xanh) theo từng thời kỳ toàn cầu, đồng thời cũng đã tạo nên không gian khu vực đồng bằng để dung nạp sinh cư và cho phép con người định
cư lập nghiệp Quá trình hình thành các địa tầng này kéo dài liên tục hàng thiên niên kỷ, vì thế muốn nhận thức địa lý thực tiễn của những làng xã ven sông Gianh thì tất yếu nhìn về vùng lưu vực sông này cách đây 2000 năm về trước Cách đây khoảng 2000 năm, mặt nước sông Gianh và sông Thủy Vực đang hòa nhập với nhau thành một và hình thành một Vũng Cổ Chiến trên đất liền, chạy từ chân đèo ngang đến chân núi Đồng Ban và nước biển lên đến Phù Kinh, qua Minh Lệ, Hòa Ninh, Trung Thuần đến Tùng Tiết trên “Cửa Thủy Vực”, đương nhiên thời bấy giờ chưa có Quảng Trạch, Bố Trạch ngày nay Đến khi biển thoái thì các “cồn chìm” nổi lên và hình thành vũng nước mặn Tú Loan ở phía Bắc và Cao Lao ở phía Nam [29; 25]
Ở giữa biển và đất liền, lúc bấy giờ đã có một “cồn cát” chạy dài từ cửa Roòn đến cửa Gianh, để sau này lúc biển thoái thì “cồn bán trầm” nổi lên làm bức bình phong chặn sóng biển, cho phép phù sa tồn tại để tiệm tiến bồi đắp các dòng chảy và đầm lầy thành đất canh tác, tạo nên những lớp “trầm tích mặn” ngăn cản dòng chảy của hai lưu vực sông hành (Thủy Vực và Linh Giang), bắt buộc các dòng chảy phải thu hẹp để đổ ra cửa Roòn và cửa Gianh và hình thành các địa hình sông ngòi ngày nay chư chúng ta đang thấy Khi các sông ngòi của
Trang 14lưu vực sông Gianh được định hình thì xuất hiện “Cửa Hác” nằm giữa Ba Đồn, Hòa Ninh và La Hà là điểm giao lưu hội tụ của các sông nguồn Nậy, Kinh Kịa, Hòa Giang chưa lấp lại (lấp vào năm 1954) và sông La Hà, tạo nên một dòng xoáy khơi sâu khu vực này, nên còn gọi là cửa Tứ Hội [29; 26]
Thời ấy, Cửa Hác không phải như ngày nay mà là một “cái phá” rộng lớn gọi là Đại Hác, chạy dài từ Hói Đồng đến Phù Trạch, băng qua Lộc Điền, đến Trung Thuần, Phù Lưu để bắt tay với vũng Tú Loan, hình thành một dải nước rộng như Phá Tam Giang ở Thừa Thiên Huế Có hình dung đúng đắn như thế mới lí giải được nguyên nhân vùng đất từ Chợ Mới qua Hoà Ninh đến Hạ Thôn, Cồn Giữa (hay Cồn Sẽ), Vân Lôi, Lộc Điền, Phù Ninh đều không có “nước ngọt”, vì lẽ thời ấy tất cả nơi này đều tiếp giáp trong 400 năm liền với dòng nước mặn do biển tiến đợt H3 dâng lên, kết hợp trầm tích địa tầng pha muối khá dày, nên phải đợi một thời gian khá lâu mới “lợ hóa” được [ 3; 26]
Như chúng ta thấy, không có sông ngòi nào trên đất nước Việt Nam có nhiều cồn như sông Gianh: La Hà, Văn Phú là một cồn; Di Luân, Thọ Đơn, Mỹ Hòa cũng là một cồn, Lũ Phong, Tân Phong cũng là một cồn, Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc và Phủ Trạch khi sông Hòa Giang chảy từ Hạ Thôn (Nguồn Nậy) về Hói Nại (còn gọi là Hói Bần) để đổ ra Cửa Hác thì cũng là một cồn hiện hữu trên sông Gianh… Dần dà, thời gian và thời tiết cưỡng bất “biển thoái” để lũ lụt và phù sa
từ thượng nguồn Hương Khê, Thanh Lãng chảy về bồi đắp, nước ngọt đẩy lùi nước mặn ra biển, phù sa liên kết với các cồn chìm và các đầm lầy thành một dải đất phì phiêu cho canh tác của làng xã ven sông Gianh mà ngày xưa, cách đây
2000 năm còn tiếp giáp với biển [29; 27] Môi trường địa lý cách đây 2000 năm
đã không cho phép các làng xã nơi đây sớm phát triển vì đang ở trong thời kì
“nước mặn đồng chua” đợi đến thời kì “lợ hóa”, do đó vùng đất ven sông này thiếu hẳn những điều kiện phát triển như là: không có đất cao ráo để ở, không có đất phì nhiêu, tài nguyên để canh tác, không có nước ngọt để uống, không có đường giao thông để sinh hoạt…
Ngày nay, phù sa vĩnh viễn đẩy lùi các đợt biển tiến, đã bồi đắp nên ở đây một vùng đất màu mỡ, mở ra một không gian sinh cư rộng lớn, mở đường cho
Trang 15quá trình hình thành làng xã để dần tạo nên những xóm làng đông đúc, trù phú bên bờ sông Gianh lịch sử này
1.1.1.2 Nguồn gốc dân cư
Nói đến cư dân vùng ven sông Gianh trước hết ta phải kể đến những con người thuộc các thời kỳ xa xưa của lịch sử còn tồn tại lúc đó, tuy rằng với số lượng không lớn nhưng đây lại là chủ nhân đầu tiên của vùng đất này Bằng chứng Khảo cổ học đã phát hiện có sự tồn tại của nền văn hóa Hòa Bình ở di chỉ Cồn Nền cách sông Gianh 200m, di chỉ Ba Đồn… cho thấy thời kì cổ đại con người đã có mặt và sinh sống ở vùng lưu vực sông Gianh
Vào các thế kỷ thứ II đến thứ X sau CN, vùng đất ven sông Gianh lại tiếp nhận thêm người Chàm từ phía Nam tràn ra và biến vùng đất này thành một bộ phận lãnh thổ của họ Tuy sử sách không thấy ghi chép về tình hình dân số người Chàm cư trú ở đây, có thể dân số Chàm lúc bấy giờ không nhiều lắm, vì đây là vùng đất biên thùy của vương quốc Chăm - pa ở phía Bắc
Tuy nhiên, chủ nhân thực sự có vai trò quan trọng ở đây là người Việt, phần lớn họ được di cư từ phía Bắc vào qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau để dần dần hình thành nên cộng đồng người Việt ổn định, có tổ chức ở vùng đất mới khai phá Sử sách còn ghi lại từ thời Tiền Lê cho đến thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn đã diễn ra nhiều cuộc di dân có quy mô lớn đến vùng đất Quảng Bình trong đó có vùng lưu vực sông Gianh Theo một số nghiên cứu của các học giả đi trước, từ thế kỷ X, trong lịch sử Việt Nam xuất hiện hiện tượng di cư, vượt Hoành Sơn, biên giới phía Nam của đất nước Hiện tượng này gắn liền với việc sáp nhập thêm từng phần lãnh thổ mới bắt đầu từ thời Lý - Trần, còn tiếp diễn và kết thúc vào thế kỷ XVIII
Sang thế kỷ XVIII, làn sóng di sư vào vùng ven sông Gianh định cư xúc tiến mạnh mẽ, nhất là từ sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa (1558) Lực lượng ở phía bắc chủ yếu là Thanh - Nghệ - Tĩnh vào khai hoang lập nghiệp còn có một bộ phận đáng kể là các tôi thần, quan lại, tướng lĩnh do trung thành với họ Nguyễn hoặc vì bất mãn với chính quyền Mạc, Lê - Trịnh mà tìm đến Họ
đã trở thành những người tập hợp, nhóm họp các dân nghèo tự nguyện hoặc cưỡng bức vào đây lao động khai phá đất đai, tạo dựng xóm làng Ngoài ra, cũng
Trang 16phải kể đến một bộ phận nông dân, quan lại ở miền ngoài “nổi loạn” chống lại các triều đình phong kiến thối nát Sau khi bị đàn áp đã tìm đường ẩn náu vào đây lập nghiệp, có nhiều dòng họ khi mới vào đây đã thay tên, đổi chữ lót để tránh sự truy tìm tung tích như họ Nguyễn Viết, họ Trần, họ Đoàn ở Hòa Ninh,
họ Phạm ở Thuận Bài (Quảng Trạch)
Như vậy, nguồn cư dân đến vùng đất ven sông Gianh tỉnh Quảng Bình làm
ăn lập nghiệp qua các thời kỳ khác nhau bao gồm nông dân, binh lính, tướng lĩnh, quan lại, tội nhân, kẻ lưu vong… trong đó tuyệt đại bộ phận là nông dân Họ
di cư đến đây với nhiều lý do và trong những hoàn cảnh khác nhau Có thể là tự nguyện nhưng cũng có thể là bị lưu đày, cưỡng ép Mặt khác, bản thân cư dân ở đây cũng là những nhóm người đang sống trong các thế kỷ đầy biến động, phần lớn từ miền ngoài vào mang theo một tâm lý khá phức tạp Có thể lúc đầu các gia đình họ có cùng một quê hương bản quán tập hợp lại thành xóm làng để giúp đỡ, nương tựa vào nhau trong những điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt Về sau, cùng với sự phát triển lịch sử, làng xã không ngừng được bổ sung vào cơ cấu của mình những thành phần dân cư khác nhau Một điều đáng lưu ý là, cư dân ở các làng
xã ven sông Gianh có nguồn gốc xuất thân không thuần nhất Họ làm nhiều nghề khác nhau, từ nhiều địa phương khác nhau ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ di chuyển vào đây (đông đảo nhất là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh) và ở những thời điểm khác nhau kéo dài suốt cả thời kỳ trung cận đại của lịch sử Việt Nam từ nửa cuối thế
