Chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính là cố gắng tận dụng, thực hiện một cá
Trang 1VŨ THỊ HỒNG DUNG
ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ THỰC HIỆN CÁC KHẢ NĂNG HOÀ BÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
Trang 2HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà
2 PGS.TS Hoàng Thị Kim Thanh
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia;
- Viện Thông tin khoa học Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh;
- Bộ phận Tư liệu Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Lẽ tự nhiên, con người sinh ra luôn mong muốn được sống hòa bình, tự do, tránh xa chiến tranh Bởi dù bất kể lý do gì, chiến tranh luôn phản ánh mối quan
hệ, mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa các bên, là giải pháp cuối cùng, hình thức cao nhất, tàn khốc nhất để giải quyết mâu thuẫn và hy vọng xác lập nên trật tự quan hệ mới mà mỗi bên có thể chấp nhận được Trong mỗi cuộc chiến tranh, đều tiềm ẩn các khả năng kết thúc cuộc chiến và việc kết thúc nhanh hay chậm, bằng giải pháp chính trị hay quân sự, tùy thuộc vào ý chí, khả năng đánh giá, nhận định tình hình của các bên tham chiến Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) của nhân dân Việt Nam là một ví dụ
Xuyên suốt cuộc kháng chiến là nỗ lực của Việt Nam tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh và nhanh chóng kết thúc chiến tranh Chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính là cố gắng tận dụng, thực hiện một cách hiệu quả các khả
năng có lợi đối với cuộc kháng chiến, được xét trên hai bình diện: một là tranh thủ thực hiện các khả năng do khách quan đem lại; hai là chủ động làm xuất
hiện các khả năng để nhanh chóng đi đến kết thúc chiến tranh Bởi khả năng là cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định, nó khác với cơ hội
là cái nhìn thấy rõ ràng, là dịp thuận lợi xảy ra đúng lúc để có thể thực hiện mục đích thành công Nhận định được các khả năng sẽ xảy ra để có chủ trương, sách lược cụ thể, phù hợp là một trong những yếu tố có vai trò quyết định đưa đến thắng lợi cuối cùng Có nhiều nguyên nhân làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình là một trong những nguyên nhân có vai trò quyết định quan trọng
Dù dưới hình thức đấu tranh nào thì tìm kiếm hòa bình luôn là đích hướng tới của nhân loại, cũng là mục đích của mỗi quốc gia - dân tộc trên con đường đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc và hòa bình cho nhân dân Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước Trên thế giới, hiếm có quốc gia nào trong mấy nghìn năm lịch sử lại phải thường xuyên,
Trang 4liên tục chống lại nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, đô hộ của ngoại bang có sức mạnh hơn gấp nhiều lần như Việt Nam Bởi thế, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt, tàn phá của chiến tranh và giá trị của hòa bình, độc lập Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: nước được độc lập mà dân không được tự do, đồng bào không có cơm ăn, áo mặc thì độc lập không có ý nghĩa gì Thế nên, xét đến cùng, mục tiêu của độc lập chính là hòa bình Hòa bình vừa là mục tiêu cần đạt tới, vừa là chủ trương, sách lược mềm dẻo, linh hoạt để giành độc lập dân tộc Độc lập là tiền đề, điều kiện tiên quyết để có hòa bình Hòa bình, độc lập trở thành mục tiêu hướng tới, khát vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chủ trương tranh thủ mọi khả năng hòa bình dù là nhỏ nhất, cũng như tìm mọi cách, làm hết sức mình, để làm xuất hiện khả năng hòa bình có thể tranh thủ nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đem lại độc lập, hòa bình và thực tế điều
đó đã được thực hiện trong suốt cuộc kháng chiến Đây là một hoạt động quan trọng của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, diễn ra trong bối cảnh thực dân Pháp quyết tâm dùng mọi thủ đoạn áp đặt trở lại sự thống trị lên Việt Nam Xuyên suốt cuộc kháng chiến, Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng nhận thức, phát hiện, lãnh đạo thực hiện các khả năng hòa bình với phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, đề cao chủ quyền dân tộc, nhân nhượng có nguyên tắc
và đã đạt được những kết quả cụ thể, có ý nghĩa to lớn
Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là một nội dung quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng, nhưng còn ít được nghiên cứu và chưa có công trình nghiên cứu nào
đề cập một cách hệ thống, chuyên sâu Nghiên cứu vấn đề Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp sẽ góp phần làm rõ sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tập trung vào đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh ngoại giao, đó là tranh thủ những khả năng hòa bình do thực tế khách quan đem lại và cả quá trình chủ động tìm cách thúc đẩy, tác động để tạo ra các khả năng hòa bình có thể tranh thủ nhằm đưa thắng lợi đến sớm nhất; bối cảnh quan hệ quốc tế liên quan đến vấn đề đó; rút ra những nhận xét, kinh nghiệm về sự lãnh đạo đó của Đảng, đứng đầu là
Trang 5Chủ tịch Hồ Chí Minh; làm cơ sở tham khảo, gợi mở cho hoạt động đối ngoại hiện nay; góp phần đấu tranh chống lại các quan điểm xuyên tạc, bóp méo lịch
sử, cho rằng Việt Nam hiếu chiến, chỉ muốn chiến tranh; khẳng định rõ chủ trương, mong muốn, khát vọng hòa bình của Việt Nam
Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: “Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả n ng h nh ng h ng hi n h ng hự
n h - )”, làm đề tài Luận án tiến sĩ khoa học lịch sử, chuyên
ra những kinh nghiệm để vận dụng vào hiện tại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
- Hệ thống hóa, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
- Nhận xét và đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 -1954)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3 Đ i ượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu chủ trương, quá trình Đảng chỉ đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện tranh
thủ các khả năng hòa bình từ năm 1945 đến năm 1954, trong đó, tập trung nghiên cứu, làm rõ ở một số thời điểm 1945-1946, 1950, 1954 về các nội dung chủ yếu: các khả năng hòa bình; chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh về tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình do điều kiện khách quan
Trang 6thuận lợi đem đến và tìm cách tác động, thúc đẩy nhằm tạo ra các khả năng hòa bình để tranh thủ; những nhận xét, kinh nghiệm về sự lãnh đạo đó của Đảng
- Về không gian: Chủ yếu ở Việt Nam và một số nước có liên quan
- ề thờ g n: từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến (23-9-1945) đến khi ký
Hiệp định Giơnevơ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (21-7-1954)
C ận ng ồn tư iệ và hư ng h nghi n cứ
l l n
Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế, về chiến tranh cách mạng, về độc lập dân tộc và hòa bình
hư ng h nghiên ứ
Phương pháp chủ yếu được sử dụng là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc
Phương pháp lịch sử nhằm trình bày quá trình Đảng, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tập trung vào các mốc lịch sử chủ yếu: 1945-1946; 1950 và 1954
Phương pháp lôgíc: Từ thực tiễn quá trình Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình, khái quát lại những kết quả chủ yếu, rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm về quá trình lãnh đạo đó của Đảng
Ngoài việc sử dụng độc lập và kết hợp khoa học hai phương pháp lịch sử
và lôgíc, nghiên cứu sinh còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác như: thống kê, so sánh; khảo sát tư liệu; phân tích và tổng hợp; các phương pháp phê phán sử liệu và phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học lịch sử Đảng là căn cứ vào các văn bản nghị quyết, chỉ thị của Đảng làm cơ sở đối chiếu với sự kiện, nhân vật lịch sử trong thực tiễn để phân tích, đánh giá
4.3 Nguồn ư liệu, tài liệu tham khảo
- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương Đảng, đã được công bố
trong ăn k ện Đảng Toàn tập
- Các bài viết, phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố trong Hồ
Chí Minh Toàn tập
Trang 7- Các tư liệu, tài liệu của các bộ, ngành liên quan được lưu giữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Thư viện Quốc gia, Thư viện Trung ương Quân đội, Phòng Tư liệu - Phương pháp Viện Lịch sử Đảng
- Các công trình nghiên cứu, tổng kết, các sách, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học; các luận án, luận văn có nội dung liên quan đến đề tài luận án của các cơ quan, nhà khoa học của Việt Nam và quốc tế
- Hồi ký của các nhà lãnh đạo, tướng lĩnh, chính khách, nhân chứng lịch sử
ở trong nước và quốc tế trực tiếp, gián tiếp tham gia vào sự kiện lịch sử trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954
Đ ng g ới về khoa học và thực tiễn của ận n
Đóng gó về khoa học
- Góp phần hệ thống hóa tư liệu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh về tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)
- Bước đầu nêu lên các nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ qúa trình Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Qua đó, làm rõ một trong những vấn đề quan trọng quyết định đến thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến đó là biết tranh thủ thực hiện khả năng hòa bình và thúc đẩy làm xuất hiện các khả năng hòa bình
để sớm kết thúc chiến tranh Khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, sự độc lập, kiên định, mềm dẻo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) Đồng thời, nêu lên ý nghĩa lý luận, thực tiễn của những kinh nghiệm đó đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay
- Cung cấp những cứ liệu khoa học góp phần làm sáng tỏ hơn vị trí, vai trò
và những đóng góp to lớn của chủ trương đối ngoại hòa bình, mặt trận ngoại giao do Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)
Đóng gó về thực tiễn
Luận án là tài liệu tham khảo để các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển đất nước nói chung, chính sách đối ngoại nói riêng nhằm tranh
Trang 8thủ mọi khả năng, thời gian hòa bình tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước,
- Là tài liệu tham khảo đối với việc nghiên cứu, giảng dạy về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược 1945-1954, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và một số môn học lý luận chính trị khác
6 ết cấ của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án được kết cấu gồm 4 chương, 09 tiết:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện khả năng hoà bình từ tháng 9-1945 đến hết năm 1949
Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng tranh thủ thực hiện các khả năng hoà bình từ năm 1950 đến năm 1954
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chư ng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh, Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1996; Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh, Bộ Chính trị, Chiến tranh cách mạng
Việt Nam 1945-1975, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000; Bộ sách gồm 7 tập về Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954), do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Bộ Quốc phòng biên soạn, Nxb
Quân đội nhân dân; Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 10 do Viện Lịch sử quân sự
Việt Nam, Bộ Quốc phòng biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2014; Hai tập sách Lịch sử Việt Nam, tập 10 và tập 11, Viện Sử học thuộc Viện
Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam biên soạn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
2017; Lịch sử một cuộc ch ến tr nh bẩn thỉu của tác giả Trần Trọng Trung, Nxb
Trang 9Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004; Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt
N m g đoạn 1945-1954 và nguyên nhân thất bại của tác giả Nguyễn Mạnh
Hà, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2017; “Pháp trở lại Đông Dương như thế
nào”, của Nguyễn Mạnh Hà, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 5-1995; “Hà Nội tháng 12-1946, những toan tính từ phía bên kia” của Vũ Dương Ninh, Tạp chí Lịch sử
Quân sự, số 12-2006, tr.63-67; “Quá trình dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp - Việt
(1945-1954)”, Vũ Như Khôi, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 12-200, tr.3-7; Lịch sử
cuộc chiến tr nh Đông Dương của Yves Gra, Hoàng Thanh Quang dịch, lưu tại
Viện Lịch sử Quân sự, Hà Nội, 1979; Sự mù quáng củ tướng Đờ Gôn đối với
cuộc chiến ở Đông Dương của Pierre Quatrepoint, NXb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2008; Việt Nam 1946, chiến tranh bắt đầu như thế nào? của Stein,
Tonnesson, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013…
1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan trực tiế đến nội dung luận án
Tổng kết 50 năm đấu tranh trên mặt trận ngoại giao củ Đảng và Nhà nước Việt Nam 1945-1995, tập I (1945-1975) của Học viện Quan hệ quốc tế, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Đấu tranh ngoại giao trong cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân (1945-1954) của Học viện Quan hệ quốc tế, Nxb Đại học quốc
gia, Hà Nội, 2002; Hồ Chí Minh chiến sĩ cách mạng quốc tế của tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Vương Hồng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000; Tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh của Nguyễn Dy Niên, Nxb Chinhs trị quốc gia, Hà Nội,
2002; Ngoại giao Việt Nam từ Việt Bắc đến Hiệp định G ơnevơ của tác giả Nguyễn Phúc Luân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Ngoại giao Việt Nam
phương sách và nghệ thuật đàm phán của tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam
(1940-2010) của tác giả Vũ Dương Ninh, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2015; Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế - lịch sử và vấn đề của tác giả Vũ Dương
Ninh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017; Từ Hiệp định Sơ bộ, Hội nghị trù bị,
Tạm ước… đến chiến tranh của Nguyễn Mạnh Hà, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số
3-1992, tr.13-19; Bàn thêm về ứng xử của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Trung Hoa Dân quốc những năm 1945-1946, của Nguyễn Mạnh Hà,
Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 277-2015, tr.67-72; Về nguyên nhân nổ ra chiến
tranh Đông Dương của Nguyễn Mạnh Hà (Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số
Trang 108+9-1995, tr 133-138); Điện Biên Phủ - động lực của mối quan hệ Việt - Pháp, tác giả
Nguyễn Mạnh Hà (trong sách Đ ện Biên Phủ từ góc nhìn của các nhà khoa học
Việt - Pháp, Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); “Chiến tranh Việt Nam- những cơ hội
hòa bình bị bỏ lỡ” của Nguyễn Mạnh Hà (in trong Đặc s n 50 năm Ủy ban Hòa
bình Việt Nam, tr.43-45; 49-50, Hà Nôi, 2000); “Liệu có thể tránh được cuộc chiến
này không” của Vũ Dương Ninh (Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 11-2016, tr.27-33);
Về công tác ngoại giao trong kháng chiến chống thực dân Pháp của Hoàng Bích
Sơn (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 4-1986, tr.38-42); Đàm và đánh trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) của Ngô Văn Minh (Tạp chí Lịch sử
Quân sự, số 11-2004); Paris - Bắc Kinh - Hà Nội ba cuộc gặp với Hồ Chí Minh để
tìm kiếm hòa bình của Raymond Aubrac (Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 7-2006, tr
4-6); Những nỗ lực vãn hồi hòa bình của Việt Nam trước mùa Đông năm 1947
của Vũ Quang Hiển (Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 12-2007, tr 23-28); Câu chuyện
về một nền hòa bình bị bỏ lỡ và Đối diện Hồ Chí Minh của thiếu tá tình báo Pháp -
Jean Sainteny (Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2004); Paris - Saigon - Hanoi, tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944-1947 của tác giả Phillipe Devillers (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh); Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Giơ-ne-vơ 1954) của tác giả Francoise Joyaux (Nxb Thông tin lý luận Hà Nội,1981); De Gaulle và Việt Nam (1945-1969) của tác giả Pierre Journoud (Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2019)…
1.2 KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ GIỚI THIỆU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
1.2.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học
Qua quá trình nghiên cứu, khảo sát các nguồn tư liệu sưu tầm được, tác giả luận án nhận thấy các công trình khoa học đó đã có những đóng góp trên ba phương diện mà luận án có thể kế thừa:
- Về nội dung: Các nghiên cứu nói trên đã góp phần làm rõ: bản chất thực
dân của Pháp; nguồn gốc sự kiện ngày 19-12-1946; diễn biến, kết quả cuộc chiến tranh; bối cảnh quốc tế và những tác động của cuộc chiến tranh đối với tình hình chính trị, xã hội Pháp, những mâu thuẫn trong nội bộ Chính phủ Pháp; các nội dung xoay quanh Hội nghị Giơnevơ; chủ trương kháng chiến kiến quốc
Trang 11và sách lược đối ngoại theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” để tranh thủ mọi khả năng nhằm ngăn chặn chiến tranh của Việt Nam; vai trò cá nhân
Hồ Chí Minh, và những khả năng có thể tránh được chiến tranh từ phía Pháp
- Về tư l ệu: Danh mục tài liệu tham khảo của các công trình là đường dẫn
giúp nghiên cứu sinh tìm kiếm tư liệu; có nhiều tư liệu gốc mới được công bố; bản thân các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tin cậy, có giá trị hữu ích đối với luận án
- Về phương pháp: Ngoài hai phương pháp chủ yếu là lịch sử và lôgic, các
công trình trên đã gợi mở cho nghiên cứu sinh sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, tổng hợp đối sánh… để tiếp cận, giải quyết vấn đề theo hướng
tư duy mở
1.2.2 Những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết
Có thể khẳng định chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu toàn diện
về Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Vì thế, những vấn đề luận án sẽ tập trung giải quyết làm rõ là:
Một là, kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 là cuộc chiến Việt
Nam buộc phải tiến hành, là lựa chọn duy nhất, không còn lựa chọn nào khác
để giành lấy hòa bình, độc lập dù rằng cả phía Việt Nam và Pháp đều có những yếu tố không muốn chiến tranh xảy ra
Hai là, khẳng định rõ thiện chí, khát vọng hòa bình của Việt Nam, chỉ ra
bản chất hiếu chiến của thực dân Pháp
Ba là, chứng minh việc Đảng lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng
hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) là một chủ trương đúng đắn, có cơ sở lý luận, thực tiễn và đã diễn ra trên thực tế Hệ thống hóa các Chỉ thị, Nghị quyết, văn kiện… của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh có liên quan tới vấn đề đó
Bốn là, Làm rõ các khả năng hòa bình trong suốt cuộc kháng chiến chống
Pháp và chủ trương, sách lược, của Đảng, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong từng thời điểm cụ thể Trong đó, vấn đề tranh thủ khả năng hòa bình được xét trên hai bình diện: tranh thủ các khả năng có sẵn do các điều kiện thuận lợi đem tới và chủ động thúc đẩy, tạo ra, làm xuất hiện các khả năng hòa bình có thể tranh thủ để nhanh chóng kết thúc chiến tranh
Trang 12Năm là, rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm về quá trình Đảng lãnh đạo
tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954
Tiểu kết chư ng 1
Những công trình, bài viết, nguồn tư liệu nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo rất quan trọng của luận án Có nhiều nội dung, vấn đề luận án có thể kế thừa Từ đó, tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn những vấn đề luận
án đặt ra về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 và rút ra những nhận xét, kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với vấn đề này
Chư ng 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO TRANH THỦ THỰC HIỆN KHẢ NĂNG HÒA BÌNH
TỪ THÁNG 9 - 19 ĐẾN HẾT NĂM 19 9 2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ LÃNH ĐẠO TRANH THỦ THỰC HIỆN KHẢ NĂNG HÒA BÌNH CỦA ĐẢNG
2.1.1 Bối cảnh tình hình
T ng nước: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, đã
phải đối mặt với những thách thức tồn vong, ở vào thế không đồng minh, không tiền và hầu như không có vũ khí, vận mệnh đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” Tuy nhiên, từ trong muôn vàn khó khăn đó, Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy khát vọng hòa bình, độc lập và ý chí quyết tâm thực hiện khát vọng đó của nhân dân
Tình hình th giới: Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới,
mối quan hệ quốc tế có những biến đổi lớn Thế giới hình thành hai hệ thống chính trị - xã hội mâu thuẫn, đối lập nhau, đó là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và hệ thống các nước tư bản, đế quốc chủ nghĩa Liên Xô và Mỹ trở thành hai cường quốc có vai trò ảnh hưởng, chi phối thế giới Chiến tranh lạnh lan rộng, tác động mạnh mẽ đến cơ cấu quyền lực quốc tế của Liên Xô, Mỹ và quan
hệ quốc tế của từng nước, từng khu vực Các lực lượng dân chủ, hòa bình trên thế giới, các dân tộc thuộc địa tiến công mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân, đế quốc Tình hình nước Pháp cũng có nhiều biến động…
Trang 13Bối cảnh trên là cơ sở thực tiễn quan trọng để Đảng, đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh hoạch định chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình
2.1.2 Nhận thức của Đảng về tranh thủ khả năng hòa bình trước Cách mạng th ng T nă 19
Thời kỳ từ 1930 đến 1945 là 15 năm Đảng vừa nhận thức, tìm tòi và xác định con đường đi cho dân tộc, vừa lãnh đạo nhân dân tranh thủ mọi cơ hội, điều kiện thuận lợi, đấu tranh giành độc lập dân tộc Biểu hiện cụ thể ở các thời điểm 1936-1939; 1939-1945 Thực tiễn đó là kinh nghiệm, yếu tố quan trọng tác động đến chủ trương lãnh đạo tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp
2.2 CHỦ TRƯƠNG TRANH THỦ THỰC HIỆN CÁC KHẢ NĂNG HÒA BÌNH CỦA ĐẢNG TỪ THÁNG 9 - 19 ĐẾN HẾT NĂM 19 9
2.2.1 Từ sau ngày 2-9-19 đến ngày 19-12-1946
Đây là thời gian miền Bắc có hòa bình, đất nước ở trong tình thế vừa kháng chiến ở miền Nam, vừa kiến quốc ở miền Bắc để cùng thực hiện một mục tiêu chung, cuối cùng là giành lại và bảo vệ nền độc lập, hòa bình thực sự và trọn vẹn cho Tổ quốc Chủ trương tranh thủ thực hiện các khả năng hòa bình của Đảng lúc này chính là từ các điều kiện, khả năng khách quan, trên cơ sở thực lực cách mạng, xác định đúng kẻ thù chính, hiểu rõ toan tính của từng đối tượng, của lực lượng Đồng minh ở Việt Nam, đề ra sách lược ngoại giao phù hợp nhằm phân hóa, triệt để khai thác mâu thuẫn giữa các tập đoàn đế quốc, lực lượng tay sai, tránh cùng lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù… Cụ thể là cần tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của Liên Xô, Mỹ, nhân dân Pháp và nhân dân tiến bộ các nước Đối với quân Trung Hoa Dân quốc thì chủ trương nhân nhượng với phương châm xử thế “đại sự thì biến thành trung sự, trung sự biến thành tiểu sự, tiểu sự biến thành
vô sự”, với thực dân Pháp thì tìm cách hòa hoãn, tránh chiến tranh, nhân nhượng trên nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến”, đồng thời nỗ lực thể hiện thiện chí thành thật muốn hợp tác, khát vọng hòa bình tránh chiến tranh
Chủ trương đó được thể hiện qua hàng loạt các văn kiện, Chỉ thị của Đảng
như: “Thông cáo về chính sách ngoại giao ngày 3-10-1945 của Chính phủ Lâm
thờ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hò ” xác định rõ đối sách với từng đối
tượng, lực lượng cụ thể; Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ngày 25-11-1945, chỉ
rõ đường lối đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ cụ thể của kháng chiến, kiến quốc;