1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết lan khai

123 727 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Nghệ Thuật Tiểu Thuyết Lan Khai
Tác giả Tạ Thị Thơng Vì
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 625,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc của tác giả Trần Mạnh Tiến đã có những đóng góp khá đầy đủ về những bài viết của các tácgiả nghiên cứu về Lan Khai, cũng như những

Trang 1

trờng đại học vinh

khoa sau đại học

tạ thị thơng vì

đặc trng nghệ thuật tiểu thuyết Lan Khai

luận văn thạc sĩ ngữ văn

VINH – 2009

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

tạ thị thơng vì

đặc trng nghệ thuật tiểu thuyết Lan Khai

Trang 3

Chương 1 Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn

1930-1945 và vị trí của Lan Khai 5

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại 71.2 Nhìn chung tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-1945 10

1.3 Vị trí của Lan Khai trong bức tranh chung của tiểu

thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-1945

16

1.3.1 Sơ lược về quá trình sáng tác của Lan Khai 161.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai 181.3.3 Đóng góp của Lan Khai đối với tiểu thuyết Việt Nam

giai đoạn 1930-1945

21

Chương 2 Sự lựa chọn đề tài và cảm hứng sáng tạo trong tiểu

2.1.2 Sự lựa chọn đề tài trong tiểu thuyết Lan Khai 272.2 Cảm hứng sáng tạo trong tiểu thuyết Lan Khai 44

Chương 3 Nhân vật, kết cấu và lời văn nghệ thuật trong tiểu

3.1.2 Đặt nhân vật trong tình huống éo le gay cấn 633.1.3 Đặt nhân vật trong quan hệ tình yếu hôn nhân 67

Trang 4

3.1.4 Quan tâm nhân vật ở thế giới nội tâm 71

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Vào những năm 1930-1945, trên văn đàn Việt Nam xuất hiện mộtcây bút viết về miền núi gây được sự chú ý của độc giả thời bấy giờ, đó làLan Khai Sinh ra tại một vùng rừng núi hoang vu tỉnh Tuyên Quang, trongmột gia đình nhà nho kiêm lương y, bằng tài năng và nghị lực, Lan Khai đượccác nhà phê bình đương thời coi là một trong những nhà văn mở đường chomột xu hướng văn học mới Tuy nhiên, việc nghiên cứu về Lan Khai chưađúng tầm với những đóng góp nghệ thuật của ông Vì vậy, việc nhìn lại sángtác của Lan Khai là một vấn đề rất cần thiết

1.2 Lan Khai là một nhà văn xuất sắc Với cuộc đời chưa tròn 40 tuổi,ông đã để lại một số lượng tác phẩm lớn Nhưng do những thăng trầm của lịch

sử, một thời gian dài di sản của ông bị khuất lấp, nay có đủ thời gian để nhìnlại, chúng ta càng tự hào hơn về sự phong phú của nền văn học dân tộc, trong

đó có sự cống hiến lớn lao của cây bút Lan Khai Lan khai viết trên nhiều thểloại, trong đó tiểu thuyết là thể loại th nh ành công nhất Thông qua tìm hiểu tiểucông

thuyết Lan Khai, chúng ta sẽ hiểu hơn về bức tranh chung đa dạng, phong phúcủa tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-1945

1.3 Tiểu thuyết Lan Khai có nhiều nét hiện đại Ông là nhà văn sớm đisâu vào khám phá các mảng hiện thực miền núi, nông thôn, hầm mỏ và thànhthị Ông cũng là nhà văn đầu tiên đi vào khám phá truyền thống văn hoá,phong tục tập quán của con người miền núi Lần đầu tiên trong văn học ViệtNam hiện đại, xuất hiện hình tượng những thanh niên miền núi khoẻ đẹp,dũng cảm, đa tài, trong sáng Ngoài ra, các truyện ngắn kỳ ảo cho thấy nănglực tưởng tượng độc đáo của một cây bút trong việc sử dụng các yếu tố hoangđường, để tạo nên những hình tượng nghệ thuật mới lạ Tiểu thuyết lịch sử đãtạo nên chỗ đứng riêng của Lan Khai trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

như: Chiếc ngai vàng, Chế Bồng Nga, Thành bại với anh hùng Mỗi tiểu

Trang 6

thuyết của ông là sự tìm tòi, khám phá riêng về nghệ thuật Vì vậy, nghiêncứu tiểu thuyết Lan Khai có thể giúp ta hiểu hơn một tài năng đa dạng và hiệnđại trong cách viết

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về tiểu thuyết Lan Khai đang là một vấn đề mới mẻ Năm

1928, trên văn đàn xuất hiện tác phẩm Nước Hồ Gươm với bút danh Lan Khai

đã gây được sự chú ý của độc giả đương thời Đặc biệt, Lầm than là tác phẩm

gắn liền với tên tuổi của ông

Công trình Lan Khai tác phẩm nghiên cứu lý luận và phê bình văn học

của Trần Mạnh Tiến, Nxb Văn hoá thông tin là công trình nghiên cứu đầu tiên

về một phần di sản văn nghệ của Lan Khai, góp phần đáp ứng nhu cầu nghiêncứu và học tập hiện nay về giai đoạn văn học 1930-1945

Trong Chuyên khảo và tác phẩm về tiểu thuyết Lầm than của Lan Khai

đã có nhiều ý kiến đánh giá Theo Vũ Ngọc Phan, Lan Khai là nhà văn biếtphát huy tính chân thực nghệ thuật một cách năng động Năm 1965, trong

công trình biên khảo Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 2, Nxb Sài Gòn, tác giả Phạm Thế Ngũ cũng nhắc lại ý nghĩa của tác phẩm Lầm than Trong Từ điển văn học Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1988 tác giả

Nguyễn Hoành Khung cũng đã nhắc lại những đóng góp của Lan Khai cho nền

văn học nước nhà Cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang

Thắng và Nguyễn Bá Thế, Nxb Khoa học xã hội & Nhân văn 1992 cũng giớithiệu vắn tắt những cống hiến của Lan Khai cho nền văn học hiện đại

Trong Tác phẩm và chuyên khảo Truyện đường rừng của Lan Khai, Trần

Mạnh Tiến và Nguyễn Thanh Trường, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2004,các tác giả đã phần nào chỉ ra những giá trị nghệ thuật của các truyện đườngrừng của Lan Khai

Trong công trình Lan Khai - nhà văn hiện thực xuất sắc do Trần Mạnh Tiến

biên soạn, Nxb Hội Nhà văn, tác giả đã thu thập được nhiều bài viết quan trọng

về cuộc đời, sự nghiệp cũng như những ý kiến đánh giá về Lan Khai

Trang 7

Trong Trương Tửu tuyển tập nghiên cứu phê bình, tác giả đã đánh giá

Lan Khai là nghệ sĩ của rừng rú, là đàn anh trong thế giới sơn lâm, là cây đa

cổ thụ giữa cánh đồng bát ngát

Trong công trình Lan Khai – Nhà văn hiện thực xuất sắc của tác giả Trần

Mạnh Tiến đã có những đóng góp khá đầy đủ về những bài viết của các tácgiả nghiên cứu về Lan Khai, cũng như những ý kiến đánh giá chuẩn xác vềcác tác phẩm của ông…

Nhìn chung, các công trình trên đây đã nghiên cứu Lan Khai ở trênnhững bình diện khác nhau Ở đề tài này, chúng tôi tập trung đi sâu vàonghiên cứu, khám phá các tác phẩm tiểu thuyết của Lan Khai để thấy đượcnét riêng, nét độc đáo trong phương pháp sáng tác của ông Trên cơ sở kế

thừa ý kiến những người đi trước, chọn đề tài Đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Lan Khai, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ của mình đem lại cái

nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về một nhà văn đã từng tạo được dấu ấn riêng trênvăn đàn Việt Nam nói chung và nền tiểu thuyết Việt Nam 1930-1945 nói

riêng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Tìm hiểu bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn

1930-1945, đồng thời tìm hiểu vị trí của Lan Khai trong bức tranh chung ấy

3.2 Đi sâu tìm hiểu và phân tích đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết LanKhai trên phương diện lựa chọn đề tài và cảm hứng sáng tạo; nhân vật, kếtcấu và lời văn nghệ thuật

3.3 Ở một mức độ nhất định, đặt Lan Khai bên cạnh các cây bút khác đểthấy được nét riêng cũng như đóng góp của nhà văn cho sự phát triển của tiểuthuyết Việt Nam hiện đại

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn này tập trung nghiên cứu các tiểu thuyết của Lan Khai ở cả ba mảng

đề tài: tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết tâm lý xã hội và tiểu thuyết lịch sử.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu,phương pháp thống kê phân loại

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn triển khai trên ba chương:Chương 1 Bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930-

1945 và vị trí của tiểu thuyết Lan Khai

Chương 2 Tiểu thuyết Lan Khai nhìn trên phương diện lựa chọn đề tài

và cảm hứng sáng tạo

Chương 3 Tiểu thuyết Lan Khai nhìn trên phương diện nhân vật, kết cấu

và lời văn nghệ thuật

Cuối cùng là phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo

Trang 9

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 VÀ VỊ TRÍ CỦA LAN KHAI

1.1 Khái niệm tiểu thuyết

1.1.1 Khái niệm

Tiểu thuyết là một thể loại ra đời muộn nhưng lại chiếm vị trí hết sứcquan trọng trong tiến trình phát triển của văn học Nó được xem là “Mảnh đấtlưu giữ bóng hình cuộc đời con người” Ngay từ lúc mới xuất hiện tiểu thuyết

đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình Song, tiểu thuyếtkhông phải là một thể loại hoàn bị có nòng cốt hay là nền móng đã “đôngcứng” Trái lại, nó biến đổi và luôn tìm cách thoát ra khỏi các dạng thức, cáckhuôn mẫu do chính nó tạo ra Bởi vậy, việc đưa ra những định nghĩa có tínhchất quy phạm cho thể loại này là rất khó khăn Những định nghĩa, quan niệm

về tiểu thuyết chỉ phù hợp và phát huy trong từng kiểu, loại nhất định

Vì vậy, từ trước tới nay có rất nhiều định nghĩa về tiểu thuyết Ở nướcngoài, Hêghen định nghĩa: “Tiểu thuyết là sử thi tư sản hiện đại” hayBiêlinxki: “Tiểu thuyết là sự tái hiện thực tại với hiện thực trần trụi của nó, làxây dựng một bức tranh sinh động, toàn vẹn và thống nhất”

Ở Việt Nam, khái niệm tiểu thuyết cũng được bàn đến rất nhiều Tácgiả Phạm Quỳnh là một trong những người rất quan tâm đến tiểu thuyết Ôngcho rằng: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình người

ta, phong tục xã hội hay là những sự lạ, tính kỳ đủ làm cho người đọc hứngthú”, hay nói cách khác, nó là một “chuyện bịa đặt có thú vị”

Thanh Lãng - nhà nghiên cứu miền Nam trong chuyên luận Bản lược

đồ văn học Việt Nam đã viết: “Tiểu thuyết là một chuyện bịa đặt tương đối dài

do óc tưởng tượng nhưng được xây dựng theo những tài liệu được lấy ngaytrong thế giới hàng ngày Tiểu thuyết bởi vậy thường là những bức tranh

Trang 10

phong tục vì tác giả chủ trương về một chuyện và một khung cảnh xã hội cónhững đường nét, những màu sắc quen thuộc”.