kỷ XI cho đến nửa đầu thế kỷ XIX Lúc đầu có thể là một dòng họ, về sau có nhiều dòng họ kế tiếp vào đây, do đó ở một số làng rất khó để xác định dòng họ nào là “tiền khai canh, hậu khai khẩn”, dòng họ nào là “dân chính cư và dân ngụ cư” Mặc dù phải trải qua những thử thách cam go, khó khăn thiếu thốn trong buổi đầu khai phá nhưng họ đã sớm chung lưng đấu cật, vật lộn với cuộc sống, chống chọi với thiên nhiên để cải tạo nhiều vùng đất hoang dại, núi đồi hiểm trở, bãi bồi ven sông, ven biển… thành những xóm làng trù phú và đồng ruộng xanh tươi vùng đôi bờ sông Gianh [11; 55]
Do sinh sống lâu đời ở một vùng đất nắng, gió, luôn đối mặt với phong ba bão tố, hạn hán, lụt lội để tồn tại và phát triển, nên cư dân vùng ven sông Gianh
là những con người lao động cần cù, dũng cảm không cam chịu khuất phục trước
Trang 17thiên tai và địch họa Sự kế thừa, tiếp nhận và tổng hợp sắc thái văn hóa của các làng quê xứ Bắc cùng với quá trình cộng đồng cố kết, thích ứng đã hình thành nên sắc thái văn hóa riêng của cư dân làng xã vùng lưu vực sông Gianh Quá trình dung nạp, hỗn hợp của hai xu hướng Nam tiến và Bắc tiến diễn ra trong lịch
sử đã làm cho vùng đất này luôn có chiến tranh xảy ra và nơi đụng đầu của các thế lực tranh chấp nhau quyết liệt
1.1.2 Đặc điểm lịch sử và văn hóa
1.1.2.1 Đặc điểm lịch sử
Trong lịch sử hình thành và phát triển dân tộc, vùng lưu vực sông Gianh luôn là một phần đất thiêng liêng của lãnh thổ Việt Nam Vùng đất này hôm nay
đã trải qua nhiều lần thay đổi cương vực (địa giới lãnh thổ) và tên gọi
Theo thư tịch cũ, thuở Vua Hùng lập quốc, mảnh đất ven sông Gianh thuộc
bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang Dưới các triều đại phong kiến Trung Quốc, đất nước ta lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc và bị chia thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, vùng ven sông Gianh nằm thuộc huyện Tây Quyển quận Nhật Nam Năm 192, nhân dân Chàm đánh bại nhà Đông Hán và dựng lên nước Lâm Ấp Vùng đất ven sông Gianh khi thì thuộc Đại Việt, khi thì thuộc Lâm Ấp Năm 614, Lâm Ấp đánh chiếm quận Nhật Nam, khôi phục vùng đất đã bị chiếm trước đó đến Đèo Ngang Năm 615, khi chiếm được vùng đất Quảng Bình, trong một thời gian gần 3 thế kỷ, Chiêm Thành lập vùng đất này thành 3 châu: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Bố Chính là vùng đất thuộc các huyện
Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa sau này; Địa Lý vùng đất thuộc
Lệ Thủy, Quảng Ninh, Đồng Hới ngày nay; Ma Linh là vùng đất thuộc Bắc Quảng Trị)
Năm 1069, ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh trở về Đại Việt Năm 1075,
Lý Nhân Tông đổi châu Địa Lý thành châu Lâm Bình; châu Bố Chính thành
Châu Nam Bố Chính Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết: “Vua Nhân Tôn hiệu
Thái Ninh thứ 4 (1075) đổi Địa Lý làm châu Lâm Bình, Bố Chính làm châu Nam
Bố Chính… chiêu mộ dân đến ở”
Năm 1407, thời nhà Minh đô hộ nước ta, châu Bố Chính đổi thành Chính Bình Thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) châu Bố Chính thuộc Thuận Hóa thừa
Trang 18tuyên Trước năm 1627, Hy Tông Hiếu Văn Hoàng đế lấy được Nam Bố Chính, đặt dinh Bố Chính (tục gọi là Dinh Ngói), lấy sông Gianh làm giới hạn Từ sông Gianh trở ra là Bố Chính ngoại châu hay Bắc Bố Chính châu của vua Lê, chúa Trịnh; từ sông Gianh trở vào là Bố Chính nội châu hay châu Nam Bố Chính thuộc chúa Nguyễn, đặt tại dinh Võ Xá (đạo lưu bồn, tục gọi là Dinh Mười) Vào năm 1802, sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn của Quang Toản, lập ra nhà Nguyễn, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, Gia Long trở lại vùng đất Quảng Bình hiện nay là Bố Chính nội, Bố Chính ngoại nhằm phân biệt giữa Đàng Trong, Đàng Ngoài trong việc phong tước phẩm, định mức thuế đối với nhân dân hai bờ sông Gianh
Năm 1825, Minh Mạng đem đất tam Dũng ở châu Quy Hợp (Hà Tĩnh) sáp nhập vào Bố Chính Năm 1827, Minh Mạng cải Bố Chính thành huyện Bình Chính (nghĩa là ổn định phân tranh, Linh Giang thái bình), đến năm 1838 đổi Bình Chính và thành lập phủ Quảng Trạch trong đó bao gồm cả huyện Bố Trạch, xóa hết mọi tàn tích cổ danh Chiêm Thành Năm 1875, thời vua Tự Đức thì lấy tổng thượng du Minh Cầm và một số man sách thượng nguồn sông Gianh mà lập thành huyện Tuyên Hóa [29; 36] Như vậy, các địa danh vùng lưu vực sông Gianh được định hình kể từ đây
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, do có địa bàn chiến lược quan trọng nên nhiều cuộc chiến tranh đã đi qua mảnh đất này Thế kỷ XVIII, giặc Nguyên xâm lược nước ta Tướng giặc Nguyên là Toa
Đô đánh vào Chăm - pa rồi tiến quân ra Bắc phối hợp với đại quân do Thoát Hoan chỉ huy, nhân dân ta vừa chặn đánh vừa bất hợp tác với địch làm cho các cuộc hành quân của chúng gặp khó khăn trở ngại
Thời hậu Trần, trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, hai lộ Tân Bình, Thuận Hóa ra sức rất nhiều
Năm 1413, vua Trần Quý Khoáng chạy vào Thuận Hóa, quân Minh đuổi theo qua đất Tân Bình, quân Minh đã bị nhân dân ta chặn đánh quyết liệt
Khi Lê Lợi khởi nghĩa chống quân Minh, nhân dân Tân Bình nổi lên hưởng ứng chống lại giặc Minh
Trang 19Cuối thế kỷ XVIII, trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn nhồi da xáo thịt giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn, sông Gianh được lấy làm ranh giới chia đôi đất nước Hàng trăm cuộc binh lửa đã diễn ra trên mảnh đất này, để lại mối hận ngàn thu
Năm 1771, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ, nhân dân trước hết
là nông dân hăng hái hưởng ứng Năm 1786, Quang Trung Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Trịnh và năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai quét sạch 29 vạn quân Thanh, nhân dân đôi bờ sông Gianh đem sức người, sức của theo Nguyễn Huệ ra Bắc đánh đuổi quân Thanh, góp phần vào sự nghiệp thống nhất nước nhà
Đất nước thanh bình chưa được bao lâu thì Nguyễn Huệ qua đời vào năm
1802, nhân cơ hội đó, Nguyễn Ánh cấu kết với giặc ngoài lật đổ triều Tây Sơn, lên làm vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế), lập ra nhà Nguyễn
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, quá trình Pháp xâm lược và thôn tính nước ta kéo dài từ năm 1858 đến năm 1884 Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Ngày 27 tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp đánh chiếm Quảng Bình Sau khi thôn tính được Quảng Bình, thực dân Pháp đã thiết lập bộ máy hành chính từ tỉnh xuống làng, xã khá hoàn chỉnh và tiến hành bóc lột nhân dân Cũng như các nơi khác, các thôn xóm vùng ven sông Gianh cũng chịu cảnh sưu cao thuế nặng, sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp Trước tình hình đó, nhân dân khắp nơi đã nổi dậy đấu tranh chống lại ách áp bức, bóc lột, giành lại độc lập cho dân tộc Tuy nhiên các phong trào đấu tranh đều bị thực dân Pháp đàn áp Phải đến khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (3-2-1930), đảm đương sứ mệnh của một Đảng lãnh đạo thì lúc đó phong trào chống Pháp ở Quảng Bình nói chung và các làng xã ven sông Gianh nói riêng mới có người lãnh đạo, phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn Các tổ chức cơ sở Đảng lần lượt ra đời ở Kẻ Rấy (Bố Trạch), Lũ Phong (Quảng Trạch) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống sưu cao, thuế nặng ở các làng xã ven sông Gianh liêp tiếp nỗ ra
Trang 20Ngày 23 tháng 8 năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Bình Chỉ trong vòng chưa đầy một ngày đêm, quần chúng nhân dân khắp tỉnh nhất tề nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân Cuộc khởi nghĩa nổ ra nhanh gọn và thu thắng lợi to lớn
Nhưng thực dân Pháp vẫn nuôi âm mưu xâm lược nước ta lần 2 Cùng chung với nhân dân cả nước, nhân dân làng xã vùng ven sông Gianh lại bắt tay vào công cuộc vừa kháng chiến vừa kiến quốc Trong suốt thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vùng đất ven sông Gianh phải gánh chịu nhiều tổn thất, là nơi điểm đầu chi viện cho kháng chiến của dân tộc nên luôn bị đế quốc
