Mục đích của đề tài - Có được dẫn liệu cơ bản về đặc điểm sinh học của cá Đối lá Mugil kelaartii Gunther, 1861 ở Sông Gianh – tỉnh Quảng Bình... Những kết quả đã nghiên cứu về đặc tính s
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 6
2 Mục đích của đề tài 6
TỔNG QUAN 8
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ 8
1.1 Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam 8
1.2 Tình hình nghiên cứu cá ở Quảng Bình 12
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 14
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 16
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 16
2.2.2.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại: 16
2.2.2.2 Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá: 17
2.2.2.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá: 18
2.2.2.4 Nghiên cứu về sinh sản của cá: 18
2.2.2.5 Nghiên cứu về sinh thái phân bố của loài cá Đối lá 19
2.2.2.6 Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp khả thi phát triển bền vững nguồn lợi cá 19
2.2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu: 19
CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI 20
3.1 Điều kiện tự nhiên 20
3.1.1 Vị trí địa lý 20
3.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 20
3.1.2.1 Nhiệt độ 22
3.1.2.2 Độ ẩm 23
3.1.3.3 Lượng mưa 23
3.1.3.4 Số giờ nắng – lượng bốc hơi 24
Trang 23.1.3.5 Gió và hướng gió 24
3.1.4 Chế độ thủy văn 25
3.1.4.1 Đặc điểm thuỷ văn 25
3.1.4.2 Đặc điểm về chế độ thuỷ triều 25
3.1.4.3 Hải lưu 25
3.1.4.4 Độ mặn 26
3.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA QUẦN XÃ 26
3.2.1 Thực vật thủy sinh 26
3.2.2 Động vật thủy sinh 26
3.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VEN BỜ SÔNG GIANH 27
3.3.1 Dân số, lao động 27
3.3.2 Mức sống, thu nhập, trình độ dân trí 27
3.3 3 Giáo dục, y tế 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 29
4.1 ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG CỦA CÁ ĐỐI LÁ 29
4.1.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng 29
4.1.2 Cấu trúc tuổi của quần thể 31
4.1.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá Đối lá 32
4.2 ĐẶC TÍNH DINH DƯỠNG CỦA CÁ ĐỐI LÁ 34
4.2.1 Thành phần thức ăn của cá Đối lá 34
4.2.2 Cường độ bắt mồi của cá Đối lá 36
4.2.2.1 Cường độ bắt mồi của cá theo thời gian 36
4.2.2.2 Cường độ bắt mồi của cá theo tuổi 38
4.2.3 Hệ số tích lũy chất dinh dưỡng 39
4.2.3.1 Độ mỡ của cá Đối lá theo thời gian 39
4.2.3.2 Hệ số béo 41
4.3 ĐẶC TÍNH SINH SẢN CỦA CÁ ĐỐI LÁ 42
4.3.1 Đặc điểm phát triển của tuyến sinh dục 42
4.3.2 Tỷ lệ đực cái theo nhóm tuổi của cá Đối lá 47
4.3.3 Sự chín muồi sinh dục theo nhóm tuổi của cá Đối lá 48
4.3.4 Thời gian sinh sản của cá Đối lá 49
Trang 34.3.5 Sức sinh sản của cá Đối lá 51
4.4 SINH THÁI PHÂN BỐ CỦA CÁ ĐỐI LÁ 52
4.4.1 Sự phân bố của cá Đối lá trong các thủy vực theo thời gian 52
4.4.2 Sự phân bố của cá Đối lá theo không gian 55
4.4.2.4 Phân bố cá Đối lá con ở sông Gianh- tỉnh Quảng Bình 57
4.5 TÌNH HÌNH KHAI THÁC CÁ ĐỐI LÁ 58
4.5.1 Ngư cụ khai thác cá Đối lá 58
4.5.2 Sản lượng khai thác cá Đối lá 60
4.5.3 Một số giải pháp phát triển nguồn lợi cá Đối lá ở Sông Gianh 63
4.5.3.1 Vấn đề quản lý khai thác và nuôi thủy sản của tỉnh Quảng Bình 63
4.5.3.2 Một số giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi cá Đối lá 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 67
A KẾT LUẬN 67
B ĐỀ NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các vùng thu mẫu ở sông Gianh 15
Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình ngày các tháng trong năm 2012 ở sông Gianh 23
Bảng 3.2 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2012 ở sông Gianh 23
Bảng 3.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2012 tại sông Gianh 24
Bảng 3.4 Số giờ nắng trung bình các tháng trong năm 2012 tại sông Gianh 24
Bảng 3.5 Dân số và mật độ dân số các huyện ven bờ sông Gianh năm 2012 27
Bảng 3.6 Thu nhập bình quân lao động trong lĩnh vực thủy sản 28
Bảng 4.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng theo từng nhóm tuổi 29
Bảng 4.2 Cấu trúc tuổi của quần thể cá Đối lá 31
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng hằng năm về chiều dài của cá Đối lá 33
Bảng 4.4 Các thông số sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Đối lá 34
Bảng 4.5 Thành phần thức ăn của cá Đối lá 35
Bảng 4.6 Độ no của cá Đối lá qua các tháng nghiên cứu 37
Bảng 4.7 Độ no của cá Đối lá theo độ tuổi 38
Bảng 4.8 Mức độ tích lũy mỡ của cá Đối lá theo tháng nghiên cứu 40
Bảng 4.9 Hệ số béo của cá Đối lá theo từng nhóm tuổi 41
Bảng 4.10 Tỷ lệ đực cái chia theo nhóm tuổi của cá Đối lá 47
Bảng 4.11 Các giai đoạn chín muồi sinh dục theo nhóm tuổi của cá Đối lá 48
Bảng 4.12 Các giai đoạn chín muồi sinh dục theo tháng của cá Đối lá 50
Bảng 4.13 Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá Đối lá 51
Bảng 4.14 Sản lượng cá Đối lá khai thác theo mùa 54
Bảng 4.15 Năng suất khai thác trung bình cá Đối lá theo mùa trong năm 57
Bảng 4.16 Số lượng, chủng loại ngư cụ phân theo địa bàn tại các điểm thu mẫu 59
Bảng 4.17 Số ngày và sản lượng trung bình cá Đối lá khai thác theo tháng 60
Bảng 4.18 Sản lượng và năng suất bình quân khai thác cá Đối lá tại SG8 – SG10 62
Bảng 4.19 Sản lượng và năng suất bình quân khai thác cá Đối lá tại SG4-SG7 62
Bảng 4.20 Sản lượng và năng suất bình quân khai thác cá Đối lá tại SG1-SG3 63
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hình thái cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861) 14
Hình 2.2 Sơ đồ các vùng lấy mẫu ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình 15
Hình 4.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đối lá 30
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ (%) số lượng cá thể cả cá Đối lá theo từng nhóm tuổi 32
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) các nhóm thức ăn của cá Đối lá 36
Hình 4.4 Biểu đồ các bậc độ no của cá Đối lá theo các tháng nghiên cứu 38
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện độ no của cá Đối lá theo nhóm tuổi 39
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện mức độ tích lũy mỡ của cá Đối lá qua các tháng 41
Hình 4.7 Lát cắt tinh sào ở GĐ I 37
Hình 4.8 Lát cắt buồng trứng ở GĐ I 42
Hình 4.9 Lát cắt tinh sào ở GĐ II 38
Hình 4.10 Lát cắt buồng trứng ở GĐ I 43
Hình 4.11 Lát cắt tinh sào ở GĐ III 39
Hình 4.12 Lát cắt buồng trứng ở GĐ III 44
Hình 4.13 Lát cắt tinh sào ở GĐ IV 40
Hình 4.14 Lát cắt buồng trứng ở GĐ IV 45
Hình 4.15 Lát cắt tinh sào ở GĐ V 41
Hình 4.16 Lát cắt tinh sào ở GĐ V 46
Hình 4.17 Lát cắt tinh sào ở GĐ VI 42
Hình 4.18 Lát cắt tinh sào ở GĐ VI 47
