Nhà hát thực nghiệm có một số trường gọi là Nhà hát thực hành nghệ thuật biểu diễn, Nhà hát thể nghiệm, Nhà hát sinh viên, Trung tâm bồi dưỡng và ứng dụng Nghệ thuật… song song với sự tồ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
LÊ THỊ VÂN MAI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
LÊ THỊ VÂN MAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HOÁ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGƯT ĐÀO MẠNH HÙNG
HÀ NỘI – 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Bản luận văn này là một phần kết quả quan trọng trong quá trình tôi được học tập tại lớp Cao học - chuyên ngành Quản lý văn hoá (khoá 2009-2011), trường Đại học Văn hoá Hà Nội Tuy bản thân tôi đã cố gắng rất nhiều, song chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót
Với tình cảm chân thành, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám Hiệu, khoa Sau Đại học, các thầy cô giáo của trường Đại học Văn hoá Hà Nội; sự tận tình hướng dẫn của thầy giáo PGS TS NGƯT Đào Mạnh Hùng đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và quá trình làm luận văn
Xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban lãnh đạo, các phòng-khoa-ban của: Vụ Đào tạo – Bộ Văn hoá Thể thao & Du lịch, Viện Sân khấu, Viện Văn hoá Nghệ thuật, trường Học Viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội, trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, trường Múa Việt Nam, trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội và các thầy - cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Học viên
Lê Thị Vân Mai
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT THỰC NGHIỆM TRONG TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT 12
1.1 Vài nét khái quát về lịch sử hình thành khái niệm Nhà hát 12
1.1.1 Lịch sử hình thành khái niệm Nhà hát gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật biểu diễn Sân khấu 12
1.1.2 Vài nét về sự hình thành phát triển khái niệm Nhà hát và Nhà hát trong nghệ thuật biểu diễn Sân khấu Việt Nam 23
1.2 Đặc điểm và vai trò của Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật 33
1.2.1 Đặc điểm Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hoá Nghệ thuật 34
1.2.2 Vai trò của Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ HÁT THỰC NGHIỆM TRONG TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT Ở HÀ NỘI 41
2.1 Vài nét về hoạt động của Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội 41
2.1.1 Những nét chung trong hoạt động của các trường Văn hoá Nghệ thuật hiện nay 41
2.1.2 Về mô hình hoạt động của Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hoá Nghệ thuật tại Hà Nội 44
2.2 Những yếu tố tác động đến thực trạng hoạt động của Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội 53
Trang 52.2.1 Thực trạng hoạt động của các Nhà hát trên địa bàn Hà nội có sự ảnh hưởng tới hoạt động của Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ
thuật ở Hà Nội 53
2.2.2 Những nguyên nhân chủ quan từ các trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội 60
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ HÁT THỰC NGHIỆM TRONG TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 62
3.1 Tham khảo thế “Kiềng ba chân” trong hoạt động Nhà hát ở Anh Quốc 62
3.2 Sự liên kết và cân bằng giữa hai yếu tố kinh tế - nghệ thuật trong quản lý hoạt động Nhà hát, Nhà hát thực nghiệm 73
3.3 Chú trọng công tác Marketing nghệ thuật 80
3.4 Một số nhiệm vụ và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật 86
3.4.1 Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu tại Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật 87
3.4.2 Tăng cường công tác giảng dạy kết hợp lý thuyết với thực hành trong trường Văn hoá Nghệ thuật 88
3.4.3 Đổi mới phương thức hoạt động của các Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật - Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý Nhà hát thực nghiệm ở các trường Văn hóa Nghệ thuật 89
3.4.4 Phát huy phương thức xã hội hóa trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật ở các trường Văn hóa Nghệ thuật 91
3.4.5 Nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa và công tác quản lý hoạt động văn hóa nghệ thuật đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 99
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 113
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN
BGDĐT : Bộ Giáo dục Đào tạo BVHTT&DL: Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch
GĐ : Giám đốc NHTN : Nhà hát thực nghiệm NNC : Nhà Nghiên cứu NXB : Nhà xuất bản VHTT : Văn hoá Thông tin TCCT : Tổng cục Chính trị TNCS HCM : Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
TP : Thành phố
& : Và
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Việc đào tạo nghệ thuật biểu diễn ở các Trường Văn hóa Nghệ thuật hiện nay luôn được thực hiện ở hai hình thức, đó là lý thuyết và thực hành Trong đó, hình thức thực hành chiếm thời lượng chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong suốt quá trình đào tạo Do đó, bên cạnh chương trình đào tạo các chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn theo kế hoạch thì việc quản lý và khai thác tốt Nhà hát thực nghiệm - một thiết chế văn hóa rất quan trọng trong các trường Nghệ thuật - là một việc làm rất cần thiết hiện nay Hình thức đào tạo thực hành thường lệ được diễn ra tại phòng học cho những bài học cơ bản và được đưa lên sân khấu Nhà hát thực nghiệm của trường khi đã trở thành tác phẩm trong các kỳ thi hết học phần và thi tốt nghiệp Không chỉ dành cho các
kỳ thi, mọi hoạt động nghệ thuật mang tính tập thể của sinh viên các trường Nghệ thuật cũng đều được tổ chức tại Sân khấu Nhà hát thực nghiệm Như vậy, có thể thấy rằng Nhà hát thực nghiệm có vai trò rất quan trọng đối với một cơ sở đào tạo nghệ thuật Nhà hát thực nghiệm (có một số trường gọi là Nhà hát thực hành nghệ thuật biểu diễn, Nhà hát thể nghiệm, Nhà hát sinh viên, Trung tâm bồi dưỡng và ứng dụng Nghệ thuật…) song song với sự tồn tại của nhà trường và là nơi các sinh viên nghệ thuật (những nghệ sỹ tương lai) được thể hiện tài năng của mình trước số đông khán giả với một sân khấu
có đủ các trang thiết bị, kỹ thuật cần thiết cho một buổi biểu diễn như: âm thanh, ánh sáng, trang phục, đạo cụ biểu diễn… Một tác phẩm của sinh viên chỉ được đánh giá một cách đầy đủ và chính xác về chất lượng khi nó được thực hiện ở những nơi có điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tốt như tại Nhà hát thực nghiệm
Trang 8Trong tình hình hiện nay, nhất là trong giai đoạn đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Nghệ thuật với nhiều hình thức đào tạo: Liên thông, liên kết, đào tạo theo nhu cầu xã hội…thì việc tổ chức, duy trì và quản lý hoạt động của Nhà hát thực nghiệm là nhiệm vụ cần thiết, cần được quan tâm hơn bao giờ hết
1.2 Các trường Văn hóa Nghệ thuật của chúng ta hiện nay đang thực hiện chương trình đào tạo đa ngành, thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ, với nhiều chuyên ngành: Ca, múa, nhạc, kịch, quản lý văn hóa, viết văn, đạo diễn, quay phim truyền hình, điện ảnh, sáng tác, dàn dựng và biểu diễn văn hóa nghệ thuật phục vụ các sự kiện lịch sử, các ngày lễ kỷ niệm của đất nước Với các chuyên ngành đào tạo như vậy thì mô hình Nhà hát thực nghiệm tại các trường với đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật là rất cần thiết
Tuy nhiên, với nhiều lý do khác nhau, công tác quản lý hoạt động tại Nhà hát thực nghiệm ở các trường Văn hóa Nghệ thuật cũng mang lại hiệu quả khác nhau, đã có những Nhà hát thực nghiệm thực sự là nơi kiểm nghiệm chất lượng thực hành nghệ thuật biểu diễn cho sinh viên, là nơi gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm học tập không chỉ riêng cho các sinh viên chuyên ngành nghệ thuật biểu diễn mà còn cho sinh viên các chuyên ngành khác, các
tổ chức đoàn thể như: Đoàn TNCSHCM, Đội Sinh viên tình nguyện, Câu Lạc
Bộ Nữ sinh thanh lịch và Nhà hát thực nghiệm trở thành một sân chơi bổ ích cho việc học tập và rèn luyện của sinh viên trường Nghệ thuật Bên cạnh
đó, vẫn còn không ít Nhà hát thực nghiệm công tác quản lý chưa được coi trọng, nên việc tổ chức hoạt động ở đây chưa thật sự phù hợp, chưa khai thác hết chức năng của các Nhà hát này, dẫn đến việc lãng phí cơ sở vật chất ở một
số nơi Những hạn chế tồn tại trên thể hiện qua phương pháp, cách thức, nội dung và hình thức quản lý tại các đơn vị đó Công tác phối hợp trong hệ thống
tổ chức quản lý giữa các cơ quan, đơn vị trong nhà trường với các cơ quan,
Trang 9đơn vị ngoài nhà trường còn thiếu đồng bộ, nề nếp, chế độ quản lý hoạt động văn hóa nghệ thuật của Nhà hát thực nghiệm tại các trường Văn hóa Nghệ thuật còn chưa chặt chẽ Do đó, việc nghiên cứu, tìm ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng quản lý, đưa các hoạt động đi vào nề nếp và khai thác có hiệu quả hoạt động tại các Nhà hát thực nghiệm là đòi hỏi cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Là người trực tiếp hoạt động trong ngành âm nhạc trên cương vị là diễn viên, giáo viên chuyên môn, tôi nhận thức được tầm quan trọng của Nhà hát thực nghiệm đối với chất lượng học tập của häc sinh, sinh viên t¹i trường đào tạo nghệ thuật Từ những kiến thức đã được học, khảo sát hoạt động của Nhà hát thực nghiệm tại một số trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội và kinh
nghiệm thực tiễn của bản thân, tôi chọn đề tài “Quản lý Nhà hát thực nghiệm của các trường Văn hóa Nghệ thuật ở Hà Nội” với mong muốn sẽ
góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật
và các hoạt động khác của sinh viên diễn ra tạiNhà hát thực nghiệm trong các trường Nghệ thuật, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Nghệ thuật trong giai đoạn mới - giai đoạn hội nhập quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, Đảng ta đã có nhiều văn kiện định hướng cho việc xây dựng và phát triển văn hoá, quan trọng nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [Sau đây gọi tắt
là Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII)]; Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) những năm sắp tới; Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng; Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới” và chiến lược “Xây dựng đội ngũ trí
Trang 10thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Những chủ trương, đường lối của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, vừa giải quyết những vấn đề cấp bách trước mắt, vừa có tính định hướng chiến lược lâu dài
về xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta
Bên cạnh đó, đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về công tác quản lý văn hóa nói chung và quản lý hoạt động nghệ thuật của Nhà hát trong
hệ thống các Nhà hát từ Trung ương đến địa phương nói riêng Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
- Nguyễn Văn Hy, Phan Văn Tú, Hoàng Sơn Cường, Lê Thị Hiền, Trần
Thị Diên (1998), Quản lý hoạt động Văn hóa, NXB VHTT Hà Nội
- Lê Thị Hoài Phương (05/2009), Hợp tác quốc tế về văn hoá trong thời
kỳ Đổi mới ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
- Trần Tuý (2005), Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Văn Tình (2009), Chính sách văn hoá trên thế giới và việc hoàn thiện Chính sách văn hoá ở Việt Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội
Ngoài những công trình trên, còn có một số luận văn Thạc sỹ Quản lý văn hóa như:
- Lê Thị Thu Hiền (2009), Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống ở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Đinh Công Tuấn (2009), Quản lý hoạt động của các Trung tâm Văn hóa, Thể thao cấp quận trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay
Những công trình nghiên cứu đó đã có nhiều đóng góp trong việc nâng cao nhận thức, bổ sung kiến thức cho người nghiên cứu về chuyên ngành
Quản lý văn hóa nói chung và Quản lý hoạt động Nghệ thuật nói riêng
Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề quản lý hoạt động trong Nhà hát thực nghiệm ở các trường đào
Trang 11tạo văn hoá nghệ thuật Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở lý luận và thực tiễn quý báu để tác giả kế thừa khi giải quyết những yêu cầu đặt
ra của đề tài: “Quản lý Nhà hát thực nghiệm của các trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội” trên cơ sở nghiên cứu, phân tích về công tác quản lý hoạt động chuyên ngành ở các trường Văn hoá Nghệ thuật; đi sâu phân tích những thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý hoạt động trong Nhà hát thực nghiệm của các trường Văn hoá Nghệ thuật giai đoạn hiện nay
3 Mục tiªu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu:
Trên cơ sở làm rõ vai trò của Nhà hát thực nghiệm đối với học sinh, sinh viên trong các trường Văn hoá Nghệ thuật, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát thực nghiệm, một bộ phận quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo ở các trường Văn hoá Nghệ thuật trong giai đoạn mới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, làm rõ khái niệm “Nhà hát thực nghiệm” trong trường Văn
hoá Nghệ thuật
- Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận chung về mối quan hệ giữa giảng dạy lý thuyết và thực tiễn hoạt động nghệ thuật tại Nhà hát thực nghiệm trong các trường đào tạo nghệ thuật nói chung
- Khảo sát công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật và chất lượng nguồn lực trong Nhà hát thực nghiệm ở một số trường tiêu biểu đại diện cho các loại hình đào tạo nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp ở Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động của Nhà hát thực nghiệm tại các trường Văn hóa Nghệ thuật ở Hà Nội trong giai đoạn mới
Trang 12
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Các văn bản của Đảng, Nhà nước về đường lối phát triển văn hoá nghệ thuật, về hoạt động tổ chức biểu diễn nghệ thuật, về đào tạo văn hoá nghệ thuật
- Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội (thông qua việc khảo sát một số hoạt động thực tiễn diễn ra tại các đơn vị đó
để đối chiếu so sánh, làm sáng tỏ vấn đề)
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu 4 nội dung chính là: Cơ chế hoạt động, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, cơ chế chính sách, nhằm tăng cường khả năng quản lý Nhà nước về loại hình hoạt động này
Về không gian: Luận văn nghiên cứu các trường Văn hóa Nghệ thuật tiêu biểu ở thành phố Hà Nội thuộc ba khối:
Cấp trung ương quản lý (chuyên ngành): Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam
Cấp trung ương quản lý (đa ngành): trường Đại học Sân khấu Điện ảnh
Hà Nội
Cấp ngành quản lý: trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội
Cấp địa phương quản lý: Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
Về thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu công tác quản lý hoạt động của Nhà hát thực nghiệm ở các trường Văn hóa Nghệ thuật tại Hà Nội trong hai giai đoạn: từ năm 1980 đến trước năm 1986 (thời kỳ Nhà nước xây dựng nền kinh tế tập trung bao cấp), và từ năm 1986 đến 2011 (thời kỳ Nhà nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
Trang 13văn hoá văn nghệ để xem xét, đánh giá các mặt liên quan đến công tác quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
Các văn bản Luật, Nghị định có liên quan, các chiến lược phát triển văn hoá, chương trình, đề án có liên quan đến quản lý Nhà nước về văn hoá để xem xét việc quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật
5.2.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp lịch sử logic, khảo sát thực tế, phân tích tổng hợp, và các phương pháp khác để thực hiện mục tiêu của đề tài
6 Đóng góp của luận văn
- Làm rõ khái niệm và khái quát phạm trù: Quản lý Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hóa Nghệ thuật
- Mô hình quản lý phù hợp về hoạt động trong Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hóa Nghệ thuật, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phù hợp giúp cho việc định hướng chỉ đạo, quản lý Nhà nước đối với loại hình hoạt động này sao cho hiệu quả hơn trong giai đoạn mới
- Kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác quản
lý văn hóa nói chung và quản lý Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hóa Nghệ thuật nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động của Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật ở Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ HÁT THỰC NGHIỆM TRONG
TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT
1.1 Vài nét khái quát về lịch sử hình thành khái niệm Nhà hát
1.1.1 Lịch sử hình thành khái niệm Nhà hát gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nghệ thuật biểu diễn Sân khấu
Trong muôn vàn những điều tạo nên ý nghĩa của cuộc sống mà con người tìm ra trên hành trình phát triển gắn bó với lao động sản xuất, cho đến ngày hôm nay, cùng sự phát triển của đời sống vật chất, thì cõi tinh thần của loài người là một thành tựu quá ư phong phú – nó chứa đựng những biến ảo
và tồn tại của ý thức một cách tinh vi và quả là không đơn giản trong việc nắm bắt, tìm hiểu những sự tinh vi ấy
Nghệ thuật ra đời trong đời sống tinh thần của loài người như một sự tất yếu, bởi con người - loài động vật cao cấp vào bậc nhất của tạo hoá thì đương nhiên không bao giờ chỉ thoả mãn với những đòi hỏi cấp thấp Theo Gorki - con người, bản thân luôn tìm tới cái đẹp và nó tạo ra xung quanh mình một môi trường, đó là văn hoá Văn hoá - mà trong đó, nghệ thuật chiếm một vị trí quan trọng đã góp phần tác động ngược trở lại, tạo nên sự phong phú và tươi đẹp của những tâm hồn Những tâm hồn mang tố chất nghệ thuật đã tự do sáng tạo, tự do hát ca, những bài ca về cái đẹp, về sự sung sướng, về cuộc đời
ở những bài ca đó có sự tổng hoà những thanh âm trầm bổng của quá khứ, hiện tại và tương lai - những chiêm nghiệm, cảm nhận và dự báo
Sân khấu – tấm gương phản ánh cuộc sống – đã ra đời ngay trong buổi bình minh của văn minh nhân loại Bản thân nghệ thuật Sân khấu trong quá trình phát sinh và phát triển đã dần tự hoàn thiện về nội dung và hình thức Như một quá trình chọn lọc tự nhiên, Sân khấu bỏ đi những gì không phù hợp
và giữ lại những gì mang tính chất căn cốt để từ đó phát triển và hoàn thiện
Trang 15Ngay từ khi ra đời, Nhà hát – nơi biểu diễn sân khấu – đã gắn liền với Nghệ thuật Sân khấu với tư cách là điều kiện cần để tác phẩm sân khấu diễn
ra Từ chỗ là một khoảng không gian để loại hình Nghệ thuật Sân khấu trình diễn, Nhà hát đã hoà nhập và bản thân nó không tách rời với Nghệ thuật Sân khấu, bản thân nó thuộc tổng thể của bộ môn nghệ thuật tổng hợp này, đồng thời nó cũng mang trong mình một đời sống riêng có phát sinh phát triển Thậm chí người ta còn dùng khái niệm Nhà hát để bộc lộ tính chất huyền thoại của loại hình Nghệ thuật Sân khấu, khi người ta nói: Sân khấu là Thánh đường Nghệ thuật, ở đó người diễn viên là những ông Hoàng bà Chúa Ở đây,
Nhà hát (chỉ Nghệ thuật Sân khấu) được ví như Thánh đường, đã cho thấy vai
trò quan trọng của Nhà hát trong tính chất ẩn dụ của câu nói
Chúng ta cùng điểm qua chặng đường lịch sử của Nghệ thuật Sân khấu
để thấy được sự phát sinh phát triển của Nhà hát, một thành tố cấu thành không thể thiếu của loại hình nghệ thuật này
* Sân khấu Cổ đại Hy Lạp
Lịch sử Sân khấu Thế giới đã ghi nhận, trong buổi bình minh của văn minh nhân loại, ở Hy lạp, Nghệ thuật Sân khấu đã phát triển một cách rực rỡ Các liên hoan Sân khấu được tổ chức vào thời kỳ này đã thực sự trở thành những ngày hội, những cuộc sinh hoạt văn hoá cộng đồng diễn ra theo kỳ hạn, dân chúng say sưa tham gia trong men say hội hè và sân khấu
Khi Sân khấu đã phát triển đến một mức nhất định thì ở Atel người ta
đã xây dựng được Nhà hát với 3 vạn chỗ ngồi Sau đó, Sân khấu Epidor có đến 8 vạn chỗ ngồi Một đặc điểm quan trọng trong cấu trúc Nhà hát của Hylạp là Hý trường được xây dựa vào địa hình thung lũng, Sân khấu ở phía dưới, trước Sân khấu là một bàn thờ nhỏ, khán giả ngồi hình vòng cung từ thấp đến cao theo sườn của thung lũng Phát kiến thông minh này nhằm tạo
ra sự khuếch đại âm thanh từ diễn viên đến thính giác khán giả
Trang 16Về đặc điểm cấu trúc của Sân khấu Hylạp thời bấy giờ:
- Màn cửa nằm dưới đất và khi đóng màn thì được kéo từ dưới lên, khi mở
là hạ xuống (ngược lại với Sân khấu bây giờ, màn được hạ từ trên xuống, khi trình diễn được kéo lên.)
- Trang trí là những tấm pa-nô 3 mặt hình tam giác có trục quay ở giữa
Có bục trang trí, dưới bục có các bánh xe đẩy, có bình phong kéo qua kéo lại (điều này cho thấy sự rất phát triển của Sân khấu Hy Lạp thời bấy giờ với việc có yếu tố trang trí cảnh cứng tham gia, dù chỉ là sơ khai, manh nha)
- Tiếng động: Có máy thô sơ làm tiếng động sấm chớp, mưa gió (sự xuất hiện của yếu tố âm thanh)
- Phục trang : Diễn viên, do đặc điểm diễn ở Nhà hát quá ư rộng lớn, có thể cho 3 vạn người xem, đồng thời, sàn diễn ở dưới thấp, nên người diễn viên phải độn thêm quần áo cho người to ra , đi giày cao, và đeo những mặt nạ to, mặt nạ ở miệng có loe ra giống như hình cái loa nhỏ để khuếch đại âm thanh
- Dàn đồng ca : lúc thì làm động tác mô phỏng như dàn múa và lúc thì hát
- Âm nhạc Sân khấu Hylạp: Chủ yếu là Sáo
Một đặc điểm nữa của Sân khấu Hy Lạp thời bấy giờ, đó là việc gắn liền với con số 3: mỗi kỳ thi sẽ có 3 tác giả tham gia, mỗi tác giả sẽ có 3 vở bi kịch, mỗi vở có 3 diễn viên đóng tất cả các nhân vật ( Bằng cách thay phục trang nhiều lần , hoặc đeo mặt nạ )
Các vở diễn cổ đại HyLạp chủ yếu là bi kịch , các tác giả phần lớn là những người không chuyên nghiệp rất ít người tòng sự (chuyên nghiệp) Nhưng Sân khấu cổ đại HyLạp cũng đã để lại cho hậu thế những tên tuổi, mà cho đến nay, qua những tác phẩm của họ, chúng ta thấy được bóng dáng, tinh thần thời đại, thậm chí ở đó còn chứa đựng những tư tưởng uyên thâm Eripit,
Trang 17Elsile, Xôphôclơ, Arixtôphan và Ăngtygôn, Prômêtê bị xiềng, Êdip Vua đã
đi vào lịch sử Sân khấu Thế giới, đi vào nền văn minh nhân loại
* Sân khấu La Mã
Đế chế La Mã với đặc điểm chiến tranh chi phối, nên Sân khấu không được chú trọng như Sân khấu Hy Lạp, nó không kế thừa vẻ huy hoàng rực rỡ, nhưng lại mang trong mình tính chất quyết liệt và đánh dấu một giai đoạn đặc biệt trong sự phát triển của lịch sử Sân khấu Những yếu tố bùng nổ trong nội dung Sân khấu đã hối thúc sự thay đổi phát triển về diện mạo Sân khấu, trong
đó có diện mạo của các Nhà hát
Nét đặc biệt về cấu trúc Nhà hát của La mã là:
- Từ nền đất phẳng và xây bệ ngồi cho khán giả theo hình vòng tròn cao hơn (kiểu như sân vận động bây giờ)
- Âm nhạc của La mã có nét đặc biệt hơn Hylạp là dàn nhạc có xuất hiện nhiều nhạc cụ hơn như : Thanh la, Trống, Sáo
- Sân khấu La mã bắt đầu có nữ diễn viên
- Trang trí duy nhất ( tại một địa điểm)
* Sân khấu thời Trung Cổ
Với vòng tuần hoàn thịnh - suy - bĩ - thái, có phát triển thì phải có suy
vi, suy vi rồi để lại tạo dựng nên sự phát sinh phát triển mới Đêm trường Trung Cổ đã nhấn chìm sự phát triển văn minh nhân loại trong ngàn năm đen tối của mình Bắt đầu từ thế kỷ XII, cách Sân khấu Cổ đại Hylạp 17 thế kỷ, Sân khấu Trung cổ bị dùng vào việc vận động, hướng xã hội vào mục đích thống trị bằng tôn giáo của thế lực Nhà thờ Kịch bản sân khấu thời này chủ yếu là về các Thánh tích, về Chúa Zêsu, chủ đề chính là Thiên Chúa Giáo, nên vai trò chính là các Thày cả, các Linh Mục
Sân khấu thời kỳ này xuất hiện những trang trí khác nhau, hay còn gọi là trang trí kế tiếp có những vở lên tới 70 cảnh trên những sàn diễn khác nhau
Trang 18Trang trí có loại xếp hàng ngang có loại xếp hàng dọc (cao 40 thước) Do đặc điểm của trang trí kế tiếp trên nhiều sàn diễn nên sự chuẩn bị phải hàng tháng
Ví dụ vở về đời chúa Zêsu xuất hiện năm 1450 gồm 34574 câu thơ,
được biểu diễn trong 4 ngày, hay vở " Phép lạ của các Thánh tông đồ" ra
đời vào năm 1536 huy động 500 diễn viên và diễn trong 40 ngày, thời kỳ ấy trước khi diễn, diễn viên phải mặc phục trang đi tuần hành khắp thành phố Sân khấu thời Trung cổ là sự hỗn độn giữa tả thực, ước lệ, cách điệu Trang trí Sân khấu vừa vẽ vừa tận dụng cảnh thật (núi là vẽ, cây là thật.)
Chính vì đặc điểm này đã kéo theo sự thay đổi về diện mạo, quy mô và tính chất Nhà hát Đó là tính chất mở, phóng khoáng của Nhà hát, ví dụ:
- Diễn kịch Thánh: vào ngày biểu diễn kịch Thánh, ngay từ sáng sớm người xem đã ngồi đầy trên Sân khấu bằng gỗ dựng riêng cho kịch ở Quảng trường Thành phố, khắp nơi vang lên tiếng cười nói ồn ào
- Diễn kịch Luân lý: Khi uy tín của Nhà thờ giảm, mọi tệ nạn xã hội gia tăng, đạo đức luân lý bị phương hại, người ta đã nghĩ ra một hình thức thuyết
lý những quan niệm về đạo đức và từ đó xuất hiện loại kịch Luân lý, điểm đặc biệt của kịch Luân lý là điểm diễn không đòi hỏi hoành tráng mà có khi chỉ là một địa điểm đơn giản ở chỗ đông người, góc chợ, cửa Nhà thờ, ngoài Quảng trường Để cho người diễn viên đứng và thuyết trình về đạo lý
- Diễn kịch Hề: Kịch Hề được biểu diễn ở mọi nơi, trên bãi trống, trong quán rượu, giữa chợ với những nội dung hài hước, diễn kịch cương, diễn viên ứng khẩu, những hình tượng nhân vật rất sơ lược nhưng lại tiêu biểu cho đủ các thành phần xã hội với những tính cách sắc sảo (kịch Hề phần nào như một sự đối chọi lại với kịch Luân lý) Sân khấu kịch Hề được nhiều người ưa thích
* Sân khấu thời kỳ Phục Hưng
Trong hai thế kỷ XV và XVI, Châu Âu đã xuất hiện cuộc vận động tư tưởng và văn hoá mới đầy hào hứng Ngọn gió “Renascita” bắt đầu từ Italia
Trang 19rồi dần lan rộng ra khắp Châu Âu Renascita có ý nghĩa là “Phục Hưng”, “Tái sinh” hoặc đơn giản là làm “sống lại” nền văn hoá Cổ đại Hy Lạp - La Mã được phát hiện nhờ những cuộc khai quật di chỉ và các bản chép tay còn được giữ đến giai đoạn này
Không chỉ dừng lại ở việc làm sống lại, mà Phục Hưng còn là sự phát huy những truyền thống tốt đẹp ấy một cách phù hợp với những yêu cầu của đời sống tinh thần trước mắt
Truyền thống tốt đẹp mà văn minh Hy - La nêu cao là:
- Trân trọng, đề cao con người, trái ngược với thái độ coi rẻ, miệt thị con người dưới chế độ phong kiến Trung Cổ
- Đấu tranh cho tự do con người trái ngược với sự chuyên chính độc tài của Phong kiến và Giáo hội
Từ những truyền thống tốt đẹp ấy, Phong trào Phục Hưng đã lấy tinh thần chủ nghĩa nhân văn – là trào lưu tư tưởng cơ bản tạo nên những giá trị rực rỡ của nền văn nghệ Phục Hưng
Các kiệt tác nghệ thuật của giai đoạn này là niềm tự hào của loài người trên con đường xác lập giá trị, ý nghĩa, tôn vinh tài năng của con người trước giới tự nhiên
Nước Anh bước vào thời đại Phục Hưng muộn hơn so với Italia và một
số nước khác ở Tây Âu Trong hai thế kỷ XIV và XV, Anh bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi chiến tranh – cuộc chiến 100 (1337 - 1453) với Pháp tuy không diễn ra trên đất Anh nhưng cũng làm nước này kiệt quệ, rồi lại cuộc nội chiến Hai hoa hồng (1455 - 1485), sự tranh giành quyền thống trị của hai tập đoàn phong kiến York và Lencaxto Mãi đến khi họ Tiudo lên nắm quyền, thì nước Anh mới có thể chăm lo đến việc khôi phục phát triển kinh tế và mở mang văn hoá
Trang 20Tiến lên chủ nghĩa Tư Bản là xu thế chung cả Châu Âu bấy giờ, nước Anh không ngoại lệ Công thương nghiệp ở đây vốn dĩ đã có truyền thống, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với giá trị tặng dư đã khiến hàng vạn người nông dân bị xua ra khỏi làng mạc của họ để bọn địa chủ mới biến nơi đó thành các bãi chăn thả cừu Bị cướp mất ruộng, nông dân kéo nhau đi ăn xin chật đường và chở thành những công nhân rẻ mạt cho các xí nghiệp, công trường Đằng sau bộ mặt phồn vinh của thời kỳ “Nước Anh vui vẻ ” dưới thời Êlizabet đệ nhất là một xã hội đang trải qua những biến động dữ dội của thời
kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa Một xã hội chứa chất những mâu thuẫn giai cấp gay gắt luôn luôn sẵn sàng bùng nổ những cuộc chiến quyết liệt
