ĐẶT VẤN ĐỀSử dụng kiến thức liên môn trong dạy học không phải là vấn đề xa lạ đối vớingười giáo viên nói chung và đối với giáo viên giảng dạy môn Lịch Sử nói riêng.Thế nhưng sử dụng kiến
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học không phải là vấn đề xa lạ đối vớingười giáo viên nói chung và đối với giáo viên giảng dạy môn Lịch Sử nói riêng.Thế nhưng sử dụng kiến thức của môn học nào cho đúng, sử dụng như thế nào chophù hợp với từng giai đoạn lịch sử, với từng bài dạy để tạo hiệu quả cho giờ dạy vàhọc sinh hứng thú học tập, tiếp thu bài học tốt là điều mà người giáo viên lịch sửcần phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo
Cũng như các môn học khác, môn học Lịch Sử góp phần vào việc thể hiệnmục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, của cấp học, bậc học Bộ môn Lịch Sửkhông chỉ đòi hỏi học sinh ghi nhớ sự kiện mà còn phải hiểu bản chất của từng sựkiện, từng vấn đề, từ đó vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, rút ra những bàihọc bổ ích Vì vậy đòi hỏi học sinh phải tư duy, sáng tạo
Thế nhưng đa số chúng ta vẫn quan niệm rằng học lịch sử chỉ cần học thuộc,ghi nhớ các sự kiện một cách máy móc, không phải tư duy, không có bài tập,không phải động não Đa số học sinh coi Lịch sử là “môn học phụ” nên các em ítchú ý học Hơn nữa người giáo viên dạy Lịch sử chỉ làm nhiệm vụ giảng lại sáchgiáo khoa nên không thể gây hứng thú, say mê học tập cho học sinh
Những năm gần đây, ngành giáo dục đang chú trọng việc đổi mới phươngpháp dạy - học Ở nhiều cấp học đã chú ý việc soạn - giảng của giáo viên và tổchức học tập ở học sinh, trong đó coi trọng vị trí, vai trò của người học – Học sinhvừa là đối tượng vừa là chủ thể, giáo viên là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn
Vì vậy học sinh phải chủ động, tích cực khai thác kiến thức
Trong các phương pháp đổi mới dạy học, phương pháp sử dụng kiến thứcliên môn dạy học gây hứng thú cho học sinh trong từng tiết học Đặc biệt là đối vớimôn Lịch sử, việc khai thác, sử dụng kiến thức môn Ngữ Văn, Địa Lí làm cho họcsinh nhận thức được sự phát triển của xã hội một cách liên tục thống nhất, giúp họcsinh nắm kiến thức một cách có hệ thống, mang tính chất tổng hợp Vì vậy tôimạnh dạn đưa ra đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
“SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN VĂN HỌC, ĐỊA LÝ ĐỂ DẠY HỌCPHẦN “VIỆT NAM TỪ CUỐI NĂM 1946 ĐẾN NĂM 1954”, THỰC NGHIỆMQUA TIẾT 32 - LỊCH SỬ 9”
Trang 2B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.
- Mục tiêu của giáo dục nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là tập trung vàophát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tạo hứng thú học tập cho học sinh, đểhình thành cho học sinh những kĩ năng cần thiết trong cuộc sống Phương pháp dạyhọc sử dụng kiến thức liên môn là một trong những phương pháp đáp ứng đượcmục tiêu này
- Bài học sử dụng kiến thức liên môn có thể lôi cuốn được mọi đối tượng họcsinh, giúp học sinh tìm tòi nội dung giao thoa giữa các môn học để bổ sung chonhau,làm sáng tỏ hơn những kiến thức mà học sinh được học trong mỗi môn học
- Áp dụng phương pháp dạy học liên môn nâng cao chất lượng học tập và tănghiệu quả dạy học lịch sử
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.Thuận lợi:
- Ở cấp trung học cơ sở học sinh chưa học theo khối nên đang học đều giữa cácmôn Hơn nữa môn Lịch sử có lợi thế trong việc sử dụng công nghệ thông tin đểkhai thác kênh hình vì vậy có thể thu hút học sinh trong giờ dạy
- Một số em yêu thích học Lịch sử nên tiếp thu bài nhanh và chăm chỉ học tập
2 Khó khăn:
- Phương tiện, đồ dùng phục vụ cho môn học còn ít và thiếu về chủng loại
- Đa số học sinh không thích học môn Lịch sử, vì nó khô khan, kiến thức dài, khó
