1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết nguyễn khải

84 471 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 881,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do ch ọn đề tài: Chưa có những kiệt tác như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, cũng chưa có tác phẩm nào tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trong giới nghiên cứu, phê bình văn học, những cơ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 5-04-33

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS - TS TRẦN HỮU TÁ NGƯỜI THỰC HIỆN: MAI THỊ HƯƠNG THƠM

THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH - 2004

Trang 3

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

DẪN NHẬP 4

1 Lý do ch ọn đề tài: 4

2 Gi ới hạn của đề tài: 5

3 L ịch sử vấn đề: 5

5 Nh ững đóng góp của luận văn: 15

6 K ết cấu của luận văn: 15

CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KH ẢI 16

1.1 C ảm hứng nghiên cứu, phân tích thể hiện qua cuộc đấu tranh giải phóng con người ra khỏi niềm tin mê muội vào tôn giáo và những thiết chế tôn giáo ngăn cản s ự phát triển của con người, giúp họ được sống và làm việc một cách thanh thản, h ạnh phúc 16

1.2 C ảm hứng nghiên cứu, phân tích thể hiện qua vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội nh ằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động trong thời kì quá độ 27

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI 37

2.1 Lo ại hình nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải: 37

2.2 Th ủ pháp xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải: 46

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC LỜI VĂN NGHỆ THUẬT TRONG TI ỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI 55

3.1 L ời văn nghê thuật được tổ chức theo hướng tường thuật khách quan hóa trong ti ểu thuyết Nguyễn Khải 56

3.1.1 Kiểu tường thuật lạnh lùng: 56

3.1.2 Kiểu người tường thuật hòa mình với nhân vật: 59

3.1.3 Kiểu người tường thuật ủy thác cho nhân vật: 62

3.2 L ời văn nghệ thuật được tổ chức theo hướng tường thuật chủ quan hóa trong ti ểu thuyết Nguyễn Khải: 65

3.2.1 Kiểu người tường thuật xưng “Tôi” kể lại một câu chuyện mà trong đó “Tôi” vừa là người tường thuật vừa là một nhân vật: 65

3.2.2 Kiểu người tường thuật xưng “Tôi” luôn tự ý thức về vai trò nhà văn của mình: 67

K ẾT LUẬN 76

THƯ MỤC THAM KHẢO 81

Trang 4

D ẪN NHẬP

1 Lý do ch ọn đề tài:

Chưa có những kiệt tác như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, cũng chưa có tác phẩm nào

tạo nên những cuộc tranh luận sôi nổi trong giới nghiên cứu, phê bình văn học, những cơn

sốt trong lòng độc giả như Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, nhưng có một điều chắc chắn là khi

viết về những gương mặt tiêu biểu của nền văn xuôi sau cách mạng tháng Tám, người ta không thể bỏ qua Nguyễn Khải Ông thuộc thế hệ những nhà văn sớm có ý thức giác ngộ cách mạng và trưởng thành trong những năm tháng gian khổ nhất của đất nước Thoát li từ năm mười sáu tuổi và quyết tâm khẳng định tên tuổi của mình bằng nghiệp văn chương, song cũng phải mất hơn mười năm sau đó, người đọc mới biết đến Nguyễn Khải, khi ông

cho ra đời tiểu thuyết “Xung đột” Cũng từ tiểu thuyết này, nhà văn được vinh dự đứng vào

hàng ngũ những cây bút xuất sắc của văn học thời kì miền Bắc bước vào xây dựng cuộc

sống mới Những tác phẩm ra đời sau 1975 càng khẳng định vị trí vững chắc của Nguyễn

Khải trên văn đàn văn xuôi hiện đại

Hơn nửa thế kỉ miệt mài lao động nghệ thuật, Nguyễn Khải đã góp cho văn học một số lượng tác phẩm không nhỏ, trong đó truyện ngắn và tiểu thuyết của ông được đánh giá cao, không chỉ bởi nội dung thiết thực, gần gũi với cuộc sống ở mỗi giai đoạn lịch sử, mà còn

bởi những đóng góp quí báu về mặt thi pháp cho văn xuôi Việt Nam hiện đại Tác phẩm của ông được biên soạn trong các giáo trình giảng dạy ở bậc đại học, cao đẳng, trung học phổ thông Các nhà nghiên cứu, lí luận đều coi Nguyễn Khải là một trong những tác giả đại diện cho nền văn xuôi sau cách mạng tháng Tám Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm

1985, 1988, giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2) và giải thưởng văn học ASEAN năm 2000 là

những minh chứng cụ thể cho vị trí xứng đáng của một nhà văn tài năng, tâm huyết Đến hôm nay, con người, cuộc đời và tác phẩm của ông vẫn còn có tầm ảnh hưởng sâu rộng, cùng những giá trị bền vững cho văn học và cho cả một thế hệ trẻ đương thời khao khát khám phá, kiếm tìm

Tác phẩm của Nguyễn Khải được nhiều nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm tiếp cận ở

một số mặt, nhưng ý kiến chưa toàn diện và nhất quán Cho nên, việc đi sâu vào tìm hiểu

tiểu thuyết của nhà văn ở các giai đoạn sáng tác, rút ra những đặc trưng cơ bản mang tính ổn

Trang 5

định, bền vững, làm nên phẩm chất nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải là điều cần quan tâm giải quyết Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài này

2 Giới hạn của đề tài:

2.1 Đối tượng khảo sát:

Trong quá trình thu thập tài liệu tham khảo phục vụ cho đề tài khoa học, chúng tôi

nhận thấy số lượng tiểu thuyết Nguyễn Khải là trên mười tác phẩm Tuy vậy, khi tiến hành

thực hiện luận văn, chúng tôi chỉ khảo sát tám tiểu thuyết trong “Tuyển tập tiểu thuyết

Nguy ễn Khải” do nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành năm 2001 Bởi lẽ, đây là những tác

phẩm đã được thử thách qua thời gian, được sự thẩm bình, khẳng định của nhiều nhà nghiên

cứu văn học tên tuổi, mang giá trị thẩm mĩ bền vững làm nên tầm vóc nhà văn Nguyễn Khải

và được chính bản thân tác giả sau nhiều năm đọc lại ưng ý lựa chọn Đó là “những ấn

ph ẩm hoàn chỉnh nhất có thể làm căn cứ cho các lần tái bản sau, nếu như còn có nhiều người muốn tìm” (Vài lời nói thêm cho tiểu thuyết Nguyễn Khải, NXB Thanh Niên năm

khả năng hạn chế của mình, trên cơ sở khảo sát tác phẩm, học tập, tiếp thu ý kiến đánh giá

có liên quan ở các công trình nghiên cứu khác, chúng tôi xin đi vào ba vấn đề cơ bản: “Cảm

h ứng nghiên cứu phân tích trong tiểu thuyết Nguyễn Khải”; “Nhân vật trong tiểu thuyết Nguy ễn Khải” và “Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải”

3 Lịch sử vấn đề:

Ngay từ những năm sáu mươi, tác phẩm của Nguyễn Khải đã gây được tiếng vang trong làng văn học, thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều cây bút nghiên cứu lí luận, phê bình Người đọc chờ đợi những tác phẩm của ông để tìm hiểu những vấn đề mang tính thời

Trang 6

sự nóng bỏng, thể hiện qua cách viết thiên về tranh luận, đối thoại, khiến họ cảm giác như mình đang là người trong cuộc Giới nghiên cứu phân tích thấy ở nhà văn cách tiếp cận hiện

thực độc đáo, cái nhìn sắc sảo tinh tế nhiều mặt của đời sống và khả năng thấu hiểu tâm lí con người

Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày những ý kiến nổi bật của các công trình nghiên cứu phê bình quan trọng, có liên quan trực tiếp đến đề tài của luận văn Chúng tôi phân ra các

loại ý kiến nhằm hệ thống lại những đánh giá của các nhà nghiên cứu đi trước, có liên quan

trực tiếp đến nội dung của luận văn

3.1 Lo ại ý kiến về cảm hứng trong tiểu thuyết Nguyễn Khải:

Là một trong những cây phê bình văn học đầu tiên quan tâm đến tiểu thuyết Nguyễn

Khải, Nguyễn Văn Hạnh có hai bài viết giá trị vào năm 1964 Ở bài viết thứ nhất “Vài ý kiến

v ề tác phẩm của Nguyễn Khải”, ông đã nhận ra Nguyễn Khải “Có một cái nhìn nhạy bén,

th ấu suốt vào một số những mặt chủ yếu, những vấn đề khá phức tạp của cuộc sống” (57,

53) Đến “Chủ tịch huyện và nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Khải”, ông tiếp tục khẳng định: “Tài năng của Nguyễn Khải thiên về lí trí Năng lực quan sát, óc phân tích phê phán

s ắc sảo, cách xử lí đúng đắn và thoải mái những vấn đề quan trọng và phức tạp đã làm cho anh được dư luận chú ý khá sớm và dẫn anh đi một cách chắc chắn từ thành công này đến thành công khác” (57, 282) Dù không trực tiếp nói về cảm hứng, nhưng qua đánh giá của Nguyễn Văn Hạnh, chúng ta thấy được những tiền đề làm nên cảm hứng nghiên cứu, phân tích trong tiểu thuyết Nguyễn Khải Cũng chính bởi thiên về lí trí, óc quan sát tinh tế và năng lực phân tích, phê phán sâu sắc, ham đi vào phát hiện và tìm hiểu vấn đề, nên Nguyễn

Khải đã để lộ ra một nhược điểm, mà theo Nguyễn Văn Hạnh là “thiếu một niềm say mê”

(57, 28) , “chưa đủ sức khơi dậy những tình cảm mãnh liệt, niềm tin yêu lớn, niềm say mê

l ớn” (57, 283),

Trở lại vấn đề cảm hứng gắn liền với cảm xúc trong bài “Đặc điểm ngòi bút hiện thực

c ủa Nguyễn Khải” đăng trên Tạp chí văn học số 2, 1974, Chu Nga viết: “Hình như anh (Nguy ễn Khải) có phần dè xẻn trong việc bộc lộ tình cảm bằng ngòi bút của mình ( ) Đọc Nguy ễn Khải, đôi khi chúng ta rất thích thú thấy anh quả là thông mình và sắc sảo, song chúng ta v ẫn muốn đòi hỏi ở ngòi bút hiện thực của anh một cái gì khác nữa, chẳng hạn như một sự say mê, một tình cảm gắn bó yêu thương hơn nữa đối với con người” (57, 73) Ý

kiến này giống cách đánh giá của Nguyễn Văn Hạnh

Trang 7

Nhược điểm này sẽ được Nguyễn Khải khắc phục ở những tác phẩm ông viết sau năm

1975, như Phan Cự Đệ đã nhận xét trong bài “Giới thiệu nhà văn Nguyễn Khải” “Ngòi bút

hi ện thực tỉnh táo của Nguyễn Khải ngày càng xúc động hơn, tình cảm hơn, giàu chất trữ tình lãng m ạn hơn, nhân hậu hơn, tin yêu con người hơn” Ông giải thích thêm: “Sự phê phán sác s ảo, tỉnh táo, triệt để trong tác phẩm của Nguyễn Khải không phải là sự phê phán

l ạnh lùng, khách quan tư sản, mà thường xuất phát từ một chủ nghĩa nhân đạo cộng sản ( ) luôn g ắn liền với cảm hứng lãng mạn chủ nghĩa về ngày mai” (57, 43, 44) Sau này Đinh

Quang Tốn cũng đưa ra một nhận định tổng quát: “Văn Nguyễn Khải rất viết đôn hậu Tôi

không thây văn ông lạnh lùng như ai nói Một tấm lòng yêu thương và trân trọng con người như thế làm sao mà lạnh lùng được? Sự thông minh sắc sảo không phải bao giờ cũng đồng nghĩa với sự lạnh lùng khó tính” (57, 377)

Lại Nguyên An và Trần Đình Sử có lẽ là hai nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến

cảm hứng nghiên cứu, phân tích trong tiểu thuyết Nguyễn Khải Hai ông đã phân tích, đánh giá một cách khoa học trong một lần “Đối thoại về các sáng tác gần đây của Nguyễn Khải”

Cuộc trao đổi cởi mở của hai cây bút này đã được ghi lại và đăng lần đầu trên báo Văn nghệ

số 24 ngày 11.6.1982 với nhan đề “Văn xuôi nghiên cứu đời sống hôm nay” Trong “Nguyễn

Kh ải - về tác gia và tác phẩm”, nó được in lại dưới cái tên “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ng ổn ngang bộn bề ” Theo Trần Đình sử, cảm hứng nghiên cứu là một trong hai đặc

điểm chính tạo nên thành công trong sáng tác của Nguyễn Khải Ông lí giải: “Tinh thần

trong sáng tác khác h ẳn cảm hứng minh họa Có nhiều sáng tác với ý đồ minh họa cho một

ý đồ chân thành thôi, nhưng không tránh cho tác phẩm khỏi hậu quả này Nó bị lãng quên

r ất mau Hạn dùng của nó rất ngắn Sáng tác với cảm hứng nghiên cứu thì khác, dù có khi

l ấy chung đề tài với sáng tác mình họa” Ông phân tích kiểu người như Tuy Kiền để minh

họa, sau đó đi đến kết luận: “Ý nghĩa nhận thức của tác phẩm (viết theo cảm hứng nghiên

c ứu ), do vậy cao hơn bất cứ ý đồ minh họa và lên án đơn thuần nào” Trần Đình Sử nhấn

mạnh vào những biểu hiện của cảm hứng nghiên cứu trong tiểu thuyết Nguyễn Khải Ví dụ

như ông coi mấy chữ “không có kết thúc” là “minh chứng về cảm hứng nghiên cứu ở anh

Kh ải”; “Với cảm hứng nghiên cứu toàn bộ nhiệt tình của nhà văn hầu như dồn vào việc vẽ

ra, hình dung ra các tình th ế, các quan hệ, các mâu thuẫn” Còn cái chuyện kết thúc “chẳng qua là m ột nghi thức có tính chức năng theo yêu cầu thể loại, một nghi thức nghệ thuật

nh ằm tạo ra những hiệu quả nhất định” “Việc kết thúc lấy lệ theo nghi thức là một triệu

ch ứng rõ rệt của một tư duy nghệ thuật đang nghiên cứu, khảo sát, phân tích đời sống và

Trang 8

con người đương thời của nó” Cảm hứng nghiên cứu còn qui định luôn cảm xúc của nhà

văn đối với các vấn đề mà ông nêu ra trong tác phẩm Ông viết: “Tôi nghĩ tác giả là người

nhi ệt tình với lí tưởng không kém ai đâu ( ) có điều con người ấy có cái nhìn tỉnh táo Trước các hiện tượng tiêu cực chẳng hạn, nhiều khi sáng tác chỉ có bình diện lên án Nguy ễn Khải thì khác Anh thiên về phanh phui nó, giúp người đọc nhận thức nó Anh không đơn giản hóa mọi kẻ thù Anh lưu ý chúng ta nhận thức kẻ thù” Đóng vai trò là người

hỏi, nhưng có lúc, Lại Nguyên Ân cũng đưa ra ý kiến, nhằm bổ sung, hoặc nhấn mạnh thêm

vấn đề hai người đang trao đổi Ông nói rõ hơn về giá trị tác phẩm trong cảm hứng nghiên

cứu: “Tác phẩm nào đến với người ta chỉ để xúi giục người ta ghét cái nhất thời, yêu cái

thoáng qua, ch ắc không thể ở bền với họ so với những tác phẩm giúp người ta hiểu biết,

nh ận thức những sự thực trong cuộc đời” Ông cũng chỉ ra: “Nhu cầu hiểu biết thực sự là nhu c ầu lớn của thời đại ( ) cảm hứng nhận thức đang tăng lên mạnh mẽ”

(57,76,78,79,84) Chúng tôi nghĩ, chính cảm hứng nghiên cứu đã dẫn Nguyễn Khải đến chỗ trình bày những dòng suy nghĩ, tư tưởng hiện thực ấy - những suy đoán, cân nhắc, diễn giải,

biện hộ khác nhau của những con người khác nhau trong những thời thế khác nhau

Đoàn Trọng Huy cũng có ý kiến như Trần Đình Sử khi đi vào nghiên cứu “Vài đặc

điểm phẩm chất nghệ thuật Nguyễn Khải” Tác giả thấy: “Nguyễn Khải cảm thụ cuộc sống

v ới một thái độ nghiên cứu, phân tích nghiêm túc ( ) gắn liền với cảm hứng nghiên cứu

cu ộc sống là loại đề tài và chủ đề “Xung đột” ( ), ông muốn đi vào cuộc sống thực với tất

c ả sự phong phú, sinh động, với tất cả sự mộc mạc thô nhám sù sì của nó ( ) chủ động xông vào nh ững hiện thực gai góc, Nguyễn Khải muốn đào xới, phanh phui để từ đó tìm ra

s ự thật” (57, 86) “Ông thích gọi tên những cái đang còn ẩn hiện, mờ ảo le lói, thích viết về cái đang còn manh nha ( ), nâng tầm mắt của bạn đọc lên cao hơn nhằm hướng tới những

m ục tiêu sắp xuất hiện” (57, 87) Bên cạnh đó, Đoàn Trọng Huy còn phát hiện thêm trong

sáng tác Nguyễn Khải “Cảm hứng về hiện tại”

Là người có nhiều bài viết về Nguyễn Khải, Vương Trí Nhàn nhận định: “Cái nhìn sắc

s ảo vốn có từ rất sớm và khao khát có mặt trong ngày hôm nay đối thoại với chính mình và

t ự phát hiện trở lại” (57,114) Câu này nói lên cả hai cảm hứng mà Trần Đình Sử - Lại

Nguyên Ân và Đoàn Trọng Huy đã đề cập

Cùng với ý kiến với Đoàn Trọng Huy, trong bài “Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết”,

Nguyễn Thị Bình đã coi “hứng thú nghiên cứu thực tại” như một biểu hiện đầu tiên của tư

duy tiểu thuyết Nguyễn Khải, qua việc nhà văn “luôn phát hiện ra những vấn đề ẩn sau các

Trang 9

s ự vật hiện tượng tưởng như đơn giản quen thuộc” (57, 133) “Nguyễn Khải không chỉ dừng

l ại ở việc nêu ra vấn đề mà ông cố gắng trình bày sự nghiền ngẫm nghiên cứu của mình”

(57, 134) “Tác ph ẩm văn học mang cảm hứng nghiên cứu thường đem lại cái nhìn không xuôi chi ều dễ dãi” (57, 136)

Mới đây nhất “Thế giới nhân vật Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên cứu, phân tích” đăng trên Tạp chí Văn học số l1, 2001, Đào Thủy Nguyên đã coi “nhân vật tiểu thuyết

Nguy ễn Khải là sản phẩm của cảm hứng nghiên cứu phân tích” (57, 169) Và chúng tôi

muốn dùng đoạn kết của bài nghiên cứu này để khép lại phần những ý kiến đánh giá xung quanh vấn đề cảm hứng trong tiểu thuyết Nguyễn Khải “Và bên cạnh cảm hứng nghiên

c ứu, phân tích sáng tác của Nguyễn Khải còn bao gồm nhiều cảm hứng khác cũng đậm nét

và quan tr ọng không kém Phải là sự tổng hợp của nhiều cảm hứng vừa khác nhau, vừa bổ sung cho nhau, chúng ta m ới có thể đến với nội dung trọn vẹn và toàn diện của Nguyễn

Kh ải” (57, 164)

3.2 Lo ại ý kiến đánh giá về nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải:

Ngay từ khi ra mắt độc giả, “Xung đột” đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của giới

văn nghệ sĩ Có nhiều ý kiến trái ngược nhau về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết này

Năm 1959, khi đọc “Xung đột”, Vũ Tú Nam nhận ra điểm mạnh trong nghệ thuật xây

dựng nhân vật của Nguyễn Khải là “đi sâu vào tâm lí nhân vật, Nguyễn Khải phân tích khá

tinh t ế sâu sắc” (57, 168)

Đi vào tìm hiểu một số tác phẩm Nguyễn Khải, trong đó có “Xung đột” và “Chủ tịch

huy ện”, Nguyễn Văn Hạnh đã chỉ ra: “Nguyễn Khải suy nghĩ bằng sự kiện, bằng vấn đề mà chưa bằng tính cách, bằng nhân vật Có những nhân vật xây dựng tính cách khá rõ ( ) nhưng những nhân vật như vậy còn ít, mà những nhân vật dở dang xương xẩu lại nhiều hơn ( ) Nhân v ật chính thiếu tính cách trọn vẹn ( ) Nguyễn Khải chưa xây dựng được tính cách mà ch ỉ có những nhận xét ( ) diễn biến tâm lí chưa được trình bày như một quá trình ( ) chưa biểu hiện được “biện chứng pháp của tâm hồn ( ) bỏ lối tả mà chạy theo lối kể,

t ổng kết một cách đại cương sự biến đổi tâm lí nhân vật” (57, 61)

Năm 1974 có ba bài viết đáng chú ý Ở bài viết thứ nhất “Đặc điểm ngòi bút của

Nguy ễn Khải”, Chu Nga cũng có ý kiến tương tự như Nguyễn Văn Hạnh “Ở Nguyễn Khải

ph ẩn nào có sự tùy tiện trong cách xây dựng nhân vật” (57, 71) Bà nhận xét thêm:

Trang 10

“Nguy ễn Khải thường rất tỉnh táo trong việc điều khiển nhân vật của mình Giữa anh và họ hoàn toàn là m ối quan hệ lí trí Hình như ta ít thấy anh cùng vui buồn, sướng khổ với con người anh miêu tả”, nên “con người nhà văn miêu tả cứ hiện lên trần trụi ( ) có thể ví các nhân v ật trong nhiều sáng tác của Nguyễn Khải với những con đại bàng bị cụt cánh, chúng

ch ỉ còn khả năng đi lại nữa thôi, mặc dù đôi chân của chúng thì vững chãi không chê vào đâu được” (57, 72,74) Trong nhận xét này, ta thấy tác giả so sánh nhân vật với con đại bàng

cụt cánh để nói lên nhược điểm của Nguyễn Khải là không thể xây dựng nên những nhân

vật trọn vẹn

Phan Cự Đệ trong bài viết “Nguyễn Khải và hiện tượng người chiến sĩ” cũng đã nói đến đặc điểm này trong tiểu thuyết Nguyễn Khải: “Nhiều nhân vật rất hứa hẹn, cuối cùng

v ẫn chỉ dừng ở những phác thảo dang dở hoặc bị bỏ rơi giữa đường!”(57, 304) Tuy vậy,

ông cũng không phủ nhận điểm mạnh của ngòi bút Nguyễn Khải “Chỉ bằng vài nét sắc sảo,

Nguy ễn Khải có tài khắc họa rất nhanh chân dung một số loại nhân vật mà anh quen thuộc”

(57, 304)

Đặt nhân vật trong cảm hứng nghiên cứu, Lại Nguyên Ân nhận xét “Tác giả tạo ra

được những nhân vật có sự sống thực, chứ không phải chỉ là một ý niệm thuần túy tốt hoặc

x ấu được nhân cách hóa, biến thành nhân vật” (57, 78) Còn Phan Cự Đệ nói đến khả năng

phân tích tâm lí của Nguyễn Khải “Tôi thấy ở văn xuôi của ta có khá nhiều nhà văn miêu tả

tâm lí gi ỏi, nhưng phân tích tâm lí thì ít ai làm được như anh Khải Đi trước anh về mặt này, có th ể chỉ là Nam Cao” (57, 83)

Đoàn Trọng Huy nhận thấy, có hai loại nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải Loại

thứ nhất: Nhân vật hiện thực được khảo sát và lấy tư liệu từ những con người thật ngoài đời

“Ông (Nguy ễn Khải) không cố nhân vật nào hoàn toàn do tưởng tượng chế tạo ra” (57, 87)

Qua việc phân tích một số nhân vật trong “Chủ tịch huyện”, “Gặp gỡ cuối năm”, “Cha và

Con và ” tác gi ả bài viết “Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải” đi đến nhận xét: “Nhân v ật của Nguyễn Khải có thể chưa phát triển hết tính cách để trở nên điển hình toàn v ẹn, nhưng ít khi rơi vào công thức, sơ lược” Loại nhân vật thứ hai là nhân vật chính

luận có đặc điểm “thường hay tranh cãi, lí sự”; “Nhân vật ở đây đại diện rõ rệt cho một loại

người, một tầng lớp, một lực lượng xã hội nhất định ( ) Nhân vật có mặt ở tác phẩm vì lí

l ẽ, quan hệ với nhau cũng bằng lí lẽ Nó phục vụ trực tiếp cho chính luận” (57, 90, 91)

Trang 11

Vương Trí Nhàn còn phát hiện thêm hai loại nhân vật nữa trong tiểu thuyết Nguyễn

Khải Đó là: “Loại nhân vật khôn ngoan - khôn tức là thích ứng ( ) và loại người bất lực -

nói năng lúng búng, cử chỉ vụng về” Bên cạnh đó, ông nhận thấy Nguyễn Khải cũng có

“kh ả năng xây dựng một loại nhân vật mới đầy ý chí và khát khao cải biến xã hội” (57,

120)

Năm 1998, Nguyễn Thị Bình viết trong “Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết”, nhân vật

trong tiểu thuyết Nguyễn Khải “thường là nhân vật tư tưởng dù là nông dân hay bộ đội,

tr ẻ hay già, ta hay địch đều thông minh, ăn nói giỏi Nguyễn Khải đặc biệt say mê loại nhân v ật thích ứng với thời thế” (57, 138,139) Theo bà, nghiên cứu con người giữa các thế

hệ lịch sử là một hướng đào sâu, một cách tiếp cận mới của Nguyễn Khải “Khẳng định vị

trí cá nhân không hòa tan cái “tôi” trong cái “ta”, nhi ệt tình cổ vũ cho giá trị cá nhân là

h ứng thú đặc biệt nổi bật trong sự nghiên cứu, khám phá và thể hiện con người của ngòi bút Nguy ễn Khải” (57, 145,146)

Bằng ba bài viết trong hai năm 2000-2001, Đào Thủy Nguyên như có tham vọng tổng

kết những đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Khải khi đi vào tìm hiểu các nhân

vật trong mối quan hệ “Thời gian và lịch sử”; “Trong khả năng lựa chọn và thích ứng”;

“Trong m ối quan hệ gia đình”; “Trong mâu thuẫn và tiếp nối các thế hệ” Hiện ra trong các

mối quan hệ ấy là các nhân vật ở mọi lứa tuổi, xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau,

nhưng “Nguyễn Khải đặc biệt chú ý đến tầng lớp trí thức” và có cảm tình nhiều với những người trẻ tuổi, “những cá tính mạnh mẽ và quyết liệt dám sống chết cho một niềm tin, một

s ự lựa chọn và kiêu hãnh với sự lựa chọn của mình” (57, 156)

3.3 Lo ại ý kiến về lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải:

Vũ Tú Nam trong “Đọc Xung đột của Nguyễn Khải” đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội tháng ba năm 1961, đã nhận thấy: “Ngòi bút Nguyễn Khải đã mang một sắc thái riêng

V ới lối kể chuyện ít lời, hấp dẫn, lúc châm biếm lúc thơ mộng” (57, 170) Dù không nhận

xét trực tiếp về phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật, nhưng qua nhận định của tác giả, chúng ta cũng có thể hiểu được phần nào đặc điểm trần thuật của Nguyễn Khải trong tiểu thuyết “Xung đột”

Năm 1963, Triêu Dương cũng có ý kiến tương tự như Vũ Tú Nam, nhưng ông nói rõ

hơn và sâu hơn qua bài viết “Một chặng đường của Nguyễn Khải” Đó là “ngòi bút không

đơn điệu của Nguyễn Khải, nó luôn luôn thay màu đổi sắc, khi thì châm biếm khi thì giễu

Trang 12

c ợt nhẹ nhàng, một cử chỉ ngây thơ của người thuộc phía ta, khi thì hài hước một cách ý nhị

v ề một hiện tượng ở địch hậu ( ) Lối viết của Nguyễn Khải thiên về viết “mộc”, thiên về tả

nh ững gì là chân chất, trần trụi nhưng dễ đánh vào lòng người đọc” (57, 221)

Nguyễn Văn Hạnh phát hiện ra: “Nguyễn Khải thường sử dụng lối kể chuyện xen với

nh ận xét và bình luận, rất xem nhẹ miêu tả, tả người cũng như tả cảnh” trong bài viết “Chủ

t ịch huyện” và nghệ thuật viết truyện của Nguyễn Khải” (57, 282) Nhận định này đã chỉ ra

được biện pháp nghệ thuật quan trọng trong thủ pháp xây dựng lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nó cho phép đối tượng nói trực tiếp bằng ngôn ngữ của bản thân nó, đồng thời tạo nên sự biến hóa cho bút pháp và dễ gây cho độc giả những ấn tượng bất ngờ, thú vị

Trong bài viết “Nguyễn Khải và hình tượng “Chiến sĩ”, Phan Cự Đệ nhận định: “Từ

nh ững suy nghĩ triết lí về lí tưởng sống đến những rung động của những tâm hồn tinh tế, tác

gi ả và nhân vật đã hòa lẫn vào nhau, đồng cảm với nhau đến mức độ đôi khi ta không còn phân bi ệt được ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ tác giả” (57, 300 ) Nhà nghiên cứu

này đã chú ý đến nét riêng của Nguyễn Khải là lời văn nghệ thuật được tổ chức theo hướng khách quan hóa, đặc biệt ở kiểu người trần thuật hòa mình với nhân vật, trong đó quan điểm

của chủ thể kể có sự trùng khớp với quan điểm tác giả

Đi vào tìm hiểu tiểu thuyết “Gặp gỡ cuối năm”, Lê Thành Nghị đã phát hiện “Một

trong nh ững tài của Nguyễn Khải là nghệ thuật kể chuyện, là cách sử dụng ngôn ngữ đầy thuy ết phục” (57, 335) Bằng chứng là có rất nhiều giọng điệu trong “Gặp gỡ cuối năm”, lời

người này là nguyên nhân câu trả lời của người nọ, ý người này gợi ra sự suy nghĩ cho người kia Kết cấu tác phẩm đơn giản là sự ghi lại các cuộc đối thoại rất chặt chẽ, lô-gic, trong đó tiếng nói của người dẫn chuyện vắng mặt trong cuộc gặp gỡ như tiếng nói của thầy phù thủy cao tay đang điều khiển những âm binh trước mặt

Trong bài viết “Âm hưởng chính: Khẳng định quá khứ” (Đọc “Thời gian của người”

c ủa Nguyễn Khải), Vương Trí Nhàn nhận định: “Toàn truyện là một giọng kể Một cuộc trò chuy ện khi liên tục, khi đứt nối, đều được hòa lẫn trong giọng kể đó của tác giả” (57, 346),

tức là giọng kể tóm lược, lúc thì nhà văn kể, khi thì lại ủy thác cho nhân vật để khỏi gây

cảm giác đơn điệu cho lời văn ở bài viết “Nguyễn Khải trong sự vận động của văn học cách

m ạng từ sau 1945”, tác giả nhận xét: “Nguyễn Khải vẫn thích lối kể hơn tả ( ) vẫn một

gi ọng vấn vừa tự nhiên vừa duyên dáng ( ) trong những trường hợp thành công nhất của mình, Nguy ễn Khải nhận ra như một người kể chuyện thông minh, la cà khắp nơi, chia sẻ

Trang 13

v ới mọi người buồn vui khi quan sát việc đời” (57, 120) Điều này chứng tỏ, ngòi bút

Nguyễn Khải đã có sự chuyển biến rõ nét từ kiểu trần thuật lạnh lùng sang lối trần thuật hòa mình với nhân vật để tâm tình, chia sẻ với người đọc Nhờ thế mà khoảng cách giữa tác giả

và nhân vật, nhà văn và độc giả ngày càng xích lại gần nhau hơn

Nhận xét về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và tổ chức lời văn, Huỳnh Như Phương

thấy: “Thời gian của người” tiến xa hơn về tính phức điệu trong mảng pha màu ngôn ngữ

c ủa nhà văn Nguyễn Khải có ý thức rõ ràng rằng ngôn ngữ đơn thanh sẽ không có đủ hiệu

l ực trong việc phân tích các vấn đề phức tạp của đời sống Ngôn ngữ nhiều thanh giọng bước đầu được sử dụng trong “Thời gian của người” Nhân vật khi thì kể lể, khi thì biện

h ộ, khi lại tự trào, giọng người kể chuyện bị cắt ngang bởi giọng nhân vật, kể cả những nhân v ật không trực tiếp đối thoại” (57, 362) Điều này khiến cho trong một đoạn văn có

nhiều giọng điệu, và lời văn được thể hiện ghi lại từ nhiều điểm nhìn, ít nhiều nó tạo nên tính linh hoạt cho cách hành văn của Nguyễn Khải

Trong bài viết “Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật Nguyễn Khải”, Đoàn Trọng Huy

nhận thấy: Điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải không cố định, mà nhà văn

thường đứng ở nhiều góc độ, nhiều bình diện để tả và kể “không chỉ kể bằng giọng cửa

mình, b ằng lời của người dẫn truyện, tác giả còn biến hóa thành nhiều giọng điệu phong phú khác: Có đối thoại, có độc thoại, có ngôn ngữ trực tiếp, có ngôn ngữ nửa trực tiếp” (57,

93) Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng nhận thấy điều này thể hiện không chỉ trong một tác phẩm, mà còn được sử dụng trở đi trở lại trong hầu hết các tiểu thuyết Nguyễn

Khải viết sau năm 1975

Nguyễn Thị Bình trong bài viết “Nguyễn Khải và tư duy tiểu thuyết” có đề cập đến

Văn trần thuật của Nguyễn Khải rất ít lời miêu tả Giống như Nam Cao, ông thường nhập vào nhân v ật, dùng lời trực tiếp và nửa trực tiếp để biểu hiện dòng nội tâm” (57, 135) Nhận

định này có giá trị, là cơ sở để độc giả có thể đi vào tìm hiểu thế giới tinh thần của con người vốn phức tạp và phiền nhiễu, đồng thời nó góp phần khẳng định sự độc đáo trong lời văn của Nguyễn Khải

Ở bài viêt “Dại khôn Nguyễn Khải”, Nguyên Đăng Mạnh cũng có một nhận định xác đáng tương tự như Nguyễn Thị Bình: “Một giọng văn trần thuật mà như trò chuyện thoải

mái v ới người đọc và nhân vật của mình một cách nói năng hoạt bát, thông minh, hóm hỉnh,

Trang 14

hi ểu người hiểu đời Một giọng văn mà nhiều khi thật khó phân biệt là nói với người hay nói v ới mình Một cách diễn đạt khôn ngoan” (45, 326)

Gần đây nhất, nhân dịp các nhà văn nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, Tôn Phương Lan

có một bài viết về Nguyễn Khải đăng trên tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, tháng tư

năm 2001 Bà nhận xét: “Nguyễn Khải đã bộc lộ sự thông mình, sắc sảo trong suy nghĩ,

lu ận chứng, trong việc sử dụng ngôn từ để tạo ra những câu văn tự nhiên, nhưng cô đọng Ngh ệ thuật kể chuyện của Nguyễn Khải trong nhiều sáng tác sau chiến tranh đã có sắc điệu riêng” (57, 415) Dù không được cụ thể, song nhận định của Tôn Phương Lan một mặt góp

phần khẳng định sự tài hoa trong cách trần thuật của Nguyễn Khải, mặt khác cũng thể hiện

sự đánh giá công bằng những bước trưởng thành của Nguyễn Khải về nghệ thuật viết tiểu thuyết sau 1945

3.4 Nh ận định chung:

Từ các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy, mỗi tác giả chỉ đi vào tác phẩm của Nguyễn Khải ở một giai đoạn nhất định Những nhận xét rút ra tuy sâu sắc, nhưng phần lớn chưa mang tính tổng quát cho toàn bộ quá trình sáng tác của Nguyễn Khải Đặc biệt, ở thể

loại tiểu thuyết, số lượng bài viết về nó không nhiều Bắt tay vào thực hiện đề tài, chúng tôi không có tham vọng tìm ra điểm mới về mặt nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải, mà chỉ

dựa vào những phát hiện của các nhà nghiên cứu đi trước làm cơ sở vận dụng, khảo sát toàn

bộ tám tiểu thuyết, đặt chúng vào hệ thống chung, làm nổi bật lên những nét đặc trưng về nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải

4 Phương pháp nghiên cứu :

Chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp phân tích tổng hợp và hệ

tiểu thuyết ở ba bình diện trong tiến trình phát triển chung của văn học dân tộc

4.2 Vận dụng phương pháp hệ thống, chúng tôi cố gắng phát hiện tính lặp lại nhiều

lần các yếu tố phản ánh hiện thực cuộc sống ở những tác phẩm khác nhau, tạo nên một tập

Trang 15

hợp các yếu tố, chúng tôi bước đầu khẳng định những đặc điểm riêng mang tính ổn định trong nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải, tạo cơ sở vững chắc hơn cho nhận xét của mình

4.3 Ngoài hai phương pháp trên, chúng tôi còn chú ý đến phương pháp miêu tả, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh sử dụnng phương pháp miêu tả, chúng tôi

muốn làm nổi bật vẻ đẹp từng hình tượng nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải và vận

dụng phương pháp thống kê, ở một chừng mực nào đó, có thể nêu lên một số nhận định mang tính khái quát Để nhận ra những nét tương đồng và dị biệt giữa Nguyễn Khải và các nhà văn cùng thời, chúng tôi so sánh ông với Chu Văn ở đề tài tôn giáo, so sánh với Nguyễn Minh Châu về loại hình nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật và phương thức tổ chức lời

văn nghệ thuật Chúng tôi tham khảo tiểu thuyết “Bão biển” của Chu Văn và một số truyện

ngắn của Nguyễn Minh Châu in trong cuốn “Nguyễn Minh Châu toàn tập” do NXB Văn

học ấn hành năm 2001

5 Những đóng góp của luận văn:

Nguyễn Khải là cây bút văn xuôi hàng đầu sau cách mạng tháng Tám, là người có

những tác phẩm giá trị không chỉ ở thời điểm nó ra đời mà cho đến tận hôm nay Đã có nhiều bài viết sắc sảo, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu công phu nào về những đặc trưng tiểu thuyết cửa nhà văn Phần lớn nội dung các bài nghiên cứu thiên về đánh giá

tổng quát sáng tác của ông, những ý kiến chung cho các thể loại, hoặc chỉ đề cập đến những tác phẩm quen thuộc Trên cơ sở khảo sát tám tiểu thuyết, tiếp thu ý kiến đánh giá của người

đi trước, mạnh dạn trình bày ý kiến bổ sung và những gì sẵn có, chúng tôi cố gắng làm rõ đặc trưng tiểu thuyết Nguyễn Khải ở ba bình diện: Cảm hứng, nhân vật và phương thức tổ

chức lời văn Từ đó, chỉ ra những đóng góp của Nguyễn Khải cho thể loại tiểu thuyết hiện đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn có ba chương

Chương 1: Cảm hứng nghiên cứu, phân tích trong tiểu thuyết Nguyễn Khải

Chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải

Chương 3: Phương thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải

Trang 16

CHƯƠNG 1: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TIỂU THUYẾT

NGUYỄN KHẢI

Cảm hứng là một bộ phận không thể tách rời của nội dung tư tưởng và nghệ thuật tác

phẩm Nhờ có cảm hứng, tác phẩm có thể làm rung động trái tim độc giả, đề tài, chủ đề mới được khái quát, lí giải có chiều sâu và mang tính thẩm mĩ Cùng với đề tài, chủ đề, tính điệu

thẩm mĩ, cảm hứng góp phần tạo nên giá trị tư tưởng nghệ thuật cho tác phẩm

Đọc Nguyễn Khải, tham khảo ý kiến đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu phê bình, chúng tôi nhận thấy, cảm hứng tư tưởng xuyên suốt quá trình sáng tác tiểu thuyết của ông là

cảm hứng nghiên cứu, phân tích Với bản chất thông minh nhạy cảm, ham hiểu biết, nhà văn luôn nhìn thấy ở hiện thực cuộc sống biết bao bao vấn đề thuộc về con người, về cuộc sống,

cần phải được nhận thức, khám phá toàn bộ sự thực, với những qui luật phát triển lịch sử

của nó Vì thế, tinh thần phân tích xã hội và nghiên cứu con người là những vấn đề cốt lõi trong cảm hứng sáng tạo, làm cho tác phẩm của nhà văn không rơi vào tình trạng công thức giáo điều, dù nó ra đời ở thời kì văn học nặng về minh họa Trong tiểu thuyết Nguyễn Khải,

“m ỗi nhân vật của ông muốn là một túi khôn, mỗi trang viết của ông là một trang dạy khôn thiên h ạ” (46, 416) Nội dung ấy đã đáp ứng được yêu cầu bức thiết của văn học nghệ thuật,

không chỉ làm cho con người hiểu biết để nhân ái hơn, lương thiện hơn, mà còn làm cho con người đa dạng phong phú từng trải, hiểu biết về tất cả những vấn đề xã hội, nhân sinh có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc liên quan đến cuộc sống của mình Nghiên cứu, phân tích hiện

thực, nâng cao trình độ tư duy nhận thức cho con người là một đặc trưng nghệ thuật trong

tiểu thuyết Nguyễn Khải, đồng thời nó cũng là một nguyên tắc sáng tác của văn học hiện

thực cách mạng, kể từ khi miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội cảm hứng này được tác giả thể hiện qua tác phẩm, ở hai vấn đề mang tính triết học, có ý nghĩa nhân sinh lâu dài

1.1 Cảm hứng nghiên cứu, phân tích thể hiện qua cuộc đấu tranh giải phóng con người ra khỏi niềm tin mê muội vào tôn giáo và những thiết chế tôn giáo ngăn cản sự phát triển của con người, giúp họ được sống và làm việc một cách thanh thản, hạnh phúc

1.1.1 Phải thừa nhận, tôn giáo là một phần tất yếu đóng vai trò quan trọng chi phối đời

sống tinh thần xã hội Nó có lịch sử lâu đời và mang tính văn hóa Trong chế độ xã hội chủ

Trang 17

nghĩa, mỗi công dân đều có quyền được tự do tín ngưỡng, và tự do không tín ngưỡng, được phép tìm đến một đức tin mà không ai có quyền ngăn cản ở phía tươi sáng nhất, tôn giáo nào cũng mang trong nó những tư tưởng lành mạnh, tiến bộ, góp phần hướng thiện con người Ở Phật giáo là tinh thần phá chấp triệt để, từ bi hỉ sả cứu khổ cứu nạn, kết hợp với truyền thống tương thân tương ái của dân tộc, từ lâu đã trở thành nghệ thuật sống đúng đắn,

tạo nên những nhân cách cao đẹp được lịch sử ghi nhận (thời đại Lý Trần là một ví dụ tiêu

biểu) Thiên Chúa giáo cũng kêu gọi con người sống bác ái, yêu thương, đùm bọc lẫn nhau,

biết xám hối trước những lỗi lầm mắc phải, để bản thân ngày một hoàn thiện hơn Bên cạnh

mặt tốt đẹp ấy, tôn giáo cũng bộc lộ không ít những hạn chế, thậm chí để lại những di chứng tai hại trong đời sống con người, cản trở sự tiến bộ xã hội Một số kẻ đã lợi dụng tôn giáo để

trục lợi, hay mưu đồ chính trị Một bộ phận quần chúng ngộ nhận tự do tín ngưỡng, nhầm

lẫn giữa niềm tin tôn giáo với hủ tục mê tín dị đoan, tự biến mình thành những nạn nhân

khốn khổ của thần quyền So với Phật giáo, Thiên Chúa giáo du nhập vào nước ta muộn hơn, nhưng ảnh hưởng cửa nó đến đời sống tư tưởng con người và tinh thần dân tộc thật sâu

sắc, ở cả hai bình diện tích cực và tiêu cực Vì thế, nó trở thành một đề tài mới, khá thú vị trong văn học ơ lĩnh vực này, Nguyễn Khải được đánh giá là người có những tác phẩm giá

trị, có những hiểu biết nghiêm túc về tôn giáo Qua bộ tứ tiểu thuyết “Xung đột”, “Cha và

con và ”, “ Điều tra về một cái chết”, và “Thời gian của người”, Nguyễn Khải cho độc giả

thấy được tất cả những mặt hay, dở của Thiên Chúa giáo và tác động của nó lên đời sống

cộng đồng

1.1.2 Để giải phóng giáo dân ra khỏi niềm tin mê muội và những thiết chế tôn giáo ngăn cản sự phát triển con người, Nguyễn Khải đã xây dựng những nhân vật phản diện Qua

những hình tượng ấy, giáo dân từng bước nhận thấy bản chất xấu xa, bỉ ổi, tàn bạo của

những kẻ đội lốt thầy tu và mặt trái của thứ tôn giáo chủ trương đứng bên lề cuộc đấu tranh

giải phóng dân tộc Từ đó, họ tự biết mình phải làm gì để không trở thành nạn nhân

Xung đột” ra đời nhờ chuyến đi thực tế của nhà văn đến một vùng nông thôn công

giáo ở tỉnh Nam Định Thông qua câu chuyện ở xóm đạo Nghĩa Hưng, nhà văn đã tái hiện

một cách sinh động cuộc đấu tranh giữa những cán bộ cách mạng và bọn phản động núp bóng nhà thờ Cha Vinh là tên phản động đã gây ra nhiều tội ác với dân làng, hắn “đã từng

c ộng tác với quân Pháp trong suốt mấy chục năm chúng chiếm đóng” đã từng mang quân từ

Phát Diệm về đốt trụi xóm làng, lấy thóc của nhà xứ, cướp thóc của dân, hành hạ những người không theo hắn, con ông Thiềm là một nạn nhân tiêu biểu Sau cải cách ruộng đất,

Trang 18

cha Vinh vẫn không thay đổi bản chất của mình, dù đã được cách mạng cho đi cải tạo giáo

dục Hắn vẫn tỏ ra nguy hiểm Trước mặt cán bộ xã thì nhún nhường hạ giọng, nhưng ẩn trong những câu nói vẫn là sự xỏ xiên khiêu khích Môn nổi tiếng là người đã từng ăn cơm

khắp thiên hạ, khôn ngoan không ai có thể bịp được cũng đã từng bị cha Vinh “xỏ ngọt” và

gọi là “con sói dữ”, nhưng không biết trị hắn bằng cách nào Cũng giống như cha Lân, người có giọng nói “cứ trơn nhẫy như bọc ngoài một lớp nhớt mỏng, rất khó nắm bắt được

ý th ật của người nói và càng khó đề phòng”, hắn là người nổi tiếng nhất về rao truyền kinh

thánh trong địa phận, âm mưu dùng tòa Thánh làm bàn đạp tấn công chế độ mới Vũ khí sắc bén của bọn này chính là cái lưỡi của chúng Trước khi “bị chính phủ cho đi tù mười hai

tháng”, cha Vinh v ẫn kịp dặn dò con chiên “Đừng thấy giáo dân có chức vụ, địa vị trong xã

h ội mà đã tin Bề ngoài là thế chứ trong lòng là quân phản Chúa” Trợ thủ đắc lực của cha

Vinh là tu sĩ Thịnh “Lãnh tụ liền tôn diệt cộng toàn khu Thầy chỉ tạm náu mình trong chiếc

áo dài thâm x ẻ tà nhưng uy quyền của thầy còn gấp bội những áo chùng thâm bịt tà” Thừa

biết ở thôn Hỗ, từ lâu, người dân đã mê muội tin vào Chúa Trời để sống cam chịu, không dám làm trái với lời răn dạy của các cha, tu sĩ Thịnh đã lôi kéo được những kẻ ngu đạo về phía mình bằng việc kể ra những tấm gương tử vì đạo như “Bình Huy, Bình Đạt, thầy già

th ầy Uyển bị kẹp cổ, tuốt nứa, sỏ chân vào lưỡi cày nung đỏ mà vẫn không chịu bước qua cây thánh giá” Trước khi kể, không biết lần thứ bao nhiêu câu chuyện này, thầy luôn tạo ra

một không khí trang nghiêm bằng vẻ mặt “cổ kính và huyền bí” Thầy đã thật thành công

trong việc “quyến rũ người ta đi theo không kịp do dự, kích người ta hành động không kịp

suy nghĩ, y như một tia lửa bén đến làm bùng cháy sự tin yêu phẫn nộ vốn ấp ủ trong lòng

m ỗi người Mặt Lý nóng lên như muốn bắn ra tia máu đỏ tươi, mắt rưng rưng như muôn khóc, Qu ảng ngồi đôi diện với Lý cũng trong một trạng thái bị kích thích đến tột độ” Ngay

sau đó, người đọc chứng kiến một đoàn hơn hai mươi người, phần lớn là thiếu nữ đi bắt “hai

con q ủi nguy hiểm” Lý một mực đòi trói nghiến Thụy lại sau khi tuyên bố “vũ lực là xong”,

“không ph ải cãi”, “có chết cũng chỉ mình gái này”, theo thị, “dù có chết một hai người cũng

là t ử vì đạo” Quảng sẵn sàng nằm giả chết để vu vạ cho bộ đội tội đánh dân Vợ Tường

cũng góp công bằng một màn phô diễn thô thiển có lẽ vào loại “độc nhất vô nhị”: “Hôm

Qu ảng gieo vạ, thị vén ngược áo vạch hai bầu vú đánh nhau tay đôi với bộ đội, mồm lu loa:

“Nào chúng mày có gi ỏi thì đâm bà đi, bắn bà một phát xem nào!” Có một anh lấy tay đun

th ẳng chị ra, lập tức thị nắm chặt lấy cổ tay anh ấy áp vào vú mình chu chéo “ơi ông cả bà

nh ớn ơi! Xem đây này, ban ngày ban mặt mà bộ đội dám bóp vú tôi đây này” Chỉ bằng vài

Trang 19

chi tiết nghệ thuật, Nguyễn Khải cho người đọc thấy được sức mạnh ghê gớm của bọn người nhà đạo trong việc đấu tranh chống phá chính quyền, khi chúng có trong tay một cách

dễ dàng những giáo dân sẵn sàng “tử vì đạo”

Sau việc cứu cha Vinh không thành, biết không thể thắng được cán bộ cách mạng, nếu

chỉ trông vào một nhóm người “hữu dũng vô mưu”, bọn phản động đội lốt tôn giáo đã sử

dụng kiểu “chiến tranh tâm lí” Chúng quay sang thuyết phục, lợi dụng người thân của

những cán bộ, kích động họ để tạo ra những mâu thuẫn âm ỉ trong mỗi gia đình, nhằm phá

hoại tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ - con cái, vợ chồng Tường về quê ăn tết, lần đầu tiên sau gần mười năm đi bộ đội, nhưng gia đình đón anh bằng sự ghẻ lạnh đáng kinh ngạc Điều này làm Tường đau đớn Không khí gia đình anh trở nên căng thẳng Nguyên nhân chính là việc người thân của anh đã quá tin vào miệng lưỡi xúc Xiểm của kẻ xấu, nên một

mực cho rằng anh đi theo cách mạng là vô đạo Ngày cuối cùng ở nhà, Tường phải đi đến

một quyết định thật khó khăn: “Bố mẹ sợ liên lụy vì con, không muốn nhận con nữa thì cứ

vi ệc làm giấy lên ủy ban mà từ Con xin chịu còn nhà nếu thấy tôi là người chồng xấu thì

c ứ việc đi lấy người khác, các con nuôi được đứa nào thì nuôi nếu không thì tôi đem chúng đi” Hậu quả là sẽ có một gia đình tan nát, cha con lìa nhau, vợ chồng li tán và những đứa

trẻ lớn lên thiếu đi một nửa tình yêu thương của đấng sinh thành Câu chuyện gia đình Tường chỉ là một ví dụ tiêu biểu cho hiện trạng phổ biến diễn ra ở thôn Hỗ lúc đó

Cuộc đấu tranh tư tưởng ở phó chủ tịch Nhàn diễn ra thật cam go quyết liệt, qua độc thoại nội tâm của nhân vật, cũng như tâm sự của chị với người đồng chí tin cậy “Tôi khổ

l ắm anh ạ, ủy ban thì cho tôi là hữu, mẹ tôi thì chửi tôi là con khô đạo, nhân dân thì nhận xét tôi là bù nhìn b ị người khác giật dây Lạy Chúa, sao tôi lại sinh ra ở cái đất này, sao tôi

l ại là con chiên của Chúa! Tôi không bỏ đạo được mà tôi cũng không thể bỏ hành động được Tôi muốn làm cả hai nhưng không ai để cho tôi được yên thân Tôi theo Chúa, tôi theo chính ph ủ, tôi theo cả hai không được sao? Ôi lạy Chúa, con cho họ miếng bánh nhưng họ ném đá trả lại, con đến với họ bằng tấm lòng nhân từ của mẹ, nhưng họ lại đối đãi với con như kẻ thù Thế mà họ được lên thiên đàng ư ? Vậy mà con phải xuống hỏa

ng ục ư ? Tôi loạn trí mất rồi! Tôi chẳng hiểu ra làm sao cả! Toi khổ quá anh Môn ơi” Sự

phân thân của Nhàn, cùng những lời than nghẹn ngào chân thật càng tô đậm nỗi đau đớn giày vò của người cán bộ khi biết mình không thể đi đến tận cùng sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người khỏi những luật lệ nghiêm ngặt mà Giáo hội đặt ra Không chịu nổi áp lực, Nhàn đã chọn cách thoát li giữa chừng khi nhiệt tình tham gia phong trào chưa hề vơi cạn

Trang 20

Cũng ở “Xung đột”, ngay cả Môn, con người có bản lĩnh lăn lộn cùng phong trào cũng

không tránh khỏi những lúc rơi vào tình huống như Nhàn Dù anh tự bảo mình “xưng tội trở

thành s ự đầu hàng của kẻ chịu nộp khí giới và người thắng thế được quyền làm nhục”,

nhưng người ta vẫn thấy “có một nỗi buồn vô cớ cứ man mác khiến người Môn trống rỗng

h ẳn đi, bâng khuâng như mình vừa mất mát một cái gì, như thiếu một chỗ bấu víu mà trước kia chưa nghĩ đến”

1.1.3 Nghiên cứu hiện tượng trì trệ ở thôn Hỗ, Nguyễn Khải một mặt tố cáo những tội

ác của bọn người đội lốt tôn giáo Chúng mượn thần quyền để uy hiếp giáo dân, biến họ thành những kẻ mất hết lí trí Nhưng mặt khác, ông cũng nhận thấy một nguyên nhân cơ bản

khác là do “kh ối quần chúng không chịu xê dịch, không chịu tìm hiểu ra lẽ phải” Họ là nạn

nhân trong cuộc đấu tranh chính trị và cũng là của chính mình Huệ, một thiếu nữ trong làng

đi tu vì tiếng gọi của tình yêu mù quáng với tu sĩ Thịnh Cô tin vào lời khuyên của hắn về Bái để được gần gũi người mình yêu Năm tháng trôi qua, tuổi xuân phai tàn, đức tin rạn vỡ,

Huệ nhìn thấy trước mắt mình, một thế giới tối tăm ghê tởm, những tội ác phi nhân tính

đang diễn ra ngay trong tu viện - nơi người ta vẫn cứ ngộ nhận là “chỉ có những con người

cao c ả đang thực thi sứ mệnh thiêng liêng của Chúa Trời” Khi nhân vật nhận ra mình bị lừa

dối thì đã quá muộn màng Cô không thể quay lại với gia đình, không thể tiếp tục cuộc sống

trần tục, bởi người cha ngăn cản quyết liệt Lúc đầu ông Bốn phản đối, vì nghĩ rằng con gái đang đánh mất những năm tháng cống hiến, phá bỏ cái vinh dự gia đình có đứa con là người

của nước Chúa Nhưng sau đó, ông khiếp sợ, hãi hùng khi nghĩ đến sự trừng phạt mà cha con ông phải gánh chịu “Con ơi, về làm sao được, ngay như đàn ông đi tu rồi xuất dân làng

người ta cũng rỉa rói cho đến chết nữa con là người nữ Còn các ông trùm ông chánh, còn cha x ứ, còn bao nhiêu người khác, họ để bố con ta được yên ư ?” Cuộc đời thật đáng buồn

Giá như ông bố sáng suốt hơn, can đảm cùng con bước qua luật lệ, vượt lên dư luận mà

sống, có lẽ gia đình ấy không rơi vào bi kịch Huệ đã không phải sống mỏi mòn, chết một cách oan uổng trong chốn khổ Ông Bốn cũng không phải sống đau đớn dằn vặt ở những

năm tháng cuối cùng của đời người, bằng cách “tự đẩy mình ra khỏi cuộc sống xung quanh,

t ự mình cắt đứt liên hệ với mọi người” Dù cách mạng đã về từ lâu, dù những cán bộ lãnh

đạo đã gồng mình đấu tranh không mệt mỏi, song tình hình cũng chẳng có biến chuyển gì Con chiên ở Hỗ vẫn cứ thụ động, u mê Họ đi bằng đôi chân của mình, nhưng sống bằng cái đầu và cảm xúc của người khác Họ là những hình nộm, những con rối cho người giật dây

chứ không phải là những con người thực có thịt xương, tim óc “Ngay đến những quyết định

Trang 21

h ệ trọng nhất của đời người như nên sống như thế nào, nên đi theo con đường nào, họ cũng tùy thu ộc vào cái đầu đội mũ hàm ếch lắc hoặc gật Vì bất cứ một việc gì người ở Hỗ cũng

ch ỉ có quyền biết một nửa, dần dần họ cũng chỉ muốn biết có một nửa” Tâm lí “chỉ muốn

bi ết một nửa” đã khiến bao gia đình không ngần ngại đem con cho chủng viện, còng lưng

làm lụng để cung cấp mọi thứ cho con, nhưng thực chất là nuôi đám người nhà đạo vô công

rỗi nghề Còn con họ được nuôi nấng trong một thế giới mà mọi thứ đều tồi tệ “Những dãy

nhà ăn hôi mốc tanh tưởi như mùi chiếc đũa tre lâu ngày không rửa, những đứa bé đứng

ng ồi, ăn hút cười đùa, gõ bát gõ đũa như những kẻ mất dạy Những dãy nhà ngủ chiếu cuộn

l ại từng đống trên giường, dưới đất, hoặc nửa trên giường nửa dưới đất, những cái gối gỗ bong sơn, những chiếc thập giá nằm dài ở đầu giường mệt mỏi” Chúng được nhồi nhét vào

đầu những đạo lí nhà Chúa do tòa giám biên soạn, những sự vô luân của cộng sản, những truyện trinh thám, kiếm hiệp, ái tình, mà kẻ dạy chúng không ai khác là những tu sĩ tầm thường, có cái điệu bộ ngu xuẩn ăn nói lắp bắp Họ dạy toàn những chuyện tạo cho lũ trẻ

hận thù một cái gì đó mà chính chúng cũng không hiểu được Ban ngày với đám chủng sinh

là quãng thời gian vô vị tẻ nhạt, chúng khao khát bóng đêm buông xuống thật mau, để bắt đầu một công việc thích thú nhất là đi rải truyền đơn, dán khẩu hiệu chống đối cộng sản Chúng làm một cách hào hứng mà không cần hiểu “những công việ c đó nhằm mục đích gì,

ph ục vụ cho những ai Ngay dù một đêm nào đó bọn hắn có bị quân cộng sản bắt được cũng chẳng có gì phải lo sợ lắm” Lâu dần, chủng viện đã biến cái đám học trò trở thành

một lũ lưu manh, vô tích sự “Bây giờ học làm thầy chúng cũng không thích, học văn hóa lại

càng đáng chán hơn Phải học, dù học gì cũng là gò bó, trói buộc rồi Chúng chỉ ao ước cái

th ời kì giằng co với cộng sản sẽ kéo dài nữa Chỉ mong được sống mãi mãi như thế này: Ăn

th ỏa thích, chơi bời thỏa thích, nói năng bậy bạ, tục tĩu thỏa thích, và đêm đêm lại tập hợp nhau làm nh ững chuyện li kì”

Qua phân tích trên, chúng tôi nhận thấy ngòi bút Nguyễn Khải thật sắc sảo khi đi vào khám phá phơi bày những mặt trái của tôn giáo đã và đang tác động tiêu cực lên cuộc sống con người Cách đưa ra vấn đề để bàn luận của nhà văn nghiêm túc, cách lí giải của nhà văn chân thành gây được sự chú ý theo dõi của người đọc, song không ít người đã tiếc là cách

kết thúc vấn đề lại chưa được thỏa đáng Các sự kiện, các xung đột, các số phận con người đều còn dang dở Câu trả lời bức thiết nhất cho câu hỏi làm sao để giải phóng con người

khỏi những thiết chế tôn giáo, tạo điều kiện cho họ phát huy năng lực, đóng góp công sức vào việc tái thiết xã hội, hoặc làm sao để đốn ngộ, khai sáng cho những cái đầu mê muội

Trang 22

của quần chúng thoát khỏi sự ám ảnh đè nặng của thần quyền lại rất mơ hồ Thái độ lạc quan của Môn ở cuối tác phẩm chỉ mang tính hình thức Nó là mơ ước của người cán bộ đã lăn lộn cùng với phong trào trong suốt quãng thời gian khốn khó Nhưng xét cho cùng, mọi

sự biến đổi đời sống xã hội đều phải bắt đầu từ sự đổi mới tư duy ở con người, trong đó vai trò tự nhận thức của mỗi cá nhân trước hiện thực cuộc sống đóng vai trò quyết định, mọi sự

tác động bên ngoài chỉ là yếu tố phụ trợ Bởi thế, khi “đội cải cách lui, các đoàn thể quần

chúng cũng theo nhau tan rã, mặt nước lại đóng váng, bèo lại nở, và tất cả, tất cả lại như cũ” Cuộc chiến đấu của những người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, rốt cuộc, vẫn

chưa đạt được kết quả như người ta mong đợi Ở cả hai chiến tuyến, những con người vẫn

tồn tại để đấu tranh với nhau một cách ngấm ngầm Nỗi hoài nghi của Nhàn về người phía

bên kia là hoàn toàn chính đáng “Chúng đã bị tiêu diệt hay mới chỉ lùi lại để ẩn nấp một

cách kín đáo?” Chúng chỉ ẩn nấp? Đúng! Không thể loại bỏ những kẻ như cha Vinh, cha

Thuyết, tu sĩ Thịnh và một tập thể các ông trùm chánh trương, nữ tu, thầy dòng, lại càng không thể khuyên nhủ hết thảy mọi con chiên hãy nhạt bớt đạo trong một sớm một chiều, khi mà tôn giáo vẫn còn đó và mãi mãi còn bởi lịch sử lâu đời của nó Vậy thì việc Nguyễn

Khải để cho tất cả những con người ấy còn tồn tại, thậm chí sự tồn tại của họ có hại cho

cộng đồng, thì cũng bởi sự nhận thức tỉnh táo của nhà văn Ông coi đó là một kiểu người đang tồn tại khách quan và tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phải nghiên cứu nó, tìm hiểu và lí

giải nó theo tinh thần khách quan khoa học, chứ không phải tìm cách triệt hạ, làm cho nó

biến mất Kiểu kết thúc vấn đề theo xu hướng bỏ ngỏ và đóng lại tác phẩm khi mọi chuyện còn chưa ngã ngũ trắng đen là một hình thức biểu hiện cảm hứng nghiên cứu, phân tích trong tác phẩm của Nguyễn Khải Vấn đề ấy sẽ giống như hiện thực cuộc sống, luôn luôn

vận động biến đổi liên tục không ngừng Nó sẽ là cảm hứng, là cơ hội triển khai tiếp ở

những tác phẩm sau Ở đó, nhà văn lại hình dung ra tiêp những tình thế, những mối quan hệ,

những mâu thuẫn tiềm ẩn, hoặc những biến thái tinh vi của tôn giáo ở cả hai thái cực tốt và

xấu, trong một hoàn cảnh mới

1.1.4 Chiến tranh đã đi qua, hòa bình ổn định, nhà văn có điều kiện để chiêm nghiệm

lại mọi thứ, có đủ thời gian để nhìn nhận lại vấn đề tôn giáo ở khía cạnh văn hóa của nó

Người đọc như có cảm giác “Cha và con và ” là phần thứ ba của tác phẩm “Xung đột”, khi

gặp lại không gian quen thuộc, những thôn xã, những xứ đạo, nhà thờ, chủng viện Chỉ khác

là, cách viết của nhà văn có sự vận động rõ ràng Ngòi bút trở nên hiền lành hơn, chín chắn

và điềm đạm để tiếp tục nghiên cứu, lí giải vấn đề tôn giáo theo hướng triết luận, có giá trị

Trang 23

nhân văn, nhân bản chứ không đơn thuần là giải quyết một cuộc đấu tranh xung đột giữa ta

và địch, giữa tôn giáo và cách mạng, nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị đặt ra Ở tác phẩm này, chủ nghĩa xã hội đã tạo điều kiện cho giáo dân vừa có thể kính Chúa, vừa có thể sống

và làm việc thanh thản, tham gia vào các hoạt động xã hội, mà không phải băn khoăn lo lắng

sợ sệt Vận hội mới đã đến, đem theo nhiều thay đổi ở một vùng nông thôn có đạo Những

cuộc sửa sai, điều chỉnh lại các tổ chức lãnh đạo quần chúng của Đảng, công cuộc tái thiết đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu đã được tiến hành một cách hiệu quả, đem lại những lợi ích thiết thực cho nhân dân Tôn giáo, đặc biệt là Thiên Chúa giáo đã không còn là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng những kẻ có dã tâm làm chính trị, nhằm lật đổ chính quyền Chúng đã mất nguồn tài trợ từ các thế lực ngoại xâm Thêm vào đó, quần chúng đã bắt đầu nhận thức được điều gì cần thiết cho cuộc sống của họ, cái gì sẽ mang đến quyền lợi cho họ, chứ không mù quáng làm theo sự sai khiến của người khác Bà Tộ chửi con, vì cô gái lỡ đem đôi bông tai cúng lễ cũng là để tỏ thái độ bất bình với chủ trương của nhà đạo Một đôi trai gái đến nhờ cha Thư làm phép cưới đã không thuộc một câu kinh nào, còn chất vấn lại vị cha trẻ bằng giọng điệu rất gay gắt, “Chúng tôi vẫn tự hỏi: Sự có mặt của

các cha có cho thêm chúng tôi được cái gì không? Một câu hỏi đứng đắn đấy Cha còn trẻ, tôi tin r ằng cha có đủ thời gian để trả lời” Câu hỏi nghiêm túc của một con chiên đã nhạt

đạo có thể sẽ không làm cha Thư hài lòng, nhưng đó là một thực tế mà cả cha và Hội Thánh đang phải đối mặt với rất nhiều lúng túng Xét cho cùng, những khó khăn mà cha Thư, hay cha Hòe gặp phải chẳng phải do ai cố ý gây ra Nguyên nhân chính là quần chúng hầu như không quan tâm đến nhà thờ, dù họ vẫn cứ là giáo dân Những bước đường khốn khó của các vị linh mục trẻ phải chăng là hình ảnh phản chiếu sự thật mà dù muốn hay không, họ cũng phải chấp nhận Đó là trên vùng nông thôn công giáo, chủ nghĩa xã hội, tuy chưa đạt được những thành tựu vượt bậc để nâng cao đời sống vật chất cho người dân, nhưng nó đã hình thành nên một lối sống, một cơ chế xã hội ổn định, tạo điều kiện cho con người được phát triển khả năng nhận thức đúng đắn trước cuộc sống Chính quyền không còn phải đứng đối đầu với nhà thờ để giành giật quần chúng, mà trở thành nơi quần chúng tự tập hợp về Điều này khiến cho tôn giáo ngày càng bị đẩy sang thế cô lập, đứng chênh vênh bên lề cuộc

sống Nó chứng tỏ, một kiểu tôn giáo “cõi trên” không có khả năng tập hợp, lôi kéo quần

chúng bằng những lời rao giảng nhảm nhí, cách hành xử cổ điển không đem lại cho con người sự tự do hạnh phúc Tôn giáo không còn khả năng điều khiển đời sống tinh thần xã

hội, nhất là khi quần chúng đã tìm thấy cho mình một môi trường tương đối lí tưởng để xây

Trang 24

dựng cuộc sống đầy đủ về mặt vật chất, mạnh mẽ về mặt tinh thần, trong khi họ vẫn có thể

giữ được đức tin của mình vào Thiên Chúa cao cả Bước chân ra khỏi nhà xứ, tiếp xúc với giáo dân, cha Thư mới thấm thìa nỗi chua xót: Những ước muốn cao đẹp nhất của cha hóa

ra là phù phiếm xa xôi Con người làm ăn cực nhọc, chiến đấu gian nan, người còn kẻ mất,

bấy nhiêu niềm vui nỗi khổ của thế gian, nhà đạo chỉ có một lời an ủi thì quả thực là không

thể chấp nhận Trong tình thế khủng hoảng như thế, tôn giáo cũng vận động bằng cách tự

biến đổi mình để thích nghi với hoàn cảnh hiện tại Cách lựa chọn của cha Thư ở cuối tác

phẩm cũng là một giải pháp bắt buộc mà Hội Thánh phải tiến hành, nếu không muốn mất

hẳn chỗ đứng trong đời sống xã hội “Đi với giáo hữu tuân theo ý muốn của giáo hữu là sẽ

hòa h ợp được tất cả, vì giáo hữu là nền tảng, là cội nguồn Cách mạng cũng từ đấy mà có,

H ội Thánh cũng từ đấy mà có, không có gì là trái ngược” Quá trình nhận thức được chân lí

của cha Thư có vẻ hơi vội, hành động đòi được bề tôi của mình rửa tội chưa phải là một chi

tiết hiện thực nghiêm túc, song nó vẫn mang những giá trị tư tưởng nhất định, nhằm đưa đến

một kết thúc đẹp, phù hợp với vấn đề tôn giáo và cuộc đấu tranh giải phóng con người khỏi

áp bức của thần quyền Từ thời xa xưa, Nguyễn Trãi từng nói “lật thuyền mới biết sức dân

như nước”, ngày nay câu nói ấy đã trở thành một kinh nghiệm quí báu cho tất cả những tổ

chức kinh tế, chính trị, xã hội, nhắc nhở họ đừng bao giờ đánh giá thấp vai trò của quần chúng, cũng đừng coi họ là kẻ bề tôi mà phải nghĩ ngược lại Hội Thánh tồn tại là bởi giáo dân, cách mạng thành công nhờ quần chúng đã ủng hộ hết mình không tiếc máu xương Vì

thế, hơi cường điệu, nhưng Nguyễn Khải có cái lí riêng của mình khi viết: “Ý dân là hiệu

l ệnh của Thiên Chúa Cái gì dân bảo phải tức là phải, cái gì không phải tức là không phải”

Vấn đề giải phóng con người ra khỏi thiết chế tôn giáo coi như đã được giải quyết ổn thỏa

Thế nên, trong “Thời gian của người”, Nguyễn Khải gần như chỉ đi vào tìm hiểu những vẻ

đẹp của tôn giáo, ngợi ca nó bằng thái độ thành kính, ngưỡng mộ Nội dung này được thể

hiện qua hình tượng cha Vĩnh và một số đoạn khá hay nhà văn luận về tôn giáo

Như nhiều người nhận xét, khi viết về đề tài này, bao giờ Nguyễn Khải cũng rất thận

trọng và đã cố gắng hết sức mình Ông không ngại đưa lên trang viết những tội ác ghê tởm,

những mánh khóe bịp bợm tinh vi của bọn người núp bóng giáo hội, những trì trệ của tôn giáo trong điều kiện lịch sử đã thay đổi, nhưng chưa bao giờ ông là người bôi nhọ tôn giáo

Tất cả những sự thật nhà văn nêu ra, thái độ phê phán đả kích mãnh liệt đã được nhiều

người ủng hộ “Cuộc tranh luận giữa tác giả và tôn giáo như vậy là một cuộc tranh luận

đàng hoàng” (Vương Trí Nhàn) Sự xuất hiện của cha Vĩnh trong phong trào đấu tranh giải

Trang 25

phóng dân tộc trong quá khứ và hiện tại làm công việc của một tu sĩ chân chính “chăm sóc

cái ph ần cao cả, cái phần bền vững, cái phần thiêng liêng của con người” đã giải tỏa được

nỗi băn khoăn, trăn trở của tác giả, sợ người đọc có cái nhìn thiên kiến một chiều về Thiên Chúa giáo (cho dù người như cha Vĩnh không phải là phổ biến) Các nhân vật trong tác

phẩm này cùng nhau tranh luận về vấn đề tôn giáo và vai trò của nó trong đời sống hiện tại

bằng một thái độ nghiêm túc thành kính Những câu hỏi liên tiếp được đặt ra: Tôn giáo có giúp được người ta sống vui hơn không? Liệu sang thế kỉ hai mươi mốt có còn tôn giáo?

Trước vấn đề nghiêm túc này, nhân vật Tôi chỉ dám đưa ra một giả định: “Nếu như các tôn

giáo t ự nhận chỉ là một hình thức trong nhiều hình thức phục vụ cho sự hoàn thiện của con người thì chắc chắn là nó vẫn còn” Những cuộc đối thoại về tôn giáo giữa các nhân vật

được tổ chức trong một không khí thân tình, cởi mở vẫn để lộ cho người đọc thấy họ đang lúng túng, sự lúng túng của những con người vừa muốn dấn sâu vào một lĩnh vực nhạy cảm

nhất của tinh thần, vừa muốn lẩn tránh nó khi chưa thể tìm ra một cách lí giải lí tưởng cho

tất cả Dù rất kín đáo, tác giả vẫn không giấu được việc mình có cảm tình đặc biệt với Vĩnh khi cho anh một hình hài đẹp đẽ, một trí tuệ thông minh sáng suốt Anh là đại diện tiêu biểu cho lớp trí thức tôn giáo ở miền Nam thân cộng, có tư tưởng cấp tiến, đề cao tôn giáo lấy con người làm đối tượng phục vụ Cha Vĩnh phần nào giống cha Thư ở phương châm hành đạo, chủ trương hòa hợp giữa Thiên Chúa giáo và cách mạng, nhưng tiến bộ hơn nhiều về

mặt nhận thức, tư tưởng Khát vọng được là người hành động nơi cha Vĩnh là phẩm chất do quá trình vận động tư duy của chính anh trước lịch sử chứ không phải do các bề trên gương

mẫu đào tạo Sự lựa chọn đứng về phía dân tộc của cha Vĩnh là hoàn toàn thuyết phục, không gượng gạo như cha Thư Vĩnh và những người cùng chí hướng với anh đã nhìn thấy

ở cách mạng cơ hội vàng để lấy lại tiếng thơm cho Hội Thánh, bước đầu kéo tôn giáo từ trên cao xuống hội nhập với những người cùng khổ, sát cánh bên họ, đấu tranh chống lại sự áp

bức tinh thần Những giáo hữu trong thời đại mới đã nhận thức rằng, đức tin phải gắn liền

với khát vọng tự do hạnh phúc của dân tộc, giáo lí nhà thờ phải hướng con người đến những giá trị đích thực chân, thiện, mỹ nhằm nâng cao khả năng nắm bắt lí tưởng xã hội, dung hòa các mối xung đột, chứ không phải kích động họ đứng vào hàng ngũ những kẻ đối đầu với

chủ nghĩa xã hội

Có thể nói, kiến giải của Nguyễn Khải về việc giải phóng tư tưởng con người, qua bốn

tiểu thuyết chúng tôi phân tích chưa phải là đặc sắc Nhưng bằng thái độ nghiêm túc, cách

viết thận trọng, ít nhiều nhà văn đã làm cho người đọc thấy được những biến chuyển quan

Trang 26

trọng trong tư duy của quần chúng và các lãnh tụ tinh thần, cùng với những nỗ lực của họ trong quá trình xây dựng một xã hội “tốt đời đẹp đạo”, tôn giáo “sống phúc âm trong lòng

dân t ộc” Viết được ra điều này, Nguyễn Khải đã đụng được đến cái phần tuyệt diệu nhất

của tôn giáo, đưa nó vào một phạm trù văn hóa có từ xa xưa, ẩn chứa biết bao tinh hoa và trí khôn của nhân loại

1.1.5 Chu Văn cũng quan tâm đến vấn đề giải phóng ý thức con người khỏi sự áp bức

của thần quyền Trong tiểu thuyết “Bão biển”, lão bõ nửa say, nửa tỉnh, cả đời sống kiếp chó

trong nhà thờ Vậy mà, trước khi chết khổ sở trên cái ổ rệp ở góc vườn nhà Chúa cũng phát khùng lên, chửi cha là đồ đểu cáng Cô gái đã vượt qua sự ngăn cản quyết liệt của người chị

cuồng tín, dám xem thường các lề thói cũ, chống lại các thế lực hắc ám đè nặng lên số phận mình để làm lại cuộc đời Cô còn như muốn cho thiên hạ thấy, con người muốn có hạnh phúc thì phải tự thân đi tìm, tự tay gây dựng, chẳng có Chúa nào đem đến cho ta cả Và còn nhiều nhân vật khác trong “Bão biển” cũng tìm đến với Đảng khi nhận ra bộ mặt giả nhân,

giả nghĩa của các cha đạo

Cách Chu Văn giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo cũng giống như Nguyễn

Khải Điều này có nghĩa là, cả hai cây bút đều nhận thức, phản ánh đúng hiện thực ở vùng nông thôn có đạo lúc bấy giờ Điểm khác là Chu Văn dừng lại, còn Nguyễn Khải tiếp tục nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện ở giai đoạn sáng tác tiếp theo

Cho người đọc tiếp cận với những nhân vật gian sảo như cha Lân, cha Thuyết, cha Liêm, tu sĩ Thịnh (Xung đột) trước, kế đến là những người đứng giữa không vận động, biết

tất cả nhưng không làm gì hết như cha già quản hạt (Cha và con và ), ông Hai Gáo, Năm

Sang (Điều tra về một cái chết), sau cùng là những bậc chân tu có thiện chí cải tạo tôn giáo

như Tư Tốn (Điều tra về một cái chết), có tinh thần hòa hợp với giáo hữu như cha Thư (Cha

và con và ), có nhu cầu đối thoại với tuyệt đại đa số con người trong xã hội mới, dám hành

động vì lợi ích chính đáng của tôn giáo và dân tộc như cha Vĩnh (Thời gian của người),

Nguyễn Khải đã triển khai cuộc đấu tranh giải phóng con người ra khỏi những thiết chế tôn giáo ngày một mạch lạc lô-gic hơn Từ chỗ u mê sống cam chịu nhẫn nhục, giáo dân đã biết giác ngộ và tự giác ngộ để tìm lại khả năng quyết định những vấn để có liên quan đến họ,

nhận thức đúng để hành động đúng Cuối cùng là đóng góp ý kiến cải tổ tôn giáo và xây

dựng chủ nghĩa xã hội ngày một tốt đẹp hơn Ngày nay, người ta có thể nhìn vấn đề tôn giáo

và cuộc đấu tranh giải phóng con người ra khỏi thần quyền theo chiều hướng khác, cách giải quyết cũng khác Có thể lắm! Nhưng điều này không làm phương hại đến những gì Nguyễn

Trang 27

Khải đã trình bày trong tiểu thuyết của ông Giá trị của cảm hứng nghiên cứu, phân tích là ở

chỗ đó Nó làm cho tác phẩm không bị rêu mốc bởi thời gian Những trang sách cuối cùng chưa phải đã là kết thúc của tác phẩm, có thể nó sẽ lại mở ra sự khởi đầu mới cho sự khám phá, như một dòng chảy tư tưởng liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu còn có người quan tâm đến vấn đề mà nhà văn đề cập

1.2 Cảm hứng nghiên cứu, phân tích thể hiện qua vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho người lao động trong thời kì quá độ

1.2.1 Cách mạng tháng Tám thành công, không chỉ mở ra một kỉ nguyên độc lập cho dân tộc, mà còn đánh đổ luôn chế độ phong kiến - một hình thái kinh tế xã hội đã tồn tại cả ngàn năm trong lịch sử Cùng với thời điểm ấy, thành tựu của các cuộc cách mạng khoa học

kĩ thuật trên thế giới đã tạo ra bước ngoặt phát triển của loài người, đánh dấu đỉnh cao mới

của phát triển trí tuệ, mở ra một nền văn minh mới Quan trọng hơn, thắng lợi của Cách

mạng tháng Mười có tác động sâu sắc đến các dân tộc, tạo cho các nước vừa giành được chính quyền như nước ta thời cơ mới, thách thức mới trên con đường lựa chọn sự phát triển

của mình Ngay từ những ngày đầu lên nắm giữ sứ mệnh lịch sử, Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương, kiên trì đi theo lí tưởng cộng sản, đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai

của thực dân Pháp, buộc chúng phải ngồi vào bàn đàm phán chấm dứt chiến tranh Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc tiến hành khắc phục hậu qua chiến tranh, phát triển kinh tế, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đánh Mĩ Trong thời kì đặc biệt ấy, Nguyễn Khải cũng như nhiều văn nghệ sĩ khác hăng hái lên đường làm nghĩa vụ

của một nhà văn chiến sĩ Ông có mặt rất sớm ở những điểm nóng, nơi cuộc sống đang diễn

ra sôi nổi, quyết liệt, tiêu biểu cho hiện thực cách mạng của đất nước, làm cơ sở cho việc

phản ánh và sáng tạo văn học Ông đặc biệt có hứng thú khi viết về mảng hiện thực nông thôn - nơi tập trung hơn chín mươi phần trăm dân số đất nước trên con đường cải tạo và xây

dựng cuộc sống mới, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Do điều kiện lịch sử đặc biệt, nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản, từ

một xã hội vốn là thuộc địa nửa phong kiến, lực lượng sản xuất thấp, xét về cả tính chất và trình độ Điều này khiến cho kinh tế, xã hội nước ta bấy giờ chưa đầy đủ, chưa chín muồi trong sự phát triển tự nhiên nội tại của nó Bên cạnh đó, còn tồn đọng quá nhiều tàn dư quan

hệ xã hội, ý thức tư tưởng, tâm lí do chế độ thực dân, phong kiến cũ để lại Sự thật đó đã tạo

Trang 28

ra không ít khó khăn, thử thách cho đất nước trong bước chuyển tiếp lịch sử từ một xã hội kém phát triển sang một xã hội phát triển, phù hợp với yêu cầu của thời đại Muốn làm được điều đó, không còn cách nào khác chúng ta phải tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực, cần thiết phải xây dựng một nền dân chủ khẳng định quyền lực của người dân trong guồng máy vận hành xã hội, phát triển lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất, giải phóng con người để giải phóng xã hội, kết hợp sức mạnh

cá nhân với sức mạnh cộng đồng, tạo động lực thúc đẩy nhanh tiến trình tiến lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta Như thế, người dân mới được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đất nước mới giàu mạnh, văn minh

1.2.2 Hiểu biết đáng kể về chính trị, nhạy cảm trước những vấn đề mang tính thời sự, nhiệt tình muôn làm một cái gì đó cho công cuộc đôi mới văn học, Nguyễn Khải đã tái hiện

lại cuộc vận động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một vùng nông thôn có đạo qua tiểu thuyết

Xung đột’ Độc giả Có dịp thấy một thế giới nhân vật phong phú gồm vị cha cố, bọn phản

động đội lốt tôn giáo, con chiên đủ loại, người sáng suốt, kẻ ngu muội cuồng tín Vì thế,

muốn giáo dân hưởng ứng, tham gia xây dựng cuộc sống mới, Đảng phải tiến hành đấu tranh giai cấp nhằm giải phóng nông thôn, giải phóng con người ra khỏi tình trạng trì trệ, lạc

hậu về mặt nhận thức, tư tưởng, chính trị Để cuộc đấu tranh ấy thắng lợi, nhà văn đã đặt cho mình nhiệm vụ: Phải làm sao chỉ cho quần chúng thấy được sự nguy hiểm của bọn phản động đội lốt tôn giáo, cũng là những kẻ dẫn dắt đời sống tinh thần giáo dân từ rất lâu, mà không gây ra những cú sốc lớn, đẩy người ta vào chỗ mất phương hướng khi chưa tìm ra

niềm tin mới (Chúng tôi đã trình bày ở phần 1.1) Bên cạnh đó, tác giả cũng xây dựng được

một lực lượng chính trị có khả năng đem lại sự thay đổi tư duy của tín đồ một cách thuyết

phục, làm cho người dân tin tưởng, hưởng ứng tích cực các chủ trương chính sách của Đảng, không để họ ngộ nhận mình đang chịu sự điều khiển của một thế lực mới Nhà văn đã

lấy những nguyên mẫu ngoài đời để xây dựng nên những nhân vật tích cực có khả năng tập

hợp quần chúng như Môn, Thụy, Nhàn (Xung đột) Trên mặt trận đấu tranh chính trị gay go,

quyết liệt, họ bộc lộ những phẩm chất đáng quí: sống có lí tưởng, bản lĩnh trong các cuộc đụng độ với kẻ thù, bình tĩnh giải quyết khó khăn, có năng lực linh hoạt, khôn khéo trong

quản lí xã hội cả ba nhân vật này đều là tín đồ Thiên Chúa giáo nên bước đầu, họ cũng thành công trong việc giác ngộ được những giáo dân như bà Tinh, anh Hòa, ông Dương, Chị Đại, giúp họ có đủ dũng khí đứng lên vạch tội kẻ thù, hăng hái tham gia phong trào hợp tác hóa nông thôn

Trang 29

1.2.3 Ở phần hai “Xung đột”, Nguyễn Khải chủ yếu đi vào tìm hiểu cuộc cách mạng

về quan hệ sản xuất Nó không chỉ đem lại ruộng đất, cơm áo cho nông dân lao động, mà còn giáng những đòn chí tử vào mọi thành trì của tư tưởng cũ, làm biến đổi mọi quan hệ xã

hội Song để giải quyết cuộc đấu tranh tư tưởng của người nông dân là hoàn toàn không đơn

giản, khi tính ưu việt của hợp tác xã mới chỉ là lí thuyết, chưa có những thành tựu cụ thể Người dân xứ Hỗ vẫn đầy hoài nghi vào phong trào hợp tác hóa và phương thức làm ăn

mới Họ cảm thấy cái phần dành cho đạo chưa được thỏa đáng: Đi lễ sợ mất cộng điểm, đi làm sợ đắc tội với bề trên Bản thân họ cũng chưa được nhận lợi lộc gì, nên khi bị đụng

chạm một chút đến lợi ích cá nhân, họ phản kháng một cách quyết liệt Vụ vận động góp thóc giống đã làm cuộc họp xã viên trở nên náo loạn vì trận cãi vã ôm sòm giữa bà Nhàn và ông Dương Bà bịa ra chuyện túng thiếu, con cái bỏ mặc không chăm lo để được nhận tem phiếu mua hàng và khỏi phải đóng thóc cho hợp tác xã Sự thật là “bà lão lo xa đem thóc

chôn vào chân cây rơm, đêm đêm xúc trộm dăm mười đấu đem bán cho vợ Thụy” Vợ chồng

Lân sợ phải đưa con trâu vào hợp tác xã, nên đã lén lút bán cho người khác mổ thịt, trong khi nó còn rất khỏe mạnh Lí do đơn giản là bán cho thương lái thì được giá hơn là bán cho

hợp tác xã

Trong tác phẩm “Chủ tịch huyện”, chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng được

nhân dân nhiệt tình hưởng ứng Nhưng thời gian đã khiến họ phải đi đến quyết định xin ra

khỏi hợp tác Người đưa đơn đầu tiên là cụ Hóa, người gắn bó với phong trào ngay từ khi nó

mới bắt đầu Cụ còn vận động những người khác cùng tham gia Nguyên nhân chính là họ không còn cảm thấy yên tâm làm ăn, khi quyền lợi chính đáng của mình bị tước đoạt Hiện

tượng tư hữu đã bắt đầu xuất hiện ở một số lãnh đạo “Mấy ông đảng viên còn tham mấy sào

vườn thô, cán bộ đảng viên còn hò nhau xà xẻo đất của tập thể để mở vườn, mở trại thì nói sao được xã viên Thành thử những người tốt họ cũng chán” Rồi cũng vì mấy sào vườn

riêng mà người ta không còn muốn làm ruộng chung, thậm chí còn chiếm dụng số phân đạm

của nhà nước đưa về bón đay để chia chác cho nhau mỗi nhà dăm bảy cân bón cho cây trong vườn Năng xuất cây trồng giảm, “những người lăn lộn với hợp tác xã lại rất có thể bị đói”

Thế nên, tình trạng xã viên xin ra khỏi hợp tác xã đã trở nên phổ biến ở các xã trong huyện

Cũng vào tháng này năm ngoái, có hai chục hộ ở Nam Hòa gửi đơn lên thẳng trung ương khi ếu nại về đời sống khó khăn, thu hoạch quá thấp, xin được ra ngoài làm ăn, nhưng vẫn

“Trung thành v ới Đảng với chủ nghĩa xã hội” Người dân coi trọng vấn đề công bằng xã hội

dựa trên sự phân phối vật chất đồng đều Cuộc sống đã dạy họ cách làm ăn đem lại sự ấm

Trang 30

no, sung túc Như vậy, một vấn đề mới lại được đặt ra: Nếu không giải quyết một cách ổn

thỏa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, thì khó lòng mà hướng quần chúng vào qũi đạo chung

của cuộc sống mới Bên cạnh đó, họ cũng đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo phải có tinh thần vì dân, vì tập thể, không được lợi dụng chức quyền để vun vén cho lợi ích cá nhân Điều này

bắt buộc những người có trách nhiệm phải lựa chọn một trong hai cách, hoặc là vì tập thể,

hoặc là từ chức chứ “lần khần dùng dằng đứng ở cái quãng giữa là không được” Nhà văn

còn nhận thấy: Để nông thôn tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn chuyển đổi từ

nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất lớn, Đảng phải chú trọng nhiều hơn việc đào tạo cán bộ Trong đó, giáo dục nhân cách phải được coi là mục đích cao nhất, nhằm trang bị cho đội ngũ những người lãnh đạo ý thức giữ gìn sự trong sáng của tâm hồn, nâng cao bản lĩnh sống

để không sa ngã vì ma lực đồng tiền như các nhân vật Thụy (Xung đột), Đàm (Chủ tịch

huy ện).

1.2.4 Sau chiến thắng 30-4-1975, cả nước bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Lúc này, Nguyễn Khải chuyển vào Nam Hiện thực nơi đây phức tạp hơn nhiều so với miền Bắc

thời kì đầu bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, “bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu

đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ” Một mặt, nó đặt ra cho văn học nhiệm vụ

phải khám phá, tìm hiểu, mặt khác nó cũng tạo nên những hứng thú đặc biệt, thu hút sự quan tâm của những cây bút vốn có sở trường nghiên cứu phân tích như Nguyễn Khải

Thắng lợi của cách mạng là tất yếu lịch sử, con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là

việc cần thiết ở mảnh đất phương Nam vừa mới thoát ra khỏi chiến tranh Một trật tự cũ bị tháo tung ra, thay vào đó là một trật tự mới đang được tổ chức lại Những lối sống cũ bị đánh đổ, lối sống mới hình thành, mọi thứ đều ở trong tình trạng phá hủy và xây dựng,

chấm dứt và mở đầu Sự thay đổi ấy đã tác động mạnh mẽ đến từng số phận, làm thay đổi

thế giới quan nhỏ bé của từng cá nhân trước những biến đổi lớn lao của toàn xã hội Nhân

vật trung tâm trong tiểu thuyết Nguyễn Khải giai đoạn này là những người trí thức, có trình

độ khoa học kĩ thuật, hiểu biết sâu rộng các vấn đề xã hội, ở cả hai phía Đã đi qua chiến tranh, người thắng, kẻ thua nay có điều kiện ngồi lại với nhau để luận bàn về cách mạng, về

lịch sử, về những vấn đề hiện tại họ đang đối mặt khi sống trong chế độ cộng sản

Năm năm sau ngày giải phóng là một khoảng thời gian đầy thử thách cho tất cả những người đương thời, đặc biệt những người ở phía bên kia Họ bị đặt vào tình thế phải lựa chọn

một cách nghiệt ngã, hoặc giữ khư khư cái cũ, đứng yên không xê dịch, hoặc chấp nhận đồng hành với cái mới, tự lột xác để tiếp tục sống bằng thái độ nhập cuộc tích cực Không

Trang 31

phải ai trong số họ cũng xấu Ông Quý (Gặp gỡ cuối năm) “chỉ mong được là một trí thức -

viên ch ức, là người có tài”, nhưng vì sự lựa chọn sai lầm ban đau, nên giờ thành người

chiến bại Ông Đại, ông Chương cũng thế Họ đại diện cho một bộ phận không nhỏ quần chúng ở miền Nam sau ngày giải phóng, đang chới với trước sự chuyển mình của lịch sử

Nếu nhà cầm quyền rộng lượng bỏ qua sai lầm của họ trong quá khứ, mạnh dạn tin tưởng và giao công việc đúng với khả năng, thì “cái anh trí thức vừa được cách mạng đem lại tự do”

có lẽ sẽ thành người hữu ích Để họ phải vất vả trong sự lựa chọn, sống thu mình mặc cảm, chúng ta không chỉ vô tình làm lãng phí một bộ phận trí thức có tài, rất cần cho đất nước

thời ấy, mà còn đẩy họ vào thế đối đầu với cách mạng, hoặc sa đà vào các tệ nạn xã hội, gây nhiều khó khăn cho chính quyền Sau khi chế độ cộng hòa sụp đổ, bà Hoàng (Gặp gỡ cuối

năm) cương quyết quay lưng với chế độ xã hội mới, chỉ sống bằng tiền của đứa con trai ở

nước ngoài gửi về và giết thời gian bằng tụ tập nhau đánh bài, xoa mà chược Bà tự hào là

“m ột mẫu người ăn bám hoàn toàn có tìm khắp thế giới cũng không có” Con người này

luôn miệng nói không bàn chuyện chính trị, tuyên bố “tống cổ chính trị ra khỏi cái nhà

này”, nhưng cuối cùng lại là người quan tâm đến nó nhất Bà ghét cộng sản, nhưng tôn trọng

niềm tin và thái độ của con dù nó có hoàn toàn khác mình, “chê bai Việt cộng nhưng cũng

ch ửi bới tuốt tuột các nhân vật chính trị của chế độ trước một lũ học đòi, cắn hột cơm không v ỡ thì làm gì nổi” Nói về mấy vai chính của Sài Gòn năm 1975, bà coi đó là một lũ

tầm thường, những diễn viên tồi “đã diễn cương còn lại diễn dở thì thối bằng cứt Tôi là

người được thuê tiền để vỗ mà còn phải tính bài chuồn May mà họ đã hạ màn sớm” Sự

thay đổi từ cuộc sống hưởng lạc ăn trắng mặc trơn, sang thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã

hội của lớp người này được nhà văn khắc họa, phân tích cặn kẽ qua thái độ, hành động, lời nói của bà Hoàng Theo dõi toàn bộ câu chuyện, chúng ta nhận thấy nhân vật này là người

có trình độ học vấn thấp nhất, nên con đường đi đến quyết định cuối cùng là chấp nhận cuộc

sống mới của bà diễn ra một cách khó khăn nặng nhọc, nhưng đầy tính thuyết phục Thái độ quay lưng lúc đầu của bà cũng có nguyên nhân của nó, một nguyên nhân chính đáng chứng

tỏ bản lĩnh và khả năng nhận thức đúng đắn của con người này trước những vấn đề hệ trọng

của đời mình, của lịch sử Sống mãi dưới chế độ cũ, bà Hoàng không khỏi có cái nhìn thiếu thiện cảm với người cộng sản, không tin họ có thể đem lại sự thay đổi lớn lao cho cuộc sống

của bà Nhưng khi vấn đề này được đem ra mổ xẻ từ nhiều góc độ, được đánh giá khách quan từ chính người thân, sự thắng thế của cách mạng, khiến bà Hoàng, lần đầu tiên biết tự

vấn lòng mình bằng những câu hỏi hết sức nghiêm túc: “Làm sao l ại thế ? ( ) Tự chị phải

Trang 32

c ắt nghĩa lấy bao nhiêu cái làm sao” Nhân vật vòn là người không ưa suy nghĩ, từ bé đến

lớn được bao bọc trong nhung lụa, giờ thời thế thay đổi, tay chân chưa phải vất vả nhưng cái đầu đã muốn điên lên vì phải nghĩ ngợi xa gần Đã có lúc bà Hoàng có ý muốn tự tử, nhưng

rồi lại không dám sống như cũ không được nữa Quá khứ đã ở lại phía sau lưng, hiện tại

phải quyết định Phút giao thừa đang đến như tất yếu không thể phủ nhận, mặc cho ai muốn

đứng hẳn lại, đứng nguyên một chỗ không xê dịch” Dù bà Hoàng có cáo lui không muốn ở

lại với mọi người, tiếng pháo giao thừa vẫn vang lên chúc năm mới an lành Bước ra từ phòng ngủ trong bộ cánh tươm tất, nghiêm trang, nhân vật “như người từ đầu thế kỉ bước

ra, hay nói đúng hơn như từ trong hòm bước ra, một cái hòm gỗ tốt, có sơn thiếp có trạm

tr ổ, theo thời giá khoảng ba nghìn đồng” Sự lựa chọn của bà Hoàng xem ra đã ngã ngũ

Nhân vật quyết định chấp nhận cuộc sống mới không phải vì nông nổi,bồng bột Đó là kết

quả của sự đắn đo cân nhắc, dằn vặt trong suốt đời người Nó chứa đựng một triết lí sâu sắc

về mối quan hệ giữa sức mạnh của tất yếu và sự lựa chọn Nó đánh dấu sự thắng lợi của chế

độ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng đang đi là đúng hướng Thế nhưng, để đi đến cái đích

cuối cùng của chủ nghĩa xã hội, nhận định của nhà văn là chúng ta còn phải đi tiếp những

của xã hội mới không đủ nhân cách và năng lực đáng tin cậy, thì nỗ lực của cả dân tộc đều

vô nghĩa Thử thách quyết liệt mang tính lựa chọn không chỉ đặt ra cho người chiến bại, mà còn cả với người chiến thắng Sự lựa chọn giữa một bên là ma lực của đồng tiền, sự cám dỗ

của tiện nghi vật chất, một bên là lương tâm, trách nhiệm danh dự con người

Vừa thoát ra khỏi chiến tranh, chúng ta phải bắt tay vào khắc phục những hậu quả

nặng nề mà nó để lại Hơn bao giờ hết vấn đề sản xuất vật chất tạo ra của cải cho xã hội, nâng cao mức sống cho quần chúng được quan tâm phát triển hàng đầu Nhưng vì hành động quá nôn nóng, áp dụng lí thuyết xã hội chủ nghĩa một cách chủ quan duy ý chí, không thèm đếm xỉa đến tình hình thực tế của đất nước khiến chúng ta phải trả một cái giá quá đắt

Cơ chế bao cấp tồn tại quá lâu, thái độ làm việc quan liêu, đầu óc bảo thủ của một bộ phận lãnh đạo đã khiến cho quá trình sản xuất bị đình trệ, đời sống nhân dân không được cải thiện Giá cả, tiền lương và cách kiếm ra tiền là những chủ đề chính mà người ta nhắc đến

Trang 33

hàng ngày, ở bất kì nơi đâu Trong bàn tiệc cuối năm ở nhà bà Hoàng, Bình kể về những người bạn của anh Một người làm phó giám đốc ở một nhà máy hóa chất, là đảng viên cộng

sản Khi vợ anh mang thai đứa con thứ hai rồi sảy thai, đau ốm thì gia cảnh rơi vào túng

quẫn Đồng lương công chức của cả hai vợ chồng không đủ trang trải cho đời sống trong

thời buổi vật giá lên cao “Một bữa cơm mời mất đứt nửa tháng lương”, số tiền vay mượn đã vượt quá khả năng chi trả của hai vợ chồng, bạn của Bình đành phải làm theo sự chỉ đạo của

chủ nợ, ăn cắp tài sản của xí nghiệp đem bán Sự việc vỡ lở, anh ta bị cách chức, bị đình chỉ công tác Đó là điều yếu, anh ta phải trả giá cho hành động phi pháp của mình, nhưng nỗi đau còn lại là liệu họ sẽ sống ra sao khi chỉ còn biết trông cậy vào số tiền lương ít ỏi của người vợ và món nợ lên đến hai ngàn đồng? Người thứ hai là anh trung úy công an chuyển ngành, làm công tác kĩ thuật ở xưởng máy Để khắc phục tình trạng thiếu thốn trăm bề, anh tranh thủ chạy xe ôm Số tiền làm thêm nhiều gấp bốn lần tiền lương của hai vợ chồng cộng

lại Đời sống sung túc hẳn lên, nhưng không khí gia đình mất đi sự đầm ấm, bởi từ lúc có

tiền, anh chồng sa vào cảnh nghiện ngập Trong “Một cõi nhân gian bé tí”, Hòe, Nhị, Mã Hà

biết việc làm của mình là phi pháp, sẽ bị luật pháp trừng trị, nhưng vẫn làm Qua những sự

việc trên, ta thấy tình trạng con ngươi tha hóa, tự buông bỏ lý tưởng của mình ngày càng trở nên phổ biến Nguyên nhân là sự bất hợp lí trong việc trả lương cho người lao động, không tương xứng với công sức và trí tuệ họ bỏ ra Một cán bộ kĩ thuật mà mức sống không bằng

một anh chạy xe ôm, một ông phó giám đốc đã từng được đào tạo bài bản ở nước ngoài, về

nước làm việc nhận được đồng lương tháng chỉ “đủ làm hai bữa cơm mời bạn bè “ là điều

hết sức vô lí, không thể chấp nhận được Điều này, không chỉ làm cho nhiều người thiếu sự

kiềm chế nên sa ngã, mà còn là nguyên nhân khiến cho không khí gia đình trở nên ngột

ngạt, hạnh phúc lứa đôi tan vỡ Gia đình của Thụ (Vòng sóng đến vô cùng) và của Chính (M ột cõi nhân gian bé tí) là những ví dụ tiêu biểu Giá đừng có tình trạng nhà nước nuôi cán

bộ khoa học kiểu: “Chỉ cho họ đủ sống một cách ngắc ngoải với bao nhiêu là lo âu, phiền

mu ộn, bực bõ nhưng lại mong đợi ở họ phần cống hiến tích cực nhất vào cuộc cách mạng khoa h ọc kĩ thuật!”, thì có lẽ nhiều người đã không vì miếng cơm, manh áo mà bán rẻ nhân

cách, phẩm giá của mình “Làm sao mà cống hiến? cống hiến bằng cách nào?” Câu hỏi có

vẻ như vô lí mà rất nghiêm túc, không chỉ đặt ra cho Giang (Vòng sóng đến vô cùng) mà cho

tất cả những ai muốn khẳng định mình trước cuộc đời Giang và những người đồng trang

lứa với anh được đào tạo rất bài bản, được tiếp cận với những tri thức khoa học tiên tiến Họ cũng không thiếu nhiệt tình nhập thế, hành động và sống có hoài bão lí tưởng Cái thiếu mà

Trang 34

bản thân họ không thể tạo ra là môi trường làm việc như ý, cơ chế lao động hợp lí, để có thể phát huy hết sở trường, năng lực sáng tạo, nhằm làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và cho chính gia đình, bản thân Tận mắt chứng kiến sự cải cách, đổi mới làm ăn ở xí nghiệp, Giang rất bức xúc trước thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, vô trách nhiệm của tập thể Thậm tệ hơn,

một số kẻ nhân cơ hội xí nghiệp làm ăn thua lỗ để “móc vào nó mà hút hết những gì còn lại”

Vậy mà không ai phải nhận bất kì hình thức kỉ luật nào, vì đơn giản: “Người ta không thể

truy t ố một sáng kiến của quần chúng đã làm cho cho xí nghiệp thiệt hại cả trăm triệu” Cái

phát minh của tập thể làm thiệt hại cả trăm triệu thì được khuyến khích, còn phát minh cá nhân Giang có thể đem lại số lợi nhuận tương đương thì bị lờ đi không ai công nhận Không

phải “các bậc đàn anh” không biết, mà họ cố tình im lặng để chia chác nhau số tiền lớn từ

lượng sắt thép dôi ra Thêm vào đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo là những người

có công trạng với cách mạng, nay được xã hội trả ơn bằng đủ loại huân chương, bằng những danh vị xứng đáng (mà dẫu là hư danh cũng vẫn được), bằng nhà ở, bằng đồng lương, con

cái được ưu tiên đi học ở nước ngoài Họ cảm thấy “mãn nguyện quá, tự tin quá, xử sự mọi

vi ệc vừa hàm hồ, vừa tùy tiện” Cái tật này của người chiến thắng không chỉ làm cho họ trở

nên tầm thường trong mắt đám trẻ, mà còn tạo ra một làn sóng bất bình từ phía quần chúng

Những đặc quyền đặc lợi họ nhận được từ xã hội khiến cho sự bất bình đẳng trong phân

phối của cải vật chất gia tăng Thêm vào đó, tính bảo thủ cố chấp, làm việc theo nguyên tắc

cứng nhắc, thiếu năng lực chuyên môn và khả năng lãnh đạo của những cán bộ này càng làm cho thế hệ cán bộ khoa học kĩ thuật trẻ thêm ngao ngán, mất hết hứng thú cống hiến

Trước khi trở thành kẻ tội đồ, Dũng đã từng tâm sự với Bình: “Tao chán ngấy mấy cha ở

ch ỗ tao làm việc; họ thiếu sự thẳng thắn, thật thà, lại không dám quyết đoán” Bạn của

Giang cũng vậy “Rất ngán cung cách của cái ngày hôm nay, sống sao nổi, làm việc sao nổi

khi cái sai, cái đúng cái trái, cái phải, cái dở cái hay cứ lộn tùng phèo ( ), không sòng

ph ẳng về chính trị, không sòng phẳng về khoa học, không sòng phẳng về xã hội, tóm lại là không có công b ằng xã hội” Thậm chí, giới trẻ bị tước đoạt cả quyền được tự quyết định

những vấn đề hệ trọng của mình “ở nhà là gia đình, ở cơ quan là các ông các bà thủ

trưởng” Khi bị dồn ép để có một quyết định, họ băn khoăn tự hỏi: “Cái quyết định đầu tiên trong đời biết đâu chẳng phải là một tội ác” Để chống lại sự bất bình đẳng và khẳng định

quyền được sống của một con người, với những nhu cầu vật chất tinh thần chính đáng, một

số kẻ đã tha hóa (như đã nêu ở phần trên), một số sống nhẫn nhục chịu đựng như Giang,

Thụ (Vòng sóng đến vô cùng), con trai lớn của Chính (Một cõi nhân gian bé tí), số còn lại

Trang 35

đã bắt đầu có tư tưởng thách thức chống đối ra mặt “Chúng tôi đã có cách Cho gì được

n ấy Cho nhau nhân nghĩa thì được nhân nghĩa, cho lọc lừa sẽ được lọc lừa, cho đồng lương chết đói thì sẽ không có của cải nào trả lại hết Còn trừng phạt chúng tôi ư ? Đuổi chúng tôi ra hè ph ố ư ? Không chết đói đâu! Người có nghề làm sao chết đói! Nhưng các ông s ẽ mất mặt với thiên hạ, các ông sẽ hổ thẹn mãi với thế hệ tiếp theo”.

Để có được “độc lập, tự do, hạnh phúc”, cha ông ta đã đổ biết bao nhiêu xương máu

Để con cái có tri thức, các gia đình đã cố gắng đến giới hạn cuối cùng Những học vị cử nhân, tiến sĩ đều có một phần công lao rất lớn từ các đấng sinh thành thắt lưng buộc bụng,

vất vả cả đời Bà mẹ mặc váy đi hốt phân trâu vẫn tự hào vì đã đẻ ra hai ông tiến sĩ, người

cô họ của Chính (Một cõi nhân gian bé tí) mãn nguyện vì sự thành đạt của chồng con, dù cả

đời chưa biết miếng ngon là gì Người già là vậy họ có thể sống phần đời còn lại không cần đến vật chất đầy đủ, bởi lẽ họ đã quen với thiếu thốn trăm bề do hoàn cảnh chiến tranh Điều quan trọng là họ cảm thấy mình được đối xử công bằng Còn người trẻ thì khác Tương lai còn dài, họ không thể sống mấy chục năm tiếp theo bằng hư danh, hoặc mơ mộng hão huyền Họ cần có tiền, đủ để có thể trang trải cho sinh hoạt hàng ngày và những dự định nghề nghiệp Họ mong nhận được đồng tiền chân chính, xứng đáng với năng lực trí tuệ, mồ hôi công sức họ đã đổ vào công việc, chứ không phải là sự ban phát, bố thí Cách mạng đã đem lại cho dân tự do, nhưng chủ nghĩa xã hội chưa đem đến cho họ ấm no hạnh phúc Đã

có lúc, nhà văn kêu gọi con người hãy từ bỏ tham vọng quyền lực, đừng đàm mê vật chất

Trong “Th ời gian của người”, Quân đã nói về điều này nhiều lần, song khó mà thuyết phục

được người đọc Lịch sử đã chứng minh rằng, không có gì tiêu diệt nổi tham vọng của con người, lại càng không thể bắt con người sống thiếu vật chất, vì đó là những động lực thúc đẩy con người hành động, duy trì và phát triển xã hội ngày một tiến bộ hơn Cũng may là

những gì Nguyễn Khải thể hiện, qua các cuộc đối thoại, tranh luận với lớp trẻ lại cho người đọc hướng giải quyết khác mà tác giả không trực tiếp nói ra Có thể do hoàn cảnh lúc tác

phẩm ra đời không cho phép ông được nói thẳng điều mình muốn nói và dự cảm nó sẽ xảy

ra Tiếng nói của giới trí thức trẻ đã được những người có trách nhiệm lắng nghe để đáp ứng

dần những đòi hỏi của họ Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ sáu, sự đổi mới mang tính cách

mạng được tiến hành trên mọi lĩnh vực, trong đó vấn đề đầu tư phát triển kinh tế được quan tâm chú trọng hàng đầu Khắc phục tình trạng “chảy máu chất xám”, đội ngũ khoa học kĩ

thuật được sắp xếp lại vị trí và được trọng dụng Mục tiêu hướng tới dân giàu nước mạnh đã phát huy vai trò tích cực của cá nhân đối với cộng đồng Nền kinh tế nhiều thành phần,

Trang 36

khuyến khích tư nhân làm giàu chân chính đã có những đóng góp to lớn cho xã hội Để cho

những nhân vật còn rất trẻ dám lên tiếng tranh luận và phán xét cả một chế độ, định giá lại

những giá trị mà thế hệ đi trước cho là đẹp tốt đẹp, cổ vũ họ đấu tranh mọi biểu hiện phi xã

hội chủ nghĩa bằng thái độ phê phán quyết liệt, mà vẫn tỉnh táo sáng suốt, Nguyễn Khải như

muốn cho người đọc thấy được ánh sáng le lói ở cuối đường hầm Không còn cách nào khác chúng ta phải xóa bỏ những thói quen làm việc tùy tiện, coi thường tri thức khoa học, đẩy

mạnh sản xuất tạo ra của cải vật chất trên cơ sở xây dựng lực lượng sản xuất tiên tiến, tạo

tiền đề vững chắc cho sự ra đời của phong trào sản xuất xã hội chủ nghĩa Trong đó, cần coi

trọng tư duy, trí tuệ con người, tạo động lực phát triển xã hội văn minh Chế độ công hữu

phải phù hợp qui luật của quá trình xã hội hóa thực sự chứ không thể tạo ra bằng những biện pháp hành chính cưỡng ép Chuyển từ quan hệ hiện vật sang quan hệ hàng hóa tiền tệ trả lại đúng qui luật phát triển tự nhiên của nền kinh tế, từng bước xóa bỏ bao cấp là giải quyết ổn

thỏa vấn đề lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng Bước đầu, nhà nước lập lại sự công bằng trong phân phối của cải vật chất cho người lao động “làm theo năng lực, hưởng theo thành

qu ả” Cũng theo Nguyễn Khải, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, không chỉ tiến

hành đổi mới trên lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn phải tiến hành đổi mới ở lĩnh vực tinh

thần, trong đó văn học nghệ thuật phải đi tiên phong

Nghiên cứu, phân tích, tôn trọng hiện thực khách quan, Nguyễn Khải đã mạnh dạn trình bày quan điểm riêng của mình về cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ, thông qua việc xây dựng các hình tượng đối lập Cái xấu không bị lên án một cách giản đơn,

mà bị phanh phui mổ xẻ đến cùng Mặt tích cực không được ca ngợi một cách dễ dãi, mà được cân nhắc thuyết phục Điều này giúp người đọc nhận thức đúng đắn về vấn đề chính

trị, mà không phải ai cũng làm được Những ý kiến đánh giá, những tiên đoán của Nguyễn

Khải có thể còn chưa được nhất quán chính xác, thậm chí có nhà phê bình còn cho là hàm

hồ Nhưng chúng ta hoàn toàn có thể thông cảm với nhà văn Lúc ấy ông chỉ nghĩ được đến

thế, thậm chí buộc phải nói thế, vì những lí do tế nhị, sợ tác động hoặc gây ra hiểu lầm cho người đọc, ngay ở thời điểm tác phẩm ra đời Đó cũng là cách nhà văn làm cho những đứa con tinh thần của mình sống được đến hôm nay

Trang 37

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN KHẢI 2.1 Loại hình nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải:

2.1.1 Trong tác phẩm văn xuôi, nhân vật là sự biểu hiện khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật của nhà văn về con người, là nơi tập trung bộc lộ tư tưởng, chủ đề và các giá trị nghệ thuật, ở lĩnh vực tiểu thuyết, quan tâm đến việc xây dựng nhân vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự thành bại của nhà văn Các nhân vật được xây dựng bằng sức sáng tạo và

sự nỗ lực không ngừng của người nghệ sĩ ngôn từ, nhằm chuyển tải những ý tưởng, những thái độ mà ông ta muốn thể hiện đối với thế giới xung quanh Nhân vật ấy bao giờ cũng in đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả, đồng thời nó cũng mang theo dấu ấn của thời đại Chính

sức sống của nhân vật đã góp phần không nhỏ làm nên tên tuổi, vinh quang cho mỗi nhà văn Vì thế, từ lâu nó đã được coi là một trong những phương diện đặc sắc thể hiện trình độ nghệ thuật, đánh dấu sự trưởng thành của các cây bút văn xuôi trong cuộc đời sáng tác, cũng

như trên lộ trình văn học dân tộc, đúng như Nguyễn Đình Thi nhận định: “Vấn đề trung tâm

c ủa nghệ thuật viết tiểu thuyết là miêu tả con người và con đường đi của họ trong xã hội Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề phải thông qua các nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn là từ sự việc Một cuốn tiểu thuyết có đứng được hay không là ở chỗ có tạo ra được

nh ững nhân vật làm cho bạn đọc nhớ được hay không” (Tuyển tập, NXB Văn học, 1997,103)

Thế giới nhân vật trong tác phẩm văn học cũng phong phú như con người trong cuộc đời Chọn viết về loại người nào, thành công với kiểu nhân vật nào là do sự lựa chọn sao cho phù hớp với “cái tạng”, cũng như quan niệm sáng tác của mỗi nhà văn Đối với Nguyễn

Khải, hệ thống nhân vật đã phản ánh khá rõ nét thế giới nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực trên mỗi bước đường sáng tác

2.1.2 Trước 1975, nhân vật của Nguyễn Khải chưa có nét riêng độc đáo Nhà văn chỉ chú trọng xây dựng “con người xã hội”, chủ yếu tiếp cận nó ở bình diện lập trường ta - địch

và đạo đức cách mạng Khi lòng yêu nước, lòng trung thành với Đảng trở thành một hệ qui chiếu để nhìn nhận, đánh giá phẩm chất của con người thì nhân vật trong tác phẩm cũng được Nguyễn Khải thể hiện chủ yếu trên phương diện đó Thời kì này nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Khải là nhân vật loại hình Những Môn, Thụy, Nhàn (Xung đột), An, Tạo,

Hiệp, Quang (Chủ tịch huyện) dù có đối ba nét cá tính, song nhìn chung họ vẫn có cùng

khuôn mặt với các nhân vật của Chu Văn, Nguyễn Văn Bổng, Đào Vũ - những nhà văn

Trang 38

thuộc thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Họ nhiệt tình đi theo đường lối của Đảng, hết lòng vì công việc tập thể mục đích làm thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao tầm

hiểu biết của người dân trên con đường chuyển đổi từ nền sản xuất nhỏ sang nền sản xuất

lớn Những nhân vật này là sản phẩm của một giai đoạn văn học “phục vụ chính trị” trực

tiếp tham gia vào sự nghiệp cách mạng của Đảng (lúc ấy là cần thiết và tất yếu), cả một thế

hệ nhà văn, không riêng gì Nguyễn Khải, trong hoàn cảnh ấy mới chỉ có điều kiện quan tâm đến cái chung nên chưa thể đi vào cõi riêng tư trong mỗi số phận con người Chúng ta vẫn

bắt gặp con người trong tác phẩm, nhưng phần lớn đó là con người tập thể, con người quần chúng, chưa phải con người cá nhân, con người số phận Các nhà văn thường tập trung nói lên những quyết tâm, ý chí, sức mạnh của con người, mà chưa diễn tả được hết những nỗi

cô đơn và sự yếu đuối của nó trong vinh quang và quyền lực, thậm chí cả trong những khoảnh khắc hạnh phúc chiến thắng Cũng trong hoàn cảnh ấy, tác phẩm của Nguyễn Khải

chỉ có thể đảm bảo được việc làm sao phản ánh cho thật nhiều mặt của hiện thực, ghi lại càng chi tiết càng tốt những biến động lớn lao của đời sống Với phương châm “văn học

ph ản ánh hiện thực”, nhà văn đã dành hết tài năng và tâm huyết để ghi lại cuộc sống mới,

con người mới chứ không phải toàn bộ cuộc sống và con người hiện thực Để đảm bảo yêu

cầu cơ bản đối với tác phẩm bấy giờ là: Ưu tiên thể hiện nội dung lịch sử xã hội, phản ánh các mặt của đời sống sản xuất, chiến đấu, hợp tác hóa, quản lí kinh tế Nguyễn Khải đành

để các nhân vật của mình khuất phía sau các sự kiện, các phong trào chứ không để nhân vật

hiện ra ở mặt hiện thực Buộc lòng, nhà văn phải biến nhân vật trở thành phương tiện để trình bày lịch sử hay giải quyết vân đề mà tác phẩm đặt ra Thế nên, nhân vật tích cực được xây dựng chủ yếu vẫn là để động viên, tuyên truyền chứ chưa phải là để nhận thức toàn bộ

hiện thực đời sống với những qui luật phát triển lịch sử của nó Nhân vật ấy mất đi cùng với

những phong trào và dễ bị lãng quên Ngày nay người ta vẫn nhắc đến “Xung đột” của

Nguyễn Khải như một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của ông, vì tác phẩm đó đánh dấu

sự trưởng thành vượt bậc của nhà văn sau non mười năm cầm bút Tác phẩm ấy ghi lại cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải phóng con người ra khỏi những thiết chế tôn giáo để họ được

tự do xây dựng cuộc sống mới, chứ không phải bởi tác giả xây dựng được những tính cách,

những nhân vật điển hình

2.1.3 Bước sang những năm tám mươi, văn học nghệ thuật đã có những đổi mới Ngòi bút Nguyễn Khải đã ở giai đoạn thực sự trưởng thành, tài năng của ông bắt đầu bước vào độ chín Một hiện thực mới mở ra trước mắt mà lối viết cũ khó có thể thâm nhập đã buộc bất

Trang 39

cứ nhà văn nào cũng phải thay đổi chính mình nếu muốn là người của “hôm nay, cái hôm

nay ng ổn ngang bộn bề’ Thêm vào đó, xu thế hướng nội đã trở thành nguyên tắc trong nghệ

thuật Nhà văn khó có thể thuyết phục được người đọc nếu chỉ trình bày giản đơn một loại người trong xã hội Độc giả muốn người nghệ sĩ phải nỗ lực khám phá những bí ẩn sâu xa trong tâm hồn, giúp họ thấy được “con người bên trong” của mỗi nhân vật chứ không phải

chỉ diện mạo bên ngoài Đốt-xtôi-ep-xki đã nói: “Con người là một bí ẩn ( ) cần phải khám

phá con người ( ) Tôi tìm hiểu điều bí ẩn ấy vì tôi muốn trở thành con người” (74, 51) Vì

thế, nhà văn không thể cứ viết mãi về một loại nhân vật với chức năng minh họa, giờ đây ông phải xây dựng được những nhân vật giúp người đọc có thể nhờ đó mà vén màn những

bí mật của con người, giúp họ hiểu hơn về chính mình và một phần từ chỗ hiểu mình, con người hiểu thêm về thế giới và sự phong phú của thế giới Muốn thế, nhân vật phải chuyển

tải nhiều được nhiều hơn những vấn đề phức tạp của cuộc sống thay vì chỉ phản ánh chuyện đúng sai, tốt xấu hợp với thị hiếu của một loại độc giả Có vậy, nhà văn mới hoàn thành nhiệm vụ mà văn học đặt ra là thông qua các hình tượng trong tác phẩm nâng cao nhận thức cho người đọc Trước tình hình này, nhân vật loại hình dường như không còn phù hợp nữa Nguyễn Khải đã rất “thức thời” khi chọn loại hình nhân vật tư tưởng cho những sáng tác

tiếp theo của mình Bản chất thông minh, sự nhạy cảm của người làm báo, lại sống ngay tại Sài Gòn sau giải phóng và quan trọng hơn là tư duy nghệ thuật thiên về nghiên cứu, phân tích, Nguyễn Khải đã là người may mắn hội đủ hết thảy các yếu tố chủ quan, cũng như khách quan để thành công với loại hình nhân vật này

Nhân vật tư tưởng tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội Nó xuất hiện khi xã hội có dấu hiệu biến động mà nhà văn thông qua

đó để gửi gắm tư tưởng Loại hình nhân vật này xuất hiện nhiều trong tiểu thuyết Nguyễn

Khải, thể hiện những băn khoăn trăn trở của ông về các vấn đề bản lĩnh nhân cách con người trước hiện thực cuộc sống và đổi mới tư duy nghệ thuật Các nhân vật này hoặc mang nhu cầu được sống thực với bản thân mình để thực hiện ước mơ hoài bão lí tưởng, không bị

hư danh lừa dối, hoặc đòi hỏi được đối thoại tranh luận nhằm thẩm định lại một số vấn đề

cuộc sống Điều này xuất phát từ nhu cầu muốn nhận thức các mối quan hệ giữa con người

với thế giới xung quanh, giữa người nghệ sĩ và mục đích sáng tạo nghệ thuật chân chính

Cũng là ý thức trách nhiệm của nhà văn trong thời kì đổi mới, “không muốn văn học chỉ là

m ột sự minh họa”

Trang 40

Nhân vật tư tưởng trong tiểu thuyết Nguyễn Khải hầu hết là trí thức, dù hoạt động trong lĩnh vực nào, họ cũng chứng tỏ được sự hiểu biết đáng kinh ngạc Họ là những người

có kinh nghiệm sống phong phú, tính cách mạnh mẽ, dám cống hiến đời mình cho một niềm tin, một lẽ sống, một lí tưởng mà không bị dao động bởi hoàn cảnh Thậm chí, để làm được điều đó, họ sẩn sàng chấp nhận hi sinh, trả giá

dành nhiều tâm huyết để xây dựng nên ba nhân vật cha Thư (Cha và con và ), Tư Tốn

(Điều tra về một cái chết), Cha Vĩnh (Thời gian của người)

Rời chủng viện, cha Thư về nhận chức tại giáo xứ thôn Nhất Hành trang của cha là sự sùng kính giáo lí nhà thờ và lí tưởng tôn giáo còn đầy ắp, nguyên vẹn Vị linh mục trẻ muốn

trở thành một người chăn chiên kiểu mẫu theo phép tắc của Hội Thánh, muốn hành đạo theo tinh thần công dân, muốn đem lại cho giáo hữu những điều tốt lành, muốn mở mang nước Chúa một cách thành tâm nhưng gặp phải bao chuyện bi hài Cha Thư không muốn lặp lại

cuộc đời của cha già, con người trong sạch còn sót lại giữa đám người xấu xa bỉ ổi, bằng thái độ quyết liệt, cũng không chấp nhận thái độ biết tất cả mà không làm gì để cải tổ giáo

hội, chấn chỉnh tông đồ như ông cụ đã sống gần trọn cả cuộc đời “Tôi khác, tôi còn trẻ, tôi

không th ể sổng như một ông già đã chín chục tuổi đầu Cụ ấy có thể giơ bàn tay ngồi ngắm

c ả giờ không chán, chứ tôi mà ngồi thế thì phải nổi điên Thế nhưng, càng cố gắng cha Thư

càng cảm thấy mình đuối sức, vì khả năng con người có hạn, vì sự đơn độc của cha trên bước đường đi tìm thứ nước nhiệm màu có thể tẩy rửa tội lỗi của những kẻ đến trước gây ra

“M ột mình tôi thanh minh cho cả hội thánh sao nổi? Ai tin tôi mà thanh minh? Tôi không

mu ốn sống như các linh mục khác, sống như thế nhơ nhớp lắm, mỗi người nhơ nhớp mỗi cách Tôi còn tr ẻ, tôi còn đủ thời giờ để lại chút ít tiếng tốt cho xứ đạo Bằng không làm gì được hơn thì trả lại áo chức mà về Sống như kẻ có tội đã đau đớn, lại không được phép cứu chu ộc mới là đau đớn hoàn toàn” May mắn thay, cha Thư đã không phải “trả lại áo chức

mà v ề’ Qua một năm khốn khó, nhân vật nhận ra, nếu chỉ sống khiêm nhường sống trong

sạch, sống thật xứng đáng với Chúa trong vai trò bầy tôi thì chưa đủ Vị linh mục trẻ cần

phải thay đổi tư duy, cởi bỏ những nếp nghĩ quen thuộc, những cách hành xử lỗi thời, như

thế mới có thể tồn tại trong hoàn cảnh mới và thực hiện được ước mơ của mình Một đêm

quỳ bên cha già để nghe hết sự thực về gia đình, về cái chết của người chị gái đã giúp cha

Thư đi đến một quyết định đúng đắn, sau khi đã nhận thức được chân lí : “Đi với giáo hữu

tuân theo ý mu ốn của giáo hữu là nền tảng, là cội nguồn Cách mạng cũng từ đấy mà có,

Ngày đăng: 02/12/2015, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w