học văn hóa Hà Nội, đã phản ánh thực trạng hoạt động của nhà hát thực nghiệm trong các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay thấy được những mặt hạn chế, những mặt thuận lợi, đưa ra một số
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
PHAN MẠNH ĐỨC
QUẢN LÝ NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VIỆT NAM
Chuyên ngành: QUẢN LÝ VĂN HÓA
Mã số: 60310642
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Cương Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Phan Mạnh Đức
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VIỆT NAM 12
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà hát 12
1.1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về văn hóa 12
1.1.2 Nhà hát, quản lý nhà hát 17
1.1.3 Nội dung, phương thức quản lý nhà hát 20
1.2 Tổng quan Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 25
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 25 1.2.2 Cơ cấu tổ chức Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 28
1.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của ban lãnh đạo và các phòng, đoàn 31
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VIỆT NAM 39
2.1 Chủ thể, cơ chế và cách thức quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 39 2.1.1 Chủ thể quản lý Nhà hát Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 39
2.1.2 Cơ chế quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 45
2.1.3 Cách thức quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 47
2.2 Các lĩnh vực quản lý của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 55
2.2.1 Quản lý hành chính các phòng, đoàn 55
2.2.2 Quản lý chuyên môn tại các đoàn chuyên môn 62
2.2.3 Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật 68
2.2.4 Quản lý tài chính 74
2.2.5 Quản lý hoạt động marketing 76
2.2.6 Đặc thù trong quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 80
Trang 42.3 Đánh giá chung 83
2.3.1 Ưu điểm 83
2.3.2 Hạn chế 86
Tiểu kết chương 2 91
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VIỆT NAM 93
3.1 Định hướng phát triển Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 93
3.1.1 Định hướng chung 93
3.1.2 Định hướng cụ thể 97
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 99 3.2.1 Giải pháp về tổ chức 99
3.2.2 Giải pháp về tài chính 102
3.2.3 Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý và chuyên môn 105
3.2.4 Giải pháp về giáo dục, phát triển khán giả, nâng cao trình độ thưởng thức nghệ thuật hàn lâm cho nhân dân 107
3.2.5 Giải pháp về giao lưu hợp tác quốc tế 111
Tiểu kết chương 3 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 119
Trang 5HVÂNQG : Học Viện Âm Nhạc Quốc gia
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hơn bốn thế kỷ qua, nghệ thuật opera, ballet ra đời và chiếm lĩnh hàng triệu trái tim, khối óc của con người Ở các quốc gia phát triển, cùng với âm nhạc giao hưởng thì opera, ballet là một trong những bộ môn nghệ thuật được chú trọng Từ khi ra đời đến nay opera, ballet cùng với nhạc giao hưởng thính phòng đã đóng góp thực sự to lớn cho sự phát triển nền âm nhạc Việt Nam nói riêng và nền văn hóa Việt Nam nói chung
Công cuộc đổi mới ở đất nước ta đã làm biến đổi nhiều mặt trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, loại hình nghệ thuật opera, ballet đang đứng trước những cơ hội và thách thức, đòi hỏi loại hình nghệ thuật đặc thù này phải đổi mới để phát triển, làm sao opera, ballet của Việt Nam vẫn có tính hiện đại, quốc tế, và bản sắc Việt Nam
Nhà hát NVKVN là đơn vị trực thuộc Bộ VHTTDL, có quá trình thành
lập và phát triển từ 1959 đến nay đã 55 năm Từ những ngày đầu thành lập cho đến nay Nhà hát NVKVN đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với lịch sử của đất nước Trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi thời kỳ khôi phục kinh
tế xã hội sau chiến tranh, cùng với các nhà hát đơn vị nghệ thuật trong cả nước,
lãnh đạo và toàn thể anh chị em nghệ sỹ, diễn viên, viên chức Nhà hát NVKVN
đã cùng nhau đoàn kết thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, xứng đáng là
đơn vị biểu diễn nghệ thuật bác học hàng đầu của Việt Nam
Qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ nghệ sỹ, diễn viên đứng trước những
cơ hội thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn, việc duy trì và phát triển Nhà hát NVKVN về mọi mặt để vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, vừa bảo đảm nâng cao đời sống cho anh chị em nghệ sỹ, diễn viên, đặc biệt làm sao từng bước bắt kịp với các quốc gia tiến bộ trên thế giới về tư duy, năng lực
Trang 7quản lý để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, cho ra đời những sản phẩm nghệ thuật hàn lâm có giá trị cao về tư tưởng và nội dung nghệ thuật, đòi hỏi người quản lý phải linh hoạt, sáng tạo và có định hướng cho phù hợp Trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, Nhà hát NVKVN cần phải thay đổi cơ cấu tổ chức, nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ quản lý,
tư duy làm nghề, kinh phí hoạt động, theo định hướng của Nhà nước, để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu và trình độ thưởng thức của khán giả
Công tác quản lý Nhà hát NVKVN cũng cần có chiến lược phát triển bền vững phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện của Việt Nam, công diễn nhiều chương trình nghệ thuật đỉnh cao chất lượng và hiệu quả cả về mặt nội dung nghệ thuật và kinh tế, từng bước bắt nhịp với các quốc gia có nền nghệ thuật hàn lâm phát triển, khẳng định thương hiệu Nhà hát NVKVN, xứng đáng là hình ảnh đại diện của Việt Nam với quốc tế trong hoạt động nghệ thuật bác học
Là một diễn viên gắn bó nhiều năm trong công tác biểu diễn tại Nhà hát NVKVN, hiện đang đảm nhiệm công tác quản lý trên cương vị là trưởng đoàn hát, nhận thức đây là vấn đề cấp thiết cần phải nghiên cứu nhằm định hướng cho sự phát triển chung của Nhà hát NVKVN trong tương lai, tác giả đã chọn
đề tài: “Quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
* Một số bài báo, đề tài khoa học liên quan đến nghệ thuật biểu diễn
opera và ballet
- Cuốn sách “Nghệ thuật opera” của tác giả Nguyễn Trung Kiên (2004)
Viện âm nhạc - Hà Nội, đã chỉ ra đặc trưng của nghệ thuật opera, đó là sự phối hợp của nghệ thuật âm nhạc, nghệ thuật thơ ca, nhảy múa, trang trí, tạo
Trang 8hình, đồng thời có cả những hình thức nghệ thuật sân khấu khác như: kịch câm và những hiệu quả của ánh sáng… Tác giả đưa ra khái niệm về opera, những thể loại nhạc trong opera và những giai đoạn lịch sử nghệ thuật opera, ngoài ra còn tìm hiểu những đặc trưng của nhà hát opera và các nghệ sỹ opera nổi tiếng thế giới qua nhiều thời kỳ Để thấy rõ hơn tầm quan trọng và giá trị nghệ thuật của loại hình nghệ thuật opera, tác giả đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của nhạc sỹ vĩ đại Tchaikovsky: “Opera và chỉ có opera mới đưa bạn gần gũi với mọi người, đem âm nhạc của bạn thực sự làm khán giả và làm cho bạn trở thành tài sản không phải của riêng một nhóm người mà trong điều kiện thuận lợi trở thành tài sản của toàn dân”
- Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Thị Tố Mai (2010), “Opera trong
sự phát triển âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam”, tại HVÂNQG Việt Nam, đã