Mỹ tàn phá Tuy nhiên, với tinh thần chống giặc ngoại xâm, người dân nơi đây
đã cùng cả nước đấu tranh đánh đuổi quân xâm lược giành độc lập thống nhất đất nước và bình yên cho quê hương xứ sở
Có thể nói, Quảng Bình nói chung, vùng đất ven sông Gianh nói riêng là nơi gánh chịu những hậu quả của chiến tranh Mặt khác sự thống trị của nhiều thế lực thay đổi nhau từ các thế lực phong kiến đến đế quốc xâm lược đã làm cho con người
ở vùng đất này có một thích ứng đặc biệt và khả năng đối phó cao Tính chất tương tranh hỗn chiến giữa các thế lực phong kiến, đế quốc qua các thời kì lịch sử đã biến vùng này thành một chiến trường khốc liệt lâu dài, luôn bị xô đẩy bởi những biến cố,
sự kiện bi hùng của dân tộc Chính hoàn cảnh lịch sử ấy tạo nên những dấu ấn, những đặc trưng văn hóa của cư dân vùng sông nước Linh Giang
1.1.2.2 Văn hóa
Sinh tụ và phát triển trên mảnh đất của vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa, với phương thức lấy nông nghiệp trồng lúa làm sinh kế… đó chính là những nhân tố quan trọng hình thành lối ứng xử chi phối mọi hoạt động của phần lớn cư dân Đông Nam Á Người Việt trong lịch sử cũng đã làm nên nét đặc trưng văn hóa trên nền tảng chung ấy Từ việc thích ứng với điều kiện sống cụ thể, xuất phát bởi những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của địa hình, khí hậu, cùng những biến động lịch sử, kể cả sự hội nhập, kế thừa, giao lưu văn hóa… tất cả đã hiện lên trên mẫu số chung đó những tử số không đồng nhất Chính vì vậy, chân dung của những thành tựu kinh tế, văn hóa trong phạm vi cùng miền vẫn phải có
Trang 21những nét riêng tất yếu Văn hóa cư dân vùng ven sông Gianh tất nhiên không nằm ngoài xu thế đó
Nói đến văn hóa, dù muốn hay không, trước hết cũng phải tìm về cội nguồn,
về tính bản địa của nó Ở vùng lưu vực sông Gianh, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở vùng phía tây Quy Đạt, Bố Trạch có sự tồn tại của một nền văn hóa cách đây trên dưới một vạn năm Đặc biệt người ta cũng phát hiện ở hang Minh Cầm (sát Rào Nậy – một chi lưu của sông Gianh), tại đây các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rìu có vai, rìu tứ giác và một mũi nhọn bằng xương Đồ gốm có tô màu thổ hoàng ở Minh Cầm giống ở Trại Ổi (Nghệ Tĩnh) và gốm Cồn Nền (huyện Quảng Trạch)… Hang Minh Cầm có nhiều khu mộ táng và nhiều đồ trang sức bằng vỏ
sò như vòng có xuyên lỗ, hoa tai, hạt chuỗi Có thể nói, những thành tựu về sử
học và khảo cổ học cho phép các nhà nghiên cứu khẳng định: "Người tiền sử
Quảng Bình là những chủ nhân của một nền văn hóa gốm màu khá sớm, chứng
tỏ cộng đồng người tiền sử Quảng Bình đã có một nền kỹ thuật đồ gốm cũng như
đồ đá khá cao" [28; 56 ] Đó chính là cội nguồn tạo nên bản sắc văn hóa và giá
trị tinh thần của cư dân vùng lưu vực sông Gianh nói riêng cũng như người Quảng Bình nói chung
Khi đã hướng về cội nguồn văn hóa, tìm đến các bản sắc văn hóa cổ truyền của dân tộc, chúng ta sẽ bắt gặp những nét đẹp được lưu giữ nơi các làng nghề truyền thống với những sản phẩm đặc trưng của người dân nơi đây đã tích lũy từ bao đời Mặc dầu trải qua bao biến cố của thời gian và lịch sử nhưng những phong tục tập quán, nếp sống của cư dân vùng ven sông Gianh rất ít thay đổi
Từ hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình đến những món ăn dân dã, các lễ hội dân gian, các nghi lễ tôn giáo, nghề nghiệp mang tính tâm linh Sự tồn tại của nền văn hóa làng phải chăng đã tự nó trở thành cái hướng tìm về cội nguồn, tìm tới bản sắc văn hóa dân tộc nói chung, cũng như văn hóa địa phương nói riêng Bởi lẽ văn hóa làng xã là nơi tiềm ẩn bản sắc văn hóa dân tộc rõ nét nhất, đa dạng nhất!
Bên cạnh tính bản địa của văn hóa, vùng làng xã mà lưu vực sông Gianh là nơi đan xen, hội nhập do giao thoa văn hóa mà có Bởi văn hóa Quảng Bình nói chung, văn hóa cư dân vùng lưu vực sông Gianh nói riêng là kết quả giao thoa
Trang 22của hai trung tâm văn hóa lớn ở hai đầu đất nước Ở đó có sự kết hợp các xu hướng và sắc thái văn hóa vốn có từ thời đồ đá mới được đắp đổi bằng sự hội nhập từ hai miền, hai quốc gia cổ đại song lập (Văn Lang - Âu Lạc) Ở giai đoạn sau này, vùng lưu vực sông Gianh là nơi pha trộn của nhiều luồng văn hóa khác nhau: văn hóa Đàng Trong - văn hóa Đàng Ngoài, văn hóa Phú Xuân - văn hóa Thăng Long Có thể tìm thấy rất nhiều loại hình văn hóa làng ở các tỉnh Bắc Bộ, Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên Huế Hơn nữa, sự du nhập của văn hóa Trung Hoa và Ấn
Độ cũng tạo nên tính đa dạng của văn hóa vùng sông nước Linh Giang Thực ra, trong quá trình "Chăm- pa hóa" và "Đại Việt hóa" cư dân ở đây đã tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của hai nền văn hóa nói trên Xét về mặt văn hóa, trừu tượng hóa các mặt chính trị, quân sự, kinh tế thì văn hóa phương Bắc tràn xuống phương Nam theo con đường lục địa vào bắc Đông Dương, văn hóa Ấn
Độ theo con đường biển đến nam Đông Dương Văn hóa Hán muốn vươn vào phía Nam, văn hóa Ấn Độ cũng vươn ra phía Bắc Các yếu tố giao lưu tiếp biến, hội nhập đan xen giữa các nền văn hóa ấy từ nhiều tuyến qua các thời kì đã tạo nên những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng, độc đáo Trong sinh hoạt và sáng tạo văn hóa, tính cộng đồng được đề cao: hội hè, lễ nghi, phong tục Đấy cũng chính là hệ quả của quá trình cộng cư của các lớp cư dân đến từ các vùng văn hóa sông Hồng, sông Lam và yếu tố văn hóa có tính chất tổng hòa mang đặc trưng
riêng của vùng đất ven sông Gianh Bởi vậy, khi nghiên cứu về "cấu trúc văn hóa
làng xã của người Việt ở Quảng Bình", Tiến sĩ Nguyễn Thế Hoàn cho rằng:
Quảng Bình nói chung (trong đó có vùng ven sông Gianh) là "vĩ tuyến giao tiếp
văn hóa" [11; 120]
1.2 Quá trình hình thành làng xã vùng đôi bờ sông Gianh
Quá trình hình thành làng xã ven sông Gianh gắn với các cuộc di dân trong lịch sử và gắn với lịch sử mở mang bờ cõi của dân tộc Quá trình này ở vùng ven sông Gianh diễn ra muộn hơn vùng phía nam Quảng Bình Nếu như các làng xã ở huyện Quảng Ninh, Lệ Thủy hình thành chủ yếu từ thời Lý - Trần và phát triển dưới thời Lê - Nguyễn thì ở vùng ven sông Gianh lại hình thành chủ yếu từ thế kỉ
XV dưới thời Lê
Trang 23Sau cuộc kháng chiến 10 năm chống giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi, thiết lập triều Lê, kinh tế được phục hồi và phát triển Để phục hồi và phát triển nông nghiệp, nhà Lê đã thi hành một số chính sách và biện pháp tích cực, trước hết đó
là việc khẩn hoang, đắp đê, lập đồn điền Nhà Lê đặt các chức quan Hà đê sứ, Khuyến nông sứ chăm lo việc đắp đê và khai hoang, phát triển nông nghiệp Sau chiến tranh, nhà Lê ra lệnh tịch thu ruộng đất của quan lại nhà Minh và bọn tay sai, điền trang thái ấp của một số quý tộc đã chết và ruộng đất bỏ hoang sung vào đất công xã chia cho nông dân cày cấy theo chế độ quân điền Kinh tế điền trang thái ấp dưới thời Trần dần dần được bỏ Dưới thời Lý, Trần vùng đất Bố Chính tuy đã được khai phá nhưng vẫn còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, cần phải được khẩn hoang với quy mô lớn hơn Năm Đinh Hợi (1467) dưới triều Lê Thánh Tông, Tham nghị thừa tuyên Hóa Châu là Đặng Thiếp dâng sớ trình bày năm việc nên làm cho Hóa Châu trong đó có việc chiêu mộ kẻ lưu vong đến khai khẩn ruộng hoang ở châu Bố Chính Vùng đất này cư dân thưa thớt nên nhà Lê đã đặc biệt quan tâm Năm 1471, sau khi đánh thắng Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông
đã xuống chiếu chiêu mộ quan lại, binh lính, nhân dân đến khai phá, lập làng ở vùng đất Bố Chính
Bố Chính là đất rộng, ít dân cư, chạy đến châu Hoan, các quan lại hoặc dân chúng muốn khai phá thì thu lợi lớn Hưởng ứng chiếu dụ của nhà vua, nhiều quan lại, binh lính, dân tự do đến đây khai hoang lập làng Ngoài các thành phần trên còn có những người lưu đày ở ngoại châu (phái bắc sông Gianh) và viễn châu (nam sông Gianh) cũng được tham gia khai phá đất đai Khác với vùng nam trước đây, việc lập làng theo họ tộc thì lúc này thành phần dân cư lập làng đa dạng hơn và vì thế công cuộc khẩn hoang vùng đất Bố Chính diễn ra nhanh chóng hơn Theo gia phả một số dòng họ, dưới thời vua Lê Thánh Tông việc di dân lập làng đầu tiên tập trung ở hai bên bờ sông Gianh Từ phía thượng nguồn
có thể kể đến Lệ Sơn (Văn Hóa), Vĩnh Phước (Quảng Trường), Lũ Phong, Quảng Lộc, Hòa Ninh Phía nam sông Gianh là các làng Bồ Khê, Cao Lao, Cự Nẫm Những nhóm người định cư dưới thời nhà Lê thường tập trung các vùng có đất canh tác, bãi bồi ven sông, nhưng cũng có những làng được lập nên trên các cửa sông, vùng ven biển thuận lợi cho nghề chài lưới Từ những vùng cư dân này, địa
Trang 24bàn cư trú dần lan tỏa lên phía tây và phủ kín địa bàn Bố Chính [8; 13] Những dòng họ đến khai phá lập làng vùng đôi bờ sông Gianh bao gồm họ Đoàn, họ Phạm, họ Trần, họ Nguyễn, họ Mai Cho đến nay, vẫn chưa xác định họ nào đến trước, họ nào đến sau, làng nào ra đời sớm nhất Do làng được hình thành bởi nhiều dòng họ khác nhau cùng chung sức, cố kết để khai khẩn đất hoang, biến đồng hoang nên vùng ven sông Gianh, không có làng nào được đặt tên theo dòng
họ như Phan Xá, Hoàng Xá ở vùng nam Quảng Bình mà do họ tự đặt hoặc là
do Nhà nước phong kiến đặt theo sự phân định ranh giới lãnh thổ Làng xã ven sông Gianh hình thành chủ yếu phân theo địa vực cư trú và nghề nghiệp Việc lập làng theo địa vực cư trú là hình thức tổ chức của những người sống gần nhau, có quan hệ chặt chẽ với nhau hình thành thôn, xóm Họ cố kết với nhau để cùng giúp đỡ nhau trong sản xuất, trong đời sống, trong chống với thiên tai, địch họa Làng xã vùng ven sông Gianh hình thành từ nhiều nguyên nhân khác nhau
Có làng hình thành do những nhóm người di cư lẻ tẻ cố kết lại với nhau Có làng hình thành do một số quan lại được nhà nước phong kiến cấp đất đai và chiêu mộ binh lính, nông dân, những người dân nghèo lưu vong đến khai phá đất đai Có làng hình thành do chính sách di dân, mở mang lãnh thổ của nhà nước phong kiến… Tuy nhiên không có làng hình thành từ các đồn điền của nhà nước phong kiến Dù hình thành từ những nguyên nhân khác nhau nhưng những cư dân đến đây đều là những người cần cù, chịu khó, có ý thức xây dựng và tạo lập cuộc sống Bên cạnh lấy nông nghiệp làm kinh tế chủ đạo, những cư dân vùng đôi bờ sông Gianh còn làm các nghề khác mà họ mang theo khi định cư đến đây như đan lát, nghề mộc, làm gốm… Cũng có một bộ phận dân cư khi đến định cư sinh sống ở vùng đất này cũng đã lấy nghề thủ công làm hoạt động kinh tế chủ đạo Quá trình trao đổi sản phẩm đã dần hình thành hệ thống chợ làng nằm dọc bờ sông Gianh như chợ Lộc Điền, chợ Trường, chợ Họa, chợ Thanh Trạch, chợ Hạ, chợ Khương Hà… Thời các chúa Nguyễn, một số làng xã ở vùng đôi bờ sông Gianh khá phát triển, một số thương thuyền đã cập bến mua hàng ở miền hạ lưu sông Gianh Trong suốt chiều dài lịch sử, một số làng có sự phát triển khá phồn thịnh, thể hiện ở trong không gian cấu trúc làng Chẳng hạn làng Cao Lao Hạ, làng Hòa Ninh có cấu trúc không gian ngõ xóm theo kiểu ô bàn cờ, giống với
Trang 25một đô thị Các lối đi nhỏ và thẳng tắp Sau này, do chiến tranh liên miên, dân cư phiêu tán lên các vùng núi làm cho sự phát triển chững lại Cho đến cuối thế kỷ XVIII, vùng ven sông Gianh là nơi tập trung khá nhiều các làng xã, dân cư sống chan hòa, đoàn kết cùng nhau xây dựng tạo lập cuộc sống, quá trình hình thành làng xã vùng ven sông Gianh cơ bản kết thúc
1.3 Sự phát triển thủ công nghiệp ven sông Gianh
1.3.1 Sự phát triển thủ công nghiệp ven sông Gianh
Vùng ven sông Gianh vốn là nơi có nhiều nghề thủ công nghiệp lâu đời, nhất là dưới thời phong kiến, người dân ở đây bằng thủ công đã tạo ra những sản phẩm có giá trị đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nhân dân trong vùng và đưa tới những nơi khác Những nghề truyền thống này nằm rải rác các nơi (có nơi chỉ hành nghề khi nông nhàn), cũng có làng nghề chuyên làm nghề thủ công, tỷ lệ cao so với dân trong xã như: Quảng Hòa, Quảng Thuận thuộc Quảng Trạch Vùng ven sông Gianh từ xưa nổi tiếng với các làng nghề sau:
Nghề dệt vải: từ xưa đã có nghề dệt vải bông tại Lũ Phong (Ba Đồn), những người thợ dệt của Thuận Bài sản xuất ra một thứ lụa gọi là tơ Nhưng nghề dệt quan trọng nhất là ở Bố Trạch, vải thao Khương Hà, Thanh Lãng, Gia Hưng, Cao Lao Thượng, Cao Lao Hạ trông dâu nuôi tằm, dệt thao đũi
Nghề dệt chiếu ở Thanh Sơn (Quảng Trạch), nghề mộc và đồ tre ở Quảng
Cư, Thọ Đơn đan thúng mũng Trung Thuần làm quạt, làng Pháp Kệ làm gối mây
và Diên Trường đan rổ bát đĩa và rế để nồi niêu
Vùng ven sông Gianh còn là nơi có bề dày của nghề nấu sắt và rèn đúc
Theo sách “Ô Châu cận lục”, “Vùng Lệ Thủy, Tư Vinh, Bố Chính sẵn nhiều
quặng, các xã Phù Tông, Cao Lao đã có lò nấu sắt” [1; 37] Sắt từ xưa ở vùng
Quảng Bình nói chung trở thành sản phẩm quý để cống nộp cho triều đình, giống
như một sản vật nộp thuế Lê Quý Đôn chép: “Qua xã Cao Lao, vượt núi Lê Đệ
mười mấy dặm, độ một canh rưỡi thì đến trang Điển Phúc, gọi là xứ Mục Dưỡng Trang này trước nộp thuế sắt Hỏi lấy sắt ở đâu thì nói là lấy sắt ở núi Lệ Đệ, một trang 50 lò, mỗi năm mỗi lò phải nộp 2 thỏi, cộng là 100 thỏi, nộp tại Dinh Ngói” [10; 132] Do nấu sắt phát triển nên nghề rèn rất phổ biến Thường có 3
hoặc 4 làng có một thợ rèn và làng rèn khá nổi tiếng ở vùng ven sông Gianh là
Trang 26Hòa Ninh (thuộc xã Quảng Hòa, huyện Quảng Trạch) Mặc dù nghề rèn ở đây chưa đạt đến mức chuyên môn hóa như hai làng Hoàng Giang và Phan Xá ở huyện Lệ Thủy song sự xuất hiện hàng loạt các lò rèn dọc sông Hòa Giang cho thấy nghề rèn ở đây khá phát triển Họ hầu như chỉ sản xuất các công cụ cầm tay Các sản phẩm làm ra thường bán cho những người buôn bán sỉ, những người này lại bán tại chợ Ba Đồn hoặc khắp các vùng trong tỉnh, một số sản phẩm được bán sang Lào
Nghề sản xuất hàng thực phẩm: ở đâu người ta cũng làm miến, bánh, bún các loại bằng bột gạo Thứ miến ngon nhất là miến chợ Điền Quảng Trạch có làng Trung Thuần có nhiều cơ sở sản xuất đường đen và mật mía Tại Bố Trạch có nghề làm rượu dâu Tương và rượu dâu là cống vật tiến phẩm cho vua hằng năm
Nghề làm nón: có nhiều nơi như Ba Đồn, Quảng Thuận, Quảng Tân, Cao Lao Hạ, Cao Lao Thượng trong đó nổi tiếng nhất là nón Thổ Ngọa Ngày nay làng nón này vẫn phát huy được uy tín trên thị trường
Nghề gốm có nhiều nhưng nhiều nhất là ở các làng: Ngọa Cương, Hòa Ninh… thuộc huyện Quảng Trạch
Nghề đóng thuyền: do đặc điểm bờ biển Quảng Bình dài, diện tích mặt nước rộng do đó nghề đánh cá biển đã phát triển lâu đời kéo theo nghề đóng thuyền phát triển, có nhiều nơi đóng thuyền nhưng nhiều nhất là ở Thanh Khê Ở Thanh Khê, nghề đóng thuyền đã có từ lâu đời, ngày nay con cháu họ vẫn phát huy được truyền thống của cha ông từ bao đời nay Trước cách mạng tháng Tám, cụ Nguyễn Ký đã đóng được thuyền trọng tải 120 tấn Với kỹ thuật thô sơ, chạy buôn mà nghề vận tải biển vào nam ra bắc ngày càng thịnh vượng Những năm
1944 – 1945 những chiếc ghe chở gạo từ Sài Gòn về cũng góp phần hạn chế nhất định sự đói kém của địa phương
Các nghề thủ công truyền thống ở vùng ven sông Gianh nói chung đều sử dụng nguyên liệu địa phương là mây tre, lồ ô, cói, mây… Nghề mang tính phổ thông, không có những bí quyết lớn về sản xuất, nhưng đòi hỏi tay nghề cao Giá trị sản phẩm thấp, đời sống khó khăn và không ổn định Nhìn chung các làng nghề thủ công truyền thống trên địa bàn không lớn, qua từng giai đoạn lịch sử, có nghề được phát huy rất mạnh, có những nghề mai một dần