Hình 4.19 Biểu đồ tỷ lệ đực – cái của cá Đối lá theo nhóm tuổi 48
Hình 4.20 Biểu đồ biểu hiện sự chín muồi sinh dục của cá Đối lá theo nhóm tuổi.49 Hình 4.21 Biểu đồ thể hiện các giai đoạn chín muồi sinh dục của cá Đối lá theo tháng 50
Hình 4.22 Sơ đồ phân bố của cá Đối lá ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình 54
Hình 4.23 Đồ thị sản lượng khai thác cá Đối lá theo mùa 55
Hình 4.24 Sơ đồ phân bố cá Đối lá ở dọc sông Gianh vào mùa mưa 56
Hình 4.25 Sơ đồ phân bố cá Đối lá ở dọc sông Gianh vào mùa khô 56
Hình 4.26 Sơ đồ phân bố cá Đối lá con ở sông Gianh – tỉnh Quảng Bình 58
Hình 4.27 Biểu đồ số lượng các loại ngư cụ phân theo địa bàn tại các điểm thu mẫu 59
Hình 4.28 Sản lượng của cá Đối lá khai thác theo tháng 61
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sông Gianh là một con sông chảy trên địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn
từ khu vực ven núi Cô Pi cao 2.017m thuộc dãy trường sơn, chảy qua địa phận cáchuyện Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch và đổ ra biển Đông tại cửa Gianh
Dòng chảy ở thượng nguồn theo hình chữ V với hướng chủ đạo là Tây Nam Đông Bắc Từ điểm giáp ranh ba xã Thanh Thạch, Hương Hóa, Kim Hóa bắt đầuchảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam Tới ranh giới hai xã Kim Hóa và Lệ Hóa nótiếp nhận thêm nước từ một chi lưu nhỏ phía hữu ngạn, chảy về từ phía tây Phíadưới thị trấn Ba Đồn khoảng 3 km, sông Gianh tiếp nhận thêm nước từ chi lưu phíahữu ngạn, chảy ra từ khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng Sông Gianh là nơi cung cấpnguồn lợi thủy sản rất lớn cho nhu cầu thực phẩm của nhân dân trong vùng cũngnhư xuất khẩu Nguồn lợi động vật nói chung và cá nói riêng ở đây rất phong phú –thành phần loài động vật cũng như thành phần loài cá khá đa dạng Chúng có vai trò
-rất quan trọng trong đời sống hàng ngày Đặc biệt là cá Đối lá (Mugil kelaartii
Gunther, 1861), không chỉ là món ăn quen thuộc được mọi người ưa thích, mà còn
là nguồn thực phẩm toàn diện và giàu đạm cần cho sự phát triển trí tuệ và thể chấtcủa con người Chính vì lợi ích đó mà con người không ngừng tác động đến nguồnlợi, tạo sức ép khai thác lớn đối với cá Đối lá, làm ảnh hưởng đến sự phân bố, suygiảm số lượng quần thể
Để góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá Đối lá, một trong những vấn
đề quan trọng là phải chủ động nguồn giống, hướng được sự sinh sản tự nhiên của
cá vào sinh sản nhân tạo Muốn vậy, cần phải có những nghiên cứu về đặc điểmsinh học sinh sản và sinh thái của loài Đề xuất được những giải pháp bảo vệ nguồnlợi, khai thác và sử dụng hợp lý loài cá kinh tế này
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861)
ở Sông Gianh, tỉnh Quảng Bình”
2 Mục đích của đề tài
- Có được dẫn liệu cơ bản về đặc điểm sinh học của cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861) ở Sông Gianh – tỉnh Quảng Bình.
Trang 7- Đánh giá được đặc điểm sinh thái phân bố của cá Đối lá (Mugil kelaartii
Gunther, 1861) ở vùng ven biển tỉnh Quảng Nam
- Tìm hiểu tình hình khai thác, đề xuất các giải pháp khả thi trong việc bảo
tồn và phát triển bền vững nguồn lợi cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861).
Nội dung nghiên cứu
- Các chỉ tiêu về hình thái, phân loại cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861)
- Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá
- Nghiên cứu đặc tính dinh dưỡng của cá
- Nghiên cứu đặc tính sinh sản của cá
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái phân bố của loài
- Nghiên cứu tình hình khai thác, đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng hợp lýnguồn lợi
Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần phụ, luận văn được trình bày trong 81 trang, bố cục bao gồm cácphần sau:
* MỞ ĐẦU
* NỘI DUNG: gồm bốn chương
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Điều kiện tự nhiên và xã hội
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
* KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC
Trang 8TỔNG QUAN Chương 1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ
1.1 Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam
Việt Nam có chiều dài bờ biển rất dài, khoảng 3.260 km, có hệ thống sôngngòi dày đặc, nhiều ao hồ, đầm phá , nên có tiềm năng lớn về nguồn lợi thuỷ sản
Các công trình nghiên cứu về cá ở nước ta bắt đầu muộn hơn so với các nướctiên tiến, nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng kể Theo Bộ Thủy sản (1996),công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở Việt Nam là của H.E Sauvage(1881), công bố trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một sốloài mới ở Đông Dương” Trong báo cáo của mình, ông đã thống kê được 139 loài cáchung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam Đến năm
1884, ông thu thập và công bố thêm 10 loài cá nước ngọt ở Hà Nội, trong đó có 7 loàimới [8], [9] Trong thời gian này nhiều công trình nghiên cứu khác về cá nước ngọt ởViệt Nam cũng được công bố nhưng chủ yếu là của các tác giả người nước ngoài, tiêubiểu là: L Vaillant (1891) đã thu thập ở Lai Châu được 6 loài cá và mô tả 4 loài mới.Năm 1904, ông thu thập ở sông Kỳ Cùng được 5 loài, trong đó có 01 loài mới Năm
1907, kết quả phân tích mẫu cá thu thập ở Hà Nội của Đoàn thường trực Khoa họcĐông Dương đã công bố 29 loài và mô tả 2 loài mới và đến năm 1934 công bố thêm
33 loài mới [56]
Từ năm 1930 đến năm 1937, P Chevey đã có công trình nghiên cứu cá ở các
sông suối miền Bắc Việt Nam và phát hiện ra sự có mặt của cá Chình nhật (Anguilla japonica) ở sông Hồng Đặc biệt là vào năm 1937, P Chevey và J Lemasson đã công
bố công trình nghiên cứu tổng hợp cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam : “Góp phầnnghiên cứu về các loài cá nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam” Công trình này giới thiệu
98 loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam thuộc 17 họ và được xem là công trình tổnghợp đầy đủ nhất lúc bấy giờ [56] Nhiều tác giả nước ngoài khác như J Henry (1865),Pellagin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934), P Worman (1925), Gruvel (1925), P.Chabanaud (1926), R Bourret (1927), … cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về cá
ở các sông suối và đầm phá ven biển ở nước ta [8]
Trang 9Có thể nói thời kì đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, nghiên cứu cá nướcngọt ở Việt Nam đều do người nước ngoài tiến hành Các mẫu chuẩn phần lớn lưutrữ tại viện bảo tàng Paris Thời kỳ này mới dừng lại ở mức độ mô tả, thống kêthành phần loài, còn nghiên cứu về nguồn lợi chưa được thực hiện.
Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), việc nghiên cứu cá
bị gián đoạn Khi hòa bình lặp lại, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955 – 1975),việc nghiên cứu cá được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành [2]
Trong giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra cơ bản sinh vật nước ngọt nộiđịa nói chung, cá nói riêng ở miền Bắc Việt Nam do các cơ quan: Trạm nghiên cứuthủy sản nước ngọt Đình Bảng thuộc tổng cục Thủy sản (nay là Bộ Thủy sản), KhoaSinh học Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Khoa Nuôi trồng Thủy sản TrườngĐại học Thủy sản thực hiện [9] Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của cáctác giả như: Mai đình Yên (1960, 1962, 1964, 1966, 1969) [57], [58]; Hoàng ĐứcĐạt (1964) chủ yếu nghiên cứu về khu hệ và một số đặc điểm sinh học của các loài
cá miền Bắc [9]
Trong thời kỳ này, ở miền Nam cũng có một số công trình do cán bộ khoahọc Việt Nam và người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu(1964); Fourmanvir (1965); M Yamamura (1966); Kawamoto, Nguyễn ViếtTrương và Trần Thị Túy Hoa (1972); Y Taki (1975) [63]
Cũng trong thời kỳ này, cùng với các nghiên cứu về khu hệ, các công trìnhnghiên cứu về sinh học, sinh thái học cũng được chú ý nhiều hơn Tiêu biểu có cáctác giả: Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên (1960): Sinh học và giá trị kinh tế cá Mòisông Hồng; Nguyễn Dương (1963): Sinh học cá Ngạnh sông Lô; Mai Đình Yên(1964): Đặc điểm sinh học các loài cá sông Hồng; Mai Đình Yên (1966): Đặc điểmsinh học một số loài cá ruộng ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam [57]
Công tác điều tra nguồn lợi về nghề cá thời kỳ này cũng được tiến hành ởmột số thủy vực: Trần Công Tam (1959): Nguồn lợi thủy sinh vật chủ yếu của sôngHồng; Mai Đình Yên (1963): Ý nghĩa kinh tế ngư giới sông Hồng; Nguyễn VănHảo (1964): Nguồn lợi cá hồ Ba Bể; Nguyễn Anh Tạo (1964): Nguồn lợi thủy sảncủa sông Lạch Trường và sông Mã [8], [57]
Trang 10Từ 1975 đến nay, công tác điều tra nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi
cả nước do Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản (NCNTTS) I Bắc Ninh, ViệnNCNTTS II thành phố Hồ Chí Minh, Viện NCNTTS III Nha Trang thuộc Bộ Thuỷsản tổ chức thực hiện Ngoài ra còn có sự tham gia của các nhà khoa học thuộc cáctrường đại học như: Đại học Nha Trang, Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Tổnghợp thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ, Trường Đại học sư phạm I Hà Nội,Đại học Tổng hợp Huế, Đại học sư phạm Vinh Nghệ An,
Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các tỉnh phía Nam, các kết quảtiêu biểu gồm: Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương, đã thống kê
58 loài [6]; Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần loài cá sông ThuBồn (85 loài), sông Trà Khúc (47 loài), sông Vệ (34 loài), sông Côn (43 loài), sông Ba(48 loài), sông Cái (25 loài) [59]; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn VănThiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông: sông Tiền,sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (255 loài) [60]
Hai công trình mang tính tổng hợp những kết quả nghiên cứu của các thời kỳtrước được công bố là: “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” củaMai Đình Yên (1978) đã lập danh mục, mô tả chi tiết, lập khóa định loại, đặc điểmphân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc nước ta [56] và
“Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” do Mai Đình Yên cùng các cộng sựNguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992)gồm 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [60]
Những kết quả đã nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến cáccông trình của các tác giả: Võ Văn Phú và Đặng Thị Diệu Tâm (1978): Đặc tínhsinh học của một số loài cá có giá trị kinh tế ở đầm phá Thừa Thiên Huế [20];
Nguyễn Duy Hoan (1979): Đặc điểm sinh học của cá Quả (Ophiocephalus striatus);
Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú (1980): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá Dìa
(Siganus guttatus) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế; Võ Văn Phú (1991): Dẫn liệu
về đặc tính sinh học của một số loài cá kinh tế ở vùng đầm phá, tỉnh thừa Thiên Huế[29]; Võ Văn Phú (1991): Góp phần tìm hiểu đặc tính sinh học của cá Mòi Cờ chấm
(Konosirus punctatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [30]; Nguyễn Văn Hảo,
Nguyễn Hữu Dực (1994): Thành phần loài của một số thuỷ vực ở Tây Nguyên (82
Trang 11loài); Võ Văn Phú (1994): Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá Căng bốn sọc
(Pelates quadrilineatus) ở vùng đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế [31]; Võ Văn Phú
(1995): Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của 10 loài cá kinh tế ở hệ đầm phá, tỉnhThừa Thiên Huế [32]; Võ Văn Phú, Đặng Thị Thu Hiền, Phan Văn Cư (1996): Đặc
điểm sinh học của cá Móm gai dài (Gerres filamentosus Cuvier) ở hệ đầm phá tỉnh
Thừa Thiên Huế [29]; Vũ Trung Tạng (1997): Thành phần các loài cá ở đầm Trà Ồ
và sự biến đổi của nó liên quan tới diễn thế của đầm; Nguyễn Duy Chinh và Võ VănPhú (1998): Sức sinh sản của cá Rô phi vằn đơn tính trong ao nuôi ở vùng Thuận
An, tỉnh Thừa Thiên Huế; Sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá Sặc Rằn
(Trichogaster pertoralis Regan) của Lê Như Xuân và Nguyễn Trọng Nho (1999); Đặc tính sinh sản của cá Dầy (Cyprinus centralus) của Võ Văn Phú và Hồ Thị Hồng
(2001) [33]; Nguyễn; Tác dụng của 17α – Hydroxy – 20β – Dihydroprogesteron
(17,20p) lên sự chín và rụng trứng in vivo của cá Trôi Ấn Độ (Labeo rohita) của Lê
Văn Dân, Nguyễn Tường Anh và Võ Văn Phú (2007) [5] Nguyễn Phi Nam, LêĐức Ngoan, Lê Văn Dân (2007): Kết quả bước đầu nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá
Dầy (Cyprinus centralus) [23] Các nghiên cứu của Võ Văn Phú cùng Huỳnh Quang Huy (2007): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Diếc (Carassius auratus)
ở thủy vực Thừa thiên Huế; Dương Thị Nga (2008): Nghiên cứu đặc điểm sinh học
của cá Nâu –Scatophagus argus Linnaeus, ở đầm phá Thừa Thiên Huế; Biện Văn
Quyền (2008): Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tình hình khai thác loài cá Ong
Căng (Terapon jarbua Forsskal, 1775) ở đầm phá và vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên
Huế; Phan Thị Hạnh Nguyên (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tình hình
khai thác cá Đối Lá (Mugil kelaartii Günther, 1861) ở đầm phá Thừa Thiên Huế
[25]; Nguyễn Ngọc Thôi (2009): Nghiên cứu đặc tính sinh học của cá Dìa Tro
(Siganus fuscescen Houttuyn, 1782) ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa
Thiên Huế; Võ Thị Bảo Ý (2009): Nghiên cứu đặc điểm sinh học loài cá Đối nhọn
(Mugil strongylocephalus Richardson, 1846) ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế [55];
Lê Thị Hoàn (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chỉ Vàng –Selaroides leptolepis (Cuvier, 1833) ở vùng biển Thừa Thiên Huế [11]; Lê Văn Dân (2010): Đặc
tính sinh sản, kích thích chín và rụng trứng bằng SteroidC21 trên cá Trắm Cỏ và cáTrôi Ấn Độ; Nguyễn Thị Phi Loan, Võ Văn Phú, Vũ Trung Tạng (2010): “ Đặc tính
Trang 12sinh trưởng của cá Tráp vây vàng (Acanthopagrus latus) tại đầm Ô Loan, tỉnh Phú
Yên [18] Lê Thị Hoàn (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Chỉ Vàng
(Selaroides leptolepis) ở vùng biển Thừa Thiên Huế [11] ; Lê Văn Dân (2010): Đặc
tính sinh sản, kích thích chín và rụng trứng bằng SteroidC21 trên cá Trắm Cỏ và cáTrôi Ấn Độ; Võ Văn Thiệp (2011): Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá Đục
(Sillago sihama) ở vùng ven biển Quảng Trị; Trần Văn Phước, Nguyễn Đình Trung,
Võ Thành Đạt, Hà Lê Thị Lộc (2012): Ảnh hưởng của thức ăn và độ mặn đến sinh
trưởng và tỷ lệ sống cá Khoanh cổ đỏ (Amphirion fernatus) dưới 60 ngày tuổi; Trần Văn Cường (2012): Tuổi và sinh trưởng của cá Miễn sành gai (Evynnis cardinalis) ở
vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ; Cao Ngọc Hải (2012): Nghiên cứu đặc điểm sinh
học của cá Bóng Thệ (Oxyurichthys tentacularis) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa
Thiên Huế; Lê Thị Hương (2012): Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Mòi cờ
chấm (Konosirus punctatus) ở Tam Giang – Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế [14]…
Đây là những tư liệu quý về sinh học, sinh thái, sinh lý các loài cá kinh tế nội địaViệt Nam
1.2 Tình hình nghiên cứu cá ở Quảng Bình
Vào năm 1977, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Quảng Bìnhtrong một cuộc điều tra về hiện trạng khu bảo tồn ở Phong Nha – Kẻ Bàng đã xácđịnh được 61 loài cá thuộc 32 họ của 11 bộ, trong đó có 35 loài cá kinh tế, 4 loàiphân bố hẹp Sau đó, một nhóm các tác giả như: Hồ Thanh Hải, Đặng Ngọc Thanh,Nguyễn Kiêm Sơn, Phan Văn Mạnh, Lê Hùng Anh, Nguyễn Khắc Đỗ, Dương NgọcCường trong một cuộc khảo sát về môi trường nước và khu hệ thuỷ sinh vật ở cácthuỷ vực động Phong Nha, tỉnh Quảng Bình đã thu được 36 loài thuộc 17 họ của 9
bộ cá Như vậy, cuộc điều tra này đã xác định thêm 7 loài mới ở Phong Nha và mộtloài mới cho nước ta Cũng vào năm này, nhóm tác giả Nguyễn Thái Tự, Lê ViếtThắng, Nguyễn Xuân Khoa đã tiến hành nghiên cứu khu hệ cá ở khu vực PhongNha – Kẻ Bảng, tỉnh Quảng Bình và phát hiện thêm hai loài mới tại Phong Nha –
Kẻ Bàng, đó là loài Lissochilus yeni và Lissochilus carongensis [37].