Nguyễn Công Hoan cho rằng: “Tôi không hiểu các nhà lý luận văn họcgiảng nghĩa tiểu thuyết và nhà tiểu thuyết là gì ? theo tôi hay nghĩ nôm na thì tiểuthuyết là chuyện bịa y như thật Nhà tiểu thuyết là người biết bịa chuyện”

Tiểu thuyết có khả năng kỳ diệu trong việc tả chân cuộc đời, tả chân tưtưởng người đời Người viết tiểu thuyết “không thể viết bằng những ý niệm

mà phải như đang sống thực trong thế giới tưởng tượng” Sẽ rất khó khăn đểđưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về thể loại này - một thể loại luôn biến đổi

và chưa biết đến sự hoàn bị Mỗi người do quan niệm, cách nhìn nhận, đánhgiá của mình, do môi trường sống xã hội của thời mình mà có những quanniệm khác nhau về tiểu thuyết

Trong Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, các tác giả cho rằng: “Tiểu thuyết là tác phẩm tự

sự cở lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian

và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, nhữngbức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp,tái hiện nhiều tính cách đa dạng”

Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa:

“Tiểu thuyết là một loại hình tự sự có ít nhiều hư cấu, thông qua nhân vật, sự việc

và hoàn cảnh, thường dùng văn xuôi để phản ánh bức tranh xã hội”

Nếu như truyện ngắn là một thể loại tự sự cở nhỏ, khả năng bao quáthiện thực đời sống, thể hiện số phận cá nhân chỉ giới hạn trong một phạm vinào đó, ít thể hiện nhân vật trong quá trình vận động mà chủ yếu thể hiện nhưmột nhát cắt, một khoảnh khắc, quan tâm đến cái chốc lát thì tiểu thuyết là

“một dòng chảy theo chiều dọc số phận con người”

Tiểu thuyết là một tác phẩm tự sự thường được viết bằng văn xuôi.Tiểu thuyết miêu tả hiện thực đời sống ở cả bề rộng lẫn bề sâu “Tiểu thuyết

là tác phẩm tự sự cở lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới

Trang 11

hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận nhiều cuộcđời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinhhoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [55,217].

Vì vậy, khái niệm tiểu thuyết giúp ta nhận ra những đặc điểm thi pháp

cơ bản của thể loại Trên cơ sở đó, khám phá về quan niệm của người nghệ sĩcũng như cách thức tổ chức kết cấu trong tác phẩm, đồng thời hiểu được quyluật vận động và phát triển của thể loại văn học này

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại

Tiểu thuyết là thể loại đặc biệt nó vừa mang những tính chất chung củavăn xuôi nghệ thuật, nhưng ở bên trong nó có những đặc điểm riêng khu biệtvới thể loại khác Tiểu thuyết được xem là “Thể loại chủ lực, giàu khả năngphản ánh hiện thực” [16,199]

Trong quan niệm truyền thống, tiểu thuyết khác với các thể loại khác ở

“sức chứa” và “sức chở” của nó Đặc điểm nổi bật trong tiểu thuyết cổ điển là códung lượng lớn, thường có kết cấu nhiều chương, nhiều hồi, số lượng nhân vậtthường rất đông Cốt truyện thường tập trung vào các vấn đề lớn của dân tộc, cókhả năng bao quát hiện thực trong một khoảng không gian rộng lớn …

Đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết hiện đại nói chung thể hiện trên nhữngphương diện sau:

Tiểu thuyết nhìn nhận và phản ánh đời sống dưới góc độ đời tư:

khuynh hướng của tiểu thuyết hôm nay là “Gần sự sống để được linh hoạt vàgần như cuộc đời” Nhà nghiên cứu Bakhtin hay so sánh tiểu thuyết với sửthi Nếu như sử thi hay quan tâm đến những vấn đề của cộng đồng, của tậpthể, thường phản ánh những con người tiêu biểu của tập thể, của cộng đồngthì tiểu thuyết cơ bản quan tâm đến những vấn đề bình thường, những con

người, cá nhân có hoàn cảnh và số phận riêng như: chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Thứ trong Sống mòn của Nam Cao, Thuật trong Lầm Than của Lan Khai …

Trang 12

Vì quan tâm đến cộng đồng nên sử thi thường nhấn mạnh, nhìn nhận conngười như những anh hùng, những cá nhân tiêu biểu của cộng đồng Ngược lại,tiểu thuyết phản ánh con người trong đời thường với muôn mặt của nó: tốt có,xấu có, cao cả có, thấp hèn có, vừa là thánh nhân vừa là quỷ dữ Theo Bakhtin:

“Nhân vật tiểu thuyết không nên là anh hùng trong cái nghĩa sử thi và bi kịchcủa từ đó mà nên thống nhất trong các nét vừa chính diện vừa phản diện, vừatầm thường, vừa cao cả, vừa buồn cười, vừa nghiêm túc”

Tiểu thuyết giai đoạn 1930 – 1945, đi sâu phản ánh những số phận cánhân, đi sâu phản ánh cuộc sống khốn cùng của các tầng lớp nhân dân Tùytheo từng thời kỳ phát triển mà cái nhìn đời tư có thể sâu sắc tới mức thểhiện được, hoặc kết hợp chủ đề thế sự hay lịch sử dân tộc Nhưng yếu tố đời

tư càng phát triển thì tính chất tiểu thuyết càng tăng, ngược lại yếu tố lịch sửcàng phát triển thì chất sử thi càng đậm đà

Chất văn xuôi cũng là nét tiêu biểu làm cho tiểu thuyết khác với các thể

loại khác Nó cho phép nhà tiểu thuyết đưa vào tác phẩm của mình từ nhữngcái nhỏ nhặt, thậm chí vụn vặt nhất Nếu chất thơ là lãng mạn, trữ tình thìvăn xuôi thường nhìn cuộc đời trong một sự thực trần trụi Tức là một sự táihiện cuộc sống không thi vị hóa, miêu tả cuộc sống như một thực tại cùngthời đang sinh thành Tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổnngang, bề bộn của cuộc đời “Cuộc sống hiện ra dường như ô hợp, với tất cả

sự trần truồng, xấu xí, ghê tởm của nó, đồng thời với tất cả vẻ đẹp trangnghiêm của nó, trong đó người ta mổ xẻ cuộc sống bằng con dao giải phẫu”(Biêlinxki) Có thể kiểm chứng sự bộn bề phức tạp của con người và xã hộitrong các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, NguyễnCông Hoan, Ngô Tất Tố …và trong tiểu thuyết của các nhà văn đương đại.Chất văn xuôi trong tiểu thuyết còn phụ thuộc vào các xu hướng, tràolưu văn học Nổi bật nhất là tiểu thuyết của Banzắc, Xtăngdan, Phlôbe,L.tônxtôi, Sêkhốp…

Trang 13

Nhân vật tiểu thuyết thường là con người nếm trải Con người nếm trải

là một khái niệm đưa ra nhằm chỉ những nhân vật mà có một quá trình biếnđổi, phát triển theo xu hướng khôn hơn, nhiều kinh nghiệm hơn, nhiều biếnđổi hơn trước cuộc đời Nếm trải là thay đổi trong tư duy nhận thức, trongquan hệ đối với cuộc đời, với những người xung quanh

Nhân vật trong sử thi, cổ tích, thần thoại…hay nhân vật kịch, nhân vậttrong truyện trung cổ thường là nhân vật hành động, nhân vật loại hình.Nhân vật trong văn xuôi và tiểu thuyết trung đại đã có biến đổi nhưng

là biến đổi trong khung đã định hình Trong tiểu thuyết Tam quốc chí diễn

nghĩa của La Quán Trung, nhân vật Tào Tháo là kẻ gian hùng, đa nghi thì từ

đầu đến cuối tác phẩm luôn là kẻ gian hùng và đa nghi

Đến tiểu thuyết hiện đại, chặng đầu của tiểu thuyết hiện đại (tiểu thuyết

Hồ Biểu Chánh), chưa thể hiện rõ kiểu nhân vật nếm trải Nhân vật nếm trải

là nhân vật được miêu tả như con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, conngười đang trưởng thành do cuộc sống dạy bảo Như vậy, ở chị Dậu trong

Tắt đèn của Ngô Tất Tố, anh Pha trong Bước đường cùng của Nguyễn Công

Hoan …cũng chưa thực sự là nhân vật nếm trải Chị Dậu là nhân vật đạo lý,luôn giữ lấy đạo lý của mình

Kiểu nhân vật nếm trải đặc biệt thành công ở tiểu thuyết của Vũ Trọng

Phụng, Nam Cao Chẳng hạn, Mịch, Long trong Giông tố của Vũ Trọng

Phụng, Thứ là nhân vật lúc nào cũng suy tư, luôn nhìn thấy bi kịch “sống

mòn” của mình trong tác phẩm Sống mòn của Nam Cao.

Nhân vật nếm trải có ở trào lưu lãng mạn và trào lưu hiện thực nhưng

thể hiện sâu đậm nhất là ở nhân vật của trào lưu hiện thực

Thành phần chủ yếu của tiểu thuyết không phải chỉ có cốt truyện và sự kiện như văn xuôi và tiểu thuyết trung đại Văn xuôi và tiểu thuyết trung đại

có những yếu tố: cốt truyện, sự kiện, nhân vật… Trong đó, cốt truyện là quantrọng nhất, cốt truyện lấn át nhân vật

Trang 14

Đến tiểu thuyết hiện đại có hiện tượng vai trò của cốt truyện giảm bớt,

thậm chí nhiều tiểu thuyết cốt truyện không quan trọng (như Sống mòn của

Nam Cao), vai trò của nhân vật tăng lên, sự kiện tình tiết nhiều lúc tô đậmtính cách nhân vật Do đặc điểm này mà xuất hiện ngày càng nhiều yếu tốngoài cốt truyện: phân tích nội tâm, lời trần thuật phân tích, miêu tả thiênnhiên, bình luận triết lí ngoại đề

Rút ngắn khoảng cách trần thuật Nếu như ở sử thi khoảng cách giữa

người trần thuật và nội dung trần thuật thường là rất xa, khoảng cách sử thinày để ca ngợi, tô vẽ, lí tưởng hóa nhân vật thì ở tiểu thuyết hiện đại khoảngcách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật được rút ngắn nhằm mụcđích phản ánh cho đúng sự thực trần trụi của cuộc sống

Chính khoảng cách gần này trong tiểu thuyết, đã tạo ra cái nhìn nhiềuchiều đối với nhân vật và tạo ra sự đa dạng, đa thanh

Tiểu thuyết là thể loại có khả năng tổng hợp Theo Bakhtin: “Tiểu

thuyết là thể loại đang sinh thành và đang phát triển Do đó, nó có thể kéo vào

nó những loại hình nghệ thuật khác” Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ tiểu thuyếtlại có sự “lột xác” để tìm ra một dạng thức tổ chức nghệ thuật phù hợp nhằmđáp ứng nhu cầu cuộc sống mới, con người mới Do vậy, đổi mới là tất yếu cótính quy luật của thể loại này Trong thời điểm hiện nay, thời mà cả xã hội vàcon người đều có những bí ẩn, phức tạp không dễ lý giải, tiểu thuyết trở thành thểloại đi đầu trong việc đào sâu và mở rộng thêm những giới hạn chiếm lĩnh đờisống và nghệ thuật Vì thế, hiểu khái niệm và đặc trưng cơ bản của thể loại là cơ

sở để tìm hiểu và khám phá về tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 nóichung và đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Lan Khai nói riêng

1.2 Nhìn chung tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

1.2.1.Tiểu thuyết lãng mạn

Tiểu thuyết lãng mạn gồm tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và tiểu thuyết

lãng mạn của các nhà văn hiện thực Nhưng thành tựu lớn chủ yếu và nổi bật

là tiểu thuyết Tự lực văn đoàn.