Trang 27Trong thời kỳ Pháp thuộc, tuy bị thống trị và kìm hãm gắt gao bởi chính sách thống trị của chính quyền thực dân, nhưng các làng thủ công truyền thống ven sông Gianh vẫn được duy trì và tiếp tục học hỏi để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp đảm bảo cho mặt hàng tồn tại được trong hoàn cảnh mới Đó là các nghề nấu rượu dâu, chạm trổ, nghề mộc, nghề nón ở Thuận Bài, Thổ Ngọa, nghề gốm
ở Ngọa Cương, nghề dệt vải ở Khương Hà, nghề rèn ở Hòa Ninh…
Từ khi miền Bắc thực hiện công cuộc cải tạo các thành phần kinh tế, việc xây dựng quan hệ sản xuất mới, việc duy trì các làng nghề gặp nhiều khó khăn Thay vào đó là sự ra đời của một số HTX TTCN với nhiệm vụ sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống của nền kinh tế kế hoạch hóa Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đến khi kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, do tác dụng của nhu cầu thị trường và ảnh hưởng của cuộc chiến tranh nên số lượng các tổ chức kinh tế TTCN có xu hướng giảm Khi chiến tranh kết thúc, việc lưu thông hàng hóa thuận lợi hơn, trong khi chất lượng của các tổ chức tiểu thủ công nghiệp ở đây rất thấp nên các đơn vị không tồn tại được trong tình hình mới; nhiều đơn vị đã giải thể hoặc không vì mục đích sản xuất kinh doanh Vì thế đến thời điểm 1972 chỉ còn lại vài đơn vị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tồn tại trên địa bàn trong đó có HTX Mai Hồng, Quảng Trạch, Tương Lai, Thanh Quảng, Ngọa Cương
Sau ngày thống nhất đất nước, tỉnh Quảng Bình đã quan tâm khôi phục sự phát triển của các ngành nghề TTCN Tuy nhiên, đây là thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa sang hạch toán kinh doanh nên hầu hết các cơ sở tiểu thủ công nghiệp vùng ven sông Gianh nói chung gặp những khó khăn Nhiều mặt hàng sản xuất không đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng, không tiêu thụ được trên thị trường Một số đơn vị sản xuất TTCN đứng trước nguy cơ phá sản Trong bối cảnh đó, đường lối đổi mới toàn diện nền kinh tế theo hướng phát triển kinh tế thị trường
do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra đã mở cửa chuyển đổi phương thức xây dựng và phát triển các ngành nghề TTCN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục và phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, trong đó có việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống Các làng nghề truyền thống vùng ven sông Gianh đã tận dụng được các điều kiện tự
Trang 28nhiên sẵn có trong vùng và giải quyết được một cách cơ bản nguồn nhân lực dư thừa ở nông thôn Các sản phẩm ngành nghề thủ công được thu mua, trao đổi tốt
để đóng góp một phần quan trọng cho nền kinh tế của địa phương Sau khi ổn định tổ chức bộ máy quản lý, điều hành hệ thống quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, hoạt động sản xuất TTCN trên địa bàn
đã bắt đầu có những chuyển đổi tích cực Một số làng nghề truyền thống có nguy
cơ bị mai một trước đó đã có sự phục hồi và phát triển Nghề làm nón bình quân mỗi năm sản xuất từ 5000 đến 8000 chiếc (Quảng Thuận, Quảng Tân) Trong giai đoạn này, một số nghề mới xuất hiện: mây xuất khẩu ở Quảng Văn, Quảng Tiến, mỗi năm bán ra 180.000m2 thu nhập 120.000 đồng/người/tháng Xuất khẩu sang Liên Xô, Nhật Bản, Italia [26; 407]
1.3.2 Một số đặc điểm thủ công nghiệp ven sông Gianh
Cho đến thời điểm này, Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp, địa bàn sinh tụ chủ yếu của người Việt bên cạnh các đô thị vẫn là các làng xã cổ truyền lấy sản xuất tiểu nông làm hoạt động kinh tế nông nghiệp Bên cạnh hoạt động kinh tế chính là nông nghiệp, người Việt Nam ở nông thôn còn kết hợp làm một
số nghề phụ khác, mang tính sản xuất phi nông nghiệp như dịch vụ, buôn bán và đặc biệt là các làng nghề thủ công Lúc đầu làng nghề thủ công chỉ đơn thuần là
sự tranh thủ những lúc nông nhàn để làm ra các sản phẩm thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống nông thôn, nhưng do đòi hỏi của nhu cầu xã hội về những sản phẩm
đó ngày một tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, nên trong các hoạt động thủ công, người nông dân phải đầu tư nhiều hơn về thời gian và nâng cao hơn về chuyên môn Từ thực tế ấy, một số nông dân đã tách ra khỏi nghề nông để chuyên tâm làm đồ thủ công, gọi là thợ thủ công Các hoạt động thủ công cũng dần được chuyên môn hóa thành các nghề, gọi chung là thủ công nghiệp – tức là các nghề sản xuất bằng tay và các công cụ thô sơ, phân biệt với công nghiệp gồm các ngành nghề sản xuất bằng máy móc hiện đại Các nghề rèn, nghề gốm, nghề mộc, đan lát, đúc, làm bún, bánh… đã ra đời theo xu hướng đó
Đối với làng xã vùng ven sông Gianh, do điều kiện thiên nhiên không mấy
ưu đãi, bất lợi nhiều hơn thuận lợi và nông nghiệp là nền kinh tế chủ đạo nhưng phát triển khó khăn Bởi vậy, cư dân ở đây đã sớm tạo cho mình các ngành nghề
Trang 29khác như buôn bán, vận tải, làm thủ công như dệt vải, làm nón, làm chiếu, làm gốm, nghề rèn, đúc, đan lát… Đại đa số các nghề là nghề phụ bên cạnh nghề nông, song lại có đóng góp đáng kể cho đời sống kinh tế - xã hội của cư dân nơi đây Bởi vì những sản phẩm thủ công đó không chỉ phục vụ nhu cầu bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần nói chung của cộng đồng mà còn đáp ứng yêu cầu sản xuất và trao đổi sản phẩm của nhân dân tại địa phương với các nơi khác Đương nhiên, mỗi làng nghề chỉ có thể chuyên về một nghề, hoặc nhiều nhất cũng chỉ hai đến ba nghề thủ công Những nghề khác có thể có nhưng không chuyên sâu, hoặc chiếm số nhân công ít hơn Cũng tại các làng nghề thủ công truyền thống ven sông Gianh, tính chất hàng hóa thủ công nghiệp biểu hiện rất rõ Nhờ đó, thủ công nghiệp làng nghề, ở mức độ nhất định đã thoát khỏi sự lệ thuộc nông nghiệp
và thể hiện tính độc lập tương đối của nó Chẳng hạn như nghề làm bún bánh ở Tân An, nghề làm nón ở làng Thổ Ngọa, làng Hạ Thôn… đa số người dân lấy thu nhập từ nghề làm nguồn thu chính Nhìn chung các làng nghề ở đây được biểu hiện khá đầy đủ ở các đặc trưng cơ bản sau:
Một là tính cổ truyền và được trao truyền Hầu hết các làng nghề đều có kỹ
thuật cao, tay nghề khéo như nghề rèn, đúc, nghề chạm bạc, điêu khắc gỗ ở làng Hòa Ninh, nghề dệt ở Khương Hà, Thuận Bài, nghề nón làng Thổ Ngọa… phần lớn các làng nghề thủ công ở đây ra đời cùng với sự hình thành làng xã, phục vụ nhu cầu cuộc sống sinh hoạt của dân cư Bởi vậy mà các làng nghề vùng ven sông Gianh đều có hàng trăm năm tồn tại Tính trao truyền được thể hiện qua nhiều thế hệ, ít được phổ biến qua các làng khác Đối với một số làng thủ công ven sông Gianh, người ta truyền nghề theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, “cha truyền con nối”…
Tuy nhiên, tính trao truyền này cũng chỉ mang tính tương đối Bởi vì tìm hiểu về các làng thủ công truyền thống ven sông Gianh ta thấy hầu như không có
tổ chức phường, hội và luật nghề chặt chẽ như một số làng ở miền Bắc Ở một số làng như làng gốm Bát Tràng (Hà Nội), làng dệt Vạn Phúc (Hà Tây), làng kim khí Vân Chàng (Nam Định), làng chiếu Nga Sơn (Thanh Hóa)… tính chất làng chuyên làm nghề thủ công thể hiện rất rõ nét Hay như ở làng chạm bạc Đồng Xâm, người thợ thủ công luôn tuân theo quy lệ, đặc biệt là quy ước bảo trọng
Trang 30nghề Luật nghề quy định chặt chẽ: bí quyết, bí mật nghề chỉ lưu truyền trong dòng họ, trong phường, dù có đi làm ăn ở nơi xa cũng không được trái lệ
“Không ai ở Đồng Xâm được truyền nghề ra ngoài, cũng không truyền cho con
gái, chỉ truyền nghề (bí quyết) cho con dâu, con trai, cháu trai (nội) Trường hợp ngoại lệ có người ngoài đến học nghề, phải được ông Trùm phường (trưởng phường nghề) đồng ý Người được học việc phải sửa lễ nhập môn để cầu lộc của
