Hơn 70 năm qua, hoạt động đánh giá tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói chung và tiểu thuyết Khái Hưng nói riêng có nhiều khuất khúc, thăng trầm.Dưới ánh sáng nghị quyết của Đại hội Đảng lần
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Khái Hưng là nhà văn, nhà tiểu thuyết có biệt tài, là một trong mấy
vì sao sáng nhất của Tự lực văn đoàn Sáng tác của ông thể hiện rõ mục đích
tôn chỉ của văn đoàn, góp phần đáng kể vào tiến trình hiện đại hoá văn họcdân tộc Ông có thành tựu ở nhiều thể loại, nhưng thành công nhất với tiểu
thuyết Hơn 70 năm qua, hoạt động đánh giá tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nói
chung và tiểu thuyết Khái Hưng nói riêng có nhiều khuất khúc, thăng trầm.Dưới ánh sáng nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), với tinh thầnđổi mới trên mọi lĩnh vực cuộc sống trong đó có văn học nghệ thuật, dần dần,những định kiến về văn học lãng mạn đã được khắc phục Đến nay, đã cónhững bài viết, chương sách, luận án đánh giá về tiểu thuyết Khái Hưng vớimột thái độ bình tĩnh, khách quan hơn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề liênquan tới nghệ thuật tiểu thuyết của ông chưa được đi sâu khai thác Đây chính
là điểm chúng tôi muốn góp phần bổ cứu
1.2 “Văn nghiệp của Khái Hưng cốt yếu là một văn nghiệp tiểuthuyết”, với đề tài mới mẻ, khả năng phân tích tâm lý nhân vật tinh tế, ngôn
ngữ trong sáng, giản dị, giọng điệu mềm mại… Trong tác phẩm Nhà văn hiện đại Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Khái Hưng như người ta đã thấy là nhà tiểu
thuyết có biệt tài Ông xét phụ nữ Việt Nam rất đúng, ông để tâm những cảicách những hủ tục trong gia đình Việt Nam, nên những tiểu thuyết phong tụccủa ông đều là những tiểu thuyết có giá trị” [21;92,93] Nguyễn Hoành Khungđánh giá “Khái Hưng xứng đáng được coi là cây bút dồi dào, tài hoa hơn cả
nhóm Tự lực văn đoàn Trong thế hệ “các nhà văn lớp mới”, ông là người mở
màn đi đầu, phong trào văn nghệ mới, với một ngòi bút trẻ trung, lịch lãm mà
duyên dáng…” (Lời giới thiệu Văn xuôi lãng mạn Việt Nam) [44;527] Nhìn
Trang 2chung, những nhận định khái quát đúng đắn vừa dẫn cần được triển khai đầyđặn hơn nữa với những dẫn chứng cụ thể.
1.3 Nghiên cứu đánh giá tiểu thuyết của Khái Hưng trên vấn đề nghệ thuật tiểu thuyết giúp chúng ta hiểu sâu hơn tiểu thuyết của ông và Tự lực văn đoàn Qua đề tài luận văn này chúng tôi mong muốn có một cái nhìn khái
quát, toàn diện về nghệ thuật tiểu thuyết của Khái Hưng, từ đó khẳng địnhnhững bứt phá của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1930 -1945
2 Lịch sử vấn đề
Trước năm 1945, các nhà nghiên cứu như Trương Tửu (với các bài viết
về Nửa chừng xuân, Đoạn tuyện trên báo Loa năm 1935; Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, Lạnh lùng trên báo Hữu ích năm 1937), Trương Chính (Dưới mắt tôi – 1939), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại – 1942), Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu, 1942), Lê Thanh (Ngày nay số 126 tháng 9 năm 1938), Trần Thanh Mại (Phong hoá tháng 2 năm 1934 và Sông Hương
năm 1941),… đã nêu lên một số ý kiến đánh giá về những đóng góp của tiểuthuyết Khái Hưng trên phương diện miêu tả tâm lý, tư tưởng và nghệ thuật,xây dựng nhân vật, kết cấu giọng văn
Nghiên cứu về Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Trống mái, Gia đình của Khái Hưng, Trương Chính kết luận: “Nửa chừng xuân, Trống mái, và nhất là Trống mái, nghệ thuật Khái Hưng đã chắc chắn và điêu luyện lắm Nhưng Hồn bướm mơ tiên vẫn giữ mãi hương vị êm dịu và ngọt ngào của
bông hoa đầu mùa” [21;312] “Nghệ thuật của Khái Hưng ngày một lão luyện
trông thấy Gia đình có thể xem như một tác phẩm không tì vết” [21;321]
Thời kỳ từ sau 1945 đến năm 1975 là thời kỳ phức tạp trong việc đánhgiá tiểu thuyết của Khái Hưng
Ở miền Nam việc, tiếp cận tiểu thuyết Khái Hưng có xu hướng thiên vềnghệ thuật Đó là các công trình đi sâu vào tiểu thuyết Khái Hưng như:
Trang 3Nguyễn Văn Xung (Bình giá về TLVĐ – 1958), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên – tập 3 – 1960), Doãn Quốc Sỹ (Về Tự lực văn đoàn – 1960), Lê Mục (Khảo luận về Đoạn tuyệt -1960), Thanh Lãng (Văn học thế
hệ 1932 – in trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam quyển hạ - 1967), Vũ Hân (Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX: 1800-1945 – 1973), Trần Cao Sơn (1969) Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Mười điều tâm niệm, Thanh Lãng (1972) phê bình văn học thế hệ 32 (tập 2), Bùi Xuân Bào (1972) Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại…
Các tác giả Trần Cao Sơn, Nguyễn Văn Xung, Lê Hữu Mục có xu
hướng đi từng tác phẩm (tập trung vào Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân).
Đi sâu vào phân tích một số đặc điểm nghệ thuật như tả cảnh, tả người, giọngvăn… tiểu thuyết Khái Hưng, Trần Cao Sơn cho rằng nghệ thuật tả cảnh củaKhái Hưng là chấm phá nhân cách hóa: tả cảnh tâm lý, người ta theo haihướng: phác họa và chú trọng hơn tâm lý, hiểu được tâm trạng u uẩn khóphân tích và giải thích cũng như phản ứng lạ kỳ của lớp người, nhất là phụ nữ.Nhìn chung các nhà phê bình nghiên cứu miền Nam có xu hướng coi trọng, đềcao Khái Hưng như một nhà cách tân nghệ thuật
Ở miền Bắc, các nhà phê bình một mặt tiếp thu việc đánh giá các nhànghiên cứu trước cách mạng, mặt khác tiếp tục đi sâu nghiên cứu tiểu thuyếtKhái Hưng từ góc độ tư tưởng và kết quả cho thấy hầu hết coi mặt hạn chế về
tư tưởng nhiều hơn đóng góp về nghệ thuật
Các công trình văn học sử tiêu biểu của nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, Tập III, 1958), của Bạch Năng Thi – Phan Cự Đệ, (Văn học Việt Nam 1930-1945 – 1961), của Vũ Đức Phúc (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 -1945, 1964), của Nguyễn Đức Đàn (Mấy kiến của Nhất Linh và Khái Hưng – Hai nhà văn tiêu biểu nhất của Tự lực văn đoàn – 1958), của Phan Cự Đệ (Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 1974) chủ yếu tập trung phê
Trang 4bình tiểu thuyết Khái Hưng trên các phương diện, tư tưởng, chính trị, đạo đức.
Về nghệ thuật, các tác giả chủ yếu xem xét dưới góc độ điển hình hóa, cá tínhhóa miêu tả tâm lý nhân vật
Sau năm 1975, nhất là thời kỳ đổi mới, việc đánh giá lại Khái Hưng và
Tự lực văn đoàn được tiến hành một cách khách quan toàn diện hơn Có thể
điểm qua các công trình tiêu biểu viết về (hay có đề tập tới) Khái Hưng và
tiểu thuyết của ông như: Tự lực văn đoàn con người và văn chương của Phan
Cự Đệ (1990) [10], Khảo luận về Tự lực văn đoàn của Hà Minh Đức (2007) [20], Trở lại với các cuốn tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn của Trương Chính [21] , Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 -1930 của Trần Đình Hượu Lời giới thiệu cuốn văn chương lãng mạn Việt Nam của Nguyễn Hoành Khung, Tự lực văn đoàn, Nhìn từ góc độ tính liên tục của lịch sử qua bước ngoặt hiện đại hoá trong lịch sử văn học Phương Đông của Trần Đình Hượu Khái Hưng, Nhà tiểu thuyết của Vu Gia (1993) [23], Tự lực văn đoàn với phong trào Thơ mới của Lê Thị Đức Hạnh [32], Quan niệm về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của Lê Thị Dục Tú (1994) [85], Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn của Dương Thị Hương (2001) [42], Tiểu thuyết của Khái Hưng của Ngô Văn Thư (2005) [77], Những đóng góp của Tự lực văn đoàn xây dựng cho một nền văn xuôi hiện đại của Trịnh Hồ Khoa, Tiểu thuyết của Nhất Linh trước cách mạng tháng Tám
của Vũ Thị Khánh Dần Với thái độ đổi mới, các nhà nghiên cứu không xem
xét tác phẩm của Tự lực văn đoàn theo quan điểm chính trị - xã hội như trước đây nữa Người ta đã ghi nhận những đóng góp của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn trong quá trình hiện đại hoá văn học, nhấn mạnh những thành tựu nghệ
thuật lớn lao của các tác phẩm ở phương diện ngôn ngữ, tả cảnh, miêu tả tâm
lý nhân vật
Trang 5Như vậy, nghệ thuật tiểu thuyết của Khái Hưng nói riêng và tiểu thuyết
của Tự lực văn đoàn nói chung đã được chú ý, tuy nhiên chưa có công trình
nào ưu tiên cho việc tìm hiểu nghệ thuật tiểu thuyết của Khái Hưng Luận vănnày chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát nghiên cứu một cách có hệ thống nghệ thuậttiểu thuyết của Khái Hưng, qua đó chỉ ra được sự đóng góp của nhà văn chovăn học Việt Nam hiện đại trên vấn đề này
3 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn chúng
tôi là Nghệ thuật tiểu thuyết của Khái Hưng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đề ra và giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
1 Xác định vị trí tiểu thuyết Khái Hưng trong bức tranh chung của tiểu
thuyết Việt Nam 1930 -1945
2 Khảo sát nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong
tiểu thuyết Khái Hưng
3 Phân tích, đánh giá nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết Khái Hưng
4 Phạm vi tư liệu khảo sát
Luận văn khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của Khái Hưng, chủ yếu dựa vào
văn bản in trong các tập Văn chương tự lực văn đoàn, Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi phối hợp sử dụng các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau: hệ thống - cấu trúc; loại hình; so sánh; thống kê -phân loại; phân tích - tổng hợp…
Trang 66 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình trực tiếp đặt vấn đề nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết
Khái Hưng trên các phương diện tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ, từ đó đưa lại những nhận định có căn cứ về đóng góp của
Khái Hưng trong việc hoàn thiện khuôn mặt của thể loại tiểu thuyết trong vănhọc Việt Nam hiện đại
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Tiểu thuyết Khái Hưng trong bức tranh chung của tiểu thuyết Việt Nam 1930 -1945
Chương 2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Khái Hưng
Chương 3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết Khái Hưng
Trang 7Chương 1 TIỂU THUYẾT KHÁI HƯNG TRONG BỨC TRANH CHUNG
CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM 1930 - 1945
1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn học của Khái Hưng
1.1.1 Cuộc đời
Khái Hưng (1896 - 1947), tên thật là Trần Khánh Dư quê ở làng Cổ Am(một làng có tiếng trong thời kỳ chế độ khoa cử Hán học), huyện Vĩnh Bảonay thuộc thành phố Hải Phòng Ông xuất thân trong một gia đình quan lạiphong kiến, bố là ông tuần phủ Trần Mỹ Học xong trường trung học AnbeXarô, ông về dạy trường Tư thục Thăng Long rồi đi làm báo, viết văn Ôngkết bạn với Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), cùng Nhất Linh xây dựng tờ
báo Phong Hoá Năm 1933 sau khi được Phạm Hữu Ninh trao lại cho tờ báo Phong Hoá, Nhất Linh và Khái Hưng dồn hết tâm lực để xây dựng tờ báo này.
Ngày 2 tháng 3 năm 1933 ông cùng Nhất Linh, Hoàng Đạo sáng lập ra nhóm
Tự lực văn đoàn và trở thành cây bút chủ lực của cả nhóm, cùng với tờ báo Ngày nay ông “xứng đáng được mọi người gọi là cây bút dồi dào tài hoa hơn
cả nhóm Tự lực văn đoàn’’[42] Trong thời kỳ nổ ra đại chiến thế giới thứ hai,
Khái Hưng tham gia vào hoạt động chính trị, gia nhập đảng Đại Việt thânNhật nên bị chính quyền Thực dân Pháp bắt tại nhà lao Vụ Bản Sau ngày 9tháng 3 Nhật đảo chính Pháp, ông được thả ra sau đó cùng Nguyễn Tường
Bách và Hoàng Đạo ra báo Ngày nay kỷ nguyên mới, với khuynh hướng ủng
hộ chính phủ Trần Trọng Kim và chống lại phong trào cách mạng do ViệtMinh lãnh đạo Cách mạng tháng Tám thành công, Khái Hưng vẫn theo Quốcdân Đảng Ông mất tại huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định Khái Hưng đãtrút hết tâm lực của mình cho sự nghiệp văn chương nước nhà, có đóng góp
Trang 8lớn vào sự phát triển của văn xuôi Việt Nam nói chung, văn học lãng mạn nóiriêng
1.1.2 Sự nghiệp văn học
Chỉ mười năm sáng tác, Khái Hưng có một khối lượng tác phẩm rất đadạng về thể loại khiến chúng ta rất nể phục Ông xứng đáng là “cây bút xuất
sắc” nhất trong nhóm Tự lực văn đoàn Ông đã để lại 12 cuốn tiểu thuyết, 8
truyện ngắn, 4 vở kịch, tiểu phẩm, phê bình, truyện vui…
Tiểu thuyết: Hồn bướm mơ tiên (1933), Gánh hàng hoa (1934 – viết chung với Nhất Linh), Nửa chừng xuân (1934), Tiêu Sơn tráng sĩ (1934), Đời mưa gió (1934 – viết chung với Nhất Linh), Trống mái (1935), Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa tự (1938), Đẹp (1939), Hạnh (1939) Thanh Đức
(Băn khoăn) (1943)
Truyện ngắn: Anh phải sống (viết chung với Nhất Linh 1943), Tiếng suối reo (1935), Dọc đường gió bụi (1936), Đợi chờ (1938), Hạnh (1938), Cái
ấm đất (1940), Đội mũ lệch (1941), Cái ve (1944)…
Kịch: Tục luỵ (1937), Cóc tía (1940), Đồng bệnh (1942) Ngoài ra ông
còn viết truyện ngắn dành cho thiếu nhi, còn là một dịch giả có tài Nhưng
“văn nghiệp chính của Khái Hưng là văn nghiệp tiểu thuyết”, điều này càngkhẳng định vị trí “cây bút trụ cột”, “Trụ đồng của nhóm Tự lực văn đoàn”.Khái Hưng có ý thức trách nhiệm cao với văn đoàn, với nghề văn Ông rấtgương mẫu trong việc thực hành các tôn chỉ của văn đoàn, ngoài ra còn có ýthức mở rộng đề tài làm phong phú hơn cho nền văn học nước nhà
Mở đầu cho sự nghiệp tiểu thuyết của Khái Hưng là cuốn tiểu thuyết
lãng mạn Hồn bướm mơ tiên (1933), sau đó Khái Hưng viết một số tiểu
thuyết phong tục, nội dung nghiêng về phản ánh hiện thực, đó là các cuốn:
Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa tự (1940) Thời kỳ cuối ông viết ông viết một số tiểu thuyết: Đẹp (1941), Thanh Đức (1943) Nhận xét về chặng
Trang 9đường tiểu thuyết Khái Hưng, Hà Minh Đức viết: “Giàu chất lãng mạn ở thời
kỳ đầu, giá trị hiện thực được tăng nhiều ở chặng giữa và ở giai đoạn cuối phatạp với chủ nghĩa hiện đại”
Lê Nin có câu: “Người ta đánh giá những công lao của nhân vật lịch
sử không căn cứ vào cái mà họ chưa làm được so với yêu cầu của thời đại màphải căn cứ vào cái mà họ đã làm được so với tiền bối của họ” Nếu như coinhà văn ưu tú là nhân vật lịch sử thì đóng góp của Khái Hưng cho nền vănhọc nứơc nhà là không nhỏ Chặng đường sáng tác của ông vừa đáp ứng đượcnhu cầu của thời đại vừa ra khỏi khuôn khổ của văn học Trung đại Trong tập
Dưới mắt tôi (1939), Trương Chính cũng có nhiều bài đánh giá cao tiểu thuyết Khái Hưng - đặc biệt là Hồn bướm mơ tiên: “Không kèn không trống, ông
Khái Hưng đã đổi mới văn chương, từ bản cách đến thể chất – hay nói khiêmtốn hơn ông đã đem vào văn chương một nghệ thuật mới, sắc sảo và huyềndiệu”
Những đóng góp của Khái Hưng tạo một bước ngoặt lớn cho văn họctheo hướng hiện đại hoá
1.2 Tiểu thuyết của Khái Hưng trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
1.2.1 Tự lực văn đoàn
Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và cao trào cách mạng 1930 – 1931 do Đảngcộng sản lãnh đạo bị giặc khủng bố dữ dội đã gieo tâm trạng chán nản tuyệtvọng cho nhiều trí thức, văn nghệ sĩ Vì thế con đường đấu tranh có chuyểnhướng: từ mặt trận chính trị sang mặt trận văn hoá Con người lúc này sốngtrong một không khí ngột ngạt, bế tắc, họ muốn vượt ra khỏi vòng trói buộccủa lễ giáo phong kiến khắt khe lạc hậu Cũng trong thời điểm đó, năm 1930Nguyễn Tường Tam từ Pháp trở về, sau đó cùng với Khái Hưng, Hoàng Đạo
thành lập ra văn phái Tự lực văn đoàn Đây là văn đoàn đầu tiên có tổ chức
đàng hoàng chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh
Trang 10Xin dẫn ý kiến của Hoàng Xuân Hãn đã được đăng trên tạp chí Sông Hương số 37, tháng 4/1989 sau đó được Phan Cự Đệ giới thiệu lại trong cuốn
Tự lực văn đoàn con người và văn chương: “Đây là nhóm thanh niên thấmnhuần văn hoá Việt Pháp Văn hoá Việt Nam tiếp thu được nhờ môi trường:gia đình bạn bè sách vở và sự quan sát cá nhân Văn hoá Pháp có được là mức
độ tối thiểu là Trung học cao Đẳng Thủ lĩnh Nguyễn Tường Tam bút hiệu
(Nhất Linh), là tác giả của cuốn Nho Phong xuất bản năm 1926 [241-244]
Ngày mùng hai, tháng ba năm 1932, Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh),Trần Khánh Dư (Khái Hưng), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo, Tứ Ly) cùng
mấy anh em dòng họ Nguyễn Tường tuyên bố thành lập nhóm Tự lực văn đoàn Nhóm ban đầu gồm “Thất tinh”, Nguyễn Tuờng Tam (Nhất Linh), Trần
Khánh Dư (Khái Hưng) Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo, Tứ Ly), NguyễnTường Lân (Thạch Lam, Việt Sinh), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), Nguyễn Thứ
Lễ (Thế Lữ), Trần Tiêu Sau thêm Ngô Xuân Diệu thành “Bát tú” Nhóm cònthu hút thêm một số thành viên như Thanh Tịnh, Đoàn Phú Tứ, Huy Cận Cơ
quan ngôn luận là tờ báo Phong hoá Ngày nay, thực hiện mười tôn chỉ của
Tự lực văn đoàn
1 Tự sức mình làm ra những cuốn sách có giá trị về văn chương chứkhông phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có giá trị vănchương mà thôi: mục đích là để làm giàu văn chương trong nước
2 Soạn những cuốn sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho con người
và làm cho xã hội ngày một hay hơn lên
3 Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bìnhdân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân
4 Dùng một lối văn giản dị dễ hiểu, ít chữ Nho, dùng một lối văn cóthật có tính cách An Nam
5 Lúc nào cũng mới mẻ, trẻ, yêu đời, có chí phấn dấu và tin ở sự tiến bộ
Trang 116 Ca tụng những nét hay, vẻ đẹp của đất nước, có tính cách bình dân,khiến cho người khác đem lòng yêu mến một cách bình dân, không có tínhcách trưởng giả quý phái.
7 Trọng tự do cá nhân
8 Làm cho người ta biết rằng Đạo Khổng không còn phù hợp nữa
9 Đem phương pháp khoa học Thái Tây ứng dụng vào văn chươngViệt Nam
10 Theo một trong chín điều này cũng được miễn là đừng trái ngượcvới những điều khác
Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn nhìn chung là tiến bộ khi nói đến tình cảm
dân tộc trong văn chương, ý thức và tự do cá nhân và quan tâm đến vấn đềbình dân, chủ trương chống lại lễ giáo phong kiến và khuôn phép của đạoKhổng, hướng con người vào cuộc đấu tranh nhằm giải phóng cá nhân, cảicách xã hội theo lý tưởng phương Tây, dân chủ tự do bác ái Họ có nhiều hoàibão xây dựng một nền văn học nước nhà mang tính An Nam và muốn gópphần vào sự phát triển của xã hội Với một đội ngũ viết, người đọc thuộc thế
hệ mới đã trực tiếp sáng tạo đóng góp xây dựng văn đoàn Các nhà văn đều lànhững trí thức Tây học, đều có tư tưởng cấp tiến, chủ trương muốn xây dựngcho nước nhà một nên văn chương giàu bản sắc dân tộc
Đây là lần đầu tiên trên văn đàn công khai Việt Nam, có những mũitiến công vào Nho giáo, tiêu diệt những truyền thống cũ, độc đoán lỗi thời, lạc
hậu, và có một tiếng nói đòi quyền giải phóng cá nhân Tự lực văn đoàn khát
khao những đổi thay và những cách tân về những thực trạng của những hoàn
cảnh sống và sinh hoạt trì trệ của xã hội Việt Nam Hoàng Đạo trong bài Theo mới (Ngày nay, số 33 ra ngày 8 tháng 11 năm 1936) nói: “Theo mới như
chúng ta đã nói, là Âu hoá… Âu hoá là đem những nguyên tắc của nền vănminh phương Tây áp dụng vào đời ta Ngày xưa ta không sống theo lẽ phải, ta
Trang 12sống theo tục lệ thành kiến, theo mệnh lệnh bất khả luân của cổ nhân… Âuhoá là điều hoà chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa xã hội, là hành động làm saocho trong xã hội, cá nhân được tự do phát triển giá trị của mình, cá nhân được
tự do nảy nở tính tình, tri thức của mình” Văn đoàn chủ trương tách bạchgiữa cái cũ và cái mới, tách văn minh phương Tây khỏi đạo Khổng, cổ vũ chocác phong trào bình dân chống lại khuynh hướng quan liêu phong kiến đươngthời giương cao ngọn cờ nhân văn, đấu tranh đòi quyền sống cho con người,đòi giải phóng cá nhân ra khỏi đại gia đình phong kiến và bảo vệ hạnh phúclứa đôi theo kiểu mới
Cũng trong giai đoạn 1930 -1945 cũng có nhiều văn đoàn, nhiều nhóm
phái văn chương như: Xuân thu nhã tập, nhóm Tao đàn, nhóm thơ Bình Định, trường thơ Bạch Nga, nhóm thơ Dạ Đài Trong các nhóm phái trên, Xuân thu nhã tập đặc biệt nổi lên về lý thuyết nhưng lại chưa có được những tác phẩm văn chương phù hợp với tôn chỉ Tự lực văn đoàn xuất hiện ngay từ đầu đã tác
động, thu hút dược lòng tin cậy của độc giả, dần chiếm được vị trí trên vănđoàn công khai Đồng thời các nhà văn đã cho ra đời hàng loạt tiểu thuyếttruyện ngắn, tập thơ, kịch… Chỉ trong vòng mười năm mà văn đoàn đã khẳngđịnh được vị trí quan trọng, đạt một thành tựu đáng kể của quá trình hiện đạihoá văn học dân tộc
Như vậy Tự lực văn đoàn không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm
quan trọng nhất và là nhóm đầu tiên cải cách nền văn học hiện đại, vào những
năm 30 của thế kỷ XX Tự lực văn đoàn là văn phái đầu tiên trong lịch sử văn
học hiện đại có tôn chỉ hoạt động, có mục đích sáng tác, dùng văn chương,báo chí để truyền bá quan điểm, tư tưởng, những cách tân nghệ thuật củamình một cách có hệ thống, hiện đại hoá các thể loại văn học (đặc biệt là tiểuthuyết), làm cho ngôn ngữ văn học trong sáng giản dị hơn và đặc biệt là rấtgần gũi với tâm hồn người Việt Một điểm nữa đáng biểu dương đó là khả
Trang 13năng tổ chức gọn nhẹ của Tự lực văn đoàn, chỉ có 8 nguời mà tổ chức được
một lực lượng cộng tác khá đông đảo, gây được một phong trào rộng lớn
trong toàn quốc Sự ra đời nối tiếp nhau của hai tờ Phong hoá và Ngày nay là
một trong những dấu mốc quan trọng của công cuộc đổi mới của nềnvăn học
1.2.2 Nét chung của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
Nói đến tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn là nói đến lối viết tiểu thuyết
của ba cây bút chủ chốt: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo Họ là những câybút “Tây học” nên chịu nhiều ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, họ đã biếtthâu thái cái nền văn minh nước Pháp mà làm cho tinh thần của mình đượcmạnh dạn lên để tạo một nền văn học vừa hợp với hoàn cảnh hiện thời vừa
giữ được cái cốt cách cổ truyền Tự lực văn đoàn đã phối hợp truyền thống và
hiện đại phương Đông và phương Tây: ngôn ngữ văn học cũng trở nên giản dịtrong sáng và giàu khả năng diễn đạt hơn, đặc biệt là rất gần gũi với tâm hồndân tộc [16;54] Tiểu thuyết của họ viết theo một mô hình khá thống nhất:thống nhất từ đề tài chủ đề, từ nhân vật cho đến cách hành văn, không phảingẫu nhiên mà một số cuốn tiểu thuyết của họ được ghi tên chung: Nhất Linh
và Khái Hưng, Nhất Linh và Hoàng Đạo điều đó càng khẳng định rằng họ
có một quan điểm nhất quán
Sau khi tuyên bố thành lập, các chiến sĩ Tự lực văn đoàn đã mở toang
cánh cửa tự do cho đề tài về chuyện tình yêu, chủ đề tư tưởng văn hoá vănminh phương Tây đấu tranh cho chủ nghĩa cá nhân, tự do chống lễ giáo phongkiến, họ đã mở ra một cuộc tổng tiến công vào thành trì phong kiến, ngoài racòn sử dụng tiếng cười như một vũ khí, và cũng tiếng cười ấy đem đến cáimới cho một xã hội Việt Nam trì trệ Những bức hoạ Lý Toét, Xã Xệ của
Nguyễn Gia Trí, những bài thơ trào phúng của Tú Mỡ trên báo Phong hoá đã làm xôn xao dư luận Bên cạnh đó, tờ báo Nam phong – thành trì của nền văn
Trang 14hoá cũ – sau một hồi cầm cự đã phải đóng cửa Tâm lý của một số nhà Nho đãbắt đầu lung lay, xao động, còn lớp trẻ thì chứng kiến tận mắt sự đối chọi giữavăn minh và hủ lậu Từ đó họ vững vàng hơn trên con đường đẩy lùi cái cũ đểchào đón cái mới Đó là sự tung phá ràng buộc của gia đình phong kiến, đểkhẳng quyền sống của con người cá nhân về mặt xã hội Sự khẳng định ý thức
cá nhân bằng việc phủ định những ràng buộc trong cuộc xung đột cá nhân với
xã hội, truyền thống được thể hiện qua các tác phẩm: Nửa chừng xuân Khái Hưng, Đoạn tuyệt Nhất Linh, Thoát ly Khái Hưng, là cuộc tiến công vào lễ
giáo phong kiến, khẳng định quyền tự do hôn nhân của thanh niên trí thứcđang phát triển quyền sống và ý thức trong xã hội Các nhân vật, Mai, Lộc
Nửa chừng xuân, Liên Gánh hàng hoa đều là những nhân vật cá ý thức khẳng
định nhân cách sống
Xung đột của con người cá nhân với truyền thống, là sự khẳng định trực
diện và tích cực nhất của con người cá nhân trong Tự lực văn đoàn Những
xung đột được miêu tả trong tác phẩm là xung đột giữa hai thế hệ, giữa cáimới và cái cũ trong gia đình Nhưng thực chất là xung đột của cá nhân với xãhội truyền thống Trong cuộc cách mạng này văn đoàn đã đứng hẳn về cáimới: “Theo cái mới chúng tôi đã nói là Âu hoá Âu hoá là đem nhữngnguyên tắc của nền văn minh phương Tây áp dụng vào đời ta Ngày xưa takhông sống theo lẽ phải, ta sống theo tục lệ thành kiến, theo mệnh lệnh bấtkhả luân của cố nhân Âu hoá là điều hoà chủ nghĩa cá nhân với chủ nghĩa
xã hội là hoạt động làm sao cho trong xã hội, cá nhân đuợc tự do phát triểngiá trị của mình, cá nhân được tự do nảy nở tính tình, tri thức của mình”
(Hoàng Đạo, Ngày nay số 33 ra ngày 8 tháng 11 năm 1936) Sự thành công của các tiểu thuyết Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Đôi bạn là miêu tả xung đột
giữa cái cũ và cái mới, hay là những xung đột về tư tưởng khó mà dung hoàđược: “Cụ tức là một người đại diện cho nền luân lý cũ Mà tâm lý chúng
Trang 15cháu đã trót nhiễm tư tưởng mới Hiểu nhau khó lắm thưa cụ Cụ với bọn hậusinh chúng cháu như hai con song chung một nguồn cùng chảy ra bể, nhưngmỗi dòng chảy theo một phía dốc bên sườn núi gặp nhau sao được [80;216].
Cùng với Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân được coi là ngọn cờ nhân giải phóng cá
nhân ra khỏi đại gia đình phong kiến Có thể nói chưa bao giờ con người cánhân lại được miêu tả nhiều đến thế với các quyền lựa chọn cho mình mộtcách sống, quyền bình đẳng trong hôn nhân, quyền được hưởng hạnh phúc,
quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm: Loan (Đoạn tuyệt), Mai (Nửa chừng xuân), Hồng (Thoát ly) và cả Nhung (Lạnh lùng)… điều này chứng tỏ con
người đã có ý thức về bản thân mình một cách đầy đủ trong cộng đồng xã hội vàtrong quốc gia Niềm lạc quan của những con người này dẫu còn mang nhiềutính chất ảo tưởng, nhưng đã đem tới cho văn học một luồng sinh khí mới
Với sự khẳng định con người cá nhân bằng những lối thoát trong những
ước mơ không tưởng về cải cách xã hội, phần nhiều các nhân vật trong Tự lực văn đoàn không đi đến đoạn tuyệt hay hay phá bỏ các giới hạn thực tế Họ
khẳng định con người cá nhân theo chiều hướng khác nhau, có người tìm đếntôn giáo, có người tìm đến thiên nhiên, có người lại vùi đầu vào trong rượu và
thuốc phiện… Trong lối thoát muôn hình ấy, các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn
đều quan tâm đến việc thể hiện con người cá nhân trong tình yêu Các mối
tình được miêu tả trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đều là những mối tình
lãng mạn, diễn ra theo nhịp đập của trái tim Không chỉ đơn thuần là nhữngmối tình của những đôi trai tài - gái sắc, tài tử giai nhân mô típ của văn học cổ
- Trung đại Cái tiêu chí “môn đăng hộ đối” đang dần dần được xoá bỏ Ngọc
trong Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng), một chàng trai thành phố, mê Lan một cô gái tu hành và mối tình của họ chỉ tồn tại trong tâm tưởng Lộc (Nửa chừng xuân - Khái Hưng), con của một bà Án giàu có cỡ lại yêu Mai - một cô
-gái thôn quê mồ côi cả cha lẫn mẹ đang rơi vào cảnh nghèo túng Phong
Trang 16(Nắng thu - Nhất Linh), một thanh niên con nhà dòng dõi đã bước qua địa vị
để yêu Trâm - cô gái câm nghèo Vọi (Trống mái - Khái Hưng), một thanh
niên ngư dân nghèo lại phải lòng Hiền một cô gái thành phố xinh đẹp
Chương (Đời mưa gió - Nhất Linh và Khái Hưng), một anh giáo mô phạm đã
từ bỏ Thu - cô gái hợp địa vị với mình để say đắm Tuyết - một cô gái giang
hồ Nhung (Lạnh lùng - Nhất Linh) một thiếu phụ “tiết hạnh khả phong” lại phải lòng Nghĩa - một anh giáo tư trong nhà mình Lan (Đẹp - Khái Hưng),
một cô gái trẻ trung đã yêu và lấy người chồng bằng tuổi bố mình Phần lớn
những câu chuyện tình trong tác phẩm Tự lực văn đoàn đều dang dở, nhưng
qua những tác phẩm này các tác giả vẫn khẳng định đựơc sự chiến thắng
trong tình yêu, quyền tự do chiến thắng của con người Trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn có một số biểu hiện của một nhóm nhân vật đã khẳng định
được lập trường cá nhân của mình trong những hành động tích cực: Hạc - Bảo
(Gia đình - Khái Hưng), Duy (Con đường sáng - Hoàng Đạo), họ có chung
một ý tưởng hướng sự quan tâm đến tầng lớp dân nghèo, tham gia vào việccải cách dân quê Dù vấn đề mà các tác giả đưa ra vẫn thiếu cơ sở làm cho kếtcấu tác phẩm chưa chặt chẽ, nhưng các tác giả đã bộc lộ được khuynh hướng
tư tưởng và nghệ thuật qua tác phẩm Duy trong Con đường sáng sau những
dằn vặt đau đớn của một thanh niên truỵ lạc đi tìm lý tưởng sống, cuối cùng
đã nhận ra con đường phải đi, ấy là con đường phục vụ dân quê Tiểu thuyết
Con đường sáng có những nét gần gũi với tiểu thuyết Gia đình của Khái
Hưng
Một nét chung nữa trong các nhân vật của Tự lực văn đoàn đó là: Dũng,
Trúc, Cận Tạo (Đôi bạn - Nhất Linh), Phạm Thái, Quang Ngọc (Tiêu Sơn tráng sĩ - Khái Hưng), là những anh hùng với những hành tung bí mật, hành
động của họ cũng là một cách thoát ly, thoả chí anh hùng Tiếp đó là conngười cá nhân cực đoan đòi giải phóng bản năng tự do đứng trên hoặc bất
Trang 17chấp các quan hệ xã hội được xem là mức độ cao nhất trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn: Tuyết (Đời mưa gió - Nhất Linh và Khái Hưng), là hiện thân
của một triết lý sống “không tình cảm chỉ coi lạc thú ở trên đời như một vị
thuốc trường sinh”; Trương (Bướm trắng - Nhất Linh), khi biết mình bị “án tử
hình” của bệnh lao quái ác, đã xoá bỏ mọi lý tưởng và đã sống theo sở thích
của mình, một cuộc sống tuyệt đối bản năng Băn khoăn của Khái Hưng, cũng
là phẩm cuối cùng của Tự lực văn đoàn Cảnh coi thú vui hưởng lạc là mục
đích sống, với lối sống như vậy thì không có nơi dung chứa trong xã hội
Có thể nói tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã đi suốt một chặng dài và đã
đặt ra một thế giới vô tận trong sự khám phá con người Với một lối viết hiệnđại, lời văn trong sáng giản dị, dùng ít chữ Nho, đây cũng là phát súng đầutiên tuyên chiến với phong kiến Về mặt nội dung, văn đoàn chủ trương táchbạch rạch ròi giữa cái cũ và cái mới: đề cao văn minh của Thái Tây để thấyđược cái lỗi thời của đạo Khổng: cổ vũ tuyên truyền cho tư tưởng xã hội vàchủ nghĩa bình dân để chống lại hướng quan liêu phong kiến đương thời; cangợi tự do cá nhân, để thấy được sự ràng buộc của đại gia đình hủ lậu; đẩy lùicái chán nản sầu bi ủ dột của thời trước để thay thế bằng cái vui tươi yêu đờiham sống của thời nay, tước bỏ phần ước lệ tượng trưng về “phong hoa tuyếtnguyệt” của nước người để thay thế bằng cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp của
nước ta xứng đáng với cái tên Tự lực văn đoàn Văn đoàn luôn có ý thức mở
rộng về các mặt thể loại: thơ, truyện ngắn, kịch, báo chí - và nhất là dịchthuật để “làm giàu thêm di sản trong nước” Tinh thần ấy được thể hiện quaviệc đề cao chữ quốc ngữ hơn chữ Nho, ưa lối viết giản dị, trong sáng, đậm
chất An Nam Với nền tảng có sẵn, vào những năm này tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn gặp một hoàn cảnh thuận lợi để phát triển đó là, lúc này số người
biết chữ đã đông đảo hơn trước, các tầng lớp nhàn rảnh ở thành thị, viên chứchọc sinh họ là những bạn đọc chăm chỉ và say sưa tiểu thuyết một loại hình
Trang 18văn học mà mà nội dung và hình thức dễ thích hợp với khả năng thưởng thức
của họ, để xứng đáng với cái tên Tự lực văn đoàn
1.2.3 Tiểu thuyết Khái Hưng - thành tựu nổi bật nhất của tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn
Khái Hưng là một thành viên tiêu biểu, là một “trụ đồng” trong nhóm
Tự lực văn đoàn, tiểu thuyết của ông luôn bám sát vào tôn chỉ của văn đoàn
nhất là dùng lối văn giản dị ít chữ Nho, một lối văn thật có tính An Nam và catụng những nét hay của đất nước bằng cách đem phương pháp khoa học TháiTây áp dụng vào văn chương Việt Nam Trong tiểu thuyết của mình ông cũng
đã thể hiện được phần nào tâm tư, tình cảm của tác giả trước hiện thực cuộc
sống Tôn chỉ của Tự lực văn đoàn chỉ cần nhà văn “thực hiện một trong chín
điều” đề ra, chuyện này muốn thực hiện được thật ra chẳng dễ dàng gì NhưngKhái Hưng đã thực hiện vượt yêu cầu, xứng đáng là kiện tướng của văn đoàn.Bên cạnh đó ông theo lập trường chung của cả nhóm, tỏ thái độ dứt khoát.Miêu tả những xung đột mới cũ, nhân vật được nhà văn miêu tả đó là nhữngcon người trẻ trung, tế nhị đáng yêu Bên cạnh đó, con người cũ hiện lên như
là hiện thân của thế giới hủ lậu, con người có nhiều thói xấu: keo kiệt, giả dối,ghen ghét, ham tiền tài
Phạm Ngọc Phúc (tức Vu Gia), trong cuốn Luận văn cao học: Những nhận định bước đầu về tiểu thuyết Khái Hưng cho rằng phải chăng sự phân
công của nhóm hay vì Khái Hưng tâm phục con người Nhất Linh mà lấy bútdanh là Nhị Linh Không phải ngẫu nhiên mà Khái Hưng và Nhất Linh đươngthời là đôi bạn thân, có chung quan niệm về văn chương Trong lời đề từ cho
tác phẩm Đoạn tuyệt của mình, Nhất Linh đã viết: “Tặng Khái Hưng, tác giả Nửa chừng xuân, nhà văn có cùng quan niệm với tôi về xã hội hiện thời” Sự gặp gỡ của “hai vì sao sáng nhất” qua hai cuốn tiểu thuyết viết chung: Đời
Trang 19mưa gió và Gánh hàng hoa cho thấy rằng họ rất gần gũi nhau về quan niệm
sống và quan niệm về văn chương
Khái Hưng là một nhà tiểu thuyết có biệt tài Những vấn đề búc xúc,nóng hổi trong xã hội đã được ông tái hiện một một cách độc đáo trong cáctác phẩm của mình mà trong văn đoàn khó ai làm được điều đó Nhất Linhnhận xét: Lối viết truyện này có hai đặc sắc khác những lối viết truyện xưanay Tác giả không tả cảnh rườm rà, chỉ một vài nét chấm phá thanh đạm nhưnhững bức tranh thuỷ hoạ của Tàu, cảnh trong truyện nhiễm vẻ nào là tuỳtheo tâm hồn của người trong truyện, cảnh với người nhịp nhàng và linhđộng Tác giả không bàn luận lôi thôi: Ông khéo đem một vài nhận xét tinh
vi, một vài việc xảy ra thích đáng để phô diễn tâm lý những nhân vật trongtruyện, lại thêm được lối văn giản dị, nhanh nhẹn, vui vẻ làm cho người tacảm động vô ngần Cái cảm ấy, là một cảm giác nhẹ nhàng, phảng phất vuibuồn tựa như những ngày nắng nhạt mưa thưa [49]
Hồn bướm mơ tiên là tác phẩm đầu tay của Khái Hưng và Tự lực văn đoàn ở thời kỳ đầu Tiểu thuyết xoay quanh hai nhân vật: cô Thi (tức chú tiểu
Lan) là con nhà dòng dõi, được học hành, thầy học là người mộ đạo phật nên
cô đem lòng yêu mến “cái dịu dàng và êm ái kia” Do bị ép gả chồng nên cô
đã chạy trốn gia đình đến chùa để thọ giới quy y Cô đã gặp Ngọc, học sinhtrường Canh nông, đến vãn cảnh chùa và đến thăm bác (thầy trụ trì chùa) Côchăm sóc Ngọc rất chu đáo, cô đã gần gũi quyến luyến rồi hình bóng Ngọc đã
in đậm trong trái tim, mọi lúc mọi nơi Còn Ngọc bề ngoài là đến thăm chùa,thăm bác, nhưng trong thâm tâm cứ băn khoăn muốn biết chú tiểu Lan là traihay gái rồi cuối cùng cũng yêu Lan say đắm Về phía Lan bên ngoài là một sựđiềm tĩnh, còn bên trong là sự đấu tranh tư tưởng, một bên là tình yêu và bênkia là đức Phật tổ đó là hai mãnh lực tình yêu và tôn giáo
Trang 20Ngay ở đầu tác phẩm của mình tác giả không đặt vấn đề mới hay cũ,
mẹ chồng hay nàng dâu mà đặt ra vấn đề tình yêu và hạnh phúc của cá nhân,
ca ngợi tình yêu thơ mộng của Lan và Ngọc, đồng thời cũng gián tiếp phê
phán lễ giáo đại gia đình phong kiến Hà Minh Đức đã từng nhận xét về Hồn bướm mơ tiên: “khuôn khổ đạo đức của đại gia đình phong kiến, sẽ bị rạn nứt
phá vỡ sự giải phóng bản ngã sẽ mạnh mẽ hơn, cá nhân không còn cam chịu
mà sẽ chủ động hơn trong cuộc sống tình yêu” Nếu như ở Hồn bướm mơ tiên
ta bắt gặp một tình yêu lãng mạn được núp dưới bóng từ bi Phật tổ thì Mai
trong Nửa chừng xuân, Loan trong Đoạn tuyệt là hai phụ nữ bị đẩy vào hoàn
cảnh éo le, phải đấu tranh với mẹ chồng để bảo về tình yêu tự do và hạnh
phúc của mình Cũng là hai nhân vật nhưng Loan trong Đoạn tuyệt và Mai trong Nửa chừng xuân lại có hai thái độ ứng xử khác nhau.
Loan là một cô gái mới, có học chữ Tây, sống theo lối sống mới, cô đãcông khai thẳng thắn phát biểu về quyền tự do lựa chọn tình yêu hạnh phúccủa mình, khi biết thầy mẹ sắp đặt chuyện hôn nhân của mình Loan đã thưa:
“ít ra thầy mẹ cũng để con phân bày phải trái về một việc rất quan trọng liênquan đến đời con và chỉ quan hệ với con mà thôi”, rồi “việc của con mà coinhư không có con trong nhà này” [79;34] Trong ngày cưới, khi làm lễ giatiên, Loan đứng ngang hàng với Thân, hất đổ cái hoả lò trước buồng cưới, khi
mẹ chồng áp chế hành hạ thì Loan tuyên bố dõng dạc đòi quyền làm người,quyền tự do của mình Loan đã thẳng thắn đấu tranh để bảo vệ danh dự vànhân phẩm của mình, cuối cùng thì Loan đã được giải phóng Còn Mai trong
Nửa chừng xuân là một cô gái mới con một nhà Nho sa sút, bản thân cũng
được học hành chữ Nho, cho nên cô học được ở người cha lòng hi sinh và yêuđời Cái nền tảng vững chắc ấy đã giúp Mai có lòng hi sinh và chịu đựng đểvượt lên mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc đời
Trang 21Bên cạnh đó ta thấy vấn đề nổi cộm lên là cuộc tuyên chiến với lễ giáophong kiến chà đạp lên tình yêu và hạnh phúc của cá nhân con người Các tácphẩm phản ánh mối xung đột mới cũ đang trở nên gay gắt và đang lan rộngtrong đời sống thành thị khi đó Lực lượng cũ là nhân vật bà Án là một mệnhphụ “Ăn ở thì nết cũng hay, nói điều ràng buộc thì tay cũng già” Nhưng sau
đó bà còn biết ăn năn hối hận, đấu dịu với Mai ở cuối truyện” [80;254] Nhân
vật bà Phán Lợi trong Đoạn tuyệt là một bà mẹ chồng độc ác hoàn toàn, kết
cục thì Loan đã giành phần thắng, tác giả đã đứng về cái mới thừa nhận sựhiện diện chủa chủ nghĩa cá nhân
Khi đọc các tiểu thuyết Gia đình, Thừa tự, Thoát ly, mới thấy được
những xung đột được miêu tả trong tác phẩm là xung đột mới - cũ trong giađình, cái mâu thuẫn mà khó có thể hàn gắn do tính chất độc lập về quan điểm
tư tưởng giữa hai thế hệ khó có thể dung hoà Ngoài việc mâu thuẫn gay gắtgiữa cái mới và cái cũ, ngòi bút của ông lại xoay sang phê phán những hủ tụcthói hám danh, ám lợi, chế độ đa thê, rồi những mâu thuẫn xung đột ghen ghét
đố kỵ lẫn nhau giữa những anh em trong một gia đình, muốn mình được làm
vợ quan giữa dì ghẻ và con chồng, anh em cùng cha khác mẹ Những tácphẩm gợi cho người đọc lòng căm phẫn không chỉ đối với một con người cụthể mà còn đối với một nền luân lý lễ giáo phong kiến, đồng thời thể hiệnđược sự nếm trải của ông trên thực tế cuộc sống
Tiểu thuyết Thoát ly thể hiện nỗi bất hoà, mâu thuẫn gay gắt giữa dì ghẻ
và con chồng Đúc rút từ những kinh nghiệm thực tế của mình, những trangviết của nhà văn đã mô tả một cách trung thực và sinh động chế độ đa thê vônhân đạo và cụ thể đây là mối xung đột giữa dì ghẻ và con chồng, đã gay gắt lạitrở nên gay gắt quyết liệt hơn Bà Phán Trinh làm lẽ, có con trai nên bà cànglấn tới, đến nỗi bà cả phải chết, từ đó bà hành hạ hai đứa con chồng Hảo đãlớn, tính tình ghê gớm, cũng đã đi lấy chồng Chỉ còn Hồng bà coi như là cái
Trang 22“gai” trước mắt để cho bà hành hạ Ở nhà mình mà Hồng cảm thấy như là địangục trần gian, còn cha Hồng mỗi khi bị bà chêm vào thì lại thêm bực bội,đánh chửi mắng nhiếc con gái riêng của mình, lúc đó bà ta lại đế vào nhữngcâu thương xót xin cho Hồng Nhưng khi không có Hồng thì bà ta lại rỉa rói,chì chiết khiến người cha hành hạ Hồng luôn luôn Còn lúc vắng chồng thì bàlại thẳng tay “trừng trị” Mụ không muốn Hồng đi học sợ biết chữ sẽ viết thưcho trai, làm ô uế gia phong, mụ bắt Hồng về nhà để “dạy làm dạy ăn” nhưngthực tế là để làm đầy tớ, để hành hạ Ngoài ra, Bà Phán còn phá hết đám dạmnày đến đám dạm khác, bà còn bày mưu để cho Hồng mang tiếng lẳng lơ Khibiết người chồng sắp cưới của Hồng ở bên Pháp bị chết đột tử, bên ngoài ra vẻthương xót Hồng nhưng bên trong thì vô cùng sung sướng Còn Hồng, bề ngoàithì tỏ ra bình thường nhưng bên trong Hồng ngấm ngầm chống đối lại bà dìghẻ Để tỏ cho bà Phán Trinh biết mình đủ quyền tự do, Hồng đã lên Hà Nộicạo răng trắng, Hồng quyết tâm phản đối khi bà gả nàng cho Điền, một thanhniên ngu dốt, con trai bà Cửu Sót Vì thế bà càng tức tối và không ngớt lời mỉamai, đã dùng mọi cách để thẳng tay trừng trị Hồng Hồng đã từng nói: “thà làmquả phụ hay làm gì thì làm, làm cả gái giang hồ cũng được, nhưng đừng ởtrong cái gai đình có một dì ghẻ như dì ghẻ của tôi” [80;709] Sau đó, Hồngquyết tâm trốn thoát khỏi gia đình đi gặp Lương, một người đàn ông có hoàncảnh giống Hồng đã đem lòng yêu Hồng, nhưng vì bà Phán đã xúc xiểm,Lương đã tự ái và sa đoạ với một vũ nữ khác Khát vọng được “thoát ly” củaHồng đã không thực hiện được Hồng đau đớn trong cảnh ngộ bế tắc định đi tự
tử, nhưng rồi đến đó nàng lại gặp cậu Yêm (em trai cùng bố khác mẹ) đã đưaHồng về Về nhà Hồng lại bị cha và dì ghẻ hành hạ Cái xung đột mới - cũ, cánhân - gia đình, giữa ý thức tự do và sự áp chế ấy kết thúc khi Hồng bị ốm rồichết, một cái chết bi thảm của cô gái khát khao sống tự do, chết là niềm an ủiđược “thoát ly” Trong tiểu thuyết Khái Hưng, ta thấy được nhân vật dì ghẻ bao
Trang 23giờ cũng lấn át bắt nạt hành hạ con chồng Ca dao có câu “mấy đời bánh đúc cóxương, mấy đời dì ghẻ có thương con chồng” quả là không sai
Trong tiểu thuyết Thoát ly, Khái Hưng đã phản ánh chân thực và đầy
ám ảnh cuộc đấu tranh của cá nhân đòi quyền sống Cuối cùng cái cũ đãthắng, nhưng ý thức đòi tự do cá nhân của Hồng đã thức tỉnh mọi người tiếp
tục đấu tranh đến cùng cho “cái mới” Thừa tự lại đề cập đến mâu thuẫn dì
ghẻ con chồng xoay quanh vấn đề ăn thừa tự Bà Ba và đám con chồng là haimặt trận, bà đem cái món thừa tự cùng với những lời giả nhân giả nghĩa,nhằm mục đích tạo nên mối hiềm khích lục đục trong đám con chồng: “Người
ta dùng cả tiếng khóc tiếng cười để kể lể bới móc nhau Vậy mà chỉ bằng mộtmiếng lợi nhỏ bà Ba đã lập mưu để làm cho anh em phải nghi kỵ xô sát nhau,
ai thù ghét bà Ba hơn Trình và Khoa?” [80;344] Đọc xong Thừa tự ta thấy
sức mạnh của đồng tiền thật ghê gớm kẻ đáng thương thì đáng thương tuốt
chẳng trừ một ai đó cũng là lời Trình và Khoa ở cuối tác phẩm Thừa tự đã thể
hiện một cách sinh động nhiều nét chân thực cửa đời sống và mối quan hệ dìghẻ con chồng
Tiểu thuyết Gia đình là mâu thuẫn giữa cá nhân và gia đình, giữa quan
niệm cũ và mới Ngòi bút của Khái Hưng lại một lần nữa lại khoét sâu vào sựmục rỗng của đại gia đình phong kiến, để phơi bày cái bộ mặt xấu xa của giađình quyền quý với những bon chen lừa lọc Tác phẩm đã đi sâu vào khai thácnhững rạn nứt trong tình cảm gia đình và sự tha hoá trên con đường làm quan.Học hành đỗ đạt ra làm quan đó là điều vinh dự cho gia đình và dòng tộc, đó
là khát vọng chính đáng Nhưng làm quan trong thời buổi đảo lộn, người ta
không còn xem trọng chức tri huyện, tri phủ như xưa nữa Trong gia đình,
không phải ngẫu nhiên mà nhà văn lại đi sâu vào những hiềm khích mâuthuẫn của gia đình ông bà Án, bởi vì có như thế người ta mới nhận ra đượcgiá trị đích thực của nó là những “vai chính” luôn tạo ra những mối hiềm
Trang 24khích là những người đàn bà Thật đáng xấu hổ họ là nhưng máu mủ ruột ràvới nhau Nga và Phụng (là hai chị em gái) lại ăn thua nhau về những câu nói,
vì lý do duy nhất là hơn kém nhau về chức tước địa vị của các ông chồng.Thêm vào đó là người đàn bà thứ ba với tư cách là trọng tài - bà Án Sự thiên
vị của bà đối với Phụng vợ Viết rất rõ, điều này thêm một lần nữa nói lên sứchút danh vọng đối với gia đình phong kiến Ngoài ra, Khái Hưng còn bóc trầnđược bản chất tham lam của tên huyện Viết trên con đường làm quan củamình Trong Gia đình, An lại khác, cũng xuát thân từ tầng lớp Tây học, đỗ tútài nhưng chàng không muốn học lên để đi theo đường quan trường, mà muốnnối nghiệp cha làm nghề nông, sống một đời tự do phóng khoáng Nhưng rồichú của An muốn có “một người làm quan, cả họ được nhờ” Nga vợ An,muốn được cha mẹ mình trọng và không muốn lép vế trước chị ruột, nên mộtmực bắt An đi thi để ra làm quan An đã phản đối kịch liệt quyết định của vợ,nhưng rồi cuối cùng An đã phải chiều theo ý thích của chú và vợ để cho giađình được êm thấm Sau khi đựơc bổ làm tri huyện, An không màng tới việcquan trường, mà tìm cho mình niềm vui mới: niềm vui trong sách vở vớinhững lời hay ý đẹp để được sống với tự do tinh thần mình Trong cái giađình này, khác với huyện Viết, An, đôi vợ chồng Hạc - Bảo biết khẳng địnhlập trường của mình và có một cuộc sống tích cực hơn Cải cách dân quê, vớiquan niệm mình có thể sung sướng, hạnh phúc khi xung quanh mình cũngđược no ấm và hạnh phúc người lợi tức thu được từ việc mở đồn điền Hạc vàBảo đều chi vào việc cải cách thôn quê cho những người dân nghèo Vợchồng Hạc - Bảo sống trong hạnh phúc và yêu công việc Bởi vì, ngay từ nhỏHạc đã được sống với mẹ, ông bà, gần gũi với những người dân quê nghèokhổ Lớn lên được học hành, lại được chứng kiến cảnh ghen tuông đố kỵ lẫnnhau giữa các anh chị em nhà vợ, Hạc càng nuôi khát vọng tự do, nên gắnghết sức thực hiện chương trình Viết về các mối quan hệ trong gia đình phong
Trang 25kiến, tiểu thuyết Gia đình đã đi sâu vào miêu tả những rạn nứt do những
nguyên nhân bên trong và những tác động bên ngoài
Tiểu thuyết của Khái Hưng còn đề cập những mảnh đời, những số phận
khác: Minh (Gánh hàng hoa) không may bị mù nhưng chàng đã tìm cách
khẳng định mình trong cuộc thử thách với văn chương, rồi đến lúc có mộtchút tiếng tăm trên văn đàn, Minh đã rơi vào con đường sa ngã, suýt nữa đánh
mất hạnh phúc mà mình đang có Tiểu thuyết Hạnh thể hiện sự mặc cảm tự ti
của nhân vật chính trước hoàn cảnh sống và sự đối xử của những người xung
quanh Trong Tiêu Sơn tráng sĩ, Quang Ngọc ôm giấc mộng anh hùng cá nhân
với một nhận thức sai lạc - phò Lê Nhưng chí lớn đã nhanh chóng suy sụp:
Ha ha! “chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy một hồ rượu Ha ha! chílớn trong thiên hạ không đựng đầy hai con mắt mỹ nhân” [80;439], cuối cùngcon người đó phải bất mãn trước thời cuộc
Trong các tiểu thuyết như: Đời mưa gió, Trống mái, Đẹp, Băn khoăn,
các nhân vật bắt đầu rơi vào tình trạng khủng hoảng bế tắc Người ta từng phêphán tính chất “tiêu cực”, “suy đồi”, “truỵ lạc”, “vô luân”, trác táng của loạinhân vật này trong tiểu thuyết của Khái Hưng Tuy nhiên dưới ánh sáng củathời đại mới, ta thấy vấn đề không đơn giản như thế Nhân vật Tuyết trong
Đời mưa gió là một nhân vật suy đồi về quan niệm sống, nhưng trong tác
phẩm, tác giả không lạm dụng để miêu tả cảnh ái ân truỵ lạc Cô Tuyết hiệnlên dưới ngòi bút của tác giả là một gái duyên dáng, lịch lãm, đảm đang.Nhưng Tuyết có một quan niệm không thích dính dáng quá mật thiết với một
kẻ khác Bản thân nàng muốn sở hữu tất cả và cuối cùng nàng đã phải trả giá
đó là phải chết trong “Đời mưa gió”
Hiền trong Trống mái không chỉ là hiện thân của mẫu người vui vẻ trẻ
trung, mà còn là con người vô trách nhiệm, phù phiếm liều lĩnh để thoã mãnđược ý thích cá nhân của mình, thích làm những việc mà người khác không
Trang 26dám làm Đó là những lần đi chơi cùng Vọi, coi đó “là cuộc đi chơi lạc thú”.Mời Vọi đi dự tiệc trà, để khẳng định với bạn bè “không hề phân biệt đẳngcấp” Hiền say mê Vọi, vì chàng “có thân hình của một nhà lực sĩ cườngtráng, mỹ lệ như một pho tượng cổ Hi Lạp” [34;116] Dù mê Vọi nhưng nàngvẫn nhớ địa vị của mình: “cái đẹp về hình thức khó cảm được một trái timmột tri thức” [34;116] Cuối cùng Vọi là vật hi sinh trong trò chơi tình yêucủa Hiền.
Nam (Đẹp) là một hoạ sĩ có những cá tính lập dị trong mọi lĩnh vực.
Trong hội hoạ Nam có một nguyên tắc “vẽ để vẽ’ chứ không phục vụ chomục đích gì, mà chỉ thoả mãn cảm giác của bản thân mình Trong quan hệ giađình, Nam tôn thờ chủ nghĩa độc thân không chịu trách nhiệm với ai, còntrong tình yêu chỉ thoả mãn nhu cầu bản năng của mình “yêu để mà yêu”.Nhân vật Nam hiện thân cho con người cực đoan bất chấp các quan hệ xã hội.Đồng thời Khái Hưng còn đi sâu vào thế giới đặc biệt của thế hệ nghệ sĩ cuốinhững năm 30 của thế kỷ XX Lý tưởng hoá lớp nghệ sĩ này song cũng khônggiấu diếm tình trạng bế tắc tuyệt vọng của họ, sống không mục đích, không lýtưởng sống, mà tìm dến nghệ thuật như một cứu cánh thoát ly
Băn khoăn (Thanh Đức) là tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng Tác
phẩm là một bức tranh về cuộc sống sinh hoạt của tầng lớp tư sản trung lưu.Gia đình nhà Thanh Đức không chỉ là gia đình truyền thống, trong đó có sựràng buộc về đạo lý, phong tục mà còn có điểm mới: các cá nhân có ý thức rõrệt về mình Nếu như người cha (Thanh Đức) theo đuổi mục đích lớn nhất làlàm giàu, thì người con (Cảnh) lại sống vì tuổi trẻ của mình, coi thú vui chơi
và tự do hưởng lạc là mục đích sống Cảnh là sinh viên trường Luật, nhưngsang năm học thứ ba một câu hỏi lại nảy sinh trong đầu óc Cảnh “học làm gì,
và để làm gì?” vì thế Cảnh cố tình thi trượt để lao vào những cuộc chơi vớibạn bè “sinh ra trên đời là để mà sung sướng, để thoả mãn chứ không phải để
Trang 27khổ sở, than phiền hay theo đuổi một mục đích viển vông nào [80;1085] Tìnhyêu của Cảnh không ngoài cái đích “chỉ có ái tình xác thịt là thiêng liêng”.Trong tác phẩm có những nhân vật: Cảnh, Hảo, Đoan là con người ăn chơiphóng đãng, bên cạnh đó: Oanh, Lan Hương có một cuộc sống trong sạch và
chung thuỷ, nghiêm túc và mẫu mực Tiểu thuyết Băn khoăn phản ánh sự bế
tắc của tầng lớp tư sản trung lưu vào những năm 40 của thế kỷ
Như vậy qua việc tìm hiểu các cuốn tiểu thuyết của Khái Hưng, về sốlượng đề tài ta thấy được ngòi bút của tác giả theo dòng đời vận động rất mau
lẹ Ông thực sự trở thành một trong những cây bút trụ cột và có sáng tác dồi
dào, tiêu biểu nhất Tự lực văn đoàn Ông là nhà tiểu thuyết có biệt tài, góp phần làm cho tiểu thuyết trở thành thể loại chủ lực cho văn đoàn Tự lực và
cũng góp phần không nhỏ vào việc thu hút độc giả tin tưởng yêu mến vănđoàn của ông
1.3 Nhìn chung về đóng góp của Khái Hưng cho quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam 1930 -1945
1.3.1 Các vấn đề của tiểu thuyết Việt Nam 1930 – 1945 trước yêu cầu hiện đại hoá
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những tiền đề cơ bản để có thểxuất hiện loại tiểu thuyết hiện đại Theo Bakhtin: “Tiểu thuyết là loại vănchương duy nhất luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn,nhạy bén hơn sự chuyển đổi của bản thân hiện thực” [3;27], và “Tiểu thuyết làsản phẩm tinh thần tiêu biểu nhất cho thời đại mới của lịch sử loài người, làthành quả rực rỡ có giá trị nhất như một bước ngoặt nhảy vọt thực sự vĩ đại
của hàng ngàn năm văn chương thế giới” [3;8] Nguyễn Văn Trung trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết thì cho rằng: “Không có một thẩm mỹ học tổng
quát bao gồm những tiêu chuẩn phổ biến cho mọi công trình xây dựng tiểuthuyết, vì bất cứ một thẩm mỹ học nào về tiểu thuyết cũng chỉ là một trong
Trang 28nhiều quan niệm thẩm mỹ học khác, chúng tôi quan niệm sự suy nghĩ vềnhững yếu tố xây dựng tiểu thuyết như một công trình mô tả hiện tượng luận[84;69] Tiểu thuyết nổi bật lên ở khả năng phản ánh một cách toàn vẹn vàsinh động hiện thực đời sống Nó vừa có khả năng tái hiện những bức tranhmang tính tổng thể của xã hội, vừa đi sâu vào khám phá số phận cá nhân
Nửa đầu thế kỷ XX, trên cơ sở chuyển biến hình thái kinh tế xã hội, và
sự giao lưu kinh tế phương Đông và phương Tây, văn học học dân tộc, tiểuthuyết Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể: từ thể loại truyền thống sangthể loại hiện đại Văn xuôi tự sự Việt Nam đã có được một bề dày truyền thốngvới truyện dân gian, các truyện truyền kỳ, truyện thơ Nôm, truyện trạng, tiểuthuyết diễm tình, tiểu thuyết chương hồi về đề tài lịch sử, các truyện chữ Hánnói chung về đề tài sinh hoạt xã hội… Nó cũng đã có được không ít tác phẩm
xuất sắc như Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái Trong đó Hoàng Lê nhất thống chí đi sâu vào miêu tả những
nhân vật có tính cách, có cá tính rõ nét, cũng như hoàn cảnh điển hình, thể hiện
sự tàn lụi không thể cứu vãn nối của chế độ phong kiến việt Nam Cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam hiện đại xuất hiện đầu tiên ở Nam
Bộ và hình thành theo hai hướng: hướng sáng tác những tác phẩm văn xuôi tôngiáo và một hướng từ việc cách tân truyện thơ, một hướng thay đổi về hìnhthức, lời văn một hướng cách tân về nội dung thể loại
Có nhiều ý kiến cho rằng Thầy Lazaro phiền của Nguyễn Trọng Quản
(1887) là một mốc đánh dấu cho sự ra đời của thể loại tiểu thuyết văn xuôitiếng Việt (Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Văn Trung, Bằng Giang … đều khẳng địnhđây là cuốn văn xuôi quốc ngữ đầu tiên) Nhưng một số nhà nghiên cứu khác(Lê Trí Viễn, Huệ Chi) cho rằng, đây là truyện chứ không gọi là tiểu thuyết,
vì chỉ dài có 32 trang giống như độ dài của truyện đương thời Như vậy, trongnhững năm 20, văn học Việt Nam đang đổi mới, chuẩn bị điều kiện để xây
Trang 29dựng một nền văn học hiện đại đáp ứng nhu cầu tư tưởng thẩm mỹ của nhữnggiai cấp mới xuất hiện, phục vụ kịp thời những nhiệm vụ chính trị mới, vì thếđây là thời kỳ văn học Việt Nam đang đi vào con đường hiện đại hoá
Từ khoảng đầu thế kỷ XX, ở Nam Bộ xuất hiện một loại tiểu thuyết văn
xuôi, chịu ảnh hưởng khá sâu đậm của tiểu thuyết Trung Hoa: Hoàng Tố Oanh hàm oan (1910) của Trần Thiên Trung, Phan yên ngoại sử, Tiết phụ gian truân (1910) của Trương Duy Toản, Kim Lâm Liên (1910) của Trần Thiên Trung, Ai làm được của Hồ Biểu Chánh (1912) Các tác phẩm này
được bố cục theo kiểu truyền thống, chương hồi, các nhân vật thường lànhững tài tử giai nhân, kết thúc có hậu Ngoài ra các tác giả còn chịu ảnhhưởng của tiểu thuyết phiêu lưu phương Tây, cho nên các nhân vật đi nhiều
xứ sở khác nhau, chẳng hạn như trong Phan yên ngoại sử, tác giả cho nhân vật
chính bị chìm thuyền, được một tàu Anh vớt sang Ma Cao Có thể nói rằng từđầu những năm 20, tiểu thuyết văn xuôi chưa được hình thành, nhưng đã tạođược một bước quan trọng cho thể loại tiểu thuyết ra đời Từ năm 1924 trở đi
ở Nam Bộ đã xuất bản trên 100 cuốn tiểu thuyết của các cây bút: Lê HoàngMưu, Nguyễn Chánh Sắt, Phứ Đức, Trần Bửu, Tân Dân Tử trong đó câybút nổi tiếng nhất là Hồ Biểu Chánh Ở giai đoạn này các tiểu thuyết kháphong phú và da dạng: tiểu thuyết ái tình, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết phiêulưu, tiểu thuyết kiếm hiệp, tiểu thuyết xã hội
So với tiểu thuyết Nam Bộ thì tiểu thuyết miền Bắc ra đời muộn hơn
Vì các đối tượng độc giả chủ yếu là các tầng lớp tiểu tư sản, học sinh, sinhviên nên cách thức hình thành và vận động của tiểu thuyết hơi khác hơn sovới Nam Bộ Đầu thế kỷ XX mãi đến những năm cuối thập kỷ thứ 2, tiểuthuyết Bắc Bộ mới dần được hình thành với những tên tuổi: Phạm DuyTốn,Nguyễn Bá Học, Đặng Trần Phất, Trọng Khiêm, Nguyễn Trọng Thuật Đếnnăm 1925 ở miền Bắc xuất hiện các cuốn tiểu thuyết chữ quốc ngữ đầu tiên:
Trang 30Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, Kim Anh Lệ sử của Trần Trọng Khiêm, Nho phong (1926) của Nguyễn Tường
Tam Trong văn học lúc này bắt đầu nảy sinh một số khuynh hướng của tiểuthuyết hiện đại: khuynh hướng hiện thực, khuynh hướng lãng mạn, và khuynhhướng yêu nước của tiểu thuyết lịch sử Đồng thời, người ta mới thấy được sựcách tân lớn lao của tác giả trong nghệ thuật viết tiểu thuyết ở Bắc Bộ nói
riêng và ở cả nước nói chung Với Tố Tâm đã cắm mốc cực kỳ quan trọng,
đánh dấu sự ra đời của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại qua những cách tân sau:đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên đề cao con người cá nhân, con người cá nhânmuốn vùng vẫy để thoát khỏi lễ giáo phong kiến để tìm đến một tình yêu tự
do Một lý do nữa là Tố Tâm đã đi sâu hơn vào thế giới nội tâm của con
người, giảm bớt các yếu tố ly kỳ Văn xuôi biền ngẫu chưa hoàn toàn đượcxoá bỏ nhưng nhìn chung câu văn trong sáng, gọn gàng hơn
Từ năm 1930 trở đi khuynh hướng tiểu thuyết hiện đại mới thực sự pháttriển mạnh mẽ và phức tạp hơn trước Khuynh hướng lãng mạn nổi lên ở tiểu
thuyết Tự lực văn đoàn với những gương mặt tiêu biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo Lịch sử văn học đã ghi nhận Tự lực văn đoàn có công
trong việc đổi mới văn học hoàn thiện một thể loại văn học mới đó là tiểuthuyết Việt Nam hiện đại
1.3.2 Những thành tựu lớn của tiểu thuyết Việt Nam 1930 – 1945
Sang đầu những năm 30 của thế kỷ XX, tiểu thuyết phát triển mạnh mẽtheo nhiều xu hướng khác nhau: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết thiên về đời tư(khẳng định vai trò cá nhân của con người), trong đó tiểu thuyết thiên về đời
tư rất hợp thời vì nó đáp ứng những khuynh hướng tâm lý thị hiếu bạn đọc, do
đó đã gây được tiếng vang, và đạt được nhiều thành tựu lớn Thực ra, bướcngoặt quan trọng nhất để định đoạt số phận tiểu thuyết trong tương lai phải kể
đến sự ra đời của Tố Tâm (Song An Hoàng Ngọc Phách -1925), cùng với sự
Trang 31hỗ trợ của những tác phẩm khác: Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng thuật, Kim Anh lệ sử của (Trọng Khiêm), Cay đắng mùi đời, tiền bạc, bạc tiền (1926), của
Hồ Biểu Chánh, Nho phong của Nguyễn Tường Tam Trong đó Tố Tâm đã
đẩy lùi tiểu thuyết truyền thống (tiểu thuyết kiếm hiệp, chương hồi vào quákhứ, nhường chỗ cho một nền tiểu thuyết (tiểu thuyết hiện đại, tiểu thuyết tâmlý), cắm mốc đặc biệt quan trọng cho sự ra đời của tiểu thuyết Việt Nam hiệnđại Sau bao nhiêu năm vất vả truân chuyên, cái tôi cá nhân bước đầu khẳngđịnh được vị trí của mình trước uy quyền khắc nghiệt của lẽ giáo phong kiến.Nhưng sau đó lại tỏ ra yếm thế bi, quan đậm chất nửa vời: nhân vật Tố Tâm,Đạm Thủy ban đầu được hưởng những phút giây tuyệt diệu của tình yêu vì họlấy việc hưởng thụ tình yêu làm lẽ sống Rồi khoảnh khắc ấy vội vã qua đi,đôi trai tài gái sắc ấy đi tìm một lối thoát trong tình yêu, nhưng lại bị lễ giáophong kiến ràng buộc cấm đoán, cuối cùng lại phải trả một cái giá rất đắt cho
sự thỏa hiệp của mình với chế độ phong kiến (Tố Tâm chết, Đạm Thủy sốngtrong đau khổ dày vò) Như vậy xét một cách công bằng thì đối với nền tiểuthuyết Việt Nam hiện đại, Song An Hoàng Ngọc Phách có công sinh nhưng
không có công dưỡng, chỉ đến khi phong trào thơ mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn ra đời thì chủ nghĩa cá nhân mới thực sự khỏe khoắn hơn Ông Vu Gia trong cuốn Khái Hưng nhà tiểu thuyết thật đã không quá lời khi đã có nhã
ý đặt Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng vào vị trí “viên gạch hồng để xây dựng một nền văn đoàn Tự lực” Hay nói cách khác Tự lực văn đoàn ra đời với tác phẩm: Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt Những tác phẩm vừa kể đã mở toang cánh cửa mà Tố Tâm mới còn hé mở
Sau năm 1930 tiểu thuyết Việt Nam phát triển mạnh mẽ và phức tạp
hơn trước Với sự ra đời của Tự lực văn đoàn, văn học trưởng thành, tạo nên
một bước phát triển lớn cho nền tiểu thuyết, nó có một sức hấp dẫn đặc biệt
đối với độc giả thành thị Nếu như tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn
Trang 32xuất hiện trong cái u ám, buồn thảm của thời kỳ thoái trào cách mạng vàkhủng hoảng kinh tế thì tiểu thuyết hiện thực phê phán lại phát triển mạnh mẽtrong không khí sôi khí sôi nổi, rầm rộ của thời kỳ Mặt trận dân chủ, vớinhững nhà văn hiện thực xuất sắc: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố,Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Mạnh Phú Tư,…
Các khuynh hướng tiểu thuyết giao lưu đan chéo với nhau và thậm chíđấu tranh với nhau Khó mà cắt nghĩa được tính phức tạp trong thế giới quancủa mỗi tác giả, cũng như trong tác phẩm của từng khuynh hướng thời kỳ đó
1.3.3 Đóng góp của Khái Hưng cho tiểu thuyết Việt Nam 1930 – 1945 với tư cách là một yếu nhân của Tự lực văn đoàn
Có thể nói Tự lực văn đoàn là cái nôi nuôi dưỡng các thành viên trong
nhóm, cho nên khi tham gia, dĩ nhiên Khái Hưng phải chịu sự quy định của
những tôn chỉ sáng tác của Tự lực văn đoàn Ông được Nhất Linh và những
người bạn động viên góp ý, khuyến khích, ông đã chuyển biến rất nhanh cùngcác bạn trong văn đoàn Là một người tài năng và thông minh, nên trước khi
gặp Nhất Linh, ông đã có quan niệm rất gần với gũi với nhà sáng lập ra Tự lực văn đoàn Nhất Linh với bằng cử nhân Pháp, Khái Hưng với bằng tú tài
Tây, bản thân ông lại được sống trong một gia đình quan lại nên rất có điềukiện thâm nhiễm nền văn hoá phương Tây, mặt khác ông là người giỏi Phápvăn nên có thể vượt qua những hiểu biết hạn hẹp để tìm hiểu văn hoá vănchương Pháp, điều đó các nhà văn thế hệ trước chưa có thể làm được Trướckhi gặp Nhất Linh, Khái Hưng đã hoạt động văn học, nhưng những văn phẩmcủa ông vẫn chìm lắng, hoà cùng dòng văn học 1913 -1932 Bởi vì lúc ấy vănchương của ông vẫn chưa có điểm nhấn, nội dung vẫn mang nhiều khuynhhướng cổ Sau khi gặp Nhất Linh và những người bạn cùng chí hướng am
hiểu văn hoá và văn chương Pháp, ông đã đứng ra làm biên tập báo Phong hoá, rồi trở thành cây bút chủ lực của Tự lực văn đoàn Chỉ trong một thời
Trang 33gian rất ngắn so với cuộc đời của một nghệ sĩ (10 năm), ông đã để lại mộtkhối lượng tác phẩm khá đồ sộ với nhiều thể loại khác nhau: 12 tiểu thuyết(trong đó có hai cuốn viết chung với Nhất Linh), 8 truyện ngắn (trong đó cómột truyện viết chung với Nhất Linh), 3 vở kịch (đó là chưa kể những vở hài
kịch đăng trên báo Phong hoá và Ngày nay) Ngoài ra Khái Hưng còn viết một
số truyện ngắn dành cho thiếu nhi và ông cũng là một dịch giả có tài NguyễnHoành Khung đánh giá như sau: “Trong thế hệ các nhà văn mới, Khái Hưng
là người duy nhất sinh ra ở thế kỷ trước, song lại là người mở màn đi đầu điđầu cho phong trào văn nghệ mới, với một ngòi bút trẻ trung lịch lãm màduyên dáng Khái Hưng viết cả tiểu thuyết truyện ngắn, kịch, tiểu phẩm, phêbình, nhưng vị trí của ông thật xứng đáng lại ở địa hạt tiểu thuyết” Bản thântác giả cũng nhận thấy nghề viết văn là khổ sở nhưng cũng là nghề sungsướng Ông viết: “Trước kia vui vì viết văn (…) một nghệ sĩ thì bao giờ màkhông vui, không sướng, bao giờ mà không tận hưởng, tận hưởng cái thú làmviệc [35;76] Với ông viết văn là một nghề, nhưng với cái nghề này khiến ôngphải tôn thờ, phải luôn gắn chặt với ông suốt cả đời, nó không phải là sự “thúcgiục hay khuyên bảo” của ai cả mà đó là nềm đam mê, ông viết: “Không khinào tôi bỏ được cái lý tưởng mà tôi thờ phụng trong thâm tâm tôi khi tôi đãnhận nó làm lý tưởng duy nhất của tôi (…) Cái quan niệm văn chương baogiờ cũng chắc chắn, tin tưởng Luôn tự bảo vệ tôi: “Xưa nay mình chỉ viết chomình, chỉ viết để thỏa mãn lòng sốt sắng muốn viết, thỏa mãn những nhu cầucủa tâm hồn bứt dứt, trong một xã hội dưới một chỉnh thể không phù hợp vớinó… [35;76] Những quan niệm trên đã đi theo ông suốt một chặng đường dài
và nó chi phối sâu sắc quá trình sáng tạo tiểu thuyết của ông Khái Hưng cũng
như các nhà văn Tự lực, rất băn khoăn và bứt rứt trước những thực trạng của
xã hội đương thời, nhưng không dám chống đối, chỉ phê phán chế độ thực dânphong kiến, trên bình diện kinh tế, chính trị, chỉ muốn cải cách tân xã hội
Trang 34trong phạm vi cho phép Vì thế, Khái Hưng cùng với các nhà văn trong vănđoàn đã đem văn chương ra phụng sự lý tưởng, nhằm phá bỏ những bứctường thành kiên cố của chế độ phong kiến, xây dựng một xã hội hợp với lẽphải, theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả, quý phái lúcnào cũng tươi trẻ yêu đời, phù hợp với tôn chỉ của văn đoàn Khái Hưng và
các nhà văn Tự lực dựa trên tư tưởng ấy, cho nên từ việc lựa chọn đề tài, chủ
đề, xây dựng cốt truyện, cho đến xây dựng nhân vật đã tạo nên một mô hình
chung của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, đem đến cho văn chương thời đại một
tiếng nói mới, một cách cảm nhận mới về con người Là một người có rấtnhiều kinh nghiệm thực tế, với ngòi bút sắc bén, cho nên tiểu thuyết KháiHưng có màu độc đáo riêng khác hẳn với Nhất Linh và người bạn trong vănđoàn của ông Với cảm hứng chủ đạo của ông là phê phán lễ giáo, đại gia đìnhphong kiến, khẳng định quyền tự do, hạnh phúc tuổi trẻ, bày tỏ nỗi niềmthương cảm muốn chia sẻ với những người dân quê những khó khăn, vất vả,nghèo đói, bệnh tật mà họ đang phải đối mặt hàng ngày Điều đó được thểhiện rất rõ qua những tác phẩm của ông, đó là có một giấc mơ cải tạo xã hộitheo lập trường cải lương tư sản Các nhân vật chủ yếu của Khái Hưng khácvới các nhân vật của Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố Vì ông miêu tảcon người dưới góc nhìn cá nhân, còn các nhà văn hiện thực miêu tả conngười dưới góc độ giai cấp xã hội Trong tiểu thuyết hiện thực, các nhân vậtcủa họ là những tri thức, những người nông dân nghèo, phải sống trong sự ápbức của xã hội, phải chấp nhận một cuộc sống cùng cực về vật chất cũng nhưtinh thần, hoặc là những địa chủ quan lại chuyên áp bức bóc lột những ngườidân nghèo Ngược lại tiểu thuyết của Khái Hưng đi sâu vào khám phá nhữngmẫu người cá nhân, những con người do ảnh hưởng của tư tưởng phươngTây, họ thấy vai trò của cá nhân có một vai trò to lớn đối với sự phát triển của
xã hội Đề cao vai trò cá nhân là một nội dung phổ biến trong văn học (trong
Trang 35thơ mới, trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và một số tác giả Nguyễn Tuân,
Vũ Trọng Phụng, Nam Cao) Trong tiểu thuyết của Khái Hưng, con người đitiên phong trong xu thế đó Sự khẳng định con người cá nhân gắn liền với sựđấu tranh không mệt mỏi cho tình yêu và hạnh phúc cá nhân Con người cánhân của ông ở giai đoạn đầu có nhiều yếu tố tích cực và tiến bộ Cái tôi cánhân rất gần gũi với lợi ích, đạo đức của những người dân Nhưng về sau, nócàng trở nên quá trớn, với lối sống trụy lạc, sống không lý tưởng của tầng lớpthanh niên trí thức và tiểu tư sản Tác giả cũng thể hiện mối băn khoăn, cốgắng tìm hướng thoát cho tình trạng đó, tuy hướng giải quyết còn rất mơ hồ,nhưng cũng là những công lao lớn đáng ghi nhận
Có thể nói Khái Hưng là một người dẫn đường cho tiểu thuyết mới nền tiểu thuyết hiện đại Ngay từ những cuốn tiểu thuyết đầu tiên, ông xóa bỏhết khuôn mẫu của văn chương cũ, với khuôn sáo ước lệ của thời Trung đại,ông cũng vượt qua khỏi những chiêm nghiệm của văn chương buổi giao thời(30 năm đầu thế kỷ XX) để có những bước tiến vượt bậc, để có những đónggóp lớn cho quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Sự thànhcông của ông được thể hiện qua mỗi cuốn tiểu thuyết Thi pháp tiểu thuyết đãthực sự hiện đại, cốt truyện không còn vay mượn, khuôn sáo, ngoắt ngoéo,ngôn ngữ bình dị, dễ hiểu, gần gũi với cuộc đời thật Trong mỗi câu truyện tácgiả thường xây dựng các nhân vật phụ để làm tăng dung lượng phản ánh hiệnthực, vừa thể hiện một cái nhìn sâu sắc toàn diện của tác giả Trong một số cốttruyện còn có kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa khái quát tượng trưng và sựchân thực gần gũi với cuộc sống Khái Hưng có rất nhiều sáng tạo trong việcxây dựng nhân vật, rất chú trọng đến việc miêu tả đời sống nội tâm Đây làhướng viết mới của tiểu thuyết lúc bấy giờ
-Có thể nói, Khái Hưng có những đóng góp đáng kể cho sự phát triểntiểu thuyết Việt Nam, làm cho thành nó trở nên trong sáng và giản dị hơn
Trang 36Đứng trước yêu cầu cấp bách của thời đại đặt ra cho nền văn học thời
kỳ này, cũng như bất cứ hình thức nghệ thuật nào khác, tiểu thuyết tất yếu
phải phát triển Khi trả lời tạp chí Anh Books man tháng 3 năm 1963 nhà tiểu
thuyết Anh John Braine đã nói: “Nếu như nhà văn đã ngừng phát triển về mặttrí tuệ không chịu mở rộng thế giới xung quanh thì nhất định anh phải chấmdứt cái sự sáng tác đã trở nên tuyệt sinh đó, dù chỉ xét theo quan điểm hìnhthức thì anh ta cũng chẳng cho ta một điều gì mới mẻ Sự thể hiện tiểu thuyết
là như vậy Tôi không thể nói tiểu thuyết sẽ phát triển theo hướng nào nhưng
có lẽ vào chính giây phút tôi nói thì đã có hàng trăm nhà tiểu thuyết trẻ đangđịnh đoạn được số phận của nó” [61;14] Đóng góp về tiểu thuyết của KháiHưng vào quá trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam, vào quá trình pháttriển của lịch sử văn học dân tộc 1930 -1945, với tư cách là nhân vật quan
trọng của Tự lực văn đoàn là không thể không ghi nhận
Trang 37Chương 2 NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ XÂY DỰNG
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT KHÁI HƯNG
2.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết Khái Hưng
2.1.1 Khái niệm cốt truyện
Cốt truyện là một yếu tố quan trọng của tác phẩm tự sự Sách 150 Thuật ngữ văn học (Nxb Đại học QG Hà Nội - 1999) viết rằng bản thân thuật ngữ
“cốt truyện” của tiếng Việt do yếu tố “cốt” nên dễ bị hiểu như cái “lõi”, “bộxương”, “cái sườn”, “cơ sở của truyện được chứ không phải là truyện Cácnhà nghiên cứu hầu như đã nhất trí với nội hàm khái niệm cốt truyện bao gồm
“hệ thống hoàn chỉnh các sự việc và hành động chính trong tác phẩm” Về cốttruyện, người ta chia cốt truyện thành nhiều bước: trình bày, khai đoan (thắtnút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) Trên phương diệnkết cấu và quy mô nội dung nhìn chung có thể chia cốt truyện thành hai loại:cốt truyện đơn tuyến và cốt truyện đa tuyến Trong cốt truyện đơn tuyến, hệthống sự kiện được tác giả kể lại gọn gàng, thường là đơn giản về số lượng,tập trung thể hiện quá trình phát triển tính cách của một vài nhân vật chính, cókhi chỉ một giai đoạn trong cuộc đời nhân vật chính Ngược lại cốt truyện đatuyến là cốt truyện được trình bày một hệ thống sự kiện phức tạp, nhằm táihiện nhiều bình diện của đời sống ở một thời kỳ lịch sử, tái hiện những conđường diễn biến phức tạp của nhiều nhân vật, do đó có một dung lượng lớn,
hệ thống cốt truyện đa tuyến, được chia làm nhiều dòng, nhiều tuyến gắn liềnvới số phận các nhân vật chính của tác phẩm
Nhưng trong lịch sử của ngành lý luận văn học, vị trí cốt truyện nàycàng được giảm dần, do sự lớn lên về vai trò của tính cách nhân vật Đầu thế
kỷ XX các nhà tiểu thuyết mới trong khi chủ trương gạt bỏ kỹ thuật đã lỗi thời
Trang 38của tiểu thuyết truyền thống họ đã rất mạnh dạn, cũng có thể nói là cực đoantrong khi gạt bỏ vai trò của cốt truyện Từ chỗ bằng cốt truyện đến chỗ nhỏhơn cốt truyện, thậm chí truyện không có cốt truyện để có thể kể được Phảichăng có thể coi việc giảm dần, nới lỏng dần của cốt truyện, việc cốt truyệnngày một mất đi vai trò vốn rất quan trọng của nó là dấu hiệu chứng tỏ sựhiện đại của thể loại
Tuy nhiên vấn đề khái niệm “cốt truyện” đang còn khá phức tạp nhưngtrên cơ sở của một số ý kiến vừa nêu trên trong tiểu luận này chúng tôi tạmthời đưa ra một quan niệm về “cốt truyện như sau: cốt truyện là hệ thống các
sự kiện, biến cố cụ thể được trình bày trong tác phẩm với ý đồ nghệ thuật củatác giả như một tiến trình và thể hiện qua phương tiện nghệ thuật Như vậycốt truyện không chỉ là một mặt nội dung quan trọng và trực tiếp mà là mộtphương diện nghệ thuật của tác phẩm
Tiểu thuyết truyền thống được sáng tác bằng thể văn vần chữ Hán haychữ Nôm Do bị chi phối bởi quan điểm đạo đức nên nặng về tính hướngthiện, thường tập trung vào các đề tài “trung, hiếu, tiết, nghĩa” quen thuộc, cótính chất ước lệ, với những cốt truyện đã có sẵn trong dân gian hoặc rút ra từ
sử sách, với công thức: gặp gỡ - biệt ly đoàn tụ Cốt truyện truyền thốngthường dẫn đến một kết thúc có hậu cho tác phẩm Nhiều khi cốt truyệnkhông phát triển theo một lôgic nội tại mà theo ý muốn chủ quan của tác giả
Do kể chuyện theo trình tự thời gian tự nhiên và lấy cốt truyện làm sự kiệnchính, truyện có kết cấu chương hồi, là sự lắp ghép những mẩu chuyện riêngbiệt xung quanh nhân vật chính theo tật tự thời gian Mỗi chương hồi là mộtkhúc, một đoạn của toàn bộ truyện, nhưng tự nó có tính trọn vẹn tương đối,không gian khép kín trong từng sự kiện
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, tiểu thuyết chính thức có mặt và trởthành nhân vật chính trong tiển trình văn học dân tộc, bước đầu đã có những
Trang 39cách tân hiện đại hơn so với truyện Nôm trước đó trên một số phương diện:ngôn ngữ nhân vật, cốt truyện… Từ xưa cốt truyện vẫn bị coi là thành phần
“bảo thủ”, ít thay đổi nhất, thì đến giai đoạn này nó vận động rất mạnh mẽ,thậm chí bỏ qua lý thuyết cốt truyện truyền thống Cốt truyện hiện đại đảmbảo ba chức năng cơ bản: phương diện bộc lộ tính cách của nhân vật, phảnánh những mâu thuẫn xung đột giúp cho tư tưởng của chủ đề và nội dungnghệ thuật có điều kiện bộc lộ một cách đầy đủ nhất Xác định chức năng nhưthế nên trên phương diện lý thuyết, khái niệm cốt truyện cũng được hiểu rấtsinh động và rộng mở M.Gorky cho rằng “cốt truyện là một hệ thống cácquan hệ qua lại của nhân vật, về thiện cảm và ác cảm của chúng đã được xácđịnh như là lịch sử của sự trưởng thành và tổ chức tính cách của nhân vật”.B.Tomashevski lại viết “Tổng thể các sự kiện trong mối quan hệ qua lại nộitại của chúng, ta sẽ gọi là cốt truyện” Với tiểu thuyết Việt Nam hiện đại saukhi phân tích hệ thống khái niệm, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ xác định: “cốttruyện chỉ là một hệ thống sự kiện và hoạt động trong tác phẩm”
Như thế, khái niệm cốt truyện theo nghĩa khái quát hiện nay thì sự kiện vàhành động luôn giữ vai trò quan trọng, thiết yếu sự kiện luôn gắn với hành động
2.1.2 Cơ chế thúc đẩy sự phát triển cốt truyện trong tiểu thuyết Khái Hưng
Trong suốt chặng đường sáng tác, Khái Hưng đã viết về nhiều đề tàikhác nhau Khi miêu tả tình cảm yêu đương của tuổi trẻ thì ngòi bút của Khái
Hưng rất lãng mạn, có khi là lãng mạn nhất trong nhóm Tự lực văn đoàn Ông
thường tập trung khai thác những ước mơ mộng ảo, những tính cách khácthường của nhân vật như Lan và Ngọc, cũng như Mai và Lộc ái tình thanh cao
lý tưởng, chỉ có trong tưởng tượng của tác giả mà thôi Nhưng khi diễn tảnhững nhân vật đại diện cho lễ giáo phong kiến, bảo thủ lạc hậu như: Bà Án,
bà Ba, bà Phán… với cuộc sống của tầng lớp tri sản tri thức thì ngòi bút của
Trang 40nhà văn đã phản ánh khá sâu sắc đúng đắn với những chi tiết hình ảnh trungthực…
Nhìn chung, cơ chế thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện trong tiểuthuyết của Khái Hưng chính là những mâu thuẫn, xung đột xã hội được nhàvăn nhận thức Trung tâm của sáng tác Khái Hưng là mâu thuẫn giữa quyềnsống của con người cá nhân với môi trường xã hội trì trệ Ý thức cá nhân, mộtkhi được đánh thức thì không có gì cản được sự nổi loạn của nó Bởi vậy,trong tiểu thuyết của nhà văn, các cốt truyện thường phát triển theo logic:nhân vật từ chỗ chung sống với nhau theo tập quán, quán tính bao đời đến chỗcựa quậy, thắc mắc, nổi loạn Đỉnh điểm của cốt truyện thường gắn liền với
sự kiện nhân vật chính dứt bỏ một cái gì đấy hoặc công khai đối đầu với cáclực lượng cản trở tự do của mình
Ở góc độ khác, có thể nói cơ chế thúc đẩy sự phát triển của cốt truyệntrong tiểu thuyết Khái Hưng chính là tính luận đề của tác phẩm Do luôn quantâm phát biểu luận đề, tác giả thường triển khai cốt truyện dựa trên cơ sở phụctùng một ý đồ đã xác định sáng rõ từ trước Đây chính là điểm tạo nên tínhchặt chẽ của cốt truyện đồng thời cũng làm giảm thiểu tính bất ngờ, sinh độngcủa nó
2.1.3 Phân loại cốt truyện trong tiểu thuyết Khái Hưng
2.1.3.1 Cốt truyện lãng mạn
Cốt truyện lãng mạn là khái niệm ước lệ để chỉ loại cốt truyện phổ biến
trong những tiểu thuyết mang đậm cảm hứng lãng mạn Hồn bướm mơ tiên là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng cũng là tác phẩm mở đầu của Tự Lực văn đoàn Cốt truyện xoay quanh cuộc tình của “chú tiểu” Lan và Ngọc sinh
viên trường Canh nông, cháu của sư cụ chùa Long Giáng, nơi mà “chú tiểu”Lan thọ giới quy y Cô Thi (tức chú tiểu Lan) bị ép gả chồng nên đã chạy trốnkhỏi gia đình, nàng muốn giữ lời thề với mẹ trước khi hấp hối, và muốn giữ