Năm 2003, nhóm tác giả gồm Võ Văn Phú, Trương Thu Hà, Hoàng ThịThuý Liễu thực hiện công trình: “Nghiên cứu cấu trúc về thành phần các loài cá
Trang 13ở sông Nhật Lệ” đã xác định được 169 loài nằm trong 103 giống thuộc 63 họ của
17 bộ
Năm 2007, Hồ Thị Nhi Min, “Nghiên cứu đa dạng sinh học về thành phần loài
cá ở hệ thống sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” đã xác định được 216 loài trong 132giống thuộc 63 họ của 17 bộ khác nhau Công trình này đã bổ sung được 47 loài mớicho thành phần loài khu hệ cá trong tổng số loài cá ở hệ thống sông Nhật Lệ [21]
Năm 2011, công trình “ Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Long Đại, tỉnhQuảng Bình” của tác giả Nguyễn Giang Nam đã xác định được 101 loài trong 69 giốngthuộc 32 họ của 10 bộ khác nhau [22] và công trình “Nghiên cứu thành phần loài cá ởsông Roòn, tỉnh Quảng Bình” của tác Trần Đại Nghĩa đã xác định được 135 loài trong
91 giống thuộc 54 họ của 17 bộ khác nhau [24]; Nguyễn Thị Diệu Hà (2011): Nghiên
cứu một số đặc điểm sinh học của cá Phèn hai sọc (Upeneus sulphureus) ở vùng ven
biển Quảng Bình
Mới đây năm 2012, công trình “Nghiên cứu khu hệ cá ở sông Gianh, tỉnhQuảng Bình” của tác giả Lê Thị Thu Phương đã xác định được 157 loài trong 97 giốngthuộc 55 họ của 18 bộ khác nhau
Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ tập trung ở một số sông trên địa bàn, còn mangtính chất nhỏ lẻ của riêng một số khu vực như Nhật Lệ, sông Ròon Trong khi đó cácnghiên cứu còn chủ yếu về thành phần loài, ít có đề tài tìm hiểu đầy đủ về đặc điểmsinh học của các loài cá kinh tế ven biển nói chung và sông Gianh nói riêng
Nhìn chung những nghiên cứu toàn diện về cá trên cả nước nói chung, ở tỉnhQuảng Bình nói riêng đang được đẩy mạnh và có những bước tiến vững chắc
Tình hình nghiên cứu cá ở Quảng Bình những năm gần đây được quan tâm
và đẩy mạnh, bước đầu đã đạt được những thành công nhất định trong việc bảo tồn
và phát triển các loài cá có giá trị kinh tế Đưa ra được các giải pháp khả thi về khaithác hợp lý, đánh bắt thủy sản theo hướng bền vững, phát triển được ưu thế củavùng duyên hải ven biển miền Trung Nuôi trồng thủy sản đạt chất lượng cao, đápứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân, giảm áp lực khai thác cá ngoài tự nhiên vàkhông làm hủy hoại cấu trúc thủy sinh vật
Trang 14Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Loài: Cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861).
+ Giống: Cá Đối thường Mugil Linnaeus
+ Họ: Cá Đối Mugilidae
+ Bộ: Cá Đối Mugiliformes
+ Lớp: Cá Xương Osteichthyes
* Mô tả: D.IV, I.8; A.III, 9; P.15; V.I, 5; C.20
Thân dài, đầu hơi to dẹp, đỉnh đầu bằng, toàn thân phủ vẩy, không có vẩyđường bên Mắt tương đối lớn, màng mỡ ít phát triển, khoảng cách giữa hai mắttương đối rộng Mõm tù, miệng hình vòng cung, góc miệng thấp hơn mắt, miệng córăng nhỏ Phần bụng màu trắng, màu lưng màu xanh biển, xanh xám Vây lưngtrước có 4 gai cứng nhỏ; vây lưng thứ hai nhỏ Vây ngực dài, bằng 2/3 chiều dàiđầu Vây hậu môn và vây bụng nhỏ.Vây đuôi phần thùy nông, hai thùy bằng nhau
Cá Đối lá phân bố rộng ở các vùng ven biển nhiệt đới Ở vịnh Bắc Bộ và ven
bờ Việt Nam đều khai thác được loài này
Hình 2.1 Hình thái cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861).
Trang 152.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng X/2012 đến tháng IX/2013.
- Địa điểm: Sông Gianh – tỉnh Quảng Bình Số vùng thu mẫu: 10 vùng thu
mẫu, các vùng thu mẫu được đánh số từ SG1→SG10, bắt đầu từ cửa biển đi ngượclên phía thượng nguồn
Bảng 1: Các vùng thu mẫu ở sông Gianh
1 Cửa Gianh – Tân Mỹ - Quảng Phúc SG1
Hình 2.2 Sơ đồ các vùng lấy mẫu ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Trang 16Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đi thực địa thu mẫu và phỏng vấn mỗitháng 2 đợt Đợt I từ ngày 2 - 6, đợt II từ ngày 19 - 23 của mỗi tháng.
* Phương pháp thu thập mẫu cá
- Thu mẫu cá Đối lá (Mugil kelaartii Gunther, 1861) bằng cách trực tiếp
đánh bắt với ngư dân, mua mẫu của các ngư dân đánh cá ở các địa điểm nghiên cứu
- Mẫu thu ngẫu nhiên nhằm đại diện cho quần thể cá đánh bắt trong thời giannghiên cứu Những thông tin liên quan đến mẫu thu như thời gian thu, địa điểm thu,phương tiện đánh bắt, … được ghi lại trong sổ nghiên cứu
- Mẫu thu được xử lý ngay khi cá còn tươi
* Phương pháp điều tra qua ngư dân
- Điều tra về tên cá (tên phổ thông, tên địa phương), kích thước và khốilượng tối đa của cá mà họ gặp, điều kiện sống, tập tính sinh học, sự phân bố
- Điều tra về biến động năng suất, sản lượng khai thác của loài; Điều tra cácngư cụ khai thác và đời sống của các ngư dân chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp
- Điều tra về năng suất sản lượng cá, mùa vụ, khả năng đánh bắt và giá trịsản phẩm
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
2.2.2.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại:
- Quan sát, mô tả các hình thái bên ngoài của cá
- Xác định các chỉ số theo hướng dẫn nghiên cứu cá của P.I Pravdin, 1963
* Các chỉ số đo:
Lt: chiều dài thân đến chạc vây đuôi; SL: chiều dài kinh tế đến hết phần phủvẩy của thùy đuôi cá; BD: chiều cao lớn nhất thân cá; HL: chiều dài đầu, từ mútmõm đến cuối xương nắp mang; AO: chiều dài mõm từ mút mõm đến cạnh trướccủa mắt; O: đường kính của mắt
* Các chỉ số đếm: đếm số lượng các tia vây cứng và các tia vây mềm: D(Dosalis): Vây lưng; A (Analis): Vây hậu môn; C (Caudalis): Vây đuôi; P(Pectolalis): Vây ngực; V (Ventralis): Vây bụng
+ Xác định khối lượng cá bằng cách cân có độ chính xác đến gram
+ Xác định kích thước cá bằng cách đo có độ chính xác đến milimet
2.2.2.2 Nghiên cứu đặc tính sinh trưởng của cá:
Trang 17* Xác định tương quan giữa chiều dài và khối lượng
- Dựa vào số đo chiều dài và khối lượng thực tế của cá để tính tương quantheo phương trình của R.J.H Beverton – S.J Holt (1956):
W = a.Lb
Trong đó: W: Khối lượng toàn thân cá (g)
L: Chiều dài toàn thân cá (cm)
7 vẩy một lần Dùng kính hiển vi có nhiều mức độ phóng đại để quan sát vòng năm
* Tốc độ tăng trưởng: sử dụng phương pháp của Rosa Lee (1920) để xác
định mức tăng trưởng chiều dài của cá Đối lá theo công thức:
Trong đó: Lt: chiều dài của cá ở tuổi t (cm)
Vt: kích thước vẩy đo trên trắc vi thị kính (từ tâm đến vòng tuổi t)V: bán kính vẩy (kích thước từ tâm đến mép vẩy)
L: chiều dài cá hiện tại (cm)a: kích thước cá bắt đầu có vẩy
* Lập phương trình sinh trưởng của cá về chiều dài và khối lượng theo Von Bertalanfly (1956)
Trong đó: L, Lt: Chiều dài tối đa của cá, chiều dài cá ở lứa tuổi t (mm)
W, Wt: Khối lượng tối đa của cá, Khối lượng cá ở lứa tuổi t (g)
Trang 18t và t0: Khoảng thời gian cá sinh trưởngb: Hệ số tương quan giữa chiều dài và khối lượng cák: Chỉ số đường cong hay hệ số phân hóa Protein trong cơ thể cá.
2.2.2.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá:
- Mẫu cá thu được phân thành 3 nhóm có kích thước khác nhau Ở mỗi nhóm,tiến hành mổ lấy nội quan các cá thể Xác định thành phần thức ăn khi mẫu vừa mổ,hoặc mẫu được ngâm vào Formol 4% để đưa vào phòng thí nghiệm phân tích
- Đếm số lượng thức ăn để xác định tần số xuất hiện cũng như các mức độtiêu hóa thức ăn của cá
- Xác định cường độ bắt mồi của cá: dựa vào độ no của dạ dày và ruột cátheo thang 5 bậc (từ bậc 0 đến bậc 4) của Lebedep
Sử dụng cả hai phương pháp của Fulton (1902) và Clark (1928) để xác định
hệ số béo của cá [32], [35]
Q = W.100/L3 (Fulton, 1902) và Q0 = W0.100/L3 (Clark, 1928)
Trong đó: W,W0 là khối lượng toàn thân và khối lượng bỏ nội quan của cá (g)
L : là chiều dài của cá đo từ mút mõn đến hết tia vây đuôi dài nhất (mm)
2.2.2.4 Nghiên cứu về sinh sản của cá:
* Xác định tỷ lệ giới tính: Phân tích số lượng cá trong từng nhóm tuổi, tỷ lệ
đực cái trong từng nhóm tuổi trên
* Xác định các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục: Xác định sơ bộ các giai
đoạn chín muồi tuyến sinh dục của cá theo thang 6 bậc của K.A.Kiselevich (1923).Trên cơ sở đó, đánh giá được thời gian đẻ trứng của cá
* Xác định sức sinh sản:
Cân khối lượng buồng trứng giai đoạn IV, lấy mẫu ở 3 vùng khác nhau trênchiều dài tuyến sinh dục để tiến hành đếm trứng Xác định sức sinh sản tuyệt đốicủa cá bằng cách đếm chính xác số lượng trứng có trong buồng trứng Cần đếm lặplại ba lần số trứng ở 3 vùng trên 1 đơn vị khối lượng bằng buồng đếm động vật để
có kết quả chính xác Dựa vào sức sinh sản tuyệt đối, tính được sức sinh sản tươngđối, đó là số lượng trứng của cá trên một đơn vị khối lượng (g) cơ thể
Sức sinh sản tương đối: s = S/W (số trứng/gam)
Trong đó : s là sức sinh sản tương đối (trứng/g)
Trang 19S: sức sinh sản tuyệt đối (tế bào trứng)W: trọng lượng thân cá.
2.2.2.5 Nghiên cứu về sinh thái phân bố của loài cá Đối lá
- Dựa vào năng suất khai thác cá Đối lá của ngư dân trên các loại ngư cụ, kếthợp với phỏng vấn, quan trắc để ghi chép số liệu Căn cứ kết quả thu được sẽ mô
phỏng vùng phân bố của loài cá Đối lá Mugil kelaartii Gunther, 1861 theo thời gian
và không gian trên các sơ đồ vùng nghiên cứu
- Nhận xét về phân bố địa lý của loài
2.2.2.6 Nghiên cứu đề xuất các nhóm giải pháp khả thi phát triển bền vững nguồn lợi cá
- Tìm hiểu tình hình khai thác, bảo vệ nguồn lợi cá ở khu vực nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi cá Đối lá
(Mugil kelaartii Gunther, 1861) ở khu vực nghiên cứu.
2.2.2.7 Phương pháp xử lý số liệu:
Số liệu sẽ được xử lý theo phương pháp thống kê và phần mềm Microsoft Exel
Trang 20Chương 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI
3.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Bình có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông chịu ảnh hưởng của giómùa Đông Bắc, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam Mùa Đông nhiệt độtrung bình 18-200C, mùa hè có nhiệt độ trung bình khoảng 25-300C Các tháng nóngnhất là tháng 4, 5 và tháng 6, vào các tháng này thường có gió Phơn Tây Nam nênrất nóng bức [50]
Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1600-1800 giờ Bức xạ nhiệt mặt trờităng dần khi đi vào phía Nam, trung bình 100-130 Kcal/cm2, tháng 5,6 có số giờnắng cao nhất (trên 200 giờ), tháng 12 có số giờ nắng thấp nhất (10 giờ) [50]
Lượng mưa trung bình khoảng 2000-3000mm Mưa thường tập trung vào cáctháng 8,9 và tháng 10, lượng mưa trung bình 500-800mm Tháng có lượng mưathấp nhất là tháng 4,5 và tháng 6, lượng mưa trung bình khoảng 50mm Mùa mưacũng là mùa lũ lụt ở Quảng Bình, lũ lụt đã gây những thiệt hại nặng nề về kinh tế vàđời sống người dân[50]
Chế độ thủy triều của biển Quảng Bình, chế độ bán nhật triều là chủ yếu.Nước ở các con sông đều có hai lần nước roòng, hai lần nước lên Độ mặn nướcbiển ở mùa hè khoảng 320/00 - 330/00, mùa mưa khoảng 300/00
3.1.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.
Khu vực nghiên cứu của chúng tôi là phần hạ lưu sông Gianh được trải dàitrên hai huyện: huyện Quảng Trạch và huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Trang 21* Huyện Quảng Trạch
Quảng Trạch là một huyện lớn thuộc phía Bắc tỉnh Quảng Bình Với địa thếtrải dài từ 17042' đến 17059' vĩ độ bắc và 106015' đến 106059' kinh độ đông PhíaĐông giáp biển Đông, phía Bắc giáp Hà Tĩnh, Phía Nam giáp sông Gianh, phía Tâygiáp Tuyên Hóa
* Huyện Tuyên Hóa
Huyện Tuyên Hoá là một huyện miền núi phía Tây bắc Quảng Bình, phíaBắc gíáp huyện Hương khê và Kỳ Anh của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện MinhHoá và nước bạn Lào, phía Nam giáp huyện Bố Trạch, phía Đông giáp huyệnQuảng Trạch của tỉnh Quảng Bình Với diện tích tự nhiên 1.149,41 km2, chiếm 1/7diện tích tỉnh Quảng Bình
* Điều kiện tự nhiên của huyện Tuyên Hóa và huyện Quảng Trạch
Hai huyện Tuyên Hóa và Quảng Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình, vì vậy mangđặc điểm khí hậu chung cho toàn tỉnh Quảng Bình[50]: nằm trong khu vực nhiệt đớigió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, vớiđặc trưng của khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam và có mùa Đông tương đốilạnh ở miền Bắc Khí hậu phân làm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Mùa mưa
từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Mưa thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 12,chiếm 80% tổng lượng mưa của cả năm nên thường gây lũ lụt trên diện rộng, lượngmưa trung bình nhiều năm cả tỉnh là 2.100 - 2.200 mm, số ngày mưa trung bình là
152 ngày/năm Nhiệt độ trung bình toàn tỉnh là 200C - 250C, được chia thành 2 mùa
rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm với nhiệt độ trung bìnhtrên 250C, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trungbình 200C Tổng nhiệt độ hàng năm khoảng 8.600 - 8.7000C, số giờ nắng trung bìnhhàng năm khoảng 1.700 - 1.800 giờ/năm
Điều kiện thời tiết bất lợi đối với khí hậu Quảng Bình nói chung và haihuyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch nói riêng là có gió Tây Nam khô nóng xuất hiệnkhoảng 100 ngày trong năm, chủ yếu tập trung trong tháng 7 kết hợp với thiếu mưagây hạn hán và bão vào mùa mưa, tập trung vào tháng 9 (37%) Bão thường đi kèmvới mưa lớn Do lãnh thổ hẹp, sông ngắn và dốc nên mùa mưa bão thường có hiện
Trang 22tượng nước dâng tạo ra lũ quét gây thiệt hại lớn về người và của, ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sản xuất nông - lâm – ngư nghiệp hàng năm[50].
Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình khoảng 83% song nhìn chungkhông ổn định Vào mùa mưa, độ ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ 10 - 15%.Thời kỳ có độ ẩm cao nhất thường xẩy ra vào những tháng cuối mùa đông nên độ
ẩm không khí rất lớn thường trên 87%
Chế độ gió: Quảng Bình chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính:
+ Gió mùa đông bắc thổi vào mùa đông chủ yếu theo hướng từ Bắc - Đông Bắc.+ Gió mùa hè chủ yếu là gió Tây nam khô nóng thổi vào mùa hè nhưng chỉxuất hiện từng đợt bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 7 Gió Tây nam khônóng gây hậu quả xấu, tần suất tốc độ gió mạnh nhất trong đạt trên 15m/s, chiếm59,6%; trên 20m/s, chiếm 39,6%; trên 25m/s, chiếm 0,8%
3.1.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những điều kiện sinh thái chi phối khá lớn đến đờisống sinh vật Sự phân bố nhiệt độ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là yếu tốkhông gian (địa hình, vị trí địa lý) và thời gian (mùa, tháng)
Nhiệt độ không khí khu vực chịu sự chi phối của khí hậu chuyển tiếp giữahai miền Nam - Bắc với miền khí hậu đặc trưng là khí hậu nhiệt đới gió mùa Khíhậu được chia thành hai mùa: mùa lạnh và mùa nóng [38]
- Mùa lạnh: Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau.Nhiệt độ trung bình ngày ổn định dưới 19,40C Thời kỳ này chịu sự chi phối của giómùa Đông Bắc
- Mùa nóng: Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 Nhiệt độ trung bìnhngày ổn định ban ngày cao hơn 21,00C Thời kỳ này chịu sự ảnh hưởng của gió TâyNam khô nóng, nhiệt độ cực đại có khi lên đến 40,70C
Tại sông Gianh, nhiệt độ trung bình ngày các tháng được thể hiện như sau:
Trang 23Bảng 3.1 Nhiệt độ trung bình ngày các tháng trong năm 2012 ở sông Gianh
Đvt: t 0 C
Tuyên Hóa 18,2 19,1 21,6 25,1 27,8 29,0 29,3 28,2 26,3 23,8 21,1 18,5 24,0Quảng Trạch 18,8 19,3 23,2 24,8 27,9 29,6 29,7 28,9 27,1 24,9 22,1 19,3 24,6
(Nguồn: Trạm khí tượng Tuyên Hóa, trạm khí tượng Ba Đồn, 2013) 3.1.2.2 Độ ẩm
Độ ẩm tuyệt đối lớn nhất tại Quảng Bình trong các tháng mùa hè (từ tháng 5đến tháng 9) đạt từ 29 đến trên 30,4 mb Độ ẩm tuyệt đối thấp nhất trong các thángchính Đông (tháng 12 đến tháng 2) đạt 19,2 đến 23,4 mb Độ ẩm không khí tươngđối cao, trung bình 84,5%, song nhìn chung không ổn định Vào mùa mưa, độ ẩmkhông khí thường cao hơn mùa khô từ 10 - 15% Thời kỳ có độ ẩm không khí caonhất của huyện thường xảy ra vào tháng cuối mùa đông [38]
Bảng 3.2 Độ ẩm trung bình các tháng trong năm 2012 ở sông Gianh
năm
Độ ẩm tuyệt đối (mb)Tuyên Hóa 19,3 20,0 22,7 26,8 29,2 29,7 29,0 29,8 29,3 26,7 22,5 19,2 25,35Quảng Trạch 19,8 19,9 23,3 27,6 29,3 29,7 30,1 30,7 30,5 27,5 23,6 23,4 26,28
Trang 24Kết quả khảo sát, đo được lượng mưa ở sông Gianh như sau:
Bảng 3.3 Lượng mưa trung bình các tháng trong năm 2012 tại sông Gianh
Đvt: mm
Tuyên Hóa 46,7 39,5 44,2 72,2 159,8 137,2 128,7 245,6 468,5 598,7 215,5 85,6 2242,2
Quảng Trạch 48,7 32,5 36,2 48,5 112,5 98,0 76,5 166,4 426,9 591,7 271,8 86,8 1996,5
(Nguồn: Trạm khí tượng Tuyên Hóa, trạm khí tượng Ba Đồn, 2013)
3.1.3.4 Số giờ nắng – lượng bốc hơi
Mùa khô từ tháng 4 kéo dài đến tháng 8, trùng với mùa khô hanh nắng gắtvới gió Tây Nam khô nóng, lượng bốc hơi lớn (960 - 1.200mm/năm) Trong mùa
lạnh lượng bốc hơi nhỏ hơn so với mùa nóng vì vậy trong các tháng từ 4 - 7
lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên thường xảy ra khô hạn, ảnh hưởng tới sự
phát triển và sinh trưởng của cây trồng
Tháng có giờ nắng cao nhất là tháng 5, tháng có giờ nắng thấp nhất là tháng
12 Trong năm, số giờ nắng tăng nhanh nhất vào tháng 4, tháng 5 và giảm tương đối
nhanh từ tháng 10 đến tháng 11, vì đây là những thời đoạn giao mùa [4], [38]
Bảng 3.4 Số giờ nắng trung bình các tháng trong năm 2012 tại sông Gianh
Đvt: giờ
Tuyên Hóa 88,5 86,3 109,2 167,8 239,8 224,1 228,6 206,5 168,5 142,1 96,7 68,5Quảng Trạch 87,5 89,2 113,4 165,5 232,9 218,6 224,9 204,8 161,3 143,2 92,9 66,3
(Nguồn: Trạm khí tượng Tuyên Hóa, trạm khí tượng Ba Đồn, 2013) 3.1.3.5 Gió và hướng gió
Chế độ gió khu vực mang tính chất chế độ nhiệt đới gió mùa, có sự phân hóasâu sắc của địa hình và chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền
Nam nước ta Có hai mùa gió chính là gió mùa Đông và gió mùa Hè
- Gió mùa Đông: Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thịnh hành là gió ĐôngBắc Do ảnh hưởng của dãy núi đèo Ngang nên thường có hướng Tây Bắc và Tây
- Gió mùa Hè: Từ tháng 5 đến tháng 10 thịnh hành là hướng gió Tây Nam
Trang 25Ngoài ra còn có hướng gió Đông và Đông Nam thổi từ biển vào Nhìn chung, gióĐông Nam có tốc độ thấp, trừ trường hợp giông bão, sức gió mạnh nhất có thể lêntới cấp 10, 11[38].
3.1.4 Chế độ thủy văn
3.1.4.1 Đặc điểm thuỷ văn
Quảng Bình có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối, hồ khádày đặc Mật độ sông suối đạt 0,8 - 1,1km/km2,tuy nhiên phân bố không đều và có
xu hướng giảm dần từ Tây sang Đông, từ vùng núi ra biển Toàn tỉnh, có 5 hệ thốngsông chính đổ ra biển là: sông Roòn, Gianh, Lý Hoà, Dinh và Nhật Lệ [12]
Nhìn chung, sông ngòi của Quảng Bình có đặc điểm chung là chiều dài ngắn
và dốc nên khả năng điều tiết nước kém, thường gây lũ kịch phát trong mùa mưa.Tốc độ dòng chảy lớn nhất là trong mùa mưa lũ; tổng lượng dòng chảy vào mùa lũchiếm từ 60 - 80% lượng dòng chảy cả năm
Sông Gianh bắt nguồn từ dãy Trường Sơn Đoạn chảy qua huyện TuyênHóa dài khoảng 70 - 80 km, chảy qua huyện Quảng Trạch dài 15 km và đổ rabiển ở cửa Gianh
3.1.4.2 Đặc điểm về chế độ thuỷ triều
Vùng biển Quảng Bình nói chung và vùng cửa Gianh nói riêng có chế độ bánnhật triều không đều, hầu hết các ngày trong tháng đều có hai lần nước lớn và hai lầnnước ròng Thời gian triều dâng thường dưới 10 giờ, thời gian triều rút từ 15 - 16 giờ
Nhờ thủy triều mà phần hạ lưu sông Gianh nhận được lượng nước từ biểnĐông, cùng với lượng nước ngọt nhận được từ sông suối chảy từ thượng nguồn về,điều này làm cho khối nước trong lòng sông Gianh luôn được xáo trộn Các hệ thốngdòng chảy điều hòa khối nước, chu chuyển đều nguồn dinh dưỡng trong sông, tạo điềukiện cho các sinh vật phát triển, phân bố khá đều trong thủy vực của sông Gianh [39]
3.1.4.3 Hải lưu
Vào mùa Hè, dòng hải lưu nóng từ phía Nam men theo bờ phía Tây vịnh Bắc
Bộ và vòng lại phía Tây đảo Hải Nam Mùa Đông, dòng hải lưu lạnh chảy theohướng ngược lại Do sự hội tụ, phân kỳ của các dòng hải lưu khi chảy vào vịnh vàvòng qua các đảo thuộc vịnh, cùng với các dòng nước từ sông đổ ra biển đã hình
Trang 26thành các dòng nước hội tụ Sự phân kỳ và vùng nước trồi tạo nên sự xáo trộn, pháttriển nguồn thức ăn cho cá, tôm [39].
Chế độ dòng chảy thay đổi theo mùa, mùa Đông do ảnh hưởng của gió ĐôngBắc dòng chảy tầng mặt có hướng Đông Tây, tốc độ 0,75 - 1,5 m/s, mùa Hè do ảnhhưởng gió Tây Nam nên dòng chảy tầng mặt có hướng Tây Đông, tốc độ 0,5 - 1m/s
Rong mái chèo(Valisneria spiralis ), Rong đốt (Najas indica),…
Thành phần loài thực vật thủy sinh ở sông Gianh là những loài có nguồn gốcnước ngọt và có sinh khối tương đối lớn Vào mùa mưa lũ (các tháng 8 -11 hàngnăm), thực vật có hoa thủy sinh có sinh khối rất thấp (0,2kg/m2 nước) do chúng bịlụy tàn sinh lý và một phần bị chết do hoạt động khai thác của con người
Tảo lớn, thực vật có hoa và thực vật bùn đáy cùng với các loài tảo phù dukhác đã tạo thành một hệ thực vật rất quan trọng Chúng sản xuất ra chất hữu cơ, là
cơ sở thức ăn ban đầu cho các động vật thủy sinh
3.2.2 Động vật thủy sinh
- Động vật nổi chủ yếu là giáp xác (Copepoda, Cladocera)
- Động vật đáy đã xác định được 16 loài gồm có giun nhiều tơ (Polychaeta),giáp xác chân đều (Isopoda), giáp xác 10 chân (Decapoda),
Cũng như động vật nổi, thành phần loài động vật đáy cũng chỉ bao gồm 2 nhóm
cơ bản, đó là các loài có nguồn gốc nước ngọt và các loài có nguồn gốc nước lợ
Tóm lại, với thành phần thực vật thủy sinh khá đa dạng và phong phú, đảmbảo cung cấp nguồn thức ăn ban đầu cho động vật thủy sinh phát triển Chúng là cơ
Trang 27sở thức ăn quan trọng trong thủy vực, góp phần cho nguồn lợi cá trong hệ thốngsông được ổn định và phát triển.
3.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VEN BỜ SÔNG GIANH
Cá từ tự nhiên được xem là nguồn cung cấp Protein không thể thiếu trongnhu cầu hàng ngày cho con người Tuy vậy, hiện nay do sức ép về dân số mà dẫnđến tình trạng khai thác bừa bãi và quá mức làm cho nguồn tài nguyên cá có nguy
cơ bị suy giảm nghiêm trọng Bên cạnh đó sự phát triển kinh tế xã hội, trình độ nhậnthức của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên chung của nhân loại là một vấn đềhết sức quan trọng, nó liên quan đến sự sống còn cũng như sự phát triển bền vữngcủa một hệ sinh thái
3.3.1 Dân số, lao động
Theo thống kê năm 2012, dân số của 4 huyện ven bờ sông Gianh - QuảngBình là 511.992 người Trong đó số lao động thủy sản là 42.804 người chiếm 8,36%tổng lao động Nhìn chung dân số của các huyện ven bờ sông Gianh phân bố khôngđều Tập trung chủ yếu tại các địa phương gần cửa sông, có điều kiện thuận lợi đểphát triển thủy sản [4],[37]
Bảng 3.5 Dân số và mật độ dân số các huyện ven bờ sông Gianh năm 2012
TT Địa phương Dân số (người) Mật độ dân số (người/km²)
áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào đánh bắt
Mặt hạn chế là phần lớn ngư dân trình độ học vấn thấp, ít được đào tạo nênviệc tiếp thu kỹ thuật, công nghệ cao còn hạn chế Điều kiện kinh tế xã hội vùngven bờ sông Gianh nói riêng và ven biển còn nhiều khó khăn, nhất là kết cấu hạtầng và dịch vụ nghề cá [4],[37]
Trang 28Bảng 3.6 Thu nhập bình quân lao động trong lĩnh vực thủy sản
Đvt: 1.000 đồng
Thu nhập BQ ngành thủy sản 1.494 1.836 2.043 2.245 2.487Thu nhập BQ của tỉnh 2.090 2.437 2.785 2.889 3.176
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Bình, 2013)
Thu nhập trong lĩnh vực thủy sản tăng đều trong giai đoạn 2008 - 2012, đờisống của người dân được cải thiện đáng kể Năm 2008, thu nhập của lao động thủysản đạt 1.494 đồng/tháng, đến năm 2012 tăng lên 2.487.000 đồng/tháng (tăng trêngần 2 lần) Tuy nhiên, so với thu nhập bình quân đầu người/tháng của tỉnh, thu nhậpbình quân ngành thủy sản vẫn thấp hơn đáng kể
lo phát triển giáo dục và đào tạo [4]
Tuy vậy, mạng lưới trường, lớp ở một số nơi còn bất hợp lý, chậm sắp xếp,điều chỉnh, gây trở ngại trong việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, kiên cố hoátrường lớp học Cơ sở vật chất của y tế còn thiếu, số bác sỹ còn ít so với mặt bằngchung của toàn tỉnh Chất lượng giáo dục toàn diện của các cấp học và chăm sóc sứckhỏe cho người dân chưa đáp ứng yêu cầu, chưa đồng đều giữa các địa phương [4]
Trang 29Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
4.1 ĐẶC TÍNH SINH TRƯỞNG CỦA CÁ ĐỐI LÁ
4.1.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng
Cá Đối lá có kích thước nhỏ, phân bố rộng ở vùng ven biển nhiệt đới, vùngcửa sông, đầm phá Cá thích nghi với điều kiện sống rộng muối, vì thế chúng phân
bố vào trong các hạ lưu sông và cửa sông, nơi có nồng độ muối thấp (30/00 - 100/00)
Kích thước cá ở sông Gianh dao động từ 52- 287mm, ứng với trọng lượng từ 168g Kích thước và khối lượng cá nằm trong 4 nhóm tuổi được thể hiện ở bảng 4.1
11-Bảng 4.1 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng theo từng nhóm tuổi
Từ bảng kết quả cho thấy:
- Ở nhóm tuổi 0+ có chiều dài dao động từ 52 – 125mm và khối lượng tươngứng là 11 – 48g, chiếm tỷ lệ 15,07%
- Ở nhóm tuổi 1+ có chiều dài dao động từ 90 – 175mm và khối lượng tươngứng là 32 – 108g, có số lượng chiếm ưu thế nhất (41,23%)
- Ở nhóm tuổi 2+ có chiều dài dao động từ 145 – 205mm tương ứng với khốilượng là 37 - 138g, chiếm tỷ lệ 25,23%
- Ở nhóm tuổi 3+ có chiều dài dao động từ 158 – 287mm tương ứng với khốilượng 102 - 168g, nhóm này có số lượng thấp nhất ( 18,47%)
Trang 30Sự sinh trưởng chiều dài và khối lượng của cá không đồng nhất, ở nhóm tuổithấp (0+, 1+), cá chủ yếu tăng nhanh về chiều dài Khi đạt đến một kích thước nhấtđịnh tương ứng với tuổi cao (2+, 3+) thì cá tăng trưởng về chiều dài chậm lại nhưngkhối lượng tăng nhanh Điều này phù hợp với đặc tính sinh trưởng cả cá nhiệt đới.
Xét mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng theo giới tính còn cho thấy
có sự khác nhau giữa cá thể đực và cá thể cái Trong từng nhóm tuổi, chiều dàitrung bình của cá cái thường lớn hơn cá đực, kéo theo khối lượng tương ứng cũngkhác nhau Khối lượng cá cái thường lớn hơn khối lượng cá đực Điều đó chứng tỏ
cá cái càng lớn thì quá trình tích lũy chất dinh dưỡng diễn ra càng mạnh hơn ở cáđực Chất dinh dưỡng ở cá cái tích lũy liên quan đến việc chuẩn bị sinh sản, tái sảnxuất chủng quần Sự tương quan về chiều dài và khối lượng của cá đực và cá cáicũng khác nhau trong từng nhóm tuổi
Sự gia tăng giữa chiều dài và khối lượng của cá diễn ra không đồng đều Sựtương quan này biến thiên theo hàm số mũ Điều đó thể hiện rõ trong phương trìnhtương quan giữa chiều dài và khối lượng cá theo Beverton – Holt (1956) Từ những
số liệu thu thập được chúng tôi đã lập được phương trình và đồ thị tương quan giữachiều dài và khối lượng của cá Đối lá (hình 3.1)
Phương trình tương quan giữa chiều dài và khối lượng cả cá theo Beverton – Holt (1956):
Trang 31Từ hình 4.1 cho thấy những năm đầu của đời sống cá, chiều dài phát triểnnhanh hơn so với khối lượng cơ thể, sau khi đạt chiều dài khoảng 14cm, cá chủ yếutích lũy về khối lượng.
4.1.2 Cấu trúc tuổi của quần thể
Phân tích vẩy của 325 cá thể, đã xác định được thành phần tuổi của cá Đối lághi ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Cấu trúc tuổi của quần thể cá Đối lá
90 – 175mm, ứng với khối lượng 32 – 108g Nhóm tuổi 2+ có chiều dài dao động từ
145 – 205mm, ứng với khối lượng 67 – 138g, chiếm 25,23% tổng số Nhóm cá trên
ba tuổi (3+) có số lượng thấp nhất, chiếm 18,47% kích thước nhóm cá này đạt 158 –287mm và khối lượng tương ứng là 102 – 168g Bảng 4.2 còn cho thấy các cá thể
có nhóm kích thước nhỏ, chiều dài 52 – 125mm và khối lượng 11 – 48g thuộc nhóm
cá chưa đầy một năm tuổi Sống trong tự nhiên sau một năm tuổi đã đạt kích thướctrung bình là 125mm và khối lượng trung bình tương ứng là 42,65g Cấu trúc tuổicủa cá đơn giản và phù hợp với kích thước cá thể nhỏ của quần thể
Cá đối lá khai thác ở sông Gianh tỉnh Quảng Bình chủ yếu nằm ở nhóm tuổi 1+(hình4.2) Đây là nhóm cá có kích thước nhỏ, cho chất lượng và giá trị thương phẩmkhông cao, đa số chưa thành thục sinh dục hoặc chỉ tham gia sinh sản lần đầu, lànguồn bổ sung quan trọng cho đàn cá bố mẹ trong thời gian tới, nhằm đảm bảo quá
Trang 32trình tái sản xuất quần thể của đàn cá trong tự nhiên Với tình trạng khai thác nhưhiện nay, sẽ làm giảm nguồn giống tự nhiên bổ sung cho quần thể.
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ (%) số lượng cá thể cả cá Đối lá theo từng nhóm tuổi 4.1.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài của cá Đối lá
Căn cứ vào các số đo chiều dài cá thu được và kích thước vẩy tương ứng đểtính ngược tốc độ sinh trưởng của cá Đối lá theo Rosa Lee (1920)
Giải phương trình thực nghiệm của Rosa Lee có được hệ số a của cá Đối lá
là 12mm Đó là kích thước của cá khi bắt đầu hình thành vẩy
Phương trình tính ngược sinh trưởng cá Đối lá theo Rosa Lee có dạng:
Dựa vào phương trình tính ngược sinh trưởng về chiều dài trên, ta có thể xácđịnh được mức tăng trưởng chiều dài của cá Đối lá hằng năm Tốc độ tăng trưởngchiều dài trung bình hằng năm của cá Đối lá thể hiện ở bảng 4.3
Trang 33Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng hằng năm về chiều dài của cá Đối lá
Sự gia tăng nhanh về kích thước trong năm đầu đời giúp cá tránh được sự săn mồicủa vật dữ
Tốc độ sinh trưởng và mức tăng trưởng của cá cái thường lớn hơn cá đực trongcùng một nhóm tuổi Điều này phù hợp với tương quan chiều dài và khối lượng của cá.Cùng một nhóm kích thước, cá cái thường có khối lượng lớn hơn cá đực
Dựa vào những số liệu thu được, chúng tôi xác định được các thông số sinhtrưởng về chiều dài và khối lượng (bảng 4.4), từ các thông số này phương trìnhsinh trưởng của cá theo Von Bertalanfly có dạng:
- Về chiều dài: L t = 307,7 [ 1 - e -0,271(t+1,1439) ]
- Về khối lượng: W t = 263,3[ 1 - e -0,0768(t+0,2264)]2,8809
Trang 34Bảng 4.4 Các thông số sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Đối lá
Các thông số sinh trưởng ở bảng 4.4 cho thấy, cá Đối lá có thể đạt chiều dài
cơ thể lớn nhất là 307,7mm, với khối lượng cơ thể tối đa là 263,3g Từ phương trìnhVon Bertalanfly cho thấy hệ số phân hóa lượng Protein trong cơ thể về chiều dài (k
= 0,271) lớn hơn về khối lượng (k = 0,0768) Như vậy cá Đối lá có tốc độ tăngtrưởng về chiều dài nhanh hơn khối lượng
4.2 ĐẶC TÍNH DINH DƯỠNG CỦA CÁ ĐỐI LÁ
4.2.1 Thành phần thức ăn của cá Đối lá
Nguồn thức ăn của sinh vật nói chung và cá nói riêng đóng một vai trò quantrọng trong việc quyết định số lượng và sinh vật lượng quần thể Sự biến động cơ sởthức ăn ảnh hưởng đến mùa thu hoạch, mức sinh trưởng, thời gian chín muồi sinhdục, chu kỳ sống của sinh vật Chính vì vậy nghiên cứu thức ăn của cá có ý nghĩa tolớn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nghề cá, giúp cho nghề cá giải quyết đượcnhững vấn đề về dinh dưỡng của cá, biến động số lượng cá khai thác,
Thành phần thức ăn của mỗi loài cá thường không giống nhau, và trong cùngmột loài ở các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển cũng không giống nhau
Do đó, chúng tôi chia mẫu cá thu được theo 3 nhóm kích thước dựa trên chiều dàicủa cá lớn nhất và nhỏ nhất, mỗi khoảng cách trong nhóm kích thước là 80mm: 50 -130mm (nhóm nhỏ), 131 - 211mm (nhóm vừa), 212 – 292mm (nhóm lớn) Quaphân tích thức ăn trong dạ dày và ruột của từng nhóm kích thước cá, đã thống kêđược 29 nhóm thức ăn khác nhau (bảng 4.3) Trong đó; ngành Tảo Lam(Cyanophyta) 3 đối tượng, ngành Tảo Lục (Chlorophyta) 4 đối tượng, ngành TảoSilic (Bacillariophyta) chiếm số lượng lớn nhất, với 18 đối tượng chiếm 62,07%.Bên cạnh đó, khi tiến hành phân tích thức ăn còn thấy một lượng lớn mùn bã hữu cơ
và một số động vật Chân khớp (Arthropoda) trong ống tiêu hóa cá, như Copepoda,Diptera larvae và Cladocera
Trang 35Ngoài ra, chúng tôi còn nhận thấy, một số loại thức ăn như: Asterionella,Chaetoceros, Navicula, Nitzschia, Tabellaria, gặp ở ống tiêu hóa của cả 3 nhómkích thước cá Còn một số loại thức ăn khác chỉ gặp ở nhóm kích thước này màkhông gặp ở nhóm kích thước khác, như: Melosira, Microspora, Amphora,Cocconeis, Dictylium, (bảng 4.5) Một số loại thức ăn chỉ gặp ở nhóm kích thướclớn mà không gặp ở nhóm kích thước nhỏ hơn (như trong bảng 4.5).
Bảng 4.5 Thành phần thức ăn của cá Đối lá
Trang 36Mùn bã hữu cơ
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ (%) các nhóm thức ăn của cá Đối lá
Qua bảng 4.5 và hình 4.3 cho thấy, thành phần thức ăn của cá Đối lá tại sôngGianh tỉnh Quảng Bình khá phong phú và đa dạng, gồm 29 đối tượng đại diện cho 5ngành thủy sinh vật khác nhau, chủ yếu là tảo, các ngành động vật không xương sống
và mùn bã hữu cơ Trong đó, thức ăn chủ yếu thuộc ngành Tảo Silic (Bacillariophyta)chiếm 62,07% và mùn bã hữu cơ luôn gặp trong ống tiêu hóa của cá
Phổ thức ăn của cá thay đổi thay đổi theo nhóm kích thước cá thể, nhóm cá
có kích thước nhỏ từ 50 -130mm có phổ thức ăn hẹp nhất gồm 16 loại thức ăn,nhóm cá có kích thước trung bình từ 131 - 211mm phổ thức ăn gồm 21 loại, vànhóm cá kích thước lớn từ 212 – 292mm có phổ thức ăn rộng nhất gồm 24 loại thức
ăn Như vậy, phổ thức ăn được mở rộng khi kích thước cá càng lớn Vì cá lớnthường mở rộng phổ thức ăn để tránh sự cạnh tranh trong loài và đảm bảo nguồnthức ăn cho cá nhỏ Điều này thể hiện tính thích nghi chung trong dinh dưỡng của
cá nhiệt đới
4.2.2 Cường độ bắt mồi của cá Đối lá
4.2.2.1 Cường độ bắt mồi của cá theo thời gian
Cường độ bắt mồi của cá được xác định bằng chỉ số độ no trong dạ dày vàruột Kết quả nghiên cứu sức chứa thức ăn trong dạ dày và ruột cá Đối lá theo từng
Trang 37tháng, cho thấy có sự khác nhau (bảng 4.6) Việc đánh giá độ no của cá dựa theothang 5 bậc của Lebedev.
Bảng 4.6 Độ no của cá Đối lá qua các tháng nghiên cứu
độ bắt mồi của cá không giống nhau Từ tháng V - VIII tỷ lệ cá tham gia bắt mồicao nhất (9,23% - 11,69%), đồng thời tỷ lệ cá có độ no bậc 2, bậc 3, bậc 4 cũng khácao Tháng I, II, III, XI và XII cường độ bắt mồi của cá giảm, số cá có độ no bậc 4không gặp hoặc ít gặp, tỷ lệ cá có độ no bậc 3 thấp (từ 0,31% - 0,92%) Điều nàyliên quan đến yếu tố thời tiết, vì từ tháng IX đến tháng III năm sau là các tháng