Tổ nghề…” [41; 29] Trong khi đó, ở các làng nghề thủ công truyền thống ven
sông Gianh, chẳng hạn như ở làng Tân An khi có người đi làm ăn xa, con gái đi lấy chồng họ vẫn mang theo nghề gia truyền của ông cha để làm vốn sống tạo dựng cơ ngơi của mình Và khi đi xa, người ta vẫn có thể truyền nghề cho cư dân vùng mới đến Hay như nghề gốm ở làng Ngọa Cương được truyền vào làng Mỹ Cương (Đồng Hới) [39; 27]
Hai là tính địa phương độc đáo trong sản phẩm thủ công Khảo sát các làng
nghề truyền thống ở vùng lưu vực sông Gianh có thể thấy sản phẩm do người thợ thủ công ở đây làm ra đều có dấu ấn địa phương (ít có sự rập khuôn, bắt chước) Điều này dễ dàng nhận thấy trong các sản phẩm mà người thợ thủ công vùng ven sông Gianh đã làm ra Chẳng hạn: rựa của làng rèn Hòa Ninh khác với rựa của làng rèn Mai Hồng (xã Đồng Trạch, huyện Bố Trạch), khác với rựa được sản xuất ở làng Hoàng Giang (xã Xuân Thủy, huyện Lệ Thủy) Hay như nón bài thơ được sản xuất ở làng Thổ Ngọa khác với nón loại này sản xuất ở Huế, ở Hội An,
ở Bình Định, ở Hà Tây, ở Hòa Bình…
Để làm được những sản phẩm thủ công, người thợ ở các làng nghề vùng lưu vực sông Gianh phải trải qua nhiều công đoạn cầu kỳ: từ khâu sơ chế, xử lý nguyên liệu đến kỹ thuật chế tác và hoàn thiện Trong quá trình đó chỉ có cần cù khôn khéo chưa đủ mà còn phải có trí tuệ thông minh và sáng tạo [11; 93] Tuy sản phẩm thủ công chưa hẳn nổi tiếng khắp cả nước nhưng chủ nhân của nó vẫn
có niềm tự hào về tác phẩm được làm ra từ bàn tay sáng tạo của chính họ Có thể nói, tính cổ truyền được trao truyền qua các thế hệ nghệ nhân, tính địa phương được in dấu rõ nét trong mỗi sản phẩm thủ công là đặc trưng cơ bản nhất của các làng thủ công truyền thống ven sông Gianh
Trang 31Nhìn một cách tổng quát, có thể nói vùng ven sông Gianh là nơi hội tụ những điều kiện cho phép cư dân phát triển một nền kinh tế đa ngành trong đó tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò đáng kể Ở vào một địa thế khá thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – phần đất Bố Chính xưa kia đã tiếp nhận nhiều dòng người di cư đến đây tụ cư lập nghiệp từ lâu đời Những dòng người di cư từ miền Bắc vào đã không ngưng nghỉ trong việc xúc tiến công cuộc khẩn hoang, lập làng, đẩy nhanh sản xuất nông nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác như đánh bắt thủy sản, buôn bán, trong đó tiểu thủ công nghiệp cũng được ra đời và phát triển Sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp ở đây một phần để phục vụ nhu cầu cuộc sống sinh hoạt hằng ngày nhưng phần quan trọng là tạo thêm nguồn thu
bổ sung cho nền kinh tế nông nghiệp không mấy phát triển và luôn luôn bị thiên tai, lũ lụt tàn phá Bên cạnh đó, đôi bờ sông Gianh từng là nơi hứng chịu nhiều gánh nặng do chiến tranh Bởi vậy, yếu tố lịch sử này cũng có phần ảnh hưởng đến sự phát triển thủ công nghiệp làng xã Mặc dầu nghề thủ công ở đây không phát triển như một số làng ở nơi khác trong cả nước nhưng nó đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của cư dân và có đóng góp phần không nhỏ cho nền kinh tế địa phương
Có thể nói, để ứng xử và thích nghi với điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái – nhân văn có tính đặc thù, cư dân vùng ven sông Gianh đã tận dụng những nguồn nguyên liệu sẵn có để làm ra các sản phẩm thủ công nghiệp đa dạng
và độc đáo của mỗi làng nghề Các làng nghề vùng ven sông Gianh đã biểu hiện
và phản ánh trong đó các sắc thái, đặc điểm văn hóa – xã hội truyền thống của địa phương
Trang 32đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng gốm, làng làm chiếu, làng làm lụa, làng rèn, làng đúc, làng nón… Các làng thủ công truyền thống ven sông Gianh ra đời và phát triển theo
xu hướng đó Tuy nhiên, sự tồn tại và phát triển của các làng nghề ở đây phụ thuộc rất nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm, kỹ thuật công nghệ, yếu tố truyền thống và đặc biệt hơn cả là thị trường tiêu thụ sản phẩm Đây là yếu tố đóng vai trò quan trọng và gần như mang tính quyết định không chỉ đối với các làng thủ công truyền thống ven sông Gianh nói riêng mà còn đối với các làng nghề ở nơi khác trong cả nước Điều này được thể hiện ở các làng thủ công truyền thống chủ yếu như làng nón Thổ Ngọa, làng bánh đa Lộc Điền…
2.1.1 Làng nghề đóng thuyền truyền thống Thanh Trạch
2.1.1.1 Đôi nét về làng Thanh Trạch
Xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch nằm sát bờ phía nam hạ lưu sông Gianh Biển rộng, nông sâu, các cửa lạch bao bọc toàn bộ phía bắc, tây bắc và phía đông vây lấy bộ phận cư dân toàn xã Các làng đều tụ họp ven bờ sông Gianh, cửa biển
và ven các khe từ dãy núi phía nam và tây nam đổ vào sông Gianh chảy ra biển Đông Tập quán sinh sống ở đây có điểm giống các nơi khác trong tỉnh là tất cả hướng nhà đều tìm cách quay về hướng nam, đông nam và tây nam Chỉ có một ít
Trang 33quay ra phía bắc để bám lấy quốc lộ 1A làm ăn, buôn bán Ruộng vườn nằm ở phía các làng chạy mãi đến chân núi Lệ Đệ Con đường Thiên Lý Bắc Nam chạy suốt từ đầu xã đến cuối xã
Cả xã chia thành 7 thôn, làng Các thôn, làng này lại chia thành 22 xóm, mỗi xóm có nghề, tập quán sinh hoạt và tín ngưỡng khác nhau Các thôn Thanh Hải, Thanh Gianh, Thanh Xuân chuyên nghề ngư và hầu hết đồng bào theo Công giáo Các thôn Quyết Thắng, Tiền Phong làm nông, ngư kết hợp; Thanh Khê, Thanh Vinh dân cư làm nghề đóng thuyền, thủ công, cơ khí, dịch vụ buôn bán, theo Đạo Thiên Chúa, Đạo Phật hoặc không theo tôn giáo nào Như vậy, thiên nhiên đã ban cho người ở vùng đất này đủ 5 thế mạnh cơ bản đó là: rừng núi và
gò đồi, làm nông nghiệp khai thác tốt với nhiều khả năng thủy lợi; công thương nghiệp và dịch vụ, giao thông vận tải thủy bộ; ngư nghiệp với nhiều thuận lợi về bến bãi, cửa biển, hải cảng và ngành nghề đóng, sữa chữa tàu thuyền mang tính truyền thống Điểm đặc biệt mới có nhiều địa điểm lý tưởng để xây dựng nhà nghỉ dưỡng, khách sạn, du lịch Du khách có thể thấy Thanh Trạch làm trung tâm nghỉ ngơi, tắm biển Đá Nhảy rồi theo đường Ba Trại du ngoạn rừng thông, ngược lên thăm động Phong Nha hoặc từ đây theo du thuyền đi chơi đảo Chim, đến Hòn
La và ở lại Thanh Khê trong ngày Xuất phát từ địa hình, địa mạo nên Thanh Trạch có vị trí chiến lược lớn về quân sự cũng như về kinh tế, chính trị
Ngược dòng lịch sử, xem xét các sự kiện chính biến của đất nước thì thấy rằng các giới quân sự ở phe ta cũng như kẻ địch đều chú ý đến căn cứ Thanh Trạch Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân Pháp xem Bồ Khê (Thanh Trạch) làm bàn đạp để tiếp nhận quân lương phía biển vào phía nam và từ đó triển khai khống chế vùng Quảng Trạch, Tuyên Hóa Chiến tranh phá hoại của
Mỹ ra miền Bắc: không quân, tàu chiến Mỹ ở ngoài khơi ngày đêm bắn phá, hủy diệt vùng Thanh Trạch, Quảng Phúc nhằm ngăn chặn sự chống trả của hải quân
ta và thả mìn phong tỏa cửa biển sông Gianh, vô hiệu hóa con đường vận tải huyết mạch này Trong hòa bình xây dựng, đây là cửa khẩu quan trọng đối với tỉnh Quảng Bình trong việc mở rộng quan hệ quốc tế với tỉnh bạn và với tàu thuyền nước ngoài
Trang 34Mười năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Thanh Trạch dần đã trở thành trung tâm kinh tế phát triển của cả tỉnh Trong số 3 cảng biển lớn nhất của tỉnh ta: Cảng Gianh, Hòn La, Nhật Lệ thì tốc độ phát triển của cảng Gianh vừa lớn về quy mô vốn đầu tư và cũng là lớn nhất tỉnh về khả năng tiếp nhận, xuất, nhập hàng hóa Từ quy mô hoạt động cảng Gianh trở thành cảng biển quốc gia nằm trên địa bàn xã và cả khu vực nên tỉnh ta đã cho xây dựng ở đây cảng cá, nhà máy đông lạnh, biến Thanh Trạch thành khu kinh tế - thương mại lớn ở khu vực phía bắc tỉnh Quảng Bình
Ngày nay bộ mặt làng xã ở đây nhanh chóng đô thị hóa Nếu so sánh với các xã trong huyện Bố Trạch thì Thanh Trạch là xã có số lượng nhà cao tầng nhiều nhất vào loại nhất nhì huyện Các dịch vụ nhà hàng, nhà nghỉ, y tế, bưu điện, cung ứng xăng dầu… phát triển nhanh Trong tương lai thì Thanh Trạch sẽ nhanh chóng trở thành cụm kinh tế - xã hội phát triển lớn sau thành phố Đồng Hới và sẽ là đòn bẫy kinh tế mạnh cho cả vùng bắc nam sông Gianh
2.1.1.2 Sự ra đời và phát triển nghề truyền thống đóng tàu thuyền
Trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, sống trên đất nước có biển rộng, nhiều sông ngòi, nhân dân ta đã có truyền thống từ lâu đời trong việc chế tạo và sử dụng tàu thuyền Hình ảnh con thuyền đã phổ biến trên trống đồng Việt cổ
Thuyền ở nước ta có nhiều loại: thuyền vận tải, thuyền chiến, thuyền đi biển, thuyền đánh cá… phù hợp với từng mục đích sử dụng, theo từng thời kỳ lịch sử Thuyền được đúc tù thân cây (độc mộc), đóng bằng gỗ, đan bằng tre, làm bằng kim loại… tùy thuộc vào điều kiện vật liệu của mỗi địa phương Tuy nhiên
là một làng nằm ở hạ lưu bờ nam sông Gianh, có cửa biển rộng lớn nhưng nghề đóng thuyền ở đây lại không phải của cư dân địa phương mà là được du nhập từ Nghệ An vào Tương truyền rằng, khi thành lập xã này gồm có hai nguồn dân cư: một bộ phận từ La Hà (Quảng Văn), Cao Lao (Hạ Trạch) xuống khai khẩn đất đai dựng nhà, làm ruộng, trồng trỉa để kiếm sống Đất đai tốt, mùa màng thu hoạch khá nên về sau họ lôi kéo thêm bạn bè cùng lập làng, sinh cơ lập nghiệp Một bộ phận khác là từ những người làm nghề đánh bắt cá “vùng trên” tràn xuống Họ vốn gốc người Xuân Hồi (Xuân Thủy) ra cư ngụ ở vùng cồn két, làm nghề chài lưới, về sau di chuyển dần xuống phía cửa biển làm ăn rồi định cư luôn
Trang 35ở đó Cả hai nhóm người này sinh sống thân thiện với nhau mà lập nên làng Bồ Khê (Thanh Trạch bây giờ)
Theo “Địa chí xã Thanh Trạch” thì người khỏi xướng nghề này không phải
dân bản địa mà là dân tỉnh ngoài vào Địa chí viết: “Các cụ tiên hiền khai khẩn
Bồ Khê phường gốc ở Nghệ An, chuyên nghề đóng tàu thuyền, quê ở xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc vào làm nghề lâu ngày ở lại thành người sáng lập ra làng xóm ở đây” [32, tr.37]
Người dân ở đây còn truyền kể câu chuyện: “Cụ Nguyễn Ký, gốc Đàng
Ngoài vào làm nghề rồi gây dựng Gia đình ở đây Cụ Ký có đóng cho làng Bồ Khê một chiếc thuyền đánh cá mà không cần xâm kẻ hở bằng cật tre, vỏ tram hay dầu rái… mà thuyền vẫn không bị nước lọt vào Cụ được làng thưởng đến 3 chum rượu” [32; 39] Người ở đây cũng cho rằng nghề đánh ghe, thuyền mãi cho
đến bây giờ con cháu cũng vận dụng mẹo mực đó mà phát triển lên đóng tàu thuyền hiện đại và cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của ngư dân Tuy
nhiên các vị bô lão khẳng định rằng “Về trọng tải thì chưa có ai đóng nổi ghe,
thuyền có trọng tải đến 120 tấn như cụ Ký sống ở thời đại trước cách mạng tháng Tám” [32; 38]
Ngày xưa, với kỹ thuật thô sơ mà đóng được ghe lớn như vậy quả là có bí quyết lớn về kỹ thuật Nghề đóng ghe, thuyền ở đây phát triển làm cho nghề vận tải biển, tàu thuyền chạy bằng buồm gió ở tỉnh Quảng Bình ngược xuôi ra Bắc vào Nam ngày càng nhiều Kinh nghiệm đóng tàu thuyền qua các đời được các vị tiền bối truyền lại cho con cháu Về quy mô lớn nhỏ thì có thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh mà người sắm tàu thuyền yêu cầu Nhưng về kiểu dáng và vật liệu đóng thì rất ít đổi Vật liệu đóng tàu thuyền xứ này lui tới cũng chỉ có vài ba loại
gỗ như lim, huện… vì các loại gỗ này vừa chịu nước vừa có tính chịu nắng Trên một con thuyền ít khi người ta dùng một loại gỗ mà kết hợp nhiều loại với nhau
Ví dụ như khung là phần chịu lực chính thì có thể đóng bằng gỗ lim, táu, trường… phổ biến là lim Còn ván thuyền là gỗ huện Sở dĩ người ta ít dùng các loại gỗ như lim, táu trường làm ván vì loại gỗ này vừa nặng, lại hay nứt nẻ khi gặp nắng Ván thuyền chọn gỗ huện nhưng ngay loại gỗ này cũng phải chọn loại
gỗ huện có thớ mịn, không chọn “huện bộp”
Trang 36Người xưa xem việc đóng thuyền quan trọng như việc làm nhà Trước tiên người ta phải chọn ngày lành tháng tốt hợp với chủ thuyền Tiếp theo là đồ cúng
và lễ vật tượng trưng Có chủ thuyền thì mời thầy bói về, nhưng có chủ thuyền thì “lễ bạc long thành” “khẩn vái thiên thần, thủy thần xin cho phát mộc mà làm nên cái thuyền để mưu sinh” Theo truyền tụng ngày xưa “gỗ trước khi đem vào đóng thuyền người thợ cũng phải làm phép trừ tà mộc” Toàn bộ lễ vật được đặt trên mâm hoặc các bàn cao và trên bàn lễ không thể thiếu tấm vải đỏ Khi cúng xong được một phần, lễ cúng được hỏa hóa hoặc thả xuống sông biển một phần như gạo, muối và lên đất
Nghề đóng thuyền của Thanh Trạch lúc sơ khai cũng chỉ là sản phẩm của dòng sông lại phát triển theo chiều rộng của biển Sự xuất hiện nghề đóng thuyền
ở đây đã thúc đẩy không những nghề đánh cá biển tiến lên mà còn góp phần đẩy mạnh nghề vận chuyển biển ngày càng thịnh vượng
So với cửa lạch Nhật Lệ cũng là nơi có truyền thống và biển vận chuyển biển, nhưng do không có nghề đóng thuyền tại chỗ, nên đã hạn chế không ít sức phát triển cần có Xưa kia, mỗi lần người Động Hải muốn có ghe thuyền phải đi đặt hàng ở cửa Gianh, ở Lý Hòa hoặc phải rước thợ các nơi về đóng và các chiếc ghe “ăn” gạo ở Nam Kỳ lục tỉnh của sông Gianh khi nào cũng có trọng tải lớn hơn ghe của Nhật Lệ nhiều lần Những nhà kinh doanh về vận tải biển ở Động Hải chưa bao giờ là chủ nhân của những chiếc ghe trọng tải từ 100 đến 120 tấn chạy bằng buồm, trong khi đó ở Lý Hòa, sông Gianh, Cảnh Dương việc đó là bình thường, không phải do lạch cửa sông nông hay sâu bởi vì cửa lạch Động Hải xưa cũng như nay thuận lợi hơn nhiều, cũng không phải so vốn đầu tư nơi này kém hơn hoặc rừng địa phương không có gỗ ván đủ tiêu chuẩn… Cái chính là không có cơ sở đóng thuyền tại chỗ
Sau 1954, miền Bắc thực hiện công cuộc cải tại các thành phần kinh tế, tiến hành hợp tác hóa trong sản xuất thì HTX đóng tàu thuyền Thanh Trạch ra đời Tuy nhiên, thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, giao quyền chủ động sản xuất kinh doanh cho người lao động, các HTX ở Thanh Trạch trong đó có HTX đóng tàu thuyền do làm ăn kém hiệu quả dần dần tự giải thể hoặc chuyển đổi Một số HTX chuyển đổi thành công mở ra cơ chế làm ăn Trước yêu cầu đổi mới công
Trang 37nghệ đóng và cung ứng trang thiết bị tàu thuyền theo nhu cầu của thị trường, HTX đóng tàu truyền thống ở đây thiếu vốn, thiếu kỹ thuật tiên tiến, không có sự quản lý, điều hành thích ứng vì vậy cũng dần tan rã Một số xã viên HTX chung vốn với nhau sắm thuyền mới chuyển nghề, số còn lại chuyển sang dịch vụ, buôn bán… chỉ còn vài ba hộ bỏ vốn lên đà tu sửa tàu thuyền và làm dịch vụ cơ khí tàu thuyền Đến thời điểm này nghề đóng tàu truyền thống ở Thanh Trạch đần bị lãng quên, số lượng tàu thuyền trong xã ngày càng tăng nhưng do các địa phương khác như Hải Trạch, Đức Trạch, Bảo Ninh, xí nghiệp tàu thuyền Đồng Hới cung ứng
Hiện nay Thanh Trạch có nền kinh tế xã hội khá phát triển Nơi đây là điểm hội tụ của hàng trăm tàu thuyền đánh cá trong và ngoài tỉnh về bán hàng và ăn hàng Lại có cảng quốc gia, cảng cá, nhà máy chế biến thủy, hải sản Đây là điểm thuận lợi hiếm có để Thanh Trạch khôi phục lại làng nghề truyền thống mới và sửa chữa tàu thuyền Tuy nhiên muốn khôi phục và phát triển cần có cơ chế và giải pháp thích hợp mà quan trọng hơn hết là lựa chọn cơ cấu tổ chức ngành nghề
và chủ dự án đầu tư
2.1.2 Làng đan lát Thọ Đơn
2.1.2.1 Đôi nét về làng Thọ Đơn
Làng Thọ Đơn, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xưa
nay được biết đến bởi những sản phẩm đan lát làm từ vật liệu mây tre nứa
Xã Quảng Thọ nằm về phía đông của ngõ thị trấn Ba Đồn, có vị trí địa lý khá thuận lợi với phía Đông là bãi biển tuyệt đẹp trải dài, phía Tây là con đường thiên lý Bắc Nam, phía Bắc giáp thôn Xuân Kiều (xã Quảng Xuân) và phía Nam giáp xã Quảng Phúc Về sự ra đời của xã Quảng Thọ ngày nay thì chưa có một tài liệu nào khẳng định tính xác, song căn cứ vào mục bản đồ trong “Ô Châu Cận Lục” của Dương Văn An và lời kể của một số bậc cao niên trong làng thì có thể phỏng đoán rằng, xã Quảng Thọ được hình thành vào thời hậu duệ Lê, nghĩa là vào khoảng thế kỷ XV Khi Dương Văn An viết “Ô Châu Cận Lục” vào năm
1553 thì Quảng Thọ ngày nay là một đơn vị hành chính bao gồm hai xã: Đại Đan
và Tiểu Đan thuộc châu Bố Chính Khác với nhiều làng quê khác ở Quảng Trạch vốn có truyền thống học hành đỗ đạt, Đại Đan và Tiểu Đan dường như vắng bóng trong danh sách các nhà khoa bảng Quảng Bình xưa Theo sử liệu ghi chép
Trang 38lại thì có hai vị đậu cử nhân vào các năm 1843 niên hiệu vua Thiệu Trị thứ 3 và
1848 niên hiệu vua Tự Đức thứ nhất là người Đại Đan Tuy nhiên cũng theo lời
kể của một số bậc cao niên trong làng thì thuở mới thành lập do làng có người làm quan to nên đã chiếm được hơn 400 mẫu ruộng cho làng Song cũng có một truyền thuyết dân gian kể rằng, việc tranh chấp đất giữa xã Quảng Thọ và làng Xuân Kiều (xã Quảng Xuân) xẩy ra liên miên từ đời này sang đời khác Cho đến một ngày, có người nảy ra sáng kiến rằng, xã Quảng Thọ sẽ cử ra một người đàn ông khỏe nhất đứng ra tại ranh giới giữa xã Quảng Thọ và Quảng Phúc, khi một hồi trống vang lên, người đó sẽ vừa chạy vừa ù (như trò chơi dân gian của trẻ em) về phía làng Xuân Kiều Khi nào người đó hết hơi dừng lại thì đó sẽ là ranh giới giữa hai xã Người đàn ông của xã Quảng Thọ đã chạy được một quảng đường khá dài và khi dừng lại thì ông đã bị tắt hơi mà chết Mộ của ông được chọn ngay tại đó và ranh giới giữa hai làng đã được xác lập, từ đó không còn xảy ra tranh chấp
Thọ Đơn là một trong năm thôn của xã, được chia thành bốn xóm mang tên: Giáp, Ất, Bính, Thìn Thọ Đơn có bốn dòng họ phổ biến nhất là Đoàn, Nguyễn, Trần, Lê, trong đó họ Đoàn là họ lớn nhất và được xem như là ông Tổ của làng nghề Cũng theo các cụ cao niên trong làng kể lại thì họ Đoàn có thể được bắt nguồn từ Đoàn Nhữ Hài, một viên tướng tài của Lê Lợi trong đội quân tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hóa Sách “Phủ biên tạp lục” của Lê Qúy Đôn chép: “Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Lê Thái Tổ đã nhìn thấy vị trí Tân Bình – Thuận Hóa là một trọng tấn nên đã chọn trong các danh tướng đã từng có công đánh dẹp giặc Minh vào giữ chức trấn thủ…” Vậy nên cũng có thể phỏng đoán rằng, Thọ Đơn được ra đời vào thời vua Lê Thái Tổ Song một giả thiết khác cho rằng vào đời vua Lê Thánh Tông, sau khi đánh thắng quân Chiêm Thành, cũng như các bậc cha ông của mình là Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, ông thấy được tầm quan trọng của vùng đất Bố Chính nên đã xuống kêu gọi nhân dân phiêu tán ở các tỉnh miền Bắc di cư lập ấp ở châu Bố Chính: “Bố Chính đất rộng dân thưa, lại liền với châu Hoan, vậy quân và dân nên đến đó khẩn hoang (làm ăn), sẽ có lợi lớn…” Có thể thấy rằng, đây là đợt di dân lần thứ ba có tính chất về mặt nhà nước: Lần thứ nhất là thời Lý Nhân Tông năm 1075 di dân xuống Lâm Bình; lần thứ hai là thời Hồ Quý Ly năm 1403 di dân xuống Thăng Hoa Tư Nghĩa và lần
Trang 39này di dân xuống châu Bố Chính Vậy nên cũng có thể đồng ý với giả thiết rằng Thọ Đơn được hình thành trong đợt di dân thứ ba vào đời vua Lê Thánh Tông
2.1.2.2 Sự ra đời và phát triển của nghề đan lát
Xuất xứ nghề đan lát
Nghề đan lát xuất hiện từ lâu, có lẽ ngày xưa người đầu tiên vào khai khẩn vùng đất này đã mang theo nghề Cụ Đoàn Bổng năm nay 80 tuổi, một trong những người dân làng xem như pho sử sống cũng chỉ biết rằng, ông Tổ của làng
là người Thanh – Nghệ di cư Các bản gia phả của các dòng họ cũng không còn
do thất lạc trong thời kỳ chiến tranh, ở Thọ Đơn hiện nay có miếu Thành hoàng, song được xây dựng từ bao đời và vị Thành hoàng đó là ai thì chưa có một tài liệu nào khẳng định chính xác Người Thọ Đơn từ đời này sang đời khác nối tiếp nhau học nghề theo kiểu “cha truyền con nối” và ngày càng phát triển Ngày nay, ngoài việc truyền nghề cho con cháu, từ năm 1975 làng đã quy định ngày cúng
Tổ là mồng 2 tháng 12 âm lịch hàng năm Vào ngày này, tất cả các dòng họ trong làng gồm: Đoàn, Nguyễn, Trần, Lê, Phạm, Võ… sắm sửa lễ vật riêng của từng dòng họ sau đó mang đến miếu Thành hoàng cúng tộc Đây là một trong những ngày lễ hội lớn ở Thọ Đơn để tưởng nhớ người đã khai sinh và sáng lập ra nghề đan lát, một nghề đã giúp cho người dân Thọ Đơn góp phần ổn định, phát triển
và trở nên nổi tiếng trong hàng mấy thế kỷ qua
Sự phát triển của nghề đan lát Thọ Đơn qua các giai đoạn lịch sử
Giai đoạn sơ khai đến năm 1945:
Vào thời kỳ này Thọ Đơn cũng như nhiều làng khác ở Việt Nam phải trải qua nhiều thăng trầm và biến động lịch sử Dưới các triều đại phong kiến, nghề lát có lúc phát triển rực rỡ, lại có lúc dường như bị mai một do tác động của yếu
tố lịch sử lúc bấy giờ Tuy nhiên, nhìn chung nghề đan lát vẫn duy trì và phát triển Vào thời bấy giờ khi các vật dụng đều được sản xuất bằng phương thức thô
sơ thì các sản phẩm của Thọ Đơn có mặt hầu hết ở các nơi trong vùng Những rỗ
rá, nong nia, dần sang, thúng bơi… trên đôi vai tần tảo của những người dân Thọ Đơn tỏa đi khắp miền Có thể nói rằng thoạt đầu nghề đan lát chưa chiếm được
ưu thế lớn trong cơ cấu ngành nghề còn đa dạng của Thọ Đơn, song qua một thời gian duy trì và phát triển thì nghề đan lát đã có một vị trí khá ổn định và có thể
Trang 40nói là hưng thịnh Vào năm 1553, khi “Ô Châu Cận Lục” của Dương Văn An ra đời thì Đại Đan và Tiểu Đan đã có tên trong mục đồ bản thuộc châu Bố Chính Đại Đan,Tiểu Đan và Thọ Đơn sau này được nhiều người phỏng đoán rằng nó xuất sứ từ chính nghề đan nên mới có tên như thế Đan và Đơn được xem như đồng nghĩa, hàng mấy thế kỷ trôi qua có thể người ta đọc chệch Đan thành
Đơn…
Giai đoạn từ 1945 đến 1975:
Đây là một giai đoạn có nhiều biến cố của lịch sử dân tộc Sau bao nhiêu năm bị kìm kẹp dưới ách thống trị của thực trị của thực dân phong kiến, người Việt Nam nói chung và Thọ Đơn nói riêng thực sự được làm chủ chính mình Bên cạnh sự phát triển chung của nhiều ngành nghề, nghề đan lát cũng bước vào một giai đoạn mới Dẫu vẫn làm nghề theo kiểu “tự sản tự tiêu” và thị trường tiêu thụ là các tỉnh lân cận với phương thức gánh hàng trên vai rong ruổi qua các đường thôn ngõ xóm để rao bán, song người dân Thọ Đơn đã được mở rộng hơn
về tầm nhìn, từ đó nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh Cũng cần phải nói thêm rằng, đây là giai đoạn đất nước ta trải qua 2 cuộc chiến tranh ác liệt để giữ vững chủ quyền dân tộc độc lập Thọ Đơn cũng như nhiều làng quê khác đã đóng góp một phần không nhỏ cho 2 cuộc chiến Những sản phẩm thường ngày như rổ rá, nong nia, dần sàng, thuyền nan… đã góp phần làm nên hạt gạo củ khoai ủng hộ kháng chiến Có những thời gian Thọ Đơn bị địch tạm chiếm, cuộc sống của người dân nơi đây lại phải chịu nhiều ách áp bức, bóc lột tàn bạo của bọn thực dân, nghề đan tưởng chừng như bị chững lại song truyền thống từ bao đời đã giúp người dân giữ vững và phát huy nghề nghiệp của cha ông cho đến tận bây giờ…
Giai đoạn từ 1975 đến 1990:
Có thể nói rằng, trong lịch sử phát triển của làng nghề thì đây là khoảng thời gian nghề đan lát Thọ Đơn được phát triển rực rỡ Đất nước hoàn toàn thống nhất, người dân Thọ Đơn bắt tay vào công cuộc xây dựng và tái tạo quê hương Các sản phẩm của Thọ Đơn có mặt hầu hết ở các tỉnh lân cận, người tham gia nghề này đông hơn bao giờ hết Những nghề khác như đi biển, buôn bán nhỏ và nông nghiệp dần dần trở nên thu nhỏ khi lợi ích kinh tế của nghề đan ngày một