nhớ Các em học bài cũ, bài mới theo tính chất đối phó chứ không phải hiểu bảnchất vấn đề, sự kiện Ví dụ như khi tôi dạy qua bài “ Tổng khởi nghĩa tháng Támnăm 1945”,hôm sau tôi hỏi lại học sinh: “ ngày 2/9/1945 có sự kiện trọng đại gìdiễn ra ở nước ta ?” thì nhiều em không nhớ chỉ có một số ít học sinh khá thì nhớđược hay khi tôi dạy xong bài “Xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ nhândân” tôi hỏi học sinh về sự kiện 6/1/1946 và 6/3/1946 thì tình trạng cũng tương tự Qua đây tôi muốn nói rằng đa số các em học sinh hiện nay còn thờ ơ với mônhọc Lịch sử, không quan tâm đến quá trình phát triển của đất nước trong quá khứ,không hiểu đạo lí “uống nước nhớ nguồn” mà chỉ biết hưởng thụ
Kết quả khảo sát khi tôi dạy học phần “chương V” ở lớp 9A trường THCS &THPT Như Thanh không sử sụng phương pháp liên môn Ngữ Văn, Địa Lý; khôngkết hợp sử dụng công nghệ thông tin, như sau:
2
Trang 3KẾT QUẢ KIỂM TRA KHẢO SÁT
Đó là thực trạng chung trong việc học môn Lịch Sử của học sinh trường THCS
& THPT Như Thanh Sau đây là một số cách thức, biện pháp tổ chức thực hiện đểgóp phần khắc phục thực trạng trên
III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1 Giải pháp:
1.1 Môn Địa lý là môn học có nhiều quan hệ liên quan đến môn Lịch sử, bởi vìbất kì một cuộc khởi nghĩa, một trận đánh hay một cuộc hội nghị… đều diễn ra ởmột hay nhiều địa điểm nhất định Vì vậy việc dạy học lịch sử kết hợp với bản đồ,lược đồ là vô cùng cần thiết
- Bản đồ được coi là phương tiện trực quan sinh động giúp học sinh học chămchú, hình dung ra các địa điểm, trận đánh hay chiến dịch trên lược đồ…từ đó họcsinh có hứng thú hơn, hiểu bài hơn, tiếp thu kiến thức nhanh hơn và nhớ lâu hơn
- Giáo viên hướng dẫn và giải thích cho các em các kí hiệu trên lược đồ và cách
sử dụng lược đồ Những địa danh trên các lược đồ lịch sử hiện nay có thể đã thayđổi vì vậy khi sử dụng giáo viên nên liên hệ tên hiện nay của những địa danh đãthay đổi đó
- Tuy nhiên để sử dụng, khai thác bản đồ có hiệu quả người giáo viên dạy sửphải có kiến thức cơ bản về bản đồ Nếu giáo viên có thể kết hợp sử dụng dạy bằngcông nghệ thông tin thì hiệu quả càng cao hơn
1.2 Tài liệu văn học là nguồn tư liệu quan trọng đối với dạy học lịch sử, bằngnhững hình ảnh cụ thể, hình tượng văn học có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tìnhcảm của người học Vì vậy giữa văn học và sử học có mối quan hệ khăng khít vớinhau Nội dung, đề tài văn học thường là phản ánh về một giai đoạn, một thời kìlịch sử nhất định của dân tộc
- Văn học thời kì kháng chiến chống Pháp được tạo nên từ đề tài chiến tranh vàngười lính; hình ảnh “anh bộ đội Cụ Hồ” là điểm nhấn quan trọng và là hình tượngtrung tâm của văn học giai đoạn này Vì vậy khi dạy học phần lịch sử Việt Nam từ
Trang 41946-1954 giáo viên có thể lồng ghép nhiều bài thơ, đoạn thơ, nội dung cốt truyện
về cuộc kháng chiến để bài giảng thêm sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh
“ Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng
Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới,
vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc
Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu
Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không
có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu quốc đã đến Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước
Dù phải gian khổ kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”
Nếu giáo viên kết hợp với sử dụng công nghệ thông tin cho học sinh nghe đoạn video nguyên bản lời của Bác đọc thì càng tăng hiệu quả
Khi giáo viên giảng mục II: “Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến16” có thể kể cho học sinh nghe về tấm gương hi sinh của các chiến sĩ ôm bom ba
4
Trang 5càng lao vào phá hủy xe tăng địch, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh như chiến sĩTrần Thành, Lê Gia Đỉnh.
Khi giảng mục IV: “Chiến dịch Việt Bắc thu-đông 1947” có thể đọc cho họcsinh nghe một đoạn thơ trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu để học sinh thấyđược khí thế cũng như sự đoàn kết chiến đấu của quân dân ta trong chiến dịch ViệtBắc thu - đông 1947
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
Núi giăng thành luỹ sắt dày
Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
2.1b Bài 26: “Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1950-1953).”
Khi giảng về diễn biến của chiến dịch Biên giới thu đông 1950 giáo viên có thểđọc cho học sinh nghe bài thơ “Lên núi” của Hồ Chí Minh để học sinh thấy được
sự quan tâm, lo lắng sát sao của Bác đối với chiến dịch, đối với dân tộc, thấy đượcsức mạnh của quân đội, của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp:
“ Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí thế nuốt Ngưu Đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cày”
Đồng thời giáo viên có thể kết hợp kể về tấm gương hi sinh của Trần Cừ lấy cảthân mình lấp kín lỗ châu mai, ngăn chặn hỏa lực của địch bắn vào quân ta, La vănCầu đã chặt đứt cánh tay phải bị thương, hi sinh thân mình để phá lô cốt của địch
và chiếu hình ảnh của 2 chiến sĩ này
Khi giảng mục IV nói về công tác xây dựng phát triển hậu phương giáo viên
có thể nhắc đến bài thơ “Sáng tháng năm” của Tố Hữu để học sinh thấy đượckhông chỉ có các chiến sĩ trên chiến trường mới đánh giặc mà tất cả mọi người dânViệt Nam yêu nước đều là “chiến sĩ” đánh giặc:
Trang 6Vững tay người chiến sĩ nông thôn
Bắt sỏi đá phải thành sắn gạo
Anh thợ, má anh vàng thuốc pháo
Cánh tay anh dày sẹo lửa gang
Ôi những em đốt đuốc đến trường làng
Và các chị dân công mòn đêm vận tải!
2.1c Bài 27: “ Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc(1953-1954).”
Khi giáo viên giảng về diễn biến, kết quả của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ
1954 có thể đọc cho học sinh nghe một số đoạn thơ trong bài thơ “ Hoan hô chiến
sĩ Điện Biên” của Tố Hữu để học sinh thấy được để có thắng lợi lịch sử này là sứcmạnh của toàn dân tộc, là sự hi sinh quên mình của các anh hùng dân tộc:
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi,
ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn!
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu bịt lỗ châu mai
Băng mình qua núi thép gai
Ào ào vũ bão,
Những đồng chí chèn lưng cứu pháo
Nát thân, nhắm mắt, còn ôm
Những bàn tay xẻ núi lăn bom
Nhất định mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện
Đồng thời giáo viên có thể kể những tấm gương hi sinh dũng cảm chochiến dịch toàn thắng như chiến sĩ Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn pháo, chiến sĩ Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng, chiến sĩ Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai và chiếu hình ảnh về sự hi sinh của họ
6
Trang 7Như vậy qua việc kết hợp những kiến thức văn học vào bài giảng để làm sáng
tỏ hơn, khắc sâu hơn cho các em hình ảnh người lính trong cuộc kháng chiếnchống Pháp cùng những hi sinh, mất mát, đau thương của họ, của gia đình và của
cả dân tộc Đồng thời các em cũng hiểu được tình yêu quê hương đất nước, tinhthần chiến đấu dũng cảm, hi sinh quên mình của các chiến sĩ cách mạng, tinh thầnđoàn kết của toàn dân tộc chính là một trong những yếu tố cơ bản đem đến sựthắng lợi của cuộc kháng chiến
2.2 Sử dụng kiến thức Địa lý trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1946
đến năm 1954
2.2a Khi giảng về “cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16” giáo
viên sử dụng lược đồ “cuộc chiến đấu ở các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16” để xácđịnh nơi diễn ra các cuộc chiến đấu ở các đô thị lớn như Hà Nội, Nam Định, Vinh,Huế, Đà Nẵng
2.2b Khi giảng về “chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947” giáo viên sử dụng
lược đồ “chiến dịch Việt Bắc thu - đông 1947” cho học sinh thấy được kế hoạch
“gọng kìm” tấn công Việt Bắc của Pháp và cuộc tiến công bẻ gãy từng “gọng kìm”của quân ta
Trang 92.2c Khi dạy phần “Chiến dich Biên giới thu – đông 1950” giáo viên sử
dụng lược đồ
Trang 10“Chiến dịch Biên giới thu - đông 1950” để học sinh hiểu rõ âm mưu kế hoạch củaPháp nhằm bao vây, cô lập căn cứ Việt Bắc với hệ thống phòng ngự trên đường số
4 và tuyến hành lang Đông - Tây; đồng thời thấy rõ cuộc chiến đấu dũng cảm củaquân ta trong chiến dịch này, đặc biệt là cuộc chiến tại cứ điểm Đông Khê
2.2d Khi giáo viên dạy về “Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1954” có thể sử dụng lược đồ “ Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954” để học sinh thấy được các hướng tấn công của quân ta buộc Pháp phải điềuquân từ đồng bằng Bắc Bộ đi các nơi để đối phó với ta, làm phá sản bước đầu kếhoạch Na-va của Pháp - Mĩ
1953-10
Trang 11Lược đồ cuộc tiến công chiến lược Đông- Xuân 1953-1954
2.2e Khi giáo viên dạy về “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954” có thể
sử dụng lược đồ “Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ” để học sinh hiểu rõ âm mưu
kế hoạch của Pháp - Mĩ nhằm xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểmmạnh nhất Đông Dương - pháo đài bất khả xâm phạm và Lược đồ “chiến dịch lịch
sử Điện Biên Phủ 1954 ” để tường thuật các trận đánh quyết liệt, giành nhau từngtấc đất giữa ta và địch, để học sinh thấy được chiến thắng vang dội “lừng lẫy nămchâu, chấn động địa cầu” này của dân tộc Việt Nam
Trang 12Lược đồ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ
12
Trang 13Lược đồ chiến dich lịch sử Điện Biên Phủ 1954
* BÀI DẠY VẬN DỤNG.
Lịch sử: Tiết 32.Bài 26: BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1950-1953)
Trang 14* Hoạt động của thầy và trò trên lớp.
Bước 1: Kiểm ra bài cũ
? Trình bày kết quả,ý nghĩa của chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947 ?
Bước 2: Dạy bài mới.
+ Giới thiệu bài mới:
Sau cuộc chiến ở Việt Bắc thu - đông 1947 thì Pháp có âm mưu gì mới ? Đảng ta
đã đối phó lại âm mưu đó như thế nào ? Tại sao lại nói với thắng lợi của chiến dịchBiên giới thu – đông 1950 đã mở ra giai đoạn phát triển mới của cuộc kháng chiếnchống Pháp của dân tộc ta ? Để giải đáp những vấn đề đó cô mời các em cùng tìmhiểu qua tiết học hôm nay
+ Bài mới:
Hoạt động của GV và HS Nội dung chính
Hoạt động 1:
Tình hình thế giới và Đông
Dương sau chiến dịch Việt Bắc có gì
thuận lợi cho cách mạng?
(Thay đổi có lợi cho cách mạng: cách
mạng Trung Quốc thành công, )
Tại sao Mĩ lại can thiệp sâu vào
chiến tranh Đông Dương?
(thay chân Pháp chiếm đóng Đông
Dương )
Hoạt động 2:
? Bước vào thu – đông 1950, âm mưu
của Pháp- Mĩ ở Đông Dương như thế
2 Quân ta tiến công địch ở biên giới phía Bắc
* Âm mưu của Pháp:
(thực hiện kế hoạch Rơ –ve nhằm; ngăn
chặn ảnh hưởng cách mạng Trung Quốc, tiêu
- Thực hiện kế hoạch Rơ-ve nhằm:+ Khoá cửa biên giới Việt – Trung
14
Trang 15diệt lực lượng kháng chiến của ta)
Để thực hiện âm mưu đó,Pháp đã làm gì?
GV sử dụng Lược đồ:
- Yêu cầu HS xác định hệ thống phòng ngự
đường số 4 – từ Đình Lập (Lạng Sơn) đến
Cao Bằng( kí hiệu đường màu đỏ trên lược
đồ) và tuyến hành lang Đông – Tây , từ Hải
Phòng đến Hòa Bình( kí hiệu gạch chấm màu
xanh trên lược đồ)
- Giáo viên phân tích rõ âm mưu của Pháp
(Tăng cường hệ thống phòng ngự trên đường
4 → Khoá cửa biên giới Việt – Trung Thiết
lập hành lang Đông – Tây→ Cô lập căn cứ địa
Việt Bắc )
? Trước âm mưu của Pháp, Đảng đã có chủ
trương như thế nào?Tại sao?
(xuất phát tình hình thế giới và Đông Dương
thay đổi có lợi cách mạng, địch có âm mưu
mới, chứng tỏ thế và lực của ta lớn mạnh →
mở chiến dịch biên giới 1950)
+ Cô lập căn cứ địa Việt Bắc
- Biện pháp thực hiện:
+ Tăng cường hệ thống phòng ngự trênđường 4 (từ Đình Lập-Lạng Sơn đến CaoBằng)
+ Thiết lập hành lang Đông – Tây (từ HảiPhòng đến Hòa Bình)
+ Chuẩn bị tấn công Việt Bắc lần 2
* Chủ trương của ta:
- 6 /1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới