1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh quảng bình ( CHXHCN việt nam ) khăm muộn ( CHDCND lào ) giai đoạn 1976 2006

113 365 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình (CHXHCN Việt Nam) - Khăm Muộn (CHDCND Lào) giai đoạn 1976 - 2006
Tác giả Nguyễn Thị Hương Trà
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 4,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy nghiên cứu mối quan hệ Quảng Bình - Khăm Muộn đợc đặt ranhằm khẳng định lại những thành tựu trong 30 năm qua giữa hai tỉnh, đúc rútnhững kinh nghiệm, lịch sử trong quá trình hợp t

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

==== ====

Nguyễn Thị Hơng Trà

Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình (CHXHCN Việt Nam) - khăm muộn (CHDCND lào) giai

tự nhiên cũng nh trong quá trình dựng nớc và giữ nớc Tình cảm đó đợc thể

Trang 2

hiện sinh động trong lịch sử gần một thế kỷ đấu tranh cho độc lập tự do củanhân dân hai nớc chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và có ý nghĩa đặc biệttrong công cuộc xây dựng, phát triển đất nớc của mỗi dân tộc Trên cơ sở mốiquan hệ đoàn kết, hữu nghị, hợp tác Việt Nam - Lào đã đợc hai Đảng, Chủtịch Cayxỏn Phômvihẳn và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều thế hệ cáchmạng dày công vun đắp, quan hệ Quảng Bình và Khăm Muộn ngày càng đợccủng cố và không ngừng phát triển

1.1 Sau năm 1975, quan hệ hai nớc Việt Nam - Lào nói chung, QuảngBình và Khăm Muộn nói riêng đã có những chuyển biến mới Từ quan hệ chủyếu về chính trị, đối ngoại chuyển sang quan hệ hợp tác trên tất cả các lĩnhvực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và an ninh quốc phòng Trong đó, hợptác kinh tế và chính trị ngày càng có vị trí quan trọng Đặc biệt là Quảng Bình

đã tổ chức thành công cho các đoàn đại biểu tỉnh Khăm Muộn sang thăm vàlàm việc tại Quảng Bình Đây là sự kiện đánh dấu bớc quan trọng mới trongquan hệ hợp tác Quảng Bình và Khăm Muộn

1.2 Hiện nay, bối cảnh lịch sử, nhiệm vụ và mục tiêu cách mạng hai nớcViệt - Lào nói chung, Quảng Bình và Khăm Muộn nói riêng có những nét tơng

đồng Đặc biệt sự lãnh đạo của hai Đảng, sự quản lý của hai Nhà nớc luôn có

sự gắn bó mật thiết với nhau Hai nớc nhận thức rõ vai trò và vị trí của nhautrong khu vực và trên trờng quốc tế, coi sự đoàn kết hợp tác và phát triển làyêu cầu của mỗi nớc Vì vậy, việc duy trì, củng cố và phát triển quan hệ hữunghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt - Lào vô cùng quan trọng vàcần thiết đối với cả hai nớc Tuy nhiên, mọi quan hệ hợp tác đều phải dựa trêncơ sở hiểu biết lẫn nhau, do đó việc nghiên cứu một cách hoàn chỉnh có hệthống về mối quan hệ này sẽ có ý nghĩa to lớn trên tất cả các mặt

Việc nghiên cứu mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - KhămMuộn trong bối cảnh quan hệ Việt - Lào ngày càng gắn bó và phát triển làmột vấn đề có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn rất lớn

1.3 Hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn đã có mối quan hệ đoàn kết từlâu đời, với truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cờng kề vai sát cánh bênnhau trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống Pháp và chống Mỹ Saunăm 1975, hoà bình lập lại ở cả hai nớc Việt - Lào, mối quan hệ giữa hai tỉnhbớc vào một giai đoạn mới Hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực nhằm pháttriển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ

Trang 3

quốc là việc làm đích thực Xét về thực lực, đây đều là hai tỉnh nghèo tronghai quốc gia kém phát triển, Quảng Bình - Khăm Muộn đã từng bớc nâng caohợp tác giữa hai tỉnh ngày càng mật thiết hơn, cơ bản phát triển qua hai giai

đoạn 1976 - 1989 và giai đoạn 1989 - 2006

Do vậy nghiên cứu mối quan hệ Quảng Bình - Khăm Muộn đợc đặt ranhằm khẳng định lại những thành tựu trong 30 năm qua giữa hai tỉnh, đúc rútnhững kinh nghiệm, lịch sử trong quá trình hợp tác, góp phần thúc đẩy hơn nữamối quan hệ giữa hai tỉnh nói riêng và hai nớc nói chung phát triển thêm một b-

ớc mới

Xuất phát từ ý nghĩa lý luận trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài:

"Quan hệ hợp tácgiữa hai tỉnh Quảng Bình (CHXHCN Việt Nam) - Khăm Muộn (CHDCND Lào) giai đoạn 1976 - 2006" làm đề tài luận văn thạc sĩ.

Luận văn góp phần nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phơng, mong muốn

đóng góp một phần nhỏ bé của mình giúp nhân dân Quảng Bình - KhămMuộn hiểu rõ hơn về mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân hai tỉnh,góp phần đẩy mạnh và tăng cờng hơn nữa mối quan hệ hợp tác lâu dài, toàndiện, bền vững của hai nớc Việt - Lào nói chung và hai tỉnh Quảng Bình -Khăm Muộn nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ Việt - Lào Nhữngnghiên cứu về mối quan hệ giữa các địa phơng cùng chung biên giới hai nớc làmột việc làm khá mới Đặc biệt cha có tác giả nào đề cập một cách đầy đủ vềmối quan hệ giữa Quảng Bình - Khăm Muộn cũng nh mối quan hệ của cáctỉnh cùng chung biên giới Mối quan hệ này nó có cội nguồn lịch sử giữa hainớc cùng chung biên giới nằm trên bán đảo Đông Dơng, là mối quan hệ giữahai tỉnh vùng biên giới đã, đang và sẽ cùng đoàn kết với nhau trong cuộc xâydựng và phát triển đất nớc nói chung và Quảng Bình - Khăm Muộn nói riêng.Cho nên nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác Quảng Bình - Khăm Muộn phải

đợc xem xét trong tổng thể mối quan hệ hai nớc Việt - Lào Viết về mối quan

hệ đặc biệt này đã có nhiều tác giả khai thác ở những khía cạnh khác nhau,trong đó có một số công trình tiêu biểu

Về sách: + Trong cuốn "Ngoại giao Việt Nam" do Nxb Công an nhân

dân phát hành năm 2004 (823 trang) tác giả Lu Văn Lợi khi phác hoạ ngoại

Trang 4

giao truyền thống Việt Nam và ngoại giao Việt Nam từ 1945 đến 1995,đãphần nào đề cập tới mối liên quan Việt - Lào

+ Cuốn "Lịch sử Đông Nam á" của Lơng Ninh, Đỗ Thanh Bình, Trần Thị

Vinh, Nxb giáo dục, Hà Nội 2005, dựng lại quá trình phát triển của lịch sửkhu vực từ thời tiền sử đến năm 2005 một cách chân thực khá phong phú vớinhiều nét mới, đồng thời đã chỉ ra mối quan hệ của các nớc trong khu vựctrong đó có quan hệ Việt - Lào

+ Cuốn "Lợc sử nớc Lào" của tác giả Phan Gia Bền, Đặng Bích Hà,…

Nxb khoa học xã hội, Hà Nội 1978 đã dựng lại những nét khái quát về lịch sử

Lào từ cổ đại đến 1975 Cuốn "Lịch sử Lào" của viện nghiên cứu Đông Nam

á do Nxb khoa học xã hội ấn hành năm 1997, đã nói lên sự phát triển của nớcLào

+ Cuốn "Quan hệ Việt - Lào, Lào - Việt" Trờng Đại học khoa học xã hội

- nhân văn năm 1993, đã đề cập quan hệ hợp tác giữa hai nớc này

+ Cuốn "Vài nét về hợp tác giáo dục - đào tạo Lào - Việt", Nguyễn

Quang Ngọc, Bộ giáo dục và đào tạo, đã trình bày rõ về hợp tác giáo dục củahai nớc ngày một phát triển

+ "Quan hệ Việt Nam - Lào từ 1975 đến 2005", Nguyễn Thị Phơng Nam

- Luận án tiến sĩ (2007), đã đề cập quan hệ hợp tác giữa hai nớc trên nhiềulĩnh vực

+ Năm 2002, tại Vinh nhân dịp kỷ niệm 25 năm Hiệp ớc hữu nghị và hợptác Việt - Lào, 40 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nớc, Trung tâm Khoa hocxã hội và Nhân văn Quốc gia phối hợp cùng ủy ban nhân dân Nghệ An tổ

chức hội thảo "40 năm quan hệ Việt Nam - Lào, nhìn lại và triển vọng" Hầu

hết, tác giả là các nhà Khoa học, chính trị chuyên nghiên cứu, giảng dạy, côngtác tại các trờng Đại học, Viện nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu thực hiện vấn

đề hợp tác giữa hai nớc, tiêu biểu nh: Phạm Nguyên Long, Phạm Đức Dơng,

Vũ Công Quý, Trần Bảo Minh, Nguyễn Đình Bá, Lê Văn Minh, Từ ThanhThuỷ, SốmỷChaivangchang,… Nội dung các báo cáo tập trung theo các chủ

đề chung trong quan hệ giữa hai nớc và đi sâu vào từng lĩnh vực cụ thể nh:Chính trị, Ngoại giao, An ninh, Quân sự, Văn hoá - giáo dục, Kinh tế Dokhuôn khổ bài viết cho một cuộc hội thảo nên báo cáo mới chỉ thể hiện vắn tắtnội dung trên những nét cơ bản nhất

Trang 5

Về tạp chí:

+ Hợp tác chính trị Việt Nam - Lào nhìn từ góc độ hợp tác chính trị của

ASEAN, Phạm Nguyên Long viện nghiên cứu Đông Nam á.

+ Nhìn lại 15 năm hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào (1976 - 1990) thực

trạng tiềm năng và triển vọng, Phạm Xuân Quế Tạp chí khoa học số 3 - 1991.

+ 25 năm hợp tác kinh tế văn hóa khoa học kỹ thuật Việt Nam

-Lào, Vũ Công Quý, Viện nghiên cứu Đông Nam á.

+ Nhìn lại quan hệ hợp tác Việt - Lào trên lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh

tế thời kỳ 1991 - 2001, Nguyễn Hoàng Giáp - Nghiên cứu Quốc tế số 4 - 2001.

+ Hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn,

Lê Văn Minh, Bộ kế hoạch và đầu t

+ Hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực văn hóa - thông tin, Vũ Tuyết Loan,

Viện nghiên cứu của Đông Nam á

+ Hợp tác Việt - Lào trong lĩnh vực giao thông vận tải, Nguyễn Ngọc

Lan, viện nghiên cứu Đông Nam á

+ Vài nét về hợp tác giáo dục - đào tạo Lào - Việt, Nguyễn Quang Ngọc,

Bộ giáo dục và đào tạo

+ Mối quan hệ giữa Việt Nam - Lào trong bối cảnh Đông Nam á - Hội

thảo khoa học 25 năm quan hệ hợp tác Việt - Lào và 40 năm quan hệ ngoạigiao hai nớc

Các công trình nghiên cứu, các nguồn tài liệu đã tiếp cận đợc, chúng tôinhận thấy:

1 Các công trình này chủ yếu phản ánh ở góc độ quan hệ hai Đảng, haichính phủ và hai Nhà nớc Việt Nam - Lào, song cha phản ánh mối quan hệ ởgóc độ địa phơng

2 Trong quá trình nghiên cứu các tác giả đã đi sâu vào một lĩnh vực hợptác, bằng cách thống kê các số liệu, sự kiện, các tác giả cho chúng ta thấy mộthiện tợng cụ thể, đơn lẻ mà cha có đợc cái nhìn toàn diện về mối quan hệ Việt

- Lào, hoặc là các tác giả nghiên cứu một cách tổng thể mối quan hệ Việt Nam

- Lào, thông qua phơng pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh Các công trìnhnày đa đến một cái nhìn khái quát nhng lại thiếu tính cụ thể trong mối quan hệ

đặc biệt của hai nớc, do đó tính thuyết phục cha thật cao Các công trìnhnghiên cứu còn cha phản ánh đợc những nét riêng biệt trong mối quan hệ giữacác tỉnh cùng chung biên giới

Vì thế, đến nay cha có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ

về mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn Từ thực tế đó

Trang 6

cho thấy việc nghiên cứu quan hệ hợp tác Kinh tế, Văn học - giáo dục, Anninh - quốc phòng giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn giai đoạn 1976 -

2006 là một việc làm cần thiết

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Luận văn là mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm

Muộn giai đoạn 1976 - 2006

3.2 Phạm vị nghiên cứu

3.2.1 Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ hợp tác giữa hai tỉnhQuảng Bình và Khăm Muộn trên tất cả các lĩnh vực Kinh tế, Văn hoá - Giáodục, An ninh - Quốc phòng

3.2.2 Bên cạnh đó, luận văn còn đề cập đến những nhân tố tác động đếnmối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn giai đoạn 1976 -

2006 nh: nhân tố địa văn hóa, nhân tố lịch sử và những bớc phát triển trongmối quan hệ của hai nớc Việt - Lào

Về thời gian: Luận văn đề cập đến mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnhQuảng Bình - Khăm Muộn giai đoạn lịch sử 30 năm (1976 - 2006)

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là hệ thống hoá toàn bộ tiến trình phát triển củaquan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn trên các lĩnh vực giai

đoạn 1976 - 2006, làm rõ đặc điểm của mối quan hệ này qua các giai đoạnphát triển Từ đó, luận văn đa ra những đánh giá về chiều hớng và triển vọngcủa quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh

Từ phạm vi nghiên cứu và mục đích của luận văn, nhiệm vụ chủ yếu màluận văn cần phải giải quyết là:

Hệ thống hoá các sự kiện, cố gắng dựng lai một cách chân thực, kháchquan, khoa học và có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ giữa hai tỉnhQuảng Bình - Khăm Muộn trong giai đoạn 1976 - 2006

Phân tích, nghiên cứu những nhân tố cơ bản có tác động chi phối, ảnh ởng tới lợi ích của từng tỉnh và quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh trong vòng 30năm qua

h-Làm rõ cơ sở của mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh cũng nh đặc điểm vàbản chất của mối quan hệ này Từ đó, dự báo chiều hớng, triển vọng quan hệhợp tác giữa hai tỉnh trong tơng lai

5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu

Trang 7

5.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã tham khảo nhiều nguồn tài liệukhác nhau Trong quá trình thu thập tài liệu chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn

Từ ngày 30/6/1989, tỉnh Bình Trị Thiên đợc tách ra thành ba tỉnh Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Cho nên một số t liệu đã không còn lu trữ tại trungtâm lu trữ Quảng Bình và cũng không lu lại tại trung tâm lu trữ Quảng Trị vàThừa Thiên Huế Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn này, cómột số chỗ còn thiếu sót tài liệu, chúng tôi chủ yếu dựa vào những tài liệu sau

Nguồn tài liệu gốc về mối quan hệ hai tỉnh nh:

+ Báo cáo tổng kết quá trình hợp tác, công văn quyết định, các văn bản…

lu tại trung tâm lu trữ Quảng Bình và một số trung tâm khác

+ Những văn kiện của ĐCS Việt Nam và Đảng NDCM Lào

Nguồn tài liệu tham khảo:

+ Những công trình nghiên cứu gồm sách, báo, tạp chí, luận văn, luận

án… viết về quan hệ hợp tác giữa Việt Nam Lào nói chung, Quảng Bình Khăm Muộn nói riêng có liên quan đến vấn đề mà đề tài quan tâm

-Ngoài ra, để luận văn thêm sinh động, chúng tôi có tham khảo thêm cácnguồn tài liệu khác, các bài báo, phim tài liệu, bản đồ có liên quan đến đề tài

6 Đóng góp của luận văn

Theo ý kiến chủ quan của bản thân, luận văn này có những đóng góp chủyếu sau:

+ Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về mối quan

hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn; luận văn đã su tầm và hệthống lại các tài liệu để phác thảo một cách tổng thể và khách quan về mốiquan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn

Trang 8

+ Luận văn bớc đầu đa ra một số nhận xét, đánh giá và đa ra một số địnhhớng có tính tham khảo cho quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - KhămMuộn trong tơng lai.

