1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý các hoạt động ở nhà hát lớn hà nội

100 95 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 857,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta hiện nay, quản lý hoạt động văn hóa ở các nhà hát nói chung và ở Nhà hát Lớn Hà Nội đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, cần phải làm rõ cả về

Trang 2

Đầu tiên, em xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học Văn hoá Hà Nội đã truyền đạt kiến thức cũng như tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập vừa qua

Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS TS Đào Mạnh Hùng

- người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình chỉ bảo để em hoàn thành

đề tài của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch, Ban lãnh đạo Nhà hát Lớn Hà Nội cùng bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện về thời gian và tài liệu để tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp và giúp đỡ quý báu của Hội đồng khoa học, các nhà nghiên cứu, các Thầy, Cô cùng bạn bè đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Học viên

Phạm Văn Thắng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Học viên

Phạm Văn Thắng

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ CÁC SỰ KIỆN Ở NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI 12

1.1 Khái niệm, nội dung, đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa 12

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa 12

1.1.2 Bản chất và đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa 15

1.2 Nội dung, đặc điểm quản lý nhà nước về văn hóa và quản lý các hoạt động văn hóa ở Nhà hát 16

1.2.1 Nội dung, đặc điểm quản lý nhà nước về văn hóa 16

1.2.2 Quản lý các hoạt động văn hóa ở nhà hát 18

1.3 Vài nét về lịch sử và quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội 23

1.3.1 Nhà hát Lớn Hà Nội - công trình kiến trúc quốc gia độc đáo - nơi chứng kiến lịch sử đặc biệt 23

1.3.2 Khái quát những giai đoạn quản lý hoạt động văn hóa, sự kiện của Nhà hát Lớn Hà Nội 29

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, SỰ KIỆN Ở NHÀ HÁT LỚN TRONG THỜI GIAN QUA 34

2.1 Bộ máy và cơ chế quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội 34

2.1.1 Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát Lớn 35

2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ quản lý các cấp 36

2.1.3 Cơ chế hoạt động của Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội 39

2.1.4 Những quy định về mối quan hệ giữa Ban Quản lý Nhà hát Lớn đối với các cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương 40

2.2 Thực trạng quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật và những sự kiện của Nhà hát Lớn 40

2.2.1 Quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật và sự kiện tiêu biểu 40

2.2.2 Công tác quản lý các hoạt động và sự kiện của Nhà hát Lớn 50

Trang 5

2.3.2 Một số hạn chế trong quản lý các hoạt động của Nhà hát 61

Tiểu kết chương 2 63

Chương 3: NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 64

3.1 Các yếu tố tác động đến quản lý văn hóa nói chung, quản lý các hoạt động ở Nhà hát Lớn Hà Nội hiện nay 64

3.1.1 Tác động của các yếu tố trong nước 64

3.1.2 Tác động của các yếu tố quốc tế 66

3.2 Những định hướng nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn 70

3.2.1 Quán triệt quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển văn hóa 70

3.2.2 Phương hướng, nhiệm vụ của Nhà hát Lớn Hà Nội 75

3.3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn 80

3.3.1 Về nhận thức 80

3.3.2 Khuyến nghị về một số giải pháp 82

Tiểu kết chương 3 86

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 MỤC LỤC PHỤ LỤC LUẬN VĂN Error! Bookmark not defined

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1 Văn hoá là sự thể hiện trình độ phát triển năng lực bản chất Người

mà cốt lõi là tư duy và lao động, sáng tạo trong quá trình tác động, thích ứng với tự nhiên, cải tạo xây dựng xã hội, phát triển hoàn thiện nhân cách con người theo hướng vươn tới Chân, Thiện, Mỹ Văn hoá biểu hiện trước hết ở

hệ giá trị, ở những biểu tượng, phương thức ứng xử, việc giáo dục, truyền thụ văn hóa và cả cách thức tổ chức quản lý xã hội đối với các hoạt động văn hóa Quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa là quan trọng, bởi trước hết xuất phát từ bản chất và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội Việc quản

lý văn hóa trong quá trình sáng tạo, hưởng thụ các giá trị văn hóa thể hiện chất lượng sống của con người trong một xã hội Hoạt động quản lý văn hoá

vì vậy mang ý nghĩa giá trị, phản ánh trình độ phát triển của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Điều đáng lưu ý, hoạt động văn hoá là một phức hợp mang tính quy luật Nghĩa là dù cho có vai trò quản lý của một chủ thể nào đó hay không thì các hoạt động văn hoá đó vẫn diễn ra, chi phối, tác động sự phát triển của xã hội theo hướng tích cực hoặc ngược lại Quản lý tốt các hoạt động văn hoá, tức là đưa văn hoá phát triển theo mục tiêu đề ra, nhằm xây dựng một nền văn hoá của một cộng đồng, quốc gia theo hướng đã định, phục vụ cho mục đích chính trị của chủ thể Tuy nhiên, vì văn hóa là một lĩnh vực khá rộng và trừu tượng, có liên hệ mật thiết với mọi mặt của đời sống xã hội, cho nên quản lý văn hóa là hoạt động diễn ra thường xuyên và lâu dài và rất phức tạp

2 Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định phát triển văn hóa để phát huy vai trò văn hoá “vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” Công tác quản lý nhà nước về văn hoá đã đang trở thành một nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và mang ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 7

Qua gần ba mươi năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu trên nhiều lĩnh vực, công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá đã bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập, cơ chế, chính sách về văn hoá - xã hội chậm đổi mới Một trong những nguyên nhân đó, ngoài nhận thức chưa đúng về vai trò của văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển con người, có sự yếu kém trong lãnh đạo, quản lý văn hoá Nghị quyết của Đảng chỉ ra:

Trong lãnh đạo và quản lý có những biểu hiện buông lỏng, né tránh, hữu khuynh Trong hoạt động kinh tế chưa chú ý đến các yếu tố văn hoá, các yêu cầu phát triển văn hoá tương ứng Mức đầu tư ngân sách cho văn hoá còn thấp Chính sách đào tạo bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ làm công tác văn hoá còn nhiều bất hợp lý Những lệch lạc và việc làm sai trái trong văn hoá - văn nghệ chưa được kịp thời phát hiện, việc xử lý bị buông trôi, hoặc có khi lại dùng những biện pháp hành chính không thích hợp… [21, tr.53]

Trên thực tế, quản lý nhà nước đối với văn hóa, đặc biệt quản lý hoạt động của các thiết chế văn hóa của chúng ta còn quá nhiều yếu kém, cần khắc phục Những yếu kém trong quản lý các hoạt động văn hóa một lần nữa được đánh giá tại Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Hội nghị chỉ ra: bên cạnh những yếu kém về nhận thức văn hóa và xây dựng nền văn hóa mới, công tác quản lý Nhà nước về văn hóa còn nhiều hạn chế Yếu kém thể hiện ở hệ thống văn bản pháp quy về văn hóa chưa thích ứng với sự năng động của nền kinh tế thị trường Quản lý văn hóa, nghệ thuật còn lúng túng; chưa có nhiều tác phẩm văn hóa nghệ thuật xứng tầm với thành tựu to lớn của thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc; hoạt động trùng tu, tôn tạo, bảo tồn di sản vẫn còn nhiều hạn chế; bệnh thành tích và hình thức trong tổ chức các hoạt động, các sự kiện văn hóa ngày càng lan rộng [74, tr.15]… Những yếu kém trong phát triển văn hóa là một nguy cơ, thậm chí là nguy cơ của mọi nguy cơ, trong bối cảnh chúng ta xây dựng

Trang 8

và phát triển đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng

3 Trong quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta hiện nay, quản lý hoạt động văn hóa ở các nhà hát nói chung và ở Nhà hát Lớn Hà Nội đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết, cần phải làm rõ cả về phương diện lý luận và thực tiễn Bởi:

Thứ nhất, Nhà hát là một trong những công trình văn hóa đặc biệt quan

trọng Khác với nhiều thiết chế văn hóa khác, nhà hát, đặc biệt là Nhà hát Lớn

Hà Nội là nơi thường diễn ra nhiều hoạt động: từ các hoạt động văn hóa nghệ thuật phục nhiệm vụ chính trị xã hội, các hoạt động văn hóa nghệ thuật chất lượng cao; các hoạt động quốc gia, quốc tế liên quan đến trao đổi, phát triển văn hóa dân tộc cho đến các hoạt động dịch vụ văn hóa đặc biệt theo quy định của pháp luật Trong đời sống văn hóa tinh thần của một quốc gia, nhà hát chính là những “Ngôi đền nghệ thuật”, đáp ứng những nhu cầu văn hóa nghệ thuật đặc biệt của dân chúng và giao lưu văn hóa quốc tế

Thứ hai, trước tình trạng cả nước đang thiếu trầm trọng các công trình văn

hóa như hiện nay, tháng 1/2013, Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Quy hoạch và kế

hoạch nâng cấp, xây mới các công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu phim, nhà triển lãm văn học, nghệ thuật) giai đoạn 2012-2020” nhằm xây mới và nâng cấp

Tuy nhiên, việc thực hiện được đề án trên đây còn nhiều khó khăn và phải trong một thời gian khá dài Hiện tại, cả nước có hơn 100 nhà hát, nhưng các nhà hát trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ yếu sống nhờ bao cấp Các nhà hát phía Bắc cũng như trên cả nước, vừa thiếu trầm trọng, vừa lãng phí trầm trọng Trong tình hình đó, việc quản lý tốt hoạt động văn hóa ở các nhà hát là một giải pháp vừa cấp bách vừa lâu dài, có ý nghĩa thiết thực trong việc thực hiện dân chủ hóa văn hóa hiện nay Quản lý hiệu quả các hoạt động của nhà hát cũng chính nhằm tăng cường tính tiếp cận văn hóa của người dân và xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thực hiện dân chủ hóa văn hóa trong giai đoạn hiện nay

Thứ ba, trên thực tế, công quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa ở

các nhà hát hiện nay đang có sự chồng chéo, bất cập, không hiệu quả Chưa kể

Trang 9

đến hiện tượng có một số Nhà hát mà lại không có nhà, hiện tượng ở Hà Nội: các nhà hát thường thuộc quản lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, nhưng lại không thuộc trách nhiệm của ai Bởi Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ quản về mặt chuyên môn của các nhà hát, chứ không quản lý hệ thống cơ sở vật chất Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của các nhà hát

và gây nhiều hệ lụy khác Riêng Nhà hát Lớn Hà Nội là một trong những nhà hát

có Ban Quản lý, vì thế có những đặc thù riêng, nghiên cứu thực trạng vấn đề sẽ

có ý nghĩa đối với công tác quản lý các nhà hát nói chung

Trên đây là những lý do để tôi chọn vấn đề “Quản lý các hoạt động ở

Nhà hát Lớn Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý văn

hóa Là cán bộ đang công tác ở Nhà hát Lớn Hà Nội, tôi hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp tôi có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả công tác của bản thân

tế, bảo đảm yêu cầu chính trị, tư tưởng của hoạt động văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; phát triển kinh tế và văn hoá phải hướng đến mục tiêu phát triển con người và xã hội

Trang 10

- Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, các Luật về lĩnh vực văn hóa, các Nghị định, Chỉ thị, Thông tư… về phát triển kinh tế - xã hội, phát triển văn hoá, có nội dung liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vấn đề quản lý văn hoá Các Nghị định của Chính phủ có liên quan đến vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong sáng tạo và hưởng thụ, trong sản xuất và kinh doanh các sản phẩm văn hóa; trong việc bảo tồn phát huy các giá trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Hệ thống chính sách văn hoá thể hiện sự nhận thức về vai trò của văn hoá đối với phát triển, đã được thực thi và có hiệu quả nhất định đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Thứ hai, một số công trình nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý văn hoá

- Nhóm tác giả Phan Văn Tú, Nguyễn Văn Hy, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần Thị Diên đã nghiên cứu đại cương về khoa học quản lý, lược sử quản

lý văn hoá ở Việt Nam, các hoạt động quản lý văn hóa… Những công trình này

đã đặt nền móng bước đầu cho việc nghiên cứu quản lý văn hóa ở nước ta trong một thập kỷ qua

- Đỗ Minh Cương, Văn hoá kinh doanh, triết lý kinh doanh, Nxb ChÝnh

trÞ Quèc gia Hå ChÝ Minh, 1998

- Nguyễn Duy Bắc, Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công

cuộc đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001

- Phạm Duy Đức, Tập bài giảng môn Quản lý Nhà nước về văn hóa của

các tác giả, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Phạm Xuân Nam (chủ biên), Văn hoá và kinh doanh, Nxb Khoa học xã

hội, 1996

- Trường Cán bộ quản lý thông tin, Tập bài giảng bồi dưỡng kiến thức

quản lý ngành văn hoá thông tin, 1999

- Nguyễn Danh Ngà, Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp công ích

ngành văn hoá thông tin trong nền kinh tế - thị trường ở Việt Nam, Nxb Văn hóa

thông tin, Hà Nội, 1997

Trang 11

- Hoàng Vinh, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước

ta, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999

- Lê Ngọc Tòng, Một số nghiên cứu bước đầu về kinh tế học văn hoá,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004

- Viện Văn hóa Thông tin - Quỹ Ford: Thuật ngữ quản lý văn hóa nghệ

thuật, Hà Nội, 2004

Những nghiên cứu trên đây góp phần làm rõ lý luận đại cương về quản lý hoạt động văn hóa; mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa trong quản lý văn hóa; chính sách quản lý hoạt động văn hoá, nội dung quản lý hoạt động văn hoá, quản

lý xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở hiện nay

Thứ ba, một số luận án, luận văn, đề tài khoa học liên quan đến vấn đề quản lý văn hoá, quản lý các hoạt động văn hoá cơ sở, như:

- Đường Vinh Sường: Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động

của các nhà xuất bản trong bước chuyển sang cơ chế thị trường, Luận án phó

tiến sĩ, 1993

- Đỗ Văn Định: Lãnh đạo và quản lý văn hoá nghệ thuật trong điều kiện

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án phó tiến sĩ, 1994

- Phạm Thị Như Tâm: Kinh doanh Xuất bản phẩm trong cơ chế thị trường

ở Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân, 1994

- Đề tài cấp Bộ: “Thể chế xã hội trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ ở nước

ta”, (GS Hoàng Vinh chủ nhiệm), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã

nghiệm thu, 2000

- Đề tài cấp Bộ: Quản lý nhà nước đối với thị trường băng đĩa trong giai

đoạn hiện nay, (Đinh Thị Vân Chi chủ nhiệm), Trường Đại học Văn hoá Hà Nội,

đã nghiệm thu, 2005

- Đề tài cấp Bộ: Thị trường văn hoá phẩm ở nước ta - hiện trạng và giải

pháp, (Nguyễn Thị Hương chủ nhiệm), Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, đã nghiệm thu, 2006

Trang 12

- Đề tài cấp Bộ: Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam - Thực trạng và

giải pháp (Nguyễn Thị Hương chủ nhiệm), Học viện Chính trị - Hành chính

quốc gia Hồ Chí Minh, đã nghiệm thu, 2008

- Đề tài độc lập cấp Nhà nước: Hoạt động văn hoá và sản phẩm văn hoá trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nuớc ta hiện nay, (Trần

Chiến Thắng chủ nhiệm), Bộ Khoa học công nghệ, đã nghiệm thu, 2008

- Đề tài cấp Viện: Quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa những vấn đề

lý luận và thực tiễn, (Vũ Thị Phương Hậu chủ nhiệm), Học viện Chính trị - Hành

chính quốc gia Hồ Chí Minh, đã nghiệm thu, 2008

- Lê Văn Hồng: Một số vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động văn

hoá ở cấp huyện thuộc Tỉnh Đồng Tháp trong tình hình hiện nay, Luận văn thạc

sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001

- Nguyễn Công Lý: Một số vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động

văn hoá trong tình hình hiện nay (khảo sát trên địa bàn Tỉnh Đồng Tháp), Luận

văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001

- Nguyễn Thị Thục: Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở Thanh Hóa trong

giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2008

- Đàm Thị Thái: Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn thị xã Sầm

Sơn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 2009

- Lê Thanh Trung: Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn quận Cầu

Giấy thành phố Hà Nội hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà

Nội, 2009

- Nguyễn Thị Vân: Quản lý nhà nước về văn hoá ở thành phố Thanh Hóa

hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí

Minh, 2010

- Ngô Đức Tuyên: Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Lý

Nhân, tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa, 2013

- Hoàng Thị Thủy: Quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn huyện Mê

Linh, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội, 2013

Trang 13

Ngoài ra, còn có một số lượng khá lớn những bài viết đã đăng trên các báo, tạp chí, liên quan đến vấn đề quản lý văn hoá từ nhiều phương diện

Thứ tư, liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của luận văn, có:

- Lê Thị Vân Mai: Quản lý Nhà hát thực nghiệm của các trường văn hóa

nghệ thuật ở Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa, 2011

- Sách: Nhà hát Lớn Hà Nội vẻ đẹp tròn thế kỷ (1911-2011), nhiều tác giả,

Nxb Hội Nhà văn, 2011 Đây là một công trình nghiên cứu có nhiều giá trị về Nhà hát Lớn Hà Nội, ngoài các giá trị, còn là cuốn lược sử ghi chép các hoạt động chủ yếu của Nhà hát Lớn qua các thời kỷ Ngoài ra còn có những bài viết,

kỷ yếu một số hội thảo khoa học, nhưng chủ yếu nghiên cứu về giá trị lịch sử, hoặc phản ánh những hoạt động cụ thể Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý các hoạt động của Nhà hát Tuy vậy, đây là những tư liệu quý giá

mà tác giả luận văn sẽ kế thừa để giải quyết những vấn đề nghiên cứu liên quan

Tổng quan về các nghiên cứu trên đây

Những nghiên cứu trên đã góp phần làm rõ mối quan hệ giữa phát triển văn hoá và kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận của quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá nói chung và trong một số lĩnh vực cụ thể của văn hoá; bước đầu nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nhà nuớc về văn hoá ở một số địa phương Các kết quả nghiên cứu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng, hoàn thiện thể chế quản lý trên lĩnh vực văn hoá ở nước ta hiện nay và vấn

đề quản lý nhà nước về văn hoá trên một số địa bàn

Kết quả những nghiên cứu trªn ®©y có liên quan đến đề tài: hoặc các

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm định huớng, tạo điều kiện cho phát triển văn hoá và quản lý hoạt động văn hoá; hoặc chỉ mới tập trung ở

phần lý luận chung về quản lý các hoạt động văn hoá Đối với những công trình

nghiên cứu trực tiếp công tác quản lý văn hoá ở một số đơn vị cơ sở, hay tiếp cận vấn đề từ góc độ quản lý một số lĩnh vực văn hoá, thì kết quả nghiên cứu

thuờng gắn với từng điều kiện cụ thể, trong một giai đoạn cụ thể

Trang 14

Như vậy, chưa có nhiều công trình nghiên cứu quản lý văn hóa ở các nhà hát, chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý các hoạt động ở Nhà hát Lớn

Hà Nội một cách hệ thống Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào

từ khi thành lập Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Nhà hát Lớn thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ VHTT&DL và được Chính phủ phê duyệt thành lập Ban Quản

lý Nhà hát Lớn Hà Nội, có quy chế tổ chức và hoạt động độc lập

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về văn hóa nói chung

và đặc thù của quản lý các hoạt động văn hóa, sự kiện ở nhà hát, luận văn khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về tổ chức các hoạt động ở Nhà hát Lớn Hà Nội trong thời gian qua, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hóa của Nhà hát Lớn Hà Nội thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, Luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản lý nhà nước về văn hóa và đặc thù của quản lý các hoạt động ở nhà hát nói chung và Nhà hát Lớn Hà Nội nói riêng;

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý các hoạt động ở Nhà hát Lớn Hà Nội trong thời gian qua;

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động ở Nhà hát Lớn thời gian tới

4 Đối tuợng và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu và quản lý các hoạt động ở Nhà hát Lớn Hà

Nội là vấn đề rộng, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý một số hoạt động

văn hóa và sự kiện của Nhà hát Lớn hiện nay, như: hoạt động văn hóa nghệ

thuật phục nhiệm vụ chính trị xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước; các hoạt động văn hóa nghệ thuật chất lượng cao; các hoạt động quốc gia, quốc tế

Trang 15

liên quan đến trao đổi, phát triển văn hóa dân tộc; một số hoạt động dịch vụ văn hóa đặc biệt theo quy định của pháp luật

- Về thời gian: Về phương diện tổ chức, vấn đề nghiên cứu được giới hạn

trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến nay Năm 1997 là mốc thời gian Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 765 của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động của Nhà hát Lớn Về thực trạng quản lý các hoạt động văn hóa và sự kiện, luận

văn chỉ khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2014 Năm 2008

là năm sáp nhập ba đơn vị: Bộ Văn hóa - Thông tin, Tổng Cục Thể dục Thể thao

và Tổng Cục Du lịch, thành Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nhà hát Lớn là đơn vị cấp I, trực thuộc trực tiếp Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng mác xit, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vai trò của văn hóa; quan điểm của Đảng ta về xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc Luận văn cũng sử dụng phương pháp liên ngành/đa ngành, kết hợp các phương pháp lô gích và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp điền dã, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phỏng vấn sâu để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đề tài đặt ra

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá và quản lý các hoạt động văn hóa ở nhà hát nói riêng Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý các hoạt động văn hóa ở Nhà hát Lớn Hà Nội, luận văn đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về các hoạt động văn hoá ở Nhà hát Lớn Hà Nội thời gian tới

Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho công tác quản lý văn hóa ở nước

ta hiện nay, quản lý các hoạt động văn hóa ở hệ thống nhà hát

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật và

các sự kiện ở Nhà hát Lớn Hà Nội

Chương 2: Thực trạng quản lý các hoạt động văn hóa, sự kiện ở Nhà hát

Lớn trong thời gian qua

Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà

Nội trong thời gian tới

Trang 17

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về văn hóa

- Quản lý và quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện được chức năng nhiệm vụ của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân Đây là hoạt động mang tính khách quan, bởi sự tồn tại của con người và xã hội gắn với quá trình sáng tạo và hoạt động tổ chức quản lý xã hội Về bản chất, đây là một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định thông qua các nguyên tắc, các hình thức, các phương pháp quản lý phù hợp Quản lý chính là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển của quốc gia và các tổ chức

Dù có sự khác nhau trong những loại hình quản lý xã hội nhưng đều thống nhất về các yếu tố cơ bản của hoạt động quản lý: chủ thể, đối tượng và khách thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hoặc một cơ quan quản lý Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp quản lý thích hợp theo những nguyên tắc nhất định Đối tượng quản lý cũng có thể là cá nhân, một tổ chức, tiếp nhận trực tiếp từ sự tác động của chủ thể quản lý Khách thể quản lý chính là các yếu tố tạo nên môi trường bao gồm

Trang 18

cả môi trường tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, ảnh hưởng đến quá trình quản

lý cũng như mục tiêu quản lý Trong các môi trường khác nhau, chủ thể quản lý phải tìm kiếm, sử dụng các công cụ, phương pháp quản lý cho phù hợp Môi trường là yếu tố quan trọng trong quản lý và chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội

Cơ sở của hoạt động quản lý xã hội chính là các quy luật khách quan Chủ thể quản lý phải tuân thủ nguyên tắc quản lý, mà những nguyên tắc đó được hình thành từ chính bản chất xã hội, nên nó mang tính khách quan Là cái đích phải đạt tới tại một điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước, đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp

Quản lý là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau để đạt được hiệu quả đề ra Quản lý ở tầm vĩ mô chính là quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng

Quản lý nhà nước là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch để thực hiện mục tiêu: Đặc điểm này đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình nhằm đạt các mục tiêu đã xác định trên cơ sở chiến lược, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng Quản lý nhà nước là hoạt động dựa trên những quy định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành, quản lý Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch của cấp trên và đường lối, chính sách của Đảng

Quản lý nhà nước là hoạt động dựa trên những quy định chặt chẽ của pháp luật, đồng thời là hoạt động có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt trong thực tiễn điều hành, quản lý Trên cơ sở những quy định của pháp luật và mục tiêu, định hướng, kế hoạch đã được xác định cơ quan quản lý các cấp phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình trong quản lý, điều hành, nhằm động viên được mọi tiềm năng của các nguồn lực nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực

Trang 19

hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng nhiệm vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền đã được phân công, phân cấp, bảo đảm nguyên tắc tập trung, dân chủ, trách nhiệm quản lý theo ngành và lãnh thổ

Quản lý nhà nước phải đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong hoạt động thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe tiếp thu ý kiến của nhân dân Quản lý theo đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong tình hình văn hoá - xã hội hiện đang có nhiều lộn xộn Đặc biệt trong quá tình tăng cường hội nhập quốc tế, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu, ứng dụng rộng rãi những thành tựu của công nghệ thông tin, làm phong phú những ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hoá

Quản lý nhà nước là hoạt động diễn ra thường xuyên, hàng ngày, có tổ chức, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân, bằng việc đưa ra các quyết định quản lý mang tính quy phạm, bằng việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính… kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm mục tiêu định trước

- Quản lý nhà nước về văn hóa

Quản lý nhà nước về văn hóa là hoạt động mang tính tất yếu khách quan, một dạng đặc biệt của quản lý nhà nước Đó là sự định hướng, lập kế hoạch, điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và sự giám sát của nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa, mục đích làm cho văn hóa phát triển theo hướng có ích cho con người, phát triển con người và xã hội

Quá trình quản lý nhà nước về văn hóa được thực hiện bằng hệ thống luật pháp và các chính sách liên quan đến sự phát triển văn hóa Nội dung, phương thức, cách thức, biện pháp để quản lý văn hóa cũng có sự thay đổi, bổ sung, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển tùy theo mỗi quốc gia và truyền thống văn hóa của mỗi nước, mà có những cách thức quản lý văn hóa khác nhau cho phù hợp với sự phát triển của xã hội

Khái niệm này được hiểu: “Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý

của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực

Trang 20

của nhà nước thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc”

Ở nước ta, trong định hướng của Đảng về phát triển văn hóa, khái niệm

quản lý nhà nước về văn hóa được dùng qua các các Văn kiện của Đảng: "quản

lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa văn nghệ" (Văn kiện Đại hội VII), "quản

lý theo hướng xã hội hóa các hoạt động văn hóa thông tin" (Văn kiện Đại hội

VIII), "đổi mới và tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa - thông

tin" (Văn kiện Đại hội X)…

1.1.2 Bản chất và đặc điểm của quản lý nhà nước về văn hóa

Quản lý nhà nước về văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là thực hiện thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, thông qua các hoạt động của chính quyền đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa thực chất là khẳng định quyền lực chính trị của nhà nước và trách nhiệm của nhà nước đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ đặc biệt

để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp Quản lý này mang tính pháp quyền

và thực hiện theo nguyên tắc pháp chế Mặt khác quản lý bằng pháp luật là tất yếu Văn hóa là lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến đời sống tinh thần dân tộc, cần được quản lý bằng pháp luật

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về văn hóa được thể hiện trong hoạt động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành hoạt động, phát triển văn hóa, được thể hiện bởi cơ quan hành pháp (Chính phủ - Bộ Văn hóa) Theo nghĩa này, quản lý nhà nước về văn hóa được quan niệm là quản lý hành chính

về văn hóa, quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa

Ví dụ: Quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực văn hóa Căn cứ vào các đạo luật và các văn bản pháp quy đã ban hành ở nước ta, hiện có 12 lĩnh vực hoạt động văn hoá cần được quản lý: Các hoạt động thuộc lĩnh vực báo chí, xuất bản, Internet, quảng cáo; Các hoạt động thuộc lĩnh vực điện ảnh; Các hoạt động thuộc lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; Các hoạt động thuộc lĩnh vực mỹ thuật; Các hoạt động thuộc lĩnh vực thư viện, bảo tồn, bảo tàng; Các hoạt động thuộc lĩnh

Trang 21

vực văn hoá thông tin cơ sở; Các hoạt động thuộc lĩnh vực văn hoá các dân tộc thiểu số; Các hoạt động thuộc lĩnh vực quyền tác giả, nhuận bút; Các hoạt động thuộc lĩnh vực xuất nhập khẩu văn hoá phẩm; Các hoạt động thuộc lĩnh vực tổ chức bộ máy quản lý văn hoá; Các hoạt động thuộc lĩnh vực đào tạo; Các hoạt động thuộc lĩnh vực thanh tra [31, tr.298] Quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa được thực hiện dựa trên những văn bản pháp luật, hành lang pháp

lý trong quản lý văn hóa đối với các lĩnh vực cụ thể trên

Quản lý nhà nước về văn hóa thực chất là quản lý con người tham gia các hoạt động văn hóa, thực hiện chức năng nhiệm vụ đặt ra cho quá trình xây dựng

và phát triển sự nghiệp văn hóa Bản chất của quản lý nhà nước về văn hóa phụ thuộc vào chủ thể quản lý và mục đích của nền văn hóa Đối với nước ta, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa nhằm mục đích phục vụ lợi ích của nhân dân lao động; xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

1.2 NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA VÀ QUẢN

LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA Ở NHÀ HÁT

1.2.1 Nội dung, đặc điểm quản lý nhà nước về văn hóa

Quản lý nhà nước về văn hóa ở nước ta gồm các nội dung sau:

- Lập kế hoạch xây dựng và phát triển văn hoá: Lập kế hoạch xây dựng và

phát triển văn hoá trong từng giai đoạn để thực hiện đường lối và định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước đối với văn hoá Đây là một việc nhiệm vụ giữ

vị trí quan trọng trong công tác quản lý của Nhà nước

- Xây dựng thể chế, chính sách văn hoá: Để quản lý tốt hoạt động văn hoá

trong quá trình xã hội hoá văn hoá, Nhà nước phải chú trọng xây dựng thể chế văn hoá Thể chế văn hoá được xây dựng trên cơ sở bao gồm hai loại hệ thống chuẩn mực (luật pháp và phong tục tập quán), cả trên bình diện quốc gia và quốc

tế Kế thừa Hiến pháp 1992 về phát triển lĩnh vực văn hóa, Hiến pháp 2001 của Việt Nam sửa đổi, tiếp tục khẳng định nền văn hóa của dân tộc ta là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nhà nước thực hiện ban hành các đạo luật

Trang 22

riêng đối với một số hoạt động văn hoá như: Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật

Di sản văn hoá, Luật Bảo hộ quyền tác giả, Luật Điện ảnh, Pháp lệnh Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện

- Hướng dẫn việc triển khai kế hoạch và các hoạt động văn hoá, tổ chức

kiểm tra, giám sát các hoạt động văn hoá: cùng với việc tăng cường kiểm tra,

giám sát của Nhà nước đối với các hoạt động văn hoá, là những nhiệm vụ quan trọng của quản lý nhà nước đối với văn hoá Đổi mới cơ chế, kiểm tra, giám sát hoạt động văn hoá và các dịch vụ văn hoá theo 3 hướng: hoàn thiện và bổ sung các văn bản pháp quy; kiện toàn đội ngũ cán bộ thanh tra, giám sát của ngành từ trung ương đến cơ sở; tổ chức và sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các cơ quan sản xuất và cung ứng dịch vụ văn hoá, xác định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước

- Xây dựng và sử dụng nguồn lực, kinh phí cho các hoạt động văn hoá:

Đây là một nhiệm vụ cụ thể nhưng có vị trí vô cùng quan trọng trong chức năng quản lý nhà nước Tăng cường ngân sách cho phát triển văn hoá đang là khuynh hướng chung của các nước trên thế giới Việc đầu tư và sử dụng các nguồn lực phải trên cơ sở các mô hình hoạt động văn hoá cụ thể

Những đặc điểm chính của quản lý nhà nước về văn hoá:

- Quản lý nhà nước về văn hóa là quản lý toàn bộ nền văn hóa từ vĩ mô

cho đến việc quản lý các hoạt động ở cơ sở Ở cấp độ vĩ mô, nhiệm vụ quản lý

nhà nước nhằm đảm bảo trên bình diện cao nhất của quản lý văn hóa về tổng thể

hệ thống chuẩn mực pháp lý, đạo lý, xây dựng và hoàn thiện thể chế và thiết chế văn hóa, tạo môi trường lành mạnh cho quá trình sáng tạo, bảo quản, lưu giữ, truyền bá, tiếp nhận, thưởng thức các giá trị văn hóa, các dịch vụ văn hóa cho cộng đồng

- Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính quyền lực nhà nước Có nghĩa,

nhà nước quản lý văn hóa thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, thông qua bộ máy hành chính Thực chất của quản lý nhà nước là trách nhiệm của nhà nước đối với sư nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa

Trang 23

- Quản lý nhà nước về văn hóa nhằm mục tiêu xây dựng và phát triển nền

văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển con người và xã hội Quản lý nhà nước không những nhằm thực hiện

những định hướng, mà thực hiện xây dựng, phát huy vai trò của văn hóa

- Quản lý nhà nước về văn hóa không những thực thi các chính sách kinh

tế trong văn hóa, mà còn nhằm thực hiện chính sách văn hóa trong kinh tế

Chính vì thế, rất cần có sự phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về văn hóa

và hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như giữa sản xuất kinh doanh với hành chính sự nghiệp trong lĩnh vực này

Quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa ở các nhà hát ở nước ta về thực chất vẫn là quản lý nhà nước về văn hóa Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với các hoạt động này còn mang tính đặc thù

1.2.2 Quản lý các hoạt động văn hóa ở nhà hát

* Hệ thống thiết chế văn hóa và các nhà hát ở nước ta

Nhà hát trước hết là một thiết chế văn hóa đặc biệt quan trọng trong hệ thống thiết chế văn hóa của một quốc gia Tổ chức quản lý các hoạt động văn hóa của hệ thống nhà hát về thực chất, cũng là quản lý nhà nước về văn hóa, nhưng là quản lý hành chính đối với đơn vị nghiệp, tổ chức quản lý các hoạt động của các thiết chế văn hóa (Nhà hát, Trung tâm văn hóa ) Quản lý thông qua tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, thực hiện các hoạt động theo quy định của pháp luật

Có nhiều cách hiểu về thiết chế văn hóa Các thiết chế văn hóa là một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho thiết chế đó Thiết chế văn hóa bao gồm hệ thống cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chưa đủ

để gọi là thiết chế văn hóa [65, tr.230] Thiết chế văn hóa cũng được hiểu là cơ quan văn hóa, có nhiệm vụ tổ chức và điều hành quá trình sản xuất, bảo quản,

Trang 24

phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa trong một cộng đồng dân cư nhất định [33, tr.266]

Nếu coi thiết chế chỉ là cơ sở vật chất, hạ tầng cơ sở đều chưa chính xác Thiết chế văn hóa phải được hiểu, trong đó bao gồm nhiều cấu tố tạo thành cả cơ

sở vật chất, tổ chức bộ máy và quy chế hoạt động Trong đời sống văn hóa cộng đồng, hệ thống các thiết chế văn hóa đóng vai trò là nơi lưu giữ và chuyển tải các giá trị văn hóa của cộng đồng đến từng cá nhân Đó là môi trường đảm bảo cho các hoạt động văn hóa diễn ra trong đời sống xã hội

Hệ thống thiết chế văn hóa ở nước ta hiện nay khá phong phú, đa dạng, tương ứng với các loại hình văn hóa xã hội Tuy nhiên, có thể phân chia một cách tương đối về 5 loại hình thiết chế văn hóa:

Thứ nhất là các thiết chế văn hóa thuộc lĩnh vực hoạt động sản xuất, sáng tạo văn hóa Bao gồm hệ thống: nhà văn hóa, nhà sáng tác, hội văn học nghệ thuật, hội sân khấu, mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh, múa… Loại hình thứ hai là hệ thống các thiết chế văn hóa thuộc lĩnh vực hoạt động, lưu giữ, bảo quản giá trị và sản phẩm văn hóa, như: thư viện, bảo tàng, trung tâm lưu trữ Thứ ba là loại hình các thiết chế văn hóa hoạt động phổ biến, truyền bá, như đài phát thanh, truyền hình, tạp chí, nhà xuất bản, cơ quan thông tin đại chúng (sách, báo in, báo hình, băng đĩa hình, quảng cáo, điện ảnh, internet…) Thứ tư là loại hình gồm các thiết chế văn hóa hoạt động hưởng thụ, tiếp nhận (các khu vui chơi giải trí, rạp hát, rạp chiếu phim…) Loại hình thiết chế văn hóa thứ năm đó là nhà văn hóa Mạng lưới thiết chế văn hóa ở nước ta được tổ chức thành ba hệ thống: Hệ thống thiết chế văn hóa đặt dưới sự quản lý của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch; hệ thống thiết chế văn hóa thuộc các lực lượng vũ trang; hệ thống thiết chế văn hóa của các đoàn thể (đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ…) Hệ thống thứ nhất lại chia thành 4 cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và thành phố, cấp huyện, quận, cấp xã, phường Có thể kể đến một số thiết chế văn hóa như: Trường học, thư viện, bảo tàng, nhà truyền thống, câu lạc bộ, nhà hát, rạp chiếu phim, trung

Trang 25

tâm văn hóa, các cơ quan thông tin đại chúng Đó là nơi các hoạt động văn hóa diễn ra một cách tập trung, phản ánh những giá trị kết tinh của đời sống văn hóa cộng đồng Nó chính là chiếc cầu nối giữa sáng tạo và thưởng thức, là nơi diễn ra quá trình chuyển tải những giá trị văn hóa tới cộng đồng

Trong hệ thống thiết chế văn hóa, nhà hát là thiết chế văn hóa đặc biệt Thường thì nhà hát được hiểu là nơi chuyên dùng để biểu diễn các tiết mục văn nghệ phục vụ đông đảo quần chúng ở các thành phố hoặc các đô thị Cách quan niệm như thế không chính xác Nhà hát có một vị trí khá đặc biệt trong đời sống

xã hội, nhất là ở các thành phố có lịch sử lâu đời và gắn liền với nền văn minh nhân loại Không chỉ ở sứ mệnh là cầu nối đưa các giá trị nghệ thuật đến với đông đảo công chúng mà nhà hát còn mang trong mình nhiều ý nghĩa về lịch sử, văn hóa, kiến trúc của một quốc gia

Hiện tại cả nước ta có khoảng hơn 100 nhà hát ở tất cả tỉnh, thành phố, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, khu đô thị Khu vực phía Bắc, nhất là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, là nơi có nhiều nhà hát nhất Hiện tại có 12 nhà hát do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trực tiếp quản lý Trong

hệ thống nhà hát cả nước có một nhà hát đặc biệt, đó là Nhà hát Lớn Hà Nội

Nhà hát Lớn Hà Nội không những đặc biệt về tầm mà cả về quy mô Đây là nhà hát duy nhất được Chính phủ ký quyết định thành lập Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội (1997)

Các Nhà hát Lớn là thiết chế văn hóa có quy mô lớn, hiện đại nằm ở trung tâm nơi thường diễn ra nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật chất lượng cao phục

vụ các nhiệm vụ chính trị, cũng như các hoạt động dịch vụ văn hóa đặc biệt, các hoạt động quốc gia, quốc tế liên quan đến trao đổi, phát triển văn hóa dân tộc

Nhà hát chính là “ngôi đền nghệ thuật” trong đời sống văn hóa tinh thần của các

dân tộc

* Thực tế quản lý hoạt động của các nhà hát ở nước ta

Hoạt động của các nhà hát khác trên phạm vi cả nước hiện chủ yếu là phục vụ các chương trình biểu diễn nghệ thuật, và các sự kiện văn hóa thể thao

Trang 26

và du lịch, cùng với một số dịch vụ văn hóa khác Riêng Nhà hát Lớn Hà Nội, ngoài quản lý phục vụ các chương trình biểu diễn nghệ thuật chất lượng cao, còn quản lý phục vụ các sự kiện lớn về chính trị, ngoại giao, về văn hóa nghệ thuật của Chính phủ và các sự kiện của các Bộ, Ban, ngành trong nước

Về phương diện tổ chức quản lý các hoạt động của các nhà hát, trước hết

đó là tình trạng của hệ thống thiết chế văn hóa nói chung và các nhà hát trên phạm vi cả nước đang “thừa” và “thiếu” Thiếu nhà hát trầm trọng và lãng phí nghiêm trọng Nhà hát là thiết chế phục vụ nhiều hoạt động quy mô, đặc biệt là biểu diễn nghệ thuật, nhưng hiện tại chúng ta đang thiếu những nhà hát đúng chuẩn1 Một số nhà hát tuy mới xây nhưng cũng bất hợp lý về thiết kế, nên mỗi lần dựng vở, các biên đạo và đạo diễn lại phải tìm cách cải tạo sân khấu, hoặc co kéo vở diễn cho phù hợp

Ở khu vực phía Bắc, Hà Nội (kể từ khi sát nhập có khoảng 7 triệu dân) có11 đoàn nghệ thuật trung ương, bốn đoàn địa phương Trên địa bàn Thủ đô hiện có 15 rạp hát cho 11 đơn vị nghệ thuật sân khấu Thực tế, khu vực nội thành, chuyên về biểu diễn nghệ thuật có rạp Kim Mã, Chuông Vàng, Công Nhân, Hồng Hà, Đại Nam, Tuổi Trẻ, Nguyễn Đình Chiểu, Thanh Niên, Nhà hát Kịch Việt Nam, Nhà hát Quân đội, Rối nước Thăng Long, Rối Trung ương, Xiếc Trung ương cùng hai thiết chế có Ban Quản lý riêng là Nhà hát Lớn và Cung Hữu nghị Hà Nội Hiện tượng khá nhiều rạp hát có cơ sở vật chất nhưng lại hoạt động cầm chừng Hà Nội, Nhà hát Cải lương, Nhà hát Nhạc vũ kịch, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Múa rối Trung ương đều chưa có nhà hát để biểu diễn Một số nhà hát khác có nhưng quy mô quá nhỏ: Sân khấu Lục Thủy của Nhà hát Ca múa nhạc nhẹ Việt Nam không đầy 200 chỗ, Nhà hát Kịch Việt Nam nằm ngay sau Nhà hát Lớn, cũng chỉ 150 chỗ, có thể nhầm với khu vực để xe của Nhà hát Lớn Không những thừa, thiếu, lãng phí, mà còn có sự chồng chéo trong quản lý và hoạt động không hiệu quả

1 Chuyện biên đạo người Pháp Bertrand d’At khi dựng vở Chuyện tình thành cổ cho Nhà hát Nhạc vũ kịch

Việt Nam năm 2010, vì quy mô sân khấu không đảm bảo đã phải thiết kế, biên đạo lại nội dung

Trang 27

Trừ hai thiết chế có mô hình quản lý gần giống nhau, đó là Nhà hát Lớn

Hà Nội và Cung Hữu nghị Việt Xô Hà Nội nhưng cơ quan chủ quản khác nhau Hiện tại một số nhà hát ở Hà Nội thuộc quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch, đó là 6 nhà hát: Rạp Âu Cơ (Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam), Sân khấu 16 Lê Thái Tổ (Nhà hát Nghệ thuật đương đại Việt Nam), rạp Kim Mã (Nhà hát Chèo Việt Nam), Nhà hát Lớn Hà Nội (Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội), Nhà hát Múa rối Việt Nam - 361 Trường Chinh, Rạp Hồng Hà (Nhà hát Tuồng Việt Nam), Nhà hát Tuổi Trẻ (11 Ngô Thì Nhậm), Rạp Xiếc Trung ương (Liên đoàn Xiếc Việt Nam) Cục Nghệ thuật biểu diễn - Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch chỉ quản lý về mặt chuyên môn nhưng lại không quản lý hệ thống cơ sở vật chất của các nhà hát, rạp hát nên điều đó dẫn đến thực tế có nhiều cơ sở văn hóa không hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ văn hóa như quy định, mà tổ chức các hoạt động, dịch vụ kinh doanh và các dịch vụ khác…

Về hiệu quả hoạt động, có thể thấy trong những năm gần đây, các nhà hát, sân khấu của Việt Nam hầu hết đã đi vào hoạt động xã hội hóa Thực tế phía Bắc

số lượng sân khấu của nhà nước nhiều nhưng có khá nhiều nhà hát không thu hút được khán giả Hoạt động có hiệu quả vẫn là số ít ỏi, trừ Nhà hát Tuổi trẻ và Nhà hát Múa rối Thăng Long, Nhà hát Lớn Hà Nội…

Nhà hát Múa rối Thăng Long, năm 2006 đã được Trung tâm sách Kỷ lục

Việt Nam đã bình chọn là nhà hát có kỷ lục xác lập “Đơn vị nghệ thuật duy nhất

trong cả nước biểu diễn 365 ngày trong năm” Tháng 8 năm 2013, tại Ấn Độ -

trụ sở của Tổ chức Kỷ lục Châu Á đã công bố Việt Nam có 3 kỷ lục được công nhận là kỷ lục Châu Á, trong đó có Nhà hát Múa rối Thăng Long Ngày 20/9/2013, Tổng giám đốc Tổ chức Kỷ lục Thế giới đã trao tặng Nhà hát kỷ lục

được xác lập “Nhà hát duy nhất tại Châu Á biểu diễn múa rối nước 365 ngày

trong năm” Bên cạnh đó, thì Nhà hát Tuồng Việt Nam dù cố gắng tổ chức các

chương trình để thu hút khán giả tới rạp, nhưng số lượng khán giả cho mỗi buổi diễn này cũng chỉ khoảng 20 đến 30 người Hoạt động của Rạp Chuông Vàng cũng tương tự…

Trang 28

Khu vực phía Nam có hiện tượng sản phẩm biểu diễn phong phú hơn, nhu cầu sôi động nhưng lại ít sân khấu hơn Thực tế cho thấy, kịch tư nhân với 100% vốn đầu tư của các nghệ sĩ, hầu như không nhận được đầu tư hỗ trợ nào từ phía nhà nước Các nghệ sĩ xã hội hóa này thực hiện các nghĩa vụ thuế không được miễn giảm gì Cho tới nay chưa có đoàn kịch tư nhân nào đủ lực để xây dựng nhà hát cho mình, tất cả các đoàn đều đi thuê địa điểm để diễn theo hợp đồng Nhiều trung tâm

họ đã thực sự tạo ra được thị trường sân khấu hấp dẫn và đặt những bước đi đầu tiên khá hiệu quả cho một ngành công nghiệp biểu diễn trong tương lai

Thực tế trên đây cho thấy việc quản lý và tổ chức các hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa nói chung, các nhà hát nói riêng đang có rất nhiều vấn đề đặt ra cả về phương diện lý luận và thực tiễn Trong đó rất cần thiết phải có nghiên cứu khoa học đánh giá thực trạng công tác quản lý và tổ chức để nâng cao hiệu quả các hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa

Quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội trong bối cảnh hiện nay cũng không nằm ngoài yêu cầu cấp thiết trên

1.3 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ VÀ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI

Ngày 11 tháng 11 năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội tròn một trăm tuổi Một thế kỷ tồn tại, Nhà hát Lớn Hà Nội trước hết vì nó là một thiết chế văn hóa, một không gian giao tiếp xã hội, mà còn như một nhân chứng lịch sử đặc biệt, chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử và văn hóa diễn ra tại Thủ đô trong suốt một trăm năm qua Di tích lịch sử - kiến trúc quốc gia và lịch sử hoạt động là những yếu tố tác động trực tiếp đến quản lý và tổ chức các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội hiện nay [49]

1.3.1 Nhà hát Lớn Hà Nội - công trình kiến trúc quốc gia độc đáo - nơi chứng kiến lịch sử đặc biệt

* Nhà hát Lớn Hà Nội - một kiến trúc quốc gia độc đáo

Nhiều công trình nghiên cứu cho biết, vị trí của Nhà hát Lớn Hà Nội xưa kia là một vùng đầm lầy thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông, giáp

Trang 29

gianh với làng Cựu Lâu, thuộc tổng Phúc Lân (hay tổng Hữu Túc), huyện Thọ Xương Năm 1808, một trường đúc tiền (tên chữ Hán: Bảo truyền cục) được thành lập tại khu vực này, với phía bắc là phố Tràng Tiền ngày nay, nam là phố Phạm Sư Mạnh, Đông là phố Phan Chu trinh và tây là phố Ngô Quyền Phía đông bắc của đầm lầy nhà hát ngày xưa là cửa ô tên Tây Long (hay Tây Luông), lấy theo tên của bến đò thời Lê đậu ở bãi sông cùng tên Ngày 20/7/1786, quân Tây Sơn tiến vào thành Thăng Long qua bến sông và cửa ô này đã đánh vào trận địa của chúa Trịnh Khải ở hai bên lầu Ngũ Long (trung tâm Bưu điện Hà Nội ngày nay) Bến sông này cũng là nơi chứng kiến cuộc rút chạy ngày 30 tháng 1 năm 1789 (mùng 5 Tết Kỷ Dậu) của quân nhà Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy sau thất bại đồn Khương Thượng trước đô đốc Long [75]

Có lẽ rất hiếm một kiến trúc văn hóa nào có hoàn cảnh xuất xứ đặc biệt như thế Nhà hát Lớn Hà Nội ra đời từ sự ra đời của một thành phố thuộc địa và một nhu cầu văn hóa mới của thị dân Năm 1888, cùng với Đà Nẵng, Hải Phòng,

Đà Nẵng, Hà Nội đã không còn là không gian của kinh đô Thăng Long xưa nữa,

mà là thành phố, không những có vị thế của thủ phủ Bắc Kỳ mà còn là của toàn

bộ xứ Đông Dương rộng lớn dưới quyền cai trị của thực dân Pháp Cơ sở hạ tầng của thành phố và cả không gian vui chơi giải trí của Hà Nội dần được quy hoạch theo hướng đô thị hiện đại Người được coi là có công đầu tiên cho công cuộc này đó là Paul Bert

Theo Lưu trữ Trung ương I (lưu giữ tài liệu của Phủ Thống sứ Bắc Kỳ xưa), hiện còn giữ được một số văn bản liên quan đến việc xây dựng nhà hát này Trong hồ sơ lưu trữ (ký hiệu RST-21580) có các quyết định của Hội đồng Thành phố Hà Nội chủ trương xây cất nhà hát, từ các quy trình liên quan đến quy hoạch không gian, kiến trúc, nội thất cùng quảng trường, thiết kế kiến trúc, thủ tục đấu thầu, giải pháp thi công [49, tr.19] Suốt trong năm 1900, những công việc liên quan được tiến hành Tháng 4 năm 1901, việc bỏ thầu đã diễn ra

và hai nhà thầu khoán ở Hà Nội là các ông Charavy và Savelon đã trúng thầu

Trang 30

Kiến trúc sư Harley, thanh tra các công trình dân dụng của Sở Lục lộ được giao chỉ đạo và giám sát kỹ thuật Ngày 7 tháng 6 năm 1901 công trình xây dựng Nhà hát Lớn Hà Nội được khởi công Cho đến nay, việc xác định tác giả thiết kế kiến trúc Nhà hát Lớn vẫn chưa rõ ràng

Cũng theo tài liệu trong sách đã dẫn, mô tả trong ấn phẩm của Phủ Toàn quyền Đông Dương, vị trí của Nhà hát gắn với một không gian 8.800m2, trong

đó có 2.600m2 xây dựng lại nằm trong không gian quy hoạch của một quảng trường nhìn thẳng trục đường danh giá nhất thành phố Hiện tại, Nhà hát Lớn Hà Nội tọa lạc trên quảng trường Cách mạng Tháng tám

Kiến trúc nguyên thủy của Nhà hát Lớn Hà Nội theo tài liệu trên được miêu tả gồm có ba phần:

- Phần phía trước có bậc cấp rộng đi lên và hai bên là cổng có mái che

để dành cho xe ôtô Tiền sảnh có kích thước 30m x 15m, có hệ thống bậc thang và hành lang dẫn tới mọi vị trí từ các chỗ ngồi, dàn nhạc, đến sân khấu

Hệ thống bán vé phía trong có mái che Trên tầng hai ứng với sảnh ở tầng là nhà chờ và bước ra ngoài bao lơn và vị trí có tầm nhìn rất đẹp hướng về trục đường Paul Bert

- Bộ phận trung tâm là khán phòng có kích thước 25,5m x 19m, gồm hai dẫy ghế, có phòng vệ sinh, phòng giữ áo khoác, cầu thang bảo hiểm Tổng ghế ngồi ổn định là 870 ghế, nhưng có thể nâng lên thành 1200 ghế bằng cách cất đi các vách ngăn

- Có sân khấu rộng tới 330m2 (17,5m x 30m) với không gian trần cao 30m, tiện dụng cho việc biểu diễn Ngoài ra còn hệ thống kho tàng, văn phòng quản lý, phòng giám đốc, thư viện, các thiết bị chữa cháy, bảo vệ… Một hệ thống tầng hầm có chiều cao trung bình 5m với kết cấu vòm cuốn góp phần khắc phục khí hậu ẩm nóng của xứ nhiệt đới

Có nhiều lý do, trong đó có nguyên nhân về quy mô của Nhà hát Điều đáng nói là quan điểm của Phủ Toàn quyền Đông Dương năm 1905, đã cho rằng:

Trang 31

Với những ai chê trách công trình trên đường Paul Bert có quy mô quá lớn, thì có thể dễ dàng mà trả lời rằng ngày mai nó vẫn sẽ vẫn chưa

đủ Nhìn lớn đôi khi lại là nhìn đúng Vả lại, nhà hát không chỉ dành cho cư dân Hà Nội mà cho tất cả những người di thực và viên chức của cả nước mà lợi ích và công việc đưa họ đến Thủ đô [49, tr.23]

Nhà chép sử Hà Nội người Pháp, Claude Bourrin trong sách Người và

việc ở Đông Dương (1908-1916), đã ghi lại sự việc xây Nhà hát Lớn: “Từ nhiều

năm qua, thành phố Hà Nội đã thực hiện việc xây dựng Nhà hát Lớn Hà Nội xứng đáng với thủ đô hành chính của Đông Dương, hơn cái phòng diễn cổ lỗ ở phố Tako Mặc dù chưa hoàn thành đầy đủ do kinh phí, cuối cùng thì tòa nhà cũng dùng được…” [49, tr.24]

Nhà hát Lớn Hà Nội được xây dựng theo mô hình của Nhà hát Lớn Paris (Pháp), tồn tại đến nay đã tròn một thế kỷ có lẻ, nhưng vẫn hiển hiện như một trong những vẻ đẹp kiến trúc tiêu biểu nhất của một thời, vẫn là một trong những điểm nhấn thu hút đặc biệt của Hà Nội

Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính, người từng được Nhà nước giao nhiệm vụ chỉ huy công việc tu bổ công trình này (2004-2007) đã viết rằng, thể loại kiến trúc nhà hát có nguồn gốc xuất xứ từ thời Hy Lạp cổ đại, trước CN Pháp thế kỷ XVIII đã xuất hiện những công trình biểu diễn dành cho công chúng Nhà hát bao giờ cũng được đặt ở trung tâm các thành phố lớn, kiến trúc uy nghi lộng lẫy, chỉ sau các cung điện Những Nhà hát Lớn của Pháp nổi tiếng không chỉ bởi nghệ thuật sân khấu mà còn bởi kiến trúc Trong nhiều trường hợp, người ta gọi

nhà hát là Opéra, bởi tại đó biểu diễn nhạc kịch là chính Cũng theo ông, Nhà hát

Lớn Hà Nội trong nhiều ấn phẩm nước ngoài và trong hội thảo cũng hay được

gọi là Opéra, khi thực hiện “Dự án Nhà hát Lớn”, các nhà báo và các chuyên gia

nước ngoài cho biết Nhà hát Lớn Hà Nội nằm trong danh sách 20 Opéra đặc sắc trên thế giới

Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính khẳng định: “kiến trúc của Nhà hát Lớn Hà Nội là một sự phối hợp khá nhuần nhị ba dòng: tân cổ điển, tân ba - rốc và

Trang 32

những biểu hiện của xu hướng kiến trúc thời chuyển tiếp - cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX… Người Pháp đã chú ý khai thác các hoa văn Á Đông, cách điệu hóa và đưa vào công trình một cách hợp lý Kiến trúc của Nhà hát Lớn khá hoàn hảo, quy củ, có sự thống nhất cao và đặc biệt hơn cả, nó không giống một tòa nhà nào khác đã xây cất ở Hà Nội và toàn cõi Đông Dương… cũng không giống nhà hát ở Châu Âu Kiến trúc Nhà hát Lớn Hà Nội cũng không sao chép kiến trúc Nhà hát Lớn ở Paris (nhà hát đẳng cấp cao của thế giới) Kiến trúc Nhà hát Lớn Hà Nội được tạo nên theo mô hình các nhà hát dạng này ở Châu Âu, nhưng

nó có giá trị tự thân, xứng đáng đứng trong danh sách những nhà hát dạng kinh điển đặc sắc của thế giới [49, tr.27]

Về những giá trị kiến trúc - đô thị - cảnh quan, Nhà hát Lớn Hà Nội cho đến nay vẫn là một công trình biểu diễn nghệ thuật lâu đời nhất, tiêu biểu nhất, trang trọng và đường bệ nhất, phù hợp với các chương trình nghệ thuật sân khấu

và âm nhạc đẳng cấp, đáp ứng trình độ biểu diễn quốc tế

* Nhà hát Lớn Hà Nội - Di tích lịch sử đặc biệt

Không những là thiết chế văn hóa đặc biệt, Nhà hát Lớn còn là nơi chứng kiến những đổi thay của lịch sử Đặc biệt, Quảng trường Nhà hát Lớn đã chứng kiến những đổi thay vận mệnh của Tổ Quốc và dân tộc vào những ngày mùa thu năm 1945 Đây là nơi tập hợp quần chúng đông đảo chuẩn bị cho cuộc cách mạng Tháng Tám lịch sử Kể từ đây Nhà hát Lớn đã trở thành một mốc lịch sử

cả về không gian và thời gắn liền với hàng loạt sự kiện dẫn đến chuyển biến lịch

sử dân tộc sâu sắc, đó là chấm dứt chế độ phong kiến và thuộc địa, xác lập sự ra đời của nền độc lập dân tộc và chế độ dân chủ cộng hòa

Nhà hát Lớn Hà Nội là nơi biểu thị sức mạnh đại đoàn kết của Thủ đô và của Dân tộc Nhiều sự kiện trọng đại của lịch sử đã diễn ra tại Nhà hát kể từ sau ngày chính quyền về tay nhân dân (19/8/1945) Nhà hát Lớn Hà Nội được kế thừa nguyên vẹn, là Nhà Quốc hội những nhiệm kỳ đầu, kỳ họp thứ nhất của của Quốc hội đã được triệu tập ở đây

Trang 33

Ngày 17/8/1945 tại quảng trường Nhà hát đã diễn ra cuộc mít tinh ra mắt mặt trận Việt Minh

Ngày 29/8/1945 đón chào quân giải phóng Việt Bắc về Hà Nội ra mắt tại quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội

Ngày 16/9/1945 tại quảng trường Nhà hát đã diễn ra tuần lễ vàng

Đầu tháng 10/1945 tổ chức ngày Nam Bộ kháng chiến tại quảng trường Nhà hát

Ngày 5/3/1945 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa họp khóa đầu tiên tại Nhà hát Lớn Hà Nội

Ngày 2/9/1946 mít tinh kỷ niệm 1 năm chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa và đó cũng là ngày Bác Hồ lần đầu tiên đặt chân vào Nhà hát Lớn

Hồ Chủ tịch đã đọc diễn văn khai mạc

Nhà hát Lớn Hà Nội là nơi đã chứng kiến những giây phút hòa bình đầu tiên trên đất nước của chúng ta, là một nhân chứng cách mạng của Thủ đô Hà Nội Từ đó đến nay Nhà hát luôn luôn là trung tâm của các cuộc họp, hội nghị mít tinh quan trọng và các buổi biểu diễn mang tính nghệ thuật cao của các đoàn nghệ thuật trong nước và quốc tế Nhà hát Lớn Hà Nội còn là nơi diễn ra các Hội nghị và chào đón các nguyên thủ quốc tế Từ năm 2000 đến năm 2010, nơi đây

đã diễn ra gần 70 hội nghị quan trọng trong nước, là một trong nhiều nơi đón các nguyên thủ quốc tế [49, tr.60-64]

Trang 34

Giữa thập niên 1990, để chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 7 diễn ra tại Hà Nội vào tháng 11 năm 1997, Chính phủ Việt Nam đã quyết định trùng tu Nhà hát Lớn với kinh phí 156 tỷ đồng, tương đương khoảng 14 triệu đô la.Dự án được bắt đầu năm 1995 và hoàn thành 2 năm sau đó với sự tham gia của 100 nhân công và dưới sự giám sát của kiến trúc sư người Pháp gốc Việt Hồ Thiệu Trị, tác giả đồ án trùng tu

Năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội cùng quảng trường Cách mạng tháng Tám đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử và kiến trúc quốc gia.Ngày 9 tháng 12 năm 2011, Nhà hát Lớn Hà Nội kỷ niệm 100 năm ngày nhà hát ra đời

1.3.2 Khái quát những giai đoạn quản lý hoạt động văn hóa, sự kiện của Nhà hát Lớn Hà Nội

Không những là kiến trúc quốc gia độc đáo, nơi chứng kiến lịch sử đặc biệt, Nhà hát Lớn Hà Nội còn là một trong các trung tâm văn hóa của Thủ đô, nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, ca múa nhạc, hòa nhạc, giao lưu quốc tế… Nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: Nhà hát Lớn Hà Nội không chỉ có giá trị đơn thuần về kiến trúc Rộng hơn, từ đầu thế kỷ XX, đó cũng là nơi chứng kiến những cuộc “tiếp xúc” đầu tiên giữa Việt Nam với văn hóa, nghệ thuật phương Tây, cụ thể là âm nhạc và sân khấu

Là nhà hát duy nhất trong hệ thống nhà hát cả nước, Nhà hát Lớn

Hà Nội là:

- Nơi khai sinh và tôn vinh kịch nghệ cùng sân khấu Việt Nam;

- Nơi khai sinh và tôn vinh Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc kịch - Vũ kịch Việt Nam;

- Nơi tôn vinh Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc kịch - Vũ kịch do các nghệ sỹ Việt Nam biểu diễn (1991 đến nay);

- Nơi tôn vinh các ca khúc và ca sỹ Việt Nam (1991 đến nay);

- Một địa chỉ văn hóa toàn cầu…

Trang 35

Trong một thế kỷ qua, việc quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật, sự kiện của Nhà hát Lớn Hà Nội đã trải qua các giai đoạn lịch sử sau đây:

- Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám

- Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1995

- Giai đoạn từ năm 1997 đến nay

Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám

Các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội được diễn ra trong bối cảnh “Môi

trường văn minh phương Tây cưỡng chế: sự thắng thế của văn hoá Pháp trong thiết chế văn hoá chính thống” [36, tr.47-52] Sau khi dập tắt các phong trào cách

mạng, thực dân Pháp đã đẩy mạnh khai thác thuộc địa, nhào nặn Việt Nam thành một xứ thuộc địa điển hình, từ cơ cấu chính trị, đặc tính kinh tế, đến các quan hệ

xã hội và văn hoá Cùng với khai áp đặt về chính trị, thác kinh tế, thực dân Pháp

đã thực hiện cuộc chinh phục về văn hoá tinh thần cũng ráo riết không kém

Để tạo môi trường văn hoá phương Tây, xoá dần Nho học và cả văn hoá bản địa của bản xứ, chính sách văn hoá của người Pháp ở Việt Nam đã tập trung

vào một trong những điểm chính, đó là việc tạo ra một hệ thống thiết chế văn

hoá mới theo kiểu phương Tây… nhằm truyền bá các giá trị văn hóa và phục vụ

cho mục đích cai trị của họ Từ đó đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, có

thể coi như giai đoạn đầu tiên trong chính sách xâm lăng văn hoá của thực dân Pháp, tạo những cơ sở ban đầu cho những thiết chế văn hoá phương Tây (chủ

yếu là mô hình văn hoá Pháp) ở Việt Nam

Trong bối cảnh đó, sự ra đời của các nhà hát ở ba đô thị trên cả nước, cũng như việc quản lý các hoạt động, sự kiện của Nhà hát Lớn do bộ máy của chính quyền thực dân Tuy nhiên, như người phương Tây có nhận xét khái quát:

“Khi chinh phục được miền đất mới, người Tây Ban Nha trước tiên sẽ xây một nhà tù, người Italia sẽ xây một nhà thờ, người Anh sẽ xây một nhà băng, còn người Pháp sẽ xây một… nhà hát” [49, tr.14] Dù sao điều đó cũng phản ánh thực tế là các hoạt động văn hóa nghệ thuật ở Nhà hát Lớn đã đem lại sự sinh

Trang 36

động cho đời sống văn hóa tinh thần với những giá trị mới của cư dân đô thị Hà Nội và cả nước trong giai đoạn lịch sử này

Mười năm sau đi vào hoạt động, Nhà hát Lớn đã trở thành nơi khai sinh kịch nghệ và sân khấu của người Việt Nam Các văn nghệ sỹ Việt Nam đã bắt đầu viết và diễn kịch của mình ở nơi đây Vở kịch đầu tiên được trình diễn là vở

Chén thuốc độc của tác giả Vũ Đình Long (1921) Trong thời gian đầu, hoạt

động văn hóa nghệ thuật của Nhà hát Lớn chủ yếu dành cho những đoàn nghệ thuật từ phương Tây hằng năm sang diễn cho giới chức quan lại Pháp xem Những người thượng lưu Việt Nam cũng được tham dự, song muốn vào Nhà hát phải mặc lễ phục và trả giá vé đắt

Về sau, Nhà hát Lớn cũng có những buổi công diễn do người Việt Nam tổ chức để làm việc nghĩa (cứu nạn nhân các tỉnh bị lụt, làm nhà tế bần…) Tuy nhiên, trong lịch sử hoạt động của mình, Nhà hát Lớn phải đình lại nhiều lần do chủ trương khác nhau của nhà cầm quyền Từ năm 1940, nhiều đoàn kịch nói của ta đã có thể thuê Nhà hát Lớn để diễn

Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1995

Cách mạng tháng Tám thành công, một thể chế chính trị mới được xác lập với sự lựa chọn lịch sử: đó là chế độ Cộng hòa - Dân chủ, khác hoàn toàn bản chất của chế độ thuộc địa nửa phong kiến trước đó Nhà hát Lớn không chỉ là thiết chế văn hóa, mà còn là nhân chứng lịch sử đặc biệt Khi chính quyền về tay nhân dân, việc quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn do chính quyền cách mạng, phục vụ nhân dân Ngoài tổ chức các chương trình biểu diễn nghệ thuật, Nhà hát Lớn còn là nơi hội họp của Chính phủ, quân đội, văn nghệ sỹ

Ngay những thời kỳ đầu, Nhà hát Lớn là nơi công khai diễn các vở kịch cách mạng Thời kỳ Hà Nội bị tạm chiếm (tháng 12/1946-1954), kịch nghệ và sân khấu vẫn diễn ra khá sôi nổi Thời Hà Nội hòa bình (tháng 10/1954), đặc biệt lần đầu tiên người dân Thủ đô chứng kiến sự ra đời của Đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị, với những vở diễn đầu tiên của Đoàn Nhà hát Lớn cũng là nơi khai

Trang 37

mạc Đại hội văn công toàn quốc, gồm 26 đơn vị, với 1071 anh chị em diễn viên, đại biểu cho 25 dân tộc cả nước Đoàn kịch Trung ương ra đời và diễn hoàn thành xuất sắc các vở ở đây

Nhà hát Lớn Hà Nội cũng là nơi trình diễn một số tiết mục của một số tác giả quốc tế Thời chống Mỹ cứu nước (từ 1965-30/4/1975), kịch nói đã chiếm lĩnh sân khấu như một loại hình chủ chốt Nhà hát Lớn đã tổ chức liên hoan kịch nói cho cả nước và dàn dựng, tổ chức diễn hàng loạt vở mới Thời hậu chiến (sau 30/4/1975 - cuối 1986), một số đạo diễn đi học nước ngoài trở về đã dàn dựng nhiều vở với cả chủ đề quốc tế Năm 1979, Nhà hát Tuổi trẻ được thành lập, năm

1980 đã ra mắt ở Nhà hát Lớn với những vở diễn ấn tượng Đây cũng là thời kỳ

mà hoạt động nghệ thuật của Nhà hát trên lĩnh vực này được đánh dấu bởi nhiều

vở diễn của những thế hệ nghệ sỹ tài năng

Giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, sân khấu Nhà hát Lớn trình diễn nhiều vở gây xúc động trong khán giả Những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống thời kỳ đổi mới được đưa lên sân khấu với một ý thức nghệ thuật, trách nhiệm xã hội nghiêm túc Đây cũng là thời kỳ Nhà hát thực hiện tốt chương trình giao lưu quốc tế về văn hóa Nhiều chương trình nghệ thuật được tổ chức ở Nhà hát Lớn…

Những năm tháng dân tộc chống Mỹ cứu nước, Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn nguyên vẹn, vẫn hoạt động với tinh thần văn nghệ thời chiến “tiếng hát át tiếng bom” Và trên Quảng trường của Nhà hát cũng diễn ra không biết bao nhiêu cuộc mit tinh, những cuộc tiễn đưa các chàng trai Thủ đô lên đường ra trận Những thập niên đầu đổi mới cũng là khi Nhà hát Lớn có sự xuống cấp Ngày 20 tháng 6 năm 1995, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Võ Văn kiệt đã ký quyết định việc đầu tư tu bổ, nâng cấp Nhà hát Lớn Mục đích của việc trùng tu tôn tạo là để công trình này ngày càng trở thành một trung tâm văn hóa lớn của Thủ đô và cả nước Quyết định xác định về nội dung đầu tư nâng cấp Nhà hát, bao gồm: tu bổ, nâng cấp kết cấu, kiến trúc và nội thất; tạo lập các hệ thống kỹ thuật, các hệ thống thiết bị hiện đại; tôn tạo môi trường bao quanh tương xứng với công trình

Trang 38

Năm 1997, năm 2007 và năm 2008 là những thời điểm đánh dấu các mốc quan trọng trong công tác quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn Những nội dung cụ thể này sẽ được luận văn trình bày trong phần sau

Những yếu tố trên đã tác động quan trọng đến công tác quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn, đặc biệt trong giai đoạn đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế

Tiểu kết chương 1

Quản lý nhà nước về lĩnh vực văn hóa là tất yếu khách quan Về bản chất, quản lý nhà nước đối với văn hóa là quản lý con người tham gia các hoạt động văn hóa để thực hiện chức năng và nhiệm vụ đặt ra cho quá trình xây dựng và phát triển văn hóa Sự nghiệp cách mạng dân tộc do Đảng ta lãnh đạo, trong đó phát triển văn hóa để đáp ứng nhu cầu của nhân dân, phát triển bền vững con người và xã hội

Quản lý các hoạt động của nhà hát là hoạt động quản lý văn hóa mang tính đặc thù Bởi nhà hát là những thiết chế văn hóa đặc biệt trong hệ thống thiết chế văn hóa quốc gia Nhà hát là thánh đường nghệ thuật trong đời sống tinh thần của các dân tộc Nhà hát còn là những công trình mang dấu ấn của những kiến trúc độc đáo Nhiều nhà hát cũng là nhân chứng lịch sử của nhiều dân tộc Nhà hát Lớn Hà Nội là thiết chế văn hóa đặc biệt, từ lịch sử ra đời đến những giá trị kiến trúc, lịch sử, địa chỉ của hoạt động văn hóa nghệ thuật và là nơi diễn ra những sự kiện chính trị Công tác quản lý các hoạt động của Nhà hát gắn với một trăm năm lịch sử Giai đoạn đổi mới, chủ động hội nhập, phát triển của đất nước đòi hỏi phải đổi mới trong công tác quản lý văn hóa nói chung và quản lý các hoạt động của hệ thống nhà hát nói riêng Nghiên cứu của đề tài luận văn cũng nhằm mục đích phát huy vai trò của một thiết chế văn hóa đặc biệt của Thủ đô và cả nước, đáp ứng yêu cầu phát triển

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA, SỰ KIỆN Ở NHÀ HÁT LỚN TRONG THỜI GIAN QUA

Về đối tượng, phạm vi nghiên cứu như đã giới hạn ở Chương 1, luận văn

sẽ nghiên cứu thực trạng tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý các hoạt động của Nhà hát từ năm 1997 đến nay; và khảo sát đánh giá thực trạng quản lý các hoạt động của Nhà hát từ năm 2008 đến năm 2013

2.1 BỘ MÁY VÀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI

Sau hai năm dừng hoạt động để đầu tư tôn tạo, năm 1997 đánh dấu một sự kiện quan trọng, đó là Nhà hát Lớn Hà Nội chính thức được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định Về việc thành lập Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin Từ năm 1997 đến nay về bộ máy và quy chế hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội có sự thay đổi gắn với các mốc thời gian:

- Ngày 17 tháng 9 năm 1997, Chính phủ ra Quyết định số 765/TTg Về việc

thành lập Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội trực thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin

- Ngày 22 tháng 12 năm 1998, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là bộ Văn hóa,

Thể thao và Du lịch) ra Quyết định số 3716/1998/QĐ-BVHTT Ban hành Quy chế

tổ chức và hoạt động của Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội, ban hành kèm theo

Quy chế của quyết định này Quy chế này ghi rõ: Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội là đơn vị sự nghiệp hoạt động theo phương thức sự nghiệp có thu, có con dấu riêng, có tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội

- Ngày 23 tháng 7 năm 2007, trên cơ sở những nội dung các quyết định đã ban hành trước đó, Giám đốc Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội ký và ban hành

quyết định về Quy chế Tổ chức và hoạt động của Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà

Nội, ban hành kèm theo Quyết định số 08 ngày 23/7/2007 của Giám đốc Ban

Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội

- Ngày 26 tháng 11 năm 2008, căn cứ Quyết định số BVHTTDL ngày 16/5/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

Trang 40

2256/QĐ-tổ chức của Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội; căn cứ Quyết định số BVHTTDL ngày 3/9/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc quy định phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Giám đốc Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội đã ký và ban hành quyết định

3759/QĐ-mới Về việc ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của Nhà hát Lớn

- Ngày 12 tháng 1 năm 2012, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã trao

quyết định Về việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính giai đoạn

2012-2014 cho Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội

Như vậy, từ khi Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội được thành lập theo quyết định của Chính phủ cho đến nay, đã có sự bổ sung về công tác tổ chức và

cơ chế hoạt động của Nhà hát theo yêu cầu thực tiễn Sau đây là những nội dung

cụ thể về tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý các hoạt động của Nhà hát Lớn Hà Nội được quy định trong hệ thống văn bản trên đây (xem thêm phần Phụ lục)

2.1.1 Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát Lớn

* Về tổ chức bộ máy và cơ cấu

Theo Quyết định 1998, tổ chức bộ máy của Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội, gồm:

Chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát Lớn

Nhà hát Lớn Hà Nội là đơn vị sự nghiệp văn hóa có thu, trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, được thành lập theo Quyết định số 765/TTg ngày

17 tháng 9 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ

Ngày đăng: 25/06/2021, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w