1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng nghệ thuật di cảo thơ của chế lan viên

113 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Nghệ Thuật Di Cảo Thơ Của Chế Lan Viên
Tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng
Người hướng dẫn Ts. Lê Văn Dương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 505 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những sáng tác trong Di cảo thơ trải ra gần nh suốt dọc chiều dài hành trình sáng tạo của Chế Lan Viên, gồm những bài trớc Cách mạng đến nhữngbài thơ đợc ông viết trong những ngày tháng

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi t liệu khảo sát 13

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Phơng pháp nghiên cứu 14

6 Cấu trúc luận văn 14

Chơng 1 Hành trình sáng tạo văn học của Chế Lan Viên 15

1.1 Chế Lan Viên - vài nét về tiểu sử 15

1.2 Thành tựu sáng tạo thi ca của Chế Lan Viên 19

1.2.1 Trớc Cách mạng 19

1.2.2 Sau Cách mạng 24

1.3 Chế Lan Viên với tùy bút, bút kí và phê bình văn học 40

Chơng 2 Cảm hứng và đề tài trong Di cảo thơ 43

2.1.Cảm hứng chủ đạo của Di cảo thơ 43

2.1.1 Cảm hứng giãi bày, tìm lại chính mình 46

2.1.2 Cảm hứng chiêm nghiệm về cuộc đời, sự sống, cái chết 53

2.2 Những đề tài chủ yếu trong Di cảo thơ 61

2.2.1 Nhận thức về quá khứ lịch sử dân tộc 62

2.2.2 Tình yêu 75

2.2.3 Nghĩ về thơ và nghề thơ 78

Chơng 3 Giọng điệu, ngôn từ, thể thơ trong Di cảo 92

3.1 Giọng điệu 92

3.2 Ngôn từ 98

3.2.1 Mật độ tu từ đậm đặc 99

3.2.2 Ngôn ngữ vừa tài hoa uyên bác, vừa giản dị, đời thờng 110

3.3 Thể thơ 116

3.3.1 Thơ tứ tuyệt 117

3.3.2 Thơ tự do 121

Kết luận .127

Tài liệu tham khảo 130

Trang 3

Tài năng và sự nghiệp thơ ca Chế Lan Viên đợc ơm mầm và nảy nởngay trên mảnh đất nhiều biến động dữ dội của lịch sử dân tộc ở thế kỉ XX.Con đờng thơ Chế Lan Viên trải qua nhiều chặng với những bớc ngoặt đánhdấu sự chuyển biến t tởng và những tìm tòi đổi mới nghệ thuật của nhà thơ Từ

thế giới kinh dị, thần bí của Điêu tàn trớc Cách mạng, thơ Chế Lan Viên sau

Cách mạng ngày càng bắt rễ sâu vào đời sống rộng lớn của nhân dân và đất n

-ớc Trong những năm cao trào chống Mỹ cứu nớc, thơ Chế Lan Viên nóng hổitính thời sự, giàu chất sử thi, chất anh hùng ca và chất chính luận, có vẻ đẹp trítuệ độc đáo Từ sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên lại trở về đời sống thế sự và

những trăn trở, chiêm nghiệm về cái tôi trong mối quan hệ phong phú, phức

tạp của đời sống Thơ Chế Lan Viên có phong cách độc đáo: vẻ đẹp trí tuệ,khai thác triệt để những tơng quan đối lập, giàu chất suy tởng triết lí với thếgiới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo

Hơn năm mơi năm cầm bút, Chế Lan Viên để lại một khối lợng tácphẩm đồ sộ, phong phú, đa dạng với 14 tập thơ, 6 tập văn xuôi, 8 tập phê bìnhtiểu luận, hàng ngàn trang di cảo Trong số đó có nhiều thi phẩm đặc sắc, trởthành hiện tợng thơ gây đợc sự chú ý đối với công chúng văn học, đánh dấu tàinăng của một nhà thơ tài hoa, độc đáo bậc nhất trong nền văn học Việt Nam

hiện đại, nổi bật là các tập thơ: Điêu tàn, ánh sáng và phù sa, Hoa ngày ờng, chim báo bão, Di cảo thơ Chế Lan Viên có những đóng góp lớn lao trên

th-diễn trình thơ ca dân tộc nói chung, thơ ca cách mạng nói riêng Sinh thời, ChếLan Viên đã nhận nhiều giải thởng quan trọng, cao quý xứng đáng với văn

nghiệp lớn Sau ngày ông mất, Nhà nớc đã tặng ông Giải thởng Hồ Chí Minh

về Văn học nghệ thuật năm 1996 (đợt 1) Di cảo thơ, tập 2 của ông là tác

phẩm duy nhất đợc trao giải thởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994

Nh-ng vinh dự của cuộc đời văn Nh-nghiệp Chế Lan Viên còn lớn lao hơn với nhữNh-ng

Trang 4

đánh giá, những danh xng tôn vinh hết sức cao đẹp: nhà thơ của dân tộc, nhàthơ - nhà văn hóa của thế kỷ.

1.2 Di cảo thơ (3 tập) đợc xuất bản sau khi nhà thơ qua đời dẫn ngời

đọc đến với những phát hiện thú vị mà trớc đây Chế Lan Viên cha có dịp bộc

lộ Những sáng tác trong Di cảo thơ trải ra gần nh suốt dọc chiều dài hành

trình sáng tạo của Chế Lan Viên, gồm những bài trớc Cách mạng đến nhữngbài thơ đợc ông viết trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời Tập thơ

in đậm dấu ấn tài năng, phong cách thơ Chế Lan Viên với những trăn trở, suy

t bộn bề về cuộc đời và thế sự, về mình và về nghề…, nh, nhng trên hết là tình yêucuộc đời tha thiết Cho đến phút giây cuối cùng trên cõi thế này, tình cảm ấy

vẫn trọn vẹn, chân thành và sâu sắc Nói cách khác, Di cảo thơ kết tinh t tởng,

tình cảm, tài năng, trí tuệ Chế Lan Viên, là trầm tích những chiêm nghiệm,suy t của thi nhân trớc cuộc đời và nghệ thuật Ngay sau khi xuất bản, tập thơ

đã trở thành hiện tợng trong đời sống văn học đơng đại Việt Nam, cuốn hút

đông đảo ngời đọc, là đối tợng nghiên cứu của nhiều học giả, nhà lí luận phêbình, nhà văn, nhà thơ…, nh chuyên và không chuyên Mỗi bài viết, công trìnhnghiên cứu khoa học đều đã để lại những thành tựu nhất định trên các phơngdiện, từ nội dung t tởng đến nghệ thuật, từ thể loại đến tác phẩm…, nh Đã có

nhiều ý kiến thống nhất trên nét lớn diện mạo thơ Chế Lan Viên qua Di cảo,

những đóng góp mới mẻ và đáng kể của nhà thơ trên tiến trình hiện đại hóa

thơ ca Tuy vậy, hành trình đến với Di cảo thơ cho đến hôm nay vẫn còn tiếp tục Vì lẽ đó, nghiên cứu đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ mở ra khả năng trong

việc nhận diện một cách đầy đủ, có hệ thống những yếu tố cấu thành nên giátrị của tập thơ này, đặc biệt là về t tởng, tâm hồn, tài năng, phong cách nghệthuật cũng nh những đóng góp độc đáo của Chế Lan Viên đối với nền thơ ViệtNam hiện đại

1.3 Gần nửa thế kỉ qua, thơ Chế Lan Viên đợc đa vào giảng dạy trongnhà trờng cả ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông Tuy nhiên, cho

đến nay, việc dạy và học thơ Chế Lan Viên đang gặp không ít khó khăn Điềunày có nhiều nguyên nhân, trong đó sự phong phú, phức tạp của phong cáchthơ suy tởng - triết luận, của cấu trúc ngôn ngữ thơ…, nh đã nổi lên nh một trongnhững nguyên nhân chủ yếu Từ thực tế đó, những vấn đề đặt ra trong quá

trình nghiên cứu đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ Chế Lan Viên sẽ là nguồn t

liệu tham khảo quý giá giúp ngời viết giảng dạy tốt hơn tác phẩm của ông, đápứng phần nào những yêu cầu mà thực tiễn đặt ra

Trang 5

Với lòng yêu thơ và mến mộ nhiệt thành một tài năng lớn, sự thừa hởng

ít nhiều thành quả của những ngời đi trớc, chúng tôi chọn đề tài Đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ của Chế Lan Viên

2 Lịch sử vấn đề

Lịch sử nghiên cứu Di cảo thơ Chế Lan Viên có thể kể từ khi Di cảo

(tập 1) đợc xuất bản (1992) với lời giới thiệu của Nhà xuất bản Thuận Hoá

Đến 1993, 1996, khi Di cảo (tập 2) và Di cảo (tập 3) lần lợt ra đời thì số lợng

các bài viết về hiện tợng văn học này mới thực sự rầm rộ dới các hình thức bài

đánh giá, tham luận, bình luận hoặc công trình nghiên cứu khoa học (tiểuluận, chuyên luận, khoá luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ…, nh) Có thể kể

đến các tác giả tiêu biểu: Trần Thanh Đạm, Vũ Quần Phơng, Phạm QuangTrung, Đoàn Trọng Huy, Nguyễn Bá Thành, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn QuốcKhánh, Võ Tấn Cờng, Nguyễn Diệu Linh, Hồ Thế Hà, Mai Quốc Liên, HuỳnhVăn Hoa, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Thái Sơn, Lê Lu Oanh, Nguyễn TuấnAnh, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thanh Kim, Trần Hng Nguyên, TrầnMạnh Hảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Xuân Nam, Khổng Đức, Đỗ Lai Thúy, TrầnHoài Th, Trịnh Phong…, nh và một số bài viết của bạn đọc đã và đang tiếp tục đ-

ợc giới thiệu trên các báo, tạp chí, trên các phơng tiện thông tin đại chúngkhác

Hầu hết các bài viết đều sâu sắc, thuận chiều, khẳng định vị trí, vai trò,

đóng góp to lớn của Di cảo thơ trên hành trình thi ca Việt Nam hiện đại nói

riêng, thi ca dân tộc nói chung Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu khácnhau, đối tợng khám phá và hớng tiếp cận không giống nhau nên vấn đề đặc

trng Di cảo thơ mới chỉ đợc nhìn nhận ở một số khía cạnh mang tính khái

quát, cha có tính hệ thống, cha đợc phân tích kĩ lỡng

Trong bài viết Những vần thơ triết lí của Chế Lan Viên qua những trang Di cảo, Trần Thanh Đạm tiếp tục khẳng định phong cách triết lí Chế

Lan Viên trong một giai đoạn sáng tác mới của nhà thơ Theo tác giả, triết lí

trong Di cảo thơ không phải là những gì hoàn toàn mới lạ Cái hay của những

vần thơ triết lí Chế Lan Viên lúc này là ở “giọng ung dung, thanh thản (…, nh)thấp thoáng nụ cời thiền, nụ cời trí tuệ hiền minh” [23] Sau khi phân tích, ng-

ời viết dẫn sang một luận điểm đáng chú ý: Chế Lan Viên không chỉ triết líbằng thơ mà còn triết lí về thơ, từ đó đa ra một kết luận theo hớng mở: “cần cảmột công trình nghiên cứu về vấn đề này” [23] Liên quan đến luận đề, Trần

Thanh Đạm đã bàn đến một đặc trng quan trọng trong nội dung của Di cảo thơ, đó là sự lựa chọn đề tài, là tâm t luôn thao thức, day dứt trong sáng tạo

nghệ thuật Do khuôn khổ một bài viết ngắn, vấn đề đặt ra lại quá lớn nên tác

Trang 6

giả mới chỉ dừng lại ở việc đa ra những nhận định mang tính chất khái quát,chung chung

Tác giả Đoàn Trọng Huy trong bài Chế Lan Viên - một ngọn cờ cách tân thơ ca khẳng định: cách tân thơ của Chế Lan Viên là một hành động có ý thức từ rất sớm, qua những thăng trầm, từ Điêu tàn qua thơ Cách mạng rồi đến

Di cảo thơ Trong đó, “làm mới lại nhận thức t duy nghệ thuật” [57] là vấn đề

quan trọng của cách tân mà tác giả bài viết đi sâu tìm hiểu Để lập luận củamình có chỗ dựa vững chắc, tạo sức thuyết phục cao đối với ngời đọc, Đoàn

Trọng Huy đã lấy khá nhiều dẫn chứng, trong đó có 3 tập Di cảo thơ Từ đó,

ông dẫn sang một kết luận khác cho bài viết: T duy thơ của Chế Lan Viên là tduy mở, t duy có đối thoại với khuynh hớng tự do hóa và dân chủ hóa

Cũng Đoàn Trọng Huy trong bài Đọc những trang để lại, thêm hiểu một hồn thơ Di cảo đã đề xuất một số nhận định: Di cảo thơ tiếp tục viết về cuộc

kháng chiến chống Mỹ nhng “không theo hớng khoét sâu tổn thất với nét bitráng của số phận cộng đồng hoặc cá nhân” [53] nh một số cây bút khác “ChếLan Viên đi vào hớng định giá mới” [53], chiêm nghiệm về sự hi sinh, cân lại

“giá máu”, nhớ ơn, triết lí về cảnh giác, suy nghĩ về sự sống chết…, nh Những

nhận định này đã góp phần làm nổi bật một đề tài khá quan trọng trong Di cảo thơ, đề tài viết về chiến tranh Ngoài ra, ngời viết còn gợi ý tìm hiểu Di cảo thơ trên ba mảng: tình yêu, nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…, nh và mảng thơtriết lí về cuộc đời, về cái chết…, nh

Các luận điểm mà Đoàn Trọng Huy nêu ra hầu nh đang còn ở dạng nêuvấn đề Hơn nữa, tìm hiểu hồn thơ Chế Lan Viên qua ba mảng nh đã dẫn ởtrên, ngời đọc có cảm giác tác giả bài viết đã lặp lại ý mình khi nhận định vềnhững vần thơ Chế Lan Viên viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ

Cũng theo hớng này, tác giả Nguyễn Diệu Linh có hai bài viết: Di cảo thơ và nhu cầu đợc sống trung thực với mình và Nhận thức về quá khứ trong

Di cảo thơ Chế Lan Viên Cách đặt nhan đề của hai bài viết cho thấy tác giả

mở hớng khám phá thi phẩm này trên phơng diện các đề tài chính Ngời viết

cho rằng, đó là những đề tài khá tập trung trong Di cảo thơ và chứng minh các

biểu hiện cụ thể của nó bằng hàng loạt dẫn chứng chọn lọc và tiêu biểu, từ đókết luận: thơ về mảng đề tài này tiếp nối các giai đoạn trớc và còn đi sâu hơn,

cụ thể hơn, có lí có tình hơn, chứng tỏ rằng con ngời và thơ Chế Lan Viên lànhất quán

Góp phần nhận diện Chế Lan Viên trong Di cảo qua hệ thống đề tài mà

ông lựa chọn và sử dụng, Nguyễn Quốc Khánh trong bài Di cảo thơ - hành trình tìm lại chính mình đã khám phá một Chế Lan Viên vừa quen vừa lạ, đặc

Trang 7

biệt qua những bài thơ tác giả viết về chính mình Trong bản tổng kết đờimình của Chế Lan Viên, ta bắt gặp một con ngời trung thực muốn lộn trái tâmhồn mình ra cùng bạn đọc Khuôn mặt Chế Lan Viên còn hiện diện đặc biệt rõtrong cảm hứng về nỗi đau buồn với đủ sắc thái, cung bậc Đó vừa là nỗi đau

đời, vừa đậm chất triết học

Những nhận định trong bài viết của Nguyễn Quốc Khánh không mớinhng đợc tác giả phân tích khá sâu sắc Qua bài viết này, ngời đọc hiểu thêm

một đặc trng của Di cảo thơ trên phơng diện nội dung.

Đọc hai tập Di cảo thơ, Nguyễn Bá Thành đã trình bày những cảm

nhận, suy nghĩ của mình về mối liên hệ giữa hoàn cảnh sáng tác với các giá trịcủa tập thơ Trong hoàn cảnh đặc biệt éo le, đau đớn, hành động viết của Chế

Lan Viên là “sự chống chọi với thời gian nớc xiết” (…, nh) Cảm xúc về thời gian sống là định hớng lớn cuốn hút t duy thơ Chế Lan Viên những năm cuối đời”

[101] Giữa tâm thế ấy, Chế Lan Viên “chủ động đổi giọng thơ, giờ đây là mộtgiọng thơ đơn lẻ, não nùng và có phần chua chát” [101] “Hình ảnh trong thơ

ông không còn chói lọi, rực rỡ mà mang một màu sắc ảm đạm ( ) Từ mộttiếng thơ đập bàn quát tháo, lo toan, tiếng thơ nhân danh lịch sử, nhân danhdân tộc để đối chọi với kẻ thù, thơ Chế Lan Viên giờ đây là lời độc thoại nộitâm để tự trấn an” [101] Trên những luận điểm ấy, ngời viết kết luận: nhữngnăm cuối đời, Chế Lan Viên đã đổi khá nhiều về giọng thơ, hình ảnh thơ, âm

điệu thơ và cả phơng pháp t duy Đó không phải là sự cách tân mà chủ yếu là

sự phục hồi cách cảm, cách nghĩ của nhà thơ thời Điêu tàn Kết luận sau của

Nguyễn Bá Thành cha hẳn đã hoàn toàn thuyết phục, nhng những luận điểm

đợc ông giới thiệu đã góp phần nhận diện đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ Chế

Lan Viên

Huỳnh Văn Hoa đã phản bác lại ý của Nguyễn Bá Thành khi tác giả này

cho rằng Di cảo rơi vào cái trận đồ siêu hình, do đó Chế Lan Viên đã hạ thấp thơ mình Với tiêu đề Chế Lan Viên và cái nhìn nghệ thuật trong thơ, Huỳnh

Văn Hoa bình luận: “nhận định của Nguyễn Bá Thành là cha thỏa đáng” [46]

Ông cho rằng, Chế Lan Viên nghĩ nhiều về sống - chết cũng là cách để tìm ra

lẽ sống riêng, “tự dặn mình đừng tuyệt vọng, đừng buồn” [46] Lấy một số bài

thơ tiêu biểu trong Di cảo nh Đừng ngăn cản, Cây bàng, Ai? Tôi!, Giọt buồn…, nh, tác giả bài viết đã đề cao Chế Lan Viên ở thiên chức ngời nghệ sĩ vàtấm lòng của ngời thơ Chế Lan Viên

Báo Văn nghệ số chào mừng Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V ra ngày 4 - 3 - 1995, có bài viết Chế Lan Viên và Di cảo thơ của tác giả Nguyễn

Thái Sơn Bằng thao tác so sánh, ngời viết nhấn mạnh, lịch sử văn học Việt

Trang 8

Nam từng có một đỉnh cao chót vót, ấy là Nguyễn Du với Đoạn trờng tân thanh Thơ chế Lan Viên, với độ sâu, tầm cao, tầm xa đã đạt đợc, cũng là một

đỉnh cao khắc nghiệt đối với những ai muốn vơn tới Chứng minh nhận địnhnày, Nguyễn Thái Sơn đã dùng hàng loạt luận cứ, vừa lí lẽ, vừa dẫn chứng,

trong đó có Di cảo thơ Ông viết: “Có những tình cảm, những nỗi niềm, những giá trị nhân văn và nghệ thuật mà chỉ đến khi đọc thơ Di cảo của ông ta mới

nhận ra” [96] Đây là một nhận xét tinh tế, gọn, khách quan về chất lợng nghệ

thuật của tập thơ Sau bài báo này, trên tờ Văn nghệ, số 43, tháng 5 - 1995, Phạm Quang Trung có bài viết Đọc Chế Lan Viên và Di cảo thơ nhằm trao đổi

thêm với Nguyễn Thái Sơn về một số nhận định của tác giả này để có thể đánh

giá đúng hơn, khách quan hơn thơ Di cảo của Chế Lan Viên Ông cho rằng, việc đánh giá Di cảo là không đơn giản, từ đó khẳng định một dòng thơ Chế

Lan Viên với đầy đủ diện mạo, ở đó “có một Chế Lan Viên khác mà không lạ(…, nh) vẫn là một Chế Lan Viên quen thuộc” [114] với bạn đọc bao lâu nay

Trên tạp chí Cửa Việt, số 12, ra tháng 9 - 1995, tác giả Võ Tấn Cờng đã có khá nhiều nhận xét sâu sắc về Di cảo thơ, cho đó là Di chúc - Thơ về cuộc đời

và nghệ thuật Bài viết cố gắng phát hiện sự hòa quyện cũng nh cả những mâu

thuẫn giữa ý thức công dân và ý thức nghệ thuật của Chế Lan Viên, qua đó đềcập đôi điều về số phận nghệ sĩ, trách nhiệm và sứ mạng của họ đối với thời

đại Từ những lí lẽ xác đáng và dẫn chứng chọn lọc, tiêu biểu, tác giả bài viết

đi tới kết luận: “Di cảo thơ Chế Lan Viên - di chúc thơ về cuộc đời và nghệ

thuật của ông đã gây nên những dao động về cảm xúc thẩm mỹ trong ngời

đọc Chúng ta vẫn nhận ra một Chế Lan Viên thông minh, hóm hỉnh nhng ýthức nghệ thuật của ông không còn song hành, đồng nhất với ý thức công dân

mà đã vợt lên, hớng về những triết lý nhân sinh sâu thẳm và sự sinh tồn củanhân loại” [19]

Tác giả Nguyễn Nhã Tiên trong bài viết ngắn Ngời chống chọi với thời gian đã tìm tòi, khám phá nhiều bài thơ của Chế Lan Viên trong Di cảo bằng

sự kết hợp liên hệ với hành động sáng tạo của nhà thơ ở những thời điểm ngặtnghèo trên giờng bệnh mà đa ra đánh giá: Chế Lan Viên là ngời chống chọivới thời gian - hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa hàm ẩn của cụm từ này

ở bài viết Chế Lan Viên và quan niệm thơ gắn với cuộc sống cách mạng và kháng chiến, tác giả Trần Hoài Anh đã theo dọc hành trình thơ cách mạng của Chế Lan Viên, từ sau Điêu tàn đến Di cảo Vận dụng lí thuyết tiếp

cận hệ thống, Trần Hoài Anh cho rằng, những quan niệm của Chế Lan Viên là

“một cái nhìn mới về cuộc đời với thơ”, “một cái nhìn mới về thơ với cuộc

đời” [1] Trong số những kết luận mà tác giả đề xuất, có một ý kiến đáng chú

Trang 9

ý: “Đến Di cảo thơ, quan niệm về thơ của Chế Lan Viên có sự chuyển biến

mới, đó là quan niệm thơ với cái nhìn hiện thực đa diện đa chiều” [1]

Là một trong số những ngời yêu quý con ngời và thơ ca Chế Lan Viên đếnsay mê, Vũ Quần Phơng đã có nhiều bài viết về nhà thơ này Trong bài báo

Chế Lan Viên trong Di cảo, Vũ Quần Phơng khẳng định: Đọc Di cảo, chúng

ta “đợc biết thêm một thế giới khác nữa của Chế Lan Viên Đây chính là thơ

bổ sung, thế giới bổ sung vào đời thơ Chế Lan Viên” [90], “bổ sung những

điều ông đã nói, có khi còn đính chính những quan niệm về đời, những quanniệm về thơ” [90], tự nghiêm khắc đánh giá chính mình ở một bài viết khác

có nhan đề Chế Lan Viên - một tài năng thơ lực lỡng, Vũ Quần Phơng tiếp tục khẳng định những thành công mới mẻ của Chế Lan Viên qua ba tập Di cảo Theo ông, Di cảo đợc xuất bản khiến ngời đọc sửng sốt và vui mừng ở đó có

một Chế Lan Viên “thực hơn, bạo hơn, gọn hơn, chắc hơn (…, nh) do vậy mới mẻ

hơn” [91] Gần đây nhất, trong bài viết Chế Lan Viên, Vũ Quần Phơng nhắc

lại hầu hết những nhận định trong các bài viết trớc nh là sự xác nhận chắcchắn, đáng tin cậy về những nghiên cứu khoa học, khách quan của ông, đồng

thời nhấn mạnh: Di cảo “nói nốt những điều trớc kia tự ông (Chế Lan Viên) dừng lại Dừng lại không nói chứ không phải không có nó trong lòng Di cảo

đẩy xa hơn nhng vẫn trong hớng tìm của Chế Lan Viên” [92] Từ đó, ngời viết

kết luận “Hơn bảy trăm bài thơ Di cảo là một cách dùng quy luật nghề để vợt

lên nghịch cảnh…, nh Chỉ riêng với Di cảo thôi đủ tạo dựng sự nghiệp một nhà

thơ lớn” [92]

Với Chế Lan Viên - ngời nặng ơn vị muối của đời, tác giả Phan Văn Vĩnh

khi đánh giá về thành tựu thi ca của Chế Lan Viên qua những chặng đờng thơ

đã đa ra một luận điểm khái quát và đáng chú ý: “Những gì Chế Lan Viên trăn

trở, dấn thân đợc kết tinh trong Di cảo thơ ( …) Di cảo ) Di cảo một lần nữa đa ông trởlại vị trí đặc biệt trên thi đàn đơng đại” [137]

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất của Chế Lan Viên, Hữu Thỉnh có

bài Nhớ anh Chế Lan Viên, trên tờ Văn nghệ Phần đầu bài báo, tác giả cho rằng, những gì chúng ta biết đợc cho tới lúc đó (tập Hoa trên đá) mới chỉ là một “nửa vầng trăng” “Một nửa khác, vô cùng quan trọng là ở ba tập Di cảo thơ” [107] Với ba tập này, Chế Lan Viên tiếp tục chứng tỏ khả năng to lớn

của mình: “luôn luôn đặt ngời đọc ở thế chờ đợi” [107] Phần sau bài báo,

ng-ời viết kể lại kỉ niệm của mình với nhà thơ Lê Đạt khi Hội đồng bỏ phiếu chonhững tập thơ vào vòng chung khảo Giải thởng Thơ của Hội Nhà văn năm

1994 Lê Đạt hỏi Hữu Thỉnh “Di cảo hay ở chỗ nào?” Và Hữu Thỉnh đã say

sa nói về cái quyền đợc suy tởng và khả năng suy tởng của Chế Lan Viên

Trang 10

“Chúng ta lời biếng và cả tin, luôn bằng lòng với công việc cày vỡ trên cánh

đồng thơ…, nh Anh Chế không thế Di cảo nói rằng, việc đời không đơn giản.

Cuộc sống không đơn giản Đối với thơ thì chẳng có gì gọi là xong cả Nào cóphải là chuyện trói hay không trói Mà là tài năng Mà là bản lĩnh” [107].Hàng loạt những lí lẽ sắc sảo của Hữu Thỉnh đã thuyết phục Lê Đạt và Hội

đồng nghệ thuật Kết quả, Di cảo, tập 2 nhiều hơn tập thơ kia hai phiếu, giành

Giải thởng Thơ của Hội Nhà văn năm ấy

Theo hớng khác, trong chuyên luận Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, tác giả Hồ Thế Hà đi sâu vào quan niệm nghệ thuật thơ Chế Lan Viên,

tính triết lí sâu sắc, không gian - thời gian nghệ thuật, phơng thức thể hiện, thểloại thơ…, nh ở chuyên luận này, ngời viết đã sử dụng phơng pháp và công cụthích hợp để tìm kiếm, phát hiện, có khả năng đi sâu vào đặc trng thơ Chế Lan

Viên nói chung, ba tập Di cảo nói riêng Trên cơ sở khảo sát kĩ lỡng các tập thơ của Chế Lan Viên, từ Điêu tàn đến Di cảo thơ, công trình đã nhận diện

những đặc trng nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên Những đặctrng này có sự kế thừa, phát triển và thống nhất của một phong cách thơ độc

đáo Chuyên luận khảo sát toàn bộ di sản thơ Chế Lan Viên đã đợc xuất bản,

trong đó Di cảo đợc sử dụng khá nhiều bởi nó là một đỉnh cao của đời thơ Chế

Lan Viên Những kết luận của tác giả về tính truyền thống và hiện đại của tứtuyệt Chế Lan Viên, về sự kế thừa và phát triển của thơ tự do lên đến trình độ

điển hình cho sự sáng tạo thể loại…, nh của thơ Chế Lan Viên nói chung, của Di cảo nói riêng là có lí, hợp lí, khoa học và có sức thuyết phục.

Tìm hiểu Di cảo thơ theo hớng thi pháp thể loại, Nguyễn Quốc Khánh trong bài viết Tính hiện đại trong thơ tứ tuyệt Chế Lan Viên có nhận định: Tứ

tuyệt của Chế Lan Viên chủ yếu lấy cảm hứng từ đời thờng, từ cá nhân vàmang đầy nỗi niềm suy t trăn trở về đời, về thơ, về mình “Thơ tứ tuyệt ChếLan Viên mở rộng trên mọi hớng về đề tài để đủ sức ôm trùm, bao quát đờisống muôn mặt (…, nh) Tính hiện đại của tứ tuyệt Chế Lan Viên là đa cái tôi cánhân vào thơ, cá thể hóa lời nói và giọng điệu thơ, ở các phơng tiện biểu hiện

nh hệ thống hình ảnh, kết cấu, ngôn ngữ…, nh” [64] Qua đó, ngời viết khẳng

định thi tài Chế Lan Viên khó nhà thơ hiện đại nào sánh kịp ở thể loại đợc coi

là “bé hạt tiêu” này Trong khuôn khổ một bài viết muốn ôm trùm toàn bộ thơ

tứ tuyệt Chế Lan Viên, Di cảo thơ chỉ đợc điểm qua ở một vài tác phẩm tiêu

biểu Song những kết luận của Nguyễn Quốc Khánh về thơ tứ tuyệt Chế Lan

Viên nói chung, thơ tứ tuyệt trong Di cảo nói riêng mở ra một hớng nghiên cứu phục vụ cho luận văn, đó là tìm hiểu thể thơ của Di cảo trong mối liên hệ

với đề tài, giọng điệu, ngôn ngữ…, nh

Trang 11

Từ góc độ ngôn ngữ học, Ngô Văn Huỳnh trong công trình Đặc điểm ngôn ngữ Chế Lan Viên qua Di cảo thơ, Nguyễn Thị Bích Hằng trong So sánh

tu từ trong Di cảo thơ Chế Lan Viên đã khám phá vẻ đẹp ngôn từ, các thủ

pháp nghệ thuật Chế Lan Viên a sử dụng, đặc biệt là thủ pháp so sánh Trên cơ

sở đó, các tác giả góp phần đa ra một cái nhìn hệ thống về ngôn ngữ Di cảo thơ, giải quyết đợc phần nào những khó khăn của ngời đọc khi đối diện với hệ

thống cấu trúc ngôn ngữ phong phú, phức tạp của phong cách thơ suy tởngChế Lan Viên

Theo hớng phân tích, giảng bình tác phẩm, có thể kể đến bài viết của

Phạm Xuân Nguyên với Chế Lan Viên - ngời đi tìm mặt Tác giả này đã phân tích một cách ngắn gọn, tinh tế bài thơ Tháp Bay - on bốn mặt, từ đó khẳng

định đây là bài thơ mà Chế Lan Viên thể hiện sự chối bỏ quyết liệt nhất để

đ-ợc hiện diện đúng khuôn mặt của mình Quan điểm của ngời viết cho rằng,

cùng với bài thơ này và rất nhiều bài thơ khác trong Di cảo, Chế Lan Viên

d-ờng nh quá thông minh khi tiên lợng hậu thế có thể hiểu sai mình, nên đãthành thật hiện diện bốn mặt tháp của mình, còn xấu tốt thế nào là phán xétcủa mai hậu

Tác giả Nguyễn Thanh Kim có lời bình về bài thơ Mặt rỗ, coi đó là một

phát ngôn sâu sắc của Chế Lan Viên về mối quan hệ của ngời nghệ sĩ với con

đờng thi ca Nhà thơ tự ví mình và cả thơ mình nữa với Trơng Chi, xấu xí, vôvọng, lạc lõng trong thời đại mới, lúc con ngời đã chơi tầm vĩ mô chứ thiết gì

đến vi mô (những khả năng vi tế trong tâm hồn con ngời) Nhng ông vẫn tin ởmột cá thể trong cộng đồng ngời nh là “di truyền của cái đẹp” vợt qua khônggian, thời gian…, nh nghe đợc tất thì dù cô đơn đến mấy, vô vọng đến mấy, nhàthơ vẫn tự tin ở mình

Trong cuốn Chế Lan Viên giữa chúng ta do Lê Quang Trang và La Yên biên soạn, Phạm Quang Trung có bài viết Về bài thơ Ai? Tôi! Không theo h-

ớng phân tích chi tiết cái hay cái đẹp của bài thơ mà giảng bình từ trên đại thể,tác giả này cho rằng, bài thơ thật sự gây nhiều tranh luận, “nhiều ngời có cớhiểu anh, lại có ngời nhân dịp này hoài nghi anh” [113] Ngời hoài nghi thìcho rằng Chế Lan Viên là ngời hai mặt trong đời và trong thơ, ông bị ngời tabiến thành con rối của thời thế Họ vẽ chân dung ông thành con ngoáo ộp củavăn nghệ chuyên bắt nạt, sát phạt anh em Ngời bênh vực ông thì chẳng nỡtrách ngời đã cúc cung tận tụy cho lý tởng Đứng về phía thứ hai, Phạm Quang

Trung khẳng định bài thơ Ai? Tôi! có sự phản tỉnh, sám hối của Chế Lan Viên.

Đó còn là sự tự phủ nhận chân thành

Trang 12

Cũng lấy bài thơ này làm một trong những đối tợng phân tích, Trần Hng

Nguyên viết Chế Lan Viên tỉnh mộng Từ nội dung bài thơ, ngời viết dắt dẫn

sang nhiều vấn đề nhạy cảm trong quá trình tiếp nhận một số bài thơ di cảokhác của Chế Lan Viên Ông tự hỏi, tại sao một nhà thơ tự nguyện từ bỏ bản

chất thi sĩ lãng mạn, ngang ngạnh để viết về cái Ta, về cái chung bây giờ lại

trở về hoài nghi sự lựa chọn của chính mình? Lí giải điều này, Trần HngNguyên cho rằng, Chế Lan Viên tỉnh mộng nên cuối đời âm thầm làm nhữngbài thơ hối tiếc cho cái dại của mình mà đến lúc chết muốn đợc yên dới mồcũng chả đợc

Đáp lại bài viết của Trần Hng Nguyên, với Chế Lan Viên trong hồi quang kí ức, tác giả Đông La cho rằng Trần Hng Nguyên chống chế độ nên đã

coi một số bài thơ của Chế Lan Viên là chống Đảng, chống nhà nớc Bênh vựcnhiệt thành, Đông La khẳng định: Chế Lan Viên viết vì “một sứ mệnh lớn lao,

mang tính nhân bản nhân văn và vì sự tiến bộ loài ngời nói chung” [66] “Ai? Tôi! và nhiều bài thơ khác giúp ta thấy yêu mến ông trọn vẹn hơn, thấy ông

ợc xem nh là một sự tiếp nối trong mạch t duy thơ của Chế Lan Viên; xem con

đờng nghệ thuật của Chế Lan Viên nh một vòng tròn khép kín, đi từ cái tôi

đến cái ta và cuối cùng lại trở về cái tôi Tiêu biểu: Trần Mạnh Hảo, Võ Tấn

Cờng, Phạm Quang Trung, Vũ Tuấn Anh, Đỗ Lai Thúy, Võ Văn Luyến, TrầnHoài Th, Trịnh Phong,…, nh

Chúng tôi xin kết lại lịch sử nghiên cứu vấn đề bằng một ý quan trọng

đợc trích từ thông báo về Giải thởng Hội Nhà văn Việt Nam ngày 25/ 9/ 1994:

Di cảo thơ đã “tạo nên một giá trị tổng thể vợt trội của tập thơ trong năm

1993, nói lên tính nhất quán trong toàn bộ sự nghiệp của nhà thơ lớn Chế LanViên Do đó, nó cần đợc đánh dấu bằng giải thởng Hội Nhà văn năm 1994trong khi cha có giải thởng Quốc gia”

Điểm lại lịch sử nghiên cứu Di cảo thơ Chế Lan Viên, chúng tôi có một

vài nhận xét nh sau:

- Các nhà nghiên cứu, phê bình đã tiếp cận Di cảo thơ dới nhiều góc độ:

tác phẩm, thể loại, ngôn ngữ học, thi pháp học…, nh theo các hớng phân tích,

phẩm bình tác phẩm, giới thiệu phê bình một vài hoặc cả ba tập Di cảo thơ,

phơng pháp dựng chân dung tinh thần tác giả…, nh

Trang 13

- Các công trình, bài viết đã có những luận điểm quan trọng, khái quát

về Di cảo thơ Chế Lan Viên Một số công trình có những khám phá mới mẻ,

sâu sắc, thuyết phục Đó là những t liệu rất quan trọng để chúng tôi tham khảo

trong quá trình tiến hành đề tài Đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ Chế Lan Viên.

- Nhiều vấn đề về Di cảo thơ đợc đặt ra và tiếp cận theo nhiều hớng khác nhau Tuy nhiên, vì những lí do khác nhau, đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ Chế Lan Viên cha đợc nghiên cứu với t cách là một đối tợng độc lập Do

đó, vấn đề cha đợc trình bày một cách có hệ thống, cha đợc soi sáng về phơngdiện lí luận Đây là điều mà chúng tôi muốn thực hiện trong luận văn này

3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi t liệu khảo sát

Lấy đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ Chế Lan Viên làm đối tợng nghiên cứu, luận văn chúng tôi tập trung khảo sát cuốn Di cảo thơ của Chế Lan Viên

do Nhà xuất bản Thuận Hoá ấn hành, tập 1 năm 1992, tập 2 năm 1993, tập 3

năm 1996 Ngoài ra, luận văn còn khảo sát các tập thơ khác và các tập tiểuluận, phê bình để có cái nhìn hệ thống và toàn diện về văn nghiệp Chế Lan

Viên nói chung, Di cảo thơ nói riêng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu đặc trng nghệ thuật Di cảo thơ Chế Lan Viên, luận văn tập

trung chỉ ra những phơng diện nổi trội làm thành các giá trị nội dung t tởng vàphơng thức biểu hiện của thơ Chế Lan Viên, từ đó cung cấp thêm một cách

nhìn nhận, khám phá, góp phần đánh giá đầy đủ hơn, hệ thống hơn về Di cảo

trong trờng phong cách Chế Lan Viên cũng nh ghi nhận những đóng góp tolớn của ông đối với thơ ca Việt Nam hiện đại

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận văn đợc triển khai trong ba chơng:

Chơng 1 Hành trình sáng tạo văn học của Chế Lan Viên

Chơng 2 Cảm hứng và đề tài trong Di cảo thơ

Chơng 3 Giọng điệu, ngôn từ, thể thơ trong Di cảo.

Trang 15

Chơng 1 Hành trình sáng tạo văn học của Chế Lan Viên

1.1 Chế Lan Viên - vài nét về tiểu sử

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 tháng 10 năm

1920 (tức ngày 12 tháng 9 năm Canh Thân) trong một gia đình viên chứcnghèo, không có ai làm thơ Ông chào đời ở Diễn Châu, Nghệ An, nhng quêgốc ở xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị Năm 1927, gia đình chuyểnvào An Nhơn, Bình Định Ông coi Quy Nhơn - Bình Định là quê hơng thứ haivì suốt thời trẻ ông sống, đi học và bắt đầu làm thơ ở đấy Vùng đất này đã đểlại những ấn tợng thật sâu đậm trong tâm trí của ngời thiếu niên giàu trí tởngtợng Chế Lan Viên Thành Bình Định chính là Đồ Bàn, kinh đô của vơng quốcChiêm Thành xa xa Tuy đã tiêu trầm, nhng quốc gia phong kiến từng có thờirực rỡ huy hoàng ấy vẫn còn để lại nhiều dấu tích: những ngọn tháp, nhữngbãi tha ma hoang vắng, những câu chuyện về ma Hời đầy bí ẩn và cả trongkhúc hát Nam Ai, Nam Bình cũng chứa chất niềm cảm thông của ngời Việtdành cho nỗi đau buồn của một dân tộc bị tàn vong Tâm hồn đa cảm, giàu t -ởng tợng của cậu thiếu niên Chế Lan Viên chắc chắn đã tìm đợc sự đồng cảm

đặc biệt từ số phận đất nớc, nhân dân Chàm Nhà nghèo, sớm mồ côi cha, ChếLan Viên “bẩm sinh hay buồn” (lời Phạm Hổ) Mang tâm sự của ngời dân mấtnớc, bản tính lại ít giao du, thích cô độc, Chế Lan Viên thuở ấy thờng hayquanh quẩn bên những ngọn tháp Chàm hoang vắng Ông đã tìm thấy cảm

hứng “Điêu tàn” từ chính những ngọn tháp này chăng? Nhà thơ Nguyễn Vỹ

nhận xét: “Trong câu chuyện tâm sự, tôi thấy rõ Chế Lan Viên bị ảnh hởnghoàn toàn bởi những ngọn tháp Chàm ở rải rác khắp Bình Định, ở ngay tỉnh lỵBình Định, gần Quy Nhơn, chứng tích của một nền văn minh cổ kính vừa sụp

đổ Nếu Chế Lan Viên không phải là dòng dõi ngời Chàm thì Chế Lan Viêncũng là sản phẩm của những điêu tàn bi hận mà lịch sử vẻ vang của dân tộcChàm còn để lại trên đất nớc thung lũng Po - Nagai” [138, 132]

Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi - thời kì đang sống ở huyện lị

An Nhơn Có thơ, truyện ngắn đăng trên các báo Tiếng trẻ, Khuyến học, Phong hoá từ những năm 1935 - 1936 Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay: Điêu tàn Thời gian ở Bình Định, ông cùng nhóm thơ với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn, đợc gọi là Bàn Thành

tứ hữu - nhóm thơ nổi tiếng và tạo đợc dấu ấn độc đáo cho Thơ mới đơng thời,

trong đó Chế Lan Viên là ngời trẻ nhất và là ngời có nhiều triển vọng nhất

Với Chế Lan Viên nói riêng, nhóm thơ Bàn Thành tứ hữu nói chung, ảnh hởng

Trang 16

của văn hoá Chàm đã chi phối đến chiều sâu quan niệm thẩm mĩ Cùng với

Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên sáng lập trờng thơ Loạn mà trong tuyên ngôn của

trờng thơ này, ngời đọc sẽ thấy rõ dấu ấn của thơ Tợng trng Pháp Lời đề tựa

cho tập thơ Điêu tàn cũng đợc coi là tuyên ngôn của trờng thơ này

Năm 1939, Chế Lan Viên ra học tại Hà Nội, sau vào Sài Gòn làm báo,rồi ra Thanh Hoá, quay về Huế dạy học Năm 1942, ông cho ra đời tập văn

Vàng sao và sau đó viết tập bút kí triết luận Gai lửa Nhng rồi mọi con đờng

kiếm tìm của nhà thơ đều rơi vào bế tắc trớc tình hình đất nớc lúc bấy giờ ChếLan Viên lạc vào các triết học duy tâm và các tôn giáo siêu hình Đó thực làmột cơn mơ khó tỉnh, nh sau này ông nhìn lại:

Tôi ở đâu? Đi đâu? Tôi đã làm gì?

Đời thấp thoáng sau những trang sách Phật

Đất nớc đau dới gót bầy ngựa Nhật

Lạc giữa sao trời, tôi vẫn còn mê…) Di cảo

(Ngời thay đổi đời tôi, Ngời thay đổi thơ tôi) Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã giải thoát cho ông khỏi những bếtắc Ông dần dần tìm lại đợc ý nghĩa đích thực cho cuộc đời mình Nếu thuở

viết Điêu tàn, ông đã tin một cách thành thực và đau đớn rằng, mình cùng

chung số phận với dân tộc Chiêm Thành, thì giờ đây, ông cũng hết sức chânthành trong niềm tin mới: “May thay cách mạng đã đến Từ trên cao lồng lộnggió siêu hình, bọn chúng tôi (…, nh) rơi tõm xuống đất Cái đất thực của đời, ở đó

ta nghe cái gió thực của đời Hái các trái thực của đời không kém phần huyềndiệu Chính bàn tay ta làm cho các trái ấy tợng hình” [129, 79]

Chế Lan Viên hăng hái tham gia phong trào Việt Minh ở thị xã QuyNhơn, sau ra Huế tham gia Đoàn Xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lu Trọng

L, Đào Duy Anh…, nh, làm báo Quyết thắng của Việt Minh ở Huế Trong kháng

chiến chống Pháp, ông hoạt động văn nghệ, viết bài và làm biên tập cho các

báo Cứu quốc, Kháng chiến tại Trung Bộ, tham gia hai chuyến đi vào vùng

chiến trờng ác liệt Bình - Trị - Thiên Tháng 7 năm 1949, ông đợc kết nạp

Đảng Cộng sản Đông Dơng trong chiến dịch Tà Cơn, đờng Chín (Quảng Trị).Những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác trong thời kì kháng chiến đợc tập hợp

trong tập thơ Gửi các anh (in năm 1955) thể hiện sự chuyển biến quan trọng

trong t tởng và hồn thơ ông sau Cách mạng

Sau 1954, Chế Lan Viên ra Hà Nội tham gia ban lãnh đạo Hội Nhà văn

Việt Nam, làm việc ở báo Văn học Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác

ở Phòng Văn nghệ, Ban Tuyên huấn Trung ơng, đến cuối năm 1958 trở lại làm

biên tập tuần báo Văn học (sau này là báo Văn nghệ) Từ năm 1963 ông là ủy

Trang 17

viên thờng vụ Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên Ban th kí Hội Nhà văn ViệtNam Ông cũng từng làm việc ở ủy ban Văn hoá đối ngoại, nhiều lần là sứ giảcủa văn hoá Việt Nam tham gia hoạt động trên các diễn đàn văn hoá quốc tế ởLiên Xô (cũ), Pháp, ấn Độ, Nam T (cũ), Na Uy, Thụy Điển…, nh Ông là đại biểuQuốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà liên tục các khoá IV, V, VI, VII, ủyviên Ban Văn hoá - Giáo dục của Quốc hội.

Năm 1960, tập thơ ánh sáng và phù sa đợc xuất bản, đánh dấu bớc

phát triển mới của thơ Chế Lan Viên Bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ

cứu nớc, thơ Chế Lan Viên đạt đợc nhiều thành tựu mới với các tập Hoa ngày thờng, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới

(1973) mang đậm tính chính luận, sử thi bên cạnh chất trữ tình đằm thắm củacuộc sống đời thờng

Sau ngày đất nớc giải phóng, Chế Lan Viên chuyển vào sống tại thành

phố Hồ Chí Minh và tiếp tục cho ra đời các tập thơ Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986).

Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi đặc sắc với các tập bút kí Vàng sao (1942), Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1966), Giờ của

số thành (1977)…, nh Các tập tiểu luận - phê bình văn học của ông cũng gâytiếng vang rộng rãi và có tác động tích cực vào đời sống văn học đơng thời:

Nói chuyện văn thơ (1960), Suy nghĩ và bình luận (1971), Bay theo đờng dân tộc đang bay (1977), Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân (1981), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982), Ngoại vi thơ (1987)

Ngoài bút danh nổi tiếng Chế Lan Viên, ông còn kí bút danh Thạch Hãn(tên một con sông ở tỉnh Quảng Trị, quê ông) Từ năm 1959 đến năm 1963,

trong thời gian làm biên tập báo Văn học, phụ trách chuyên mục Nói chuyện văn thơ, trả lời bạn đọc, ông kí bút danh Chàng Văn Trong mục “Nụ cời xuân” trên báo Văn học, Chế Lan Viên có hai bài viết ngắn là Ngô bói Kiều và

Lí luận Đờ Gôn kí tên Oah (tức Hoan).

Chế Lan Viên mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm

Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất Lễ truy điệu và hoả táng đợc tổ chức vàongày 26 tháng 6 năm 1989

Sau khi ông mất, những bài thơ di cảo của ông đợc nhà văn Vũ Thị

Th-ờng - vợ nhà thơ - su tầm, tuyển chọn và xuất bản: Di cảo thơ, tập 1 in năm

1992, Di cảo thơ, tập 2 in năm 1993, Di cảo thơ, tập 3 in năm 1996 Nhiều bài

thơ để lại của Chế Lan Viên còn tiếp tục đợc su tầm, tập hợp Năm 1994, Hội

Nhà văn Việt Nam trao giải thởng chính thức cho Di cảo thơ, tập 2 của ông.

Trang 18

Chế Lan Viên là một nhà thơ gắn bó Đời và Thơ mình với Dân tộc và sựnghiệp Cách mạng, đồng thời luôn thể hiện những khát khao sáng tạo của mộtbản lĩnh, một tâm hồn thi sĩ Sáng tác của Chế Lan Viên cùng những hoạt

động văn hoá phong phú của ông đã có tác động tích cực và ảnh hởng rộng rãitrong đời sống văn học Việt Nam hiện đại, xứng đáng là nhà thơ tầm cỡ khôngchỉ tiêu biểu cho dân tộc ta mà tài danh còn vang xa mãi tới nhiều dân tộctrong nhiều thế kỷ

1.2 Thành tựu sáng tạo thi ca của Chế Lan Viên

Tính đến nay, Chế Lan Viên đã có 14 tập thơ đợc công bố với tổng số

1025 bài, trong đó có 569 bài thuộc về Di cảo Trớc Cách mạng tháng Tám, ngoài một tập thơ không đặt tên (tập thơ Không tên), ngời đọc chỉ chính thức biết đến tập Điêu tàn Bớc chuyển của Chế Lan Viên sau Cách mạng tháng Tám thể hiện qua một tập thơ không mấy thành công là Gửi các anh, rồi đạt tới độ chín thật sự với tập ánh sáng và phù sa Chặng đờng thơ chống Mỹ,

Chế Lan Viên đạt tới đỉnh cao của phong cách thơ chính luận - triết lí với các

tập Hoa ngày thờng, Chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới Phơng hớng ấy đợc tiếp tục ở một số tập thơ xuất bản sau năm 1975: Hoa trớc lăng Ngời, Hái theo mùa, Hoa trên đá, Ta gửi cho mình Từ cảm hứng chính

luận, thơ Chế Lan Viên chuyển dần sang triết luận Sau khi nhà thơ qua đời

(1989), ba tập Di cảo thơ của ông lần lợt đợc công bố Trong số 569 bài thơ di

cảo đến tay bạn đọc, có 309 bài đợc Chế Lan Viên viết vào hai năm 1987,

1988 Đây là căn cứ quan trọng để chúng ta khẳng định, khoảng thời gian

ngắn ngủi này có ý nghĩa đặc biệt trong đời thơ của ông Di cảo thơ làm bất

ngờ ngay với những ngời thân của ông “Có những tình cảm, những nỗi niềm,

những giá trị nhân văn và nghệ thuật mà chỉ đến khi đọc Di cảo thơ của ông ta

mới phát hiện ra” [96]

1.2.1 Trớc Cách mạng

Điêu tàn (1937) gồm 36 bài thơ đợc sáng tác khi Chế Lan Viên mới 16,

17 tuổi, đang là học sinh trung học ở Quy Nhơn Giữa lúc phong trào Thơ mới

đang ở giai đoạn cực thịnh thì tác phẩm “đột ngột xuất bản ra giữa làng thơ

nh một niềm kinh dị” [99, 219] Đó là tập thơ có chủ đề đặc biệt, cấu trúc độc

đáo Vào lúc nổi danh, tác giả còn là chàng trai - theo quan niệm của các bậccha chú - đang tuổi “ăn cha no, lo cha tới” Lẽ ra, chàng thi sĩ họ Chế ấy đang

vẽ tơng lai mình ở một trờng lớp chuyên nghiệp nào đó, hoặc ít ra, cần đợc vũtrang lí luận của chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử, phải có thời gian sống,chiêm nghiệm thế thái nhân tình, đào bới, quằn quại suy t mới viết đợc nhữngvần thơ làm ngời đọc “sốc” trớc đau thơng của cả một thời đại, một dân tộc,

Trang 19

một quốc gia - hoàn toàn xa lạ với chính Phan Ngọc Hoan - giờ đây chỉ còn làhoang phế

Đọc Điêu tàn, dới cái tựa “viết ở tháp Đồ Bàn một đêm thu đầy trăng”,

ngời đọc trải qua một loạt cảm xúc, từ bỡ ngỡ, đến choáng ngợp, kinh hoàng:Thi sĩ họ Chế đã dựng dậy những hồn ma sống động nh những con ngời thật,

đi lại, vật vờ xung quanh đống đổ nát của đền đài, cất tiếng than khóc cho sốphận nghiệt ngã của dân tộc mình Chế Lan Viên đã nhập hồn, hoá cốt vàodân tộc Hời rồi bớc lên thi đàn Việt Nam nh một biểu tợng mới của dòng thơcách tân hồi nửa đầu thế kỉ XX

Điêu tàn đã dựng lên một thế giới riêng, một thế giới “đầy sọ dừa,

x-ơng máu cùng yêu ma” Khai thác đề tài về sự tàn vong của vx-ơng quốc ChiêmThành xa, Chế Lan Viên tạo nên trong thơ một không gian của những bãi tha

ma, những ngọn tháp Chàm hoang tàn và bí mật, những nấm mồ hiện ra trongbóng đêm dày đặc hoặc ánh trăng lạnh lẽo Trên cái nền cảnh ấy hiện về hình

ảnh vật vờ của những hồn ma, những nhánh xơng khô và thấp thoáng bóngdáng h ảo của các Chiêm nữ Đi tìm cái thực trong cái h ảo, chối từ thực tại

bằng cách ngợi ca nỗi đau buồn, cái chết và h vô, Điêu tàn là một phản ứng

tiêu cực trớc hoàn cảnh sống tẻ nhạt, tầm thờng, bất nh ý:

Ta nhắm mắt mặc yên cho hiện tại

Biến dần ra dĩ vãng ở trên mi

( …) Di cảo ) Cho từng sóng quỷ ma từng hiển hiện

Cho lời kêu, tiếng rú bật vang tai

Cho lăn lóc hồn mê trong ảo huyễn

Lãng quên đi giây phút cảnh trần ai!

(Tạo lập)

Trong lời tựa Điêu tàn, Chế Lan Viên viết: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ

tức là điên Tôi thêm: làm thơ là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là ngời

Nó là Ngời Mơ, Ngời Say, Ngời Điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, làYêu Nó thoát hiện tại…, nh Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cời Cái gì của nó cũngtột cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cời tràn racả tủy là tủy Thế mà có ngời tự cho là hiểu đợc nó rồi đem nó so sánh với Ng-

ời…, nh” Đó là tuyên ngôn của Điêu tàn, cũng là tuyên ngôn của trờng thơ Loạn

lúc bấy giờ ở đó hiện diện một “cái tôi” Chế Lan Viên rất đặc biệt Cái tôi ấy

ý thức về mình nh một chủng loại siêu việt, có thiên chức thiêng liêng, nó phảicảm thụ thế giới khác nhân loại bình thờng Ngời ta sống với hiện tại thì nósống bằng dĩ vãng Ngời ta gửi niềm tin vào tơng lai thì nó gửi vào cái chết.Cái tôi ấy thuộc về thế giới của siêu thực, phi thờng Chế Lan Viên đã dựng

Trang 20

dậy cả quá khứ của vơng quốc Chiêm Thành, lấy những bức tranh rực rỡ, huyhoàng thủa xa xa mà đối lập với cảnh điêu tàn hiện tại:

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng

Những đền đài tuyệt mĩ dới trời xanh

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi

Những Đền xa đổ nát dới thời gian

ấy, Chế Lan Viên dẫn ngời đọc lạc vào xứ của những bãi tha ma, huyệt mộ,

đầu lâu, xơng tàn, máu, não, của “các cô hồn lặng ngắm cõi h vô”…, nh Khônggian là trăng mờ, bóng tối, đêm đen…, nh khiến ngời cứng bóng vía nhất cũngphải rùng mình ớn lạnh:

Có ai rên rỉ ngoài thôn lạnh

Nh tiếng xơng ngời rên rỉ khô

(Mơ trăng)

Ta hãy nghe trong mồ sâu lạnh lẽo

Tiếng thịt ngời nảy nở, tiếng xơng rên

Ta hãy nghe mơ màng trong cỏ héo

Tiếng cô hồn lặng thở khí trời đêm

(Bóng tối)

Thơng khóc nớc non Chàm, sẻ chia tâm sự với những hồn Chiêm nữ,Chế Lan Viên nh tìm đợc sự đồng cảm với số phận một dân tộc mà tổ quốc đã

mất Điêu tàn ít nhiều ẩn chứa tâm sự đau buồn của ngời dân mất nớc:

Chiêm nơng ơi, cời lên đi em hỡi

Cho lòng anh quên hết phút buồn lo!

Nhìn chi em chân trời xa vời vợi?

Trang 21

Nhớ chi em sầu hận nớc Chàm ta?

(Đêm tàn)

Nếu thơ là tiếng lòng cảm thông đồng điệu, thì Điêu tàn quả đã mở ra

một khả năng cảm thông thật độc đáo “Dẫu không phải là ngời họ Chế, Chế

Lan Viên vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành” nh các tác giả Thi nhân Việt Nam

nhận xét Đây cũng là một giá trị nhân văn cần ghi nhận Nhờ khả năng này

mà sự lựa chọn nghệ thuật của ông không hoàn toàn rơi vào “duy mĩ” Ngời

đọc tin những lời mà mời lăm năm sau ông sẽ giãi bày ở ánh sáng và phù sa:

Lòng ta là một cánh đồng lẩn khuất

Đau bên Đoài nên gió thổi bên Đông

Tất cả các gơng mặt Thơ mới đều buồn, mọi ngả đờng thoát li của cái tôi Thơ mới đều bế tắc, nhng so với các nhà thơ mới lớp đầu nh Thế Lữ, Lu

Trọng L…, nh thì Chế Lan Viên trong Điêu tàn là nỗi buồn chán, tuyệt vọng nhất:

Trời hỡi trời, hôm nay ta chán hết

Những sắc màu, hình ảnh của trần gian

(Tạo lập)

Ông chối từ thực tại bằng thái độ quyết liệt, gay gắt nhất:

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu?

Đem chi xuân đến gợi thêm sầu

Với tôi tất cả nh vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau

Ai đâu trở lại mùa thu trớc

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng

Với của hoa tơi muôn cánh rã

Về đây đem chắn nẻo xuân sang

(Xuân)

Sự chán nản, thất vọng là tâm trạng chung của lớp thanh niên trí thức

đ-ơng thời và đó là bằng chứng tố cáo xã hội bóp nghẹt con ngời, không cho conngời tìm thấy ý nghĩa của sự sống Tạo ra một thế giới khác để đối lập với thếgiới thực tại cũng là một cách để phủ định xã hội đơng thời Hơn nữa, thế giới

ảo còn là phơng tiện để nhà thơ trình bày “cái tôi” mang màu sắc cô đơn triếthọc của mình Cô đơn trớc đồng loại, con ngời trốn vào mộng tởng, vào vũ trụ,vào quá khứ và vào ngay bản thể mình Nhng chẳng cuộc trốn chạy nào thànhcả Nó gào lên bất lực:

Ôi biết làm sao cho ta thoát khỏi

Ngoài cõi ta ngập chìm trong bóng tối

Trang 22

Cho linh hồn vụt đến xứ Trăng Mây

Mà sáp nhập vào tuổi tên cây cỏ

(Cõi ta)

Điêu tàn đầy những dự cảm hãi hùng, rợn ngợp của con ngời thấy mình

đơn độc trên con đờng vô tận: Đ “ ờng về thu trớc xa lắm lắm/ Mà kẻ đi về chỉ một tôi” Nó càng hoang mang vì không hiểu nổi chính sự tồn tại của nó: “Ta

đứng trớc cõi ta không hiểu thấu”, “Ai bảo giùm: ta có, có ta không?”…, nh Với

Điêu tàn, sự khủng hoảng của “cái tôi” Thơ mới đã bắt đầu

Nhìn kỹ, cũng có thể thấy tâm hồn nhà thơ trẻ tuổi cha hoàn toàn khépkín trớc vẻ đẹp thiên nhiên, tạo vật Khi đối lập cái buồn đau với cái tơi vui,Chế Lan Viên vô tình để lộ niềm lu luyến “quay mặt chẳng quay lòng” trớc

những vẻ đẹp rạng rỡ buổi xuân về: “Hàng dừa cao say sa ôm bóng ngủ/ Vài quả non khảm bạc hớ hênh phô/ Xoan vờn cành khều mặt trời rực rỡ/ Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu” (Xuân về), hay vẻ thanh bình của một lần thu

đến: “Nến lau bừng sáng núi lau xanh/ Bớm vàng nhè nhẹ bay ngang bóng/ Những bóng tre cao rũ trớc cành” (Thu).

ở những bài cuối tập Điêu tàn, Chế Lan Viên hớng cảm hứng sang triếtluận, suy tởng về cuộc đời bằng cảm xúc tôn giáo - một bớc lạc xa hơn nữa

vào siêu hình Tuy nhiên, từ góc độ sáng tạo nghệ thuật, phải nói rằng Điêu tàn đã phát lộ một hồn thơ mãnh liệt, chứa đựng một nội lực thi ca đáng khâm

phục Những hình ảnh kinh dị gây ám ảnh lạ lùng là sản phẩm của trí tởng ợng bay bổng, phong phú, sức liên tởng dồi dào, phóng túng Khả năng suy t-ởng đem lại sức khái quát cho ý tởng, kết hợp với những phơng thức biểu hiệnhết sức linh hoạt, biến hoá bất ngờ là phẩm chất quan trọng của t duy thơ Chế

t-Lan Viên: “A, cũng còn vài đêm u ám/ Đang điên cuồng giãy giụa giữa vùng trăng” …, nh Điêu tàn báo hiệu sự hình thành của một phong cách thơ mới lạ, hấp

dẫn

1.2.2 Sau Cách mạng

Cách mạng tháng Tám thành công, đất nớc bớc vào chặng đờng lịch sử

mới, Chế Lan Viên cũng nh hầu hết các nhà thơ lãng mạn của phong trào Thơ mới bớc vào chặng sáng tác mới: tự nguyện biến thơ mình thành công cụ vận

động đồng bào đánh giặc cứu nớc Nhà thơ lãng mạn nổi tiếng trở thành câybút hiện thực dò tìm những bớc đi đầu tiên Nhiều trồi trụt và ấu trĩ Nhnghôm nay, sau hơn nửa thế kỉ với biết bao biến động của đờng lối văn nghệ,

đọc lại không thể không khâm phục ý chí vì đại nghĩa của lớp nhà thơ “tiềnchiến” ấy Chế Lan Viên hăng hái tham gia công tác cách mạng Con ngờicông dân trong Chế Lan Viên đã dứt khoát đi với cách mạng và kháng chiến,

Trang 23

nhng con ngời nghệ sĩ thì còn không ít những băn khoăn, vớng mắc xungquanh vấn đề nghệ thuật và cách mạng Nhờ tham gia tích cực vào các hoạt

động kháng chiến, đi vào đời sống nhân dân, tâm trí nhà thơ dần dần có những

đổi thay cơ bản

1.2.2.1 Gửi các anh - bớc đầu của thơ Chế Lan Viên trên đờng thơ Cách mạng

Gửi các anh (1955) gồm 14 bài thơ bao trùm giai đoạn sáng tác chín

năm kháng chiến chống Pháp đã ghi lại đợc những hình ảnh chân thực củacuộc sống kháng chiến ở Bình - Trị - Thiên, Liên khu IV Nhà thơ đã rời bỏnhững băn khoăn siêu hình và bế tắc về “cái tôi” và cuộc sống để cảm nhận đ-

ợc những vẻ đẹp, những hi sinh to lớn và những tình cảm cao quý của nhândân Nhà thơ xúc động trớc những hi sinh thầm lặng của những cán bộ và bộ

đội trên dải Trờng Sơn thăm thẳm (Trờng Sơn), căm giận tố cáo những tội ác dã man của kẻ thù với đồng bào ta (Nhớ lấy để trả thù), vui với niềm vui bình

dị của xóm nghèo đã đợc cách mạng đổi đời (Đồi xóm nhỏ, Bữa cơm thờng trong bản nhỏ), xúc động trớc tấm lòng của ngời mẹ kháng chiến (Đa con ra trận, Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm)…, nh

Tập thơ ớm thử nhiều thủ pháp, cốt sao tải đợc hiện thực cuộc sống lẫn ýtởng tác giả khi ấy Bên cạnh việc tìm đến những cách diễn đạt gần gũi vớiquần chúng, những thể thơ dân tộc nh thể năm chữ, thể lục bát,…, nh Chế Lanviên còn tìm tòi những khuynh hớng mới, thể nghiệm những cách viết mới Vềmặt này, khó có thể coi bài nào là hoàn chỉnh, nhng lại hé lộ những thành

công của nó ở tơng lai - trong ánh sáng và phù sa Lối viết câu thơ mở rộng với những hình ảnh trùng điệp thể nghiệm ở bài Chào mừng (viết năm 1950)

là một ví dụ tiêu biểu Điều đó chứng tỏ hớng tìm tòi của Chế Lan Viên nhữngnăm kháng chiến chống Pháp là có ý nghĩa Chúng ta hiểu thêm: ngay ởnhững nhà thơ tài năng, để chín trong một khuynh hớng sáng tác mới cần mộtlao động thơ bền bỉ hàng thập niên

Nhìn chung, tập thơ còn ham ôm chứa hiện thực, đôi lúc thơ làm nhiệm

vụ kí sự, đôi lúc thơ thuyết minh bình luận sự kiện quá đầy đủ và khô khan,nhng có một bớc phát triển bạn đọc cần ghi nhận là chính từ tập thơ này, ChếLan Viên bộc lộ khuynh hớng nâng cao phẩm chất trí tuệ cho thơ Khuynh h-ớng này về sau thành một đặc sắc của thơ Chế Lan Viên T duy sắc sảo, huy

động hình ảnh tạo nên những cặp phạm trù, những mạch nghĩ logic, đó lànhững công cụ mới thể hiện cảm hứng ngời viết và dẫn dụ cảm xúc ngời đọc

Hình ảnh khi tơng phản: “Việt Nam những ngày nguyên tử vẫn xông lên hàng

đầu với gậy tầm vông”, khi cộng hởng, trùng điệp: “Nh những thành phố lớn

Trang 24

cu mang trong lòng những nhà máy lớn/ Nhng lớn lao thay là những ngời đã thắng đợc máy móc và để lại tên cho phố phờng” Bản thân nó cha thật thơ,

suy tởng lấn hình tợng, nhng nó dẫn đến những nhận thức mới mẻ, bất ngờ.Tuy nhiên, so với thơ viết trớc Cách mạng, thơ Chế Lan Viên trong giai đoạnnày cha đạt đến sự ổn định và nhuần nhuyễn trong nghệ thuật, cha có mộtphong cách rõ nét

1.2.2.2 ánh sáng và phù sa - con đờng từ thung lũng đau thơng ra

cánh đồng vui

Tập thơ có 69 bài, đợc sáng tác trong khoảng 1955 - 1960, xuất bản năm

1960 - những năm đất nớc ta bớc vào thời kì cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc và đấu tranh thống nhất Tổ quốc Đây cũng là mùa chín của các nhà thơ

Cách mạng đi từ phong trào Thơ mới lãng mạn với các thi phẩm của Xuân Diệu (Riêng chung), Huy Cận (Trời mỗi ngày lại sáng), Tế Hanh (Gửi miền Bắc), Lu Trọng L (Toả sáng đôi bờ)…, nh tạo một không khí sầm uất cho thơ,trong chừng mực nào đó đã bộc lộ đợc mặt mạnh của khuynh hớng mở rộngcánh tay thơ ôm chứa lấy cuộc đời

“ánh sáng rọi soi tôi và phù sa bồi đắp tôi, ánh sáng tinh thần và phù savật chất lí tởng tôi” - Chế Lan Viên đã giải thích về nhan đề của tập thơ nhthế Tập thơ trình bày cuộc phấn đấu trong tâm hồn và t tởng Chế Lan Viên đểvợt qua những nỗi đau riêng hoà hợp với niềm vui chung Trớc Cách mạng,Chế Lan Viên đã lạc xa vào suy tởng siêu hình nên cuộc trở về không ít khó

khăn Đi xa về hoá chậm/ Biết bao là nhiêu khê“ ” Trớc hết là phải giải quyết

vấn đề cơ bản về quan niệm sống: “Ta là ai? Nh ngọn gió siêu hình/ Câu hỏi

h vô thổi nghìn nến tắt/ Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc/ Bàn tay ngời thắp lại triệu chồi xanh” (Hai câu hỏi) Cố nhiên câu hỏi “Ta là ai?” vẫn có ý

nghĩa, thậm chí luôn luôn phải đặt ra đối với ngời cầm bút, nhng câu hỏi đókhông thể coi là mục đích của cuộc sống mỗi cá nhân và cũng chỉ có thể giải

đáp đúng khi trả lời đợc câu hỏi “Ta vì ai?”

Tiếp theo, nhà thơ tìm đợc lời giải đáp cho nỗi băn khoăn về ý nghĩa

đích thực của thơ ca: “Suốt một đời ăn hạt gạo nhân dân/ Lần thứ nhất nhà văn đi học cấy/ Bỗng hối tiếc nghìn câu thơ nớc chảy/ Chửa vì ngời bằng

một bữa cơm ăn” (Đi thực tế) Trong cách nói phủ định mạnh mẽ có phần hơi

cực đoan ấy là sự giác ngộ chân thành và dứt khoát của nhà thơ về chân lí giản

dị này: Thơ cần có ích cho cuộc đời, cho nhân dân

Định hớng đúng đắn cho cuộc đời và cho nghệ thuật của mình, nhà thơtìm đến với cuộc sống của nhân dân, đất nớc, hoà vào cái “ta” chung rộng lớn,lấy cái “phù sa” của cuộc đời bồi đắp tâm hồn mình

Trang 25

Đi ra ngoại ô là niềm hân hoan khi tìm đến đợc với cuộc sống cần lao, dân dã: Đi ra với sông/ Đi ra với đời/ Đi ra với ngời/ Đây rồi dân chúng/ Cuộc đời ấm nóng/ Nh còn trong nôi” …, nh Giữa tết trồng cây có sự liên tởng bất

ngờ mà hợp lí: từ việc trồng cây mà gợi đến cái ý nghĩa sâu xa của sự hồi sinhcủa Cách mạng và cuộc sống mới cho những tâm hồn khô héo trong cuộc đời

cũ Và cuối chặng đờng ấy, Ngoảnh lại mùa đông là lời từ giã quá khứ buồn

thơng, bệnh tật, là khúc ca lên đờng rộn rã của một tâm hồn, một cơ thể đã hồi

sinh, khoẻ khoắn: “Nhìn mắt tạnh màu nớc mắt/ Nhìn tay gân xanh bay mất/ Nhìn chân bắp thịt căng rồi/ Nhìn mặt đỏ hồng da mặt/ Soi gơng hồng cả g-

ơng soi”.

Vợt qua nỗi đau riêng tìm đến niềm vui chung, tập thơ nhuần thấmniềm tin yêu, lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với nhân dân, đấtnớc, với Đảng Ngay trong những ngày phải xa đất nớc đi chữa bệnh, nhà thơ

muốn làm cánh Chim lợn trăm vòng để mỗi sớm mai đợc trở về ngắm nhìn đất nớc thân yêu, tơi đẹp: “Cánh thơ tôi thoát khỏi vòng nhỏ bé/ Lợn trăm vòng trên Tổ quốc mênh mông” Đến với nhân dân, cảm nhận cái hạnh phúc đợc trở

về trong cội nguồn của sự sống, đợc nuôi dỡng và đùm bọc trong tình dân, nhà

thơ tri ân: “Con gặp lại nhân dân nh nai về suối cũ/ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa/ Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa/ Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa” (Tiếng hát con tàu).

Tiếng hát con tàu với những xúc cảm chân thành mà bay bổng, với

những hình ảnh vừa hiện thực, vừa h ảo, thể hiện niềm khát khao đợc hoà vàocuộc sống sôi động và rộng lớn của nhân dân trong hiện tại còn ấm nóngnhững kỉ niệm của thời kháng chiến Bài thơ có những câu thơ nói đợc cô

đọng và sâu sắc tình cảm gắn bó với đất nớc, nhân dân:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

…) Di cảo…) Di cảo

Tình yêu làm đất lạ hoá quê hơng

Chùm thơ về vùng mỏ (Cành phong lan bể, Tàu đến, tàu đi) mở ra

những vẻ đẹp đa dạng, kì ảo và niềm say mê, tự hào về sự giàu có, phong phúcủa Tổ quốc Trong nhiều bài thơ tứ tuyệt, tình cảm của nhà thơ đã hoà nhập

với những tâm t, xúc cảm, những vui buồn của đời sống nhân dân (Th mùa

n-ớc lũ, Từ xa rừng bản, Toán, Gốc nhãn cao…, nh)

Gắn với nhân dân, không thể không đến với Đảng Cộng sản Bài thơ

Kết nạp Đảng trên quê mẹ nh một dòng tình cảm thuần khiết đã thể hiện sự

xúc động thấm thía và chân thành của một tâm tình thấy ở Đảng nơi tái sinh

Trang 26

cho đời mình, “Đảng trở hành nơi cắt rốn chôn rau” Những câu thơ viết về ngời mẹ, về quê hơng thật cảm động: “Tôi nhìn thấy máu thịt quê hơng/ Nh

đang dâng thành núi, đọng thành cồn/ Ơi! Gió Lào ơi! Ngời đừng thổi nữa/ Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ Những đồi sim không đủ quả nuôi ngời/ Cuộc sống gian lao ít tiếng nói, tiếng cời/ Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng” Ngời mẹ, quê hơng, đất nớc, tất cả nh tất yếu dẫn dắt hồn thơ ấy

đến với Đảng

Gắn bó với Đảng, càng yêu kính và biết ơn Bác Hồ, lãnh tụ của Đảng vàdân tộc, ngời đã mở đờng cho cả đất nớc và mỗi con ngời bớc vào kỉ nguyên

mới, kỉ nguyên độc lập, tự do Ngời đi tìm hình của nớc là một thành công

xuất sắc trong thơ viết về Bác Dõi theo hành trình tìm đờng cứu nớc của Bác,bài thơ đi sâu biểu hiện những tâm t, suy nghĩ, khát vọng cao cả của nhà yêunớc vĩ đại và con đờng tất yếu đến với chủ nghĩa Mác - Lênin của Bác, đồngthời thể hiện tấm lòng cảm phục và biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với Bác.Hai mạch trữ tình ấy đan cài chặt chẽ, lại đặt trong sự tơng phản với nhữngtâm trạng và hành vi của một lớp ngời sống trong bế tắc, lãng quên, tầm th-ờng, bé mọn Bài thơ thực sự có cách tiếp cận mới mẻ và độc đáo với đề tài Bác

Hồ và là một thành công đáng quý của thơ viết về Bác

ánh sáng và phù sa ghi nhận những thành công vững vàng của Chế Lan Viên về nghệ thuật thơ Nếu Gửi các anh còn để lại ấn tợng về một sự cố gắng

đổi mới nhng cha đạt đến sự ổn định chắc chắn thì ở ánh sáng và phù sa,

những đổi mới về nội dung đã đi liền với một nghệ thuật thể hiện đa dạng vànhuần nhuyễn Bút pháp Chế Lan Viên đến đây đã đạt đến sự linh hoạt, đa

dạng, biến hoá Có những bài dạt dào xúc cảm nh Kết nạp Đảng trên quê mẹ, Tiếng hát con tàu,…, nh Có những bài có giọng trầm t, chứa chất những suy ngẫm

triết lí rút ra từ cuộc đấu tranh nội tâm thầm lặng mà quyết liệt (Nhật kí một ngời chữa bệnh, Nay đã phù sa, Ngoảnh lại mùa đông…, nh) Có tình ca (Tình ca ban mai, Hoa đào nở sớm…, nh), lại có tiếng thơ đả kích kẻ thù (Ngô thuốc độc ngợi ca máy chém, Tiếng hát thằng điên trong dinh Độc lập) Hồn thơ ấy

nhiều khi bay bổng với trí tởng tợng dào dạt và những hình ảnh kì ảo trong

những câu thơ mở rộng (Cành phong lan bể, Tàu đến, tàu đi…, nh), nhng cũng có

thể cô đúc, hàm súc lắng lại trong các bài thơ tứ tuyệt (Th mùa lũ, Hai câu hỏi, Trăng…, nh) Nghệ thuật của ánh sáng và phù sa nổi bật lên ở trí tởng tợng

mạnh mẽ, ở những hình ảnh đẹp và lộng lẫy, ở sự hoà hợp cảm xúc và trí tuệ

Đến đây, hồn thơ ấy đã vợt ra khỏi bóng tối dày đặc của quá khứ trong tâm ởng của mình để đón nhận ánh sáng của lí tởng cách mạng và bồi đắp bằngphù sa của đời sống nhân dân

Trang 27

1.2.2.3 Thơ Chế Lan Viên những năm chống Mỹ

Những năm kháng chiến chống Mỹ đã đa tới một bớc phát triển mới

của thơ Chế Lan Viên ánh sáng và phù sa đã giải quyết đợc căn bản vấn đề

“riêng chung”, nhà thơ đã đi trọn hành trình “từ chân trời của một ngời đếnchân trời của tất cả” Bớc vào những năm chống Mỹ, Chế Lan Viên đã làmmột cuộc “chuyển quân”, đa thơ lên sát “chiến hào” của cuộc chiến đấu Mạchsuy tởng trữ tình quen thuộc của thơ Chế Lan Viên đã đợc kết tụ và nâng lêntrên những cảm hứng lớn của cuộc chiến đấu của dân tộc mang ý nghĩa thời

đại và trên tầm t tởng của Đảng, đã tạo đợc những thành công xuất sắc trong

dòng thơ chống Mỹ Các tập thơ của ông liên tiếp xuất hiện: Hoa ngày thờng, chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973)

và Ngày vĩ đại (1975) Mạch thơ ấy còn tiếp tục trong Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986)…, nh

Sợi dây cảm xúc trong tâm hồn nhà thơ rung động nhạy bén và mãnhliệt nhất với những vấn đề của của vận mệnh Tổ quốc trong những thời khắc

hệ trọng, trong những thử thách quyết định Tâm hồn nhà thơ đã vang ứng kịpthời với cuộc chiến đấu chống Mĩ, theo sát những biến chuyển của cuộc chiến

đấu ấy Ngay từ những năm 1963 - 1964, khi cuộc chiến đấu chống chiến

tranh đặc biệt ở miền Nam đang phát triển mạnh, Chế Lan Viên đã có ở đâu,

ở đâu, ở đất anh hùng, Cái hầm chông giản dị khẳng định mạnh mẽ con đờng

ta đi là con đờng duy nhất đúng Liền sau ngày 5 - 8 - 1964, khi đế quốc Mỹ

mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, trong khí thế sôi sục của nhữngtrận chiến đấu và chiến công đầu bắn rơi máy bay Mỹ, Chế Lan Viên cất cao

tiếng thơ hào hùng mà tha thiết trong Sao chiến thắng Lời thơ nh reo hát lên ngợi ca những con ngời làm nên chiến thắng: “Tàu Mỹ rụng đất này, ai có nghe chăng?/ Sao thức canh đêm, bể biếc reo mừng/ Sóng ru đất, mây nhắn cùng gió thổi:/ - Thần chiến thắng là những chàng áo vải/ Những binh nhất,

binh nhì mời tám tuổi/ Giết quân thù không đợi có hạt nhân”.

Tiếp đó là những bài thơ tràn đầy niềm tự hào về đất nớc, về Đảng: Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Suy nghĩ 1966, Con mắt Bạch Đằng, Con mắt Đống Đa…, nh Từ 1968, cuộc chiến đấu trải qua những thử thách gay go,quyết liệt và những chiến công càng to lớn, thơ Chế Lan Viên nh cũng giatăng chất suy nghĩ, bình luận, phân tích kịp thời và nhạy bén với hàng loạt bài

tuỳ bút - thơ: Suy nghĩ 1968, Phác thảo một trận đánh, Một bài thơ diệt Mỹ, Thời sự hè 72 - bình luận, Tuỳ bút một mùa xuân đánh giặc…, nh Niềm tự hào vàxúc động về Tổ quốc càng vút cao trong thời điểm rạng rỡ của lịch sử ở mùa

Trang 28

xuân 1975: “Năm tháng chói loà, hoá thân, đột biến”, Chế Lan Viên khép lại chặng đờng thơ chống Mỹ của mình bằng Ngày vĩ đại và Thơ bổ sung.

Niềm tự hào về Tổ quốc, dân tộc là cảm hứng lớn, bao trùm trong thơChế Lan Viên Tự hào về những thời điểm rực sáng của dân tộc trong quá khứ,

“Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc/ Nguyễn Du viết Kiều, đất nớc hoá thành văn/ Khi Nguyễn Huệ cỡi voi vào cửa Bắc/ Hng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng”, nhà thơ lại càng tự hào hơn, vì Tổ quốc trong thời kì chống Mỹ: “Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả” Sức

mạnh lớn lao, t thế và vị trí của Tổ quốc trớc nhân loại trong cuộc chiến đấu

chống Mỹ là điều mà các thế hệ cha ông cha thể nào có đợc: “Cha ông xa có bao giờ bố trí các binh đoàn/ Trên vạn đỉnh Trờng Sơn, dọc bờ Đông Hải?/ Tên Tổ quốc vang ngoài bờ cõi/ Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng/ …) Di cảo / Ta mọc dậy tr ớc mắt nhìn nhân loại/ Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng” (Thời sự hè 72 - bình luận) Chính là trong những năm chống

Mỹ mà chúng ta thấu hiểu thêm đợc về phẩm chất tinh thần của dân tộc, tâmhồn Việt Nam trong sáng, đôn hậu, dung dị bộc lộ trong những biểu hiện đadạng và tinh tế Gơng mặt Việt Nam qua ngàn lửa đạn vẫn là gơng mặt lạcquan trong sáng Nhà thơ đã tìm thấy cội nguồn bền vững của tinh thần dân

tộc trong những biểu hiện sinh động của đời sống văn hoá dân gian (Suy nghĩ 1966).

Mỗi khi nói về Tổ quốc, thơ Chế Lan Viên nh luôn chứa đựng niềm tựhào xúc động đến ngạc nhiên, và bằng tình cảm nồng nhiệt cùng với trí tuệ sắcsảo, nhà thơ đã có những phát hiện mới mẻ trên những vấn đề tởng nh đã rấtquen thuộc Những câu thơ xúc động ngời đọc nhất vẫn là những câu thơ tràn

đầy xúc cảm chân thành, nh tuôn ra từ trái tim mà không cần đến kỹ xảo nghệthuật gì lắm

Mạch thơ về Tổ quốc, dân tộc của Chế Lan Viên mang đậm chất anhhùng ca - trữ tình, mà nhiều câu thơ, bài thơ đã từng làm rung động các thế hệngời đọc trong những năm chống Mỹ Đi đôi với niềm tự hào về Tổ quốc, dântộc và sự khẳng định cuộc chiến đấu của chúng ta là lòng căm thù và sự phủ

định kẻ thù - đế quốc Mỹ

Không dừng lại ở bề ngoài, nhà thơ phanh phui bản chất và những thủ

đoạn hiểm độc của đế quốc Mỹ Đi theo hớng khái quát, trong thơ Chế LanViên không có nhiều những sự việc, chi tiết cụ thể, những hình ảnh cụ thể củamột tên giặc Mỹ, mà là hình tợng đế quốc Mỹ nói chung với những tên tuổitiêu biểu của nó: Giôn - xơn, Ních - xơn, Pho…, nh Đế quốc Mỹ, “kẻ thù nguy hiểm nhất của thời ta, anh nhớ lấy!” ở chúng là sự kết hợp cái tàn bạo tột

Trang 29

cùng với trình độ kỹ thuật cao siêu, chúng nâng giết ngời lên thành một khoa

học, một say mê, một “tôn giáo”: “Nó nâng chiến tranh lên thành trăng mật tình yêu” Chúng ta đơng đầu với một kẻ thù ghê gớm nhất, cha từng bao giờ gặp trong lịch sử: “Ta đang sống những siêu lửa, siêu bom, siêu lọc lừa, siêu tội ác” Nhà thơ muốn cùng mọi ngời nhận chân kẻ thù để không một lúc nào

lơi lỏng cảnh giác và xa rời mục tiêu chiến đấu Với sự nhạy bén chính trị, nhàthơ kịp thời vạch trần những thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù mỗi khi chúng

thay đổi thủ đoạn, chiến thuật, chiến lợc: “Ních - xơn có hàng trăm khuôn mặt thích nghi theo sắc cờ, thời tiết” “Chúng đạo diễn giết ta theo lớp lang tình tiết/ Hỏng màn hai thì quay lại màn đầu”…, nh Khi chúng nói đến hoà bình, thì

đó chỉ là “Nó dùng cái tã rách hoà bình lau bớt máu chiến tranh/ Dao sạch máu lần này để dễ chém ta lần khác”…, nh Nhà thơ truy kích kẻ thù trên từngchặng của cuộc chiến đấu và theo từng thủ đoạn, chiến lợc tội ác của chúng.Năm 1972, Ních - xơn đề ra học thuyết “Việt Nam hoá chiến tranh” mà thực

chất là “thay màu da xác chết”, Chế Lan Viên đã viết Phản diễn ca hay phản diện ca về học thuyết Ních - xơn phân tích từ nguyên nhân, hoàn cảnh phát

sinh đến thực chất của nó

Để tố cáo kẻ thù, cố nhiên, sự tỉnh táo, sắc sảo của lí trí là rất cần, nhngcũng còn cần đến sức mạnh của trái tim - trái tim đập cùng nhịp đập vớinhững đau thơng, căm giận của hàng triệu quần chúng, điều này không phảilúc nào cũng có đợc trong thơ Chế Lan Viên Nhng quả là đã có những lúc,tình cảm của nhà thơ nh nghẹn lại khi nói đến tội ác của kẻ thù, đến những

đau thơng ghê gớm do chúng gây ra trên đất nớc ta: “Ních - xơn! Mày không còn nhiên liệu nào khác mà đốt những giờng trẻ sơ sinh, gót đỏ thiên thần tay non chới với!/ Mày chẳng còn con sông nào mà ngắm mà phải dùng đến máu ngời?/ Tiếng máu lang thang đi giữa đất trời/ Dẫu nghìn thi sĩ thiên tài không

dỗ nổi” (Thời sự hè 72 - bình luận).

Thơ đánh Mỹ của Chế Lan Viên thể hiện sự tham gia trực tiếp của thơ cavào cuộc chiến đấu Không chỉ phân tích, lí giải, ngợi ca…, nh, thơ ông nhiều khi

nh những mệnh lệnh chiến đấu vang lên một cách khẩn thiết

Hồn thơ của Chế Lan Viên vang ứng với cơn bão lớn của thời đại, nhng

cũng rung động tinh tế trớc những nét bình dị của cuộc đời thờng Nhà thơ

muốn thơ mình vừa là hầm chông giết giặc, lại vừa là cánh hoa mát mắt cho

đời Chùm Hoa ngày thờng ở thơ Chế Lan Viên cũng khá phong phú Đó là

những xúc cảm vui buồn, suy t trớc cuộc sống gia đình, đời thờng hàng ngày,trớc thiên nhiên, tạo vật…, nh dọc theo những năm tháng của cuộc đời nhà thơ

Trang 30

Thiên nhiên in dấu trong thơ Chế Lan Viên khá phong phú, nhng làthiên nhiên đã lọc qua sự cảm nhận của một tâm hồn giàu suy t nên mang một

vẻ đẹp riêng và man mác ý vị triết lí Có cái ngỡ ngàng thảng thốt trớc màu

hoa súng hồng: “Sáng nay ra đờng gặp ai? Gặp đoá súng hồng/ Hồng nh cha

có môi nào hồng đợc vậy/ Đến nỗi anh qua rồi quay ngoắt lại/ Hỏi Hoa súng

hồng! Hoa súng hồng! Mày có phải hoa không?” Có cái man mác trớc ngàn Lau mùa thu, cái bâng khuâng về thời gian trớc một đoá Hoàng thảo hoa vàng, cái nồng nàn của Sau cơn ma, Hoa sữa, cái chói lọi của Hoa gạo son…) Di cảo

Tình gia đình cũng luôn có mặt trong thơ Chế Lan Viên, đặc biệt nhà thơviết nhiều về tình cha con trong những bài thơ chân tình, giản dị mà cảm

động: Đặt tên con, Con cò, Con lên Quế Võ, Con đi sơ tán xa…, nh Thơ tình yêucủa Chế Lan Viên không phải là tình yêu sôi nổi, dào dạt, vồ vập của tuổi trẻ

mà là tình yêu trầm lắng của ngời đứng tuổi, a triết lí, suy ngẫm, nhng khôngvì thế mà kém nồng nhiệt Có đủ cả ở đó nỗi nhớ thơng da diết trong xa cách:

“Cái rét đầu mùa anh rét xa em/ Đêm dài lạnh chăn chia làm hai nửa/ Một

đắp cho em ở vùng sóng bể/ Một đắp cho ngời ở phía không em”…, nh

Bác Hồ là một nguồn cảm xúc lớn trong thơ Chế Lan Viên Từ bài Ngời

đi tìm hình của nớc, Chế Lan Viên đã mở ra một mạch thơ phong phú của

mình về đề tài Bác Hồ Trong những năm chống Mỹ, cảm hứng lớn về Tổquốc và dân tộc luôn gắn với cảm xúc về Bác Những bài và đoạn thơ về Bác

đợc tập hợp trong tập Hoa trớc lăng Ngời (1976).

ở Ngời đi tìm hình của nớc và Ngời thay đổi đời tôi, Ngời thay đổi thơ

tôi, Chế Lan Viên có cách nói thấm thía về Bác Hồ trong mối liên hệ trực tiếp

với thế hệ mình, cuộc đời mình Bài thơ nh là những lời “tự bạch” chân thành,

đồng thời lại từ đó gợi lên những vấn đề t tởng có ý nghĩa rộng lớn: vấn đề vềcon đờng đi của dân tộc và của mỗi ngời trong thời đại Cách mạng ngày nay

và sự khẳng định giá trị tuyệt đối đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trong những năm chống Mỹ, Chế Lan Viên tiếp tục thể hiện hình tợngBác Hồ từ nhiều góc độ và nhiều mối quan hệ, từ đó mà khám phá thêm nhiềuphơng diện của Bác Nhà thơ phác họa những chân dung đa dạng của Bác: Bác

Hồ ngời thuỷ thủ, Bác Hồ ngời thợ ảnh, Bác Hồ ngời chiến sĩ, Bác Hồ ngời ông, Bác Hồ - nhà hiền triết…, nh Nhng trong những năm cuộc chiến đấu

-đang diễn ra quyết liệt, nhà thơ nhấn mạnh phơng diện này ở Bác: “Bác là ai? Ngày hôm nay Bác là vị tớng:/ Trong cõi trờng sinh, tiếng hát của Ngời là một tiếng suối xa/ Nhng khi đất nớc cần chém triệu đầu quân giặc/ Thì tiếng hát diệu kì là tiếng thét/ Tiến lên toàn thắng ắt về ta!“ ” (Thời sự hè 72 - bìnhluận)

Trang 31

“Cứ mỗi bớc đi lên, dân tộc lại định nghĩa về Ngời từ bản chất” Cùng

với sự phát triển của cuộc chiến đấu và sự vận động của t tởng thời đại, ChếLan Viên phát hiện thêm những khía cạnh mới trong các giá trị quý báu của

lãnh tụ Di chúc của Ngời khám phá thêm một phơng diện của sự vĩ đại của Bác: Cuộc chiến đấu thầm lặng và sự chiến thắng của Ngời với cái chết, với h vô Đọc văn Ngời thấy thấm thía thêm một bài học lớn: “Ngời không muốn trang sách hoá thần, nhân dân quỳ để đọc/ Dẫu tuyệt bút thi th thì cũng là con đẻ của đời”.

Còn Bể và Ngời lại gợi một liên tởng về cuộc đời Bác với cái vô tận

mênh mông trầm t sâu thẳm của bể - bể đại dơng và bể cuộc đời mà Ngời đãthấu đợc tới những lẽ sâu xa huyền diệu của nó Đi vào thế giới nội tâm củaBác, phác họa thêm những khía cạnh phong phú của hình tợng Bác, gợi ranhiều vấn đề về t tởng và triết học từ cuộc đời Bác, cùng với Tố Hữu, Chế LanViên đã có đóng góp đáng kể vào việc xây dựng hình tợng Bác Hồ trong vănhọc ta

ở giai đoạn thơ chống Mỹ, Chế Lan Viên đã có những tìm tòi thểnghiệm mới về nghệ thuật, phục vụ cho bớc chuyển của thơ ra “đại lộ lớn của

Đảng và dân tộc”

Phát triển mạnh theo hớng chính luận - thời sự, gia tăng mạnh mẽ yếu tốtrí tuệ trong thơ, nhiều bài thơ đợc cấu trúc theo lối tuỳ bút - thơ Những dòngsuy nghĩ, phân tích, liên tởng đợc tiếp nối mở rộng theo các đoạn thơ Chủ đề

đợc khai triển trên nhiều bình diện, nhiều góc độ, nhiều mối tơng quan…, nh làmcho nó trở nên phong phú, đa dạng ở những bài thơ này, đơn vị chủ yếu lànhững đoạn thơ Lối kết cấu này tạo ra khả năng cho suy nghĩ và cho cảm xúc,tởng tợng và liên tởng của nhà thơ đợc phát huy rộng rãi và Chế Lan Viên đã

có những bài thơ đặc sắc trong loại thơ này Câu thơ của Chế Lan Viên cũng

có nhiều biến đổi Tiếp tục theo hớng mở rộng câu thơ đã đợc thử nghiệm từ

Chào mừng (1950), nhà thơ tạo ra nhiều câu thơ có sức chứa lớn, mở rộng số

chữ trong dòng thơ, tạo nên những âm hởng trùng điệp của câu và đoạn thơbằng ngôn từ và nhịp điệu Tuy nhiên, cũng còn những lúc câu thơ mở rộngquá mức cần thiết và ít đợc chú ý tạo nhịp điệu nên nặng nề, trúc trắc, thiếugợi cảm, khó nhớ

Ngôn ngữ và hình ảnh thơ Chế Lan Viên trong giai đoạn này vừa tiếp

tục những đặc điểm trong phong cách biểu hiện đã rõ nét từ ánh sáng và phù

sa, lại có những bổ sung, phát triển mới Đặc biệt là Chế Lan Viên đã có nhiều

thành công trong việc đa một cách phổ biến những từ ngữ và khái niệm của

đời sống chính trị, quân sự, triết học…, nh vào thơ, trong việc sáng tạo hình ảnh

Trang 32

khái quát, hình ảnh tợng trng, khai thác triệt để những tơng quan đối lập của

sự vật, hiện tợng Tuy vậy, cũng có những khi nhà thơ quá say sa với hình ảnh

và ngôn từ, sa vào lối chơi chữ cầu kì, rắc rối, câu thơ thành chùm “pháo hoangôn từ” sặc sỡ mà nghèo về nội dung và cảm xúc

Sau 1975, thơ Chế Lan Viên một mặt tiếp tục phơng hớng đã mở ratrong giai đoạn thơ chống Mỹ, mặt khác, hồn thơ ấy có phần lắng lại, hớng về

những vấn đề của cuộc sống bình thờng hàng ngày ở Hái theo mùa (1977),

và nhất là Hoa trên đá (1984), Ta gửi cho mình (1986), chất trữ tình đậm nét

hơn - cái trữ tình của một tâm hồn đã có nhiều từng trải, đợc thanh lọc quanhiều thử thách, nhng cũng vì thế mà giàu chất nhân tình hơn Đồng thời, ýthức đợc cái nghiệt ngã của thời gian và tuổi tác, nhà thơ đã khẳng định nỗ lực

của mình: Đời vào tuổi năm mơi/ Mong gì hơng sắc lạ/ Mọc chùm hoa trên

đá/ Mùa xuân không chịu lùi”.

1.2.2.4 Thơ Chế Lan Viên những năm cuối đời

Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nớc bớc vàothời kì xây dựng trong hoà bình Sự nghiệp đổi mới đợc Đảng chính thức phát

động từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Phát triển trong quỹ đạo hoà bình và

đổi mới, nền văn học dân tộc bắt đầu chuyển mình Trong khoảng mơi năm, từ

1980 đến khi Chế Lan Viên từ trần, thơ nớc ta hớng mạnh vào những vấn đề

thế sự Thơ Chế Lan Viên từ Hoa trên đá trở đi phản ánh khá rõ nét trạng thái

vận động đó Một mặt, cảm hứng của nhà thơ vẫn tiếp nối giai đoạn trớc ở sựquan tâm đến lịch sử dân tộc, ở nhu cầu khẳng định dân tộc trong thời đại,nhất là qua chủ đề chống xâm lợc Một mặt khác, nhà thơ bắt đầu những trăntrở nhận thức về trách nhiệm của ngời cầm bút trớc nhiều vấn đề nhân thế mà

trớc đây nhà thơ còn ít quan tâm Thơ bình phơng - Đời lập phơng là bài thơ

báo hiệu bớc phát triển mới trong hành trình nghệ thuật của Chế Lan Viên Bài

thơ đợc hoàn thành ngày 11 tháng 5 năm 1980 và in vào tập Hoa trên đá với lời đề từ “Vực sự sống ba chiều lên trang thơ hai mặt phẳng” Nh một thứ nhật

kí bằng thơ, lại cũng nh một tuỳ bút thơ, ông nghĩ về quỹ thời gian còn lại,

giật mình thảng thốt: “Bài thơ một đời của anh đâu? Khất mãi! - Viết nhanh lên! Nắng hết chiều rồi!” Ông đối thoại với chính mình về những giới hạn của thơ, những giới hạn tất yếu và không tất yếu: “Có nên chăng/ Ta nói mãi nói hoài cái hồn nhiên, cái truyền thống, cái nghìn năm/ Đến nỗi bó tay chả làm gì đợc nữa!”.

Ông nhìn vào thi hào Nguyễn Du để đi tìm một định nghĩa mới: “Nhà thơ lớn ? Là để cho nhân loại yêu mình bằng mọi cách” Trách nhiệm công

dân của ngời nghệ sĩ không hề giảm, trái lại, nhận thức mới về đời sống nâng

Trang 33

cao thêm tính tích cực xã hội cho ngòi bút: “Nửa đời thơ, anh mới chợt hiểu rằng/ Lâu nay có nửa phần nhân loại sống giữa màu tuyết trắng/ Cái phần nhân loại trong anh cay đắng/ Thấy mình xa nhân loại ở bên ngoài”.

“Cay đắng” thì có, nhng cha phải “sám hối” Đến thơ trong Di cảo, ta sẽ

thấy mạch trăn trở nhận thức, nhu cầu đối thoại với ngời đọc nổi lên thành

mạch chính Tuy nhiên, ở Hoa trên đá và Ta gửi cho mình, chiếm số lợng lớn

hơn là những bài thơ bộc lộ tâm tình và triết luận về các vấn đề muôn thuở củacõi nhân sinh Chế Lan Viên nói nhiều đến kỉ niệm, đến những vui buồn thờngnhật của cuộc sống luôn có “hai chiều” “may, rủi” Ông “Trở lại An Nhơn”,

đến thăm “Vàm Cỏ Tây”, xem “Nhảy sạp vùng than”, nghe “Cô gái SênhTiền”…, nh Cảm xúc thơ ông lắng lại ở cõi riêng t với “mùi hơng ẩn ức, trớ trêu”,với “tình yêu cuối”, “buổi gặp đầu”…, nh Suy t, chiêm nghiệm làm cho giọng thơ

ông trầm xuống, phảng phất một nỗi quan hoài…, nh

Di cảo thơ gồm 569 bài, trong đó 566 bài đợc nhà xuất bản đánh số thứ

tự, 3 bài đợc đặt đầu mỗi tập thơ với t cách là những di bút của Chế Lan Viên

Di cảo tập hợp một khối lợng rất lớn những bài thơ Chế Lan Viên sáng tác từ

những năm trớc Cách mạng cho đến những năm cuối đời nhng cha công bốhoặc đã in rải rác trên báo chí khi còn sinh thời tác giả song cha đa vào sách,trong đó có 169 bài đã hoàn chỉnh, 400 bài còn ở dạng phác thảo Có 30 bài đ-

ợc nhà thơ sáng tác trớc Cách mạng, tập hợp trong tập thơ Không tên Đó là

những bài đã đăng rải rác trên các báo từ 1937 đến 1947, đợc xem là bộ phận

của Điêu tàn nối dài Có một mảng gồm những phác thảo suy nghĩ của Chế

Lan Viên trong suốt thời gian ông đi theo Cách mạng trở về sau Đặc biệt, có

308 bài đợc Chế Lan Viên sáng tác trong hai năm cuối đời (1987 và 1988),sau khi đất nớc bớc vào công cuộc đổi mới Đó cũng là những năm tháng thơ

ca nói riêng, văn học nói chung hớng mạnh vào những vấn đề thế sự, các nhucầu xã hội và cá nhân dần dần trở thành trung tâm của tiếng nói văn chơng.Riêng với Chế Lan Viên, đó là những ngày ông đang phải đối diện với hoàn

cảnh đặc biệt éo le, hoàn cảnh mà chính ông gọi là “hành trình đi đến lò thiêu” Đó là những căn cứ đủ tin cậy để nhận ra một giai đoạn mới của thơ

Chế Lan Viên

Khi Tuyển tập Chế Lan Viên ra đời, ông tâm sự: “Ra xong cái tuyển, tôi

xem nh đắp xong cái mộ rồi Khá cũng đến thế, mà kém cũng đành thế, biếtsao Cả một đời gắng mãi chứ có phải chơi đâu” [87] ở cái tuổi gần 70, cảmthấy mộ mình đã đắp xong, vậy mà Chế Lan Viên vẫn viết say sa, cần mẫn,chết rồi còn để lại hàng nghìn bài thơ đợc ghi chép trong những tập nháp, hoặc

trong đám tờ rời Theo dõi phần chú ở dới mỗi bài thơ ghi xuất xứ của chúng,

Trang 34

tên các tập nháp nh Nhặt, Nháp, Những cái tứ, Sổ tay Thơ…) Di cảo hay những chú dẫn của ngời tuyển chọn: Nhặt trong đám tờ rời, Tìm trong đám tờ rời, Bài thứ t sau khi mổ…) Di cảo ta dễ nhận ra một điều: hầu hết đó là những bài thơ còn

mới ở dạng phác thảo, cha hoàn chỉnh Số bài thơ đợc công bố với bạn đọc qua

ba tập đã in chỉ là một phần trong khối lợng đồ sộ thơ di cảo của Chế LanViên Hơn nữa, đây là những bài thơ do bà Vũ Thị Thờng tuyển chọn, theoquan điểm và cảm nhận của cá nhân bà, nên có những bài ngời tuyển chọnkhông đa hoặc không đợc đa vào Gơng mặt toàn diện của Chế Lan Viên vìthế có thể còn nhiều khuất lấp, nhiều ẩn ức của nhà thơ họ Chế vẫn đang còn

là những bí mật đối với ngời yêu thơ ông Có thể còn rất nhiều bạn đọc chahiểu hết về Chế Lan Viên, hoặc cha bằng lòng với một số bài thơ, câu thơ,…, nh

nhng ba tập Di cảo thơ là những cố gắng cuối cùng của thi sĩ góp nhặt những

câu thơ cho đời Tập thơ làm đa dạng thêm, phong phú thêm thơ Chế Lan Viên

- một nhà thơ có nhiều đóng góp to lớn đối với thơ ca Việt Nam hiện đại

Di cảo thơ ra đời trong thời điểm mà đổi mới văn học sau 1975 đang gặt

hái những mùa đầu với sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng

điệu Thi ca Việt Nam nói riêng đang sải những bớc chân mạnh mẽ trên con ờng hiện đại hóa Cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt sovới thời chiến tranh, đòi hỏi ngời nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao chothích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Chế Lan Viên từ lâu vẫn âm thầm đổi

đ-mới thơ ca, nay xuất hiện liên tiếp ba tập thơ Di cảo nh một minh chứng cho

những nỗ lực của ông giai đoạn cuối đời trên hành trình thi ca Từ chỗ là ca sĩngợi ca đất nớc và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ

đây thơ Chế Lan Viên chuyển mạnh từ “bè cao” sang “giọng trầm” với cái

nhìn phi sử thi Đây là yếu tố quan trọng khiến cho thơ Di cảo của Chế Lan

Viên hớng mạnh đến cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân trêntinh thần dân chủ hóa Nhà thơ không còn bị vớng bận với những bởi nhữngkiểu hiện thực chủ yếu và thứ yếu, không bị bó buộc trong những khung t tởng

định sẵn mà cố gắng thể hiện tính đa chiều của hiện thực - thứ hiện thực của

suy t Di cảo là thơ đời thờng, bằng cái nhìn tỉnh táo và màu sắc chiêm

nghiệm, Chế Lan Viên đã góp phần thể hiện những mặt trái của đời sống,những thay đổi các thang bậc giá trị,…, nh bên cạnh đó là sự tự đào sâu vào bảnthể trên tinh thần phản tỉnh, ý thức mới, quan niệm mới về thơ và nghề thơ

Sự xuất hiện của 569 bài thơ di cảo của Chế Lan Viên tạo nên niềmsửng sốt cho ngời đọc đơng thời, đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ cho lớp côngchúng mới của văn học Không nhiều hiện tợng văn học sau 1975 gây đợc

Trang 35

những d chấn cảm xúc mạnh mẽ nh Di cảo thơ của ông Chúng tôi sẽ bàn kỹ

về Di cảo thơ trong phần tiếp theo của luận văn

1.3 Chế Lan Viên với tùy bút, bút kí và phê bình văn học

Bên cạnh sáng tác thơ, Chế Lan Viên còn là cây bút văn xuôi sắc sảovới nhiều tập tùy bút, bút kí và phê bình văn học

Trớc Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên có tập văn xuôi triết lí Vàng sao (1942) Tập sách là sự đồng điệu, hòa điệu với cõi thơ Điêu tàn, tiếp tục phát triển những suy nghĩ, băn khoăn thuở Điêu tàn, bộc lộ những tìm tòi nh-

ng bế tắc của nhà thơ về t tởng và nghệ thuật, lạc xa vào những suy nghiệmsiêu hình, h vô về bản thể Cái tôi cô đơn, hoảng loạn tởng có thể tự giải thoát

và tìm sức mạnh sáng tạo bằng cách vợt lên cõi tục để tạo nên một Đài thơ, một Tháp nghĩ Xu hớng tìm đến những tợng trng, siêu hình trong Điêu tàn lại một lần đợc nhấn mạnh trong Vàng sao

Trong kháng chiến chống Pháp, do công tác báo chí, Chế Lan Viên viếtmột số bút kí, phóng sự ghi lại những hình ảnh kháng chiến ở Liên khu IV

Sau tập bút kí Thăm Trung Quốc (1963), Chế Lan Viên ít viết bút kí mà

chuyển sang thể tùy bút - chính luận ở thể tài này, cây bút văn xuôi Chế LanViên bộc lộ rõ hơn những đặc sắc của mình Tùy bút Chế Lan viên đợc tập

hợp trong các tập Những ngày nổi giận (1966), Giờ của số thành (1977) và rải rác trong các tập Suy nghĩ và bình luận (1972), Bay theo đờng dân tộc đang bay (1977), Nghĩ cạnh dòng thơ (1981)…, nh Tùy bút Chế Lan Viên thờng đợcviết trong những thời điểm quan trọng, những bớc ngoặt biến chuyển của đờisống dân tộc, đất nớc Những thời điểm “chói sáng” “đột biến” của lịch sử,nâng đôi cánh của cảm xúc, lại thôi thúc trí tuệ của nhà thơ suy nghĩ, nhậnthức và khám phá Trong những thời điểm đó, thờng thì Chế Lan Viên vừa làmthơ, vừa viết tùy bút, nh để mở rộng thêm những cảm xúc và suy nghĩ trongthơ

Tùy bút, bút kí của Chế Lan Viên không có nhiều chi tiết thực tế; hiệnthực cuộc sống đợc sử dụng chọn lọc xoay quanh cái trục chính là sự kiện lịch

sử trọng yếu và đó là điểm tựa để nhà văn suy nghĩ, bình luận, đào sâu vào cốtlõi của vấn đề, mở rộng nó trong những liên hệ nhiều mặt, khám phá những ýnghĩa sâu rộng và mới mẻ Nếu nh thơ Chế Lan Viên dồi dào trí tuệ, thì tùybút của ông lại giàu chất thơ Chất thơ ấy thể hiện trong những xúc cảm có khibay bổng, nhng thờng thì đằm sâu trong những suy ngẫm trí tuệ Nó còn đợcbộc lộ trong lối diễn đạt rất chú trọng đến hình ảnh và nhịp điệu

Năng lực suy nghĩ sắc sảo và bao quát của Chế Lan Viên còn đợc pháthuy hơn nữa trong các bài bình luận văn học

Trang 36

Với ý thức trách nhiệm và sự nhạy bén trớc phong trào văn học của đấtnớc, Chế Lan Viên thờng lên tiếng kịp thời về nhiều vấn đề của đời sống vănhọc nghệ thuật Điều quan tâm hàng đầu của ông là vấn đề cơ bản: quan hệgiữa văn nghệ với cách mạng, với dân tộc và thời đại Ông tham luận trong

Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1964, trớc Quốc hội về Những thành tựu và thiếu sót của ngành văn nghệ chúng tôi, Văn học nghệ thuật và hiến pháp.

Đứng ở t thế và vị trí của dân tộc ta trong cuộc chiến đấu chống đế quốc Mĩ,

ông phát biểu trên các diễn đàn quốc tế, biểu dơng Thơ ở nớc chúng tôi đang

đánh Mĩ, Nền văn hóa từ cuộc sống, bàn luận về Đế quốc, hòa bình và văn học Chế Lan Viên còn lên tiếng trong cuộc thảo luận về thể kí, về việc viết về

ngời tốt, việc tốt, về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt…, nh Không phải ýkiến nào cũng chính xác, sâu sắc, nhng mỗi bài đều có thể tìm thấy một ý kiếnmới mẻ, một cách nghĩ không giản đơn, dễ dãi, xuôi chiều

Là nhà thơ, nên khi viết phê bình, Chế Lan Viên tập trung nhiều vào cácvấn đề của thơ Phê bình từng tập thơ, với ông là để nói đợc những vấn đề baoquát hơn của nền thơ, góp vào việc tìm hớng đi cho phong trào thơ Khác HoàiThanh, Xuân Diệu, chỗ mạnh của Chế Lan Viên không phải là bình thơ tinh

tế, hay vừa “phê” vừa “bình” Phê bình văn học của Chế Lan Viên thiên về ớng khái quát các vấn đề của nền thơ, bàn bạc, đề xuất phơng hớng cho phongtrào thơ ở từng thời điểm cụ thể Ông đặc biệt chú ý đến vấn đề con đ ờng củangời nghệ sĩ trong cách mạng, điều đó thể hiện trong những bài phê bình thơ

h-của Tế Hanh, Huy Cận, tựa cho tập thơ Thơ và địa ngục trần gian, hay phê

bình một tập tiểu luận của Xuân Diệu, và càng thể hiện tập trung trong nhữngbài “hồi kí” về con đờng thơ của mình

Chế Lan Viên quan tâm nhiều đến vấn đề tính dân tộc và tính thời đại,tính hiện đại của văn học ý thức mạnh mẽ về những đòi hỏi của thời đại vớivăn học, ông nhấn mạnh đến việc phải tìm tòi, đổi mới cho văn học phù hợpvới thời đại

Nét đặc sắc trong cách suy nghĩ của Chế Lan Viên là ông thờng đặt vấn

đề xem xét trên nhiều bình diện, đứng ở một tầm cao t tởng và văn hóa, mở ranhững mối liên hệ, so sánh, đối chọi, khái quát tổng hợp, từ đó vấn đề đợchiện ra trong nhiều khía cạnh, bộc lộ những ý nghĩa tiềm ẩn, mới mẻ Lối vănphê bình lí luận của Chế Lan Viên cũng có những nét đặc sắc riêng Cách đặtvấn đề thờng gây đợc sự chú ý ngay lập tức; cách khai triển dẫn dắt ý có nhiềubất ngờ và nhất là hình ảnh và các phép tu từ đợc sử dụng phổ biến nh nhữngthủ pháp hàng đầu và nổi bật Nhờ hình ảnh (và nhịp điệu của câu văn) nên

Trang 37

các ý niệm đợc diễn đạt rõ ràng, cụ thể mà sinh động, gây ấn tợng đậm nétcho ngời đọc, ngay cả khi ý cha hẳn là mới.

Trang 38

Chơng 2

Cảm hứng và đề tài trong Di cảo thơ

2.1 Cảm hứng chủ đạo của Di cảo thơ

Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm văn học đợc hiểu là “trạng thái tìnhcảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một t t-ởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của nhữngngời tiếp nhận” [39, 39] Bêlinxki, nhà lí luận dân chủ Cách mạng Nga, cũng

đã nhận thức đợc vai trò quan trọng của cảm hứng chủ đạo trong sáng tạo vănhọc nghệ thuật Ông coi cảm hứng chủ đạo là “điều kiện không thể thiếu đợccủa việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó biến sự chiếm lĩnh thuần túytrí óc đối với t tởng thành tình yêu đối với t tởng, một tình yêu mạnh mẽ, một

khát vọng nhiệt thành” [39, 39] Cũng nh một số khái niệm khác, khái niệm

cảm hứng chủ đạo có quá trình hình thành, phát triển và sự giới hạn nội hàmnhất định “Thuật ngữ cảm hứng chủ đạo lúc đầu chỉ yếu tố nhiệt tình, say sadiễn thuyết, sau chỉ trạng thái mê đắm khi xuất hiện tứ thơ Về sau, lý luậnvăn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệthuật, của thái độ t tởng, xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới đợc mô tả” [39,39] Nh vậy, cảm hứng chủ đạo ngày càng thâm nhập sâu vào thế giới nghệthuật song song với quá trình điều chỉnh nhận thức của khoa học lý luận vănhọc

Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm văn học là một trongnhững hớng tiếp cận nội dung t tởng tác phẩm thờng thấy xa nay Song, từ việctìm hiểu cảm hứng chủ đạo đi đến những nhận xét về mối quan hệ giữa nó vớicác yếu tố nội dung, hình thức tác phẩm, đến việc phát hiện sự biến đổi có tínhquy luật của cảm hứng chủ đạo giữa chuỗi tác phẩm, các bộ phận tác phẩm làmột trong những hớng đi mới mẻ Vấn đề chúng tôi đặt ra ở đây là vận dụng

lý luận để tìm hiểu cảm hứng chủ đạo, tìm hiểu sự chuyển đổi cảm hứng của

Chế Lan Viên trên hành trình từ thơ ca Cách mạng đến Di cảo

Di cảo thơ là một đỉnh cao của đời thơ Chế Lan Viên Tập thơ đa dạng

về đề tài, phong phú về giọng điệu, tài hoa ở phơng cách biểu đạt, đầy ắp vànhất quán về t tởng, cảm xúc Nh vậy cũng có nghĩa là có thể tìm hiểu cảm

hứng chủ đạo trong từng bài thơ, trong cả tập thơ Di cảo Cảm hứng chủ đạo trong Di cảo thơ Chế Lan Viên chủ yếu là cảm hứng trữ tình về cuộc đời, thế

sự, đó là những giãi bày, những chiêm nghiệm, triết lí về bản thân, về cuộc

đời, sự sống, cái chết

Trang 39

Tuy nhiên, khi tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong Di cảo thơ Chế Lan

Viên, chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc định danh cảm hứng qua việc liệt kêcác lớp đề tài Theo nghiên cứu của Trần Đình Sử, hiện nay, trong văn họcnghệ thuật có 3 dòng “thể tài” (tức 3 dòng nội dung thể loại): lịch sử - dân tộc,

đạo đức - thế sự, đời t Tác giả cho rằng, “ở các tác phẩm lớn thờng có sự kếthợp các nét nội dung thể tài với nhau, trong đó có một hay hai nét chiếm u

thế, tạo thành loại tác phẩm đa bình diện” [97, 42] Di cảo thơ Chế Lan Viên

có nhiều bài thuộc loại tác phẩm đa bình diện nh thế Trong những bài thơ đabình diện ấy, xét về phơng diện cảm hứng chủ đạo cũng có những “cách tân”

đáng kể Nói cách khác, sự đan xen tự nhiên giữa các đề tài, sự kết hợp hàihòa giữa các chủ đề với các thể tài…, nh làm cho cảm hứng chủ đạo trong thơ dicảo của Chế Lan Viên cũng “đa thanh sắc”, giàu cảm xúc, dễ đi vào lòng ng-

ời, dễ rung động tình ngời

Trong Di cảo thơ, cảm hứng trữ tình lịch sử - dân tộc vẫn đợc tiếp tục

dù không còn là mạch cảm xúc chủ yếu Cảm hứng ấy không chỉ đánh thứcnhững tình cảm tiềm ẩn trong trái tim độc giả của một giai đoạn mới của đấtnớc, của văn học, mà trớc hết nó chi phối việc lựa chọn đề tài và các phơngtiện nghệ thuật khác tạo nên chất trữ tình lịch sử - triết lí, một trong những

“ma lực” cuốn hút ngời thởng thức và bình giá thơ di cảo của ông Cảm hứngtrữ tình đời t là mạch cảm xúc đáng kể và quan trọng nhất Đó là sự ý thức về

đời sống cá nhân, những suy t, xúc động cá nhân…, nh Chế Lan Viên trớc nhữngvấn đề của đời sống thế sự cũng nh đời sống văn chơng

Những điều nêu trên cho thấy, cảm hứng chủ đạo trong Di cảo là mạch

ngầm t tởng của tác phẩm, là yếu tố chi phối và khuấy động không khí cảmxúc của cả ngời sáng tác lẫn đối tợng tiếp nhận tác phẩm

Từ những định hớng trên đây, chúng ta có thể khẳng định, xem xét cảmhứng chủ đạo của một tác phẩm văn học phải nhìn từ nhiều bình diện Nếu xétcảm hứng chủ đạo với t cách là t tởng, tình cảm của tác giả đối với hiện thực

đợc mô tả, chúng ta có thể cắt nghĩa đợc sự vận động của một số yếu tố nộidung, hình thức trong chỉnh thể tác phẩm Nếu xét cảm hứng chủ đạo với tcách là yếu tố của bản thân nội dung tác phẩm, chúng ta sẽ chỉ ra đợc mạchcảm xúc tuôn chảy trong tác phẩm, lý giải đợc phần nào sức hấp dẫn, sức sốngcủa tác phẩm đối với công chúng, với thời gian

Có thể nói, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố có vai trò cả trong quá trìnhsáng tạo lẫn thởng thức nghệ thuật Yếu tố đó có mặt và thâm nhập vào hầuhết các “ngõ ngách” của tác phẩm Tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong tácphẩm, ngời đọc cần nhận thức sâu sắc về vai trò của nó ở mỗi “t cách” mà nó

Trang 40

đảm trách Với “t cách” là thái độ, t tởng, tình cảm của tác giả đối với hiệnthực đợc mô tả trong tác phẩm, nó là điều kiện tiên quyết, là nguồn cảm hứng

để ngời sáng tác tạo nên giá trị tác phẩm từ sự lựa chọn hiện thực, là yếu tố tạonguồn và thúc đẩy quá trình sáng tạo văn học Chẳng hạn, cảm hứng chủ đạogiúp Chế Lan Viên lựa chọn, tổ chức, triển khai các khía cạnh khác nhau của

đề tài, tạo nên hệ thống đề tài mới trên cơ sở thế giới quan và quan niệm nghệthuật mới của ông Với “t cách” là một yếu tố của bản thân nội dung tácphẩm, cảm hứng chủ đạo là hệ quả của quá trình thâm nhập thực tế, lựa chọn

đề tài, thể nghiệm t tởng, tình cảm của tác giả, là kết quả của sự hòa điệu giữathế giới quan và tài năng, bản lĩnh và mức độ thâm nhập của ngời sáng tác vàohiện thực đời sống Nó có khả năng thức tỉnh tình cảm ở độc giả, làm tiền đềcho sự tiếp nhận sâu sắc tác phẩm, biến quá trình tiếp nhận tác phẩm dờng nhkhô khan thành quá trình tiếp nhận tự nguyện nhờ sự đồng cảm, thăng hoanghệ thuật Điều quan trọng là ở cả hai “t cách”, cảm hứng chủ đạo đều có vaitrò - gián tiếp hoặc trực tiếp tác động vào ngời tiếp nhận, tạo nên những xung

động thẩm mỹ ở họ, khiến “sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với t tởng thànhtình yêu đối với t tởng” nh Bêlinxki đã từng nhận xét

2.1.1 Cảm hứng giãi bày, tìm lại chính mình

Là nhà thơ lớn của dân tộc, sự nghiệp Chế Lan Viên đã trải qua nhữngbớc thăng trầm, những vinh quang và cay đắng của chặng đờng thơ hiện đại

Việt Nam gần trọn thế kỷ XX Trớc cách mạng tháng Tám, với tập thơ Điêu tàn, Chế Lan Viên “đột ngột hiện ra giữa làng thơ nh một niềm kinh dị”.

“Kinh dị” vì một thế giới thơ đầy những hình ảnh ma quái, lạ lùng “Kinh dị”

vì một quan niệm về loài thi sĩ, về thơ trong lời Tựa Điêu tàn “Kinh dị” vì

một giọng thơ đầy oán thán, uất hận, chán chờng, tuyệt vọng bậc nhất tronglàng Thơ mới Rồi Cách mạng đến với ông, giải thoát nhà thơ khỏi nỗi đaubuồn tuyệt vọng, làm thay đổi đời ông, thay đổi thơ ông Và từ đây, chúng ta

có một nhà thơ Cách mạng, một Chế Lan Viên hoàn toàn khác trớc Hòa trongvăn mạch hào hùng của một thời đại văn học mới, Chế Lan Viên tự nguyện cấtcao tiếng thơ ngợi ca Tổ quốc, dân tộc, Cách mạng Từ “thung lũng đau th-

ơng” ông đã sải bớc ra “cánh đồng vui” cuộc đời, sống gắn bó với nhân dân,

hòa tiếng thơ của mình vào dàn đồng ca của cái ta chung hào hùng, sung sớng trong vị trí “vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy” Suốt ba chục năm hành trình trên đại lộ Cách mạng, Chế Lan Viên chân thành gạt bỏ cái tôi cá nhân,

hoặc có nói cũng chỉ là những ăn năn hối hận về mình trớc Cách mạng để dứt

khoát, quyết tâm phụng sự cái ta chung của dân tộc, hòa cái tôi vào cái ta

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w