1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tóm tắt TV Trần Bá Tăng

27 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 551,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1998 đến nay cũng bộc lộ những hạn chế cả trong nhận thức cũng

Trang 1

TRẦN BÁ TĂNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA

Trang 2

Công trình đƣợc hoàn thành tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Nguyễn Văn Sự

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2020

Có thể tìm hiểu luận án tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam

và Thƣ viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Trần Bá Tăng (2019), "Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa của thành phố Hà Nội (2005-2016)", Tạp chí Lịch sử Đảng, (340)

tr 99-103

2 Trần Bá Tăng (2019), "Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn

và phát huy giá trị di sản văn hóa", Tạp chí Giáo dục lý luận, (299)

tr 81-88

3 Trần Bá Tăng (2020), “Đảng bộ thành phố Hà Nội lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể (2010-2020)”,

Tạp chí Lịch sử Đảng, (356), tr 112-115

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Di sản văn hóa (DSVH) là những bằng chứng có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, giúp con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch

sử, đặc trưng văn hóa của đất nước, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc trong việc bảo tồn DSVH tại Việt Nam không chỉ là bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

mà còn gắn liền với việc bảo vệ nền độc lập dân tộc

Di sản văn hóa Việt Nam là bộ phận DSVH của nhân loại, đây là tài sản quý giá của con người Việt Nam, là yếu tố quan trọng làm nên bản sắc của dân tộc Việt Nam và cũng là cơ sở để sáng tạo những giá trị văn hóa, DSVH Việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy DSVH là trách nhiệm của mỗi người, mỗi

tổ chức, mỗi dân tộc để thể hiện việc "uống nước nhớ nguồn" tri ân với tiền nhân, đây cũng là những động lực tạo ra sức mạnh tinh thần và là cội nguồn của sức mạnh vật chất để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước

Di sản văn hóa còn chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn, là nguồn lực đối với phát triển kinh tế, nếu được khai thác, sử dụng tốt sẽ góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nếu DSVH bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi, đặc biệt là khi đất nước đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của dân tộc DSVH dân tộc được Đảng xác định là "tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa" Vì thế cần: "Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc… chú trọng gìn giữ, phát huy các di sản văn hóa phi vật thể, tôn tạo và quản lý tốt các di sản văn hóa vật thể, các di tích lịch sử"

Hà Nội là trung tâm hội tụ và tỏa sáng văn hóa số một của cả nước, với

sự giàu có, đa dạng về các loại hình DSVH vật thể và DSVH phi vật thể Từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) về xây

Trang 5

dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đến nay, công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH ở Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần mở rộng giao lưu và hội nhập văn hóa với các nước trong khu vực và thế giới Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của Đảng bộ Thành phố

Hà Nội từ năm 1998 đến nay cũng bộc lộ những hạn chế cả trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, dẫn đến tình trạng xâm lấn đất đai, cảnh quan di sản, làm biến dạng các DSVH, biến tướng các lễ hội truyền thống Thực tiễn quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến nay với những ưu điểm và hạn chế nêu trên rất cần được nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, trên cơ sở đó đúc kết những kinh nghiệm để vận dụng trong thời gian tới

Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, trong thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH được công bố dưới nhiều cấp độ

và phạm vi khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách độc lập, có tính hệ thống về quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014, dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: Đảng bộ Thành phố

Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014 làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014, trên cơ sở đó đúc kết một

số kinh nghiệm để vận dụng trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án

Làm rõ những yếu tố tác động đến quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội

lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

Trang 6

Trình bày có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố

Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014, qua

hai giai đoạn 1998 - 2008 và 2008 - 2014

Nhận xét và đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà

Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội

về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Từ năm 1998 đến năm 2014, với mốc chia chương là năm

2008: Năm 1998 là thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", cũng là năm Thành ủy Hà Nội ra chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; Năm 2008 là năm Hà Nội mở rộng địa giới hành chính (sáp nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh và 4 xã của huyện Lương Sơn, Hòa Bình); Năm 2014 là thời điểm các cấp bộ đảng trên phạm vi cả nước tiến hành tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, trong đó có Đảng bộ Thành phố Hà Nội

Về không gian: Nghiên cứu công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 1998 - 2008 (khi Hà Nội chưa mở

rộng) và khi Thành phố Hà Nội mở rộng (giai đoạn 2008 - 2014)

Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ những yếu tố tác động;

chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH (bao gồm: bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vật thể; bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể); nhận xét và đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

4 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận là chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, bảo tồn và phát huy

giá trị DSVH trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 7

4.2 Nguồn tư liệu: Các tác phẩm của Mác - Ăngghen, V.I Lênin, Hồ Chí

Minh; các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các văn kiện của Đảng bộ và chính quyền Thành phố Hà Nội có liên quan đến văn hóa, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá DSVH; các chương trình, báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (nay là

Sở Văn hóa - Thể thao); các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án…

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để làm rõ

các nội dung của luận án Trong đó:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để làm rõ bối cảnh, quá trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và

phát huy giá trị DSVH theo diễn tiến thời gian

Phương pháp lôgic dùng để làm rõ các bước phát triển tư duy nhận thức

và chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH; rút ra những ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân và đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố về bảo tồn

và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê được sử dụng nhằm làm rõ chủ trương và luận chứng các mặt chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo

tồn và phát huy giá trị DSVH qua hai giai đoạn 1998 - 2008 và 2008 - 2014

Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH giữa các

giai đoạn cũng như giữa Hà Nội với các địa phương khác

5 Đóng góp về khoa học của luận án

Góp phần hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Thành

phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH năm 1998 đến năm 2014

Đưa ra những nhận xét đánh giá có cơ sở khoa học về quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH năm 1998 đến năm 2014 trên cả hai bình diện ưu điểm, hạn chế, làm rõ nguyên nhân của ưu

điểm, hạn chế

Đúc kết những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà

Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

Trang 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Góp phần vào việc tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (qua thực tiễn địa

bàn Thành phố Hà Nội) Góp thêm luận cứ cho việc đổi mới chủ trương,

chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong thời kỳ đổi mới và

hội nhập quốc tế

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kinh nghiệm được đúc kết trong luận án có thể được vận dụng trong lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của Thành phố Hà Nội

trong thời gian tới Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên

cứu, hoạt động tuyên truyền giáo dục về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH; đồng thời là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử

Đảng và lịch sử Đảng bộ địa phương

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

nội dung của luận án gồm 4 chương, 9 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Quan niệm về di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Trong nội dung này, luận án khái quát làm rõ hai vấn đề cơ bản: (1) Quan

niệm về DSVH, làm rõ DSVH là gì, phân tích DSVH vật thể và DSVH phi

vật thể, mối quan hệ giữa DSVH vật thể và DSVH phi vật thể (2) Quan niệm

về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, làm rõ thuật ngữ bảo tồn và phát huy

giá trị DSVH, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát huy DSVH, bảo tồn thành công thì mới phát huy được các giá trị của DSVH và ngược lại, vì có mối quan hệ như vậy nên hoạt động này đôi khi được gọi một cách ngắn gọn là hoạt động bảo tồn và nó tồn tại trong môi trường động

Trang 9

1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.2.1 Các nghiên cứu chung về văn hóa, di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc

Các công trình đã xuất bản thành sách như: Bảo tồn và phát huy bản sắc

văn hóa dân tộc (1999) của Nguyễn Quang Điển và cộng sự; Thành tựu trong xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam 25 năm đổi mới (1986 - 2010)

(2010), của Phạm Duy Đức và cộng sự; Đảng lãnh đạo xây dựng và phát

triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới (2012), của Nguyễn Danh Tiên; Luận

án Tiến sĩ (2014), của Bùi Bạch Đằng: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

phát huy bản sắc văn hóa dân tộc từ năm 1998 đến năm 2014 Ngoài ra còn

có rất nhiều bài viết có liên quan được đăng tải trên nhiều tạp chí khoa học chuyên ngành, được tác gải thống kê chi tiết trong luận án Những công trình trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về văn hóa, DSVH; vị trí, vai trò, đường lối, chủ trương, quá trình Đảng lãnh đạo và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH

1.2.2 Các nghiên cứu về văn hóa, di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở các địa phương trên cả nước

Sách đã xuất bản như: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể

trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (2002) của Đặng Văn Bài và cộng sự; Công cuộc bảo tồn di sản thế giới ở Thừa Thiên - Huế (2013), của Trung tâm

Bảo tồn di tích cố đô Huế Các luận án tiến sĩ như: Vấn đề giữ gìn và phát

huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên - Huế hiện nay (2014), của Trần Thị Hồng

Minh; Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác bảo tồn và phát

huy các giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 - 2014 (2018), của Trần Thị Kim

Ninh; Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích

lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015 (2018), của Hoàng Văn Vân

Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến thực trạng, kết quả, hạn chế, giải pháp về công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

1.2.3 Các nghiên cứu về di sản văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Các cuốn sách như: Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể Thăng

Long - Hà Nội (2010), của Nguyễn Chí Bền và cộng sự; Bảo tồn, phát huy giá trị

Trang 10

di sản văn hóa phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội (2010), của Võ Quang Trọng

và cộng sự Các bài viết như: "Bảo vệ di sản văn hóa truyền thống ở các làng

xã được chuyển thành phường tại Thủ đô Hà Nội hiện nay" (2007), của Trần Thị

Hồng Yến, Thạch Thiết Hà, Tạp chí Dân tộc học; "Bảo tồn và phát huy các giá

trị văn hóa truyền thống Hà Nội trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế" (2014), của Nguyễn Danh Tiên, Tạp chí Cộng sản

Những công trình đã đề cập đến những vấn đề chung về DSVH, nêu rõ thực trạng, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH của Thành phố Hà Nội

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố

Một là, các công trình đã đề cập đến vấn đề văn hóa, DSVH; quan điểm

của Đảng, chính sách của Nhà nước, thực trạng, hoạt động; những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH dân tộc nói chung và Hà Nội nói riêng dưới nhiều góc độ khác nhau

Hai là, nhiều công trình đi sâu nghiên cứu làm rõ tầm quan trọng của

văn hoá, DSVH trong đời sống xã hội; đi sâu nghiên cứu văn hóa, DSVH, những đặc điểm của các loại hình di sản và vấn đề quản lý di sản trong xu thế mới, nhấn mạnh đến tính thời đại và nhu cầu của con người trong việc bảo tồn, khai thác các DSVH nói chung và DSVH Hà Nội nói riêng

Ba là, các công trình đều khẳng định quan điểm của Đảng Cộng sản

Việt Nam: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển; nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam"

Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học

đi trước, luận án này nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố

Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Một là, các yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà

Nội về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

Trang 11

Hai là, quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội chỉ đạo bảo tồn và phát

huy các giá trị di sản văn hóa từ năm 1998 đến năm 2014, qua hai giai đoạn

1998 - 2008 và 2008 - 2014

Ba là, ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình

Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ năm 1998 đến năm 2014

Tiểu kết chương 1

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA (1998 - 2008) 2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ Thành phố

Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

2.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hà Nội

* Điều kiện tự nhiên

Thành phố Hà Nội trước khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008 có

09 quận nội thành và 05 huyện ngoại thành, diện tích của Hà Nội là 920,97 km2

Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nhiều sông ngòi hồ đầm, địa hình đa dạng và phong phú cảnh quan thiên nhiên Điều đó có tác động lớn đến sự tồn tại và việc bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

* Điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội, con người

* Về kinh tế: Với vị trí là trung tâm, Hà Nội có vai trò đặc biệt quan

trọng trong sự phát triển kinh tế của cả nước cũng như quốc tế, những năm

2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm đạt 11,0%, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 38 triệu đồng, đã có ảnh hưởng lớn việc bảo tồn

và phát huy giá trị DSVH

* Về văn hóa, xã hội, con người

Hơn 1000 năm xây dựng và phát triển Thăng Long - Hà Nội trở thành Thủ đô của nước Việt Nam, là trái tim của cả nước, trung tâm lớn về chính

Trang 12

trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và ngoại giao đã tạo cho Hà Nội là nơi hội tụ và tỏa sáng cho văn hóa và truyền thống dân tộc Việt Nam

Với vai trò trung tâm, Hà Nội là nơi tụ cư sinh sống và làm việc, buôn bán của người dân khắp các vùng miền trên cả nước, sự hội tụ dân cư đa dạng của các vùng miền và các tầng lớp dẫn đến sự đa dạng về đời sống văn hóa, là điều kiện để giao lưu, hội tụ, tiếp biến văn hóa tạo nên văn hóa đặc trưng của Hà Nội, đồng thời cũng lan tỏa ra các vùng miền trong nước và quốc tế

Hà Nội là nơi hội tụ những tinh hoa văn hóa của cả nước tạo thành văn hóa văn hóa kinh kỳ, Thăng Long - Hà Nội Đồng thời, là nơi tập trung nhiều

di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ và danh lam thắng cảnh Mặt khác, cũng là nơi có nhiều DSVH phi vật thể có đặc trưng riêng và DSVH phi vật thể mang tầm cỡ đại diện của nhân loại Điều đó, vừa có thuận lợi, vừa có những khó khăn trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVH

2.1.1.2 Hệ thống di sản văn hóa ở Hà Nội và công tác bảo tồn, phát

huy giá trị di sản văn hóa ở Hà Nội trước năm 1998

Về hệ thống di sản văn hóa ở Hà Nội trước năm 1998

Thăng Long xưa, Hà Nội ngày nay là vùng đất địa linh nhân kiệt, hội tụ

và lan tỏa văn hóa của mọi miền đất nước, nơi lưu giữ một kho tàng DSVH

đa dạng và phong phú Nơi đây được mệnh danh là thành phố di sản

Về công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH ở Hà Nội trước năm 1998

Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trước năm 1998 phải đối mặt với nhiều khó khăn từ cuộc tái thiết và phát triển đất nước sau chiến tranh Tuy nhiên, Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã có những chủ trương, đặc biệt từ sau năm 1986 đã chỉ đạo sát đối với phát triển văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH đã đạt được một số kết quả cơ bản Nhiều di tích lịch sử văn hóa được đầu tư trùng tu tôn tạo, xây dựng nhiều dự án lớn như: Dự án đầu tư tôn tạo

di tích Cổ Loa; dự án di tích thành cổ Hà Nội, di tích Đoan Môn, Thành Hà Nội; dự án khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, khảo sát hiện tượng sử dụng đất trong các di tích để đề xuất quy hoạch quản lý, đầu tư tôn tạo và phân cấp

Trang 13

quản lý các di tích danh thắng, di tích cách mạng kháng chiến trên địa bàn thành phố

Bên cạnh những ưu điểm vẫn còn tồn tại hạn chế như: Tổ chức lễ hội còn mang tính tự phát, phong trào, giáo dục chưa cao; tình trạng thương mại hóa tín ngưỡng xuất hiện ngày càng nhiều gây bức xúc Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH còn mang nặng tính tự phát, manh mún, tùy tiện; tình trạng xâm hại DSVH ngày một gia tăng, phức tạp Công tác xã hội hóa ở các DSVH còn mới mẻ, chưa có quy định, quy chế cho nên chưa phát huy được tiềm năng trong nhân dân, nguồn lực còn thiếu, yếu về trình độ nghiệp vụ, chuyên môn; cơ chế, chính sách và công tác quản lý của thành phố còn bất cập, chưa theo kịp với nhịp độ phát triển của đời sống, chưa đi vào thực tiễn cuộc sống…

2.1.1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH: Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), IX (2001), X (2006) khi đề cập đến vấn

đề về văn hóa đều khẳng định phải xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm

mỹ, các DSVH của dân tộc và bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh của đất nước Nghị quyết Trương ương 5, khóa VIII (1998), Đảng phát triển quan điểm văn hóa lên một bước cao hơn khi đưa ra nghị quyết riêng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và cho rằng: "Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội" Đây

là lần đầu tiên Đảng, Nghị quyết này đã thể hiện sự phát triển cả nhận thức

và tư duy lý luận về văn hóa, lãnh đạo văn hóa của Đảng

Chính sách của Nhà nước về bảo tồn, phát huy DSVH: Quá trình hoàn

thiện về luật pháp đối với lĩnh vự bảo tồn và phát huy giá trị DSVH các dân tộc ở nước ta có bước tiến mới vượt bậc với Hiến pháp năm 1992, trong đó hiến định trách nhiệm của Nhà nước, các tổ chức, nhân dân về bảo vệ, giữ gìn và phát huy DSVH dân tộc Quốc hội đã thông qua Luật Di sản văn hóa

Ngày đăng: 02/07/2021, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w