Tuy nhiên, từ sau khi gia nhập WTO 2007, phát triển mạnh kinh tế thị trường, “bùng nổ” thị trường văn hóa nghệ thuật, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, nhiều tổ chức, đơn vị nghệ thuật, t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
LẠI THỊ THU HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ HÁT KỊCH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý văn hóa
Mã số: 60310642
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN ĐỨC NGÔN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2MỤC LỤC Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA, NGHỆ
THUẬT VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT KỊCH HÀ NỘI
12
1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý văn hóa, nghệ thuật 12
1.1.2 Nội dung quản lý trực tiếp các đơn vị nghệ thuật 25
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ HÁT KỊCH HÀ NỘI 37
2.1 Xây dựng bộ máy, cơ chế quản lý và đội ngũ nghệ sĩ 37 2.1.1 Quá trình xây dựng bộ máy quản lý và đội ngũ nghệ sĩ 37
2.2 Quản lý các hoạt động của Nhà hát Kịch Hà Nội 46
2.2.1 Quản lý hoạt động nghiên cứu, sáng tác 47 2.2.2 Quản lý hoạt động tổ chức biểu diễn 51
2.2.3 Quản lý hoạt động giáo dục nghệ thuật Kịch 59
2.3 Quản lý cơ sở vật chất, tài chính của Nhà hát Kịch Hà Nội 62 2.3.1 Quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng và trang thiết bị cho
Nhà hát Kịch Hà Nội
62
2.3.2 Quản lý tài chính của Nhà hát Kịch Hà Nội 63
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý Nhà hát Kịch Hà Nội 64
Trang 32.4.1 Ưu điểm trong quá trình quản lý 64
2.4.3 Nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế 67
3.1.3 Định hướng phát triển Nhà hát Kịch Hà Nội 83
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát Kịch Hà Nội 89 3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm kiện toàn bộ máy quản lý Nhà hát
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ đầy đủ
AHLĐ: Anh hùng lao động
BDNT: Biểu diễn nghệ thuật
BVHTT: Bộ Văn hóa Thông Tin
BVHTT&DL: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch CNH-HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN VĂN
2 2.1 Chức danh NHK Hà Nội từ 1995 đến nay 40
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học và nghệ thuật thực hiện chức năng “hiểu biết, khám phá, sáng tạo” những giá trị xã hội - nhân văn Vì vậy, nó là một trong những thành tố quan trọng nhất của văn hóa, có khả năng gây cảm xúc mạnh mẽ nhất đến đời sống tinh thần của con người - “Không hình thái tư tưởng nào có thể thay thế được văn học, nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người…” [17, tr.229]
Cũng như văn học, lĩnh vực nghệ thuật gồm rất nhiều loại hình phong phú, đa dạng, truyền thống và hiện đại, do rất nhiều tổ chức, đơn vị nghệ thuật đảm nhiệm Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ đề cập riêng đến loại hình nghệ thuật sân khấu kịch nói, đây là loại hình nghệ thuật mà Nhà hát kịch Hà Nội chịu trách nhiệm quản lý hoạt động Trải qua hơn 25 năm từ khi đổi mới đến nay, Nhà hát kịch Hà Nội đã từng bước trưởng thành, gặt hái được nhiều thành quả đáng ghi nhận
Tuy nhiên, từ sau khi gia nhập WTO (2007), phát triển mạnh kinh tế thị trường, “bùng nổ” thị trường văn hóa nghệ thuật, xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp, nhiều tổ chức, đơn vị nghệ thuật, trong đó có NHK Hà Nội đã gặp phải nhiều khó khăn lúng túng, bất cập về phương diện tác phẩm, tổ chức biểu diễn, trình độ đạo diễn, nghệ sĩ, thị hiếu thẩm mĩ nghệ thuật của công chúng, nhất là lớp trẻ, và kể cả phương diện cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật giải trí đại trà khác Thực tế các hoạt động của NHK Hà Nội 5 năm qua trong bối cảnh hiện nay đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề cho công tác quản lý Nó đòi hỏi cần có một công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc để giải quyết nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của NHK trong thời gian tới
Trang 7Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý văn hóa, quản lý nghệ thuật nói chung, trong đó cũng đã có một số công trình đề cập đến quản lý các đơn vị nghệ thuật cụ thể hoặc đề cập đến một số vấn đề về chức năng trong quản lý đơn vị nghệ thuật Tuy nhiên, về Nhà hát Kịch Hà Nội cho đến nay chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm Trong số luận văn, luận án ở các trường đại học, các viện nghiên cứu cũng chưa có công trình nào hướng tới Nhà hát Kịch Hà Nội Vì vậy, đây vẫn là một khoảng trống khoa học để đề tài luận văn thạc sĩ mà tôi đã lựa chọn - “QUẢN LÝ NHÀ HÁT KỊCH HÀ NỘI” có thể triển khai thực hiện
2 Tình hình nghiên cứu
Từ sau ngày đổi mới đến nay đã nhiều công trình nghiên cứu khoa học
về quản lý văn hóa và nghệ thuật Những công trình được thực hiện dưới dạng giáo trình, bài giảng, luận văn, luận án, tài liệu nghiên cứu Nội dung đề cập đến quản lý văn hóa, nghệ thuật nói chung; quản lý đối với từng tổ chức, thiết chế văn hóa, nghệ thuật; quản lý từng bộ phận chức năng của quản lý văn hóa, nghệ thuật nói riêng Khi nói đến quản lý văn hóa, các công trình thường đề cập tổng hợp đến cả các lĩnh vực hoạt động văn hóa và lĩnh vực hoạt động nghệ thuật Còn khi nói riêng về quản lý nghệ thuật, các tác giả thường đề cập hoặc tổng hợp cả 3 lĩnh vực nghệ thuật (Điện ảnh, Mỹ thuật, NTBD) hoặc đề cập cụ thể theo từng lĩnh vực hoạt động nghệ thuật đó
Luận văn xin được giới thiệu một số công trình nghiên cứu đáng chú ý,
có liên quan đến luận văn và được chia làm hai phần riêng: quản lý văn hóa; quản lý nghệ thuật
* Về quản lý văn hóa, có một số công trình như:
Cuốn Văn hóa và phát triển do Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội xuất
bản năm 1995 gồm 345 trang Nội dung của công trình nghiên cứu này đề cập
Trang 8đến trách nhiệm công tác quản lý Nhà nước về văn hóa trong bối cảnh đổi
mới, xóa bỏ cơ chế bao cấp, hội nhập quốc tế
Đề tài khoa học quốc gia KX.06.16 năm 1995: Chính sách bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc, gồm 160 trang Nội dung đề tài này đề cập
đến việc hoạch định chính sách và công tác quản lý Nhà nước về di sản văn hóa dân tộc trong thời kỳ phát triển CNH và hội nhập quốc tế
Cuốn Quản lý hoạt động văn hóa của tác giả Nguyễn Văn Hy, Phan Văn
Tú, Nxb Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1988, gồm 152 trang Nội dung cuốn sách đề cập đến lý luận quản lý, quản lý văn hóa, chính sách văn hóa, quy trình quản lý văn hóa, nội dung quản lý văn hóa trên tất cả các lĩnh vực
về di sản văn hóa, nghệ thuật, về hợp tác quốc tế, về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành Văn hóa - Thông tin
được viết năm 1999 của Trường cán bộ quản lý Văn hóa - Thông tin Nội
dung của tập bài giảng này đề cập đến kiến thức quản lý Văn hóa - Thông tin
Luận văn Thạc sĩ - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh của tác giả Vũ Tiến Bình bảo vệ năm 2001 Quản lý Nhà nước về văn hóa ở quận Ba Đình trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH hiện nay Nội
dung luận văn đề cập đến vấn đề Quản lý Nhà nước về văn hóa nói chung
và ở quận Ba Đình Hà Nội nói riêng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH hiện nay
Những bài giảng về quản lý văn hóa trong kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa của PGS.TS Nguyễn Tri Nguyên được Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2004
Trong cuốn: Quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực của PGS.TS
Nguyễn Thị Thu Linh, GS Phùng Thế Trường được Nxb Giáo dục, Hà Nội
Trang 9xuất bản năm 2005, trang 283 - 309 đề cập đến vấn đề Quản lý nhà nước về văn hóa
Đề tài cấp cơ sở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh của tác giả
Vũ Thị Phương Hậu viết năm 2008 Những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa Nội dung đề tài này đề cập đến
những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa
Trong cuốn Chính sách văn hóa trên thế giới của tác giả TS Nguyễn Văn
Tình được Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2009 Nội dung cuốn sách này đề cập đến chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái Nguyên, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội của tác
giả Bùi Quốc Triều viết năm 2011 Luận văn này đề cập đến vấn đề Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Thái Nguyên
Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Nxb Lao Động, TP Hồ Chí Minh được xuất bản năm 2013 Nội dung kỷ yếu này đề cập đến thực trạng và giải pháp của mối quan hệ kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế- qua thực hiện Nghị quyết Trung ương V khóa VIII
* Về quản lý nghệ thuật, có một số công trình nghiên cứu
Tài liệu nghiên cứu khoa học Mấy vấn đề kinh tế trong quản lý văn hóa, nghệ thuật của Bộ Văn hóa thông tin ấn hành năm 1986, nội dung tài liệu này
đề cập đến một số vấn đề kinh tế trong quản lý văn hóa, nghệ thuật
Tài liệu Trung tâm nghiệp vụ NVH, CLB Trung ương của PGS.TS Bùi
Quý viết năm 1990 đề cập đến hợp đồng kinh tế trong hoạt động nghệ thuật
Trang 10Cuốn Sân khấu và khán giả trong tình hình đổi mới hiện nay của tác giả
Nguyễn Phan Thọ do Nxb Sân khấu, Hà Nội xuất bản năm 1993 đề cập rất rõ thực trạng sân khấu và khán giả trong tình hình đổi mới hiện nay
Cuốn Năm mươi năm sân khấu Việt Nam- Sáng tạo và phát triển do Hội
nghệ sĩ sân khấu Việt Nam ấn hành năm 1996 lại nói đến quá trình sáng tạo
và phát triển của nghệ thuật sân khấu Việt Nam qua 50 năm
Năm 1998, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội cũng đã xuất bản công trình
nghiên cứu của GS.TS.NSND Nguyễn Đình Quang Văn hóa nghệ thuật với
sự hình thành nhân cách và phát triển xã hội đề cập đến vấn đề Văn hóa nghệ
thuật với sự hình thành nhân cách và phát triển xã hội
Trong bài viết Marketing hỗn hợp trong quản lý văn hóa, nghệ thuật của
PGS.TS Phan Văn Tú đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2002 (số 6) đã đề cập đến vấn đề Marketing hỗn hợp trong quản lý văn hóa, nghệ thuật
Năm 2005, Trường Cán bộ quản lý văn hóa - Thông tin ấn hành tài liệu
Ứng dụng marketing trong quản lý văn hóa nghệ thuật Nội dung tài liệu này
đề cập đến vấn đề Marketing trong quản lý văn hóa hiện đại
Năm 2007, trong tài liệu lưu hành nội bộ Thông tin khoa học thành phố
Hồ Chí Minh (Số 1), TS Lê Thị Thanh Thủy đã đề cập đến vấn đề phát triển
sân khấu nhỏ ở Việt Nam
Năm 2009, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành giáo trình
Marketing văn hóa nghệ thuật của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Lan Thanh
Nội dung Giáo trình đề cập đến vấn đề marketing trong văn hóa nghệ thuật
Luận văn thạc sĩ Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội của
tác giả Lê Thị Thu Hiền viết năm 2009 với đề tài Quản lý hoạt động biểu diễn
Trang 11nghệ thuật ở Bộ VHTT&DL Nội dung luận văn đã đề cập đến vấn đề quản lý
hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quan hệ kinh tế - văn hóa - kinh tế - thực trạng và giải pháp do Nxb Lao Động, TP Hồ Chí Minh xuất bản tháng 5 năm
2013 lại chỉ rõ quan hệ phát triển giữa kinh tế với văn hóa, nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, luận văn nhằm hướng đến hoàn thiện công tác quản lý, từ đó tác động tích cực đến sự phát triển của nhà hát trong những năm tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý văn hóa, nghệ thuật
- Phân tích thực trạng quản lý Nhà hát Kịch Hà Nội
- Đề ra định hướng và giải pháp cho việc kiện toàn bộ máy, quy trình quản lý Nhà hát kịch Hà Nội
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bộ máy nhân sự và các hoạt động quản lý của Nhà hát Kịch Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nhà hát Kịch Hà Nội, (có tìm hiểu thêm về Nhà hát Tuổi trẻ để có tư liệu so sánh, đối chiếu)
Trang 12- Phạm vi thời gian: Từ 2008 (khi Đoàn Kịch nói Hà Tây sáp nhập về Nhà hát Kịch Hà Nội) đến nay (trong khoảng 5 năm)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, tham dự các hoạt động quản lý của Nhà hát
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp so sánh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được
bố cục gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về quản lý văn hóa, nghệ thuật và tổng
quan về Nhà hát Kịch Hà Nội
Chương 2 Thực trạng quản lý Nhà hát Kịch Hà Nội
Chương 3 Giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát Kịch
Hà Nội
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT KỊCH HÀ NỘI
1.1 Những vấn đề lý luận về quản lý văn hóa, nghệ thuật
1.1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1.1 Khái niệm quản lý và quản lý văn hóa
Hoạt động quản lý đã được hình thành từ xưa, khi con người đã tụ cư, lao động và sinh hoạt trong mỗi cộng đồng, mỗi nhóm xã hội, mỗi tổ chức Ví như xã trưởng, già làng, Ban lý dịch… chính là những người quản lý, trông coi, chăn dắt, điều khiển, đôn đốc, kiểm tra các hoạt động của mọi người, mọi nhóm xã hội, mọi thiết chế, tổ chức trong cộng đồng xã hội ấy
Qua quá trình phát triển của lịch sử, hoạt động quản lý và công tác quản
lý trong thời đại ngày nay đã trở nên phổ biến và tất yếu trên mọi tầng cấp cộng đồng xã hội từ vi mô đến toàn cầu, trên khắp các lĩnh vực hoạt động, các
tổ chức sự nghiệp chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… Điều kiện
phát triển lịch sử đòi hỏi những năm đầu thế kỷ XX ra đời Khoa học quản lý Khái niệm Quản lý và Hoạt động quản lý đã trở thành đa dạng, đa diện và
phức tạp Trên cơ sở ấy, nhiều xu hướng tiếp cận lý thuyết quản lý khác nhau
đã xuất hiện Theo đó, tồn tại ba dạng quản lý: Quản lý giới vô sinh: nhà xưởng, ruộng đất, hầm mỏ, máy móc thiết bị, sản phẩm…; Quản lý giới sinh vật: vật nuôi, cây trồng…; Quản lý xã hội loài người: Đảng, Đoàn thể, Nhà nước, doanh nghiệp, gia đình… Trong đó, lý thuyết quản lý đề cập chủ yếu
vào dạng Quản lý xã hội loài người, kể cả quản lý toàn bộ cộng đồng xã hội
và quản lý từng nhóm, từng đơn vị tổ chức sự nghiệp kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế…
Trang 14Trong “Khu rừng lý thuyết quản lý” hiện nay, theo cách gọi của Horold Koontz, tác giả cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” có thể đếm được
khoảng 12 cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm quản lý: Tiếp cận theo kinh nghiệm hoặc theo trường hợp, tiếp cận theo hành vi quan hệ cá nhân; tiếp cận hành vi theo nhóm, tiếp cận theo hệ thống hợp tác xã; Tiếp cận theo các hệ thống kỹ thuật - xã hội; Tiếp cận theo lý thuyết quyết định; Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận tác nghiệp [49, tr.32-48]
Tuy có nhiều xu hướng lý thuyết, nhưng trong thực tế khoa học quản lý hiện nay chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất cho khái niệm này Song theo cách nhìn khái quát, dễ hiểu, dễ tác nghiệp trong hoạt động quản lý đối với các tổ chức sự nghiệp văn hóa một cách có khoa học, có nghiệp vụ, có nghệ thuật, luận văn chọn đưa ra 3 định nghĩa quản lý như sau:
Thứ nhất, “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra, khỏi đi lệch hướng, lệch chuẩn” [20, tr.11] Trong định nghĩa này, cần chú ý một số điểm cốt lõi:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định;
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là
bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp
và có tính bắt buộc, có cấp trên, cấp dưới;
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người và tổ chức;
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan, nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan;
- Xét về mặt công nghệ, quản lý là sự vận động của thông tin, trật tự hóa thông tin [20, tr.519-536]
Trang 15Thứ hai, trong quá trình tiếp cận kỹ năng tác nghiệp của người quản lý các
tổ chức sự nghiệp nói chung, sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật nói riêng, lại cần chú ý đến định nghĩa: “Quản lý tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến
động” Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, Harold Koontz gọi đây là cách “Tiếp cận tác nghiệp” của lý luận quản lý [49,tr.45-46]
Sơ đồ hóa nội dung của định nghĩa này được thể hiện như sau:
Thứ ba, theo từ điển tiếng Việt Quản lý ở nghĩa thứ nhất: “Là tổ chức
điều khiển, theo dõi thực hiện những chính sách, đường lối của nhà nước” Định nghĩa này tuy không thể hiện rõ ràng, đầy đủ về mặt lý luận khoa học quản lý, nhưng dù sao nó cũng đã nêu lên được những chức năng cơ bản của công tác quản lý và phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Quá trình quản lý
Kiểm tra
Lập kế hoạch
Tổ chức
Điều hành (lãnh đạo) thực thi
Phối hợp hoạt động
- Mục tiêu đúng
- Hiệu quả cao
Trang 161.1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa và về hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Để hiểu quản lý hoạt động văn hóa trước hết cần tìm hiểu khái quát về QLNN và QLNN về văn hóa QLNN là sự quản lý mang tính chất hành pháp, được thực hiện bởi bộ máy Nhà nước trên cơ sở quyền lực Nhà nước, để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Có thể hiểu: “Quản lý nhà nước
là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[20, tr.34]
QLNN về văn hóa là hoạt động định hướng, cơ bản và quan trọng nhất trong quản lý văn hóa QLNN về văn hóa ở đây được hiểu là hoạt động quản
lý của cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương đối với lĩnh vực văn hóa, là hoạt động thực thi quan điểm, đường lối văn hóa của Đảng và các văn bản pháp luật về lĩnh vực này do cơ quan lập pháp ban hành
để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực văn hóa Đồng thời bằng việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy, các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương tác động có tổ chức và điều chỉnh trên cơ sở quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý hoạt động văn hóa của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
QLNN về văn hóa còn là quá trình tác động có tổ chức đến các hoạt động văn hóa QLNN về văn hóa không chỉ là sự quản lý theo chiều từ trên xuống dưới mà còn là sự điều chỉnh quá trình tự quản lý của từng người, từng
Trang 17gia đình, tập thể, làng xóm… theo chuẩn mực chung của Nhà nước hướng từ dưới lên
Quản lý Nhà nước về văn hóa được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội bởi văn hóa luôn gắn liền với kinh tế - xã hội
Ngoài ra, không đơn thuần là sự thống kê số lượng sản phẩm văn hóa mà QLNN về văn hóa còn là sự thanh tra, kiểm tra, đánh giá xem sản phẩm văn hóa ấy đem lại giá trị gì, có nhân văn hay không
Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về văn hóa còn đòi hỏi phải giới hạn văn hóa ở một phạm vi hẹp và vào những hoạt động cụ thể Vì vậy, ở các quốc gia trên thế giới sự QLNN về văn hóa hầu như khác nhau, các mô hình quản lý phụ thuộc vào điều kiện lịch sử - kinh tế - chính trị - văn hóa xã hội của từng nước Ở nước ta quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa được thống nhất từ Trung ương đến địa phương, bên cạnh đó có cả bộ phận chuyên ngành quản
lý văn hóa trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Hoạt động văn hóa thực chất là những hoạt động sáng tạo, bảo quản, phân phối và sử dụng (khai thác) các giá trị văn hóa nhằm mục đích văn hóa hóa con người để làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội Quản lý hoạt động văn hóa chính là quản lý “những quá trình thực hành của cá nhân
và các thiết chế xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người trong xã hội” [23, tr.7]
Quản lý hoạt động văn hóa là nhân tố chính tạo nên sự thúc đẩy khả năng sáng tạo của con người Nó đáp ứng được nhu cầu giải trí, thỏa mãn những mong muốn được thưởng thức những món ăn tinh thần lành mạnh, chất lượng của quần chúng nhân dân Trong các Văn kiện của Đảng đã chỉ rõ mọi
Trang 18hoạt động văn hóa đều phải nhằm vào việc xây dựng con người Việt Nam mới phát triển toàn diện Để thực hiện mục đích cao cả đó, mọi hoạt động văn hóa trong xã hội phải biết tận dụng, phát huy tất cả giá trị văn hóa của dân tộc và thế giới Thực tiễn xã hội ấy đòi hỏi chủ thể quản lý phải có những chủ trương, chính sách, giải pháp hợp lý để thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả tối đa mục đích đã đặt ra
Hoạt động biểu diễn nghệ thuật là hoạt động sáng tạo của người nghệ
sĩ để có thể trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng Theo Điều 4 Quyết định số 47/2004/QĐ-BVHTT ngày 02/7/2004
của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL Biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật
chuyên nghiệp là: “Là hoạt động đưa chương trình, tiết mục, vở diễn đến
với công chúng qua sự trình diễn của diễn viên chuyên nghiệp, thể hiện hình tượng nghệ thuật, phản ánh cuộc sống thông qua tác phẩm sân khấu,
ca, múa, nhạc nhằm giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, lối sống, nâng cao dân trí, thẩm mỹ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật là quản lý các hoạt động trình diễn chương trình, tiết mục, vở diễn trực tiếp trước công chúng của người nghệ sĩ Quản lý Nhà nước về BDNT là sự tác động của Nhà nước thông qua các văn bản pháp luật để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động BDNT mang tính chuyên nghiệp trên phạm vi toàn quốc nhằm định hướng cho sự phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Có rất nhiều loại hoạt động biểu diễn nghệ thuật, cụ thể: Tuồng, chèo, cải lương, xiếc, múa, bài chòi, kịch nói, kịch dân ca, kịch câm, nhạc kịch, giao hưởng, ca nhạc, ngâm thơ, tấu hài, tạp kỹ… Với đặc trưng riêng của mình, mỗi loại hình nghệ thuật là cả một thế giới riêng biệt, không thể áp dụng tiêu
Trang 19chuẩn của hội họa cho âm nhạc, cũng không thể lấy tiêu chuẩn âm nhạc làm tiêu chuẩn của múa Hầu hết các loại hình nghệ thuật đều lấy cảm hứng từ văn học, nhưng chúng không hoàn toàn giống nhau Do đó, ngoài nguyên tắc chung về quản lý văn hóa, các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau cũng cần có những cách tiếp cận, những phương pháp quản lý riêng
Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động lao động có tính chất đặc thù Người nghệ sỹ sáng tạo ra những sản phẩm có giá trị văn hóa tinh thần, những sản phẩm ấy không lượng hóa được nhưng có sự lan tỏa rất lớn trong cộng đồng
xã hội Đối với đối tượng quản lý có tính chất đặc thù, định hướng quá trình sáng tạo của đối tượng này là một vấn đề hết sức nhạy cảm Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự hiểu biết, thông cảm và chia sẻ với những tâm tư tình cảm cũng như những khó khăn vướng mắc của chủ thể quản lý với đối tượng đặc biệt ấy Quản lý đối tượng này là quản lý cái “đại ngã”, tình cảm tư tưởng, phần cơ thể thiên của người nghệ sỹ Phương pháp quản lý hiệu quả nhất ở đây không phải bằng pháp luật, bằng cưỡng chế, mà phải bằng sự động viên khuyến khích, giác ngộ tư tưởng để người nghệ sỹ, diễn viên cống hiến hết mình cho nghệ thuật và cho nhân dân, đất nước, hướng họ đến với mục đích cao cả, đến với giá trị Chân - Thiện - Mỹ
Với đối tượng là công chúng thưởng thức giá trị nghệ thuật, chủ thể quản
lý phải nhận thức rằng họ chiếm phần đa số trong xã hội và chính họ là những người trực tiếp xây dựng bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế xã hội Quản lý văn hóa đối với những đối tượng này
cũng hết sức quan trọng và cần được quan tâm xứng đáng
Quản lý nhà nước về văn hóa nói chung hay trong lĩnh vực hoạt động biểu diễn nghệ thuật nói riêng ở nước ta trong bối cảnh phát triển CNH - HĐH, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay cần phải nhằm đúng vào những mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược cốt lõi đã
Trang 20được đề ra từ trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33/NQ/TW) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
Cụ thể, đó là các mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; Đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với cộng đồng xã hội và đất nước Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Xây dựng văn hóa trong doanh nghiệp, trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, trong mỗi gia đình Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh CNH
- HĐH và hội nhập quốc tế Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng
bá văn hóa Việt Nam Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội”[15, tr.2-3]
Hướng vào những mục tiêu cốt lõi nêu trên, Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI cũng đã vạch ra 8 nhiệm vụ chiến lược quan trọng cần được quản lý thực hiện có hiệu quả trong thời kỳ hiện nay:
Trang 21- Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cả về trí - đức - thể
- mỹ, cả về lối sống, cả về thị hiếu, sở thích, lý tưởng, bản lĩnh, năng lực sáng tạo
- Xây dựng môi trường văn hóa và đời sống văn hóa trên khắp các địa bàn dân cư, các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp đạt chuẩn thực chất về văn hóa Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh Xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng
- Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, các đoàn thể) trong sạch, vững mạnh Xây dựng văn hóa trong các tổ chức kinh tế (văn hóa doanh nghiệp)
- Bảo tồn, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống: di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc Việt Nam, cả trong tôn giáo và tín ngưỡng
- Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật lên tầng cao mới trên tất cả các phương diện: sáng tác, quảng bá, phê bình, lý luận; xây dựng và đổi mới phương thức hoạt động của các hội, các tổ chức văn học, nghệ thuật; đào tạo, trọng dụng, tôn vinh trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân
- Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, đảm bảo thiết thực, hiệu quả Quản lý tốt các loại hình thông tin trên mạng internet Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ chế đầu tư theo hướng ưu tiên các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực
- Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa Khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến cho công nghiệp văn hóa Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi
Trang 22trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hóa và công nghiệp hóa Củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản
lý và thực thi quyền tác giả
- Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Phát huy tài năng, tâm huyết của trí thức, văn nghệ sĩ Việt Nam ở nước ngoài đóng góp cho đất nước Xây dựng cơ chế, chính sách và đa dạng hóa các hình thức phát triển văn hóa đối ngoại
Nhìn chung, trong bất kỳ xã hội nào, chế độ nào, dù quản lý xã hội nói
chung hay quản lý văn hóa nói riêng, Quản lý luôn vẫn là một trong những
nhu cầu xã hội cơ bản, tất yếu của loài người, có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo sự thống nhất, an toàn trong đời sống xã hội Các - Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy
mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [2, tr.480]
Do đó, có thể kết luận rằng: nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có Quản
lý Vai trò của Quản lý được thể hiện bằng những tác dụng cụ thể như sau:
- Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức, bao gồm các thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau; giữa những người bị quản lý và người quản lý Chỉ có thể tạo nên sự thống nhất trong đa dạng thì quản lý mới có kết quả, mới giảm được chi phí tiền của và công sức cho quản lý
- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, tổ chức vào mục tiêu chung đó
Trang 23- Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích, đánh giá, khen thưởng những người có công; uốn nắn những lệch lạc, sai sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những thất thoát, sai lệch trong quá trình quản lý
- Tạo điều kiện và môi trường cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả [23, tr.9-11]
1.1.1.3 Khái niệm quản lý trực tiếp các đơn vị nghệ thuật
Có thể gọi quản lý trực tiếp các đơn vị nghệ thuật là quản lý các tổ chức
sự nghiệp nghệ thuật (quản lý sự nghiệp; quản lý các tổ chức, đơn vị nghệ thuật) Mặc dù, bất kỳ một tổ chức sự nghiệp nào được thành lập trong xã hội đều phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước, nhưng giữa quản lý Nhà nước và quản lý sự nghiệp có những điểm khác nhau
Quản lý Nhà nước (hay còn gọi là quản lý hành chính nhà nước) là quản
lý hành pháp thông qua những thể chế pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước, thể chế tài chính, chính sách đầu tư, thể chế tổ chức, cán bộ, thể chế quy hoạch cơ sở hạ tầng, thể chế hợp tác, đối ngoại… Còn quản lý các tổ chức sự nghiệp là quản lý hành nghề ngành nghề mình đảm trách, thông qua những quy chế hoạt động của tổ chức, những quy chuẩn về lao động, về sản xuất, phân phối, quy mô, liên minh hợp tác, thu chi tài chính… trực tiếp của tổ chức, đơn vị mình Những quy chế, quy chuẩn của tổ chức đặt ra không được trái với quy định của pháp luật
Quản lý Nhà nước là quản lý vĩ mô, bao quát mọi loại tổ chức trong đời sống xã hội, hoặc trong từng lĩnh vực, từng chuyên ngành Còn quản lý các tổ
Trang 24chức sự nghiệp ví như quản lý các tổ chức, đơn vị sự nghiệp nghệ thuật thuộc loại quản lý vi mô, quản lý cụ thể nội bộ các hoạt động của đơn vị mình
Quản lý Nhà nước chỉ có một thành phần quản lý là Nhà nước (Chính phủ, các cấp chính quyền, Bộ, Sở, Cục, Vụ, Ban, Văn phòng) Ở lĩnh vực nghệ thuật, có 3 chủ thể quản lý Nhà nước: Cục Điện ảnh, Cục Mỹ thuật nhiếp ảnh triển lãm, Cục nghệ thuật biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch
Trong khi đó, quản lý các tổ chức, đơn vị sự nghiệp lại được phép có nhiều thành phần quản lý: Các Giám đốc (CEO) của các tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập; Các Giám đốc (CEO) của các tổ chức đơn vị sự nghiệp dân lập, tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, các đơn vị cổ phần hóa…
Trong lĩnh vực nghệ thuật có 3 chuyên ngành: Điện ảnh; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh, Triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn Trong mỗi chuyên ngành gồm
có nhiều ngành Ở mỗi ngành lại được lập ra tổ chức, đơn vị hoạt động nghệ thuật, cả công lập, dân lập - là các tổ chức sự nghiệp nghệ thuật NHK Hà Nội được coi là một tổ chức hoạt động nghệ thuật thuộc ngành Kịch nói nằm trong chuyên ngành NTBD, chịu sự quản lý về chuyên môn nghệ thuật của Cục nghệ thuật biểu diễn, Bộ VHTT&DL, đồng thời chịu sự quản lý Nhà nước của Sở VHTT&DL và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Có thể quan niệm Quản lý trực tiếp các tổ chức, đơn vị nghệ thuật là quá
trình trực tiếp lập kế hoạch, sắp xếp phân công tổ chức, xây dựng các nguồn lực đảm bảo lãnh đạo điều hành và kiểm tra các hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức, không lệch định hướng quy định của các cấp quản lý nhà nước, đảm bảo nâng cao hiệu lực quản lý đơn vị nghệ thuật, đem lại hiệu quả cao về xã hội và kinh tế, trong điều kiện môi trường bên ngoài luôn biến động
Trang 25Trong quá trình quản lý trực tiếp các đơn vị, tổ chức nghệ thuật có quy mô tương đối lớn, dù trong hay ngoài công lập, để nâng cao được hiệu lực và hiệu quả, cần thiết áp dụng mô hình quản lý ma trận như biểu
chức
năng
quản lý
Quản lý Marketing
Quản lý R&D (nghiên cứu và phát triển)
Quản lý sản xuất
Quản lý nhân lực
Quản lý tài chính
Quản lý chất lượng
Trong quá trình quản lý cần phát huy sức mạnh tự chủ, tự quản, sáng tạo đổi mới của đơn vị nghệ thuật trong cả công tác quản lý và các hoạt động nghệ thuật, không thụ động, ỷ lại, dựa dẫm vào chế độ bao cấp [24, tr.84]
Trang 261.1.2 Nội dung quản lý trực tiếp các đơn vị nghệ thuật
1.1.2.1 Quản lý xây dựng bộ máy, cơ chế quản lý và nhân sự
Trong quản lý xây dựng bộ máy, tùy theo đơn vị nghệ thuật quy mô lớn hay nhỏ, trong hay ngoài công lập lại có quy tắc xây dựng bộ máy quản lý và
cơ chế quản lý có sự khác nhau
Đối với một đoàn nghệ thuật công lập có quy mô 30 đến 50 người, bộ máy quản lý đoàn chỉ cần có một Trưởng đoàn và hai Phó đoàn, do cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên lựa chọn và bổ nhiệm Đoàn nghệ thuật cần có hai
bộ phận (tổ) chức năng tham mưu về nghệ thuật và hậu cần, thường do hai Phó đoàn trực tiếp phụ trách, cán bộ của hai bộ phận này được thi tuyển dụng theo chức danh công chức Lực lượng hoạt động nghệ thuật (diễn viên, nghệ sĩ) cần chiếm khoảng 65% tổng biên chế của Đoàn nghệ thuật, được tuyển dụng theo thi tuyển tài năng nghệ thuật có thể tuyển dụng trong biên chế hoặc hợp đồng
Đối với các Đoàn nghệ thuật ngoài công lập được cơ quan QLNN cấp phép hoạt động, bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức, tuyển dụng cán bộ, diễn viên, nghệ sĩ, tổ chức hoạt động là do họ tự quyết định Nhưng tất cả vấn đề này đều phải tuân thủ theo những quy định, tiêu chuẩn của Cục NTBD và Sở VHTT&DL đề ra
Đối với các đơn vị nghệ thuật ở quy mô là nhà hát nghệ thuật công lập, nhân sự hàng trăm cán bộ, nhân viên, diễn viên, nghệ sĩ, bộ máy quản lý được xây dựng thành Ban Giám đốc, gồm một Giám đốc và hai Phó Giám đốc Ban Giám đốc Nhà hát nghệ thuật cấp tỉnh, thành phố do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lựa chọn, bổ nhiệm; ở cấp Trung ương thì do Bộ VHTT&DL lựa chọn, bổ nhiệm Theo quy định chung của Bộ, các Nhà hát
Trang 27nghệ thuật được thành lập 3 phòng chức năng tham mưu quản lý: Phòng Hành chính tổng hợp; Phòng Nghệ thuật; Phòng Tổ chức biểu diễn Mỗi phòng có 1 Trưởng và 1 Phó, do Sở VHTT&DL và Giám đốc Nhà hát lựa chọn, bổ nhiệm Mỗi phòng được biên chế từ 5 đến 7 cán bộ công chức, tùy theo Quyết định của UBND tỉnh, thành phố, được thi tuyển dụng theo chức danh công chức
Lực lượng hoạt động nghệ thuật của Nhà hát (sáng tác, đạo diễn, họa sĩ, diễn viên, hậu đài) cần chiếm khoảng 2/3 tổng biên chế của nhà hát, được thi tuyển dụng theo tài năng và được tuyển dụng theo biên chế hoặc hợp đồng lao động Mỗi nhà hát thường được thành lập từ hai đến ba Đoàn nghệ thuật thành viên Mỗi đoàn có 1 Trưởng và 1 Phó Trưởng Đoàn, do sự tín cử của đoàn và được sự bổ nhiệm của Giám đốc nhà hát Số lượng diễn viên của mỗi Đoàn thường có trên dưới 40 người, được tuyển dụng theo đề xuất của Trưởng Đoàn và chịu sự quản lý trực tiếp của Trưởng, Phó Đoàn
1.1.2.2 Quản lý các hoạt động chuyên môn của đơn vị nghệ thuật
Quản lý hoạt động nghệ thuật ở đây được hiểu là quản lý cả một quá trình từ khâu hoạt động sáng tạo - sản xuất - bảo quản - phân phối và sử dụng các sản phẩm nghệ thuật do chính các Đoàn hay Nhà hát nghệ thuật chuyên nghiệp công lập chịu trách nhiệm Tùy theo trình độ, cấp độ, điều kiện thực tế của mỗi đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, mức độ quản lý quá trình hoạt động nghệ thuật ấy có khác nhau, đầy đủ hay không đầy đủ các khâu hoạt động đó cũng khác nhau
Luận văn sẽ trình bày nội dung quản lý các hoạt động nghệ thuật của một đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp ở tầm Nhà hát nghệ thuật công lập (quy mô giống như NHK Hà Nội)
- Quản lý các hoạt động nghiên cứu sưu tầm, sáng tác, chuyển thể, dàn dựng các tác phẩm nghệ thuật (âm nhạc, múa, sân khấu, tạp kỹ, sân khấu
Trang 28hóa) Nội dung quản lý các hoạt động này giao cho phòng Nghệ thuật của Nhà hát trực tiếp phụ trách
- Quản lý các hoạt động trình diễn nghệ thuật (hoạt động phân phối, phổ biến các sản phẩm nghệ thuật tới mọi tầng lớp công chúng) bằng nhiều hình thức: Biểu diễn trong các rạp hát, nhà hát công cộng, sân khấu ngoài trời, sân khấu mini của các Nhà văn hóa; trình diễn trên các phương tiện truyền thông
- Quản lý các hoạt động giáo dục nghệ thuật (hoạt động xây dựng phong trào nghệ thuật không chuyên, nghệ thuật đại chúng) Nói cách khác, hoạt động giáo dục nghệ thuật không đồng nghĩa với hoạt động xây dựng phong trào nghệ thuật không chuyên, nghệ thuật đại chúng Hơn nữa, các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp, dù trong hay ngoài công lập, không có chức năng, nhiệm vụ quản lý các hoạt động xây dựng phong trào nghệ thuật không chuyên, nghệ thuật đại chúng Các hoạt động xây dựng phong trào nghệ thuật này thuộc trách nhiệm quản lý của Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa, Cục văn hóa cơ sở Các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp có thể quản lý hoạt động giáo dục nghệ thuật thông qua hình thức trình diễn và bình luận một số tác phẩm nghệ thuật có giá trị, đáng tự hào nhất Còn đối với phong trào nghệ thuật không chuyên thì các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp chỉ có thể phối hợp hỗ trợ giúp đỡ phần nào (không phải quản lý) và tham gia chấm thi các cuộc hội diễn nghệ thuật của địa phương và của đơn vị nghệ thuật mình Nội dung quản lý này chỉ các đơn vị nghệ thuật quy mô Nhà hát nghệ thuật công lập mới thực hiện được
1.1.2.3 Quản lý cơ sở vật chất và tài chính của đơn vị nghệ thuật
Cơ sở vật chất của đơn vị nghệ thuật gồm có hai phần: Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị; Cơ sở tài chính Quản lý cơ sở vật chất thì phải tính đến cả hai mặt của vấn đề này là xây dựng và quản trị
Trang 29- Về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật: Xây dựng trụ sở nhà cửa đất đai và trang bị kỹ thuật cho đủ và đúng với chức năng, cấp độ hoạt động của đơn vị nghệ thuật, kể cả các hoạt động hành chính và hoạt động chuyên môn nghệ thuật Trong quá trình quản lý phải tính đến cả hoạt động sửa chữa, nâng cấp, bổ sung, sử dụng hết công năng của cơ sở vật chất để chống đầu tư dàn trải, lãng phí
- Về cơ sở tài chính: Cần quản lý từ việc xây dựng nguồn thu cho đến việc quản trị phần chi của đơn vị nghệ thuật (luận văn chỉ nói đến cơ sở tài chính của các đơn vị nghệ thuật công lập)
+ Nguồn thu: Thuộc loại đơn vị sự nghiệp có thu, các đơn vị nghệ thuật công lập được xây dựng nguồn thu chủ yếu từ ngân sách Nhà nước cấp, đồng thời được thu một phần từ các hoạt động nghệ thuật có doanh thu, biểu diễn nghệ thuật theo hình thức xã hội hóa, từ các hoạt động dịch
+ Nội dung quản lý cơ sở tài chính còn phải chú ý đến việc quản lý vé xem nghệ thuật (giá vé, bán vé, nộp tiền vé) Đồng thời chú ý quản lý chống tham ô, lãng phí, chi sai chế độ chính sách quy định của nhà nước
Trang 301.2 Tổng quan về Nhà hát Kịch Hà Nội
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Khi nói đến lịch sử hình thành và phát triển Nhà hát Kịch Hà Nội hiện nay, không thể không nói đến sự ra đời loại hình Kịch nói và hoạt động biểu diễn Kịch nói ở Hà Nội những năm đầu Cách mạng tháng 8 năm 1945
Trong cuốn “1000 năm Thăng Long Hà Nội” của tác giả Nguyễn Vinh
Phúc có ghi: “Ngày 25/4/1920, một nhóm trí thức trẻ khởi xướng là Nguyễn
Văn Vĩnh đưa lên sân khấu Nhà hát lớn vở diễn “Người bệnh tưởng”, dịch hài kịch Le malade imaginaire của Molière Họ đâu ngờ chính sự kiện này đã mở
hướng cho ngành Kịch nói Được kích thích bằng vở hài kịch đó, nhà giáo Vũ
Đình Long soạn vở Kịch “Chén thuốc độc” và công diễn ngày 20/10/1921
cũng tại Nhà hát Lớn Buổi diễn được hoan nghênh Đó là vở Kịch nói và buổi diễn Kịch nói đầu tiên của sân khấu Hà Nội
Tuy vậy cho tới năm 1945, ở Hà Nội không có rạp và cũng không có các đoàn chuyên nghiệp dành riêng cho ngành Kịch nói Hoạt động Kịch nói thời ấy là nghiệp dư và tùy hứng với những văn nghệ sỹ nổi tiếng như Thế
Lữ, Đoàn Phù Tứ, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, Vũ Trọng Can,… Năm 1943, có thành lập một đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp
là đoàn Anh Vũ do Thế Lữ và kiến trúc sư Vũ Đức Diên phụ trách có biểu diễn Kịch nói, nhưng là chương trình nghệ thuật tổng hợp gồm cả Ca - Vũ - Nhạc - Kịch
Những năm đầu sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng (10/10/1954), cùng với miền Bắc bước vào thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất, Hà Nội bước vào cải tạo, khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh, đồng thời xây dựng những cơ sở đầu tiên theo con đường Chủ nghĩa xã hội và củng cố vững
Trang 31chắc hậu phương chuẩn bị cho tiền tuyến lớn miền Nam thống nhất đất nước Nhiệm vụ công tác tư tưởng hết sức quan trọng được đặt ra lúc này là giáo dục truyền thống yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, xây dựng đất nước, lòng căm thù giặc Mỹ - Diệm chia cắt đất nước, đàn áp đồng bào ta Thêm vào đó, các tầng lớp nhân dân Thủ đô có nhu cầu hưởng thụ văn nghệ rất lớn Đặc biệt là tầng lớp thanh niên, trí thức, qua sân khấu Kịch nói người
ta đã phản ánh kịp thời những vấn đề khát vọng cũng như bức xúc đương đại Nhưng các đơn vị nghệ thuật ở Thủ đô lúc này rất ít, chỉ có 02 đoàn Cải lương
là Chuông Vàng, Kim Phụng và một đoàn vừa là Chèo vừa là Tuồng là đoàn Lạc Việt Còn kịch nói chuyên nghiệp không có Một số đoàn kịch nói nghiệp
dư như đoàn Sông Hồng, Đông Phương, Mùa Thu, Thành đoàn Thanh niên cứu quốc, Liên hiệp Công đoàn Hà Nội và một số đoàn của xí nghiệp, cơ quan, trường Đại học, Cao đẳng đóng trên địa bàn Hà Nội mới được thành lập Đứng trước yêu cầu thực tế, sự mong chờ của công chúng Thủ đô Hà nội, Nhà hát Kịch Hà Nội đã được hình thành năm 1959
Ban đầu Nhà hát Kịch Hà Nội chỉ là đội Kịch nằm trong đoàn Văn công tổng hợp gồm hai bộ phận Ca múa và Sân khấu với nhiều bộ môn như ca múa, chèo, kịch nói, xiếc, ảo thuật…
Đầu năm 1965, được sự chỉ đạo của Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội (nay là Sở VHTT&DL Hà Nội), đội Kịch của đoàn Văn công tổng hợp đã được tách ra chuyển thành đoàn Kịch Hà Nội
Năm 1995, đáp ứng yêu cầu của thực tế, được sự đồng ý của Sở Văn hóa Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đoàn Kịch Hà Nội
đã được đổi tên thành Nhà hát Kịch Hà Nội Năm 2008, Đoàn Kịch Hà Tây sáp nhập về Nhà hát Kịch Hà Nội, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 32Hà Nội ban hành Quyết định số 353/QĐ-VHTT&DL, ngày 07 tháng 5 năm
2009 về việc thành lập NHK Hà Nội mới
Hiện nay, trụ sở Nhà hát Kịch Hà Nội đóng tại số 42 phố Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
1.2.2 Các hoạt động biểu diễn của Nhà hát Kịch Hà Nội
Từ một Đội kịch nằm trong Đoàn văn công Nhân dân Thủ đô năm 1959 đến Đoàn Kịch nói Hà Nội năm 1965 là một bước trưởng thành nhiều mặt Và
để có được một Nhà hát Kịch Hà Nội như hiện nay thì những vở diễn tiêu
biểu qua từng thời kỳ gây tiếng vang trong cả nước như: Lam Sơn tụ nghĩa, Đêm tháng bảy, Tiền tuyến gọi, đến Tôi và chúng ta, Những linh hồn sống, Hẹn ngày trở về, Hà Nội đêm trở gió, Ăn mày dĩ vãng, Sám hối, đến những
vở diễn gần đây như: Thày khóa làng tôi, Mùa hoa sữa, Cát bụi, Điện thoại di động, Đứa con bị đánh cắp vẫn giữ nguyên được lòng mến mộ của đông
đảo công chúng Thủ đô
Nhà hát Kịch Hà Nội suốt 55 năm qua đã cống hiến hết mình cho khán giả Thủ đô và cũng đã tìm cho mình một phong cách riêng Cái riêng có ấy,
như nhận định của báo giới trong và ngoài nước, có thể nhận ra qua "Tôi và chúng ta" của tác giả Lưu Quang Vũ, được NSƯT Hoàng Quân Tạo dàn
dựng vào năm 1984, một tác phẩm có ý nghĩa "mở ra không gian rộng lớn cho sự sáng tạo của nghệ sĩ đối với chính kịch" Giới chuyên môn cho rằng, hàng loạt vở diễn của Nhà hát đã gây tiếng vang rộng rãi, góp phần tạo nên
thời kỳ hoàng kim cho sân khấu kịch Thủ đô Trong số ấy, đáng nhớ là "Tiền tuyến gọi" của tác giả Trần Quán Anh, dựng năm 1968, từng giành nhiều
huy chương trong Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc (1970), đến
độ sau đó phía truyền hình đã lên kế hoạch làm phim về vở kịch ấy, lại mời
chính diễn viên Nhà hát tham gia Hay như "Hà Mi của tôi" (tác giả và đạo
Trang 33diễn NSND Doãn Hoàng Giang), dựng năm 1980, đánh dấu cuộc "thay máu" trong cách làm chính kịch, hướng tới sự cởi mở về đề tài, thẳng thắn đề cập những vấn đề gây bức xúc trong đời sống xã hội… Kể từ đó, hàng loạt vở diễn mới ra đời, sức thuyết phục lớn đến mức khi được công diễn, Nhà hát
từng phải diễn rất nhiều ca Như "Tôi và chúng ta" diễn ròng rã 3 tháng tại
Hà Nội, mỗi ngày 3 suất diễn mà chưa đủ làm thỏa mãn khán giả Sau sức
bật tạo được nhờ "Tôi và chúng ta", kịch Hà Nội dựng tiếp "Khoảnh khắc và
vô tận", "Quyền được hạnh phúc" - được coi như phần 2, 3 của "Tôi và chúng ta", được dư luận đánh giá là còn hay và hấp dẫn hơn phần đầu Sau
những thành công đó, Nhà hát Kịch Hà Nội vẫn không ngừng đổi mới sáng
tạo chính kịch, tiếp tục cho ra "Những linh hồn sống", "Ăn mày dĩ vãng"…
15 năm trở lại đây, Nhà hát Kịch Hà Nội tiếp nối phong cách truyền thống, nhưng tập trung nhiều cho mảng đề tài Hà Nội, khắc họa sắc thái, phong
cách người Hà Nội, như "Mắt phố", "Trái tim trong trắng" Năm 2008, khi
Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Nhà hát Kịch Hà Nội và Đoàn Kịch Hà Tây "về một nhà" NSND Hoàng Dũng, Giám đốc Nhà hát nói: Chúng tôi dễ dàng quen nhau, hiểu nhau, tìm được tiếng nói chung Bởi vậy mà khi dựng
những "Tình sử ngàn năm", "Những mặt người thấp thoáng", có cả nghệ sĩ
của hai đơn vị tham gia nhưng sự phối hợp nhịp nhàng, không hề khiên
cưỡng [Xem PL 3, tr.131]
Các hoạt động của NHK Hà Nội đã được minh chứng qua những nhận xét, đánh giá của một số các nhà lãnh đạo và chính khách:
- Ông Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội
đã phát biểu: Tên tuổi NHK Hà Nội luôn gắn với những vở diễn gây tiếng vang, với các nghệ sĩ được người xem mến mộ Sức sống của các vở diễn, vai
diễn tiêu biểu như: “Tiền tuyến gọi” (1970), “Hà My của tôi”, “Tôi và chúng ta” 30 năm trước, hay “Cát bụi”, “Tình sử ngàn năm”… sau này, vẫn sống
Trang 34trong trí nhớ khán giả, là niềm tin tự hào và minh chứng cho những thành công của Kịch nói Hà Nội nói riêng, sân khấu Việt Nam nói chung…
… Kịch nói Hà nội đã chứng tỏ bản lĩnh xung kích từ thời chiến tranh chống Mỹ, tới giai đoạn kinh tế cao cấp, kinh tế thị trường Kịch Hà Nội phản ánh sinh động thực tế cuộc sống, là tình cảm và cũng là đại diện cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân Hà Nội, chất chứa cả tiếng vọng lịch sử và khát vọng hướng tới tương lai… NHK Hà Nội có vinh dự to lớn mà ít Nhà hát nào
có được, đó là đã từng được biểu diễn nhạc phục vụ Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, nhà nước và nhiều đại biểu khách quốc tế Điều ấy chứng tỏ sức hấp dẫn của kịch nói Hà Nội Sự hào hoa, lịch thiệp, sâu sắc, mẫn cảm… trong cốt cách Hà Thành được phổ vào các vở diễn, làm nên phong cách của một nhà hát hàng đầu…
Từ sau khi mở rộng địa giới hành chính Thủ Đô, nhà hát kịch Hà Nội
có thêm lực lượng nghệ sỹ, diễn viên Đoàn Kịch nói Hà Tây càng tăng thêm sự đa dạng và điều kiện giữ vững, phát huy thế mạnh của Kịch nói Hà Nội [28, tr.16-17]
Ông Nguyễn Thế Thảo, Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cũng có đánh giá: “Đã hơn nửa thế kỷ Kịch nói
Hà Nội ra đời, xây dựng và trưởng thành, tổng kết lại có thể đúc kết bằng một câu căn bản: Kịch nói Hà Nội đã đồng hành cùng với nhân dân Hà Nội, với Cách mạng Việt Nam bằng những lao động, đóng góp to lớn Ra đời khi thủ đô mới được giải phóng 5 năm, đúng giai đoạn chiến tranh chống Mỹ, Kịch Hà Nội mau chóng trở thành Đoàn nghệ thuật xung kích của nền sân khấu Cách mạng Các nam nữ diễn viên kiêm tự vệ, cả Đoàn cuốn theo cuộc kháng chiến, trở thành những nghệ sỹ - chiến sỹ đầy nhiệt huyết với nghề, với đất nước Đoàn Kịch nói Hà Nội đã tạm trú
Trang 35trọc sở ở các nơi, chia ra các đội Kịch, lưu diễn phục vụ quân và dân Hà Nội, từ nội thành tới ngoại ô, rồi xông pha vào tuyến lửa Trường Sơn, Bình Trị Thiên, đi khắp các tỉnh phía Bắc, vào Tây Nguyên, Những vở diễn ấy vừa là “vũ khí văn nghệ”, vừa mang khí thế động viên tinh thần, vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, rất mạnh mẽ khẳng khái, song cũng không kém phần lãng mạn, sâu lắng của nhân dân thủ đô trước thời cuộc, trước dân tộc
Kịch nói Hà Nội cũng đã tiến vào Sài Gòn, gây chấn động từ tháng 9
năm 1975; và mười năm sau (1985) tại thành phố mang tên Bác, vở “Tôi và chúng ta” thành một hiện tượng lớn, tạo nên những “cơn sốt” Kịch nói Hà
Nội Đối với khán giả Hà Nội, Kịch nói Hà Nội đã thành một món ăn tinh thần thân thiết không thể thiếu, một sức mạnh của nghệ thuật biểu diễn góp phần vào sự đa tầng, vào trầm tích văn hiến của Thăng Long - Thủ đô thời đại mới [28, tr.23-24]
Những hy vọng của Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo cũng chính là tư tưởng chủ đạo của tác giả luận văn này khi trình bày những giải pháp cần đặt ra cho
sự phát triển Nhà hát Kịch Hà Nội trong thời gian tới
1.2.3 Cơ sở vật chất
Kể từ khi thành lập 1959 cho đến nay, NHK Hà Nội vẫn chưa được đầu
tư xây dựng Rạp hát chuyên dụng đúng chức năng hoạt động Kịch nói của
mình Đầu tiên, Đoàn Kịch Hà Nội được tiếp quản Rạp Tuồng Quảng Lạc ở
số 8 Tạ Hiện, sửa chữa lại để hoạt động Sau khi kết thúc chiến tranh phá
hoại, Sở Văn hóa chuyển Rạp chiếu bóng Ê - đen cũ (Rạp Công nhân hiện
nay) thành Rạp nghệ thuật dùng chung Từ 1975 đến năm 2006 NHK là rạp
Công nhân đóng tại 42 Tràng Tiền Hà Nội với trang thiết bị kỹ thuật chuyên
Trang 36dùng còn nghèo nàn Khung cảnh sân khấu và Hội trường còn cũ chưa đồng
bộ Năm 2010, nhân dịp chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, được
sự quan tâm của UBND thành phố Hà Nội của Bộ VHTT&DL, rạp Công nhân của NHK Hà Nội đã được sửa sang, nâng cấp với trang thiết bị hiện
đại, đủ điều kiện về cơ sở vật chất để phục vụ khán giả Thủ đô
Tài chính của NHK chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước bao cấp, chiếm khoảng 15% trong ngân sách nhà nước cấp cho toàn lĩnh vực hoạt động văn hóa của Hà Nội Ngoài ra, còn có thêm khoảng 1 tỷ VNĐ/ năm từ các nguồn doanh thu sự nghiệp nghệ thuật và hoạt động nghệ thuật xã hội hóa
Tiểu kết
Thực hiện đề tài Quản lý nhà hát kịch Hà Nội người viết mong muốn
hoàn thiện công tác quản lý, góp phần tích cực phát triển nhà hát Để triển khai đề tài, người viết dựa trên một số khái niệm công cụ về quản lý văn hóa, nghệ thuật cũng như có cái nhìn tổng quan về Nhà hát kịch Hà Nội
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo định hướng của Nhà nước Quản lý nhà nước về văn hóa và hoạt động biểu diễn nghệ thuật là sự quản lý và định hướng với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hướng đến cái Chân - Thiện - Mĩ là những giá trị văn hóa chuẩn mực Trong sự quản lý của nhà nước về văn hóa có quản lý các đơn vị nghệ thuật Những nội dung của quản lý các đơn vị nghệ thuật là quản lý về hoạt động chuyên môn, quản lý cơ sở vật chất và quản lý tài chính
NHK Hà Nội ra đời năm 1959, đáp ứng yêu cầu thực tế cùng sự mong
chờ của công chúng Thủ đô Rạp Công Nhân đóng tại 42 Tràng Tiền là
ngôi nhà chung cho toàn bộ hoạt động của NHK Đây là đơn vị sự nghiệp
Trang 37công lập, có thu, được bao cấp bởi ngân sách nhà nước Nội dung hoạt động chuyên môn nghệ thuật của nó gồm 3 lĩnh vực: nghiên cứu sưu tầm, sáng tác, chuyển thể,dàn dựng sản phẩm kịch nói; tổ chức trình diễn nghệ thuật kịch nói; hỗ trợ nghệ thuật cho các hoạt động không chuyên Hiện nay NHK Hà Nội đã được xếp hạng Nhà hát hạng I, tầm quốc gia, được công nhận thương hiệu số 1
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ HÁT KỊCH HÀ NỘI
2.1 Xây dựng bộ máy, cơ chế quản lý và đội ngũ nghệ sĩ
2.1.1 Quá trình xây dựng bộ máy quản lý và đội ngũ nghệ sĩ
2.1.1.1 Những ngày đầu thành lập (1959 - 1965)
Những năm đầu sau khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng, để phục vụ công tác chính trị tư tưởng và đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn nghệ rất lớn của các tầng lớp nhân dân Thủ đô, năm 1959 UBND thành phố Hà Nội quyết định thành lập Đoàn Văn công Tổng hợp Đây là Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp tổng hợp bao gồm Chèo, Tuồng, Xiếc, Kịch nói, Ca Múa và Sân khấu Bấy giờ Đội Kịch chỉ là một bộ phận nhỏ, chưa được coi là một thiết chế văn hóa nghệ thuật độc lập, chưa đủ tư cách pháp nhân, nên chưa có bộ máy quản
lý riêng mà chỉ có đội trưởng Biên chế của Đội Kịch có 12 diễn viên trong tổng số gần 50 người của Đoàn Văn công Tổng hợp Hà Nội
Trưởng đoàn Văn công tổng hợp lúc đó là đồng chí Đinh Thiện Bao, Phó đoàn kiêm chỉ đạo nghệ thuật là nhà thơ Trần Huyền Trân Thế hệ diễn viên đầu tiên là: Trần Ngọc Hạnh, Lê Mai, Lê Khang, Hạc Đính, Hoàng Quân Tạo, Khôi Viên, Ngân An, Nguyễn Ánh, Hải Việt, Hữu Độ, Vũ Mão, Văn Khôi, Cao Độ, Kim Long, Đoan Trang, Hữu thịnh, Ngọc Đỉnh, Nhật Đức, Tiến Sơn, Hoàng Thanh Giang, Bá Di, Hoàng Minh, Xuân Tám, Thu Hương, Thu Hà, Sĩ thuận, Phạm Bằng, Tự Cường, Mạnh Sinh, Hoàng Thái Sơn, Diễm Hòa, Linh Phi, Vũ Thanh Tú, Kim Xuyến,… Họ được tuyển chọn từ hơn 300 diễn viên của các tổ, đội văn nghệ nghiệp dư của Hà Nội
Trang 39Năm 1970 -1975, lãnh đạo đoàn là Phan Doãn, Trần Minh Thu, Huỳnh Nga, Hoàng Quân Tạo, đoàn tuyển thêm được: 8 diễn viên gồm: Đức Lưu, Trần Kiểm, Trần Vân, Trần Đức, Thúy Ái, Thu An, Trúc Quân, đoàn có tổng
số 30 diễn viên Trụ cột của đoàn vẫn là: Lê Khang, Hạc Đính, Hoàng Quân Tạo, Khôi Nguyên, Ngân An, Hoàng Thanh Giang, Lưu Nga, Trần Ngọc Hạnh, Nguyễn Ánh, Hải Việt, Hữu Độ, Tự Cường, Phạm Bằng, Lê Mai, Linh Phi, Vũ Hải, Hữu Thịnh, Văn Khôi Đoàn cũng đã mời những nhà hoạt động trong lĩnh vực sân khấu có tiếng tăm làm cố vấn như: Lộng Chương, Học Phi, Văn Cao, Lưu Quang Thuận, Lưu Trọng Lư, Trần Bảng, Tào Mạt
Từ khi được tách ra thành đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp độc lập, Đoàn Kịch Hà Nội có biên chế trên 30 - 40 cán bộ, diễn viên Lúc này, Đoàn được xây dựng bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến đơn giản Trưởng, Phó đoàn chỉ đạo trực tiếp xuống các diễn viên, nhân viên trong đoàn
2.1.1.3 Thời kỳ 1975 - 1985
Giai đoạn này, đoàn Kịch thường xuyên được bổ sung đội ngũ diễn viên
là học sinh, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ở các trường Sân khấu điện ảnh
Trang 40trung ương và Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội Đó là thế hệ các nghệ sỹ: Trần Vân, Trần Kiểm, Trần Đức, Đam Ka, Hoàng Dũng, Minh Trang, Hoàng Cúc, Minh Hòa, Minh Vượng, Bích Thủy, Thùy Ninh, Thu Vân, Hồng Hạnh, Phúc Thịnh, Hồng Sơn, Thu Hương, Hoàng Thanh Du, Minh Hà, Đam San với đạo diễn Hoàng Quân Tạo, phó đạo diễn Nguyễn Quốc Toàn…
Bộ máy quản lý trong thời kỳ này có sự đổi mới, Trưởng Đoàn là đạo diễn Hoàng Quân Tạo, Phó Trưởng Đoàn là Phó đạo diễn Nguyễn Quốc Toàn
và Nguyễn Ngọc My, đạo diễn Nguyễn Ngọc Phương cũng được phân công giúp Đoàn trong quản lý, đạo diễn Dương Ngọc Đức làm cố vấn nghệ thuật
Hỗ trợ công tác hành chính, giúp lãnh đạo, Đoàn Kịch được phép thành lập bộ phận văn phòng, gồm 5 -6 cán bộ, nhân viên đảm nhiệm công việc kỹ thuật, hậu cần, tài chính, văn thư, bảo vệ…
Hơn 25 năm (1959 - 1985), Đoàn kịch Hà Nội trực thuộc sự quản lý của
Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Văn hóa - Thông tin, Thành ủy, UBND Thành phố Hà Nội Đoàn Kịch Hà nội thời gian này hoạt động theo cơ chế bao cấp hoàn toàn, mọi hoạt động chủ yếu phục vụ công tác chính trị, tư tưởng, không thuộc loại đơn vị sự nghiệp có thu hoặc doanh thu Bộ máy quản lý của Đoàn Kịch Hà Nội chỉ là Trưởng, Phó Đoàn, không có chức danh Giám đốc, Ban Giám đốc, không có các phòng chức năng, không có Hội đồng nghệ thuật Vì vậy cũng không có chế độ phụ cấp chức vụ quản lý, cũng như các phụ cấp chức vụ khác
2.1.1.4 Thời kỳ từ khi đổi mới đến nay
Bước sang thời kỳ đổi mới, Đoàn kịch Hà Nội có nhiều những chuyển biến, đổi mới trong quản lý Bộ trưởng Bộ Văn hóa đã ra chỉ thị số 62/VH-CT ngày 14/7/1988 về việc củng cố các đơn vị nghệ thuật sân khấu, ca múa nhạc chuyên nghiệp Theo đó, các đơn vị tập trung xây dựng từ đơn vị khá trở