Chính vì ra đời trong bối cảnh xã hội như vậy nên ngoài việc mang tính chất chung của văn hoá phục hưng Châu Âu: chống chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa Giáo điều Kinh viện Trung cổ, giải phóng trí tuệ của con người, khẳng định cuộc đời trần thế, đòi hỏi quyền tự do của cá nhân con người, niềm phấn khởi trước những chân trời rộng mở nhờ những cuộc phát kiến về thiên văn
và địa lý đưa lại, niềm say mê trước vẻ đẹp của tác phẩm văn nghệ cổ đại Hy
La vừa được phát hiện
Không ở nơi đâu sự đối lập giữa hai mặt tối - sáng của xã hội lại rõ rệt bằng ở đất Anh Để phản ánh được bản chất của sự đối lập ấy thì Kịch là loại hình nghệ thuật có khả năng hơn cả Nước Anh là nước vốn có truyền thống kịch nghệ lâu đời Từ sơ kỳ Trung cổ, nền kịch dân gian Anh đã thu được những thành tự đáng kể Dòng Kịch tôn giáo Anh cũng khá phát triển
Nền Kịch nghệ nước Anh nhờ tiếp thu được những kịch tính gay gắt, những dục vọng ghê gớm, cuộc đấu tranh của con người chống lại định mệnh khắc nghiệt từ kịch Cổ đại Hy La, lại tiếp thu được cái không khí tưng bừng vui vẻ, tươi mát với những đề tài chủ đề mới mẻ phản ánh cuộc sống trần thế
Trang 21từ kịch Italia hiện đại Khoảng thời gian từ 1580 đến 1642, nền Kịch nghệ nước Anh phát triển hết sức mạnh mẽ, phong phú Nhiều xu hướng, nhiều tác giả và các tác phẩm đua nhau nảy nở và tranh tài
London (Luân - đôn) lúc đó có khoảng hai mươi vạn dân mà có đến chục Rạp Kịch Các Rạp công cộng chứa được khoảng hàng nghìn người Ví dụ: Rạp Thiên Nga, Rạp Địa Cầu có đến 3000 chỗ đứng và ngồi xem Rạp là Nhà lớn hình cầu được ghép bằng gỗ hoặc xây bằng gạch, sân khấu bằng gỗ, hầu như trống trơn không có phông màn trang trí Phía trước sân khấu là dành cho những khán giả ít tiền, phía trên là những bao lơn có chỗ ngồi và có mái che bằng rạ sau được lợp bằng ngói để tránh hoả hoạn dành cho những khách
có tiền - khách hạng sang Các vở diễn thường được diễn vào buổi chiều để lợi dụng ánh sáng mặt trời
* Sân khấu Cổ điển
Trong văn học cổ điển Pháp thế kỷ XVII, Bi kịch là loại hình nghệ thuật lớn mạnh nhanh, liên tục và đạt tới vinh quang, gây nhiều chấn động và ảnh hưởng Cornay (Co - năy) và Raxin (Ra - xin) là những đại biểu ưu tú cho những thời kỳ và phong cách khác nhau của bi kịch cổ điển Pháp Bên cạnh
đó, Molier (Mô –li - e) cũng là một tên tuổi lớn của chủ nghĩa cổ điển Pháp và của lịch sử Sân khấu Thế giới Cùng Laphongten (La –phông - ten), Boa - lô, Molier đem đến cho văn đàn Pháp những cống hiến lớn với tư cách là người sáng lập ra Hài kịch Cổ điển và đưa nó tới đỉnh cao xán lạn với tư cách là người đấu tranh đến cùng cho những lý tưởng xã hội tiến bộ Chủ nghĩa Cổ điển với Molier chuyển nhanh hơn về phía cuộc sống hiện thực muôn hình muôn vẻ nơi quần chúng lao động đang tiến lên đảm nhiệm một vai trò mới
Molier (Mô – li - e): Tên thật là Giăng Bartixt đơ Pôlơlanh 1622-1673
Ông vừa là người sáng lập Hài kịch Cổ điển, vừa là người kế tục truyền thống kịch Hề Dân gian
Trang 22Ông tổ chức "Đoàn kịch trứ danh" tồn tại được khoảng 2 năm (1643-1645) thì tan rã do thiếu những vở kịch tốt và những diễn viên giỏi Molier cùng anh
em nhà Bêgia nhập vào một đoàn kịch của tỉnh lẻ đi rong diễn khắp nước Pháp, công việc này đã cùng ông kéo dài 13 năm (1645-1658) Cuộc nội chiến xảy ra dưới thời vua Luis (Lu-y) 13 ( 1648-1653) đã mang lại những khó khăn cho đoàn Kịch này, cùng với sự cạnh tranh của các đoàn Kịch khác, cộng với
sự thù địch của các chính quyền địa phương đối với Sân khấu Trong giai đoạn này ông đã nhận ra sở trường về hài kịch của mình và đã quyết tâm xây dựng một tiết mục đặc sắc có khả năng làm đoàn kịch của ông nổi bật lên giữa các đoàn Kịch khác
Ông đã bắt đầu viết Đề cương Kịch Hề, dựa vào ứng diễn của diễn viên Trong kịch này Molier đã kết hợp truyền thống Kịch Hề Pháp với truyền thống Kịch Mặt Nạ Italia , Trong giai đoạn này, ông đã viết " Anh chàng ngớ ngẩn " ( 1655 ) Và " Ghen" ( 1656 ), những vở kịch này thành công rực rỡ và đưa uy tín của đoàn kịch Molier lên vị trí hàng đầu ở tỉnh lẻ , lúc đó ở Paris chưa có Rạp hát nào diễn hài kịch, và mùa thu 1658, đoàn Kịch của Molier đuợc mời diễn ở Triều đình với 2 vở : vở bi kịch Nicômedơ của Coocnây và
vở hài kịch một màn của Molier " Gã đốc tờ sy tình" Vở bi kịch không thành công, nhưng vở hài kịch thì được Vua rất tán thưởng và quyết định giữ đoàn Kịch của Môlier ở lại Paris và cho đoàn sử dụng Rạp hát của Triều đình là Pơti Buốcbông
Bắt đầu từ 1664, song song với công việc chính ở cung điện Hoàng gia ( Palê Roay an ) , Molier thường hay diễn ở Cung đình Vua Lu-y XIV Những
vở kịch do ông viết ra chủ yếu cho các cuộc vui ở Triều đình
Các vở kịch này thuộc loại hình Hài kịch Ba lê do Molier dựng lên , đặc điểm của nó là sự kết hợp giữ hài kịch và Ba lê - một loại kịch rất được ưa thích trong các vũ hội ở Cung đình Các lớp kịch hài được các diễn viên trong
Trang 23đoàn biểu diễn, còn các lớp kịch Balê do các diễn viên nghiệp dư ở Triều đình đảm nhận, trong đó thỉnh thoảng có sự tham gia của cả nhà Vua và quần thần trong Cung đình
Hài kịch của Molier đạt tới đỉnh cao nhất trong những năm 1664-1669 Trong 5 năm, Ông đã viết : Tactuýp( 1664), Đông gioăng ( 1665), Người ghét đời ( 1666) , Lão hà tiện ( 1668) Vở kịch cuối cùng của ông là Người bệnh tưởng ( 1673) Molier đóng vai trò lớn lao trong lịch sử Hài kịch Châu
Âu Ông đã xây dựng lên một truyền thống Hài kịch sẽ được phổ biến rộng rãi Có thể nói các Nhà Hài kịch của thế kỷ XVIII , Pháp , Anh , Đức , Tây Ban Nha , Đan Mạch, Nga , BaLan đều là học trò và là người kế tục của Molier Molier là người báo trước phong trào Khai sáng của thế kỷ XVIII Sáng tác của ông trở thành mắt xích nối liền hai thời kỳ vĩ đại của Chủ nghĩa Cổ điển và Khai sáng
Trong thời kỳ này, Rạp hát đã định hình và có quy mô sang trọng, để chủ yếu phục vụ tầng lớp quý tộc nên có thể nói số lượng người đến Nhà hát xem Kịch rất hạn chế
* Thời kỳ Khai sáng của Sân khấu Tây Âu (thế kỷ XVIII và XIX)
Trong thời kỳ này, ở phương Tây có nhiều biến động về chính trị, đây
là thời kỳ Khai sáng trên toàn châu Âu Nội dung cơ bản của thời kỳ này là công cuộc đấu tranh về mặt ý thức chống lại chế độ phong kiến và những biểu hiện của nó trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, phong trào Khai sáng là một hiện tượng chung cho toàn Châu Âu, nhưng nó được thể hiện khá hoàn chỉnh
Trang 24Tất cả những Nhà Soạn kịch và những Nhà Hoạt động Sân khấu của thời kỳ Khai sáng đều đứng trên lập trường của chủ nghĩa Hiện thực Họ tin vào ý nghĩa giáo dục to lớn của Sân khấu Toàn bộ sự phát triển của nền Sân khấu thế kỷ XVIII diễn ra dưới dấu hiệu của một cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt về tư tưởng
Tiếp theo những cố gắng để tái tạo nền Kịch, công việc xây dựng một phong cách hiện thực trên bục diễn cũng được bắt đầu Thời đại Khai sáng được đánh dấu bằng những cải cách quan trọng trên những lĩnh vực khác nhau của Nghệ thuật Sân khấu Những cải cách này liên quan đến lĩnh vực kiến trúc Nhà hát, trang trí, phục trang kỹ thuật Sân khấu
Nhiệm vụ đặt ra là tìm ra những hình thức để phản ánh thực tại một cách chân thực
Ví dụ: Sự xuất hiện những cảnh quần chúng trong bi kịch của Vonte, đòi hỏi một phương pháp dàn dựng mới Diễn viên Bi kịch xuất sắc nhất của Pháp - Lơ canh , học trò của Vonter là người đã dàn dựng những vở Bi kịch của ông , đã sử dụng rộng rãi trên cương vị công việc Đạo diễn của mình trong việc dàn dựng những cảnh quần chúng Công việc Đạo diễn đầu tiên của
Lơ canh là việc đấu tranh giải phóng bục sân khấu Hài kịch Pháp, không để cho người xem ( những tầng lớp quý tộc ) ngồi ở đó nữa , cần phải có một khoảng trống rộng trên sân khấu, ông còn cần những bục sân khấu rộng để có thể sắp xếp nhiều vai phụ
* Ăng Toan và Chủ nghĩa Tự nhiên
Antoine (Ăngtoan) (1858-1943) chủ trương sân khấu tả thực, chống ước
lệ Antoine dựng lên bức tường thứ 4 (phía khán giả), gọi khán giả là những người tò mò nhìn qua lỗ khoá nhà người khác (đưa đến thái độ diễn xuất của diễn viên, điều độ sân khấu, hướng di chuyển rất tự nhiên) Antoine không dùng cảnh vẽ phông nền sân khấu, ông dựng cảnh bằng việc bắt đầu tắt đèn
Trang 25khán giả, đưa khán giả vào ảo giác của sân khấu Có thể nói Ăngtoan là người khởi đầu cho chức nghiệp Đạo diễn và là người thổi luồng gió mới cho Nghệ thuật Biểu diễn Sân khấu
Sau Ăngtoan, đời sống sân khấu đã hình thành trên cơ sở 3 đặc điểm sau:
- Hình thành đội ngũ Đạo diễn đông đảo ,
- Từ đây, các cuốn sách về nghề nghiệp Sân khấu đã bắt đầu xuất hiện
- Nhiều khuynh hướng Đạo diễn xuất hiện đa dạng
Xuất thân là một người của hãng Hơi đốt, Người đã dựng lên Nhà hát
mang tên là "Nhà hát Tự do" khi Ông mới 29 tuổi - một Nhà hát danh tiếng
Có thể nói, đến lúc này, Nhà hát - nơi biểu diễn Nghệ thuật Sân khấu đã định hình và hoàn thiện dần về các mặt: vị trí, hình thức, phong cách, gắn với dấu
ấn tên tuổi của các nghệ sỹ bậc thầy của nền Nghệ thuật Sân khấu
1.1.2 Vài nét về sự hình thành phát triển khái niệm Nhà hát và Nhà hát trong nghệ thuật biểu diễn Sân khấu Việt Nam
Như đã khẳng định ở trên, lịch sử Nhà hát gắn chặt với lịch sử phát triển của Nghệ thuật Biểu diễn do tính chất không gian là một trong những yếu tố tạo nên loại hình nghệ thuật biểu diễn Tương đồng với lịch sử Sân khấu Thế giới, sự hình thành các Nhà hát, Rạp hát ở Việt Nam cũng gắn chặt với lịch sử phát triển Sân khấu Dân tộc
1.1.2.1 Đình Làng- hình thức Nhà hát đầu tiên của Sân khấu Dân tộc
Từ nền Văn nghệ Dân gian đặc sắc, Việt Nam có một kho tàng Sân khấu
Cổ truyền với nhiều bộ môn nghệ thuật biểu diễn phong phú Trong những món ăn tinh thần của nền Văn hoá Nông nghiệp lúa nước, mỗi vùng miền với các đặc tính văn hoá riêng biệt đã dần hình thành các bộ môn ở các vùng Văn hoá Nghệ thuật (trong đó có Nghệ thuật Biểu diễn Sân khấu) khác nhau
Trang 26Với một vùng đồng bằng Bắc bộ rộng lớn, thì bản thân chất văn hoá truyền thống cùng với tâm tính của những người dân nơi đây đã tạo nên sản phẩm Chèo mộc mạc đậm đà tính dân tộc
Xuân thu nhị kỳ - thường là vào các dịp nông nhàn, hội hè đình đám được tổ chức để người dân được nghỉ ngơi vui chơi sau những ngày lao động vất vả mệt nhọc một nắng hai sương Trong các Lễ hội, Đình làng thường là trung tâm diễn ra những “sự kiện” quan trọng, ngoài phần tế lễ thì phần hội cũng thường diễn ra ở đây Sáng thì Chọi Gà, Đấu vật, Đánh đu (ở sân
Đình), tối thì có hát Chèo, múa Rối hay hát Tuồng Mỗi khi tiếng trống Chèo
Thi Nhịp rộn rã ngoài Đình thì nam, phụ, lão, ấu cùng ngừng tay việc nhà, nô nức kéo nhau ra Đình để được đắm mình vào các tích trò kỳ ảo
Như vậy, chúng ta có thể nói Đình Làng là “Nhà hát” đầu tiên của nghệ
thuật Chèo Trong cuốn Về Nghệ thuật Chèo, tác giả Trần Việt Ngữ có viết:
“Đình thờ Thành hoàng, nơi các hào mục họp bàn mọi việc làng xã, cũng là nơi diễn ra các cuộc tế lễ hội hè hàng năm, hàng mùa Tuỳ Làng cho phép mà Phường Hát được lấy quãng trải chiếu tế trước hương án làm nơi diễn: dãy đồ thờ gồm bát bửu, lỗ bộ, tàn lọng phải dạt ra, cánh cửa các gian phải hạ xuống, lấy chỗ cho người xem ở hai gian tả hữu, ở thềm Đình và ngoài sân, vẫn thấy
“sướng mắt ngọt tai”; hoặc cho lấy thềm Đình gian chính giữa trải chiếu diễn, thì cả ba mặt quanh sân Đình, cả mấy gian tả mạc, hữu mạc là chỗ cho bà con ngồi xem
Chỗ diễn trải đôi chiếu đậu rộng khổ (vì thế mà nhà nghề và nhân dân quen gọi là chiếu Chèo), có tấm màn đỏ nhuộm vỏ đà ngăn chắn với “buồng trò”, nơi Nghệ nhân chuẩn bị hoá trang, phục trang, để đạo cụ Sát giọt gianh hiên Đình, đoạn đặt chiếu diễn, để hai đĩa đèn dầu nhiều ngọn (sau là đèn chai, đèn bão) Khán giả ngồi vây kín ba mặt sát sạt Sân khấu, thấy rõ cả dàn nhạc và các vai chèo sắp diễn[44, tr 13, 14]
Trang 27Trong dân gian, nghệ thuật biểu diễn sân khấu diễn ra tại Đình Làng, Đình Làng gắn bó với Nghệ thuật Biểu diễn Dân tộc và trở thành cái nôi di dưỡng cho Nghệ thuật Biểu diễn Truyền thống Việt Nam Từ chỗ là một địa điểm, một khoảng không gian để người nghệ sỹ biểu diễn, Đình Làng trở thành một biểu tượng văn hoá truyền thống đi vào lịch sử văn hoá tâm linh, lịch sử Văn hoá Nghệ thuật dân tộc: Cây Đa, Giếng Nước, Sân Đình
Biểu tượng văn hoá ấy đã đi vào hồn cốt dân tộc, là nơi trở về của những tâm hồn sau bao bước đi trên muôn nẻo đường đời, ở cuối mỗi chặng đường
dù thất bại hay thành công, viên mãn hay mệt mỏi, tiếc nuối, mỗi con người Việt Nam đều mang trong mình tâm thức hướng về cội nguồn, hướng về tổ tiên, hướng về mảnh đất quê hương, nơi chôn rau cắt rốn, nơi có sự yên bình
thanh thản của những Cây Đa, Bến Nước, Con Đò, của những mái Đình Làng Việt, nơi di dưỡng đời sống sức mạnh tinh thần, nơi con người có thể chiêm
nghiệm trong cõi tâm linh, nơi con người được sống trong men say hội hè đình đám, nơi con người Việt Nam có những ngày “phi trần thế” được đắm mình trong các tích trò, câu hát ngọt ngào mang tinh thần dân tộc
Đình Làng, một hình thức Nhà hát thủa ban đầu của Nghệ thuật Biểu diễn Việt Nam là một điểm hẹn văn hoá - một tính chất quan trọng mà chúng
ta không thể không tính đến trong đặc thù quản lý Nhà hát nói chung, quản lý Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật nói riêng
1.1.2.2 Từ Sân Đình bước vào Rạp hát đánh dấu tính chuyên nghiệp hoá Nghệ thuật Sân khấu Dân tộc Việt Nam
Lịch sử phát triển văn hoá văn nghệ không trực tiếp gắn chặt vào lịch sử kinh tế xã hội, nhưng những sự kiện mang tính bản lề, mang vận mệnh của một quốc gia dân tộc có tầm ảnh hưởng, tác động sâu sắc vào lịch sử phát triển văn hoá xã hội, nó mang tính chất bẻ ghi con tàu văn hoá nghệ thuật theo vận mệnh thăng trầm của đất nước, của dân tộc
Trang 28Cùng với sự thay đổi sâu sắc về chính trị, xã hội, nền Văn hoá Văn nghệ của chúng ta cũng có sự thay đổi lớn khi Thực dân Pháp kéo quân thôn tính thuộc địa hai lần vào năm 1873 và 1882
Nằm trong sự thay đổi tất yếu do bối cảnh xã hội chi phối, nền Nghệ thuật Sân khấu Dân tộc Việt Nam có sự thay đổi về hình thức trình diễn Chuyển biến
rõ rệt nhất lại liên quan trực tiếp tới vấn đề không gian biểu diễn - từ Nghệ thuật
Sân Đình, Sân khấu Dân tộc đã bước vào Rạp hát, đánh dấu sự chuyển biến từ
hình thức trò diễn dân gian sang hình thức biểu diễn chuyên nghiệp
Theo cuốn Về Nghệ thuật Chèo, tác giả Trần Việt Ngữ đã đưa ra những
thông tin có giá trị ý nghĩa lịch sử mang tính bản lề về sự thay đổi, về những bước phát triển của Sân khấu Dân tộc gắn với sự hình thành khái niệm Nhà hát trong Nghệ thuật Sân khấu Dân tộc:
- Năm 1890, Hoàng Cao Khải làm Kinh lược Bắc kỳ, có mang theo Đội tuồng giáo luyện từ Huế, trong nhiều lần diễn trước “ngài ngự”, ban đầu diễn “mua vui” cho Quan lại đầu sỏ và viên chức Pháp Nam trong Dinh, hoặc trong Ấp, sau sửa gian nhà ở Phố hàng Quạt thành Rạp hát, ra diễn bán vé lấy tiền
Rạp hát thị dân bấy giờ được hiểu là địa điểm biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật, có mái che, có tường vây quanh, do Tài chủ bỏ vốn xây dựng kinh doanh kiếm lời Thực ra, đấy chỉ là gian nhà khá rộng, đủ chứa bảy, tám chục khán giả, ánh sáng là hai chiếc đèn đĩa (hoặc đèn 3 dây), sàn diễn đắp đất, be gạch, cao hơn nền nhà dăm sáu tấc ta, trải chiếu, người xem vây quanh Có vài hàng ghế hay chõng tre giành cho người mua vé: 5, 7 xu, 1 hào; ngồi đất: 2,3 xu; đứng: 1 xu, xu rưỡi
- Khoảng 1906, 1907, Hà Nội có 2 rạp chủ yếu diễn Tuồng (đôi khi diễn
cả Chèo) là Lạc văn ca quán, thường gọi nôm na là Rạp Năm Chăn bên số
chẵn, cũng gọi là Rạp Thông Sáng Tiếp đó, nhiều tư thương theo nhau sửa
Trang 29Nhà Kho thành Rạp đứng ra thầu vé ăn lời Nhiều phường Chèo tỉnh ngoài
vào, còn thấy diễn ở Bãi Hàng Tre, Đình Hàng Khoai
- Khoảng 1905, một tư thương ở Hàng Bạc, thấy mấy chủ Năm Chăn, Thông Sáng cho thuê Rạp “phát tài”, thấy các phường Chèo vào diễn ở Hà Nội “ăn khách”, liền xuất vốn mua nhà, sửa thành Rạp, thuê mướn Nghệ nhân
lập Gánh kinh doanh, gọi là Gánh Chèo ông cả Vỵ Gánh này diễn mỗi tuần
ba tối (thứ Tư, thứ Bảy, Chủ Nhật); các tối khác cho thuê diễn Tuồng hoặc hội họp, cưới hỏi
- Năm 1908, mấy nhân sỹ hợp tác với số nhà buôn mua đất ở ngõ Sầm Công, xây Đồng Lạc Đài Rạp chứa hơn trăm khán giả, có sân khấu mô
phỏng theo cách làm ở trong Kinh Thông Sáng, nên mang nhiều dáng dấp
loại sân khấu hộp: Sàn diễn xây cao hơn nền nhà hàng chục lượt gạch đặt sát đầu hồi, nhóm nhạc công ngồi một bên, ông Thơ và người nghề sửa soạn ở một bên Bộ phận này ngăn cách khán trường bằng tấm màn đỏ (hoặc xanh), kéo lên khi bắt đầu đêm diễn
Khu khán giả gồm 2 dãy ghế dài có tựa, giành cho khách loại vé 7 xu hoặc 1 hào; 2 rẫy ghế băng chôn chân chắc xuống đất, giành cho loại vé 5 xu, 7 xu; 4 hoặc 5 rẫy ghế làm bằng 3 cây tre ghép lại, đóng cọc cột chặt, giành cho loại vé 5 xu, 3 xu Còn vé đứng thì người lớn 3 xu, 2 xu, trẻ em 1,5 xu, 1xu
Có Ban Quản Trị điều khiển mọi mặt, gồm Trưởng ban và các Uỷ viên, chia nhau mỗi người mỗi việc, lo xây Rạp, sắm đồ nghề, chiêu mộ nghệ nhân lập Ban Hát Lại định ra 3 tháng 1 lần họp Ban Quản Trị để tính toán lỗ lãi và bàn kế sách làm ăn Rạp Đồng lạc đài chỉ diễn chèo, mỗi tuần 4 tối (thứ Tư, thứ Năm, thứ Bảy và Chủ Nhật) Có cho các Phường Chèo bên ngoài vào thuê; hoặc theo cách: tiền bán vé trừ phí tổn giấy tờ, còn chia đôi, Rạp một nửa, Phường Hát một nửa
Ban Hát hình thành ngay khi Rạp xây xong, tụ hội nhiều Nghệ nhân trẻ tiếng tăm bấy giờ, như kép Phẩm, kép Thịnh, đào Lan, đào Mơ, lại lôi kéo
Trang 30được mấy vị từng là trụ cột bên gánh ông Cả Vỵ, như hề Quýnh, hề Đấu, lão Bất, nữ Hỗ
Sân khấu Đồng Lạc được đông đảo khách xem tán thưởng thời gian dài,
do Ban Hát có nhiều “canh tân”: lời trò, câu hát, khuôn diễn có trau tria cô gọn nên chừng mực và ý nhị hơn, trang phục đồ nghề đã mới lại đẹp và màu sắc hơn, tài năng người nghề được khuyến khích phát huy Quan trọng, là bên cạnh số vở đã diễn nhiều ở Hà Nội, nay có thêm một số tích ruột
Với những cứ liệu lịch sử trên, tác giả đi đến kết luận: Đồng Lạc là Rạp hát đầu tiên thuần diễn Chèo ở Hà Nội, cũng là Rạp hát đầu tiên đưa Chèo vào
Sân khấu hộp một cách chính quy ở Hà Nội, tất nhiên, trước đấy, nhiều Phường
đã làm quen việc diễn trong các Rạp Hàng Quạt, Hàng Gà, và thử thách mấy
năm ròng ở Rạp Hàng Bạc Song, sử dụng thuần thục và chững chạc dần, đúng
là Sân khấu hộp với “bức tường thứ tư” thì phải kể đến Sân khấu Đồng lạc Đồng lạc đông khách khoảng dăm bảy năm rồi lại rơi vào tình trạng giống bên rạp Hàng Bạc là vì thiếu tính mới, cho dẫu đã tích cực chuyển từ tích Tuồng và
đồ lại truyện cổ Về địa điểm diễn Chèo ở thành thị thì thời gian này, các Nghệ nhân còn nhắc đến Rạp Tám Gian, Rạp Nhà Bò ở Hải phòng, Rạp Hàng Thao,
Rạp Hàng Rượu ở Nam Định, Rạp Tiền An ở Bắc Ninh
Một lần nữa chúng ta thấy tính chất văn hoá nổi lên rất rõ nét, chi phối
sự phát triển của Nhà hát - Rạp hát Bởi hơn hết, sự hình thành, phát triển của các Nhà hát nằm trong tiến trình phát triển văn hoá văn nghệ sân khấu dân tộc Nói một cách khác, Nhà hát là các công trình văn hoá sinh ra để đáp ứng nhu cầu phát triển của Nghệ thuật Sân khấu (đánh dấu bước chuyển mình lên nền Sân khấu Chuyên nghiệp), đồng thời cũng là sự phát triển tất yếu - đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá văn nghệ ngày một cao của khán giả
Với sự ra đời và phát triển của Nhà hát - Rạp Đồng lạc- Nhà hát đầu tiên thuần diễn Chèo, Nhà hát đầu tiên đưa Chèo vào Sân khấu hộp một cách
Trang 31chính quy, đã cho chúng ta thấy rất rõ về nguồn gốc phát sinh phát triển cũng như tính chất hoạt động của một Nhà hát mang đặc thù văn hoá văn nghệ - sân khấu dân tộc
Từ đó, chúng ta có thể khẳng định: Nhà hát là một “thực thể” nghệ thuật với đời sống hoạt động phong phú Để quản lý một Nhà hát, trước hết cần có định hướng rõ về tính chất văn hoá nghệ thuật, mọi hoạt động của Nhà hát nằm trong quy luật phát triển của Nghệ thuật Biểu diễn, đồng thời sự tồn tại của Nhà hát mang tính “vận mệnh” - “dĩ thực vi thiên”- của người Nghệ sỹ
Biểu diễn nói riêng, mà “phiên nôm” ra là “có thực mới vực được đạo”
Nhà hát là môi trường để Nghệ thuật Sân khấu đến với công chúng, Nhà
hát là phần “cơm áo gạo tiền” vốn là chuyện “không đùa” với người Nghệ sỹ
Ngay từ những ngày đầu, với các loại vé 5xu, 7xu, vé hạng một, hạng hai, cho
đến hôm nay yếu tố kinh tế chính là một phần quan trọng của Nhà hát Cho đến giờ chúng ta đã xác định rất rõ về tính chất “kinh doanh” sản phẩm văn hoá nghệ thuật, một ngành kinh tế đặc thù trong lĩnh vực Quản lý Nhà hát
1.1.2.3 Sán Nhiên Đài, sự thành công của một trong các Nhà hát chuyên nghiệp đầu tiên trong nền Sân khấu Dân tộc
Khi tìm hiểu về tính chất, quy mô hoạt động trong lĩnh vực quản lý Nhà hát nói chung, quản lý Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật nói riêng, chúng tôi thiết nghĩ, không thể không nhắc tới “hiện tượng”
Sán Nhiên Đài, bởi đó là một bước đi đặc biệt chứng tỏ tài năng của các Nhà
Hoạch định, các Nhà Quản lý Nhà hát lúc bấy giờ
Những người Nghệ sỹ Dân tộc làm nên Sán Nhiên đài đã nắm bắt được
tính thời cuộc, nắm bắt được cơ hội, khai thác được thế mạnh về tài năngcủa người nghệ sỹ, phát huy truyền thống sân khấu dân tộc, có những hướng đi táo bạo nhưng đã thu được thành công vì cá tính, sáng tạo trong lĩnh vực tổ
chức biểu diễn, thu hút được đông đảo khán giả đương thời Và hơn hết, Sán
Trang 32Nhiên Đài đã vượt qua biên giới văn hoá nghệ thuật giải trí đơn thuần để bước
lên vũ đài tư tưởng chính trị, khẳng định tôn vinh giá trị bản sắc văn hoá nghệ thuật dân tộc trong bối cảnh thực dân đang thắt chặt và đầu độc người dân thuộc địa bằng văn hoá ngoại lai của mẫu quốc
Ta có thể khẳng định như vậy bởi một Nhà Báo Thực dân đã phải thốt lên: “Nếu ta nhận rằng, việc làm của chúng ta hơn 60 năm qua, đã tác động đến tinh thần, phong tục, tập quán của dân bảo hộ, in dấu trên mọi lĩnh vực, đặc biệt lĩnh vực tư tưởng, thì ta sẽ ngạc nhiên, khi thấy riêng Nghệ thuật Sân khấu ở đây thoát khỏi ảnh hưởng đó”[44, tr 400]
Với ý nghĩa lịch sử tư tưởng đó - Sán Nhiên Đài là một hiện tượng văn
hoá tự hào của Nghệ thuật Sân khấu Dân tộc, niềm tự hào gắn với lĩnh vực
quản lý Nhà hát Nghệ thuật Biểu diễn trong những ngày đầu hình thành hình thức Nhà hát ở Việt Nam
Nhà nghiên cứu (NNC) Chèo Trần Việt Ngữ trong cuốn sách Về Nghệ thuật Chèo, mà chúng ta đã nhắc tới ở phần trên đã giới thiệu những nét sơ
qua về bối cảnh xã hội và tính chất văn hoá đương thời đã tác động vào sự ra đời của một Nhà hát nổi tiếng, gắn với bước phát triển mới của Sân khấu Kịch
hát Dân tộc - Sán Nhiên Đài:
- Sang những năm thập kỷ X, cùng với một số công trình văn hoá khác, Nhà Hát Tây với kết cấu hiện đại, tiêu biểu cho loại Sân khấu hộp (về các mặt sàn diễn, phông hậu, cánh gà, màn tiền, rẫy đèn răm) ngăn cách với khu khán trường 3 tầng, nền lát đá hoa, dốc dần về phía cửa ra vào, thường kỳ công diễn các đêm kịch, ca múa, của mấy đoàn nghệ thuật Pháp, Anh, Nga, phục
vụ cho bọn thực dân, quan lại, và viên chức cấp cao giải trí
- Vào mấy năm 1912, 1913, lộ ra khát vọng lớn nhất của đông đảo dân chúng là Cải lương canh tân Thực dân muốn đẩy lùi ảnh hưởng của sỹ phu yêu nước ra khỏi lĩnh vực văn hoá công khai
Trang 33- Nhưng nhiều sỹ phu và số người có tinh thần dân tộc cũng khéo lợi dụng diễn đàn công khai mong phần nào “chấn chỉnh nhân tâm, bảo tồn quốc tuý”
Cuối năm 1913, một số kêu gọi hùn vốn lập Hội Sán Nhiên với mục đích “chấn
hưng nền hý kịch nước nhà cho tiến kịp văn minh thế giới [44, tr.399]
Ban đầu, Chèo Sán Nhiên hát ở rạp Hàng Buồm thuê của chủ người
Hoa: xây gạch lợp lá, chứa hơn 100 khán giả, sàn diễn bố trí tương tự như bên
Đồng lạc, với dàn nhạc ba bốn người ngồi mé dưới và 2 ngọn đèn 3 dây, thắp
dầu hoả treo đàng trước, chiếu sáng cả rạp suốt đêm diễn
Ban quản trị còn giao cho ba bốn vị nho học và ông Hội trưởng cùng bàn bạc, rà soát các bản trò đang diễn, sắp xếp ổn định các lớp lang, uốn nắn chỉnh lý số câu cú vần luật mà người nghề vì dốt chữ nhớ nhầm, hiểu sai, đồng thời bổ sung nhiều đoạn văn thơ có thêm giá trị ý nghĩa
Hội Sán Nhiên vừa tiến hành mọi việc thuận lợi thì bùng nổ Thế Chiến
thứ nhất Cùng lúc, một nhóm Quan lại, Viên chức, Nhà buôn đứng ra gọi cổ
phần lập Công ty Quảng lạc cũng nêu chiêu bài “chấn hưng Hý kịch nước nhà”, cử người điều đình với chủ người Hoa mua đứt rạp Hàng Buồm, buộc ban Chèo Sán Nhiên rời sang địa điểm khác Hội Sán Nhiên phải tạm diễn ở
Nhạc Hội Bờ Hồ, tìm mua đất xây cất rạp riêng Hơn một năm, ban hát Sán Nhiên mỗi tuần chỉ hát 3 ngày, cốt kiếm lương ăn cho nhà nghề, còn nhóm phụ trách vẫn ghi chép chỉnh lý ẩn bản trò, hướng dẫn Nghệ nhân học thuộc
lời, trau dồi kỹ năng Ban Sán Nhiên tuy lực lượng mạnh song hoạt động cầm
chừng, vì không có Rạp riêng
Cuối năm Bính Thìn Hội Sán Nhiên xây xong Sán Nhiên Đài, vừa là trụ
sở, vừa là Rạp hát, và đầu năm 1917 đúng dịp Tết Đinh Tỵ thì khai trương Đây là Rạp Chèo đầu tiên xây dựng quy mô, “bắt chước” cách bố trí nội thất của Nhà Hát Tây, theo cung cách của Sân khấu hộp, có tổ chức làm ăn nề nếp, đánh dấu bước chuyển mới của Chèo Hà Nội
Trang 34Sán Nhiên Đài quay mặt ra ngõ Mã Mây (thời gian sau đổi thành phố
Đào Duy Từ) là toà nhà cao 5 mét trên diện tích 12m x 25m), có sàn diễn bằng gỗ ván cao 1,2m, ngang 8m x 4,5m, sâu 2,5m, mé phải là chỗ cho dàn nhạc, mé trái để nghệ nhân đứng chờ ra vai; sâu vào trong là buồng trò thấp
và chật, lủng củng những cột kèo, chứa cất mũ mãng đồ nghề và cũng là chỗ nghệ nhân chuẩn bị Sàn diễn bằng gỗ: ngang 6m, sâu 2m, cao 3,5m và gầm sàn cao 1,2m, cách hàng ghế khách xem đầu tiên 1,5m
Khán trường gồm 3 khu, mặt nền lát gạch chênh nhau mỗi khu chừng 30cm xuôi xuống sân khấu Khu cuối cao hơn cả, đặt 12 hàng ghế lim dài có tựa, chia 2 rẫy, mỗi bên 6 chỗ, buộc chắc vào nhau, giành cho vé hạng Ba Tiếp lên là 8 hàng ghế mây có tựa, chia 2 rẫy, cũng buộc chắc không xê dịch được, giành cho vé hạng Hai Khu tiếp cận sân khấu giành cho vé hạng Nhất
gồm 6 hàng ghế mây có tựa, chia 2 rẫy, mỗi bên đặt 5 ghế rời Hành lang này
bằng gỗ chỉ kéo dài tới nửa chừng khu vé hạng nhất Hành lang dưới nhà và phía cuối là chỗ cho những người mua vé đứng Bình thường, rạp chứa khoảng 400 chỗ; những hôm diễn vở mới hoặc vở hay, vé đứng bán ra nhiều thì con số lên nữa Từ đấy hình thành dần “bức tường thứ tư” vô hình và vô tình ngăn cách người xem và nghệ nhân biểu diễn, mất dần sự giao lưu giữa
họ qua những tiếng trống chầu, trống khẩu và trống đế
Ban Chèo Sán Nhiên đài sớm gây được thiện cảm với đông đảo khán
giả, do bản trò phần nhiều đều qua chỉnh biên nhuận sắc của mấy nhà Nho giáo, lại diễn ở Rạp Nhà khang trang lịch sự, y trang đạo cụ toàn mới với dàn Nghệ nhân giỏi giang [45]
- Nhờ chuẩn bị kỹ sân khấu Sán Nhiên công diễn suốt các tối trong tuần;
chủ nhật, ngày lễ còn thêm suất ban ngày; mà dòng dã cả tháng, vẫn chưa phải diễn lại vở nào lần thứ 2, ngoại trừ số vở do khán giả yêu cầu xem lại thêm Nghệ nhân nhờ thuộc lời (có người thuộc cả mảng cả tích), nên trình độ
Trang 35hiểu biết gia tăng, nghề nghiệp tiến bộ Cả ban hát phấn hưng làm nghề Hàng mấy chục vở diễn ra đời, gồm đủ loại đề tài, thể tài, mang đủ màu sắc, hình
vẽ, song tất cả đều là các cuộc vui có nhân nghĩa, có đạo đức, có thuỷ chung
[45, tr 404]
Với thành công trên, thì có thể nói, cho đến hôm nay, sau bao năm tháng
đi cùng sự thay đổi của xã hội, thì bất cứ Nhà hát nghệ thuật sân khấu nào
cũng mơ ước có được thành công như Sán nhiên Đài
Tìm hiểu những bước thăng trầm của Sán Nhiên Đài với tinh thần tự hào
về nền nghệ thuật biểu diễn dân tộc, song cũng là để thấy “cội nguồn” – “bản
chất” của các khái niệm: kinh doanh văn hoá nghệ thuật, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, xây dựng quy mô Nhà hát biểu diễn, xây dựng phong cách nghệ thuật của
một Nhà hát, tính văn hoá trong hoạt động biểu diễn của Nhà hát, các khái niệm
trong quản lý hoạt động Nhà hát đã hình thành và phát triển song song với sự hình thành và phát triển của Nghệ thuật Biểu diễn Sân khấu Dân tộc
1.2 Đặc điểm và vai trò của Nhà hát thực nghiệm trong trường Văn hoá Nghệ thuật
Nhà hát, không gian biểu diễn nghệ thuật sân khấu; Nhà hát, nơi khán giả đến để thưởng thức nghệ thuật; Nhà hát, nơi thử tài của các Nhà Quản lý với những chiến lược hợp lý để thu hút nghệ sỹ và khán giả đến với mình…Mối liên quan mật thiết trong một vòng khép kín của nghệ thuật sân khấu ấy được tạo nên bởi vô vàn những điều kiện cần - đủ, cung - cầu…của một “thị trường” đặc thù, đặc biệt - thị trường “Văn hoá Nghệ thuật”
Biến đổi cùng với sự tiến bộ của xã hội, Nhà hát có những thích nghi, thích ứng để đáp ứng nhu cầu phát triển của nghệ thuật Khi các trường Văn hoá Nghệ thuật ra đời để đào tạo các lớp Nghệ sỹ có đủ điều kiện tài năng để hoạt động văn hoá nghệ thuật, thì Nhà hát đã xuất hiện trong Nhà trường với
tư cách là một phần không thể thiếu, một điều kiện, một môi trường để Sinh viên Nghệ thuật thực hành các bài học, để Sinh viên Nghệ thuật biểu diễn các
Trang 36bài thi, để có chỗ cho các Nghệ sỹ trẻ tương lai thể hiện mình trong các cuộc giao lưu thuộc môi trường sư phạm nghệ thuật
Và, Nhà hát trong môi trường sư phạm nghệ thuật với tính chất thực hành (được tính đến hàng đầu) có tên là Nhà hát thực nghiệm (có một số trường gọi
là Nhà hát thực hành nghệ thuật biểu diễn, Nhà hát thể nghiệm, Nhà hát Sinh viên, Trung tâm bồi dưỡng và ứng dụng Nghệ thuật…) song song với sự tồn tại của nhà trường, là nơi các Sinh viên Nghệ thuật (những Nghệ sĩ tương lai) được thể hiện tài năng của mình trước số đông khán giả với một Sân khấu có
đủ các trang thiết bị, kỹ thuật cần thiết cho một buổi biểu diễn như: âm thanh, ánh sáng… Một tác phẩm của Sinh viên chỉ được đánh giá một cách đầy đủ và chính xác về chất lượng khi nó được thực hiện ở những nơi có điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật tốt như tại Nhà hát thực nghiệm
Với sự biến đổi để thích nghi để tạo sự hợp lý, đồng bộ trong mội trường
sư phạm nghệ thuật, Nhà hát thực nghiệm có những đặc điểm riêng, những vai trò cụ thể trong khối tổng thể đúc liền – các trường Văn hoá Nghệ thuật
1.2.1 Đặc điểm Nhà hát thực nghiệm thuộc các trường Văn hoá Nghệ thuật
1.2.1.1 Về cơ cấu tổ chức
Để đảm bảo sự hoạt động của Nhà hát thực nghiệm trong môi trường sư phạm nghệ thuật, đương nhiên Nhà hát thực nghiệm cũng giống như một Nhà
hát, cần có ban điều hành (thời rạp Quảng Lạc hay Sán Nhiên Đài gọi là Ban
Quản trị), dù ở tên gọi nào thì Ban Điều hành được thành lập với mục đích đảm bảo cho Nhà hát, Nhà hát thực nghiệm hoạt động được và hoạt động có hiệu quả
Từ các bài học lịch sử ta tìm hiểu ở phần trên đã cho thấy, người đứng đầu – Giám đốc Nhà hát thực nghiệm và Ban điều hành cần phải là những người hiểu sâu sắc về nghề Sân khấu, với những trăn trở suy tư về sự tồn tại,
về hướng đi, về phong cách nghệ thuật của Nhà hát mình…
Trang 37Nhà hát thực nghiệm không đơn thuần là không gian để học sinh, sinh viên thực tập, thi thố, mà Nhà hát thực nghiệm cũng đóng vai trò tạo nên hứng khởi, kích thích tư duy sáng tạo của những nghệ sỹ tương lai bằng sự chuẩn bị tốt một môi trường thực hành cho Sinh viên cả về chất và lượng Sinh viên, đặc biệt là Sinh viên Nghệ thuật, khi bước chân vào Nhà hát thực nghiệm, khi lên sàn diễn luyện tập các bài học, các vai diễn, sự an tâm vì đây là sân khấu - là sàn diễn của mình (Nhà hát của Nhà trường) chính là một phần động lực thúc đẩy tính tự chủ, hạt nhân của sự luyện rèn bản lĩnh làm chủ vai diễn, làm chủ sàn diễn, làm chủ không gian biểu diễn của người diễn viên Cạnh đó, một môi trường Nhà hát văn minh, hiện đại, đầy đủ về các trang thiết bị âm thanh ánh sáng cũng góp phần tạo đà cho những tư duy sáng tạo nghệ thuật phát triển
Một Nhà hát thực nghiệm, nơi có Ban Điều hành là những người hiểu nghề, yêu nghề, những thầy cô tâm huyết với nghề biểu diễn sẽ là mái ấm nghệ thuật tốt nhất để di dưỡng, phát triển những tài năng nghệ thuật
Chưa kể đến những sáng tạo trong quản lý, tổ chức Nhà hát, những năng động nhạy bén của Ban Điều hành sẽ biến Nhà hát thực nghiệm thành môi trường nghệ thuật chuyên nghiệp, sẽ tạo niềm tin và sự hứng khởi sáng tạo nghệ thuật đối với Sinh viên Nghệ thuật
Như vậy, có thể thấy rằng, tuỳ vào từng quy mô, định hướng phát triển của mỗi nhà trường mà quy mô tổ chức của Nhà hát thực nghiệm để đáp ứng nhân lực cho phù hợp Vấn đề đặt ra là nằm trong định hướng của Nhà trường, đáp ứng đầy đủ và gắn bó chặt chẽ, khoa học với các học trình, bài giảng về nghệ thuật biểu diễn sân khấu với đầy đủ các chuyên ngành (diễn viên, đạo diễn, tác giả, mỹ thuật, âm nhạc, kỹ thuật âm thanh ánh sáng…), đồng thời Nhà hát thực nghiệm không thụ động như một bộ máy mà cần có
Trang 38một đời sống riêng, đời sống nghệ thuật trong môi trường sư phạm văn hoá nghệ thuật
Giám đốc Nhà hát thực nghiệm và Ban Điều hành vừa là các Nhà Sư phạm Nghệ thuật, vừa là các Nhà Quản lý, hoạch định hướng phát triển của Nhà hát sao cho phù hợp với môi trường sư phạm mà vẫn không mất đi sự năng động, sáng tạo, tươi mới sinh động, vốn là đặc tính của bất kỳ hình thức nghệ thuật nào nói chung, nghệ thuật biểu diễn sân khấu nói riêng
1.2.1.2 Về cơ sở vật chất
Nhà hát thực nghiệm là một Nhà hát, nên nó đảm bảo đầy đủ tính chất và các trang thiết bị cần thiết của một Nhà hát Đương nhiên, để đảm bảo điều kiện tốt nhất để Nhà hát thực nghiệm hoạt động, sinh viên có môi trường thuận lợi để thực hành, để sáng tạo, thì cơ sở vật chất cũng phải có sự vận động, bắt kịp với các công nghệ hiện đại, tiên tiến mà xã hội đã và đang phát triển không ngừng, để đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao, ngày càng khắt khe của công chúng
Hơn ở đâu hết, Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật luôn cần cập nhật thông tin, cần được trang bị các thiết bị hiện đại, tiên tiến để sinh viên, học sinh được tiếp cận, học tập với cơ sở vật chất đã theo kịp với đáp ứng của thời đại Sinh viên Nghệ thuật, các Nghệ sỹ tương lai không thể mang theo mình một hành trang là các bài học gắn liền với cơ sở thực hành cũ kỹ, lạc hậu…Họ không thể có đủ tự tin để phát huy khả năng sáng tạo nghệ thuật ở mức tối đa khi chúng ta không chuẩn bị cho họ một cách tốt nhất về điều kiện cơ sở vật chất mà họ đáng được thụ hưởng Chúng
ta không nên đưa tới cho xã hội và môi trường nghệ thuật đương thời những Nghệ sỹ với bầu sáng tạo nhiệt huyết nhưng lại “ngơ ngác” lạ lẫm trước môi trường hoạt động nghệ thuật thực tế đã tiếp xa so với những gì họ được thực hành luyện tập ở trong Nhà Trường
Trang 391.2.1.3 Nguồn nhân lực
Nhà hát thực nghiệm luôn là một phần không thể thiếu của môi trường sư phạm nghệ thuật, vậy nên vấn đề đặt ra là cần có những chuyên ngành đào tạo đội ngũ quản lý Nhà hát thực nghiệm Đào tạo nghệ thuật là đào tạo chuyên sâu chuyên ngành, song song với sự đào tạo tổng thể các chuyên ngành của
bộ môn nghệ thuật tổng hợp và quản lý Nhà hát, quản lý Nhà hát thực nghiệm cũng là một chuyên ngành của nghệ thuật
Nguồn nhân lực về Quản lý Nghệ thuật có thể cơ hữu từ các nhân lực tham gia vào hoạt động nghệ thuật, đã có kinh nghiệm trong môi trường nghệ thuật và khả năng tư duy cũng như sự tâm huyết với sự phát triển, tồn tại của nghệ thuật trong sự vận động không ngừng của văn hoá xã hội
Hoặc cũng có thể từ những sự đào tạo bài bản, chuyên sâu, trang bị đầy
đủ kiến thức chuyên ngành về nghệ thuật học, kinh tế học, kinh tế nghệ thuật học (ngành kinh tế đặc thù), những bài học về quản lý Văn hoá Nghệ thuật, quản lý Nhà hát thực nghiệm trong môi trường sư phạm nghệ thuật
Chúng ta có những Nhà hát thực nghiệm để đáp ứng nhu cầu sư phạm nghệ thuật, thì chúng ta cũng cần có và cần cung cấp nguồn nhân lực để đáp ứng cho lĩnh vực quản lý Nhà hát thực nghiệm có thể tồn tại và phát triển Không ai khác, mà chính chúng ta, những người trong môi trường sư phạm nghệ thuật, đang hưởng thụ sự “phục vụ” từ phía Nhà hát thực nghiệm cần có
sự chuẩn bị và đáp ứng nguồn nhân lực cho lĩnh vực quản lý Nhà hát, quản lý
Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật
Trang 40những chính sách của Nhà nước, Ban ngành, Nhà trường với tính chất định hướng phát triển
Vai trò cá nhân sẽ phát huy và được huy động trong những sáng tạo đột phá trong quá trình thực tiễn, song một cơ chế hoạt động rõ ràng từ Nhà nước,
từ Ngành, Nhà trường là hết sức quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của Nhà hát thực nghiệm trong môi trường sự phạm văn hoá nghệ thuật
Để có động lực thúc đẩy sự phát triển, chúng ta cần tính đến tính chất
“trọng tài” trong mỗi cuộc chơi, người cầm còi – đại diện cho luật chơi vừa
đảm bảo sự cân bằng tối thiểu để cho cuộc chơi diễn ra từ đầu đến cuối, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy, kích thích sự về đích và chiến thắng của người trong cuộc bằng tính nghiêm minh, khoa học của luật chơi mà trọng tài là người đại diện
Ở đây, những pháp chế, quy định mang tính hoạch định công tác quản lý
sẽ là nền tảng để các nhà quản lý Nhà hát thực nghiệm hoạt động, cũng là động lực thúc đẩy họ chèo lái con thuyền Nhà hát thực nghiệm đi đến những đích thành công nhất, tốt nhất, đóng góp vào các thành công của công tác sư phạm văn hoá nghệ thuật - là đóng góp cho xã hội nguồn lực nghệ sỹ chuyên ngành Văn hoá Nghệ thuật cho môi trường Văn hoá Nghệ thuật xã hội đương thời
1.2.2 Vai trò của Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật
Những đặc điểm riêng biệt của Nhà hát thực nghiệm trong các trường Văn hoá Nghệ thuật được hình thành từ vai trò của Nhà hát trong môi trường
sư phạm Văn hoá Nghệ thuật Vai trò của Nhà hát không chỉ dừng lại ở các hoạt động cụ thể đáp ứng môi trường thực hành của Sinh viên Nghệ thuật, mà khi nó thuộc về môi trường sư phạm nghệ thuật, thì vai trò của nó mang ý nghĩa nội hàm của công tác sư phạm nghệ thuật, đó là các vai trò:
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh, sinh viên