được tác chính tác giả nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện để xuất bản cuốn
sách: Opera Việt Nam, Nxb âm nhạc, năm 2014 Mục tiêu của cuốn sách là đi
sâu vào lĩnh vực opera Việt Nam Qua đó khẳng định tầm quan trọng của những thành tựu về opera Việt Nam đối với sự phát triển của nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam Tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan về nghệ thuật opera nói chung và nghệ thuật opera Việt Nam nói riêng, cội nguồn ra đời của opera, quá trình phát triển của opera Châu âu và chi tiết các vấn đề từ thanh nhạc, khí nhạc, hội họa, nghệ thuật kịch, múa hay các hình thức nghệ thuật sân khấu khác Tác giả chỉ ra quá trình hình thành và phát triển opera Việt Nam, đặc điểm của opera Việt Nam qua phương thức xây dựng khúc mở màn
và phương thức xây dựng các tiết mục thanh nhạc
* Các bài báo, luận văn, công trình khoa học liên quan đến nhà hát và quản lý nhà hát
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Vân Mai (2011), “Quản lý Nhà hát thực nghiệm của các trường văn hóa nghệ thuật của Hà Nội”, Trường Đại
Trang 9học văn hóa Hà Nội, đã phản ánh thực trạng hoạt động của nhà hát thực nghiệm trong các trường văn hóa nghệ thuật hiện nay thấy được những mặt hạn chế, những mặt thuận lợi, đưa ra một số nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà hát thực nghiệm trong trường văn hóa nghệ thuật tại
Hà Nội như: đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, công tác giảng dạy kết hợp với thực hành, đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý, phát huy phương thức xã hội hóa trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật, chú trọng đề cao công tác marketing nghệ thuật Từ đây làm cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý nhà hát thực nghiệm ở các trường văn hóa nghệ thuật của Hà Nội
- Tác giả Ngô Kiều Ngân (10/2009), với bài viết “50 năm, một chặng đường…” (109), Tr.7, Tạp chí Nhịp điệu và tác giả Phạm Anh Phương (10/2009), với bài viêt “Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam 50 năm xây dựng và phát triển”, (109), Tr.3-6, Tạp chí Nhịp điệu, nhân kỷ niệm 50 năm thành lập
Nhà hát NVKVN từ năm 1959 đến 2009 Hai tác giả đã tổng quát chặng đường hình thành và phát triển qua từng thời kỳ của Nhà hát NVKVN, từ những năm đầu thành lập qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước rồi hòa bình lặp lại, đất nước đổi mới bước vào giai đoạn giao lưu hội nhập quốc tế,
xu thế toàn cầu hóa hiện nay Qua rất nhiều gian nan thử thách nhưng các thế
hệ nghệ sỹ Nhà hát NVKVN vẫn luôn đoàn kết một lòng, cùng nhau phấn đấu xây dựng nhiều kịch mục có chất lượng cao phục vụ công chúng và các nhiệm
vụ chính trị khác, xứng đáng là đơn vị đầu ngành đại diện cho quốc gia trong
lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật hàn lâm
Những bài viết, những chuyên đề nghiên cứu trước đây về hoạt động của Nhà hát NVKVN mới chỉ dừng lại ở góc độ tiếp cận đánh giá các khía cạnh với hai bộ môn nghệ thuật biểu diễn đó là: Opera và ballet Chưa có một công trình nào đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu phân tích tổng hợp, đánh giá
Trang 10công tác quản lý Nhà hát NVKVN, nhìn ra thực trạng công tác quản lý, vì vậy: Đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên Đây chính là mặt thuận lợi nhưng cũng đồng thời là khó khăn thách thức với tác giả, đòi hỏi phải có sự nỗ lực, tư duy tổng hợp phân tích chặt chẽ bằng nguồn
tư liệu trực tiếp hay gián tiếp có được qua nhiều hình thức khác nhau, từ đó có
sự đánh giá xác thực, đúng đắn, đề ra chiến lược giải pháp khắc phục và phát triển Nhà hát NVKVN trong những năm tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà hát NVKVN, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát NVKVN
3.2 Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà hát
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà hát NVKVN
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát NVKVN
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý Nhà hát NVKVN từ năm 2011 đến nay
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực tế
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
6 Đóng góp của luận văn
Từ những quy định chủ trương của Nhà nước, các bộ ngành có liên quan, bằng những thực tiễn hoạt động trực tiếp của Nhà hát NVKVN đánh giá hiện trạng công tác quản lý Nhà hát NVKVN, những mặt đã đạt được và những mặt còn hạn chế để đưa ra giải pháp khắc phục
Những giải pháp và định hướng được đề xuất sẽ giúp cho công tác quản
lý Nhà hát NVKVN có hiệu quả tốt bắt kịp với xu hướng phát triển chung của
xã hội, nhanh chóng hòa nhập với các nước có nền nghệ thuật hàn lâm phát triển, từng bước đổi mới phương thức hoạt động, cơ cấu tổ chức, thực hiện chiến lược lâu dài với tương lai của Nhà hát NVKVN
Kết quả nghiên cứu của luận văn đã đóng góp thêm tư liệu nghiên cứu công tác quản lý các đơn vị nhà hát nói chung, nhà hát có chức năng nghệ thuật biểu diễn hàn lâm nói riêng Từ đó hướng tới sự quan tâm đầu tư lâu dài,
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT
VÀ TỔNG QUAN VỀ NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà hát
1.1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về văn hóa
* Khái niệm quản lý: Thuật ngữ quản lý có thể hiểu theo nhiều cách
khác nhau Theo nghĩa thông thường, trong tiếng Việt thuật ngữ quản lý được hiểu là trông nom, sắp đặt công việc hoặc gìn giữ, theo dõi Nếu hiểu theo nghĩa Hán Việt thì “Quản” là lãnh đạo một việc, “lý” là trông nom, coi sóc Ở phương tây người ta dùng “management” có nghĩa là quản lý, tức là hành động theo một quan điểm tác động để dẫn dắt
Quản lý là một hoạt động đặc biệt quan trọng của con người Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển Vì vậy, khi nhận thức về quản lý có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau
Theo F.W Taylor (1856 – 1915) là một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học”,
tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [24, tr.11]
Theo H.Fayol (1886 – 1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý
từ thời cận – hiện đại tới nay, quan niệm rằng: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [24, tr.11]
Theo M.Pfollet (1868 – 1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng:
Trang 13“Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác” [24, tr.11]
Khái niệm quản lý trong điều khiển học được hiểu là sự tác động vào một hệ thống hay một quá trình điều khiển, chỉ đạo sự vận động (diễn biến) của nó theo những quy luật nhất định, nhằm đạt được những mục đính hay kế hoạch mà người quản lý đã đề ra từ trước
Các tiếp cận và quan niệm trên chỉ mới xem xét quản lý ở những góc
độ và khía cạnh nhất định mà chưa nhìn nhận nó như một chỉnh thể với những quan hệ cơ bản Vì vậy, chưa vạch ra được bản chất quản lý
Để làm rõ bản chất của quản lý, trước hết phải xác định điểm xuất phát khi nghiên cứu về quản lý:
Quản lý là một trong các hoạt động của con người, nhưng đó là một loại hình hoạt động đặc biệt là lao động siêu lao động, lao động về lao động, nghĩa là nó lấy các loại hình lao động cụ thể làm đối tượng để tác động tới nhằm phối kết hợp chúng lại thành một hợp lực từ đó tạo nên sức mạnh chung của một tổ chức
Như vậy: Quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường biến đổi
Qua một số quan điểm chúng ra thấy rõ bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp Đối với xã hội có trình độ phát triển càng cao, yêu cầu quản lý càng phải lớn và vai trò của quản lý ngày càng một tăng lên
Theo nghĩa thông thường, phổ biến, thuật ngữ quản lý được hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và có định hướng của chủ thể
Trang 14quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, chủ thể luôn
là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
- Đối tượng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản
lý, tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
- Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản
lý, đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội
- Mục tiêu quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp Quản
lý ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc
Quản lý xã hội suy đến cùng là quản lý con người: Xét về mặt tổ chức
và kỷ luật của hoạt động quản lý, quản lý chính là sự kết hợp được mọi lỗ lực chung của con người trong hệ thống
Như vậy ta có thể thấy rằng: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức, thông qua sự tác động liên tục của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý Thông qua các chính sách, nguyên tắc, các hình thức, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động
Trang 15Quản lý ra đời bao giờ cũng mang tính mục đích, tính tổ chức và tính hiệu quả, quản lý là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động khác nhau để đạt được hiệu quả đề ra Quản lý xã hội ở tầm vĩ mô chính là quản lý Nhà nước
* Khái niệm quản lý Nhà nước về văn hóa
Văn hóa có vị trí quan trọng đời sống xã hội vừa là động lực của sự phát triển xã hội vừa là nhân tố nhằm phát triển và hoàn thiện con người
Văn hóa là những gì đặc sắc, tiêu biểu nhất của cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia, được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận Văn hóa bao gồm: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa sinh hoạt… Tiến sỹ Federico Mayor (nguyên Tổng giám đốc UNESCO) đã nêu: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo của cá nhân và cộng đồng, trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành và tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống, thị yếu, đặc trưng của mỗi dân tộc”
Trong những định hướng của Đảng về phát triển văn hóa, khái niệm quản lý Nhà nước về văn hóa được dùng quản lý Nhà nước đối với hoạt động văn hóa văn nghệ (văn kiện đại hội VII), “Quản lý theo hướng xã hội hóa các hoạt động văn hóa thông tin” (văn kiện đại hội VIII), “Đổi mới và tăng cường quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa thông tin” (văn kiện đại hội X)
Quản lý Nhà nước về văn hóa được hiểu theo những nội dung sau: Xây dựng và thực thi hệ thống pháp luật nhằm quản lý, thống nhất các hoạt động văn hóa như: Văn hóa nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, văn học, sân khấu, điện ảnh, xiếc, múa rối); văn hóa thông tin đại chúng (báo chí, phát thanh, truyền hình, băng đĩa, internet…); văn hóa xã hội (lễ hội, thủ công mỹ nghệ, phong tục, tập quán, công viên ); Các công trình văn hóa (thư viện, bảo tàng, tượng đài, di tích lịch sử, văn hóa, câu lạc bộ, nhà văn hóa…)
Trang 16Ban hành thực thi hệ thống các chính sách về văn hóa, điều đó được thể hiện qua việc thể chế hóa các quan điểm và giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động văn hóa
Tiến hành đầu tư tài chính cho văn hóa là đầu tư cho phát triển, được thể hiện qua một số khía cạnh: Mức độ đầu tư, mô hình đầu tư, nguồn đầu tư
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng thực chất quản lý Nhà nước về văn hóa chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ chức, điều hành của Nhà nước, mục đích làm cho văn hóa phát triển theo hướng vì sự phát triển của con người và xã hội Trong mỗi quốc gia đều có truyền thống, đặc thù văn hóa riêng do vậy cũng có cách thức quản lý khác nhau, bất kỳ mọi hoạt động văn hóa nào cũng cần có sự quản lý Nhà nước Vì vậy, cần phải xác định rõ đối tượng thuộc phạm vi văn hóa mà Nhà nước cần quản lý, bản chất của quản lý Nhà nước về văn hóa là khẳng định quyền lực của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển sự nghiệp văn hóa, cũng như bảo đảm mục tiêu của của hệ thống chính trị nói chung, của Nhà nước nói riêng, ngoài ra còn là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức, điều hành của Nhà nước, làm cho văn hóa phát triển theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội không ngừng đi lên
Quản lý Nhà nước về văn hóa ngày nay thực chất là mục tiêu “xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, tạo điều kiện để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, xây dựng con người Việt Nam
về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho sự phát triển
Như vậy có thể hiểu khái niệm: “Quản lý Nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực Nhà nước, thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm bảo đảm sự phát triển của nền văn hóa dân tộc”
Trang 171.1.2 Nhà hát, quản lý nhà hát
1.1.2.1 Nhà hát
Ở Việt Nam “Nhà hát” theo nghĩa hẹp là cơ sở vật chất, tức đơn thuần chỉ là những cái rạp lớn, nhỏ, nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật ca, múa, nhạc, hòa nhạc, giao lưu… phục vụ công chúng, theo từng nội dung mục đích, yêu cầu của chương trình nghệ thuật, tương ứng với mỗi loại hình nhà hát cho phù hợp Ở Việt Nam có ba nhà hát
có quy mô lớn, tọa lạc ở vị trí của ba thành phố lớn Việt Nam đó là: Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, Nhà hát lớn thành phố Hải Phòng và Nhà hát lớn thành phố thành phố Hồ Chí Minh Ngoài ra còn có một số nhà hát khác trên cả nước, chủ yếu tập trung ở những thành phố lớn Theo nghĩa này thì nhà hát chỉ là nơi biểu diễn của các nghệ sỹ với đầy đủ trang thiết bị phục vụ về các khâu như: Âm thanh, ánh sáng, phông màn, phòng thay đồ, phòng hóa trang, hoạt động độc lập là một đơn vị phục vụ cho biểu diễn nghệ thuật hay các sự kiện khác trong đời sống xã hội hiện nay
Nhưng ở các nước trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển, nhà hát
là một đơn vị có chức năng biểu diễn nghệ thuật phục vụ công chúng theo từng loại hình nghệ thuật khác nhau mang tính đặc thù của các nhà hát riêng biệt, có nghệ sỹ biểu diễn, có phòng nghệ thuật, phòng maketing, phòng trang phục, câu lạc bộ khán giả, phòng trưng bày, thư viện, phòng tập cho các đoàn chuyên môn, phòng tổ chức biểu diễn, bán vé, có nhạc công, diễn viên, xây dựng chương trình biểu diễn theo định kỳ, dưới sự giám sát chỉ đạo của ban lãnh đạo xuống các phòng, đoàn, như vậy: Một đơn vị biểu diễn nghệ thuật được gọi là nhà hát, là vì tất cả các đơn vị này đều có rạp biểu diễn riêng cho loại hình nghệ thuật của mình và do chính đơn vị quản lý Ở nước ta cũng có một số đơn vị nghệ thuật vừa có chức năng quản lý các nghệ sỹ, vừa xây dựng, tổ chức hoạt động biểu diễn tại chính rạp hát của mình quản lý, điều đó mới có thể đầy đủ cho nghĩa gọi là một “Nhà hát”
Trang 18Ví dụ: Nhà hát chèo Việt Nam có nơi biểu diễn riêng ở phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội; Nhà hát Ca – Múa - Nhạc Việt Nam, nơi biểu diễn riêng do Nhà hát quản lý tại Đường Huỳnh Thúc Kháng; Nhà hát Tuổi Trẻ ở
số 11 phố Ngô Thị Nhậm; Nhà hát Kịch Việt Nam ở số 1 phố Tràng Tiền; Nhà hát Tuồng ở số 51 phố Đường Thành; Nhà hát Đương đại Việt Nam ở số
16 đường Lê Thái Tổ
Tuy nhiên, hiện nay do nhiều lý do đặc biệt, khó khăn chung về kinh tế của các ngành thì một số đơn vị được gọi là “Nhà hát” mà vẫn chưa thể có nơi biểu diễn riêng đặc thù cho loại hình nghệ thuật của mình, trong đó phải kể đến Nhà hát NVKVN, Nhà hát giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Cải lương Trung ương, Nhà hát Ca- Múa- Nhạc Thăng Long…
Nhà hát là một đơn vị có chức năng biểu diễn nghệ thuật có các phòng ban, vừa quản lý các nghệ sỹ vừa tổ chức xây dựng, cho công diễn các sản phẩm nghệ thuật phục vụ công chúng, có rạp biểu diễn riêng phù hợp với loại hình nghệ thuật của mình Từ đó các nghệ sỹ được thăng hoa, công hiến cho loại hình nghệ thuật mà mình yêu thích, say mê, là nơi công chúng gửi gắm nhu cầu thưởng thức của mình tới các nhà hát theo từng sở thích riêng của mỗi khán giả với loại hình nghệ thuật mà công chúng lựa chọn
Như vậy ta thấy rằng: từ “Nhà hát” thực sự đầy đủ và trọn vẹn như mô hình các quốc gia phát triển trên thế giới mà ở Việt Nam cũng đã có một số nhà hát như vậy đó là: Có bộ máy tổ chức, có các phòng, ban, có nghệ sỹ biểu diễn, có đạo diễn, chỉ huy, biên đạo… Đặc biệt là phải có rạp biểu diễn riêng đặc thù Nhìn chung, nhà hát là mô hình khép kín, từ khi các chương trình nghệ thuật được xây dựng, tới khi hoàn hoàn thiện và đưa ra công diễn phục
vụ khán giả tại nhà hát của mình Ngoài ra còn có kết hợp các chương trình hay sự kiện bên ngoài vào giao lưu hoặc biểu diễn
Trang 191.1.2.2 Quản lý nhà hát
Trên cơ sở phân tích khái niệm về quản lý, quản lý Nhà nước về văn hóa, tìm hiểu khái niệm nhà hát, từ đây có thể khái quát và đưa ra một quan niệm về quản lý nhà hát như sau:
Trước tiên là phải xác định các nhà hát đều có chức năng hoạt động nghệ thuật biểu diễn, mà ngành nghệ thuật biểu diễn ở nước ta trực thuộc sự quản lý của Bộ VHTTDL Ở cấp độ nhà hát thì công tác quản lý thuộc về ban giám đốc nhà hát, đây là hệ thống quản lý ngành dọc, có sự phân công phân quyền rõ rệt ở từng cấp
Như vậy có thể đưa ra một quan niệm về quản lý nhà hát như sau:
“Quản lý nhà hát là hoạt động quản lý đối với tất cả các mặt, các bộ phận, hoạt động thuộc chức năng hoạt động của nhà hát, trong đó đóng vai trò quan trọng là định hướng, điều hành tổ chức các hoạt động nhằm xây dựng và phát triển các chương trình nghệ thuật có chất lượng cao phục vụ công chúng, phục vụ những nhiệm vụ chính trị khác”
Theo khái niệm quản lý nhà hát, các nhà hát hầu hết đều có chức năng hoạt động biểu diễn, do vậy ta thấy rằng quản lý nhà hát là quản lý mọi mặt từ khâu nhân sự, tài chính, diễn viên, hoạt động maketing nghệ thuật, quảng bá, xây dựng chương trình, kịch bản, nội dung, tổ chức luyện tập cho các phòng, đoàn chuyên môn, lập kế hoạch theo định kỳ hàng tháng, hàng năm, tất cả để làm sao cho ra đời những sản phẩm nghệ thuật, hiệu quả về chất lượng, nội dung nghệ thuật, ý tưởng quảng bá, doanh thu hay nhiệm vụ chính trị, mang lại đời sống tinh thần, vật chất ngày càng nâng lên cho anh chị em nghệ sỹ, diễn viên, thẩm mỹ của các chương trình nghệ thuật ngày càng cao, nhằm quấn hút, đáp ứng nhu cầu khán giả, phù hợp với xã hội ngày càng phát triển, từ đó có thể mở ra nhiều hướng đi mới trên con đường phát triển của mỗi nhà hát
Trang 201.1.3 Nội dung, phương thức quản lý nhà hát
1.1.3.1 Nội dung quản lý nhà hát
Một đơn vị nhà hát nói chung công lập hay ngoài công lập, đều trực thuộc sự quản lý của Bộ VHTTDL, mà trực tiếp là Cục NTBD về mọi hoạt động biểu diễn nghệ thuật Mỗi đơn vị đều có chức năng riêng trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật, đã được Bộ VHTTDL quy định, nhưng có điểm chung trong công tác quản lý nhà hát đó là: triển khai tốt, linh hoạt, sáng tạo những mặt cần thực hiện sự quản lý trong một nhà hát
Công tác quản lý nhà hát nói chung, điều đầu tiên phải lĩnh hội, triển khai thực hiện tốt mọi hoạt động của nhà hát theo đúng chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ, Bộ VHTTDL, Cục NTBD về các mặt:
- Quản lý hành chính các phòng, đoàn
- Quản lý chuyên môn tại các đoàn chuyên môn
- Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
- Quản lý tài chính
- Quản lý hoạt động marketing
Ngoài ra còn tăng cường quản lý và phát triển các mặt khác: Công tác Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên, nguồn nhân lực, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý cán bộ cho các phòng, đoàn và đội ngũ diễn viên, giáo dục, quảng bá nâng cao trình độ thưởng thức nghệ thuật cho nhân dân, phát triển khán giả, gây quỹ tài trợ và hợp tác quốc tế… Đây cũng chính là những nội dung trong công tác quản lý tại một nhà hát cần thực hiện hiệu quả, để thích ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập toàn cầu như hiện nay
Trang 211.1.3.2 Phương thức quản lý nhà hát
Như trên đã nói, nhà hát là một đơn vị hoạt động biểu diễn nghệ thuật trực thuộc sự quản lý của Bộ VHTTDL, dưới sự quản lý trực tiếp của Cục NTBD về mọi hoạt động biểu diễn của nhà hát, còn ở nhà hát thì quản lý thuộc về ban giám đốc nhà hát Hệ thống quản lý ngành dọc, có sự phân cấp phân quyền rõ rệt ở từng cấp
Nhưng điều chúng tôi muốn tìm hiểu ở đây là phương thức quản lý nhà hát một đơn vị biểu diễn nghệ thuật, một nhà hát có đặc thù riêng biệt
Giám đốc nhà hát là người lãnh đạo cao nhất của nhà hát, chịu trách nhiệm trước bộ trưởng Bộ VHTTDL và trước pháp luật về mọi mặt hoạt động của nhà hát Là người nắm bắt mọi chủ trương chính sách pháp luật của Đảng
và Nhà nước về chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển nghệ thuật phục
vụ công chúng, phục vụ công tác chính trị, nắm bắt các kế hoạch hoạt động của Cục NTBD, từ đó cùng ban giám đốc thống nhất lên kế hoạch theo định
kỳ của nhà hát Sau khi thống nhất từ ban giám đốc thì triển khai kế hoạch xuống các phòng, ban, từ các trưởng bộ phận lại thống nhất với nhau lên kế hoạch triển khai xuống các nhân viên của mình, thực hiện theo các công việc riêng như chuyên môn hay tổ chức hành chính, nếu là chuyên môn thì các đoàn chuyên môn sau khi đã thống nhất với phòng nghệ thuật thì các đoàn trưởng phải chịu trách nhiệm trước phòng nghệ thuật về hiệu quả công việc, thời gian hoạt động… đúng chức năng, nhiệm vụ được giao Còn diễn viên của các đoàn lại phải chịu trách nhiệm trước công việc mà đoàn trưởng đã lĩnh hội để giao phó cho diễn viên, các đoàn trưởng quản lý thông qua kế hoạch luyện tập, nhân sự của đoàn, chất lượng, hiệu quả chương trình do đoàn đảm nhiệm dưới sự giám sát và đánh giá của phòng nghệ thuật do một phó giám đốc chịu trách nhiệm về nghệ thuật bao quát chung, sau đó trình giám đốc khi kế hoạch hoàn thành
Trang 22Còn các bộ phận khác thuộc khối hành chính tổng hợp thì mọi kế hoạch sau khi lĩnh hội từ ban giám đốc đều do một phó giám đốc chịu trách nhiệm về tổ chức hành chính điều hành và chỉ đạo xuống các bộ phận thông qua trưởng phòng hành chính tổng hợp, mọi kết quả và kế hoạch làm việc đều chi tiết thông qua trưởng phòng hành chính tổng hợp xuống các trưởng bộ phận như: Phòng tạp vụ, bảo vệ, tổ chức biểu diễn, sân khấu, từ đó chỉ đạo xuống nhân viên thực hiện Trưởng các bộ phận chịu trách nhiệm điều hành mọi công việc của bộ phận mình, các phó phòng, đoàn đóng vai trò giúp việc cho trưởng phòng, đoàn theo đúng quy định được bổ nhiệm của Bộ VHTTDL
Ngoài ra trong quá trình quản lý và phát triển một nhà hát theo đúng những đường lối chủ trương quy định của Nhà nước, pháp luật thì cũng có những tổ chức đoàn thể có chức năng, nhiệm vụ hoạt động để giám sát chung, bảo đảm quyền lợi cho từng thành viên trong nhà hát theo quy định của pháp luật như tổ chức Công đoàn, ban thanh tra nhà hát hay các chi bộ, Đảng bộ để giám sát việc thực hiện chủ trương đường lối chính sách của Đảng về mọi mặt tại nhà hát, đúng người, đúng việc, đúng quyền hạn được giao, nhằm đảm bảo
sự công bằng, dân chủ trong quá trình thực thi nhiệm vụ ở nhà hát, từ người chủ thể là giám đốc xuống các phó giám đốc, các phòng ban và nhân viên
Phương thức quản lý nhà hát thông qua các bước như sau:
Triển khai kế hoạch công tác, tổ chức cuộc họp chuyên đề; xây dựng quy chế của các đoàn, các phòng, ban nói riêng hay của cơ quan nói chung; xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ; hay thông qua các văn bản; công tác kiểm tra, thanh tra
Để đạt được hiệu quả cao nhất trong phương thức quản lý một nhà hát nói chung, ban lãnh đạo cần phải linh hoạt, chủ động trong các phương pháp quản lý đặc thù, tùy từng tình huống, từng điều kiện cụ thể và phải biết phối
Trang 23hợp đồng bộ các phương pháp như: Phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính, phương pháp tâm lý giáo dục
Nước ta đang trên con đường hội nhập mạnh mẽ và phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các nhà hát đã được tự chủ một phần trong mọi hoạt động của đơn vị mình để từng bước tiến tới tự chủ toàn phần nhưng vẫn dưới sự chỉ đạo, giám sát của Nhà nước và pháp luật Ở mỗi nhà hát giám đốc là người lãnh đạo cao nhất, nhưng dưới sự giám sát chặt chẽ của Đảng ủy cơ quan, để bảo đảm đúng người đúng việc, đúng quyền hạn, đúng chức năng, nhiệm vụ mà các thành viên đảm nhận, đúng chủ trương đường lối chính sách của Đảng Thực hiện đầy đủ chức năng và nhiệm vụ được nêu ra tại nhà hát, thực hiện chế độ báo cáo quá trình hoạt động, báo cáo tài chính của nhà hát trong một năm, có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt động,
kế hoạch chi tiêu tài chính của năm để trình lên Bộ VHTTDL, Cục NTBD
Sử dụng nguồn nhân lực hợp lý và bảo đảm quyền lợi cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật và luật lao động, có trách nhiệm quản
lý bảo vệ cơ sở vật chất của Nhà nước như đất đai, hạ tầng, trang thiết bị biểu diễn nói chung cho các đoàn chuyên môn, các thiết bị sân khấu, thiết bị nội thất của nhà hát…
Tuy nhiên, hiện nay một số đơn vị tự chủ về tài chính nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc quản lý theo đúng đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và pháp luật và dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan có thẩm quyền để vừa làm sao cho ra nhiều sự sáng tạo mới, phát huy tối đa năng lực của anh chị em nghệ sỹ diễn viên, đội ngũ quản lý, vừa để phù hợp với thời cuộc nhưng cũng vừa đảm bảo xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc “ hòa nhập nhưng không hòa tan”
Như vậy, quyền điều hành nằm toàn bộ trong ban giám đốc mà trực tiếp là giám đốc sẽ chỉ đạo chung, bao quát chung toàn bộ nhà hát trong mọi
Trang 24lĩnh vực, sau khi phân công kế hoạch, công việc cho các phó giám đốc chịu trách nhiệm chuyên môn hay tổ chức hành chính, từ các phó giám đốc xuống các trưởng bộ phận đều chịu trách nhiệm về thời gian và kế hoạch, chất lượng, hiệu quả công việc được phân công trước phòng, ban hay người quản
lý trực tiếp giao việc Sau đó có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo lại với giám đốc, hoặc trực tiếp giám đốc xuống kiểm tra, giám sát chi tiết từng bộ phận của nhà hát Đây là một quy trình khép kín, xoay vòng làm sao cuối cùng hiệu quả công việc, cho ra các sản phẩm nghệ thuật có chất lượng về mọi mặt, cơ quan đoàn kết, đời sống được nâng cao Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, phương thức quản lý theo hướng “tập trung dân chủ”, cùng tổ chức Đảng trong cơ cấu quản lý là vô cùng thiết yếu và quan trọng, Đảng ủy thực hiện nhiệm vụ giám sát ban lãnh đạo thực hiện đúng chủ trương đường lối của Đảng, bảo đảm đúng định hướng, quản lý tổ chức bộ máy, biên chế nhân sự, thực hiện các chế độ chính sách đối với diễn viên, viên chức, người lao động thuộc phạm vi quản lý của nhà hát theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý của Bộ VHTTDL Ban giám đốc bao quát chung, chịu trách nhiệm trước Bộ VHTTDL, trao quyền, trao việc cho cấp dưới để phát huy tính dân chủ, thúc đẩy sự sáng tạo, ý thức cống hiến của mỗi thành viên trong nhà hát, nhằm xây dựng và hoàn thành tốt kế hoạch công việc được Bộ VHTTDL giao, đoàn kết nâng cao đời sống anh chị em, tinh thần làm việc được phát huy, cán bộ công nhân viên trong nhà hát được tôn trọng, được hưởng quyền lợi đúng với công sức, sự sáng tạo của mình cho công việc trong cơ cấu quản
lý của nhà hát nói riêng hay bất cứ một ngành nào nói chung Muốn có phương thức quản lý tốt, hiệu quả thì Nhà nước, Bộ VHTTDL, Cục BDNT phải có chủ trương đúng phù hợp với tình hình thực tế, người giám đốc quản
lý nhà hát phải là người “có tâm và có tầm”, “biết nhìn người chọn việc”, biết lựa chọn và linh hoạt trong phương thức quản lý nói chung
Trang 251.2 Tổng quan Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam
Ngày 06/8/1959 Bộ Văn hóa trước đây, nay là Bộ VHTTDL ra quyết định thành lập dàn nhạc giao hưởng tiền thân của Nhà hát NVKVN hiện nay
Ngày 05/6/1961 dàn hợp xướng được thành lập khẳng định sự quan tâm đặc biệt, định hướng đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới bên cạnh việc phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc
Ngày 07/5/1964 Bộ Văn hóa quyết định thành lập Nhà hát giao hưởng hợp xướng Ca – Vũ – Kịch Việt Nam Như vậy ngoài các chương trình hòa nhạc, giao hưởng biểu diễn độc lập, còn có sự phối hợp với các ca sỹ và diễn viên múa để thực hiện các vở nhạc kịch và vũ kịch
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, cùng với sự phối hợp của Nhạc viện
Hà Nội, nay là HVÂNQG Việt Nam, cũng như sự giúp đỡ của các chuyên gia Triều Tiên, dàn nhạc giao hưởng và dàn hợp xướng đã xây dựng các chương trình hòa nhạc có giá trị nghệ thuật cao
Vào những năm 1966 – 1967 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược lan rộng ra miền Bắc, các đoàn nghệ thuật xung kích và các nghệ sỹ cán bộ của Nhà hát NVKVN đã không quản gian khổ hy sinh, không chỉ mang lời ca tiếng hát phục vụ đồng bào ở các tỉnh miền Bắc, mà các đoàn nghệ thuật xung kích đã đi sâu vào tuyến lửa, đi dọc đường Trường Sơn để phục vụ các đơn vị
bộ đội và đồng bào Nhiều nghệ sỹ của Nhà hát NVKVN đã được chính phủ trao tặng huân chương và danh hiệu anh hùng, nhiều nghệ sỹ đã trưởng thành được khán giả yêu mến như: Chỉ huy Dương Quang Thiện, Nguyễn Hữu Hiếu, Trần Quý, Đỗ Dũng, Trọng Bằng, Nguyễn Hải… đạo diễn Võ Bài, họa
Trang 26sỹ Trần Mậu, biên đạo múa Thái Ly, Đoàn Long, Hồng Linh… ca sỹ Quốc Hương, Tân Nhân, Quý Dương, Quang Hưng, Trung Kiên, Anh Đào, Thúy
Hà, Bích Liên…
Năm 1978 Nhà hát giao hưởng hợp xướng Ca-Vũ-Kịch Việt Nam được đổi tên thành Nhà hát giao hưởng hợp xướng NVKVN Có thể nói đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của Nhà hát, niềm vui được sáng tạo nghệ thuật, được cống hiến cho nghệ thuật luôn là niềm thôi thúc các nghệ sỹ hăng say luyện tập, xây dựng các chương trình kịch múa phục vụ khán giả Các vở nhạc kịch
“Phidelrio” của LV Bethoven, “Tiếng hát xanh” của Nguyễn Đình Tấn,
“Trương Chi” của An Thuyên, “Ruồi trâu” của Xpadavecxky, được dàn dựng
và biểu diễn rất thành công
Vào những năm 1980 thực hiện hợp tác Văn hóa Việt Nam – Liên Xô dưới sự hỗ trợ hiệu quả của Bộ Văn hóa thông tin, nhiều vở vũ kịch và nhạc kịch kinh điển nổi tiếng trong kho tàng nghệ thuật thế giới đã được chuyên gia Liên Xô sang dàn dựng và công diễn thành công tại Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh như: Kịch múa “Spactacus”, “Giselle’’,
“Hồ Thiên Nga”, “Chàng du đãng và cô tiểu thư”, vở nhạc kịch kinh điển
“Madame Buttefly”, thông qua đó đã khẳng định tài năng và tên tuổi của nhiều nghệ sỹ như nghệ sỹ múa: Kim Quy, Kiều Ngân, Thế Dũng, Lê Vân, Lê
An, Thùy Hạnh, Văn Hải, Anh Quân, Minh Thông Các nghệ sỹ hát: Hoàng Hoa, Gia Hội, Gia Khánh
Năm 1985 trước yêu cầu phát triển nghệ thuật ballet và opera để đáp ứng với sự hội nhập thế giới và phát triển đất nước, Nhà hát giao hưởng hợp xướng NVKVN chính thức đổi tên thành Nhà hát NVKVN với chức năng biểu diễn loại hình nghệ thuật nhạc kịch và vũ kịch
Giai đoạn 1986 – 1995, Nhà hát NVKVN nỗ lực vượt qua khó khăn và thách thức, đây là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, vượt qua
Trang 27những khó khăn chung của đất nước và những khó khăn riêng trong lĩnh vực nghệ thuật như cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu thốn cả về con người và nhạc
cụ, khán giả ít… Nhà hát vẫn nỗ lực xây dựng những chương trình có chất lượng nghệ thuật tốt, xây dựng nhạc kịch “Tiếng hát Trương Chi” “Vợ chồng
A Phủ’ của NSND Đoàn Long, “Huyền thoại mẹ” của NSND Nguyễn Công Nhạc, “Huyền tích Trường Sơn”, xây dựng chương trình tham gia hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc, chương trình kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam bên cạnh có các chương trình ca- múa- nhạc được dàn dựng và biểu diễn tại các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Yên bái, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Bình Định đều được giới chuyên môn và nhân dân đón chào nồng nhiệt
Giai đoạn 1996 đến nay: Đây là giai đoạn không ngừng vươn lên khẳng định thương hiệu Nhà hát quốc gia, rất nhiều biên đạo, chỉ huy, đạo diễn nước ngoài hay các nghệ sỹ biểu diễn đã đến làm việc với ba đoàn chuyên môn của Nhà hát NVKVN Tiêu biểu như sự hợp tác với trung tâm văn hóa Pháp tại
Hà Nội, quỹ Sida Thụy Điển, Viện Goeth, biên đạo người Úc Chery Stock và nhiều biên đạo của Anh, Mỹ, Pháp, Nga… những tác phẩm “Em người phụ
nữ Việt Nam”, “Qua miền đất lạ”, “Mắt Phượng Hoàng”, vở nhạc kịch
“Lucile”, “Viên đại thần”, “Cuộc sống pari”, “Trường học tình yêu”, “ Laboheme”, “Giấc mơ và hiện thực”, “Người qua thung lũng”, “Carmen”, vở kịch: “Romeo và Juliet”, “Điệu múa gió mùa”, “Kẹp hạt dẻ”, “Chim lửa”,
“Trái tim tơ lụa”, “Mùa xuân thiêng liêng”, “Lasyphide”, “Câu chuyện miền Tây”, và nhiều chương trình giao hưởng thính phòng như: “Camina Burana, Giao hưởng số 9 Bethoven” …, ngoài ra các nghệ sỹ của Việt Nam còn được
đi Thụy Điển làm việc với các nghệ sỹ của các nước bạn trong các vở opera
“Trường học tình yêu”, “Người Hà Lan bay” đã dành được nhiều tình cảm tốt đẹp của khán giả và học hỏi nâng cao nhiều kinh nghiệm biểu diễn
Trang 28Những thành công của Nhà hát NVKVN trong giai đoạn này đánh dấu bước phát triển của loại hình nghệ thuật bác học nhạc vũ kịch, có đóng góp nhất định vào quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Dự án nghệ thuật học đường “Khám phá âm nhạc và múa” của Nhà hát đã thu hút hàng chục nghìn học sinh, sinh viên tham gia, được đánh giá là dự án có hiệu quả cao trong việc hướng dẫn thẩm mỹ loại hình nghệ thuật bác học tới khán giả Ghi nhận sự cống hiến cho văn hóa nghệ thuật nước nhà trong hơn 50 năm qua nhiều nghệ sỹ được phong tặng danh hiệu cao quý, có 11 nghệ sỹ được phong tặng NSND, 45 nghệ sỹ được phong tặng NSƯT Năm 1990 Nhà hát NVKVN được Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng ba, 1999 nhận Huân chương lao động hạng nhì và Huân chương lao động hạng nhất vào năm 2011
1.2.2 Cơ cấu tổ chức Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam
Nhà hát NVKVN là đơn vị sự nghiệp văn hóa có thu trực thuộc Bộ VHTTDL, có chức năng biểu diễn nghệ thuật nhạc kịch (opera), vũ kịch (ballet), sưu tầm, bảo tồn, thử nghiệm, và phát triển nghệ thuật nhạc vũ kịch Việt Nam
Nhà hát NVKVN có cơ cấu tổ chức phù hợp, tương ứng, để phát huy hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của mình
* Ban lãnh đạo
Bao gồm giám đốc và hai phó giám đốc:
Trong đó có một phó giám đốc chịu trách nhiệm về chuyên môn, một phó giám đốc chịu trách nhiệm về tổ chức hành chính
Giám đốc Nhà hát NVKVN là người lãnh đạo có trách nhiệm cao nhất, các phó giám đốc là những người hỗ trợ, giúp việc cho giám đốc, trong từng lĩnh vực công tác được phân công
Trang 29* Các phòng ban
- Phòng tổ chức hành chính:
Gồm 18 thành viên, một trưởng phòng, một phó phòng, kiêm nhiệm bộ phận kế toán, ngoài ra là nhân viên các bộ phận: kế toán, quản trị, văn thư, thủ kho, thủ quỹ, lái xe, tạp vụ, bảo vệ
- Phòng nghệ thuật:
Có 06 thành viên, một trưởng phòng, một phó phòng, một thành viên đảm nhận công tác đối ngoại và maketing, một người là đạo diễn sân khấu, một người chỉ huy dàn nhạc, hai người là họa sĩ sân khấu Do đó sự biến đổi
về nhân sự, Phòng nghệ thuật Nhà hát NVKVN mới được cơ cấu lại, nên chưa được hoàn thiện, còn nhiều bất cấp như: Chưa có người đảm nhận chức
vụ phó phòng, bộ phận maketing chưa được tách ra là một phòng marketing độc lập, chuyên trách
- Phòng tổ chức biểu diễn:
Bao gồm 13 thành viên, một trưởng phòng, một phó phòng, cùng các nhân viên kỹ thuật sân khấu, âm thanh, ánh sáng, trang phục, đạo cụ, phông cảnh…
* Các đoàn chuyên môn
- Đoàn hát: Có 27 diễn viên, một trưởng đoàn, một phó đoàn giúp việc cho trưởng đoàn, các diễn viên được chia làm bốn bè hát: bè Soprano (nữ cao),
bè Alto (nữ trầm), bè Teno (nam cao), bè Bass (nam trầm), 01nhạc công Piano
- Đoàn nhạc: Có 46 nhạc công, một trưởng đoàn, một phó đoàn giúp việc cho trưởng đoàn, các nhạc công được sắp xếp cho 4 bộ nhạc cụ, trong dàn nhạc (bộ gỗ, bộ đồng, bộ gõ, bộ dây)
- Đoàn múa: Có 45 diễn viên, một trưởng đoàn, một phó đoàn giúp việc cho trưởng đoàn (hiện nay chưa có trưởng đoàn do có sự thay đổi về nhân sự)
Trang 30* Các tổ chức đoàn thể
- Đảng bộ Nhà hát NVKVN: Có 33 Đảng viên, một bí thư và một phó
bí thư, Đảng bộ nhà hát được chia làm hai chi bộ: chi bộ khối diễn viên có 18 Đảng viên, là các Đảng viên của 3 đoàn chuyên môn, chi bộ khối tổ chức hành chính có 15 Đảng viên thuộc các phòng, ban
- Công đoàn: 100% cán bộ diễn viên Nhà hát NVKVN đều tham gia tổ chức Công đoàn, có một chủ tịch Công đoàn, một phó chủ tịch Công đoàn
- Đoàn thanh niên: có 30 đoàn viên thanh niên, chủ yếu là đoàn viên của 3 đoàn chuyên môn, có bí thư và phó bí thư
Sơ đồ cơ cấu tổ chức Nhà hát NVKVN
Công đoàn Đoàn thanh niên
Đoàn chuyên môn Phòng ban
Tổ chức hành chính
Nghệ thuật
Tổ chức biểu diễn
Đoàn hát
Đoàn múa
Đoàn Nhạc
Trang 311.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của ban lãnh đạo và các phòng, đoàn
* Chức năng nhiệm vụ của Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam
- Chức năng: Tổ chức, xây dựng hoạt động biểu diễn nghệ thuật nhạc
kịch (opera), vũ kịch (ballet), sưu tầm, bảo tồn, thể nghiệm và phát triển nghệ thuật NVKVN
-Nhiệm vụ, quyền hạn:
Trình bộ trưởng Bộ VHTTDL quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động hàng năm và dài hạn của Nhà hát NVKVN, tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
Dàn dựng các chương trình, tiết mục, các vở nhạc kịch, vũ kịch tinh hoa của thế giới, các trích đoạn nhạc cổ điển, múa cổ điển, các vở nhạc kịch,
vũ kịch Việt Nam, bảo đảm tính dân tộc và hiện đại, tổ chức biểu diễn phục
vụ khán giả trong nước và ngoài nước, nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thẩm mỹ của người xem
Sưu tầm, sáng tạo, thể nghiệm các vở nhạc kịch, vũ kịch, tổng kết kinh nghiệm, nâng cao chất lượng nghệ thuật trong sáng tác và biểu diễn nhằm bảo tồn, phát triển NVKVN
Biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị, giao lưu, hợp tác với các đoàn nghệ thuật nước ngoài, theo chỉ đạo của Bộ VHTTDL
Liên kết, phối hợp với các đơn vị trong nước và ngoài nước tổ chức các chương trình biểu diễn nhạc kịch, vũ kịch, chương trình nghệ thuật lớn, phục
vụ khán giả trong nước và ngoài nước
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho diễn viên, viên chức của Nhà hát
Tổ chức các hoạt động dịch vụ có thu phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát, và theo quy định của Luật pháp, quản lý tổ chức bộ máy, biên
Trang 32chế, nhân sự, thực hiện các chế độ, chính sách đối với diễn viên, viên chức và người lao động, thuộc phạm vi quản lý của Nhà hát, theo quy định của nhà nước và phân cấp quản lý của Bộ VHTTDL
Quản lý, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản, ngân sách được phân bổ, và các nguồn thu khác, theo quy định của pháp luật
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng giao
- Nhiệm vụ và quyền hạn của giám đốc Nhà hát NVKVN:
Giám đốc là người lãnh đạo cao nhất Nhà hát NVKVN, do Bộ trưởng
Bộ VHTTDL bổ nhiệm, là người chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chương trình, kế hoạch hoạt động biểu diễn của Nhà hát NVKVN ở trong nước và ở nước ngoài, theo chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước
và Bộ VHTTDL
Giám đốc Nhà hát NVKVN đại diện cho Nhà hát trong quan hệ với các
tổ chức, cá nhân có liên quan khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát NVKVN Chịu trách nhiệm trước Bộ VHTTDL về toàn bộ hoạt động và phát triển của Nhà hát, chăm lo đời sống, vật chất và tinh thần của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, theo quy định hiện hành của Nhà nước
Xây dựng, quy hoạch kế hoạch công tác dài hạn, hàng năm trình bộ trưởng Bộ VHTTDL và chỉ đạo tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
Xây dựng mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, diễn viên Nhà hát
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các bộ phận, báo cáo theo định
kỳ, kết quả công tác của đơn vị với cấp trên
Tổ chức thực hiện các công việc khác theo sự chỉ đạo của cục trưởng Cục NTBD và bộ trưởng Bộ VHTTDL
Trang 33Kết hợp với tổ chức Đảng và các đoàn thể, phát động thi đua trong Nhà hát NVKVN
Tổ chức sơ kết, tổng kết, tổ chức hội nghị cán bộ công chức theo định kỳ Thành lập hội đồng kỷ luật, xem xét hành vi, vi phạm kỷ luật của viên chức, người lao động thuộc quyền, để quyết định hình thức kỷ luật, hoặc báo cáo với vụ tổ chức cán Bộ trình bộ trưởng Bộ VHTTDL quyết định theo đúng phân cấp quản lý
Điều hành các mặt công tác, phân công công việc cho các phó giám đốc, giao nhiệm vụ cho các trưởng phòng, trưởng đoàn trực thuộc
Đề nghị bộ trưởng Bộ VHTTDL bổ nhiệm, miễn nhiệm phó giám đốc Thực hiện việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, và điều chuyển công tác đối với trưởng, phó phòng, đoàn
Quản lý và sử dụng có hiệu quả tài chính, tài sản và các nguồn thu, nguồn tài trợ khác của Nhà hát theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước và
Bộ VHTTDL
Được quyền ra các quyết định, mệnh lệnh điều hành công tác của đơn vị:
- Nhiệm vụ, quyền hạn phó giám đốc Nhà hát NVKVN:
Là người giúp việc cho giám đốc trong từng lĩnh vực công tác được phân công
Tổ chức xây dựng chương trình, kế hoạch công tác trong lĩnh vực được phân công phụ trách, trình giám đốc và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt
Tiếp nhận báo cáo của cấp dưới, tổng hợp báo cáo giám đốc về tình hình hoạt động và đề xuất ý kiến giải quyết công việc trong lĩnh vực được phân công phụ trách
Trang 34Tham gia ý kiến với giám đốc trong việc chỉ đạo các mặt công tác của Nhà hát, phối hợp với các phó giám đốc khác trong việc thực hiện công việc các văn bản đã ký
Thay mặt giám đốc ký và chịu trách nhiệm trước giám đốc về nội dung, hình thức các văn bản đã ký
Phó giám đốc Nhà hát NVKVN được quyền điều hành công việc của Nhà hát khi có sự ủy quyền của giám đốc, và báo cáo lại những công việc đã giải quyết
Thực hiện các nhiệm vụ khác khi giám đốc giao
* Chức năng nhiệm vụ các phòng ban
- Phòng hành chính tổng hợp:
+ Chức năng: Tham mưu giúp việc cho ban giám đốc, các công việc về
hành chính tổ chức, hành chính tài vụ, hành chính hậu cần và công tác bảo vệ chính trị nội bộ
+ Nhiệm vụ, quyền hạn:
Giúp giám đốc xây dựng chương trình, kế hoach, công tác, quy chế của Nhà hát NVKVN và đôn đốc thực hiện sau khi được phê duyệt
Giúp ban giám đốc lập dự toán ngân sách hàng năm, hàng quý, hàng
kỳ, sử dụng chi tiêu ngân sách và các nguồn thu khác theo quy định của Nhà nước và quyết định của giám đốc
Quản lý cơ sở vật chất và định kỳ kiểm kê tài sản
Thực hiện các thủ tục bảo hiểm xã hội, ký kết hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế và thực hiện trách nhiệm của cơ quan với các loại hợp đồng đã được phê duyệt theo quy định hiện hành của Nhà nước
Quản lý hồ sơ cán bộ, hồ sơ nội vụ, quản lý sở bảo hiểm, xã hội, công tác văn thư lưu trữ và sử dụng con dấu
Trang 35Tổ chức thực hiện các hoạt động giao tiếp đối nội, đối ngoại hội nghị, hội thảo Thực hiện hoàn tất thủ tục đoàn ra, đoàn vào biểu diễn đúng quy định hiện hành
Giúpban giám đốc thực hiện công tác quản lý cán bộ, viên chức người lao động
Thực hiện công tác đào tạo, quy hoạch và bồi dưỡng cán bộ viên chức, thi tuyển viên chức, khen thưởng, kỷ luật, chính sách lao động tiền lương, và những chính sách khác, theo quy định của pháp luật
Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch mua sắm tài sản, trang thiết bị xây dựng cơ bản, sửa chữa
Thực hiện công tác bảo vệ an toàn cơ quan, công tác phòng chống cháy
nổ, phòng chống bão lụt, giữ gìn an ninh trật tự
Phối hợp với các phòng nghiệp vụ và đoàn biểu diễn, thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác được ban giám đốc giao cho