Trang 15

Tự lực văn đoàn chỉ một nhóm sáng tác của các nhà văn Việt Nam do

Nhất Linh sáng lập năm 1932, xu hướng sáng tác của nhóm này chủ yếu làlãng mạn, với khuynh hướng tư tưởng là tư tưởng cải lương tư sản

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ tiểu thuyết của ba nhà văn trong nhóm

là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo Đây là ba nhà văn theo đúng tôn chỉ

mục đích của Tự lực văn đoàn Trong quá trình sáng tác, họ có mô hình tiểu

thuyết tương đối giống nhau:

Nhân vật: thường là nhân vật trẻ tuổi ở tầng lớp trên

Đề tài : chủ yếu là tình yêu hôn nhân

Kết cấu : chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây

Ngôn ngữ: trong sáng, gọt giũa, giàu nhịp điệu

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn trải qua ba thời kỳ phát triển:

Thời kỳ 1: 1932 -1935 Ở chặng này, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có hai

chủ đề: chủ đề tình yêu hôn nhân và chủ đề ca ngợi đề cao người anh hùng

kiểu Tự lực văn đoàn.

Những tác phẩm tiêu biểu: Nửa chừng xuân (1934) của Khái Hưng,

Gánh hàng hoa (1933) của Nhất Linh - Khái Hưng, Đoạn tuyệt (1935) của

Nhất Linh

Thời kỳ 2: 1936 -1939 Trong bối cảnh xã hội thời kỳ mặt trận dân chủ,

tiểu thuyết Tự lực văn đoàn có sự chuyển hướng trong đề tài sáng tác, quan

tâm đến vấn đề xã hội: vấn đề nông thôn và người nông dân

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn giai đoạn này vẫn tiếp tục viết về đề tài

tình yêu, nhưng câu chuyện tình thời này không còn đẹp như trước Thời kỳ

này, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn xuất hiện tiểu thuyết luận đề: Trống mái (1936) của Khái Hưng, Đời mưa gió (1938) của Nhất Linh – Khái Hưng.

Thời kỳ 3:1940 -1945 Đây là chặng đường xuống dốc đầy bế tắc của

Tự lực văn đoàn Tác phẩm tiêu biểu như: Bướm trắng (1941), Thanh Đức

(1943) của Khái Hưng

Trang 16

1.2.2 Tiểu thuyết hiện thực phê phán

Những năm 30 của thế kỷ XX, là thời kỳ hình thành và phát triển mạnh mẽcủa văn học hiện thực phê phán Việt Nam Nhìn chung, có thể chia tiểu thuyếthiện thực phê phán làm ba thời kỳ nhỏ: 1930 -1935, 1936 -1939, 1940 -1945 Trong thời kỳ 1930 -1935, thời kỳ khủng hoảng kinh tế và phong trào cáchmạng tạm thời lắng xuống, văn học khuynh hướng lãng mạn xuất hiện và chiếm ưuthế trên văn đàn văn học công khai Tuy nhiên, những tác phẩm của Nguyễn CôngHoan, Vũ Trọng Phụng, Tam Lang… vẫn lần lượt ra đời, khẳng định vị trí của văn

học hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan có các tác phẩm giá trị như: Ngựa

người người ngựa (1934), Kép Tư Bền (1935) Nguyễn Công Hoan là người đầu

tiên khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trên lĩnh vực truyện ngắn NgôTất Tố là người chiếm lĩnh phương pháp này trong thể loại tiểu phẩm Còn TamLang, Vũ Trọng Phụng là những người mở đầu cho thể phóng sự trong văn học

hiện thực phê phán: Tôi kéo xe (1932) của Tam Lang, Cạm bẫy người (1933), Kỹ

nghệ lấy Tây (1934) của Vũ Trọng Phụng.

Nhìn chung, văn học hiện thực phê phán thời kỳ này mới phản ánhđược những nét cục bộ, những hiện tượng nổi lên trên bề mặt của xã hội màchưa nêu lên được những vấn đề bản chất, những vấn đề lớn có tầm khái quátcủa thời đại, chưa tập trung vào những mâu thuẫn chủ yếu của xã hội

Sang thời kỳ 1936- 1939, thời kỳ mặt trận dân chủ, văn học hiện thựcphê phán phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết Có thể xem thời kỳ này là thời kỳthắng thế của chủ nghĩa hiện thực Lực lượng sáng tác ngày càng đông đảohơn Ngoài những tác giả Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,Tam Lang…ta có thêm Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tư… Trong thời kỳ này,bên cạnh một khối lượng rất lớn phóng sự và truyện ngắn, ta đặc biệt chú ýđến sự phát triển mạnh mẽ của văn tiểu phẩm (Ngô Tất Tố, Tam Lang) Dưluận báo chí đánh giá cao hàng loạt tiểu thuyết dài hơi, những tác phẩm kháiquát được từng mảng lớn của hiện thực đời sống, xây dựng được những tínhcách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Tiểu thuyết đã đề cập đến các vấn

Trang 17

đề chính trị xã hội quan trọng, đã tố cáo mãnh liệt những thủ đoạn áp bức bóclột, những chính sách mị dân giả dối bịp bợm của bọn thực dân Tiêu biểu là

tiểu thuyết Lầm than của Lan Khai, đã gây được tiếng vang lớn trong độc giả

cả nước Lầm than là cuốn tiểu thuyết phơi bày hiện thực một cách sâu sắc,

một cuốn sách rất có ích và kịp thời trong giai đoạn cách mạng 1936 – 1939 ởnước ta Đồng thời, tiểu thuyết cũng đã lên án, phê phán bọn quan lại, cườnghào, địa chủ ở nông thôn, đã nói lên nỗi thống khổ của công nông và biểudương tinh thần đấu tranh, cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ

Trong thời kỳ này, những cây bút hiện thực có điều kiện tung hoànhthoải mái hơn trước và dường như các tài năng đều gặp mùa nở rộ Vũ Trọng

Phụng trong năm 1936, viết liền ba cuốn tiểu thuyết lớn: Giông tố, Số đỏ, Vỡ

đê Và sau đó năm 1938, viết Trúng số độc đắc, năm 1939, viết Người tù được tha Ngô Tất Tố có tiểu thuyết Tắt đèn (1937), Lều chõng (1939) và

phóng sự Tập án cái đình (1939), Việc làng (1940) và hàng trăm tiểu phẩm

có giá trị Nguyễn Công Hoan có tiểu thuyết Cô làm công (1936), Bước

đường cùng (1938) Và các truyện ngắn có chất lượng cao hơn thời kỳ trước

như: Hai thằng khốn nạn (1937), Đào kép mới (1937), Sóng Vũ môn (1938),

Người vợ lẽ bạn tôi (1939) Lan Khai có các tác phẩm: Chiếc ngai vàng

(1935), Ai lên phố Cát (1937), Gái thời loạn (1938 ), Chế Bồng Nga (1938),

Cái hột mận (1939), Liếp ly (1938), Lầm than (1929 -1934, xuất bản 1938), Mọi rợ (1939) … Nguyên Hồng mới xuất hiện nhưng đã tỏ ra sung sức với

tiểu thuyết Bỉ vỏ (1938), Những ngày thơ ấu (1938) và hàng loạt truyện ngắn.

Thời kỳ 1940 – 1945 Đây là thời kỳ đại chiến thế giới thứ hai, Việt Namchịu hai tầng áp bức Pháp – Nhật Đảng rút vào hoạt động bí mật Sách báo tiến bộ

bị đóng cửa, tịch thu Văn học hiện thực phê phán bị kiểm duyệt gắt gao, nên phảilen lỏi trên nhiều khuynh hướng Văn học lúc bấy giờ, có một số cây bút mới xuấthiện như Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân… Nhưng tác phẩm của họ khôngnhiều, không gây được tiếng vang như thời kỳ 1936 – 1939

Trang 18

Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố là những nhà văn tiêu biểu cho vănhọc hiện thực phê phán nửa đầu những năm 40 Văn Nam Cao hầu hết lànhững tấn bi kịch của những người nông dân bị nạn hạn hán, lụt lội mất mùa,nạn cường hào hà hiếp, bóc lột khiến những người lương thiện trở thành lưu

manh như: Chí Phèo, Một đám cưới, Lão Hạc Truyện của Nam Cao cũng là

tấn bi kịch vỡ mộng của cuộc đời ông và cuộc đời của những người trí thứctiểu tư sản nghèo trong những năm trước cách mạng

Trong giai đoạn 1930 - 1945, nhà văn Lan Khai với hàng trăm tácphẩm với nhiều thể tài phong phú, đã để lại một di sản văn học lớn, được

nhiều cây bút nổi tiếng đương thời đánh giá cao Tác phẩm Cô Dung được khai bút từ năm 1928 (trước Tắt đèn của Ngô Tất Tố 10 năm), lần đầu tiên

trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, chân dung người phụ nữ nông thôn ViệtNam hiện lên rõ nét về tâm hồn, tình cảm, phong tục, truyền thống văn hóa và

đạo đức nghìn xưa Đặc biệt là tác phẩm Lầm than viết về giai cấp công nhân

Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn trong văn học lúc bấy giờ

Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết của Lan Khai, chúng ta càngthấy rõ bản lĩnh của một cây bút tiên phong, giàu tâm huyết, biết tiếp nối cộinguồn và hướng về tương lai đất nước

1.2.3 Các xu hướng tiểu thuyết khác

Trong giai đoạn văn học 1930 - 1945, có xuất hiện thêm tiểu thuyết Người

hùng của Lê Văn Trương Ông viết đến mấy chục cuốn tiểu thuyết theo một mô

hình khá giống nhau Nhân vật chính thường là một chàng trai xuất thân bình dânnhưng thông minh quả cảm hơn người, biết hành động theo lẽ phải Vì thế, đã làmrung động trái tim của nhiều cô gái con các gia đình trưởng giả giàu sang Với các

tác phẩm: Một trái tim, Ngựa đã thuần rồi mời ngài lên, Hận nghìn đời…

Lê Văn Trương vốn là nhà tiểu thuyết ưa đề cao một thứ luân lí theo

quan niệm của ông Vì thế, với tác phẩm Kẻ đến sau được viết theo lối văn

nghị luận dài dòng thường là một nhược điểm trong tiểu thuyết của ông Tâm

lý nhân vật, đặc biệt là nhân vật “tôi” đôi chỗ được phân tích khá thành công

Trang 19

(Khi miêu tả sự giằng xé căng thẳng giữa tình yêu và lòng căm hận đối vớingười vợ lầm lỡ) Nhưng tác giả đã để lại cho nhân vật “tôi” phân trần triết lísuông rất nhiều về gia đình và tình thương yêu, lời lẽ có lúc cầu kỳ và kiểucách Diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” rất phức tạp nhưng cuối cùng lạikết thúc một cách khá đơn giản mà không có một tình huống tạo ra bướcngoặt quyết định Dễ nhận thấy, sự lí tưởng hóa nhân vật quen thuộc của Lê

Văn Trương Tuy nhiên, so với nhiều nhân vật kiểu Người hùng trong tiểu

thuyết của ông, nhân vật “tôi” được xây dựng chân thật và thành công hơn cả

Còn tác phẩm Những đồng tiền siết máu lại thuộc loại truyện phiêu

lưu, ly kỳ trong các tác phẩm của Lê Văn Trương Song, nhà văn lại không

thiên về miêu tả hành động của nhân vật Người hùng mà đi sâu vào các tình

tiết với những thuyết giáo về đạo lý, về cái thiện nhằm thức tỉnh, tiết chế suy

nghĩ và hành động của nhân vật Viết Những đồng tiền siết máu, Lê Văn

Trương muốn người đọc đương thời cảm nhận về những điều hay, lẽ phải,thông qua các nhân vật có ý chí can trường, có tinh thần cao thượng, hào hiệpluôn làm điều thiện và lánh xa điều xấu Những cuốn tiểu thuyết của ông thay

vì ca tụng triết lý sức mạnh lại đề cao lối sống hưởng thụ, ăn chơi tiêu xàihoang phí của kẻ giang hồ Cách viết của Lê Văn Trương dễ dãi, nhân vật cònchắp nối, tùy tiện nhưng vẫn tạo được sự hấp dẫn nhờ nội dung cốt truyện

Ngoài ra, văn học thời kỳ này còn có sự xuất hiện xu hướng tiểu thuyếtlịch sử của các tác giả: Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc VớiLan Khai khi viết về lịch sử, tác giả không quan tâm lắm đến lịch sử, mà chỉmượn lịch sử để làm cho mối tình sử hư cấu thêm hấp dẫn và hứng thú như:

Treo bức chiến hào, Cái hột mận… Dường như Lan Khai không quan tâm

đến những sự kiện lịch sử mà chỉ chú ý tới những chi tiết khuất trong lịch sử.Đây là khoảng trống tự do, để nhà văn hư cấu và kích thích hứng thú củangười đọc Đó cũng là quan niệm nghệ thuật của Lan Khai về tiểu thuyết lịch

sử Với cách nhìn của Lan Khai, đã là con người dù đẳng cấp hay thời đại nàocũng vậy, ai cũng có khát vọng tự do, tình yêu và hạnh phúc, mỗi con người

Trang 20

ai cũng có cái tầm thường và cao cả (Vua chúa cũng yêu đương, ghen tuôngbuồn bực, cô đơn; dân thường cũng có thể có giấc mơ vương bá…) Ông đã đisâu khám phá những vấn đề nhân sinh của con người hiện đại.

Tác giả Lan Khai còn để lại dấu ấn đậm nét trong những trang tiểu

thuyết đường rừng Truyện đường rừng những năm 30 đã thu hút mạnh mẽ người đọc Trong các tác phẩm như: LôHNồ, Pàng Nhã, Rừng khuya, Suối

đàn…cho thấy, Lan Khai là người mở đường vào thế giới chốn sơn lâm Tấm

màn bí mật của thế giới rừng thiêng từng bước được mở ra, rừng núi khôngchỉ là xứ sở của ma quỷ, hùm beo, rắn rết trong tưởng tượng của nhiều người,

mà đó là nơi tiềm tàng, sự sống hiện lên những bức tranh tràn đầy mĩ cảm củamột nhà văn họa sĩ, càng trở nên chân thật, gắn bó với con người Con ngườicần trân trọng và bảo vệ thiên nhiên, vì con người là một phần của thế giới đó

Lan Khai cũng là nhà văn đi sâu vào khám phá truyền thống văn hóa,phong tục, tập quán của con người miền núi và cho thấy, có những tinh hoacần bảo tồn, vun đắp, nhưng cũng nhiều hủ tục là nổi khổ của đồng bào, lànhững nỗi niềm sâu lắng trong nhiều trang viết của ông

Viết về tiểu thuyết đường rừng, đương thời còn có tác phẩm Vàng máu của Thế Lữ, Thần Hổ và Ai hát giữa rừng khuya của Đái Đức Tuấn đã phần

nào tạo được dấu ấn riêng

Như vậy, tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 rất phong phú về

xu hướng và thể loại Mỗi tác phẩm ra đời đánh dấu sự phát triển và đổi thaycủa nền tiểu thuyết Việt Nam Đây chính là một giai đoạn phát triển rực rỡcủa nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

1.3 Vị trí của Lan Khai trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930- 1945.

1.3.1 Sơ lược về quá trình sáng tác của Lan Khai

Nhà văn Lan Khai tên thật là Nguyễn Đình Khải, sinh ngày 24 tháng 6năm 1906 tại Bản Luộc, xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang,trong một gia đình nhà nho kiêm lương y

Trang 21

Năm 1939, Lan Khai làm tổng thư ký Tạp chí Tao Đàn là tạp chí tiêu biểu nhất trong các ấn phẩm của nhà xuất bản Tân Dân và ông là cây bút chủ

lực của nhà xuất bản này Đồng thời, tên tuổi Lan Khai xuất hiện đều đặn trên

các tờ báo: Loa, Ngọ báo, Đông tây, Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông báo

nguyệt san …

Năm 1928, trên văn đàn xuất hiện tác phẩm Nước Hồ Gươm với bút danh Lan Khai đã gây được sự chú ý của độc giả đương thời về thể tài Ái tình

tiểu thuyết sau cuốn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ba năm Kể từ tác phẩm

đầu tay này cho đến cuốn tiểu thuyết lịch sử cuối cùng nhan đề Việt Nam

người về đâu?, Lan Khai đã có gần 50 cuốn sách gồm nhiều thể loại và nhiều

lĩnh vực như: Tiểu thuyết lịch sử, lí luận và phê bình, phóng sự và dịch thuật,

sưu tầm văn học dân gian, thơ và câu đối cùng một số bức tranh phong cảnh

và ký họa với nhiều ghi chép còn nằm trong bản thảo… Đương thời, Lan Khai

được nhà văn Vũ Ngọc Phan xem là một nhà văn đa tài: “Ông đã nhúng tayvào hầu hết các loại tiểu thuyết, rồi ông lại muốn ngả cả về mặt dịch thuậtnữa” [50,982]

Lan Khai đặt chân vào làng tiểu thuyết đầu tiên với thể tài tâm lý xã

hội Với các tác phẩm: Nước Hồ Gươm (1928), Cô Dung (1928 - 1938), Lầm

Than (1929 - 1934 xuất bản 1938), Mực mài nước mắt ( 1938) ….

Nhưng ưu thế làm nên thành tựu đặc sắc trong sự nghiệp văn học của

Lan Khai phải kể đến các Truyện đường rừng của ông Ta có thể chia tác

phẩm này thành hai loại: tiểu thuyết và truyện ngắn Về tiểu thuyết có các tác

phẩm: Mọi rợ (1939), Hồng thầu (1194), Suối đàn (1941), Tiền mất lực

(1940) …Về truyện ngắn đáng chú ý là loại truyền kỳ, có những tác phẩm

chính sau: Người lạ, Gò thần, Đôi con vịt…

Bên cạnh công việc sáng tác, Lan Khai còn tham gia nhiều hoạt động khácnhư nghiên cứu và triết học, văn học và nghệ thuật, dịch thuật, phỏng vấn…

Như vậy, sự xuất hiện cây bút Lan Khai trên trường văn nghệ thời kỳ

1930 -1945 là sự xuất hiện của một người hoạt động văn hóa sôi nổi có ảnh

Trang 22

hưởng mạnh mẽ tới sinh hoạt nghệ thuật đương thời Việc nghiên cứu các disản văn học của Lan Khai không thể tách rời các quan niệm nghệ thuật củaông, bởi các quan niệm đó có tác động tới thực tiễn văn học dân tộc trong thời

kỳ hiện đại hóa nền văn học Việt Nam ở thế kỷ XX

1.3.2 Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai

Quan niệm nghệ thuật của mỗi nhà văn là sự thống nhất của nhiều nhântố: tài năng và lối sống, tâm hồn và trí tuệ, tư tưởng và văn hóa cùng sự chiphối của thời đại lịch sử Năng lực và hoạt động của nhà văn được phản ánhsinh động trong các sáng tác, sản phẩm lí luận và phê bình văn học

Là một người sinh ra ở đường rừng, nhưng sớm hình thành năng khiếunghệ thuật, lại là người có tâm hồn đa cảm, lớn lên trong một tổ ấm gia đìnhyêu cái đẹp, cái thiện và được trau dồi toàn diện về tri thức, Lan Khai là ngườisớm có hoài bão ước mơ

Đây là một con người đam mê và hiểu biết cái đẹp sâu sắc và có mộtnăng lực dồi dào trong sáng tác, đồng thời, tác giả còn là người có vốn tri thứcsâu rộng về các phạm vi: triết học, mỹ học, văn học, khoa học, sinh vật học,địa lý, lịch sử, dân tộc học, môi trường và ngôn ngữ, phong tục tập quán,tiếng địa phương, biệt ngữ Đặc biệt là vốn văn nghệ dân gian phong phúcủa đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Bắc đã làm nên những hương vị riêngtrong nhiều trang viết của ông Đây cũng là nhà văn có sự thống nhất hài hòagiữa quan niệm nhân sinh và nghệ thuật trong nhiều hình tượng văn học

Về quan niệm nhân sinh ông đề cao chủ nghĩa nhân đạo, ca ngợi tìnhyêu và tự do, chủ trương người với người là bạn, đề cao lòng chung thủy sắtson, căm ghét sự giả trá và độc ác Quan niệm đó thấm nhuần trong nhiềutrang viết của ông Quan nhiệm nghệ thuật của Lan Khai bộc lộ rõ ở hai bình

diện nhà văn và văn học Trong các bài viết trên báo Loa năm 1935 như: Đẹp,

Nguồn cảm hứng của thi nhân Việt Nam và các bài: Tính cách Việt Nam trong văn chương (1939), Thiên chức của văn sỹ Việt Nam (1939), Bàn qua

về nghệ thuật (1939), Một quan niệm về văn chương (1939) và các cuốn sách

Trang 23

người phê bình như: Lê Văn Trương (1940), Vũ Trọng Phụng (1941), Cái đẹp

và nghệ thuật (1940) Về nhà văn, theo Lan Khai đó phải là người có tài

năng và được học hành, rèn luyện, có trách nhiệm cao trong sáng tác, phải tinyêu vào truyền thống văn hiến của tổ tiên, biết phát huy tiềm năng và bản sắcdân tộc, phải là tấm gương sáng về đạo đức, biết trân trọng và làm ra cái đẹp:

"Nghệ sỹ là người muốn tạo ra cái phong phú nhiệm màu Nghệ sỹ là ngườiđem mộng tưởng thêm thắt vào sự thực Thực trạng lẫn trong màng mộngtưởng ấy, tức là cái đẹp Thế thì cái đẹp lệ thuộc vào lí tưởng Vì vậy, cái đẹphay tùy người mà thay đổi" Như vậy, cái đẹp (văn chương) là sản phẩm của

hư cấu nghệ thuật và phụ thuộc vào nhận thức của con người Nhà văn làngười có trách nhiệm "truyền giao dĩ vãng cho tương lai nhận chân và pháthuy các khả năng của nòi giống tiềm tàng trong mình ta để làm hồ làm vữatạo nên lớp người sau có thể giúp ích cho nhân loại" Nhà văn còn được xem

là tinh hoa của dân tộc và văn minh của nhân loại được tỏa sáng bằng tài năngtri thức, cần phải được tự do sáng tác Nhà văn (nhất là nhà tiểu thuyết) cầnphải am hiểu rộng và phải không ngừng sáng tạo và lấy tính chân thực làmthước đo cho nghệ thuật "văn chương quý nhất ở thành thực, nhà văn cảmxúc bởi sự vật thế nào cứ viết ra như thế và như thế nhà văn đã làm trọn cáichức vụ của mình" Lan Khai đã phê phán những cây bút thiếu đào sâu suynghĩ, mô phỏng lại cổ nhân như "Con trâu nhai lại cỏ" và phản đối những kẻ

cố tình "Nhận lầm mình là văn sĩ" chạy theo lợi nhuận và tiền bạc làm tay saicho giai tầng bóc lột

Về văn chương, Lan Khai cho đó là sự biểu hiện tư tưởng tình cảm củacon người và thuộc về một dân tộc nhất định trong cộng đồng nhân loại Tínhdân tộc của văn chương gắn liền với truyền thống độc lập tự do và nền vănhiến lâu đời Song, tính dân tộc cũng không ngừng vận động và biến đổi, nêncần có một nền giáo dục tiến bộ, trong đó văn chương góp phần không nhỏtrong việc hình thành tính cách Việt Nam Con người là trung tâm của mọi sựsáng tạo nghệ thuật, quan niệm văn học là quan niệm nghệ thuật về con

Trang 24

người Văn chương hay phải thể hiện từng sở trường riêng của người nghệ sĩ:

"Ví dụ nói đến Nguyễn Công Hoan, người ta phải nói đến sự hài hước, nóiđến Khái Hưng, người ta phải nhớ đến tình thương và sự vui sống lúc nàocũng dịu dàng, nói đến Vũ Trọng Phụng người ta phải nhắc ngay đến nhữngthiên phóng sự hóm hỉnh và sâu sắc" [57,114] Đó thực chất là vấn đề phongcách của người nghệ sĩ, cái làm nên vẽ đẹp muôn màu của văn chương

Sức hấp dẫn của văn chương còn ở sự hồn nhiên chân thực từ nhữngđiều bình thường trong cuộc sống, Lan Khai viết: "Trước những cảnh chiaphôi của một cặp giai nhân, tài tử, trước một cảnh lầm than, đói rét, trước tìnhđời ấm lạnh thất thường, trước không gian, thời gian, anh chị cần nhận xét vàghi chép những ý tưởng và những xúc động hồn nhiên của tâm trí con người".Văn chương hay cần phải có ngôn ngữ đẹp, Lan Khai hay đề cập đến tráchnhiệm của nhà văn trong việc bảo tồn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc, ôngquan tâm sâu sắc tới sức sống lâu dài của nghệ thuật: "Chỉ thứ văn chươngnào trau chuốt, lọc lõi, đẹp đẽ thì mới có thể sống lâu mà thôi" Ngôn ngữ đẹpphải thể thiện được cái hồn dân tộc, Lan Khai đề cao sáng tác của Tản Đà:

"Tôi yêu thích nhất câu lục bát kiểu phong giao, ấy thực là những câu có tínhcách hoàn toàn Việt Nam" [57,129] Tính dân tộc đồng thời cũng là kết tinhcái đa dạng về phẩm chất của cả cộng đồng dân tộc, Lan Khai đề cao nền vănnghệ dân gian đặc biệt là công trình "Những câu hát xanh" của ông cho thấy:tinh hoa nền văn nghệ Việt Nam còn nằm trong kho tàng văn học dân giancủa đồng bào Tày và gọi họ là các "thi gia áo xanh của tôi" và "Tiếng thổ(Tày) mà cũng có ý đẹp lời hay đến thế" Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống

và thuộc về nhân dân, đó là quan niệm xuyên suốt trong hành trình nghệ thuậtcủa Lan Khai

Như vậy, quan niệm nghệ thuật của Lan Khai hình thành trên cơ sởthống nhất của nhiều nhân tố: về tài năng và vốn sống, về tâm hồn và trí tuệ,

về tư tưởng và văn hóa, về truyền thống và hiện đại, về sáng tác và thực tiễn,

về sở trường sáng tạo và sự am tường sâu sắc chỗ đứng trong thế giới nghệ

Trang 25

thuật của riêng mình Từ đó, mở đường cho nhà văn đi vào khám phá nhữngnhu cầu của cuộc sống đặt ra cho nghệ thuật Vì vậy, chúng ta càng hiểu rõhơn vì sao trong nhiều thể tài sáng tác, nhà văn này luôn giữ vị trí mở đườngvào hiện thực Quan niệm nghệ thuật của Lan Khai là quan niệm của một nhà

lí luận phê bình và nghiên cứu văn học hiện đại, lấy truyền thống dân tộc làmnền tảng kết hợp với những luồng tư tưởng mới của phương Tây và thế giớidựa trên thực tiễn văn học đương thời

Cùng với các nhà văn khác, trong thời kỳ hiện đại hóa nền văn học diễn

ra mạnh mẽ và sâu rộng trên đất nước ta, cây bút Lan Khai đã góp phầnkhông nhỏ trong việc tạo nên gương mặt nền văn học dân tộc phong phú từbình diện sáng tác đến quan niệm nghệ thuật Nhìn lại những di sản tinh thầncủa ông giữa thời kỳ vận nước đang trong "cơn dâu bể", ta thấy ánh lên baonỗi niềm trăn trở ưu tư cùng những khát vọng của người nghệ sĩ giàu tâmhuyết trước lịch sử: Làm sao để bảo tồn và phát huy những tinh hoa củatruyền thống Việt Nam? Làm sao có những văn nhân thi sĩ xứng đáng với tầmvóc dân tộc và thời đại? Làm sao để xây dựng được một nền văn hóa mới chotương lai đất nước? Câu nói "Văn là người" đã trở thành chân lý của nhiềuthời đại, giúp chúng ta nhìn về quá khứ sáng suốt hơn và tự tin hơn khi hướngtới tương lai

1.3.3 Đóng góp của Lan Khai đối với tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Văn học Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945 vẫn được xem là giai đoạnhưng thịnh, phục hưng của văn chương thời kỳ hiện đại Nhiều hiện tượng

văn học nổi tiếng như Tự lực văn đoàn, Thơ Mới lên ngôi, rồi trào lưu hiện

thực với những đỉnh cao tỏa sáng Các thể loại phát triển: Tiểu thuyết, phóng

sự, tùy bút, thơ, kịch nói, với nhiều hướng sáng tạo, nhiều phong cách đadạng Trong vườn hoa nhiều hương sắc ấy, đâu là dấu ấn của Lan Khai? LanKhai không bị lãng quên Đã đến lúc cần khôi phục đầy đủ giá trị và vị trí củaLan Khai trong văn học thời kỳ này Ông viết nhiều thể loại: Tiểu thuyết, lí

Trang 26

luận phê bình và dịch thuật, nhưng thành công hơn cả là ở lĩnh vực tiểuthuyết.

Lan Khai viết tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyết về thợ mỏ, về thânphận người trí thức trong cuộc đời cũ, rồi tiểu thuyết lịch sử Nói như VũNgọc Phan: "Lan Khai đã nhúng tay vào hầu hết các thể loại tiểu thuyết" và

đã để lại dấu ấn khó quên qua một số tác phẩm Những trang viết của ông vừagắn với cuộc đời thực mà ông đã trải nghiệm và trí tưởng tượng của ngườicầm bút Mảnh đất Tuyên Quang nơi gia đình sinh sống, nơi ông đã gắn bónhiều năm tháng với chốn núi rừng, với vùng mỏ than Tuyên Quang, mỏ kẽm

Chàng Đà, cũng chính là nguồn sức mạnh trực tiếp của tiểu thuyết Lầm than

và các tiểu thuyết đường rừng khác Lầm than đã được đón nhận ngay từ buổi

đầu Nhà phê bình Hải Triều nhận xét rằng: "Văn chương xứ này đã quênngười thợ đi nhiều lắm và chính người thợ là người đáng nói nhất và đáng nóinhiều nhất Đặc biệt, tác phẩm của Lan Khai là nói đến người thợ, cái hạngthợ khổ sở nhất trong giai cấp thợ thuyền - hạng thợ mỏ Với một ngòi bút

sáng suốt, giản dị, tác giả Lầm than đã miêu tả tất cả cuộc đời khốn khổ, cay

chua ghê gớm của hạng người mà sự sống đã hầu hóa ra một đàn súc vật, chịuđựng tất cả những sự bóc lột đê hèn của giai cấp tư sản một cách tàn nhẫn vôcùng" Ở mức cao hơn Hải Triều cho rằng: "Lan Khai đã vạch một khuynhhướng tả thực xã hội chủ nghĩa vậy", "Lan Khai đã phất lá cờ tiên phong trênmảnh đất này" Lúc này khái niệm tả thực xã hội chủ nghĩa là tiến bộ, là sangtrọng và khác xa các thuật ngữ quen thuộc như tả thực, tả chân

Trên hành trình sáng tác của mình, các tác phẩm Lan Khai chủ yếuthuộc khuynh hướng lãng mạn, nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của phong trào

Mặt trận Dân chủ (1936 -1939), lại am hiểu cuộc sống thợ thuyền ở vùng quê

mà ông gắn bó nên tác phẩm Lầm Than, lại có giá trị hiện thực như một hiện

tượng thăng hoa đột xuất Đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Nguyễn

Hoành Khung: “ Lầm Than là một tác phẩm tiến bộ đột xuất, chứng tỏ ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào Mặt trận Dân chủ đối với Lan Khai cũng như

Trang 27

văn học đương thời Tác phẩm đã phản ánh trực diễn cuộc sống vô vàn cựckhổ của người công nhân mỏ vì người tư bản Pháp và tay sai áp bức tàn tệ.Tác giả có cái nhìn khám phá sắc sảo khi thể hiện hình tượng người côngnhân - một kiểu nhân vật mới mẻ trong văn học buổi ấy" Điều đáng quý làvới Lan Khai còn ở những trang miêu tả bản chất trong sáng tốt đẹp về tình

hữu ái giai cấp của người công nhân Tác phẩm Lầm than không khỏi chịu ảnh hưởng ít nhiều ở những tác phẩm viết về những công nhân như Người mẹ của Gorki hay Germinal của Emile Zola Tuy nhiên, Lầm than mang bản chất

và tính chân thực của một tác phẩm viết về thợ mỏ Việt Nam

Lầm than thực sự đã bổ sung cho tiểu thuyết Việt Nam một điểm sáng,

một màu sắc mới về người công nhân Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ này, vẫn

nổi lên chủ yếu là hình ảnh làng quê với người nông dân như: Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Con trâu của Trần Tiêu và tiếp theo là Quê người của Tô Hoài và Chí phèo của Nam Cao hình

ảnh người thợ ở môi trường tập trung lao động khốn khó nhất thì chúng ta có

Lầm than của Lan Khai Cô Dung cũng là một trong những cuốn tiểu thuyết

đầu tiên của nền văn học Việt Nam hiện đại viết về người phụ nữ nông thôn

(ra đời trước tác phẩm Tắt đèn (1939) của Ngô Tất Tố), đương thời nhà văn Thiều Quang Lục đã viết lời đề, tựa và nhận định rằng: "Tiểu thuyết Cô Dung

tức là đài tưởng niệm "chiến sĩ vô danh" của tất cả các thế hệ phụ nữ ViệtNam, qua bao nhiêu đời, đã hi sinh cho sự tồn tại của tổ quốc [31,6] Nhà văn

Vũ Ngọc Phan lại đánh giá cao về chất trữ tình và ý nghĩa điển hình của thiên

tiểu thuyết này: "Quyển Cô Dung của Lan Khai là một quyển mà ta có thể coi

là một quyển tình quê lai láng" [50,975] và "cái dụng công ấy là ở chỗ LanKhai đã tạo ra một cô gái giống hệt hàng trăm nghìn cô gái trong tất cả các

tiểu thuyết xuất bản ở nước ta ngày nay" Tiểu thuyết Mực mài nước mắt (1941) cùng với truyện ngắn Kiếp con tằm (1935) là những bức tranh về bi kịch tinh thần của người nghệ sĩ (ra đời trước tác phẩm Sống mòn, Trăng

sáng, Đời thừa của Nam Cao) Tác giả nói lên nỗi tủi nhục xót xa và những

Trang 28

mâu thuẫn giằng xé ở người nghệ sĩ sống trong cảnh "cơm áo không đùa vớikhách thơ", nhưng cuối cùng vẫn ánh lên cái khát vọng nhân văn cao cả từtrong sâu thẳm của tâm hồn người nghệ sĩ, luôn yêu thương con người và khátkhao sáng tạo, muốn phá tan cái xấu xa, lỗi thời để xây dựng một nền văn hóamới cho đất nước.

Về tiểu thuyết, Lan Khai cũng có đóng góp về mảng Truyện đường

rừng Đề tài viết về miền núi vốn không xa lạ trong văn chương Việt Nam.

Các nhà thơ xưa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng ca ngợi thúlâm tuyền khi lánh xa cảnh trần thế Còn trong thời kỳ hiện đại thì rừng núihiện hình khá rõ nét qua các trang văn thơ Trong thời kháng chiến chốngPháp, nói như nhà thơ Quang Dũng là cảnh "Mở rừng, ăn rừng, ngủ rừng"

Nam Cao có Mở rừng, Lê Lựu có Ở rừng, chắc chắn rừng núi khác nhiều so

với tiểu thuyết lãng mạn trong những sáng tác của Lan Khai, Thế Lữ Gần gũi

mà xa lạ, bình dị và kinh dị, nên thơ và hiểm trở vẫn thường là những đặcđiểm của rừng núi trong tiểu thuyết của Lan Khai, Thế Lữ Thế Lữ viết tiểuthuyết đường rừng với kết cấu chặt chẽ vừa huyền bí vừa khoa học nên cómàu sắc hiện đại Còn Lan Khai thì mờ ảo chân thật và có lúc để cho trangviết "nhập ma" tạo không khí đường rừng kinh dị Tuy nhiên, ở Lan Khai,rừng núi cũng như gần gũi hơn, có cảnh, có người Nhân vật miền ngược,miền xuôi có giao lưu rồi gắn bó yêu đương Lan Khai đã chỉ ra một chân lý

là giá trị của con người phải ở trong cảnh ngộ thực của mình Cô gái miền núiđẹp, nên thơ của rừng núi sẽ trở nên ngơ ngác, thậm chí buồn cười trong môitrường thành thị

Như vậy, Truyện đường rừng của Lan Khai đã cho ta thấy ông là người

nghệ sĩ đầu tiên đã mở ra được bức màn bí mật của thế giới sơn lâm và đứngvững vàng trong "Cái thế giới của riêng mình", vượt Thế Lữ, Lưu Trọng Lư,Đái Đức Tuấn, Lý Văn Sâm trong cùng giai đoạn văn học 1930 - 1945 và

đi trước Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Ma Văn Kháng, Vi Hồng, Nguyễn

Huy Thiệp về mặt thời gian Đọc các Truyện đường rừng của Lan Khai,

Trang 29

chúng ta thấy thế giới thiên nhiên, phong tục tập quán và con người miền núitrở nên gần gũi, gắn bó hơn và tìm thấy sự đồng cảm giữa con người với conngười hơn trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Ở Lan Khai dường như dễ thấy sự phân tán, mở ra quá rộng về đề tàiqua các sáng tác, nhất là với tiểu thuyết: tiểu thuyết đường rừng, tiểu thuyếtlịch sử, tiểu thuyết xã hội Tuy nhiên, vẫn có một điểm quy tụ đó là những trảinghiệm của cuộc đời tác giả mà ông ghi nhận, cảm nhận qua trang viết Rộng

ra hơn chính là lòng yêu mến con người, thiên nhiên của quê hương Việt Namcủa một nhà văn có ý thức trách nhiệm với ngòi bút Ngòi bút của Lan Khai

có mặt ở những ngã đường còn mới mẻ, từ đó dấn thân và ghi lại được dấu ấnđậm nét trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Trang 30

Chương 2

SỰ LỰA CHỌN ĐỀ TÀI VÀ CẢM HỨNG SÁNG TẠO

TRONG TIỂU THUYẾT LAN KHAI

2.1 Sự lựa chọn đề tài

2.1.1 Khái niệm đề tài

Đề tài là các sự kiện tạo nên cơ sở chất liệu đời sống của tác phẩm (chủyếu là tác phẩm tự sự và kịch), đồng thời gắn với việc xác lập chủ đề của tácphẩm Đối với phần lớn sáng tác thơ trữ tình, khái niệm đề tài dường nhưđồng nhất vào khái niệm chủ đề

Những thuộc tính chung về đề tài (chủ đề) là căn cứ để tập hợp tácphẩm theo nhóm thể tài (Ví dụ: tiểu thuyết lịch sử hoặc tiểu thuyết tâm lý xãhội, truyện trinh thám hoặc truyện khoa học, giả tưởng )

Như vậy, đề tài chủ đề là những vấn đề chính, vấn đề chủ chốt được tácgiả nêu lên trong tác phẩm Sự lựa chọn đề tài thể hiện tư tưởng, vốn sống,vốn văn hóa, kinh nghiệm, đặc biệt là cá tính sáng tạo của nhà văn Trong quátrình sáng tác, nhà văn luôn đề ra cho mình một mục tiêu: Viết cho ai? Viếtcái gì? Viết như thế nào? Viết gì đó là vấn đề đề tài và chủ đề trong tácphẩm Mục tiêu ấy trở thành phương hướng chung cho sáng tác văn học Vìvăn chương theo mục đích nghệ thuật thuần túy sẽ không có lợi ích và không

có sức sống lâu dài Hơn ai hết, nhà văn - người lao động nghệ thuật phải hòamình vào cuộc sống, thường xuyên đi sâu và nắm bắt những hiện tượng, sựkiện trong đời sống: "Bám chặt vào cuộc sống như thân cây xanh tốt bám rễvào lòng đất" Người nghệ sĩ đến với cuộc sống như một người tình khôngbao giờ lỗi hẹn Anh phải xúc động, thổn thức, phải yêu say đắm, phải chịuđựng những đau khổ và bất trắc của tình yêu Sự giả tạo, gò bó, cưỡng bứctrong thái độ sẽ dẫn đến cuộc đỗ vỡ xót xa

"Đề tài là tư tưởng nảy sinh trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộcsống gợi ra cho nhà văn "(Goorki), "là những mãnh đất để nhà văn ươm gieo

Trang 31

những hạt giống tư tưởng, những vấn đề xã hội" [44,280] Cho nên, mỗi nhàvăn đều thể hiện và thành công trên những vùng đề tài nhất định.

2.1.2 Sự lựa chọn đề tài trong tiểu thuyết Lan Khai

Sự lựa chọn đề tài là một trong những nét biểu hiện rõ phong cách nhàvăn Đề tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm Đó là các hiệntượng đời sống được mô tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học "Đề tàitrong tác phẩm là một phương diện nội dung của nó, là đối tượng đã đượcnhận thức, lựa chọn gắn liền với dụng ý, thế giới quan, lập trường của tưtưởng, quan niệm của nhà văn" [55,98] Hiện thực đời sống có muôn màumuôn vẻ, phong phú và đa dạng đòi hỏi người viết phải biết nhìn nhận, nắmbắt những vấn đề nổi bật, những vấn đề thực sự trở thành "ám ảnh" nghệthuật, từ đó đào sâu tìm tòi "khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạonhững gì chưa có" Bởi vì , văn học không chấp nhận sự nhạt nhẽo, đơn điệu,lặp lại Tác phẩm văn học vốn là kết quả phản ánh đời sống khách quan thôngqua lăng kính chủ quan của nhà văn Cho nên, nhà văn không thể không indấu ấn riêng trong cách cảm, cách nghĩ, mô tả của mình vào tác phẩm

Trong việc lựa chọn đề tài ở mỗi tác phẩm, nhà văn đều ít nhiều thểhiện mình trong đó Thông qua tác phẩm, nhà văn muốn gửi gắm tư tưởng,tình cảm, suy nghĩ của mình về nhân sinh, thế sự Vì vậy, tư tưởng bao trùmtrong tác phẩm chính là phương diện biểu hiện rõ phong cách của nhà văn.Nhà văn không chỉ viết cái gì? mà còn viết để làm gì? Nghĩa là qua tác phẩmcủa nhà văn toát lên được những tư tưởng cơ bản nào? Mỗi nhà văn đều có sởtrường này, sở đoản nọ, cho nên cách đưa vấn đề, nhìn nhận nó cũng khácnhau Cách nói chỉ là hiện tượng bên ngoài, điều quan trọng là mạch tư tưởngbên trong, là sự nhận thức, lí giải và thái độ đối với toàn bộ nội dung cụ thểsống động của tác phẩm, cũng như những vấn đề nhân sinh đặt ra trong đó

Với Lan Khai sự lựa chọn đề tài trước hết xuất phát từ quan niệm nhưsau về văn chương và nhà văn: "Văn chương là gì? là sự phô diễn tâm tình và

tư tưởng của loài người bằng văn tự Vậy thì, văn chương phải lấy người làm

Trang 32

nền tảng Không đúng với người văn chương chỉ có thể là bịa đặt, là giả dối

và như thế văn chương sẽ mất hết giá trị" Như vậy, nhà văn phải biết khámphá thực tại, biết hướng đến cái chân - thiện - mĩ nằm ngay trong cuộc sốnghàng ngày để phản ánh nó một cách nghệ thuật Lan Khai cũng từng quanniệm rằng: "Nhà văn không chỉ là người phát ngôn cho tâm hồn, cảm nghĩ củadân tộc mà còn phải là người góp phần quan trọng để kiến tạo tinh thần chothế hệ tiếp sau" [60,46] Lan Khai cho rằng: "Nhà văn là kết tinh tài năng,kinh nghiệm và tri thức, có khả năng biểu đạt cho tâm hồn tư tưởng của nhândân và thuộc về một dân tộc nhất định" Cùng những tiền đề trên, sự mẫn cảmcủa tâm hồn cá nhân trước môi trường sống cũng là một nhân tố góp phần đưa

đến cái "nghiệp chướng" văn chương Trong bức thư Gửi một bạn trẻ muốn

theo đuổi nghề viết văn đăng trên tạp chí Tao Đàn số 6/1939, tác giả đã giãi

bày tâm sự: "Tôi sinh trưởng ở đường rừng nên thường một mình đứng trướcthiên nhiên, muôn hình nghìn dáng Những lúc đó, lòng tôi băn khoăn, thắcmắc như muốn nói điều gì" Và chính những điều "muốn nói" đó đã khơi

nguồn cảm hứng cho sự ra đời của tập Truyện đường rừng "tươi đẹp" của Lan

Khai Nhà văn vốn được xem như sợi dây liên lạc tâm hồn con người, theoLan Khai trước nhất phải hiểu biêt sâu sắc về truyền thống vĩ đại trong lịch sử

và truyền thống văn hóa cao đẹp của tổ tiên Tác giả viết: "Cái dân tộc thựcthà, vui vẻ, không cố oán, không lếu láo, không trục lợi, không mờ quángtrong khi tin, có can đảm, trung thành, tận tâm, khinh sợ chết, có một sứcsống phi thường và tin ở sự lâu bền của nòi giống của mình" Nhà văn phảihướng nhân dân về cội nguồn dân tộc, nhà văn phải giáo dục thông qua tácphẩm nghệ thuật của mình Có thể xem đó là những nhận thức có tầm tưtưởng sâu xa Muốn có tương lai tươi sáng phải hiểu rõ cội nguồn tốt đẹp.Đây được xem như là căn cứ để trả lời câu hỏi: Vì sao nhà văn đường rừngnày lại viết nhiều tiểu thuyết về đề tài lịch sử như vậy?

Đọc tiểu thuyết của Lan Khai, đôi khi ta bắt gặp những ý kiến về văn

chương len lỏi trong nhiều trang viết Trong Mực mài nước mắt (1941), dưới

Trang 33

hình thức thư cho bạn, nhưng thực chất Lan Khai trình bày quan niệm sốngđối với người cầm bút Tác giả đặt vấn đề vai trò, quyền sống và tự do sángtác cùng khát vọng đổi đời của nhà văn trước lịch sử dân tộc.

Đã đành văn học là nghệ thuật ngôn từ, nhưng ngôn từ nghệ thuật trongtừng tác phẩm lại phản ánh năng lực sáng tạo riêng của từng cây bút Nhưngbản thân người viết cũng không ngừng biến đổi trước cuộc sống không ngừngvận động Chính quá trình vận động và biến đổi của cuộc sống đã làm thayđổi tầm nhìn và trạng thái tâm hồn nghệ sĩ

Sự lựa chọn đề tài của Lan Khai không nằm ngoài phạm vi cuộc sống.Cuộc sống là nguồn đề tài vô tận và tạo sức hấp dẫn, gần gũi và lâu dài cho vănnghệ "Nhà văn phải biết tất cả những dòng thác của cuộc sống và tất cả nhữngluồng nước nhỏ của dòng thác đó, tất cả những mâu thuẫn của thực tại, nhữngtấn bi và hài kịch của nó, tính chất anh hùng và tính chất hèn kém của nó, cáichân thật cũng như cái giả dối của nó Nhà văn phải biết rằng dù một hiện tượngnào đó có vẻ nhỏ nhặt và vô nghĩa đến đâu chăng nữa thì nó cũng là mảnh vỡcủa thế giới cũ đã sụp đổ hay là một mầm mống của thế giới mới" [20,13]

Là cây bút xuất hiện khá sớm từ trước 1930, Lan Khai viết nhiều, viết đều

và hết sức đa dạng, đặc biệt, trong khoảng mười năm từ giữa những năm 30 đến

1945 Trong ấn tượng của nhiều người, Lan Khai được biết đến như là một tác

giả của những Truyện đường rừng, ly kỳ, ma quái, kích thích sự tò mò, hiếu kỳ

của độc giả về những bí ẩn và những câu chuyện hoang đường ở chốn sơn lâm

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong bộ Nhà văn hiện đại cũng đã xếp sáng tác

của Lan Khai vào khuynh hướng "Tiểu thuyết truyền kỳ" Nhưng Lan Khai còn

là cây bút viết về tiểu thuyết lịch sử rất đáng chú ý, với nhiều tác phẩm đặc sắc

như: Ai lên phố Cát, Chiếc ngai vàng, Đỉnh non thần, Gái thời loạn… Lan Khai còn có tiểu thuyết tự truyện: Mực mài nước mắt , tiểu thuyết tâm lý xã hội về đề tài nông thôn nông dân: Cô Dung - một tiểu thuyết được Vũ Ngọc Phan đánh giá cao về tư tưởng và nghệ thuật Đặc biệt, tiểu thuyết Lầm Than (1938) được xem

là tác phẩm mở đầu viết về đề tài công nhân

Trang 34

Khi nghiên cứu kĩ lưỡng về những mảng sáng tác của Lan Khai: tiểuthuyết lịch sử, Truyện đường rừng, tự truyện, tiểu thuyết về nông thôn Chúng

ta cần đánh giá đúng những thành công và đóng góp của Lan Khai trong tiểu

thuyết Lầm than, nếu đặt nó bên cạnh Tắt đèn của Ngô Tất Tố thì cũng rất

xứng đáng Tuy nhiên, sáng tác của Lan Khai không thuần nhất mà chứa đựng

sự phức tạp, có cả những mâu thuẫn, đan xen nhiều yếu tố tích cực và khôngtích cực, những giá trị lâu bền bên cạnh những gì chỉ là thứ văn chương giảitrí chốc lát, viết ra vì nhu cầu mưu sinh của người cầm bút thời ấy

Trong thời kỳ đất nước đã mất chủ quyền, dân tộc bị đặt dưới ách thốngtrị của thực dân, thì bất cứ lời nói và hành động nào nhằm giữ gìn và phát huytinh thần dân tộc đều cần được trân trọng

Lan Khai đã thể hiện cái nhìn khá toàn diện và sâu sắc về vị trí của nhàvăn đối với cuộc sống và nghệ thuật Cho nên, sự lựa chọn đề tài trong tácphẩm của ông đã thể hiện được đặc trưng riêng Viết về đề tài tâm lý xã hội,tác giả đã đi sâu vào những số phận, những bi kịch, hài kịch trong cuộc sống

Hệ đề tài lịch sử, đề tài công nhân phản ánh được những vấn đề cần thiết, bứcbách mà ông luôn trăn trở Vốn là con người miền núi, cho nên viết về miềnnúi là sở trường của ông Đương thời, ông được đánh giá "là người mở đườngvào thế giới sơn lâm"

Do vậy, sự phân chia thành những mảng đề tài trong tác phẩm của LanKhai chỉ là một việc làm tương đối Bởi, hầu như không có tác phẩm nào củanhà văn chỉ mang một mảng đề tài nhất định mà ở mỗi tác phẩm đều có sự kếthợp của nhiều hướng nhìn, nhiều đề tài Nhưng tựu chung lại có thể thấy, Lan

Khai hướng ngòi bút của mình vào các mảng đề tài: Đề tài tâm lý xã hội, đề

tài lịch sử, đề tài đời sống công nhân, đề tài thiên nhiên…….

2.1.2.1 Đề tài tâm lý xã hội

Viết về đề tài tâm lý xã hội là một đề tài không còn mới mẻ trong làngtiểu thuyết Việt Nam lúc bấy giờ Trong thời kỳ xã hội đen tối, vai trò củangười nghệ sĩ là phải phản ánh được những số phận, những cảnh đời, những

Trang 35

mong ước của con người lúc đó Bởi văn học luôn phản ánh hiện thực đờisống Viết về đề tài này trước đó có rất nhiều tác giả đã tạo được dấu ấn riêngnhư: Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Hồng….

Lan Khai đặt chân vào làng tiểu thuyết mở đầu bằng tác phẩm Nước Hồ

Gươm (1928) Đó là những năm tháng cuối cùng của giai đoạn giao thời đầu

thế kỷ XX, là thời điểm chuyển mình mạnh mẽ của cuộc cách tân văn học dântộc, mở ra một thời đại huy hoàng của thơ ca và tiểu thuyết giai đoạn 1930-1945.Vậy ở tuổi 22, với hoài bão phi thường nhưng bình dị "Anh sẽ là một nhà tiểuthuyết", đã dẫn dắt ông trở thành một nhà văn với nhiều thể tài phong phú

Chỉ riêng các tiểu thuyết về đề tài tâm lý xã hội như: Cô Dung, Mực mài nước

mắt, Tội nhân hay nạn nhân, Tội và thương….cũng đủ cho ông có một chỗ

đứng riêng trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, góp phần làm cho gươngmặt nền văn học dân tộc giai đoạn 1930-1945 trở nên phong phú

Mỗi tác phẩm viết về đề tài tâm lý xã hội là những bức tranh chân thực,sống động về những con người và những cảnh ngộ khác nhau, bao gồm cả

người trí thức, người nông dân, người công nhân Đặc biệt, tiểu thuyết Lầm

than đã gây được tiếng vang lớn trong độc giả cả nước.

Lầm Than của Lan Khai Là một cuộc đời đau khổ và thê thảm của phu

mỏ, một hạng lao động đã cạn rất nhiều mực của các nhà văn trên thế giới"

Là nhà văn am hiểu cuộc sống, "Lan Khai đã tả những việc rất thường, nhữngviệc mà ai cũng biết, mà ai cũng có thể thấy được, nhưng đó là những việc có

ý nghĩa, những việc mà chỉ hạng phu mỏ mới có Chỉ đọc những việc nặng

nhọc và thê thảm của phu mỏ trong quyển Lầm than người ta sẻ thấy cuộc đời

họ tóm tắt cả ở câu này "vào chỗ chết để giữ lấy sự sống" Cái ý tưởng ấy ''đãdiễn ra ở mọi việc một cách tự nhiên vô cùng'' Theo nhà nghiên cứu Vũ NgọcPhan: "Lan Khai là một nhà văn đã biết ghi những cái đáng ghi ở trên đời và

đã hiểu tâm lý người lao động" Như vậy, ngoài việc am hiểu cuộc sống, tácgiả Lan Khai còn là người có phẩm chất nghệ sĩ hài hòa giữa tài năng và tráchnhiệm trong sáng tạo Điều đó thể hiện trong các chi tiết trong tác phẩm và

Trang 36

việc mô tả tâm lý tài tình của tác giả ( đoạn tả Tép sau khi chồng bị bắt) làmột đoạn tả tình rất tinh tế Vũ Ngọc Phan cho rằng: "Lan Khai là nhà văn

biết phát huy tính chân thực nghệ thuật một cách năng động" Lầm than của

Lan Khai tuy là một tập tiểu thuyết nhưng mọi việc đều thiết thực không khác

gì những việc trong một thiên phóng sự Thực tế cho thấy, tác phẩm của ông

đã tạo nên những nhân vật và hoàn cảnh điển hình sống động

Lầm than ra đời là một sự kiện văn nghệ quan trọng, tác phẩm đã nói

tiếng nói tố cáo áp bức bóc lột của nhân dân lao động, giác ngộ của quầnchúng đấu tranh với thế lực đen tối để dành quyền dân sinh dân chủ chuẩn bịcho một cuộc đổi đời ở thập kỷ tiếp theo

Rõ ràng, trong cơn phong ba của lịch sử, Lan Khai đã biết đau nỗi đaucủa con người, biết khao khát tự do cho dân tộc Tác giả đủ dũng khí cầm bútgiữa vòng vây của súng gươm xiềng xích để có được những hình tượng vănchương chân thực Tác phẩm nghệ thuật thực có giá trị khi nó hướng tới sự

giải thoát con người khỏi tối tăm nô lệ, hướng tới tương lai Lầm than là ngọn

lửa hồng trong đêm đông giá lạnh

Với tác phẩm Cô Dung cho thấy, ông cũng là một trong những nhà văn

sớm nhất trong giai đoạn 1930-1945 có chiều sâu nhận thức khi viết về ngườiphụ nữ nông thôn Vũ Ngọc Phan đánh giá cao điển hình nhân vật trong tácphẩm này Đó là Lan Khai đã xây dựng được hình ảnh một người phũ nữgiống hệt trăm nghìn người phụ nữ có đức hạnh ở thôn quê, nhưng lại kháchẳn các cô gái mà ta thấy trong các tiểu thuyết từ trước đến nay Còn Thiều

Quang Lộc đã viết lời tựa cho tiểu thuyết Cô Dung rằng: "tiểu thuyết Cô

Dung tức là đài tưởng niệm "chiến sĩ vô danh" của tất cả các thế hệ phụ nữ

Việt Nam qua bao nhiêu đời đã hi sinh cho sự tồn tại của tổ quốc" [31,6]

Về người nông dân, nếu trong tiểu thuyết Cô Dung Lan Khai còn miêu

tả người phụ nữ cam chịu hi sinh cuộc đời và hạnh phúc cho đạo đức lễ giáo

phong kiến thì trong Mực mài nước mắt Lan Khai đã viết: "Công phu mồ hôi

nước mắt của bình dân không bị mất vào tay kẻ đầu cơ, sẽ dùng để nuôi bình

Trang 37

dân Phú quý sinh lễ nghĩa: Cái bóng đã mở rồi, cái thân đã ấm rồi, bình dân

đã bắt đầu học quen suy nghĩ để biết rằng quốc gia chính là cái công chuyệncủa họ, rằng cuộc đời chỉ thuộc về kẻ nào làm lụng vất vả, rằng sự cần laokhông phải chỉ tạo nên cơm áo, mà còn tạo nên một cái gì lớn lao quý báuhơn Lòng tin mà người có thể có được óc khôn ở lẽ phải, ở sứ mệnh củamình là sắp đặt cuộc sống sao cho xứng đáng với mình và trang hoàng chotrái đất bằng cái vẻ đẹp của vẻ công bình và lòng nhân ái" [60,306]

Mực mài nước mắt là bức tranh về bi kịch tinh thần của người nghệ sĩ Tác

giả nói lên sự tủi nhục xót xa và những mâu thuẫn giằng xé trong tâm canngười nghệ sĩ sống trong cảnh "cơm áo không đùa với khách thơ", nhưng cuốicùng vẫn ánh lên cái khát vọng nhân văn cao cả từ trong sâu thẳm của tâmhồn người nghệ sĩ luôn yêu thương con người và sáng tạo, muốn phá tan cáixấu xa lỗi thời để xây dựng một tân văn hóa cho đất nước

Tội nhân hay nạn nhân là tiểu thuyết tâm lý của Lan Khai được viết

với một giọng văn thấm thía, ngậm ngùi, khá xúc động Nhân vật chính là tộinhân hay nạn nhân của một sự giáo dục nghiêm khắc đến tàn nhẫn của nhữngbậc làm cha làm mẹ Quyền uy và những nguyên tắc cứng nhắc lấn át tìnhthương yêu, đã xô đẩy nhân vật đến bờ vực của tội lỗi và sa đọa Lan Khai đãhướng ngòi bút đi sâu vào khai thác những diễn biến của tâm trạng và hànhđộng của nhân vật để làm nổi bật lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm

Tội và thương là tác phẩm miêu tả diễn biến tâm lý của một thiếu phụ

phạm tội ngoại tình, tự đấu tranh với chính mình để trở lại cuộc sống yên tĩnhcủa gia đình, thực hiện thiên chức của người phụ nữ là làm vợ và làm mẹ Vớitác phẩm này, Lan Khai đã chú ý đề cập đến vấn đề tình yêu, hôn nhân và giađình trong xã hội

Với đề tài tâm lý xã hội, Lan Khai đã phần nào khẳng định được vị trícủa mình trong làng tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Mỗi tác phẩm là một bứctranh khác nhau về số phận của con người Tác giả đi sâu khám phá nhữngvấn đề nổi bật trong cuộc sống Từ đó phân tích, lí giải, gửi gắm, những tư

Trang 38

tưởng tình cảm, sự cảm thông chia sẽ của chính tác giả Cho dù viết về thànhthị, nông thôn hay hầm mỏ, cây bút Lan Khai luôn "gắng tìm đường mới chonghệ thuật".

2.1.2.2 Đề tài lịch sử

Lan Khai trước hết được coi như nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch

sử Tiểu thuyết lịch sử thì đòi hỏi phải có kết cấu chặt chẽ, diễn biến hợp lý,mang tính chất lịch sử và màu sắc thời đại nhất định

Trước thời chiến sự Đông Dương, văn đàn Bắc Hà nổi danh ba cây bútviết về đề tài lịch sử: Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Phan Trần Chúc LanKhai đã từng tâm sự với nhà nghiên cứu Ngọc Giao: "Ở thời này, nên viếtnhiều về lịch sử, lấy việc xa người cũ áp dụng vào chiến sự, nâng cao tinhthần dân tộc, để ngòi bút được thả sức tung hoành…Hơn nữa, viết tiểu thuyếtlịch sử theo nhà văn Lan Khai cho là dễ viết hơn chuyện xã hội đương thời.Trong làng văn hiện nay, lịch sử tiểu thuyết vẫn là khan hiếm…" Vì vậy, nhàvăn Lan Khai viết tiểu thuyết lịch sử vì nhiều mục đích nên cốt truyện trongtiểu thuyết lịch sử của Lan Khai lại rất bình thường, nhiều khi sắp xếp giả tạo,thậm chí mượn cái lịch sử để lồng vào một chuyện tình lãng mạn và tiểu tưsản, mang tính chất thời thượng đương thời

Viết về những thời kỳ xa xưa của dân tộc, nhưng Lan Khai lại chịu ảnhhưởng của văn chương pháp, cốt truyện của ông mang tính chất éo le nhưnhững vở kịch của Corneille, Racine Tuy vậy, ông không có được năng lựcphân tích tâm lý tinh vi và sâu sắc như hai nhà viết kịch lớn này

Các tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai là những bức tranh dài rộng, nối tiếpnhau về biến cố trong tiến trình lịch sử dân tộc Song, tác giả không chỉ nhằm táihiện các sự kiện xảy ra trong quá khứ như những nhà làm sử, mà tác giả còn gửigắm trong đó những vấn đề thế sự, về cái thiện và cái ác, về tình yêu và hạnhphúc, vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng của con người…Mặc dù, số lượng tiểu thuyếtlịch sử không lớn nhưng nhiều tác phẩm lại tái hiện khá rõ nét những sự kiện

Trang 39

lịch sử ở địa phương chân thực và sinh động từ nhân vật đến địa danh và phong

tục tập quán như: Ai lên phố cát, Gái thời loạn, Đỉnh non thần….

Gái thời loạn là câu chuyện xảy ra ở giai đoạn Mạc Dăng Dung chuyên

quyền toan thoán đoạt ngôi Lê Khi đó ở Tuyên Quang, có họ Vũ đứng ra đốikháng…Tác giả tỏ ra nắm vững địa dư cùng các sự kiện lịch sử quanh việcquân Cờ Đen hoành hành cướp bóc vùng Lô Giang, đánh thành Tuyên Quangnên tác phẩm có những trang sinh động về cảnh dân tình đau thương vì loạnlạc, cùng các trận tấn công của Cờ Đen vào đồn binh pháp ở Tuyên Quang.Một vài nhân vật của Cờ Đen như Hoàng Thiếu Hoa, Hoàng tướng Quân đãđược lý tưởng hóa như những con người hiền từ nghĩa hiệp, bộc lộ rõ cảmquan lãng mạn của ngòi bút tiểu thuyết Lan Khai

Từ trong quan niệm sáng tác, khi viết Ai lên phố Cát, Lan Khai không

chú ý nhiều đến sự kiện mà tìm cách hư cấu, "Nhằm thêm hứng thú cho câuchuyện mình định kể" [71,16] Viết về các danh nhân thời cổ, tác giả chorằng, chính sự chú ý đến những chi tiết "quần chúng vẽ vời bày đặt ra lắm sựquái dị mới là cách làm cho người ta cảm động"

Viết tiểu thuyết lịch sử, Lan Khai thừa nhận rằng, Ông "là người chỉ cókhuynh hướng về nghệ thuật" và chỉ chú ý đến việc làm người đọc "say đắm

mơ màng bởi những cái có thể có được" Vì vậy, khi viết Treo bức chiến hào,

Lan Khai không quan tâm lắm đến lịch sử, mà chỉ mượn lịch sử để làm chomối tình sử hư cấu thêm hấp dẫn và hứng thú Điều này thể hiện rõ quan niệmnghệ thuật của Lan Khai khi viết về đề tài lịch sử

Nhà nghiên cứu Trương Tửu đã phê bình tiểu thuyết lịch sử của LanKhai (báo loa 1937): "Lan Khai hay đem vào chuyện những vai gian hùng,đắc thắng (như Mạc Đăng Dung, Trần Thủ Độ)", những giai đoạn rối ren tangtóc (như giặc Cờ Đen, giặc Chiêm) và cho rằng Lan Khai có một triết lí biquan về lịch sử, về con người "Lịch sử chỉ là chuyện mạnh được yếu thua vàcon người một giống tự phụ là thông minh mà vì danh vì lợi nỡ tàn hại lẫnnhau, tệ hơn loài ác thú"

Trang 40

Trong các tiểu thuyết viết về đề tài lịch sử của Lan Khai, có lẽ ông chỉ

đi tìm những cơ hội dễ dàng rung cảm người đọc với những cảnh tượng biđát, những mối tình éo le, những kịch bản sân khấu và chính những đề tài trên

đã khiến cho ông những cơ hội ấy

Đôi khi "chúng ta không đòi hỏi ở nhà văn một sự thật lịch sử tuyệt đối.Tiểu thuyết bởi bản chất của nó là một câu chuyện giả tưởng Người viết tiểuthuyết lịch sử cũng như loại tiểu thuyết khác thường chỉ tạo một cái khunglịch sử để giải bày ý mình, tình mình Ta sẵn lòng chấp nhận vai trò chơi nghệthuật ấy Song, cũng cần tránh những sai suyển thời gian tính quá đáng, nhất

là muốn thành công, tác giả cần phải sống mãnh liệt với tấn kịch mà mìnhdựng lại, những nhân vật mà mình cho hồi sinh, thổi cho nhân vật ấy một linhhồn, nắn cho họ một cốt cách khả dĩ, xâm đoạt trí não người đọc, hiện lên có

vẻ thật hơn cả sự thật tầm thường" [60,286] Song, ở Lan Khai các tiểu thuyết

đã tạo nên chỗ đứng riêng trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Đó lànhững bức tranh của nhiều triều đại gắn với lịch sử chống ngoại xâm và hìnhtượng những người anh hùng dân tộc, hình tượng kẻ thù và bọn tay sai bánnước Không tái hiện quá khứ như những nhà làm sử mà thông qua nhân vật

và sự kiện, nhà văn gửi gắm những vấn đề mới về quan niệm nghệ thuật vànhân sinh Với cách nhìn của Lan Khai, đã là con người dù là đẳng cấp haythời đại nào cũng vậy, ai cũng có khát vọng tự do, tình yêu và hạnh phúc, mỗicon người ai cũng có cái tầm thường và cao cả (vua chúa cũng yêu đương, ghentuông, buồn bực, cô đơn, dân thường cũng có thể giấc mơ vương bá) Ông đisâu khám phá những vấn đề nhân bản, đem lại quan niệm sống mới cho conngười hiện đại, thể hiện lối tư duy nhạy bén và ý thức cách tân tiểu thuyết

2.1.2.3 Đề tài đời sống công nhân

Có thể thấy các sáng tác của Lan Khai đã phản ánh nhiều mặt, nhiềulĩnh vực khác nhau của cuộc sống: thành thị và nông thôn, đồng bằng và rừngnúi , truyền thống lịch sử và tâm lý con người

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1984
[2]. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
[3]. M.Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch), (1993), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch)
Năm: 1993
[4]. M.Bakhtin (Trần Đình Sử dịch), (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepki. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepki
Tác giả: M.Bakhtin (Trần Đình Sử dịch)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[5]. Vũ Bằng (1955), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Phạm Văn Tươi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về tiểu thuyết
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Phạm Văn Tươi
Năm: 1955
[6]. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
[7]. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là một quá trình, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
[8]. Đinh Trí Dũng (1992), “Bi kịch tự ý thức, nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa của Nam Cao”, Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi kịch tự ý thức, nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo chủ nghĩa của Nam Cao”, "Nghĩ tiếp về Nam Cao
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1992
[9]. Đinh Trí Dũng (2000), “Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945”, Bài giảng chuyên đề cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945”
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Năm: 2000
[10]. Đinh Trí Dũng (2005), Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Nxb Khoa học xã hội, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Đinh Trí Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
[11]. Phan Cự Đệ (1989), “Cần định hướng cho công cuộc đổi mới tư duy trong văn học”, Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần định hướng cho công cuộc đổi mới tư duy trong văn học”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1989
[12]. Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[13]. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
[14]. Hà Minh Đức (1997), Khảo luận văn chương, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận văn chương
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
[15]. Hà Minh Đức (1998), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
[16]. Hà Minh Đức - Đỗ Văn Khang - Phạm Quang Long – Phạm Thành Hưng – Đoàn Đức Phương - Trần Khánh Thành – Lý Hoài Thu (1999), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức - Đỗ Văn Khang - Phạm Quang Long – Phạm Thành Hưng – Đoàn Đức Phương - Trần Khánh Thành – Lý Hoài Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[17]. Hà Minh Đức (1999), Những vấn đề lý luận và lịch sử Văn học, Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và lịch sử Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 1999
[18]. Hà Minh Đức (2000), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[19]. Hà Minh Đức (2001), Văn chương – tài năng và phong cách, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương – tài năng và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
[20]. M.Gorki (1970), Bàn về văn học (in lần 2), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn học
Tác giả: M.Gorki
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1970

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w