+ Luận văn góp phần nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử địa phơng Quảng Bình

- Khăm Muộn

7 Bố cục luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn đợc

triển khai trong 3 chơng:

Chơng 1: Những nhân tố tác động đến mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn giai đoạn 1976 - 2006

Chơng 2: Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Bình Trị Thiên - Khăm Muộn giai đoạn 1976 - 1989

Chơng 3: Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn giai

đoạn 1989 - 2006

Chơng 1 Những nhân tố tác động đến mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn

giai đoạn 1976 - 2006

Trang 9

1.1 Sự gần gũi về địa lý, văn hóa giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn

1.1.1 Sự gần gũi về địa lý

Quảng Bình - Khăm Muộn liền kề về địa lý tự nhiên, cùng nằm trên bán

đảo Đông Dơng thuộc hai nớc Việt - Lào Quảng Bình - Khăm Muộn là lánggiềng gần gũi có nhiều điểm tơng đồng và địa lý, lịch sử và văn hóa truyềnthống, Quảng Bình - Khăm Muộn chiếm giữ vị trí chiến lợc "kề vai sát cánh"

có cùng chung đờng biên giới 170km2, giao thông đi lại thuận lợi, đây là điềukiện để hai tỉnh mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều phơng diện

Quảng Bình là một tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ Việt Nam có cả vùng biêngiới biển - đảo và biên giới quốc gia đất liền Từ thời dựng nớc, Quảng Bình

đã là một miền đất nằm trong lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam Sách "Đại namnhất thống chí" đã viết: nơi đây "xa là đất Việt Thờng Thi, đời Trần thuộc Tân

ấp, đời Tống là đất Địa Lý, Bố Chính và Ma Linh - Lý Nhân Tông năm TháiNinh thứ 4, đổi Địa Lý làm châu Lâm Bình, Bố Chính hải khấu" của Lê ThánhTông và Ma Linh làm châu Minh Linh "Sau nhiều lần thay đổi, sáp nhập cáckhu vực hành chính, đến triều Gia Du hoàng đế năm Giáp Thìn thứ 47, ở miền

đất này đã xuất hiện các khu vực hành chính với các địa danh là "phủ QuảngBình", "dinh Quảng Bình" [tr 5 - 6]

Quảng Bình là tỉnh nằm trên dải đất hẹp chắn ngang giữa chiều dài đất

n-ớc, chiếm giữ một vị trí quan trọng về mặt chính trị và lịch sử Nơi đây, dớithời Pháp thuộc, Quảng Bình đã bị chia cắt lấy vĩ tuyến 18 để làm ranh giớigiữa Bắc và Nam

Địa thế Quảng Bình thoai thoải theo chiều dốc từ Tây sang Đông, phíaBắc giáp Hà Tĩnh, phía Nam giáp Quảng Trị, phía Tây giáp tỉnh Khăm Muộn

và Savanakhét của CHDCND Lào, phía Đông giáp biển đông Diện tích đất tựnhiên, rộng khoảng 8.037,6 km2 chiếm 1,8% diện tích cả nớc, dân số toàn tỉnh

có 826.000 ngời (theo số liệu năm 2004) Quảng Bình là nơi có quốc lộ 1A,quốc lộ 15 và đờng sắt thống nhất chạy suốt chiều dài của tỉnh từ Bắc vàoNam Quốc lộ 29 nối với Lào theo hớng Đông - Tây Quảng Bình có khí hậuvừa mang tính lạnh của miền Bắc, vừa mang tính nóng của phơng Nam, nhiệt

độ trung bình hàng năm từ 210 - 360C Nơi đây có đờng sông, đờng bộ, đờnghàng không, đờng sắt và đờng thuỷ đều thuận lợi Có hai tuyến sông chính làsông Gianh và sông Nhật Lệ, có hang động Phong Nha, hang động kỳ vĩ bậcnhất thế giới

Trang 10

Toàn tỉnh hiện nay có 1 Thành phố và 7 huyện với ba dân tộc chính cùngnhau sinh sống nh: Dân tộc Kinh, Bru – Vân Kiều, Chứt.

Quảng Bình còn có trờng Đại học đa ngành là nơi đào tạo nguồn cán bộcho tỉnh và cho một số tỉnh khác Đặc biệt, gần đây trờng còn đào tạo cán bộcho nớc bạn Lào, (trong đó có cán bộ của tỉnh Khăm Muộn) Quảng Bình cónguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, có nguồn nhân lực dồi dào, có trình

độ khoa học kỹ thuật tơng đối cao Trong các cuộc kháng chiến chống ngoạixâm, ngời dân Quảng Bình đã chứng tỏ tinh thần yêu nớc cao độ, đoàn kết hữunghị vững bền và trong sáng với nhân dân Khăm Muộn, cùng nhau đấu tranhchống kẻ thù chung Các thế lực nối tiếp của nhân dân hai tỉnh đang cùngnhau chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa xãhội, an ninh - quốc phòng

Khăm muộn là tỉnh miền núi của Lào, có tổng diện tích tự nhiên là16.315km2, có dân số 55.985 ngời (theo số liệu năm 2004) mật độ dân số 22ngời/km2 Trên địa bàn có quốc lộ 13, 12 và 8B, có hai cửa khẩu là Thà Khẹc -Nakhon Phannom giáp tỉnh Thái Lan và Na Phào - Cha lo/ tỉnh Quảng Bình -Việt Nam Toàn tỉnh có 09 huyện gồm 1 thị xã Thà Khẹc (141 bản) và cácNacai (67 bản), nhóm Mạ Lạt (71 bản), Hỉn Bun (66 bản), BuaLapha (82 bản),

Ma HaXay (89 bản), Xay Bua Thoong (66 bản), Xe Băng Phay (50 bản),Noong Bốc (72 bản) [tr 42 - 32] Khăm Muộn cũng nh các tỉnh miền núi kháccủa Lào, đồi núi và trung du chiếm 2/3 diện tích đất đai; Khăm Muộn có địahình dốc, với các núi đá vôi lớn 22,490 diện tích có rất nhiều thiếc (Thà Khẹc)

là tỉnh nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới nên nhiệt độ trung bình cả năm ở

đây 20 - 340C, với hai mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài 6 - 7 tháng, lạnh và hanh,

độ ẩm thấp, đất đai khô cằn, trồng trọt thì phải chậm lại Bên cạnh đó, mùa makéo dài 4 - 5 tháng, mùa này là điều kiện có các loại cây phát triển, đặc biệt làtrong sản xuất và gieo trồng Mùa ma cũng làm cho các con sông của KhămMuộn đầy nớc và bù đắp phù sa cho ruộng đồng Với khí hậu này phù hợp choviệc phát triển kinh tế nông - lâm - nghiệp Những vùng đồng bằng rộng lớn

và các thung lũng dọc sờn núi phù sa màu mỡ là thế mạnh để phát triển câylúa và một số hoa màu khác để phục vụ đời sống hàng ngày của nhân dân

Đặc biệt ở đây có rất nhiều loại gỗ quý hiếm nh lim, gỗ lát hoa, trầm hơng…dới tán rừng khá đa dạng và có giá trị kinh tế cao nh song mây và các loại quýhiếm khác Rừng không chỉ là tài nguyên quý báu trong việc phát triển kinh tế

Trang 11

quốc dân mà còn là nơi nơng tựa cuộc sống của nhân dân các bộ tộc Lào.Xung quanh rừng là những cánh đồng cỏ để thuận lợi cho việc chăn nuôi giasúc, gia cầm Khăm Muộn có hai con sông lớn là Xêbăng phai và Nậm thởn vàmột số con sông nhỏ do sông con Xê - Băng - Phai tạo ra thuận lợi cho việc pháttriển nông nghiệp, bên cạnh đó là nơi có thể phát triển về thuỷ văn

Tuy có sự thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, nhng bên cạnh đó KhămMuộn cũng gặp rất nhiều khó khăn Đó là một tỉnh có trình độ dân trí cònthấp, ngời dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông và khai thác lâm thổ sản

Là một tỉnh nghèo nên cơ sở hạ tầng còn rất kém, giao thông đi lại khó khăn,cho đến nay, ở đây vẫn cha có đờng sắt, hệ thống đờng bộ sau nhiều năm khaithác đã xuống cấp Đây cũng là một tỉnh không có biển nên việc buôn bántrao đổi hàng hoá, giao lu ra bên ngoài đang là một cản trở rất lớn đối với sựphát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Khăm Muộn

Với 170 km2 đờng biên giới chung, hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn

có nhiều tuyến giao thông quan trọng để mở ra những cơ hội triển vọng hợptác kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng Hiện nay, dọc biên giớihai tỉnh có nhiều tuyến giao thông qua lại Trong đó, có tuyến đờng 29 nay làtuyến đờng 12A đi qua cửa khẩu Cha Lo (Quảng Bình) và cửa khẩu Na Phàu(Khăm Muộn) là quan trọng nhất để phát triển và giao lu của nớc bạn sangQuảng Bình

Đăc biệt, Quảng Bình đã đợc thiên nhiên u đãi với 126 km2 bờ biển vàmột thềm lục địa rộng 18.000km2 với 5 đảo lớn nhỏ nh Hòn La, Hòn Gió, HònNần, Hòn Co, Hòn Chùa Trong đó Đảo Hòn La đã xây dựng thành cảng quantrọng Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc, đảo Hòn La là nơi tiếpnhận tàu bè vận chuyển vũ khí quân trang, lơng thực ở miền Bắc chi viện vàchuyển tiếp vào miền Nam qua đờng mòn Hồ Chí Minh, đồng thời cũngchuyển sang Lào Ngoài ra, các cửa sông lớn nh sông Gianh, sông Nhật Lệ làthơng cảng thời bình, quân cảng thời chiến Đặc biệt Quảng Bình còn có ĐộngPhong Nha - Kẻ Bàng nơi phát triển du lịch cho cả nớc nói chung và du lịchQuảng Bình nói riêng Cùng với trục quốc lộ 12A nối liền các tỉnh nớc Lào,vừa tạo điều kiện cho kinh tế Quảng Bình phát triển, vừa tìm hớng ra biển chobạn Thông qua tuyến đờng này ngoài việc phục vụ trao đổi buôn bán giữa haibên, hàng hoá qúa cảnh của Khăm Muộn cũng có thể ra vào các con sôngchính này một cách dễ dàng, giảm đi đợc các chi phí vận chuyển, tăng hiệu

Trang 12

quả kinh tế cho hai bên Cùng với các hoạt động trên, nhiều đầu mối giaothông và buôn bán cũng đợc hình thành dọc tuyến biên giới Trong đó tại haicửa khẩu Cha Lo - Quảng Bình và Na Phàu - Khăm Muộn là quan trọng nhất.

Số lợng hàng hoá thông qua các cửa khẩu này, hàng năm không ngừng đợctăng lên Đây là những nhân tố quan trọng để Quảng Bình - Khăm Muộn mởrộng quan hệ hợp tác toàn diện Vì vậy nhân dân hai bên biên giới có mốiquan hệ thân tộc, dân tộc, sống đan xen nhau, thờng xuyên quan hệ với nhaubằng tình cảm gia đình, anh em theo phong tục tập quán của hai tỉnh QuảngBình-Khăm Muộn diễn ra thờng xuyên việc trao đổi, múa ban và chữa bệnh,thăm thân giúp đỡ nhau trong kinh tế và cuộc sống hàng ngày

Nh vậy, Quảng Bình - Khăm Muộn là hai tỉnh gần gũi nhau về địa lý đây

là yếu tố cần thiết để hai tỉnh mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, song nókhông có ý nghĩa quyết định đến kết quả hợp tác Nhng trong giai đoạn hiệnnay, hai nớc Việt Nam - Lào đã có cơ chế hợp tác, cụ thể cho các địa phơngkết nghĩa nhằm thắt chặt quan hệ với nhau về mọi mặt Trong đó có QuảngBình - Khăm Muộn đã và đang, sẽ có những cơ chế hợp tác cụ thể, thiết thực

và những cơ chế đó đã phát huy đợc nội lực của mỗi tỉnh, phát huy thế mạnh,khắc phục điểm yếu để mối quan hệ giữa hai tỉnh ngày càng đợc tăng cờnggóp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp tác Việt - Lào đạt đợc hiệu quả tốt hơn

1.1.2 Sự gần gũi về văn hóa

Do sự gần gũi về địa lý nên trong quá trình hình thành và phát triểnQuảng Bình - Khăm Muộn có sự tơng đồng về mặt văn hóa - lịch sử, đặc biệt

là c dân hai bên biên giới hai tỉnh

Xét về địa bàn c trú của hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn thì có nhiềutộc ngời khác nhau, khác với các tỉnh chung biên giới với Lào nh Hà Tĩnh,Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình… Quảng Bình là một tỉnh có 98% dân tộckinh, c trú phần lớn ở đồng bằng, chỉ có khoảng 2% dân tộc Bru - Vân kiều vàChứt Các tộc ngời này có quan hệ với nhau về ngôn ngữ và văn hóa, sinhsống chủ yếu ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá, Minh Hoá và phía Tây là tỉnhKhăm Muộn ở đây địa bàn quần tụ của nhiều tộc ngời cùng chung sống trongcác bản mờng, trong đó có ba bộ tộc chính, Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Xủngcùng chung lng đấu cật xây dựng bản mờng ngày càng có nhiều chuyển biếntốt về mọi mặt

Từ đó, xét về nguồn gốc dân c của hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn đã

có những nét chung tơng đồng, cùng nhau chung sống hoà thuận, từ lâu nhân

Trang 13

dân hai tỉnh đã coi nhau nh anh em một nhà Mặc dù Quảng Bình - KhămMuộn có sự đa dạng phong phú về những tộc ngời nhng giữa nhóm tộc ngờikhông có sự bài trừ, kỳ thị lẫn nhau mà ngợc lại, họ đoàn kết thơng yêu vàngọt bùi, truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm trong lao động sản xuấtcũng nh hỗ trợ nhau trong kháng chiến chống ngoại xâm Hầu hết nhân dâncác xã trong khu vực biên giới và các xã tiếp giáp có mối quan hệ thân tộc,dòng họ rất gần gũi và gắn bó với nhau, có nhiều gia đình có mối quan hệ vợchồng ở khu vực biên giới nớc bạn và ngợc lại có một số gia đình gả vợ, lấychồng ở khu vực biên giới nớc ta.

Mặc dù đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân hai bên biêngiới còn gặp nhiều khó khăn cản trở, mức độ hiểu biết về các chủ trơng chínhsách của Đảng, pháp luật của Nhà nớc còn có hạn chế, cơ sở chính trị hoạt

động không đều, nhiều phong tục tập quán lạc hậu cha đợc xoá bỏ, các tệ nạnxã hội khác vẫn đang hoành hành, trình độ dân trí thấp, đời sống kinh tế chủyếu là dựa vào nghề phát nơng, làm rẫy và khai thác lâm sản để phát triển

Từ đó ta thấy rằng sự tơng đồng về điều kiện tự nhiên dẫn đến nhiều

điểm giống nhau trong nét sinh hoạt vật chất C dân vùng biên giới hai nớc từ

xa đến nay đều là c dân nông nghiệp với một ngành nông - lâm nghiệp phongphú và đa dạng Ngoài việc trồng lúa, họ còn biết làm rẫy, chăn nuôi gia súc,gia cầm và trồng dâu nuôi tằm, dệt vải Những tơng đồng về phơng thức canhtác đó đã đợc nhân dân Quảng Bình - Khăm Muộn ngày một xích lại gần nhauhơn trong nếp nghĩ, nếp t duy và trong các phong tục tập quán cũng nh phongcách ăn, ở, sinh hoạt hàng ngày "Làm nơng chung rẫy, lấy nớc chung khe, ăn

ở chung bẹ, đi chung con đờng" Họ thờng ăn gạo nếp, gạo tẻ, các dân tộcmiền núi thờng ở nhà sàn đàn ông đóng khố cởi trần, đàn bà mặc váy vớinhững màu sắc, hoa văn đợc trang trí hài hoà, vừa thể hiện khiếu thẩm mỹ,vừa mang nét đặc trng của văn hóa tộc ngời và tính đoàn kết gắn bó trongcộng đồng các dân tộc hai nớc Việt - Lào

Bên cạnh đời sống vật chất, quá trình giao lu tiếp xúc diễn ra thờngxuyên giữa nhân dân hai bên biên giới đã tạo nên một bức tranh về đời sốngvăn hóa tinh thần phong phú và đa dạng, nhiều phong tục tập quán trong cớixin ma chay, tục thờ cúng thần linh, ông bà, tổ tiên… là những nét đẹp vănhóa truyền thống lâu đời của hai dân tộc Việt - Lào đợc nhân dân hai tỉnhQuảng Bình - Khăm Muộn lu truyền từ đời này sang đời khác Họ sống chan

Trang 14

hoà và vui vẻ, luôn lạc quan trớc những thách thức của đời sống xã hội vànhững khó khăn khắc nghiệt của tự nhiên

Mặc dù hiện nay, Quảng Bình - Khăm Muộn đã thực hiện hiệp định quychế biên giới quốc gia, nhng đôi khi đờng biên giới chỉ có ý nghĩa tơng đối

Do đặc thù của địa bàn c trú, do mối quan hệ mật thiết giữa các nhóm dân c,sống dọc biên giới cũng nh các điều kiện cụ thể của lịch sử để lại và xuất phát

từ nhu cầu giao tiếp giữa những cá nhân với cộng đồng vốn đã gần gũi về địa

lý, phong tục tập quán, nên trên thực tế đờng biên giới quốc gia không hề chiacắt tình cảm giữa cộng đồng c dân vốn có từ ngàn xa

Nhìn lại một cách tổng thể nền văn hóa của Quảng Bình - Khăm Muộnkhông những đã kết tinh đợc những tinh hoa văn hóa của dân tộc hai nớc Việt

- Lào mà còn tiếp thu những cái hay cái đẹp của nền văn hóa phơng Đông vàtinh hoa văn hóa nhân loại Trong điều kiện hiện nay, sự gần gũi về địa lý vănhóa là điều kiện quan trọng và cần thiết để hai bên tăng thêm hiểu biết lẫnnhau, thúc đẩy quá trình hợp tác toàn diện Tuy nhiên, bên cạnh những thuậtlợi còn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống thờng nhật của c dân haibên biên giới nạn di c tự do, vợt biên trái phép qua tỉnh Quảng Bình sangKhăm Muộn ngày một nhiều, làm cho việc quản lý xã hội, an ninh, chính trịgặp nhiều khó khăn Điều đó đặt ra yêu cầu hợp tác chặt chẽ, kịp thời và cóhiệu quả không chỉ giữa Quảng Bình và Khăm Muộn Để giải quyết tốt cáckhó khăn và gìn giữ phát huy đợc mối quan hệ đặc biệt này, các nhà lãnh đạohai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn phải có biện pháp, những chính sách đúng

đắn, phù hợp với vấn đề hợp tác về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, an ninh,quốc phòng của mỗi nớc, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, cùng hợp tác và cùngphát triển của hai tỉnh cũng nh hai nớc Việt - Lào

Văn hóa là nhịp cầu nối để các quốc gia dân tộc xích lại gần nhau, chínhsức mạnh của yếu tố văn hóa truyền thống đã góp phần xây đắp nên tình cảm

đặc biệt giữa nhân dân hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn mà trong suốtchiều dài lịch sử không một thế lực hay sức mạnh nào có thể chia cắt đợc

1.2 Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn trong bối cảnh quan hệ Việt - Lào

1.2.1 Việt Nam và Lào là hai nớc nằm trên bán đảo Đông Dơng, là hai

quốc gia láng giềng và có mối quan hệ đặc biệt với nhau Mối quan hệ ấy đợcchủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt trong bốn câu thơ vô cùng lu luyến:

"Thơng nhau mấy núi cũng trèo,

Trang 15

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Việt - Lào hai nớc chúng ta

Tình sâu hơn nớc Hồng Hà, Cửu Long" [139, tr 44].

Việt Nam - Lào cùng nhau dựa lng vào dãy núi Trờng Sơn và cùng uốngchung một dòng nớc Mê Kông, từ lâu hai dân tộc đã từng chung sống, vuibuồn sớng khổ có nhau Vì vậy, lịch sử của hai dân tộc là lịch sử của mối quan

hệ đoàn kết hữu nghị lâu đời, trong suốt chiều dài lịch sử họ luôn phải đơng

đầu với các kẻ địch lớn mạnh nh giặc Nguyên - Mông, Xiêm, thực dân Pháp,phát xít Nhật, Đế quốc Mỹ mà mối quan hệ ấy không bị lung lay, ngày mộtphát triển hơn dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dơng, tiền thân của

Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng nhân dân cách mạng Lào Ngày nay truyềnthống tốt đẹp đó tiếp tục đợc phát huy, hai dân tộc cùng hợp tác giúp đỡ nhau,sát cánh bên nhau xây dựng đất nớc ngày một phồn vinh

Quan hệ Việt Nam - Lào đợc hình thành từ rất sớm, khi mới bắt đầu xuấthiện c dân Việt cổ và Lào cổ đã có sự giao lu văn hóa với nhau Qua các ditích khảo cổ tiền sử và sơ sử ở Lào, E.Saurin va J.Fromaget đã chỉ ra di tíchvăn hóa Hoà Bình ở Lào, nhất là các di tích hang động ở Bắc Lào có nhữngnét tơng đồng với di tích văn hóa Hoà Bình ở Việt Nam Về mặt địa lý, cácsơn khối đá vôi Đông Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam là một dải với những dãynúi chạy nối liền nhau rất giàu hang động Nơi đây là địa bàn c trú của nhữngnhóm c dân Hoà Bình có quan hệ mật thiết với nhau về văn hóa [tr 49 - 12]

1.2.2 Lịch sử còn ghi lại: Cách đây hàng ngàn năm, các bộ tộc Lào đã có

quan hệ hữu nghị với các bộ tộc Việt Nam ở vùng biên giới Năm 713,Vạn Tờng đã giúp Mai Thúc Loan trong cuộc nổi dậy chống ách đô hộ nhà Đ-ờng Năm 1432, nghịch thần Kha Lai nổi loạn, Ai Lao cho sứ thần sang cầucứu, vua Lê Thái Tổ đã đa quân sang giúp Thế Kỷ XVI, một số cựu thần nhà

Lê sang lánh nạn và xây dựng triều Lê Trung Hng ở Lào

Bớc vào thế kỷ, ngay từ những ngày đầu chống Pháp, các cuộc khởinghĩa của các bộ tộc sống gần nhau trên biên giới hai nớc đều đã biết "Liênkết hợp tác đấu tranh " để chống xâm lợc, nh phong trào khởi nghĩa của ôngKẹo và Commađăm (1901 - 1937), của Châuphaphát Chay (1918-1922) ở Lào

đã có sự phối hợp chiến đấu với các nổi dậy của đồng bào các tỉnh TâyNguyên và Tây Bắc Việt Nam Tiếp sau phong trào Cần Vơng và nhiều phong

Trang 16

trào khởi nghĩa khác, các chiến sỹ yêu nớc Việt Nam đã liên minh và hợp tácchiến đấu cùng với nhân dân các bộ tộc Lào.

Tuy nhiên, trớc khi Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời, quan hệ hợp tácchiến đấu giữa nhân dân hai nớc Việt Nam - Lào còn mang tính tự phát Chỉ từkhi Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời (1930), "Mối quan hệ đoàn kết và hợptác chiến đấu chống kẻ thù chung ", giành độc lập tự do giữa nhân dân ba nớc

Đông Dơng, đặc biệt là giữa Việt Nam và Lào mới đợc thiết lập một cách thực

sự Đó là mối quan hệ hợp tác chiến đấu hoàn toàn mới, có ý nghĩa rất quantrọng và cha có trong lịch sử giữa hai dan tộc Việt Nam - Lào

Do vậy, hai nớc Việt Nam - Lào cũng nh ba nớc Đông Dơng luôn đoànkết và hợp tác toàn diện với nhau để chóng kẻ thù chung và xây dng đất nớc

Đó là một nhân tố cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành côngcủa cách mạng hai nớc Việt Nam - Lào "Vận mệnh ba dân tộc Việt Nam -Lào - Campuchia không những sống chết có nhau trong chiến đấu giành vàbảo vệ độc lập tự do mà còn khăng khít lâu dài trong sự nghiệp xây dựng đấtnớc tiến lên chủ nghĩa xã hội" [tr 17 - 62]

Trong chiến tranh, mỗi thắng lợi trên chiến trờng Lào đều có tác động,

ảnh hởng trực tiếp đến cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam Ngợc lại,những thắng lợi to lớn trên chiến trờng chính Việt Nam đã góp phần thúc đẩy

và tạo điều kiện thuận lợi cho quân, dân Lào giành đợc thắng lợi quyết định.Hai nớc đã vận dụng khôn khéo chính sách hoà hợp dân tộc, thêm bạn bớt thù.Dới sự lãnh đạo của Đảng ở mối nớc, nhân dân hai nớc Việt Nam - Lào đã

đoàn kết chiến đấu, cùng nhau đứng lên đập tan những âm mu, thủ đoạnchống phá tàn bạo của các thế lực thù địch, đa đến thắng lợi hoàn toàn vàonăm 1975 Thực tiễn lịch sử đấu tranh đó đã chứng minh "Đông Dơng là mộtchiến trờng" và "Liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia là mộtnhân tố thờng xuyên, một nhân tố quyết định thắng lợi" của cuộc chiến tranhgiải phong dân tộc ba nớc Đông Dơng, đặc biệt là giữa hai nớc Việt Nam -Lào [tr 17 - 62]

Sau khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh giành độc lập (1975), pháthuy truyền thống đoàn kết hữu nghị đã đợc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịchCayxỏn Phômvi hẳn, cùng nhiều thế hệ cách mạng hai dân tộc dày công vun

đắp, Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nớc tiếp tục củng cố mối quan hệ hợptác chiến lợc lâu dài, nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc thành quả cách

Trang 17

mạng, đập tan âm mu chia rẽ tình đoàn kết gắn bó hai dân tộc Việt Nam - Làoanh em.

1.2.3 Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV

năm 1976 khẳng định; "Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữanhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, tăng cờng tình

đoàn kết chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọimặt giữa nớc ta với hai nớc anh em trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độclập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, làmcho ba nớc gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ mãimãi gắn bó với nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc, vì độc lập vàphồn vinh của mỗi nớc" [tr 81 - 36]

Ngày 18/7/1977, nhân chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Việt Nam

do Tổng bí th Lê Duẩn và Thủ tớng Phạm Văn Đồng dẫn đầu, hai bên đã kýcác hiệp định: "Hiệp ớc hữu nghị và hợp tác Việt - Lào", "Hiệp định hoạch

định biên giới quốc gia", "Hiệp định hợp tác kinh tế - văn hóa - khoa học kỹthuật " và "Hiệp định miễn thị thực" Hiệp ớc hữu nghị và hợp tác Việt - Lào

đã đánh dấu một mốc quan trọng trong quan hệ giữa hai nớc sau chiến tranh,

là cơ sở pháp lý đầu tiên bảo đảm cho nhân dân hai dân tộc có cơ hội phát huytình hữu nghị truyền thống Sự đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng hai chính phủ

và nhân dân hai nớc trong giai đoạn mới và một biểu tợng đẹp đẽ, phù hợp vớinguyện vọng của hai nớc Việt - Lào

Hiệp ớc khẳng định: Hai bên cần phải bảo vệ và phát huy tốt mối quan hệ

đặc biệt Việt Nam - Lào, tăng cờng tình đoàn kết tin tởng lẫn nhau, hợp táclâu dài giúp đỡ nhau mọi mặt trên tinh thần quốc tế trong sáng, cùng nhau xâydựng một thế giới hoà bình và hữu nghị Đặc biệt, trong hiệp ớc hai bên nhấttrí: Ngoài việc tăng cờng trao đổi quan hệ, hợp tác hàng năm giữa lãnh đạocấp cao hai nớc, hai tỉnh, hai bên sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất để đẩy mạnhmối quan hệ giữa các địa phơng có chung đờng biên giới Hiệp ớc này đãchuyển quan hệ Việt Nam - Lào sang thời kỳ mới, từ quan hệ chủ yếu vềchính trị, quân sự và ngoại giao sang quan hệ toàn diện cả về chính trị, anninh, quốc phòng, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Trong đó,lấy hợp tác kinh tế làm trung tâm, làm cơ sở cho sự phát triển vững chắc củamối quan hệ hai nớc Hiệp ớc này còn là nhân tố quan trọng để các địa phơnghai nớc nói chung, Quảng Bình - Khăm Muộn nói riêng có cơ sở pháp lý để

Trang 18

tăng cờng mối quan hệ hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng.

-Báo cáo chính trị tại Đại hội III Đảng nhân dân cách mạng Lào, năm

1982, xác định "trớc sau nh một chúng ta làm hết sức mình để củng cố và tăngcờng tình đoàn kết chiến đấu, mối quan hệ đặc biệt, sự hợp tác toàn diện Lào -Việt Nam, Lào - Việt Nam, Campuchia" Hội nghị cấp cao ba nớc Đông Dơngnăm 1982, một lần nữa nhấn mạnh Mọi vấn đề thuộc quan hệ giữa ba nớc sẽ

đợc giải quyết bằng thơng lợng, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toànvẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, với tinh thầnhiểu biết, tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi nớc và lợi ích của ba dân tộc

Ba nớc tăng cờng sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau giữa hai bên hoặc babên về mọi mặt trên tinh thần hữu nghị anh em, hoàn toàn tự nguyện bình

đẳng, cùng có lợi [tr 31 - 42]

Tuy nhiên, quan hệ Việt Nam - Lào giai đoạn 1976 - 1986 còn mangnặng tính bao cấp, tơng trợ giúp đỡ nhau mà cha đẩy mạnh hợp tác sản xuấtkinh doanh bình đẳng, cha có chơng trình hợp tác dài hạn giữa hai Chính phủ

Đó cũng là tình trạng chung trong quan hệ giữa các địa phơng hai nớc Đếngiữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế và khu vực đã có nhiều biến

đổi, xu thế "toàn cầu hoá" và "khu vực hoá" tác động đến mọi quốc gia Lànhững nớc ở trong khu vực phát triển kinh tế năng động, Việt Nam và Làocũng không nằm ngoài xu hớng đó "Toàn cầu hoá", "khu vực hoá" một mặt

có tác động thúc đẩy phát triển lực lợng sản xuất, thống nhất thị trờng thế giới,nhng mặt khác nó cũng làm gia tăng khoảng cách giữa các nớc phát triển vớinhững nớc kém phát triển Điều đó dẫn đến hiện tợng "cá biệt hoá" trong quan

hệ giữa các nớc cùng chung hoàn cảnh trình độ phát triển Trong điều kiện hainớc Việt Nam - Lào có điểm xuất phát thấp, việc hai nớc tự bảo vệ mình, thamgia hội nhập bằng những chơng trình hợp tác, liên kết chặt chẽ với nhau là mộtyêu cầu khách quan Để hội nhập Việt - Lào phải tiến hành công cuộc đổi mớinhằm hoàn thiện chế độ xã hội của mình và từng bớc quá độ lên chủ nghĩa xãhội

Năm 1986, Đảng, Nhà nớc Việt Nam cùng với Đảng Nhà nớc Lào đãthực hiện công cuộc đổi mới đất nớc Cùng với công cuộc đổi mới đó quan hệhợp tác Việt - Lào cũng có bớc phát triển mới về mục tiêu, phơng thức hợp táccả chiều rộng lẫn chiều sâu Trong đó, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nớc

Trang 19

giảm dần tính bao cấp, tập trung chuyển sang sản xuất kinh doanh cùng có lợi

và hợp tác các chiến lợc trong từng giai đoan, thời kỳ, bằng các hiệp định

ch-ơng trình, dự án Tuy nhiên, hai bên vẫn dành cho nhau những u tiên, u đãi đểtạo điều kiện phát triển ở mỗi nớc

Điểm nổi bật trong quan hệ Việt - Lào ở giai đoạn này là hai bên duy trì

và đẩy mạnh các cuộc gặp cấp cao hàng năm giữa các lãnh đạo Đảng, Nhà

n-ớc hai nn-ớc, nhằm tăng cờng mối quan hệ chiến lợc lâu dài trong quá trình pháttriển kinh tế, xã hội để khai thác và phát huy tối đa tiềm năng của nhau, phục

vụ có hiệu quả cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của hai dân tộc.Năm 1992 là năm có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động đối ngoại giữahai nớc Tổng bí th Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mời đã có chuyến thămchính thức Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Hai bên ra tuyên bố chung nhấnmạnh Hai nớc cần thiết phải củng cố chất lợng và hiệu quả của việc hợp tácdựa trên nguyên tắc giữ vững nền độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.Trong năm 1995 và 1997, Việt Nam và Lào chính thức đợc kết nạp vàohiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) Điều này đã tạo một bớc ngoặttrong quan hệ giữa hai nớc với các nớc trong khối ASEAN, mở ra cơ hội lớn

để Việt Nam - Lào tiếp tục đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế, văn hóa,khoa học - kỹ thuật ngắn hạn, dài hạn đã đợc hai bên ký kết Theo đó, việckhuyến khích đầu t, hợp tác ở Việt Nam cũng nh ở Lào phải dựa trên cơ sởbình đẳng, cùng tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau, tôn trọng bản sắc dântộc truyền thống của nhau, không sử dụng áp lực chính trị, kinh tế và quân sựtrong quan hệ quốc tế Hai nớc tạo môi trờng thuận lợi để phát huy tối đa việc

sử dụng lao động kỹ thuật của Việt Nam, tài nguyên của Lào và vốn của nớcthứ ba

Từ đó, trong bối cảnh chung của cả nớc nó cũng tác động đến hai tỉnhQuảng Bình - Khăm Muộn

Quảng Bình - Khăm Muộn có nhiều tiềm năng về nguồn lực cho hợp tác,phát triển Quảng Bình có vị trí thuận lợi để Khăm Muộn giao lu quốc tế bằng

đờng biển, góp phần hạn chế sự biệt lập với đại dơng của bạn Nhu cầu đó củaKhăm Muộn đồng thời cũng tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, phát huylợi thế của Quảng Bình, tạo khả năng hình thành hành lang phát triển dọc cáctrục giao thông ngang nối giữa hai nớc, thu hút vốn đầu t và tài trợ quốc tế đợcthuận lợi hơn, để Quảng Bình - Khăm Muộn nói riêng và hai nớc Việt - Lào

Trang 20

nói chung có điều kiện liên kết kinh tế sâu hơn trong tiểu vùng Mê Kông mởrộng và ASEAN.

Vì thế trong những năm qua, nhiều đoàn đại biểu Đảng bộ, chính quyềnQuảng Bình đã cùng với tỉnh Khăm Muộn thờng xuyên qua lại thăm hữu nghị,trao đổi kinh nghiệm với nhau và ký kết văn bản hợp tác Nội dung các chơngtrình hợp tác đợc khẳng định: mối quan hệ Quảng Bình - Khăm Muộn là mốiquan hệ hợp tác tích cực, toàn diện, lâu dài có hiệu quả trên tất cả các lĩnhvực Trong đó phải lấy hợp tác kinh tế làm trọng tâm, hợp tác chính trị, vănhóa - xã hội, an ninh - quốc phòng làm cơ sở đảm bảo vững chắc cho mốiquan hệ hợp tác toàn diện của hai tỉnh, làm tăng thêm tình cảm đoàn kết hữunghị vốn có từ bao đời nay của nhân dân hai nớc Việt - Lào

Bớc sang thế kỷ XXI, môi trờng chính trị, kinh tế quan hệ quốc tế trênthế giới và khu vực đang có nhiều thay đổi Toàn cầu hoá kinh tế trở thành xuhớng khách quan, cùng với xu hớng hình thành và phát triển nền kinh tế trithức Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển mạnh mẽ tác động đếnmọi mặt đời sống xã hội, tạo nên môi trờng kinh tế thế giới cạnh tranh mangtính toàn cầu sâu sắc hơn Điều đó buộc các quốc gia phải tích cực hội nhập,gia tăng sức mạnh kinh tế để đơng đầu với những cuộc cạnh tranh thơng mại

và thị trờng ngày càng gay gắt hơn Việt Nam và Lào đều là thành viên chínhthức của ASEAN, vì thế việc tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA) và áp lực thực hiện lộ trình AFTA khiến hai nớc cần tăng cờng hơnnữa việc hợp tác kinh tế để từng bớc thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa cácnớc trong khu vực và thế giới Thực tế cho thấy, đây là một "cuộc chiến"không kém phần quyết liệt, bởi muốn có thắng lợi không những đòi hỏi phải

có tinh thần đoàn kết, dũng cảm mà còn phải có khả năng sáng tạo, trí thôngminh, nhạy bén, biết chấp nhận cạnh tranh và vơn tới đối với cả Việt Nam vàLào với ý nghĩa này, vị trí và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế giữa hai nớcngày càng đợc hai bên đặc biệt coi trọng

Với những thay đổi trong môi trờng kinh tế có chiều hớng thuận lợi choquan hệ hợp tác hai nớc, những biến động về chính trị trên trờng quốc tế cũng

có tác động mạnh mẽ đến quan hệ Việt Nam - Lào trong giai đoạn hiện nay

Đặc biệt sự điều chỉnh chiến lợc của Mỹ sau sự kiện 11/9 đã tác động trực tiếp

đến tình hình an ninh quốc gia của tất cả các nớc, các khu vực, nhất là đối vớikhu vực Đông Nam á, trong đó có Việt Nam và Lào Các thế lực đế quốc và

Trang 21

phản động quốc tế đang âm mu dùng "Diễn biến hoà bình", "Bạo loạn lật đổ",với những thủ đoạn "Chống khủng bố" và lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôngiáo, sắc tộc, dân chủ, nhân quyền để tạo cớ can thiệp ngày càng sâu vào nội

bộ Việt Nam và Lào, nhằm hình thành "hai vùng", "hai lực lợng" và thực hiệnchế độ "đa Đảng" ở Lào, đồng thời thúc đẩy nhanh sự chuyển hoá chính trị ởViệt Nam Ngoài ra các thế lực thù địch còn tăng cờng hỗ trợ nuôi dỡng, tiếptay cho các lực lợng phản động trong nớc và bọn lu vong ở nớc ngoài đểchống phá cách mạng Việt Nam - Lào một cách quyết liệt hơn Xét về tìnhhình chính trị trong khu vực Đông Nam á mặc dù đợc đánh giá là ổn định,nhng không phải là không có những mối bất hoà Đặc biệt trong quan hệ Lào -Thái Lan, những mâu thuẫn trong mối quan hệ này đã dịu đi sau "chiến tranhlạnh", nhng hai bên vẫn cha thực sự cởi mở với nhau để cùng hợp tác, pháttriển Sự lựa chọn con đờng phát triển đất nớc của hai nớc Lào - Thái Lan cũngkhông giống

Lào - Việt Nam là hai nớc trong số ít nhất còn kiên định mục tiêu chủnghĩa xã hội cho nên mỗi nớc phải phát huy tốt tinh thần độc lập tự chủ, tựlực, tự cờng đồng thời quan hệ giữa hai Đảng là hạt nhân của mối quan hệchặt chẽ giữa hai nớc đợc duy trì thờng xuyên nhằm đảm bảo giữ vững định h-ớng và mục tiêu lý tởng cách mạng Từ đó ta thấy rằng trong bất kỳ hoàn cảnhnào, Việt Nam và Lào luôn có vị trí quan trọng đối với nhau, vì có lợi íchchung của hai nớc Từ năm 2003 đến 2007, Việt Nam đã tổ chức thành côngcác hội nghị giữa Việt Nam - Lào và ngợc lại giữa Lào cũng vậy Đặc biệtnăm 2007, Việt Nam đã mở cuộc thi "Việt - Lào trong trái tim ta", đây là điều

mà thể hiện quan hệ Việt - Lào ngày càng sâu đậm Từ đó ta thấy quan hệViệt - Lào trong thời gian qua đã phát triển hết sức tốt đẹp Ngày nay, trớccông cuộc dựng xây và đổi mới đất nớc, tình cảm đó đợc phát huy, trở thànhmối quan hệ hợp tác toàn diện trên tất cả mọi mặt của đời sống kinh tế - xãhội Sự hợp tác giữa hai bên đem lại nhiều kết quả thiết thực, phù hợp với yêucầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng hai nớc, đảm bảo bình

đẳng, cùng có lợi trong quan hệ hợp tác và giành cho nhau những u tiên, u đãi

đặc biệt trong tình cảm láng giềng, anh em Đó là cơ sở vững chắc cho mốiquan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nớc Trong tơng lai, Việt Nam và Lào sẽ hìnhthành vùng "Liên kết kinh tế Việt - Lào", "Thị trờng chung Việt - Lào" Haibên tích cực mở rộng các cuộc giao lu tiếp xúc thờng xuyên giữa các ngành,

Trang 22

các tổ chức xã hội, nhằm tăng cờng hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, đẩy mạnh hợptác toàn diện giữa các tỉnh có chung đờng biên giới hai nớc, hợp tác xây dựngvùng Trờng Sơn trở thành điểm tựa vững chắc cho cả hai trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ đất nớc Xây dựng cộng đồng ngời Việt ở Lào phát triển về mọimặt Đây là lực lợng tuy có nhiều vấn đề tế nhị, nhạy cảm, nhng là một nhân tốquan trọng góp phần gìn giữ quan hệ hai nớc Việt - Lào.

Sự đổi mới của đất nớc, sự mở cửa của Việt Nam - Lào đang đứng trớcnhiều cơ hội, nhng cũng không ít những thách thức Vì vậy, đẩy mạnh và tăngcờng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nớckhông những giữ vững đợc mục tiêu chủ nghĩa xã hội, kiên định sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản ở mỗi nớc mà còn đáp ứng đợc nguyện vọng, lợi ích cơbản và lâu dài của nhân dân hai dân tộc phù hợp với xu thế hoà bình, pháttriển của khu vực và thế giới

Từ đây, ta thấy rằng sự phát triển không ngừng trong quan hệ Việt - Lào

là nhân tố quan trọng, bảo đảm vững chắc mối quan hệ hợp tác lâu dài giữacác địa phơng của hai nớc, trong đó có quan hệ hợp tác giữa Quảng Bình vàKhăm Muộn Có thế nói rằng, quan hệ Quảng Bình - Khăm Muộn là một bộphận cấu thành nên mối quan hệ giữa hai nớc Việt Nam - Lào, là một bằngchứng, một biểu hiện sinh động của tình cảm đặc biệt hai nớc Việt - Lào Dovậy, quan hệ hợp tác Quảng Bình - Khăm Muộn phải luôn luôn đợc xây dựngtrên nền tảng vững chắc là mối quan hệ đoàn kết hữu nghị Việt - Lào Tìnhcảm gắn bó, tinh thần hợp tác toàn diện của hai dân tộc là nhân tố quyết địnhthành công trong quan hệ hợp tác của các tỉnh có chung đờng biên giới hai n-

ớc, trong đó có Quảng Bình - Khăm Muộn

Trang 23

đoàn kết ba dân tộc làm suy yếu lực lợng cách mạng để dễ bề thống trị Mốiquan hệ chiến đấu của nhân dân ba nớc Đông Dơng, liên minh chiến đấu Việt

- Lào đợc hình thành một cách tự nhiên, hình thành qua thực tế của quá trìnhquan hệ hợp tác giúp nhau trong cách mạng, phát sinh, phát triển gắn liền chặtchẽ với sự nghiệp kháng khiến cứu nớc của hai dân tộc qua từng giai đoạnkhác nhau Là láng giềng gần gũi, Quảng Bình - Khăm Muộn đã để lại nhữngtrang sử vẻ vang trong đấu tranh chống ngoại xâm, thể hiện truyền thống đoànkết, tơng thân tơng ái giữa nhân dân hai nớc

Với nhân dân hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn, ngay từ những ngày

đầu thực dân Pháp xâm lợc, truyền thống đoàn kết chống kẻ thù chung đã đợckhơi dậy và phát triển mạnh mẽ Hoà chung vào sự nghiệp giải phóng dân tộc,theo Chiếu Cần Vơng của vua Hàm Nghi (1885), nhiều cuộc khởi nghĩa vũtrang đã nổ ra trên địa bàn Quảng Bình - nh cuộc khởi nghĩa của Lê TrựcQuảng Bình Đặc biệt là cuộc khởi nghĩa suốt 10 năm (1885 - 1895) của Phan

Đình Phùng (Hà Tĩnh) lan rộng suốt địa bàn của các tỉnh Quảng Bình - HàTĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá… Năm 1893 Pháp đánh sang Lào, sự xâm lợc nàycủa đế quốc Pháp thúc đẩy mối quan hệ liên minh giữa hai quốc gia nhỏ yếuphát triển lên tầm cao mới Ngay từ ngày đầu bị cớp nớc, nhân dân QuảngBình - Khăm Muộn đã đoàn kết nổi dậy chống một kẻ thù chung là thực dânPháp vì một mục tiêu chung là độc lập dân tộc Nh vậy các vùng biên giới Lào

là đất đứng chân của phong trào đấu tranh trong những năm cuối thế kỷ XIXcủa nhân dân Quảng Bình

Kể từ khi thực dân Pháp tiến hành xâm lợc Việt Nam và Lào đến trớc khi

Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời (1930), phong trào đấu tranh chống Phápcủa nhân dân Quảng Bình - Khăm Muộn diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp Tuynhiên, cũng nh phong trào chống Pháp của nhân dân hai nớc Việt - Lào, phongtrào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Quảng Bình - Khăm Muộn đều đãthất bại mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một đờng lối chỉ đạo đúng đắn,thiếu sự phối hợp tác chiến trên quy mô rộng

Sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dơng năm 1930 là một bớc ngoặt lớn

đối với cách mạng hai nớc Việt - Lào Chỉ sau 15 năm (1930 - 1945), dới sựlãnh đạo của Đảng cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân hai nớc đãgiành đợc thắng lợi vẻ vang Sự kiện đó mở ra một trang sử mới cho quan hệhợp tác Việt - Lào

Trang 24

Ngày 12/10/1945, Vơng quốc Lào tuyên bố độc lập và thành lập Chínhphủ lâm thời Ngày 16/10 tại Viên Chăn, hai nớc Việt Nam - Lào đã ký hiệp

định tơng trợ lẫn nhau Từ đây, liên minh hai nớc, hai dân tộc đợc chính thứcxác lập về mặt Nhà nớc Đó cũng là cơ sở pháp lý mới cho sự hình thành trênthực tế mối liên hệ phối hợp chiến đấu giữa các địa phơng của hai nớc, đặcbiệt là các địa phơng chung đờng biên giới trong đó có Quảng Bình - KhămMuộn

Trong những ngày đầu cách mạng hai nớc đã có nhiều thành công, vớibản chất hiếu chiến lại đợc sự ủng hộ của thực dân Anh và một số nớc đồngminh khác, thực dân Pháp đã đa quân trở lại xâm lợc Việt Nam - Lào Đầutháng 12 năm 1945, Bộ đội ta phối hợp với lực lợng Vũ trang yêu nớc Lào tiếncông bọn địch trong thị trấn Sêpồn, bắt 53 tên Pháp, thu toàn bộ vũ khí, lừa,ngựa Sau đó tiến công địch ở Mờng Phin, Huội Cày, Cầu Thà đạt đợc một sốthắng lợi Nhng khi tiến công địch ở Pha Lan, do chủ quan nên Bộ đội bị th-

ơng vong cao [37, tr 8]

ở đờng số 12, Đại đội 6 cùng dân quân huyện Tuyên Hoá phối hợp vớimột bộ phận Bộ đội huyện Hơng Khê đánh thắng địch ở Bãi Dinh (QuảngBình), buộc địch phải rút về cố thủ ở Bualapha

Để chống kẻ thù và thực dân Pháp xâm lợc cuối tháng 10 năm 1946, đạidiện hai nớc Việt Nam - Lào ký hiệp nghị liên minh chiến đấu giữa hai dântộc Ngày 14/11/1946, ta cùng bạn tổ chức lớp huấn luyện đào tạo, cán bộquân sự gồm 26 thanh niên yêu nớc Lào và thanh niên Việt Kiều, sau đó tagiúp bạn mở tiếp hai khoá

Âm mu của thực dân Pháp trở lại xâm chiếm toàn cõi Đông Dơng ngàycàng bộc lộ trắng trợn Chúng mở rộng phạm vi lấn chiếm, nhiều Thành phố,thị xã của Lào nh Savannakhẹt… dần dần bị chiếm đóng ở Quảng Bình, tiểu

đoàn Lê Trực (274) có 6 đại đội, đại đội 6 phụ trách mặt trận Bualapha vớimục đích chung là giải phóng hai nớc, hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn Đểgiành thắng lợi có tính quyết định trên chiến trờng cuối năm 1946, sau khi cóthêm viện binh, thực dân Pháp đã mở rộng vùng chiếm đóng ở Lào và đẩymạnh việc chiếm đóng các Thành phố, vùng Đông Bắc - Bắc Bộ Việt Nam

Đầu năm 1947 quân Pháp đánh ra các vùng Bình - Trị - Thiên, xúc tiến

kế hoạch Bình Định và mở rộng vùng chiếm đóng Bộ t lệnh Bắc Trung Bộ

đóng ở Huế do tên tớng Lơ Ba Rít cầm đầu, chúng chia Bình - Trị - Thiên

Trang 25

thành ba phân khu, mỗi tỉnh một phân khu, mỗi phân khu có các tiểu khu, có

hệ thống pháo binh để khống chế chiến khu, vùng du kích, vùng tự do của ta.Pháp điều vào Quảng Bình 2000 tên địch để thực hiện kế hoạch càn quét,dùng chính sách đốt sạch, phá sạch, giết sạch, đàn áp khủng bố nhân dân pháhoại kinh tế, truy tìm cán bộ Đảng viên để diết

Đặc biệt ở Trung Lào địch có 38 vị trí chiếm đóng với 6 sân bay (Thakhẹc và Savanakhẹt, cây số 35, Lạc Xao, Nape và Sêpôn) Mục đích của hệthống chiếm đóng của địch là củng cố và bảo vệ các đờng giao thông lớn

Đồng thời đóng một số vị trí vào nội địa để khống chế và ngăn chặn quân độiViệt Nam Đặc biệt đóng vào chỗ cơ sở của ta hoặc các ngã liên lạc trọng yếu

để phá và cắt liên lạc của ta Năm 1948 địch ở Trung Lào có 2000 tên (200 tênPháp chỉ huy) Sở chỉ huy ở Trung Lào chia thành hai tiểu khu Savanakhẹt vàThà khẹc (Khăm Muộn)

Thà Khẹc: 200 lính ngời Lào, 20 lính Âu - Phi, vũ khí có 1 đại liên vàsúng các loại khác do 1 tên quan ba Pháp chỉ huy (Nape và Banaphào)

Nape: có 3 tên Pháp, 50 lính khố đỏ, 1 đại liên, 1 moóc-chi-e 81mm, haitrung liên

ở Nhôm Ma Rát 1 trung đội

Nh vậy từ những cứu viện của Pháp trên chiến trờng Lào thì mục đích vànhiệm vụ của lực lợng vũ trang Quảng Bình trên đất Lào trong năm 1948 làchú trọng vào công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ, bộ đội du kích, giúp bạnxây dựng cơ sở chính trị và lực lợng vũ trang Nhờ sự hoạt động mạnh mẽ củalực lợng vũ trang liên khu 4, đặc biệt là lực lợng vũ trang Quảng Bình, ViệtNam đã giúp bạn phát triển lực lợng một cách nhanh chóng Nhân dân ở vùnggiải phóng đợc giác ngộ cao Đầu 1949, thực hiện chủ trơng của trung ơng

Đảng "mở rộng mặt trận Lào", tiểu đoàn Lê Trực cùng với quân du kích củahuyện Quảng Trạch - Tuyên Hoá đã sang phối hợp với Trung đoàn Trung Làolên hoạt động ở vùng Napê - Bualapha và vùng Ma Rát đã đẩy lùi quân Pháp

ra xa vùng biên giới mở rộng khu căn cứ của bạn

Tháng 10/1949, Bộ tổng t lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ chỉhuy quân đội Itxala, quyết định phân chia lại chiến trờng phạm vi hoạt độngcủa quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, liên khu 1 có trách nhiệm đối vớiTrung Lào Tháng 12/1949 Ban chỉ huy phân khu Bình - Trị - Thiên điều tiểu

đoàn 364 và liên khu tổ chức đoàn 120 sang hoạt động ở Trung Lào Để phùhợp với tổ chức và lực lợng, Trung ơng Lào và lực lợng Itxala có những thay

Trang 26

đổi giải tán Uỷ ban Tây Lào và Đông Lào thành lập Uỷ ban Thợng Lào, Trung

và Hạ Lào Đặc biệt, Bộ t lệnh liên khu 4 điều Đại đội 6 thuộc Trung đoàn 19(Quảng Bình) luôn hoạt động ở Banaphào để giúp đỡ và bảo đảm vật chất cho

Uỷ ban Trung Lào và gia đình

Đầu 1950 các Đại đội độc lập 6,75, 77 ở đờng số 12 tổ chức thành Tiểu

đoàn hai do đồng chí Nguyễn Đình Tháp, Tiểu đoàn trởng, đồng chí Lu Quý

Ng - chính trị viên và Nguyễn Quang Diện - tiểu đoàn phó Mục đích của Bancán sự Trung Lào tiến hành kiện toàn tổ chức cho hợp với từng khu vực từngtỉnh

Sau chiến thắng biên giới (1950), chiến tranh ngày càng ác liệt trên chiếntrờng Đông Dơng: Quảng Bình đã ra sức đóng góp sức ngời sức của, tạo điềukiện thuận lợi cho các đơn vị sang hoạt động trên đất bạn, thành lập các cơquan tiếp nhận Cục vận tải tiếp tế, các điểm tập trung quân nhu, quân lực vàhuy động 130 tấn lơng thực thực phẩm cho chiến trờng Lào

Mùa ma 1951, lực lợng ta và bạn có một số thay đổi Ban cán sự Đoàn

280 chủ trơng rút bớt lực lợng quân tình nguyện Việt Nam, giải thể các tiểu

đoàn 1 và 2, chỉ để lại ở các phân đoàn 13 và 9 mỗi phân đoàn thành một đại

đội, số còn lại rút về đóng ở Quảng Bình và Hà Tĩnh Năm 1952 ta có 7.869ngời [tr 26 - 81]

Đến tháng 1/1954 liên quân Lào - Việt mở chiến dịch Trung Lào, nhândân Quảng Bình vinh dự đợc giao nhiệm vụ cung cấp một phần nhân tài vậtlực cho chiến dịch Để thực hiện kế hoạch và bảo đảm đoạn biên giới Việt -Lào ở phía Tây tỉnh Quảng Bình, Bộ t lệnh quân khu 4 quyết định giao nhiệm

vụ cho Tiểu đoàn 929, vốn là một tiểu đoàn chủ lực trong kháng chiến chốngpháp của tỉnh đội Quảng Bình phụ trách Ban chỉ huy tiểu đoàn đóng tại xãThanh Hoá huyện Tuyên Hoá do đồng chí Đặng Thanh Trung làm tiểu đoàntrởng Tiểu đoàn 929, đợc biên chế thành 3 đại đội Đại đội 1 và đại đội 2 làmnhiệm vụ cơ động, đóng gần Tiểu đoàn bộ Đại đội 3 đóng ở Bãi Dinh (xã DânHoá, huyện Minh Hoá) và bố trí một trung đội tiền tiêu đóng ở Cha Lo chốtgiữa trục đờng chiến lợc 12 từ Quảng Bình sang Lào, sát đờng biên giới quốcgia Toàn tỉnh đã lập đợc 29 trạm vận chuyển, huy động 46.000 thanh niên xungphong dân công với 4.844.986 ngày công và rất nhiều xe đạp thồ cùng hàngtrăm phơng tiện vận tải thô sơ khác phục vụ cho chiến dịch, huy động rất nhiềulơng thực, đạn dợc và quân tình nguyện sang Lào [tr 23 - 79]

Trang 27

Nhìn chung, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân Quảng Bình

đã vinh dự đóng góp một phần không nhỏ vào việc giúp cách mạng Lào giànhthắng lợi Thực hiện đờng lối kháng chiến của Đảng cộng sản Đông Dơng vàlời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "giúp bạn là giúp mình", Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân Quảng Bình đã giám sát cùng với quân dân Lào chiến đấuchống kẻ thù chung Với những đóng góp liên tục, toàn diện, Quảng Bình đãthực sự trở thành vùng căn cứ địa vững chắc, một hậu phơng chiến lợc trongcuộc kháng chiến của quân dân Lào Về mặt quân sự, những thắng lợi trên chiếntrờng Lào không chỉ có ý nghĩa bảo vệ biên giới phía Tây Quảng Bình mà còntác động to lớn đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam

1.3.2 Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn giai

đoạn 1954 - 1975

Hiệp định, Giơnevơ ngày 20/7/1954 về lập lại hoà bình ở ba nớc Đông

D-ơng đợc ký kết Cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với hainhiệm vụ chiến lợc: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục hoànthành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam Sau hiệp địnhGiơnevơ, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh cùng với toàn miền Bắc đợc hoàntoàn giải phóng, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền, lấy vĩ tuyến 18 làmgiới tuyến tạm thời Hai bên tập kết chuyển quân, Lào mới chỉ giải phóng đợchai vùng tập kết

Trớc sự thắng lợi của nhân dân ba nớc Đông Dơng, đế quốc Mỹ tìm mọicách phá hoại hiệp định, nhằm mục đích biến Việt Nam - Lào nói riêng, vàkhu vực Đông Dơng nói chung thành thuộc địa kiểu mới của chúng Chúngngang nhiên thiết lập chính phủ bù nhìn ở Việt Nam và xây dựng lực lợng

"đặc biệt" do cục tình báo Mỹ (CIA) trực tiếp huấn luyện, đứng đầu là VàngPao ở Lào

Hai nớc Việt Nam - Lào, một mặt thực hiện nghiêm chỉnh hiệp địnhGiơnevơ, mặt khác tích cực đấu tranh buộc Mỹ phải thi hành hiệp định

Hoà chung vào không khí cả nớc, nhân dân Quảng Bình không chỉ hănghái sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh mà còn đảm nhận nhiệm vụ mớichi viện cho chiến trờng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế với bạn Lào.Trong đó vấn đề bảo vệ an ninh biên giới phía Tây đợc đặt ra cấp thiết

Sau hiệp định Giơnevơ từ 1954 - 1958, sự phối hợp chiến đấu về quân sựgiữa quân dân Quảng Bình - Khăm Muộn cha đợc đặt ra Giai đoạn này chủyếu là bảo vệ và phát triển lực lợng cách mạng cho bạn

Trang 28

Từ đầu năm 1959, quân đội của bọn phản động phái hữu Lào thân Mỹliên tiếp vi phạm khiêu khích một số điểm trên biên giới nớc ta, chúng nhiềulần vu cáo nớc ta tập trung quân tại biên giới Việt - Lào và tuyên bố tình trạngkhẩn cấp ở năm tỉnh biên giới của Lào giáp Việt Nam, điều quân đội ra biêngiới.

Ngày 11 tháng 5 năm 1959, bọn phản động thân Mỹ ở Lào mở cuộc tấncông vào các lực lợng và cơ sở của cách mạng Lào Bọn phản động Lào choquân lấn chiếm một số vùng giải phóng và bao vây hai tiểu đoàn thuộc lực l-ợng vũ trang của Pathét Lào ở Cánh đồng Chum, đòi các lực lợng vũ trang củacách mạng Lào hạ vũ khí đầu hàng trong vòng 24 giờ

Đêm 18 tháng 5/1959, tiểu đoàn 2 Pathét Lào rút khỏi Cánh đồng Chum

về căn cứ và ngày 12/6/1959, ra tuyên bố kiên quyết chiến đấu bảo vệ nhândân, tố cáo sự can thiệp của Mỹ vào Lào, kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranhthực hiện đúng hiệp định Giơnevơ về Lào Hành động của bọn phản động thân

Mỹ đã làm cho nớc Lào lâm vào cảnh nội chiến và quan hệ ở biên giới hai nớcViệt - Lào ngày càng căng thẳng

Trớc tình hình đó, Đảng nhân dân cách mạng Lào đã kịp thời định ra chủtrơng và phơng pháp đấu tranh thích hợp Khẩu hiệu của cách mạng Lào lúcnày là "hoà bình, trung lập, dân chủ và thịnh vợng"

Tháng 8/1959, chính phủ nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố

"nếu ở Lào xẩy ra sự can thiệp quân đội của một nớc nào khác, theo âm muxâm lợc của đế quốc Mỹ thì đó không những là một hành động xâm lợc đốivới nhân dân Lào mà chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà coi đó là mộthành động trực tiếp uy hiếp nền an ninh của mình" [tr 25 - 35]

Trên quan điểm đó và theo yêu cầu của bạn, công an nhân dân vũ trangQuảng Bình gấp rút thành lập các đội công tác sang phối hợp với các lực lợng

vũ trang bạn chiến đấu, giữ vững vùng giải phóng và tuyến hành lang sát biêngiới Việt Nam - Lào làm căn cứ cho bạn tiến hành cuộc chiến đấu lâu dài.Nhiệm vụ của các đội công tác này tập trung vào ba mặt chính là:

- Vũ trang phối hợp với lực lợng Pathét Lào đánh địch bảo vệ vùng giảiphóng của bạn và hành lang sát biên giới Việt Nam - Lào

- Vận động quần chúng giúp bạn xây dựng chính quyền

- Giúp bạn xây dựng lực lợng vũ trang chủ yếu là dân quân tự vệ và bộ

đội địa phơng

Trang 29

Với ba nhiệm vụ đó, các đội công tác của công an nhân dân vũ trang QuảngBình sang làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào thờng đợc gọi và các "đội ba mặt".

ở nhiều nơi thuộc tỉnh Khăm Muộn, địch liên tục tổ chức nhiều cuộc cànquét tấn công vào cách mạng Lào, gây không ít tổn thơng đối với nhiều cơ sở,

tổ chức của cách mạng Lào

- Các "đội ba mặt" của công an nhân dân vũ trang Quảng Bình, sát cánhcùng các "đội ba mặt" của công an vũ trang Vĩnh Linh đã phối hợp, hiệp đồngchặt chẽ với các đại đội, tiểu đoàn của trung đoàn 101 (thuộc s đoàn 325 -Quân đội nhân dân Việt Nam) đánh chiếm, giành lại nhiều mục tiêu chobạn Lực lợng hỗn hợp của ta đợc trang bị chủ yếu là súng bộ binh phù hợpvới điều kiện chiến đấu ở vùng rừng núi Các đơn vị ta cùng bạn chiến đấulần lợt giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn cho cách mạng Lào nh cáchuyện Bualapha, LăngKhằng (tỉnh Khăm Muộn), Xêpôn, Huội Xan, M-ờngPhin (tỉnh Savannakhẹt) Sau các đợt hoạt động tác chiến, lực lợng củatrung đoàn 101 tiếp tục giai đoạn phát triển chiến đấu đến nhiều khu vực kháctheo kế hoạch của trên Các phân đội của công an nhân dân vũ trang đợc giaonhiệm vụ bám trụ lại các vùng giải phóng trong các xã Tơng, Tha-Pha-Ban,Thoòng - Khám, Xoọc-Xun-Bun, Noọng Ma Cồn Xa, Xà-Vỏ Tại các xã này,

bộ đội chiến sỹ ta đi sâu xuống từng bản làng tuyên truyền, giải thích đờng lốichính sách của Mặt trận cứu nớc Lào, hớng dẫn bà con làm ăn sản xuất, cùngbạn chiến đấu chống bọn gián điệp biệt kích, thám báo, tiến hành diệt phỉ,lùng bắt bọn gián điệp, chỉ điểm, bọn ác ôn; giúp bạn xây dựng phong tràobảo vệ trị an, xây dựng cơ sở chính trị ở từng xã Hầu hết bọn ác ôn đều tỏ thái

độ khuất phục cách mạng Những tên trớc đó rất ngoan cố cũng đã đợc giáodục, thuyết phục, thả về, làm ăn sinh sống, họ đã khai báo các địa điểm cất giấu

vũ khí, tài liệu và tự bao gói vận chuyển đến nộp cho cách mạng

Tại các vùng mới đợc giải phóng, do luận điệu tuyên truyền của bọn xấu,dân bạn lúc đầu hoảng sợ kéo nhau bỏ làng, bản chạy vào vùng địch tạmchiếm, hoặc vào rừng sâu lập các làng bản mới sinh sống Cán bộ, chiến sỹtình nguyện Việt Nam kiên trì làm công tác dân vận, tuyên truyền, giải thích

lẽ phải để tranh thủ sự đồng cảm của nhân dân, đồng thời đẩy mạnh các hoạt

động địch vận, tiếp tục phân hoá, phá vào hàng ngũ địch Nhiều phần tử trớc

đây là ác ôn, ngụy quyền cũ của địch đã nghe theo, trở về với cách mạng Một

số còn tự nguyện, tích cực đi vận động nhân dân trở về quê cũ làm ăn sản

Trang 30

xuất, ổn định đời sống Một số nhân viên cũ của địch đã giác ngộ Đợc cáchmạng chỉ định tham gia bộ máy chính quyền lâm thời ở địa phơng Quầnchúng quanh vùng Pha-Băng, Xiêng Hùm, các bản Chiêng - Túp, Bản Na, RaMai và cả vùng thợng nguồn sông Xêbăngphai nghiêng dần dần tin và ủng hộcách mạng Nhiều nơi, nhân dân các bộ tộc Lào đã tự vận động khuyên góp l-

ơng thực, tìm thuốc men điều trị cho bộ đội, cung cấp các nguồn tin về hoạt

động của địch, kêu gọi bọn phỉ còn ngoan cố ra đầu hàng, đầu thú Nhờ đó, cónhững tên phỉ lẩn trốn đã ra đầu thú, xin đợc hởng chính sách khoan hồng củacách mạng

Tháng 1 năm 1961, để hỗ trợ thêm lực lợng cho các đội hoạt động ngoạibiên, Ban chỉ huy công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Bình sau khi thính thị

đợc trên chấp thuận, đã thành lập thêm "phân đội ba mặt" chia thành bốn ớng qua biên giới để tăng cờng lực lợng giúp bạn

- Hớng thứ nhất: Xuất phát từ đồn Cha Lo đi dọc theo đờng 12 hoạt động

từ các vùng Pà-Xoàng, Cà Toọc, Tha-Ban, Bản-Đủ đi sâu dần vào khu vựcXam Xay, Xam Xăng

- Hớng thứ hai: Đi từ đồn biên phòng Cà Xèng bộ đội ta mở đờng sangbản Ton, Vùng Bắc

- Hớng thứ ba: Hoạt động ở khu vực đối diện phía Nam của đồn biênphòng Cà Roòng

- Hớng thứ t: Tiến vào các vùng Chiêng-Túp, Bản-Na, Ka-Mai thuộchuyện Sê-Pôn

Cuối năm 1961, sau khi hoàn thành nhiệm vụ giúp ban chấp hành mệnhlệnh của Bộ t lệnh và Ban chỉ huy công an nhân dân vũ trang Quảng Bình, các

đội công tác ngoại biên "đội ba mặt" đã bàn giao các địa bàn giải phóng cholực lợng Pathét Lào quản lý Toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam gồm các lựclợng ngoại biên của các đồn biên phòng và các đội công tác ngoại biên "đội bamặt" đều rút về nớc học tập, chỉnh huấn

Đầu năm 1962, đợc sự giúp sức của Mỹ, ngụy Sài Gòn với lợi dụng địahình vùng núi hiếm trở, bọn phản động phái hữu Lào quay lại tổ chức các cụmphỉ ở Tá-Pa, Pha Cuôi Quân ngụy Sài Gòn cũng đa quân ra đóng chốt ở SaMùi, (đối diện với khu vực Cây-Tăm, Cù Bạc ở Bắc giới tuyến) để làm "mắtthần" làm chỗ dựa và chỉ điểm cho ngụy quyền miền Nam tung gián điệp biệtkích ra Vĩnh Linh, Quảng Bình Tình hình biên giới ở đây căng thẳng, phứctạp trở lại

Trang 31

Trớc tình hình đó, trung ơng Đảng đã ra Nghị quyết 114/NQ-TW, Bộ tlệnh ra chỉ thị 345/TL về công tác giúp bạn đối với tỉnh trên toàn tuyến biêngiới Việt - Lào Thờng vụ Tỉnh uỷ Quảng Bình đã bàn kế hoạch lãnh đạo bảo

vệ khu vực biên giới Nghị quyết của Thờng vụ Tỉnh uỷ Quảng Bình xác định:Muốn bảo vệ tốt chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, phải chủ động tiếncông địch từ xa, phải đánh mạnh kẻ địch từ bên ngoài để bảo vệ chặt bên trong.Chấp hành chủ trơng, Công an nhân dân vũ trang Quảng Bình đã cử 9 tổcông tác ngoại biên ở các đồn biên phòng và các phân đội "hoạt động ba mặt"

do các đồng chí Hồ Xuân Phinh, Trần Khơng, Hồ Văn Mờng phụ trách từQuảng Bình gấp rút vợt Trờng Sơn, băng rừng lội suối đi làm nhiệm vụ quốctế

Địa bàn tập trung hoạt động của các đội công tác ngoại biên"đội ba mặt"trong thời gian này làm căn cứ, để bắt phỉ trên một phạm vi rộng từ Phu VangLiêm, Pu - Cô - Nhi, Phù - Ac, Thu - Thông đến Nậm - On, Tham - Mi, Xê -Băng Phai, Khu - Xê… [tr 26 - 28]

Những năm 1960 - 1962 là một thời kỳ có nhiều khó khăn của cáchmạng Lào, các đội công tác ngoại biên "đội ba mặt" của Quảng Bình đã khắcphục nhiều khó khăn, gian khổ của chiến trờng rừng núi, chấp hành nghiêmchỉnh kỷ luật, tôn trọng mọi phong tục tập quán địa phơng, tranh thủ đợc sựgiúp đỡ nhiệt tình của nhân dân các bộ tộc Lào, phối hợp hiệp đồng với cáclực lợng trên đất bạn chiến đấu tiêu diệt các toán gián điệp, biệt kích, thámbáo, thổ phỉ (Phối hợp cùng đánh 32 trận, bắt sống 30 tên, tiêu diệt 122 tên,vận động 70 ngời theo phỉ ra đầu thú, bắt gọn ba tổ chức gián điệp chỉ điểm,thu 96 dúng, điện đài, nhiều phơng tiện, tài liệu khác, mở trên 50 lớp bồi dỡngnghiệp vụ an ninh cho cán bộ công an và huấn luyện đoàn quân ở nhiều địaphơng của bạn; giúp bạn xây dựng đợc một trung đoàn có khả năng chiến đấu

độc lập vững) [tr 32 - 57]

Hoạt động của các tổ đội công tác ngoại biên "đội ba mặt" của công annhân dân vũ trang Quảng Bình đã góp phần cùng các lực lợng vũ trang của bạntạo đà liên tiếp giành thắng lợi cho cách mạng Lào, khai thông và bảo vệ hànhlang thông suốt giữa miền Bắc đến các chiến trờng trên bản đảo Đông Dơng.Những thắng lợi trên chiến trờng Lào làm cho đế quốc Mỹ và bè lũ taysai bén sâu vào thế bị động lúng túng Mỹ buộc phải chấp nhận thất bại, rút luikhỏi Lào để tập trung đối phó với tình hình ở miền Nam Việt Nam Ba phái ở

Trang 32

Lào đã họp tại Cánh đồng Chum và thoả thuận ký hiệp nghị thành lập chínhphủ Liên hiệp (12 tháng 6 năm 1962).

Ngày 23/7/1982, Hội nghị Giơnevơ với 14 nớc tham gia đã ký hiệp địnhGiơnevơ về Lào Qua hiệp định này, quốc tế cam kết "tôn trọng nền độc lập,chủ quyền, thống nhất và toàn vệ lãnh thổ"

Đặc biệt sau những thất bại trên mặt trận chính trị, cùng với những thấtbại liên tiếp trên chiến trờng miền Nam Việt Nam và Lào, ngày 17 tháng 6năm 1963, tại Thái Lan, dới sự điều khiển của Mỹ, khối SEATO đã tiến hànhcuộc diễn tập hơn 7000 quân tham gia, trong đó chủ yếu là quân Mỹ nhằm

"kiểm tra trình độ tác chiến" sẵn sàng cho bớc phiêu lu quân sự mới vào Lào.Theo lệnh quân Mỹ, quân phản động cùng quân trung lập mở cuộc tiến cônglấn chiếm vùng giải phóng Trung Lào

Phán đoán đúng âm mu và hành động của Mỹ ngụy, cuối năm 1963,Quân uỷ Trung ơng Lào và Quân uỷ Truơng ơng Việt Nam đã trao đổi thốngnhất giao cho Bộ t lệnh Quân khu 4 cùng với Bộ đội PaThét Lào phối hợpchiến dịch 128.Chấp hành nhiệm vụ đợc giao, Bộ t lệnh Quân khu 4 sử dụngTrung đoàn 95 và Trung đoàn 101 (s đoàn 325), Tiểu đoàn 3 (s đoàn 324), haitiểu đoàn Biên phòng 927 và 929, một đại đội gồm 120 ly (4 khẩu) một đại

đội súng máy phòng không (4 khẩu), một đại đội thiết giáp, một trung đội đặccông, tiểu đoàn 17 PaThét Lào tỉnh Khăm Muộn và đại đội bộ đội địa phơngNhom Ma Rát tham gia chiến dịch, đồng thời kết hợp với bộ đội của QuảngBình thực hiện chiến dịch [tr 69 - 72]

Ngày 27 tháng 1 năm 1964, từ hớng Đông liên quân Quảng Bình - KhămMuộn nổ súng đánh địch Tiểu đoàn 17 tỉnh Khăm Muộn và đại đội địa phơngNhom Ma Rát đã phối hợp với đơn vị quân tình nguyện tiến công cứ điểmVang Yên, đánh chiếm các khu vực Bản Đông, Thà Thuột, Bản Khoa, tạothành thế bao vây Na Cay Bị đánh bất ngờ, quân địch hoảng sợ, bỏ chạy về h-ớng Thẩm Công Lô Kết hợp với quân Quảng Bình tiếp tục truy kích địch đếntận ngã ba Bản Thôn, truy lùng tân binh địch trên một địa bàn rộng lớn từ NaCay, Hun Ban, Phả kenla, Nậm-Xa tới Na Muông, Bản Ken, Bản Công Lô,

đẩy lùi quân địch về hớng Kon-Ka-ti-a và Bản Kin Đến 12 tháng 2 năm 1964,chiến dịch 128 kết thúc Liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu 800tên, thu 360 súng các loại, giải phóng toàn bộ cao nguyên Na Cay cùng tuyếnbiên giới Lào - Việt dài gần 700km từ đờng số 8 đến đờng số 12 [tr 51 - 89]

Trang 33

Cùng với chiến dịch này, tiểu đoàn 927 của quân khu đợc giao nhiệm vụphối hợp với một đại đội thuộc tiểu đoàn 15 của bạn, tiến công tiêu diệt cứ

điểm Pha Hom

Pha Hom - một trung tâm phòng ngự của địch trên tuyến đờng 12, cáchthị xã Thà Khẹc 14km về phía Đông, cách vị trí Na Đoon 12km, cứ điểm đợc

bố trí theo kẹt núi Đá sát chân núi Đá Địch lợi dụng sự che chở của các nền

đá phía Đông Bắc và Đông Nam làm những bức thành ngăn cách vùng ta vớicùng chúng kiểm soát Lực lợng địch ở đây bố trí thành cụm, kết hợp lực lợngtại chỗ với lực lợng cơ động khá chặt chẽ Trong khi đó, cơ sở cách mạng củabạn lại cha đợc tạo lập trong nhân dân vùng này nên ta rất khó khăn trong việcnắm bắt tình hình địch cũng nh địa bàn chiến đấu

Khắc phục gian khổ khó khăn, tiểu đoàn 927, 929 liên tục hành quân từngày mồng 9 đến ngày 11 tháng 11 năm 1964, dùng dây bắc thang qua nhữngmỏm đá tai mèo, dốc núi dựng đứng, mang vác vũ khí vào vị trí tập kết Mặcdầu địch bắn vào đội hình, cả đơn vị vẫn kiên trì chịu đựng giữ bí mật đến khitrận đấu bắt đầu Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra giằng co, quyết liệtcho đến lúc 15h ngày 11 tháng 11 năm 1964, địch núng thế phái bỏ chạy về

Na Đon Tiểu đoàn 927 hỗ trợ cho Ban truy kích phục kích, diệt một số ở cầuNậm Dơn phía bắc cầu Xê Băng Phai

Trận Pha Hom đánh dấu sự tiến bộ về chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội ttrong tiến công đột phá vị trí hiểm yếu làm vỡ thế phòng ngủ của địch

Nh vậy, bên cạnh sự phối hợp trên chiến trờng, Quảng Bình còn làmnhiệm vụ hậu phơng đối với Lào Phơng hớng phối hợp, giúp đỡ Khăm Muộn

đã đợc Quảng Bình xác định: Giúp bạn mọi mặt cả về kinh tế, văn hoá, đàotạo cán bộ, công nhân kỹ thuật trong đó phát triển kinh tế nông nghiệp đợcchú trọng trên cả ba mặt: trồng trọt, chăn nuôi và thuỷ lợi, giúp bạn phát triển

về văn hoá, giáo dục, y tế, tăng cờng quan hệ mậu dịch hai bên Từ đây, nhữnghoạt động phối hợp, chi viện của Quảng Bình đối với Khăm Muộn diễn ra th-ờng xuyên, toàn diện và có kết quả cao hơn Trong năm 1967 Quảng Bình đãviện trợ cho bạn 106 cán bộ sang giúp bạn, giúp hạt giống, thuốc men, công

cụ lơng thực, thực phẩm trị giá trên 150.000 đồng Ngoài ra trong thời gianQuảng Bình còn giúp bạn đào tạo, bồi dỡng cán bộ địa phơng xây dựng Đảng,xây dựng lực lợng địa phơng [tr 56 - 83]

Trên lĩnh vực chiến đấu, bảo vệ biên giới, quân dân các huyện phía TâyQuảng Bình đã địch tiến hành mua chuộc, khống chế một số bộ đội, dân công

Trang 34

của ta bị bắt trên các chiến trờng rồi giao nhiệm vụ và đem trở lại miền Bắchoạt động Trong đó một số ngời đã đợc địch huấn luyện về các môn điều tra,tình báo, phơng pháp liên lạc bằng tin ám hiệu Cách ghi chép tài liệu, số liệumật… Địch đã dùng máy bay thả số này xuống khu vực phía Tây Quảng Bình,

đặc biệt chúng trà trộn trong một số đơn vị bộ đội trở về địa phơng, thu thậptình hình, rồi tìm cách liên lạc cung cấp tin tức cho địch

Trong ba năm 1969 - 1972, các đồn biên phòng tuyến núi Quảng Bình

nh cha Lo, Làng Ho, Làng Mộ… thông qua biện pháp kiểm soát hành chính ởbiên giới đã cùng với lực lợng của một số đơn vị quân đội ở các binh trạm trên

đờng trờng sơn phát hiện đợc 95 vụ dùng giấy tờ giả mạo, hoặc giấy tờ khônghợp lệ, trong đó có 13 tên đã thú nhận là tay sai của địch

Đặc biệt, tháng 10 - 1969, Quân khu chỉ thị "nhiệm vụ hành lang và cấpbách nhất quan trọng nhất, phải tập trung bảo vệ hành lang biên giới Đặc biệttrong thời gian này, đế quốc Mỹ tạm ngừng bắn phá miền Bắc, chấp nhận

"xuống thang" nhng đối với địa bàn Quảng Bình địch vẫn tăng cờng khiêukhích và đánh phá ngăn chặn các tuyến chi viện cho miền Nam Trong nhữngtháng đầu năm 1969 địch thờng xuyên cho máy bay do thám vùng dọc biêngiới Quảng Bình - Khăm Muộn, đánh phá các điểm hiểm yếu trên tuyến đờng

20, cửa khẩu Cha Lo, đánh uy hiếp các vùng bản dọc các tuyến vận tải và chotàu chiến uy hiếp vùng biển Không lơ là cảnh giác trớc mọi âm mu thủ đoạncủa đế quốc Mỹ với miền Bắc, hội nghị lần thứ 18 của Ban chấp hành trung -

ơng Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ cấp bách phải tăng cờng sức mạnh và hiệulực chiến đấu của ba thứ quân

Nh vậy, từ mùa khô 1971 - 1972 quân ngụy Lào đã co lại chốt giữa các

điểm mà chúng còn giữ đợc dọc đờng 12, đờng 13 Chúng mở các đợt cànquét nhỏ, dồn dân vào "ấp chấn Hng".Tại Khăm Muộn chúng đã nhen nhómnhững ổ phỉ mới dọc phía Đông của tỉnh nơi tiếp giáp với Quảng Bình Trớctình hình đó trung ơng ĐNDCM Lào ra Nghị quyết số 17, chủ trơng càn quét

"quét sạch các ổ phỉ" Từ đó lực lợng vũ trang Quảng Bình lại tiếp tục giúp đỡbạn diệt phỉ để ổn định cho đời sống nhân dân Năm 1972 - 1973, KhămMuộn đã xây dựng đợc một số bộ đội địa phơng, các xã vùng giải phóng cótrung đội dân quân du kích

Từ 1973, để đa phong trào cách mạng của bạn phát triển hơn nữa và đểphối hợp với chiến trờng miền Nam, Quân khu IV ra chỉ thị Bình - Trị - Thiên

Trang 35

đa lực lợng sang phối hợp với quân dân bạn mở chiến dịch 972, trong đóQuảng Bình đã theo tuyến đờng 12 hoạt động trên tuyến này Chiến dịch mởmàn tháng 10 - 1972, Quảng Bình đã điều tiểu đoàn 46 bộ binh, Đại hội 361của huyện Lệ Thuỷ phục vụ chiến dịch [tr 28 - 136].

Đặc biệt trong lúc ta và bạn trên đà giành thắng lợi thì có một số cán bộlôi kéo một số ngời dân ở các huyện dọc biên giới Quảng Bình và KhămMuộn làm bạo loạn chính trị, mu đồ lật đổ chính quyền cách mạng Trớc tìnhhình đó cả ta và bạn phải phối hợp với nhau để trấn áp bọn phản cách mạng.Phơng án tác chiến đợc đặt ra là lấy chính trị làm gốc, quân sự làm áp lực,kinh tế làm đòn bẩy Những biện pháp cứng rắn đó đã đập tan âm mu của bọnbạo loạn

Sau khi hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Lào đợc ký kếtcác đơn vị bộ đội địa phơng Quảng Bình vẫn tiếp tục ở lại tỉnh bạn để xâydựng hậu cần, tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế, các đại đội dân công LệThuỷ, Quảng Trạch… vừa làm đờng, làm kho, vừa vận chuyển hàng chục tấn

đạn, gạo, muối, thực phẩm tới tận đỉnh núi Pạc Ca Đông, Xăm Xoọc, PaKSan

để phục vụ chiến trờng trong mùa ma 1973 Sát cánh chiến đấu cùng các đơn

vị bộ đội, trên đất bạn còn có gần 900 dân công Quảng Bình đã không ngạigian khó vận chuyển trên 500 tấn hàng hoá, bảo đảm cho các đơn vị bộ độicủa ta và bạn

Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đã thắng lợi kết thúc thời kỳchiến tranh gian khổ của quân và dân cả nớc Điều đáng nói rằng mặt trậnphía Tây với dân và quân nớc bạn bám trụ Lào đánh bại mọi âm mu tàn phácủa địch đã giữ vững vùng giải phóng, tạo thời cơ tổng tiến công và nổi dậy đểgiành chính quyền, giải phóng tỉnh Khăm Muộn, góp phần cùng với lực lợng

vũ trang cách mạng bạn giải phóng hoàn toàn nớc Lào vào ngày 02/12/1975

Điều đó có thể nói rằng, tuy còn nhiều khó khăn nhng do phải tập trungsức lực cùng cả nớc tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhng nhân dânQuảng Bình đã làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nớc bạn Lào nói chung, tỉnhKhăm Muộn nói riêng, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc ở cả hai đấtnớc vào năm 1975 Thành quả to lớn ấy đã tô thắm thêm truyền thống đoànkết đặc biệt giữa hai dân tộc Việt - Lào cũng nh quan hệ hợp tác giữa hai tỉnhQuảng Bình - Khăm Muộn đã gắn bó keo sơn từ trớc năm 1975

Tiểu kết chơng 1:

Trang 36

Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn có tiền đề tựnhiên, lịch sử, cơ sở văn hoá và xã hội lâu đời Trong đó liền kề với địa lý tựnhiên và sự phối hợp chặt chẽ về quân sự đã gắn kết hai dân tộc phải nơng tựa,gắn bó với nhau trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nh trong công cuộcxây dựng và bảo vệ đất nớc Trong thời bình, vấn đề an ninh và phát triển củamỗi nớc sẽ tác động tới tình hình của nhau Do vậy, nhân tố văn hoá là mộttrong những cơ sở quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình

- Khăm Muộn

Quan hệ đặc biệt giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn đợc hìnhthành, phát triển do yêu cầu khách quan bức thiết có ý nghĩa sống còn củacuộc đấu tranh giành, giữ và xây dựng đất nớc, đánh bại kẻ thù nhằm thựchiện mục tiêu cơ bản của mỗi nớc và của cả hai nớc qua các thời kỳ lịch sử

Điều này không chỉ xuất phát từ tình cảm, nguyện vọng của nhân dân hai nớc

mà còn xuất phát từ đòi hỏi khách quan chống xâm lợc Trong quá trình đấutranh giải phóng dân tộc, mỗi nớc phải tự quyết định lấy vận mệnh của mình,song sẽ gặp không ít khó khăn, thậm chí không thành công nếu không có sựphối hợp với nhau Nhân dân Quảng Bình đã giúp nhân dân Khăm Muộn mộtcách chân thành, toàn diện, liên tục, không có điều kiện, trên tinh thần quốc tếtôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, "giúp bạn là tự giúp mình, là

ăn cơm nhà, làm việc nhà trên đất bạn" Điều đó càng khẳng định rằng quan

hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn là mối quan hệ gắn bómáu thịt, có cơ sở vững chắc Đây là nhân tố rất quan trọng thúc đẩy hai bênquan hệ hợp tác lâu dài trong thời gian tới, nhng cũng chính yếu tố truyềnthống này đã đặt ra những bài học lịch sử, đặc biệt là trong quá trình xây dựngchiến lợc phát triển hợp tác toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, anninh, quốc phòng hai nớc Việt - Lào nói chung, Quảng Bình - Khăm Muộnnói riêng

Quan hệ Việt - Lào xuất phát từ những nét tơng đồng về văn hoá, lịch sử,mang tính truyền thống láng giềng thân thiện, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí,

từ quan hệ tự phát đã chuyển thành quan hệ tự giác, mang tính chiến lợc, trongsáng thuỷ chung và ngày càng đợc củng cổ phát triển Điều đó đợc đánh dấu

và khẳng định ngay sau khi Đảng cộng sản Đông Dơng ra đời đảm đơng sứmệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng ba nớc, trong đó có Việt Nam - Lào.Thời kỳ 1930 - 1975, quan hệ Việt - Lào nổi lên nh một liên minh đoàn kếtchống ngoại xâm Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là kháng

Trang 37

chiến chống Pháp và Mỹ, số phận lịch sử đã gắn bó hai dân tộc trong liênminh chiến đấu chống kẻ thù chung Thắng lợi của nhân dân Việt Nam khôngtách rời những thắng lợi của nhân dân Lào trong từng giai đoạn lịch sử trêncác lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao Sự nhất trí cao về đờng lối chiến l-

ợc, sự phối hợp có hiệu quả trên các mặt trận đã góp phần đa đến thắng lợihoàn toàn của cách mạng hai nớc Mối quan hệ truyền thống và đoàn kếtchống ngoại xâm là cơ sở vững chắc cho sự đoàn kết hợp tác Việt - Lào tronggiai đoạn tiếp Bởi bối cảnh hai nớc trên nó cũng đã tác động mạnh đến haitỉnh Quảng Bình và Khăm Muộn Đó là những nhân tố tác động xuyên suốttrong quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ hợp tác giữa hai tỉnhQuảng Bình - Khăm Muộn Tuy nhiên, khi xem xét các tác động của nó, phải

đợc xem xét trong tổng thể các nhân tố có quan hệ biến chứng với nhau.Trong đó nhân tố địa lý, văn hoá, lịch sử là điều kiện quan trọng và cần thiết

để hai bên cùng tăng cờng hiểu biết, tin cậy, hợp tác với nhau Sự phát triểnkhông ngừng của quan hệ hai nớc Việt - Lào là nhân tố quan trọng nhất đảmbảo vững chắc cho mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa Quảng Bình và KhămMuộn

Chơng 2 Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Bình trị thiên -

Khăm Muộn Giai đoạn 1976 - 1989

Sau hai cuộc kháng chiến trờng kỳ chống kẻ thù chung là thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ thắng lợi, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã hoàn thành trọn vẹntrên cả hai nớc Năm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huếsáp nhập lại với nhau thành tỉnh Bình Trị Thiên Sự thay đổi địa giới hànhchính đã có tác động không nhỏ đến quan hệ hợp tác Quảng Bình - KhămMuộn giai đoạn 1976 - 1989 Vì vậy, quan hệ Quảng Bình - Khăm Muộn

Trang 38

trong giai đoạn này đợc đặt trong mối quan hệ chung của Bình Trị Thiên vàKhăm Muộn.

2.1 Tình hình kinh tế - xã hội giữa hai tỉnh Bình Trị Thiên - Khăm Muộn giai đoạn 1976 - 1989

Năm 1975, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã hoàn toàn thắng lợi ởhai nớc Việt Nam - Lào Bắt đầu từ đây, quan hệ hai nớc nói chung, Bình TrịThiên - Khăm Muộn nói riêng, bớc vào thời kỳ mới: giại đoạn khôi phục vàcải tạo trên mặt trận kinh tế - xã hội, cụ thể hoá các chiến l ợc xây dựng, pháttriển đất nớc của hai nớc Việt Nam - Lào

Trong bối cảnh đất nớc chiến tranh, Bình Trị Thiên - Khăm Muộn đều bịtàn phá nặng nề Nằm ở vị trí trọng yếu trên con đờng chi viện từ Bắc vàoNam, Bình Trị Thiên - Khăm Muộn từng là nơi bị phá ác liệt Hầu hết các nhàmáy, xí nghiệp, hệ thống giao thông đều bị phá huỷ, các trạm y tế, bệnh viện,trờng học đều phải xây dựng lại, thiệt hại về kinh tế rất lớn

Khăm Muộn là một trong những nơi đế quốc Mỹ xây dựng đội quân đặcbiệt để chống phá cách mạng Chiến sự nhiều lần diễn ra nơi này, với các trậncàn quét lớn làm cho nền kinh tế xơ xác tiêu điều, ruộng đồng bỏ hoang, mọihoạt động sản xuất bị đình đốn

Bớc sang thời kỳ khôi phục xây dựng đất nớc, cả Bình Tri Thiên và KhămMuộn đều phải lựa chọn cho mình con đờng đi và những biện pháp thực hiệnmục tiêu phát triển kinh tế, xã hội Để vợt qua khó khăn, Đảng bộ, chínhquyền Bình Trị Thiên và Khăm Muộn một mặt tích cực củng cố khối đại đoànkết toàn dân, tiến hành xây dựng cơ cấu kinh tế phù hợp với tiềm năng vềnhân lực và vật lực của mình, mặt khác, hai bên tăng cờng hợp tác với nhautrên tất các lĩnh vực Trong đó, hợp tác kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng,

là cơ sở chủ yếu của mối quan hệ hợp tác toàn diện

Cụ thể hoá và phát triển những quan điểm của đại hội Đảng cộng sảnViệt Nam lần thứ VI và đại hội IV Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, trong lĩnhvực kinh tế đợc Bình Trị Thiên - Khăm Muộn xác định: Xây dựng cơ cấu kinh

tế mới, chuyển từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá, đổi mới cơchế quản lý kinh tế nhằm xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyếnsang cơ chế thị trờng có sự điều tiết của nhà nớc, đổi mới chính sách đối ngoạinhằm mở rộng đa phơng hoá quan hệ quốc tế, mở cửa thu hút vốn và côngnghệ đầu t của nớc ngoài

Trang 39

Trong quan hệ với Việt Nam, Lào rất chú trọng đến việc đẩy mạnh mốiquan hệ hợp tác giữa các địa phơng hai nớc Chính phủ Lào coi mối quan hệhợp tác giữa các địa phơng là vấn đề then chốt.

Các kỳ đại hội Bình Trị Thiên và Khăm Muộn đều nhấn mạnh ý nghĩacủa mối quan hệ hợp tác giữa các địa phơng kết nghĩa: Đẩy mạnh hợp tác giữacác địa phơng kết nghĩa hai nớc Việt Nam - Lào không những tạo điều kiện đểphát huy có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài nguyên mà còn góp phần đảmbảo về an ninh chính trị, làm cho mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào ngàycàng bền vững và phát triển tốt đẹp

Đợc sự quan tâm của hai Đảng, hai nhà nớc, Đảng bộ, chính quyền vànhân dân Bình Trị Thiên đã đẩy mạnh quan hệ hợp tác trong đó tập trung vàocác chơng trình:

1 Giải quyết vấn đề lơng thực, thực phẩm cho bạn bằng cách đa tiến bộkhoa học - kỹ thuật vào việc thâm canh, sản xuất cây trồng, vật nuôi ở nhữnghuyện trọng điểm

2 Giúp bạn đào tạo bồi dỡng cán bộ, công nhân kỹ thuật, cử giáo viênsang trực tiếp đào tạo học sinh ở tỉnh bạn

3 Trao đổi hàng hoá giữa các địa phơng, hợp tác giúp nhau tổ chức khaithác, sản xuất, chế biến và tiêu thụ hàng hoá

4 Trao đổi và giới thiệu kinh nghiệm trên các lĩnh vực chính trị, quân sự,

2.2 Quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai tỉnh Bình Trị Thiên - Khăm Muộn giai đoạn 1976 - 1989

Sau hai cuộc kháng chiến trờng kỳ chống kẻ thù chung là thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ thắng lợi, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã hoàn thành trọn vẹntrên cả hai nớc, đặc biệt là sự lớn mạnh trong quan hệ hợp tác kinh tế của hainớc Việt - Lào Sau khi công cuộc thống nhất đất nớc về mặt nhà nớc đợchoàn thành, năm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đã sáp

Trang 40

nhập lại với tên gọi là Bình Trị Thiên Từ đó quan hệ hợp tác kinh tế giữa haitỉnh Bình Trị Thiên - Khăm Muộn giai đoạn 1976 - 1989 cũng từng ngày đổithay Các cấp, các ngành và cán bộ, nhân dân Bình Trị Thiên - Khăm Muộn đã

nỗ lực vợt qua những trở ngại khó khăn, lập nên nhiều thành tích đáng kể, gópphần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ở mỗi địa phơng.Nhu cầu hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau về kinh tế xuất phát từ những khókhăn và thuận lợi của hai tỉnh Do khó khăn chung của hai tỉnh xuất phát lànền nông nghiệp lạc hậu, do sự tàn phá của chiến tranh nên càng làm cho haitỉnh gặp rất nhiều trở ngại Để đa quan hệ kinh tế Bình Trị Thiên - KhămMuộn lên ngang tầm với quan hệ chính trị, hiệp ớc hữu nghị và hợp tác năm

1977 đã khẳng định: các tỉnh cùng chung biên giới của Việt Nam - Lào phảităng cờng quan hệ hợp tác về nông, lâm nghiệp, công nghiệp, giao thông vậntải, khai thác tài nguyên và hết lòng viện trợ cho nhau về kinh tế, kỹ thuật,giúp nhau đào tạo cán bộ, trao đổi chuyên gia các ngành kinh tế, văn hoá,khoa học kỹ thuật mở rộng quan hệ mậu dịch theo chế độ u đãi đặc biệt, phải

cố gắng thực hiện kế hoạch viện trợ của nhà nớc phân công để đáp ứng đợcmột số nhu cầu về sản xuất và đời sống của bạn Nội dung chính của chơngtrình hợp tác nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, hợp tác giúp đỡ nhau mộtcách toàn diện, cơ bản có hiệu quả, giúp nhau khai thác thế mạnh của mỗibên, góp phần giữ vững biên giới hoà bình, hữu nghị, mở cửa về kinh tế, vănhoá, làm ổn định đời sống nhân dân

2.2.1 Quan hệ hợp tác trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thuỷ lợi

Từ khi hoà bình lập lại, theo yêu cầu của bạn, Việt Nam đã giúp Lào giảiquyết một số yêu cầu cấp bách để mau chóng ổn định sản xuất và đời sống

Đồng thời xúc tiến điều tra cơ bản chuẩn bị các mặt cho việc phát huy khảnăng phát triển kinh tế sau giải phóng Thời kỳ này chuyển từ quan hệ hợp táctrên các lĩnh vực chủ yếu nh chính trị - quân sự sang hợp tác toàn diện màtrọng tâm là hợp tác chính trị - an ninh - kinh tế - văn hoá, trong đó hợp táckinh tế đợc hai tỉnh chú trọng trong nông - lâm nghiệp và thuỷ lợi

Sau khi giành độc lập, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, lơngthực, thực phẩm, những nhu cầu tối thiểu nhất phục vụ đời sống của nhân dânKhăm Muộn nói riêng và nhân dân Lào nói chung đều thiếu thốn một cáchnghiêm trọng Theo chỉ thị từ trung ơng xuống, các địa phơng của Việt Namngoài nhiệm vụ viện trợ một phần lơng thực, thực phẩm cho địa phơng bạn thìquan trọng hơn cả là phải giúp bạn phát triển ngành nông - lâm nghiệp bền

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Axanay Vilaihangs (2002), "Hợp tác Lào - Việt trong lĩnh vực kinh tế - văn hóa và khoa học kỹ thuật" Hội thảo 25 năm quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào và 40 năm quan hệ ngoại giao hai nớc, Học viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao, tr. 1 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác Lào - Việt trong lĩnh vực kinh tế - văn hóa và khoa học kỹ thuật
Tác giả: Axanay Vilaihangs
Năm: 2002
[2]. Lan Anh (1997), "Quan hệ Việt Nam - Lào không ngừng mở rộng" Tuần báo Quan hệ quốc tế, 255 số (48), tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam - Lào không ngừng mở rộng
Tác giả: Lan Anh
Năm: 1997
[3]. Vũ Thị Vân Anh (2007), "Nguyên nhân và các đợt di dân của ngời Việt đến Lào" Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á số (4), tr. 37 - 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân và các đợt di dân của ngời Việt đến Lào
Tác giả: Vũ Thị Vân Anh
Năm: 2007
[4]. Trịnh Duy Bá (biên dịch 2002), "Đối thoại với các nền văn hóa Lào", Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại với các nền văn hóa Lào
Nhà XB: Nxb Trẻ
[5]. Nguyễn Đình Bá (2002), "Hợp tác đầu t Việt Nam - Lào - thực trang và giải pháp" Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á số (4), tr. 44 - 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác đầu t Việt Nam - Lào - thực trang và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Đình Bá
Năm: 2002
[6]. Báo cáo số 37-Ban công tác miền Tây T-W. Tình hình số liệu 10năm từ “ 1963 - 1975 tỉnh Khăm Muộn , ” TTLT Quân khu 4, Tháng 8, tr. 1 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình số liệu 10năm từ"“"1963 - 1975 tỉnh Khăm Muộn
[7]. Báo cáo số 3 - BC/UB ngày 7/9/1989 của HĐND tỉnh Quảng Bình "Tình hình biên giới thuộc tỉnh Quảng Bình" TTLT Quảng Bình, tr.1 - 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình biên giới thuộc tỉnh Quảng Bình
[8]. Báo cáo số 24 - BC/UB ngày 26/12/1991 của HĐND tỉnh Quảng Bình "Về việc tiếp nhận ngời Việt Nam tự tiện di c và vợt biên trái phép sang Lào bạn đã trao trả và ngời quê Quảng Bình c trú bất hợp pháp tại tỉnh Khăm Muộn - Lào" TTLT Quảng Bình, tr. 1 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc tiếp nhận ngời Việt Nam tự tiện di c và vợt biên trái phép sang Lào bạn đã trao trả và ngời quê Quảng Bình c trú bất hợp pháp tại tỉnh Khăm Muộn - Lào
[9]. Báo cáo Số 10 - BC/UB ngày 23/6/1993 của UBND tỉnh Quảng Bình "Về việc thi hành hiệp định biên giới quốc gia CHXHCN Việt Nam - CHDCND Lào ở tỉnh Quảng Bình" TTLT Quảng Bình, tr. 1 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thi hành hiệp định biên giới quốc gia CHXHCN Việt Nam - CHDCND Lào ở tỉnh Quảng Bình
[10]. Báo cáo số 11 - BC/UB ngày 30/6/1994 của UBND tỉnh Quảng Bình "Về việc thực hiện hiệp định quy chế biên giới và biên bản cuộc họp biên giới Việt Nam - Lào lần thứ 3 tháng 7/1993 ở tỉnh Quảng Bình" TTLT Quảng B×nh, tr. 1 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thực hiện hiệp định quy chế biên giới và biên bản cuộc họp biên giới Việt Nam - Lào lần thứ 3 tháng 7/1993 ở tỉnh Quảng Bình
[11]. Báo cáo số 19 - BC/UB ngày 18/6/1997 của UBND tỉnh Quảng Bình "Sơ kết 01 năm thực hiện hiệp định quy chế biên giới và biên bản cuộc họp lần thứ 6 giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào" TTLT Quảng B×nh, tr.1 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 01 năm thực hiện hiệp định quy chế biên giới và biên bản cuộc họp lần thứ 6 giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào
[12]. Báo cáo số 20 - BC/UB ngày 26/6/1997 UBND tỉnh Quảng Bình "Tình hình thực hiện việc hợp tác giữa tỉnh Quảng Bình - Việt Nam với tỉnh Khăm Muộn - Lào vừa qua và công việc hợp tác sắp tới" TTLT Quảng B×nh, tr.1 - 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện việc hợp tác giữa tỉnh Quảng Bình - Việt Nam với tỉnh Khăm Muộn - Lào vừa qua và công việc hợp tác sắp tới
[13]. Báo cáo số 41 - BC/UB ngày 24/12/1997 UBND tỉnh Quảng Bình "Tình hình thực hiện việc hợp tác giữa tỉnh Quảng Bình với tỉnh Khăm Muộn và tỉnh Savanakhẹt, Lào năm 1997 và hớng hợp tác năm 1998" TTLT Quảng Bình, tr.1 - 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện việc hợp tác giữa tỉnh Quảng Bình với tỉnh Khăm Muộn và tỉnh Savanakhẹt, Lào năm 1997 và hớng hợp tác năm 1998
[14]. Báo cáo số 20 - BC/UB ngày 30/6/1998 UBND tỉnh Quảng Bình "Tình hình hoạt động đối ngoại 6 tháng đầu năm 1998, tình hình và kết quảhoạt động trên các lĩnh vực". TTLT Quảng Bình, tr. 1 - 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T×nh hình hoạt động đối ngoại 6 tháng đầu năm 1998, tình hình và kết quả hoạt động trên các lĩnh vực
[15]. Báo cáo số 24 - BC/UB ngày 08/7/1989 của UBND Tỉnh Quảng Bình "Sơ kết 1 năm thực hiện hiệp định quy chế biên giới và biên bản cuộc họp lần thứ 7 giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào" TTLT Quảng Bình, tr.1 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 1 năm thực hiện hiệp định quy chế biên giới và biên bản cuộc họp lần thứ 7 giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào
[16]. Báo cáo số 22 - BC/UB ngày 25/5/1999 của UBND Tỉnh Quảng Bình "Sơ kết 1 năm thực hiện quy chế biên giới và biên bản các cuộc họp lần thứ 8 và biên bản cuộc họp bất thờng giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào" TTLT Quảng Bình, tr. 1 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ kết 1 năm thực hiện quy chế biên giới và biên bản các cuộc họp lần thứ 8 và biên bản cuộc họp bất thờng giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào
[17]. Báo cáo số 42 - BC/UB ngày 21/9/1999 UBND tỉnh Quảng Bình "Tổng kết quá trình thực hiện quy chế khu vực biên giới " TTLT Quảng Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết quá trình thực hiện quy chế khu vực biên giới
[18]. Báo cáo số 69 - BC/UB ngày 20/12/1999 UBND tỉnh Quảng Bình "Tổng kết 10 năm thực hiện hiệp định về quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào 01/3/1990 - 01/3/2000" TTLT Quảng Bình, tr. 1 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 10 năm thực hiện hiệp định về quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào 01/3/1990 - 01/3/2000
[19]. Báo cáo số 67 - BC/UB ngày 25/4/2000 của phòng đối ngoại UBND tỉnh Quảng Bình "Tình hình hoạt động đối ngoại tháng 4/2000" TTLT Quảng B×nh, tr. 1 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình hoạt động đối ngoại tháng 4/2000
[20]. Báo cáo số 28 - BC/UB ngày 23/5/2000 của UBND tỉnh Quảng Bình "Tình hình thực hiện biên bản cuộc họp lần thứ IX giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào" TTLT Quảng Bình tr. 1 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thực hiện biên bản cuộc họp lần thứ IX giữa đoàn đại biểu biên giới Việt Nam - Lào

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BảNG 2.1: Kim ngạch buôn bán hai chiều - Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh quảng bình ( CHXHCN việt nam )   khăm muộn ( CHDCND lào ) giai đoạn 1976   2006
2.1 Kim ngạch buôn bán hai chiều (Trang 55)
Bảng 3.1. Hàng hoá từ khăm muộn xuất khẩu sang Quảng Bình. - Quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh quảng bình ( CHXHCN việt nam )   khăm muộn ( CHDCND lào ) giai đoạn 1976   2006
Bảng 3.1. Hàng hoá từ khăm muộn xuất khẩu sang Quảng Bình (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w