Xây dựng nội dung chương trình biểu diễn, sưu tầm, nghiên cứu trình
và đề xuất các chương trình nghệ thuật, đề xuất nhân sự hội đồng nghệ thuật cho từng chương trình biểu diễn (khi cần thiết)
Đề xuất mới công tác tham gia sáng tác và biểu diễn
Thực hiện sưu tầm, quản lý thư viện nghệ thuật
Xây dựng mục tiêu, kế hoạch đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho diễn viên của Nhà hát
Trang 36Phụ trách thông tin và quảng bá các chương trình nghệ thuật của Nhà hát Thực hiện các công việc khác do giám đốc giao
Xây dựng và lập công tác phục vụ biểu diễn
Liên hệ, tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân trên phạm vi cả nước, xin cấp giấy phép biểu diễn cho các chương trình nghệ thuật của Nhà hát đã được duyệt
Quản lý, vận hành, bảo dưỡng, trang thiết bị kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, trang phục, đạo cụ, phông cảnh
Quản lý sân khấu của Nhà hát tại phố Núi Trúc
Thực hiện nhiệm vụ khác do ban giám đốc giao
* Chức năng nhiệm vụ các đoàn chuyên môn
- Đoàn hát:
+ Chức năng:
Biểu diễn nghệ thuật hát (đơn ca – hợp xướng – opera)
+ Nhiệm vụ và quyền hạn:
Thực hiện nhiệm vụ luyện tập và biểu diễn
Đề xuất tiếp nhận các nghệ sĩ có đầy đủ phẩm chất đạo đức và khả năng chuyên môn, đáp ứng yêu cầu biểu diễn của đoàn
Xây dựng kế hoạch nâng cao trình độ chuyên môn và phát triển tài năng nghệ thuật cho các nghệ sĩ
- Đoàn múa:
+ Chức năng:
Biểu diễn nghệ thuật múa (múa ballet, múa dân tộc và múa hiện đại)
Trang 37+ Nhiệm vụ và quyền hạn:
Thực hiện nhiệm vụ luyện tập và biểu diễn
Đề xuất tiếp nhận các nghệ sĩ, có đầy đủ phẩm chất đạo đức, và khả năng chuyên môn, đáp ứng yêu cầu biểu diễn của đoàn
Xây dựng kế hoạch nâng cao trình độ chuyên môn, và phát triển tài năng nghệ thuật cho các nghệ sĩ
- Đoàn nhạc:
+ Chức năng: Biểu diễn nghệ thuật âm nhạc (giao hưởng, thính phòng
– opera – ballet)
+ Nhiệm vụ và quyền hạn:
Thực hiện nhiệm vụ luyện tập và biểu diễn
Đề xuất tiếp nhận các nghệ sĩ, có đầy đủ phẩm chất đạo đức và khả năng chuyên môn, đáp ứng yêu cầu biên diễn của đoàn
Xây dựng kế hoạch nâng cao trình độ chuyên môn, và phát triển tài năng nghệ thuật cho các nghệ sĩ
Tiểu kết chương 1
Xuất phát từ thực tiễn cơ sở lý luận chung về quản lý Nhà nước về văn hóa, thông qua khái niệm quản lý và quản lý Nhà nước về văn hóa, đã chỉ ra những vấn đề lý luận thực tiễn đa dạng và phong phú: Xây dựng thể chế, chính sách văn hóa, lập kế hoạch tổ chức kiểm tra giám sát, kiện toàn tổ chức
bộ máy Nhà nước về văn hóa, chỉ rõ được bản chất của quản lý và hoạt động quản lý, thấy được chủ thể quản lý, khách thể quản lý, đối tượng quản lý và mục tiêu quản lý Trên cơ sở đó tổng hợp hình thành nên cơ sở lý luận về nhà hát và quản lý nhà hát
Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế thị trường với xu thế hội nhập toàn cầu, rất nhiều loại hình văn hóa nói chung, nghệ thuật nói riêng, dưới nhiều hình thức
Trang 38khác nhau đang tràn vào môi trường văn hóa nước ta Điều này đã tác động không nhỏ tới sự ổn định, phát triển các loại hình nghệ thuật trong nước, đặc biệt với nghệ thuật truyền thống như: Tuồng, Chèo, Cải lương và nghệ thuật hàn lâm của Việt Nam Một câu hỏi đặt ra cho bộ máy quản lý các đơn vị biểu diễn nghệ thuật trong nước đó là: Làm thế nào để phát triển hiệu quả loại hình nghệ thuật của mình tới đông đảo công chúng khán giả Chính vì vậy, rất cần sự chung tay đồng sức của các ban ngành có liên quan trong công tác quản lý văn hóa nói chung, nghệ thuật nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
Với Nhà hát NVKVN là một đơn vị biểu diễn nghệ thuật hàn lâm hàng đầu quốc gia, từ việc phân tích những cơ sở lý luận thực tiễn về quản lý Nhà nước về văn hóa, hình thành nên cơ sở lý luận về nhà hát và quản lý nhà hát, tìm hiểu phân tích nội dung, phương thức quản lý một đơn vị nhà hát nói chung, tổng hợp quá trình hình thành và phát triển Nhà hát NVKVN, xác định
rõ cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát NVKVN, ban lãnh đạo và các phòng, đoàn Đây chính là cơ sở lý luận cần thiết để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý Nhà hát NVKVN, thấy được những mặt thuận lợi, khó khăn, đề ra định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát NVKVN Làm sao cho bộ máy quản lý Nhà hát NVKVN hoạt động linh hoạt, năng động, sáng tạo, đáp ứng sự phát triển của xã hội trong giai đoạn mới
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VIỆT NAM
2.1 Chủ thể, cơ chế và cách thức quản lý Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam
2.1.1 Chủ thể quản lý Nhà hát Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các hoạt động quản lý trong mọi quá trình hoạt động, chủ thể quản lý có thể là cá nhân, hay một cơ quan quản lý, chủ thể quản lý là tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, với những phương pháp quản lý thích hợp, theo những nguyên tắc nhất định
Nhà hát NVKVN, chủ thể quản lý là ban giám đốc của Nhà hát NVKVN Ban giám đốc chịu trách nhiệm toàn bộ mọi hoạt động, sự phát triển
đi lên của Nhà hát trước Bộ VHTTDL Ban giám đốc bao gồm giám đốc và các phó giám đốc
* Giám đốc Nhà hát
Là người lãnh đạo cao nhất do bộ trưởng Bộ VHTTDL bổ nhiệm, là người quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, sắp xếp, bố trí viên chức, diễn viên theo cơ cấu chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ cho các phòng, đoàn biểu diễn, xây dựng và ban hành quy chế, tổ chức hoạt động của Nhà hát NVKVN
Giám đốc Nhà hát NVKVN là người chủ tài khoản, chịu trách nhiệm toàn bộ về việc thu, chi tài chính, sử dụng nguồn ngân sách do Nhà nước cấp hàng năm và nguồn ngân sách được thu từ các hoạt động khác tại Nhà hát theo đúng quy định của Nhà nước
Ban giám đốc là chủ thể quản lý, trong đó giám đốc là người lãnh đạo cao nhất về mặt chính quyền, kiêm nhiệm bí thư Đảng ủy Nhà hát NVKVN
Trang 40Vì vậy có thể nói rằng chủ thể quản lý cao nhất Nhà hát NVKVN chính là giám đốc Nhà hát, quản lý chung tổng thể và chi tiết xuống từng phòng, ban,
bộ phận, thành viên của Nhà hát NVKVN
Giám đốc Nhà hát NVKVN chịu trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ công chức, viên chức người lao động theo quy định hiện hành của Nhà nước
Giám đốc chịu trách nhiệm, tổ chức chỉ đạo thực hiện các chương trình,
kế hoạch hoạt động biểu diễn của Nhà hát ở trong nước và ở nước ngoài, theo đúng chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ VHTTDL
Phân công công việc cho các phó giám đốc, thực hiện triển khai kế hoạch xuống các phòng, đoàn chuyên môn, theo nhiệm vụ được giám đốc phân công
* Phó giám đốc chịu trách nhiệm về chuyên môn
Là người được giám đốc Nhà hát NVKVN đề nghị Bộ VHTTDL bổ nhiệm theo cơ cấu tổ chức của Nhà hát, trực tiếp dưới sự quản lý, chỉ đạo của giám đốc
Là người quản lý, giúp việc cho giám đốc về công tác chuyên môn của Nhà hát NVKVN
Là người tổ chức, xây dựng, nội dung kế hoạch, chương trình biểu diễn nghệ thuật, trình giám đốc và tổ chức triển khai xuống các đoàn chuyên môn thực hiện sau khi được giám đốc phê duyệt
Tiếp nhận báo cáo của các đoàn chuyên môn về tình hình hoạt động chuyên môn của (đoàn hát, đoàn nhạc, đoàn múa) Từ đó xin ý kiến chỉ đạo của ban giám đốc để giải quyết công việc, mọi hoạt động của đoàn chuyên môn, cụ thể như: