THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM.THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM.THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM.THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM.THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện
chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân
với sự
hướng dẫn tận tình của TS Hoàng Thế Anh, người hướng dẫn khoa học Các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Quảng Nam, ngày tháng năm 2021
Tác giả luận văn
Trương Thị Tường Vy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách
công với đề tài “Thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp
đỡ, động viên của nhiều tập thể và cá nhân Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâusắc nhất tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trìnhhọc tập và nghiên cứu
Lời đầu tiên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Thế Anh là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáo,
đầy trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo ở Học viện khoa học xãhội đã tận tình truyền đạt các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của lãnh đạo Làng HòaBình Quảng Nam đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quátrình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Với vốn kiến thức, kinh nghiệm và khả năng còn hạn chế, chắc chắnluận văn còn nhiều thiếu sót Kính mong Hội đồng khoa học, các thầy cô giáo
và các bạn đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện
Xin trân trọng cảm ơn!
Quảng Nam, tháng 4 năm 2021
Học viên
Trương Thị Tường Vy
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 15
1.1. Các khái niệm cơ bản và vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật 15
1.2. Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 20
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách đối với người khuyết tật 26
1.4. Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương về thực hiện chính sách đối với người khuyết tật 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 36
2.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng ngườikhuyết tật tại tỉnh Quảng Nam 36
2.2. Tình hình thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 44
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật tại tỉnh Quảng Nam 53
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 59
3.1. Quan điểm, định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BTXHđối với NKT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 59
Trang 43.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BTXH đối với NKT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 62
3.3. Đề xuất, kiến nghị 70
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
3 CRPD Liên hợp quốc về người khuyết tật
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Bảng thống kê NKT chia theo dạng tật trên địa bàn tỉnh
2.2 Bảng thống kê NKT chia theo mức độ khuyết tật trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018 – 2020 43
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Thực trạng kinh tế, xã hội Quảng Nam so với 14 tỉnh,
Trang 7MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo kết quả Điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam doTổng cục Thống kê và UNICEF công bố, hiện nay Việt Nam có khoảng hơn6,2 triệu người khuyết tật; gần 12 triệu người (khoảng 13% dân số) sốngchung trong gia đình có người khuyết tật Đa số người khuyết tật ở Việt Namthuộc hộ nghèo, chưa bao giờ đi học hoặc không có bằng cấp và trong độ tuổilao động, sống ở nông thôn Công việc chính của họ là phụ giúp gia đình làmnông, lâm, ngư nghiệp; công việc không ổn định và thu nhập thấp Đây lànhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội, do đó, cần có nhiềugiải pháp, chính sách để trợ giúp, đáp ứng nhu cầu học tập, lao động củangười khuyết tật, góp phần bảo đảm an sinh xã hội
Việt Nam đã hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dụchòa nhập ở 20 tỉnh, thành phố, trong đó có 18 trung tâm cấp tỉnh và cấphuyện, 7 trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, 97 cơ sở giáo dục chuyên biệt Sốlượng học sinh khuyết tật được đến trường trong giai đoạn 2012-2020 đã tăngkhoảng 10 lần so với giai đoạn 2000-2010 Chất lượng học tập của trẻ khuyếttật được nâng cao, trên 45,8% trẻ khuyết tật được xếp loại học lực trung bìnhtrở lên Đến nay đã có 282.000 người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề vàtạo việc làm, trong đó có 210.000 người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề;50.0 người khuyết tật được tư vấn, giới thiệu việc làm; 22.000 người đượcvay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm
Đồng thời, các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chức năng đã gópphần tạo việc làm, hỗ trợ sinh kế cho hàng nghìn người dạy nghề Trong đóhơn 3.350 giáo viên đã tham gia dạy nghề cho người khuyết tật ở hàng trăm
Trang 8cơ sở, mỗi năm hỗ trợ đào tạo nghề cho khoảng 20.000 người khuyết tật theo
Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn Theo kế hoạch trong năm 2021 vàgiai đoạn 2021-2025 sẽ có 90% người khuyết tật gặp hoàn cảnh khó khănđược trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng kịp thời Đó là những kếtquả đáng ghi nhận, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, nhữngquyết tâm và sự nỗ lực của các cấp chính quyền trong thực hiện chính sáchbảo trợ xã hội, đào tạo nghề, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các đối tượngngười khuyết tật được tiếp cận với cuộc sống cộng đồng, tiếp cận với cácdịch vụ văn hóa, y tế, thể thao, đời sống mới, hiện đại trong giai đoạn hiệnnay
Trong những năm qua công tác quản lý nhà nước và thực hiện chínhsách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đãđạt được những kết quả nhất định, các cấp chính quyền đã tạo điều kiện thuậnlợi cho các cơ quan chức năng phối hợp với các tổ chức, đoàn thể thực hiệntốt nhiệm vụ được giao, các địa phương đã có nhiều chính sách quan tâm, tạođiều kiện cho người khuyết tật được hưởng các chế độ, chính sách bảo trợ xãhội, giúp họ hòa nhập cuộc sống Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thựchiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật còn gặp nhiều khókhăn nhất định, việc quản lý, triển khai thực hiện chính sách ở các địaphương chưa được đồng bộ, tác động đến thực hiện chính sách bảo trợ xã hội.Thực tiễn cho thấy, nhiều người khuyết tật còn gặp khó khăn trong việc tiếpcận giao thông, đi lại tại những vùng khó khăn, vùng nông thôn; các hệ thốnggiao thông đô thị, các công trình xây dựng chưa được quan tâm đúng mứctheo tiêu chuẩn dành riêng cho người khuyết tật; người khuyết tật chưa thực
sự được tiếp cận với các hoạt động văn hóa, giải trí, thể dục thể thao ở cơ sở.Một số địa phương triển khai thực hiện các Đề án trợ giúp người khuyết tật
Trang 9(NKT), Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần,người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng còn nhiều bất cập, kinh phí thựchiện còn hạn chế.
Trên cơ sở những kiến thức đã được học tập tại Học viện và thực tiễnđảm nhận nhiệm vụ công tác tại Làng Hòa Bình Quảng Nam thường xuyêntiếp xúc với những trẻ em mô côi, người khuyết tật và các đối tượng chínhsách nên đã khái quát được quá trình thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh,
xuất phát từ lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm Luận
văn tốt nghiệp chuyên ngành Chính sách công
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu và vấn đề chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu Đặc biệt trong
đó có nhiều Luận văn Thạc sĩ và những bài viết dưới đây đã đề cập đến các khía cạnh của chính sách xã hội đối với người khuyết tật, tuy nhiên chưa có nghiên cứu một cách hệ thống về thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối vớingười khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 10hội thường xuyên đối với người khuyết tật trên địa bàn huyện Lương Tài,tỉnh Bắc Ninh.
Nguyễn Thị Thúy Nga (2015), Hoàn thiện công tác trợ giúp xã hội đốivới người khuyết tật ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc
sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về công tác trợgiúp xã hội (TGXH) đối với NKT, đánh giá thực trạng công tác TGXH đốivới NKT trên địa bàn quận Thanh Khê trong thời gian qua Đồng thời đề xuấtmột số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công tác TGXH đối với NKTtrong thời gian tới
Nguyễn Thị Thu Nhàn (2016), Hoạt động thực hiện chính sách xã hội đối với người khuyết tật tại cộng đồng, Luận văn Thạc sỹ xã hội học, Trường
Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Luận vănnghiên cứu hoạt động và hiệu quả thực hiện chính sách xã hội đối với ngườikhuyết tật tại cộng đồng trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố HàNội, đánh giá những tồn tại, hạn chế Qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằmnâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách xã hội đối với người khuyết tậttại cộng đồng
Nguyễn Ngọc Hà (2016), Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia.Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật từgóc độ lý luận; Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách đối với TEKT
ở Việt Nam từ đó chỉ ra những nguyên nhân trong quá trình thực hiện chínhsách Đồng thời đề xuất giải pháp và hoàn thiện quy trình thực hiện chínhsách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2026
Phạm Thị Trang (2016), Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn xây dựng cơ sở lý luận về
Trang 11pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận đểđánh giá về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiệntrên địa bàn thành phố Hà Nội Qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiệnpháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật nhằm đáp ứng được yêucầu thực tiễn về vấn đề bảo vệ, hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của ngườikhuyết tật.
Nguyễn Thị Thế Vy (2017), Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Bình Định, Luận văn Thạc sỹ công tác
xã hội, Học viện khoa học xã hội Luận văn nghiên cứu hệ thống chính sáchhiện có và thực trạng về thực hiện chính sách công tác xã hội (CTXH) đối vớingười khuyết tại tỉnh Bình Định, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tăng cườngthực hiện chính sách CTXH đối với NKT nói chung và tại tỉnh Bình Định nóiriêng trong thời gian đến
Lương Lệ Chi (2017), Công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật tại thành phố Bắc Ninh, Luận văn Thạc sỹ công tác xã hội,
Trường Đại học lao động và xã hội Luận văn tổng hợp cơ sở lý luận vềCTXH trong hỗ trợ sinh kế cho NKT; đánh giá thực trạng, nhu cầu hỗ trợsinh kế của NKT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, thực trạng CTXH trong
hỗ trợ sinh kế (kết quả, hạn chế, nguyên nhân) đối với NKT trên địa bànthành phố Bắc Ninh Đề xuất giáp pháp tăng cường hoạt động CTXH về quanđiểm tiếp cận, quy trình, phương pháp, nội dung, điều kiện bảo đảm, chínhsách… trong hỗ trợ sinh kế đối với NKT
Nguyễn Thị Hoa (2018), Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với trẻ
em khuyết tật trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc
sỹ quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia Luận văn tập trung nghiêncứu cơ sở lý luận chính sách và thực hiện các chính sách trợ bảo trợ xã hội(BTXH) đối với trẻ em khuyết tật (TEKT), đánh giá hoạt động thực hiện các
Trang 12chính sách BTXH đối với TEKT trên địa bàn Quận Đống Đa, đồng thời đềxuất những giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách bảo trợ xã hộiđối với TEKT trên địa bàn quận Đống Đa giai đoạn 2018 – 2020.
Nguyễn Thanh Hoài (2019), Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Luật
học, Trường Đại học Luật, Đại học Huế Luận văn nghiên cứu một cách có
hệ thống các vấn đề lý luận để làm rõ bản chất của các quan hệ pháp lý vềbảo trợ xã hội đối với người khuyết tật theo pháp luật, qua thực tiễn tại tỉnhQuảng Bình nhằm đưa ra những đánh giá có cơ sở khoa học về thực trạngpháp luật và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về bảo trợ xã hội đốivới người khuyết tật Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật theo pháp luật ởnước ta hiện nay
Lê Thị Bích Quy (2020), Thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn Thạc sỹ quản lý công, Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội Luận văn hệ thống hóa vấn đề lý luận thực sách người khuyếttật; đánh giá thực trạng thực sách người khuyết tật địa bàn tỉnh Lâm Đồng và
đề xuất giải pháp hoàn thiện thực sách người khuyết tật tại địa phương
Nguyễn Thị Ánh (2021), Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ
công tác xã hội, Trường Đại học lao động xã hội Luận văn hệ thống hóa cơ
sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT; Phân tích,làm rõ thực trạng việc làm của phụ nữ khuyết tật và đề xuất các giải phápphát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT tạihuyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Một số bài viết
Trang 13Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam (2012), đề tàinghiên cứu “Mô hình hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại cộng đồng” đãnghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn trong nước và quốc tế có liên quan đếnNKT, bảo trợ xã hội đối với NKT và hỗ trợ sinh kế cho NKT Nghiên cứunày, đã tổng hợp đánh giá mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT ở nước ta giaiđoạn 2008 - 2010 Từ kết quả đánh giá thực tiễn, nghiên cứu này đã xây dựng
và đề xuất mô hình phù hợp trong giai đoạn tới Nghiên cứu đề xuất quanđiểm, định hướng về công tác hỗ trợ cho NKT giai đoạn 2011 - 2020 vànghiên cứu, xây dựng mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT Trong đó đã đề xuấtgiải pháp để thực hiện quyền, cũng như hỗ trợ NKT hòa nhập vào cộng đồng,
xã hội, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và thực hiện nhiềugiải pháp trợ giúp người khuyết tật Trong quá trình thực hiện chính sách,giải pháp hỗ trợ đã xuất hiện nhiều mô hình, cách làm hiệu quả thiết thực cầnđược tổng kết đánh giá để nhân rộng
Tạp chí lao động và xã hội online (2016), Những khó khăn trong việc thực hiện chính sách trợ giúp người khuyết tật và một số đề xuất, Cổng thông
tin điện tử Tạp chí lao động và xã hội online http://laodongxahoi.net/, cậpnhật ngày 17/08/2016 Bài viết đã đánh giá, trong thời gian qua, việc thựchiện chính sách pháp luật về NKT đã tạo ra những chuyển biến tích cực đốivới cuộc sống của đối tượng Sự thay đổi về nhận thức xã hội giúp cho NKT
tự tin hơn, hòa nhập vào đời sống xã hội ngày càng thuận lợi Với vai trò chủđạo của Nhà nước, hoạt động trợ giúp NKT đã thu hút sự quan tâm, phát huytrách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, từngbước giảm dần những rào cản, cải thiện một bước việc đáp ứng các nhu cầu,quyền lợi của NKT, tạo động lực để họ phát huy năng lực, vươn lên hòa nhậpvới xã hội Đồng thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu banhành một số luật liên quan đến NKT như: Luật Trợ giúp xã hội, Luật Sức
Trang 14khỏe tâm thần; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Công ước quốc tế vềquyền của NKT Rà soát sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách về dạy nghề,tạo việc làm ; đối với các địa phương cần tăng cường thực hiện quản lý Nhànước về công tác NKT, cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp về công tác NKTvào chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ban hành cácchính sách cụ thể tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham giacác hoạt động trợ giúp NKT
Nguyễn Đức Minh (2017), “Chính sách giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật Việt Nam” Bài viết khẳng định Đảng và Nhà nước đã tạo sự bình đẳng
cho trẻ em khuyết tật Việt Nam cơ hội tiếp cận với giáo dục hòa nhập, nhưngtrên thực tế tỷ lệ trẻ tiếp cận với lĩnh vực này còn rất hạn chế, đó là do nhữngquy định trong luật người khuyết tật chưa sát với thực tiễn, chính sách chưa
cụ thể, việc xác nhận là người khuyết tật thường được kiểm tra bằng y tế,chưa sử dụng các hình thức kiểm tra tâm lý do đó nhiều trẻ em là trẻ khuyếttật chưa được xác định đúng về mức độ khuyết tật của mình
Thụy Bình (2017), “Về vấn đề gia tăng và một số giải pháp giảm thiểu
sự gia tăng người khuyết tật”, Tạp chí người khuyết tật Bài báo đề cập giải
pháp giảm thiểu sự gia tăng người khuyết tật và trẻ em khuyết tật
Thu Hà (2018), Chính sách đối với giáo dục người khuyết tật, Trang
thông tin điện tử Nhân dân Online https://www.qdnd.vn/, cập nhật ngày30/3/2018 Bài viết đã khái quát những vấn đề được các đại biểu đề cập đếntrong Hội thảo Đối thoại chính sách về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật do
Bộ GD-ĐT phối hợp với tổ chức UNICEF tại Hà Nội Hội thảo trao đổi vềthực trạng, những thách thức và các chính sách hỗ trợ giáo dục TKT trong cơ
sở giáo dục, từ đó đề xuất kế hoạch hỗ trợ các hoạt động giáo dục NKT trongthời gian tới Đồng thời đề cập đến hàng loạt các nhiệm vụ, chính sách nhằmkhắc phục những khó khăn, bất cập về: Môi trường học tập, sinh hoạt của
Trang 15TKT; sự tham gia, hợp tác liên ngành; kinh phí thực hiện công tác giáo dụcTKT và đề ra mục tiêu đến năm 2020.
Đào Ngọc Dung (2019), Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi, người khuyết tật: Chính sách đã có, phải thực thi cho nghiêm, Cổng thông tin điện
tử Bộ lao động, thương binh và xã hội http://www.molisa.gov.vn/, cập nhậtngày 06/8/2019 Bài viết khẳng định chính sách pháp luật trợ giúp người caotuổi (NCT), NKT tương đối toàn diện; Thời gian vừa qua, Bộ LĐ-TBXH đãphối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan, các tỉnh, thành phố thực hiệnchính sách, pháp luật về trợ giúp xã hội đối với NCT, NKT Bộ đã chủ trì,phối hợp với các bộ, ngành soạn thảo, trình Quốc hội bổ sung nội dung liênquan trong các Bộ luật và 16 Luật liên quan; Chính phủ ban hành 40 Nghịđịnh, Nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ ban hành 26 Quyết định; Bộ LĐ-TBXH, các bộ, ngành đã ban hành 61 Thông tư, Thông tư liên tịch có liênquan về trợ giúp xã hội cho NCT, NKT Các văn bản trên đã quy định chi tiết
về chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khỏe; chăm sóc đời sống văn hóatinh thần đối với NCT, NKT Bài viết cũng đánh giá, chính sách có nhưngchúng ta làm chưa tốt nên chưa khuyến khích được doanh nghiệp tham giavào lĩnh vực này; Nhà nước có trách nhiệm phải chăm lo cho họ và khuyếnkhích họ tham gia lao động sản xuất Vì thế khi sửa Luật Lao động chúng tachuyển sang hướng khuyến khích doanh nghiệp nhận lao động là NKT Các
cơ quan có thẩm quyền tiếp thu các ý kiến và sẽ tham mưu với Chính phủ đểđiều chỉnh chính sách đối với NCT, NKT cho phù hợp trong thời gian đến
Nguyễn Minh Phong (2020), Đẩy mạnh công tác xã hội đối với người khuyết tật, Trang thông tin điện tử Báo nhân dân https://nhandan.com.vn/, cậpnhật ngày 02/12/2020 Tác giả đã khái quát nội dung Hội thảo của đại diện
Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Chương trình Phát triển
Trang 16Liên hợp quốc (UNDP), các cơ quan, ban Đảng T.Ư, viện nghiên cứu vàtrung tâm trợ giúp người khuyết tật đã tập trung phân tích, thảo luận các vấn
đề về nhận thức, kết quả và hạn chế, đề xuất các giải pháp thiết thực, nhằmtăng cường công tác xã hội đối với người khuyết tật (NKT), bảo đảm mụctiêu phát triển bền vững và bao trùm của Việt Nam Đồng thời khẳng định,Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đối với công tác an sinh xã hội, chăm lođời sống đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có NKT Việt Nam đã tham giatích cực và hiệu quả vào Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyếttật (NKT), ban hành nhiều chính sách trợ giúp NKT đem lại hiệu quả thiếtthực, giúp NKT tự tin vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.Hệthống luật pháp về NKT cũng đã được hoàn thiện từng bước Hoạt động trợgiúp NKT của người dân và các cấp chính quyền cũng có sự thay đổi cănbản, chuyển từ trợ giúp mang tính nhân đạo sang trợ giúp phát triển với việcban hành nhiều chính sách bảo đảm an sinh cho NKT Bên cạnh đó, công táctrợ giúp NKT còn gặp một số khó khăn, như vẫn còn sự phân biệt đối xử vớiNKT; mức trợ cấp còn thấp và hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơbản, năng lực đội ngũ cán bộ nhân viên… Nhiều ý kiến tại Hội thảo đã nhấnmạnh, trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống phápluật về NKT phù hợp Hiến pháp và Công ước quốc tế về quyền của NKT; các
cơ quan chức năng và địa phương cần tập trung rà soát, đánh giá các đề ánchương trình giai đoạn tới
Từ những công trình, bài viết nghiên cứu trên có thấy, thực hiện chínhsách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là trách nhiệm của các cấp chínhquyền địa phương, các cơ quan chức năng và cả cộng đồng cần tăng cườngcông tác tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức
và mọi tầng lớp nhân dân về việc triển khai thực hiện chính sách đối với
Trang 17người khuyết tật, tạo được sự công xã hội, an sinh, nâng cao đời sống nhândân gắn với phát triển kinh tế tại các địa phương.
Từ nhiệm vụ được giao tại Làng Hòa Bình Quảng Nam, đồng cảm vớinhững hoàn cảnh, mảnh đời của các em nhỏ, những người khuyết tật vànhững công việc âm thầm lặng lẽ của những người làm công tác xã hội, triểnkhai các chính sách liên quan đến người khuyết tật, nên tôi muốn nghiên cứuthực tế, áp dụng vào công việc hàng ngày và rút kinh nghiệm, đề xuất với cáccấp có thẩm quyền những giải pháp thực hiện chính sách đối với người
khuyết tật, trên cơ sở đó tập trung phân tích, nghiên cứu Đề tài về “Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” Hy vọng sẽ có những đóng góp triển khai hiệu quả chính sách
và hoàn thiện thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tậttrên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về thực hiện chăm sóc người khuyết tật và chínhsách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,luận văn nghiên cứu hệ thống các chính sách hiện có và đề xuất những giảipháp chủ yếu nhằm góp phần tăng cường thực hiện hiệu quả chính sách nàyđối với NKT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách Bảo trợ xãhội đối với người khuyết tật
+ Phân tích thực trạng chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyếttật trên địa bàn tỉnh, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạnchế trong thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ 2018 đến năm2020
Trang 18+ Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chính sách Bảo trợ xãhội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng thực hiệnchính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh QuảngNam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng thực hiện chính
sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Về không gian: Nghiên cứu Đề tài thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ xã
hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2018 đếnnăm 2020
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn sử dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
về chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật; sử dụng phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích tài liệu, nghiên cứu lý luậnkết hợp với nghiên cứu thực tiễn, phân tích tổng hợp những quy định phápluật và thực thi pháp luật về chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyếttật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Trang 19Chí Minh, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay,Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu: Dựa vào các nguồn thông
tin được thu thập, tổng hợp thành các bảng biểu số liệu qua các năm làm cơ
sở cho việc đánh giá chính sách
+ Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng các kỹ thuật chuyên mônnhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công
bố sử dụng những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng cơ sở lý thuyết phân tích về bảo trợ xã hội đối vớiNKT vào trường hợp tỉnh Quảng Nam, từ đó góp phần bổ sung thêm khungphân tích chính sách công ở Việt Nam
7. Kết cấu của Luận văn
Luận văn Thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách Bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội đối với
người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 20Chương 3 Một số quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
Chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh QuảngNam trong thời gian tới
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1. Các khái niệm cơ bản và vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách là một quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thểchính sách đối với các đối tượng được quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hộiđáp ứng được mục tiêu đặt ra Tổ chức thực thi chính sách bao gồm các bướcthực hiện theo quy trình trong một hệ thống chính sách [53]
1.1.1.2. Người khuyết tật
Khoản 1 Điều 1 Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng laođộng và việc làm của người khuyết tật năm 1983 quy định: “Người khuyết tậtdung để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm không phù hợp, trụlâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quảcủa một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” [61]
Điều 1 Công ước về quyền của Người khuyết tật của Liên hợp quốcnăm 2006 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm vềthể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnhhưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ
và hiệu quả của những người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng vớinhững người khác” [44]
Trước khi Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực, pháp luật ViệtNam nhìn nhận người khuyết tật dưới góc độ “Người tàn tật” Theo quy địnhcủa Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998, “người tàn tật không phân biệt nguồngốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
Trang 22hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khảnăng hoạt động, khiến cho việc lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khókhăn.”
Theo quy định tại khoản 1 – Điều 2 – Luật Người khuyết tật năm 2010định nghĩa “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộphận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiếncho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [48]
1.1.1.3. Bảo trợ xã hội
Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổchức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống Còn cụm từ “Trợgiúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn Hai thuậtngữ “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuynhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụngthuật ngữ “trợ giúp xã hội” Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiệnhành sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội thường xuyên” thay cho “bảo trợ xã hộithường xuyên” hay “cứu tế xã hội thường xuyên”
Theo khái niệm của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): Bảotrợ xã hội bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảmhậu quả trong cuộc sống nghèo đói và khó khăn của người dân, hay nhữngthiếu thốn không những về vật chất mà còn là tinh thần Các chương trìnhhay được tổ chức như: chuyển tiền mặt hỗ trợ cho trẻ em khó khăn, giúp pháttriển kỹ năng sống và hơn thế nữa giúp kết nối các gia đình với chăm sóc sứckhỏe, thực phẩm bổ dưỡng và giáo dục chất lượng để cung cấp cho tất cả trẻ
em, bất kể chúng sinh ra trong hoàn cảnh nào, một cơ hội công bằng trongcuộc sống
Ở tại Việt Nam bảo trợ xã hội có thể hiểu là sự giúp đỡ của Nhà nước,
xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với
Trang 23các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạn, nghèo đói… vì nhiều nguyênnhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sốngtối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa củacuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộcsống và hòa nhập cộng đồng [5]
Bảo trợ xã hội không chỉ nhằm đảm bảo phúc lợi cho những ngườinghèo nhất mà hơn thế, nhằm xây dựng nền tảng cho phát triển năng lực củacon người; Cải thiện công bằng xã hội; Củng cố tính cấu kết của cộng đồng
và xã hội; Thúc đẩy phát triển kinh tế
Bảo trợ xã hội là những hành động của nhà nước nhằm phản ứng lạivới mức độ không chấp nhận được về mặt xã hội của tình trạng dễ bị tổnthương, sự khốn cùng và rủi ro trong khuôn khổ của một chính thể và xã hội[2]
1.1.1.4. Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Xuất phát từ khái niệm BTXH nói chung, BTXH đối với NKT đượchiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước vàcộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho NKT, trước hết và chủ yếu lànhững khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho đối tượng ổnđịnh cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
1.1.2. Vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với NKT
1.1.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền và nhân dân trong thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo chuyển biến sâu sắc vềnhận thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cáctầng lớp nhân dân về công tác người khuyết tật Tích cực đổi mới nội dung,hình thức tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước cho người khuyết tật bằng hình thức phù hợp Tăng
Trang 24cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảngtrong thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật củaNhà nước đối với người khuyết tật; hỗ trợ, tạo điều kiện phát huy năng lựccủa người khuyết tật và các tổ chức người khuyết tật để làm tốt vai trò đạidiện, tập hợp, đoàn kết, là cầu nối giữa người khuyết tật với Đảng, Nhà nước;bảo đảm kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa phát triển kinh tế với phát triển vănhoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, hướng tới một xã hộikhông rào cản đối với người khuyết tật.
1.1.2.2. Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật
Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng; sửa đổi, bổsung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật bảo đảm thốngnhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hộiđất nước và các cam kết quốc tế, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách xãhội và an sinh xã hội, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội Nâng dần mức trợcấp xã hội phù hợp với các mức sống trong xã hội, khả năng ngân sách nhànước; có chính sách tăng số lượng người khuyết tật tham gia mạng lưới ansinh xã hội; tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật tiếp cận các chínhsách giáo dục, học nghề, việc làm, tín dụng, bảo trợ xã hội, hoạt động vănhoá, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, đi lại
Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình trợ giúpngười khuyết tật; khuyến khích người khuyết tật có khả năng học tập, laođộng khắc phục khó khăn, vươn lên sống độc lập, hoà nhập xã hội, góp phầnvào phát triển kinh tế - xã hội và giúp đỡ người khuyết tật khác Xây dựngtiêu chuẩn các cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp cuộc sống của người khuyếttật, tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật
Trang 25Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong việcthực hiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật.
1.1.2.3. Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động trợ giúp người khuyết tật
Nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm lo, giúp đỡngười khuyết tật và các tổ chức của người khuyết tật; vận động nguồn lực xãhội hỗ trợ cho cuộc sống người khuyết tật và hội viên các tổ chức của ngườikhuyết tật Có cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của khu vựcngoài nhà nước đầu tư cho các mô hình phi lợi nhuận chăm sóc người khuyếttật, nhất là người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng, phụ nữ, trẻ em khuyết tật,người khuyết tật cao tuổi Tạo điều kiện cho tổ chức của người khuyết tật có
đủ năng lực tham gia thực hiện các dịch vụ công của Nhà nước
1.1.2.4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội đối với các tổ chức của người khuyết tật
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức
xã hội tiếp tục nâng cao hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào chăm lo,giúp đỡ người khuyết tật; tăng cường quan hệ phối hợp trong các hoạt độngtrợ giúp người khuyết tật; lồng ghép các cuộc vận động, các phong trào thiđua gắn với việc chăm lo đời sống người khuyết tật ngày càng tốt hơn Tạođiều kiện thúc đẩy quan hệ phối hợp giữa các tổ chức của người khuyết tậtvới các tổ chức trong và ngoài nước nhằm trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ, giúp
đỡ lẫn nhau nâng cao hiệu quả hoạt động
1.1.2.5. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức của người khuyết tật
Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổchức của người khuyết tật theo phương châm "Tăng cường đoàn kết, chủđộng vươn lên, bình đẳng, hoà nhập với cộng đồng" Đề cao trách nhiệm và
Trang 26sự chủ động của các tổ chức của người khuyết tật trong việc triển khai thựchiện các nhiệm vụ, các phong trào, các cuộc vận động trong người khuyết tật.Thường xuyên giới thiệu, tuyên truyền để nhân rộng trong cả nước nhữngtấm gương tiêu biểu vượt khó vươn lên của người khuyết tật, những cách làmhay trong hoạt động của các tổ chức của người khuyết tật.
1.1.2.6. Giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng
Trong xây dựng và triển khai các mô hình sinh kế cho NKT cần tậptrung thực hiện mô hình đào tạo nghề gắn với việc làm doanh nghiệp, cơ sởsản xuất; mô hình đào tạo nghề gắn với sinh kế cho NKT; mô hình phục hồichức năng dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu định kiến xã hội về năng lựccủa NKT giúp họ tự tin trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
1.2. Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
1.2.1. Các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
* Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
1. Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định
b) Người khuyết tật nặng
2. Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm:a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôidưỡng, chăm sóc người đó;
b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng;c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thaihoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi
3. Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người caotuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyếttật
Trang 274. Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàngtháng đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủquy định.
* Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
1. Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lođược cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội
2. Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật quy định tạikhoản 1 Điều này cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:
Người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được hỗ trợ chiphí mai táng khi chết Chính phủ quy định mức hỗ trợ chi phí mai táng
* Cơ sở chăm sóc người khuyết tật
1. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật là cơ sở nuôi dưỡng, cung cấp dịch
vụ tư vấn, trợ giúp người khuyết tật
2. Cơ sở chăm sóc người khuyết tật bao gồm:
a) Cơ sở bảo trợ xã hội;
b) Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật;
c) Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập;
d) Cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác
3. Chính phủ quy định điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc người khuyết tật
4. Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho
cơ sở chăm sóc người khuyết tật công lập
* Xã hội hóa hoạt động trợ giúp người khuyết tật
1. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, trợ giúp vềtài chính, kỹ thuật để thực hiện hoạt động chỉnh hình, phục hồi chức năng,chăm sóc, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, cung cấp dịch vụ khác trợ giúpngười khuyết tật
Trang 282. Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở chỉnh hình, phục hồi chứcnăng, chăm sóc, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm hoặc cơ sở cung cấp dịch
vụ khác trợ giúp người khuyết tật được hưởng chính sách ưu đãi xã hội hóatheo quy định
* Quỹ trợ giúp người khuyết tật
1. Quỹ trợ giúp người khuyết tật là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy độngnguồn lực trợ giúp người khuyết tật
2. Quỹ trợ giúp người khuyết tật được hình thành từ các nguồn nhưđóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài; Hỗtrợ từ ngân sách nhà nước; Các khoản thu hợp pháp khác
3. Quỹ trợ giúp người khuyết tật được thành lập và hoạt động theo quyđịnh [48]
Các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật bao gồm mứcchuẩn xác định các mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàngtháng và mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng; Hệ số tính mức trợ cấp xã hộihàng tháng, mức hỗ trợ chi phí mai táng; Hệ số tính mức hỗ trợ kinh phíchăm sóc hàng tháng; Hệ số tính mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng và cácmức cấp kinh phí chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nươngtựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng trong cơ sởbảo trợ xã hội; Điều kiện đối với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc ngườikhuyết tật đặc biệt nặng; Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chămsóc hàng tháng; Thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóchàng tháng; Hồ sơ, thủ tục hỗ trợ chi phí mai táng; Hồ sơ, thủ tục, tiếp nhậnngười khuyết tật đặc biệt nặng vào nuôi dưỡng chăm sóc trong cơ sở bảo trợ
xã hội [22]
1.2.2. Các bước thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trang 291.2.2.1. Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Từ khi có Luật người khuyết tật năm 2010, cơ quan có thẩm quyền đãban hành nhiều văn bản liên quan đến chính sách bảo trợ xã hội đối với ngườikhuyết tật Từ những quan điểm, chủ trương chung, các cơ quan chuyên môn
có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, thựchiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Đồng thời tham mưugiúp Chính phủ, Quốc hội ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các vănbản hướng dẫn thi hành liên quan đến công tác bảo trợ xã hội đối với ngườikhuyết tật tại các địa phương
Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình tổ chức thực hiện chính sáchbảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, điều trước tiên cần phải xây dựng kếhoạch cụ thể, chi tiết và rõ ràng như: kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạchcung cấp nguồn nhân lực, kế hoạch thời gian triển khai thực hiện, kế hoạchkiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách Qua đó, nhằm cụ thể hóa các nội dunghoạt động của Kế hoạch phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương; chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung của Kế hoạch tại địaphương mình.… Bố trí kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất thực hiện các hoạtđộng của Kế hoạch trên địa bàn đạt hiệu quả
1.2.2.2. Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Các cấp, các ngành xác định công tác thực hiện chính sách bảo trợ xãhội đối với người khuyết tật là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chínhtrị theo hướng tổ chức Đảng tập trung lãnh đạo, chính quyền tích cực triểnkhai thực hiện, các đoàn thể và các cơ quan liên quan tích cực tuyên truyềnphổ biến, giáo dục pháp luật về Luật người khuyết tật nói chung và quy địnhcủa pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nói riêng, vận động
Trang 30nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách, đồng thời đảm bảo quyềnlợi của người khuyết tật Trong thời gian triển khai thực hiện chính sách cáccấp chính quyền địa phương luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiệnthuyết phục cán bộ, công chức và nhân dân chấp hành các chủ trương củaĐảng, thực hiện tốt các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật,bảo đảm thực hiện đạt kế hoạch của các địa phương hàng năm.
Qua việc thực hiện công tác tuyên truyền đã tác động rất lớn đến tưtưởng, nhận thức của người dân, tổ chức, cộng đồng trong việc phối hợp,chấp hành, triển khai thực hiện công tác bảo trợ xã hội đối với người khuyếttật đạt kết quả tốt Nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, thựctiễn áp dụng đúng đắn, tuân thủ triệt để pháp luật, thực hiện chính sách bảotrợ xã hội đối với người khuyết tật đã giúp cho mọi đối tượng người khuyếttật được chăm sóc sức khỏe, đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm, được hòa nhậpcộng đồng, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, góp phần phát triển kinh
tế, an sinh xã hội đạt hiệu quả trong thực tiễn [53, tr.1]
1.2.2.3. Tổ chức triển khai, đôn đốc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, cùng với việc phát triển kinh tế, thì giải quyết các vấn đề xã hội,
an sinh xã hội là một trong những nội dung quan trọng nhằm đảm bảo mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong đó,việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sáchBTXH cho người khuyết tật (NKT) là một trong những nội dung quan trọngtrong công tác trợ giúp người khuyết tật ổn định cuộc sống, hòa nhập cộngđồng, là một trong những yếu tố căn bản đảm bảo thực hiện quyền ngườikhuyết tật theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật
Trang 31(CRPD) Đây là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạonhằm giúp người khuyết tật phát huy hết khả năng của mình; tạo điều kiện đểngười khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xãhội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội.
Đôn đốc việc thực hiện chính sách BTXH đối với NKT là việc làmthường xuyên, liên tục của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyềntrong việc xác nhận và chi trả trợ cấp cho các đối tượng Qua quá trình tổchức triển khai, gắn với việc đôn đốc kịp thời phát hiện các vấn đề phát sinh,tồn tại trong quá trình thực hiện, từ đó tham mưu, điều chỉnh, sửa đổi hoànthiện chính sách hơn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiệnchính sách
1.2.2.4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc về thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Thanh tra, kiểm tra để tìm ra những địa phương điển hình, thực hiện, ápdụng pháp luật người khuyết tật, các văn bản hướng dẫn và triển khai thựchiện chính sách đạt kết quả; phát hiện các địa phương chưa chỉ đạo sâu sát
và giám sát chặt chẽ việc thực hiện pháp luật người khuyết tật và các chínhsách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Thông qua công tác triển khai thực hiện chính sách, thực hiện thanh tra,kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với ngườikhuyết tật nhằm nêu cao trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyềntheo quy định của Luật người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn, nâng caonăng lực, trách nhiệm cán bộ, công chức và các tổ chức, cộng đồng trong việcthực thi chính sách về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
1.2.2.5. Đánh giá, rút kinh nghiệm công tác thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trang 32Đánh giá, rút kinh nghiệm là quá trình xem xét việc điều hành và chấphành thực thi chính sách, là nhiệm vụ cần thiết của các cấp chính quyền địaphương Qua đó đánh giá thực chất hiệu quả thực hiện chính sách và nhữngbài học kinh nghiệm để áp dụng, sửa đổi, bổ sung chính sách phù hợp tronggiai đoạn tiếp theo Đảm bảo thực hiện hiệu quả quá trình này nhằm ổn địnhcuộc sống người dân, tăng cường an sinh xã hội, phát triển kinh tế bền vữngtại các địa phương.
Qua công tác này để các cấp chính quyền địa phương, công chức thựchiện nhiệm vụ có thể chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình triển khaithực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Đồng thời chia
sẻ những bất cập của pháp luật, những vướng mắc, khó khăn trong quá trìnhthực hiện, áp dụng pháp luật trong thực tiễn, đề xuất những sáng kiến, giảipháp thực hiện hiệu quả, nâng cao vai trò của mỗi cá nhân, tổ chức, cộngđồng và các cấp chính quyền trong việc tham gia thực hiện chính sách bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật ở cơ sở, nhằm tăng cường công tác phối hợp,tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, hoạt động trợ giúp NKT của ngườidân và các cấp chính quyền nhằm thúc đẩy sự chuyển biến tích cực trongcông tác đào tạo nghề, tạo sinh kế phù hợp giúp NKT tự tin, tự lập trong cuộcsống, bảo đảm thực thi chính sách này tại các địa phương trong giai đoạnhiện nay
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật
1.3.1. Yếu tố bản thân chính sách
Chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được xây dựng, banhành và sửa đổi bổ sung từ Pháp lệnh Người tàn tật, Luật Người khuyết tật vàcác văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 33Theo quy định của pháp luật, người khuyết tật nặng và khuyết tật đặcbiệt nặng là đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên Tuy nhiên,trên thực tế còn nhiều đối tượng khác cần sự giúp đỡ về vật chất hoặc tinhthần của Nhà nước và cộng đồng nhưng chưa được pháp luật quy định nhưngười mắc bệnh tâm thần, bệnh tự kỷ, bệnh trầm cảm; mức tiền lương cơ sởhiện nay đã thay đổi nhưng mức trợ cấp đối với các đối tượng trợ giúp xã hội
là người khuyết tật không thay đổi… Chính vì vậy, khi thực hiện các chínhsách xã hội, bảo trợ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ, ảnh hưởngđến quyền lợi của những người khuyết tật nói chung và người khuyết tật nặng
và khuyết tật đặc biệt nặng nói riêng tại các địa phương
Từ những phân tích trên cho thấy bản thân những quy định của chínhsách đã tác động đến việc triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đốivới người khuyết tật tại các địa phương Nếu chính sách được ban hành phùhợp với tình hình thực tế tại các địa phương sẽ giúp cho các cấp chính quyềnđịa phương thực hiện chính sách đạt hiệu quả và ngược lại
1.3.2. Chủ thể thực hiện chính sách
Vấn đề thực hiện bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là một vấn đềrất nhạy cảm vì nó tác động, ảnh hưởng cực kỳ lớn đến tâm lý, cuộc sống, sựhòa nhập, bình đẳng của người khuyết tật tại các địa phương Chính vì nhữngvấn đề này, đòi hỏi các tổ chức, cộng đồng, cán bộ, công chức thực thi công
vụ, thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, ngoài nhữngviệc am hiểu chính sách pháp luật, cần phải có những kỹ năng nghiệp vụ đểchia sẻ, đồng cảm, động viên, hiểu được tâm lý của từng người khuyết tật,nâng cao nhận thức pháp luật, chấp hành chủ trương của nhà nước về chínhsách bảo trợ xã hội, bảo vệ quyền lợi cho họ và thực hiện chính sách đạt hiệuquả tại địa phương
Trang 34Nếu tổ chức, cộng đồng xã hội, công chức thực hiện công vụ không cótâm, thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ không cảm nhận, thấu hiểu được nhữngtâm tư, tình cảm của những người khuyết tật, không nhận được sự đồng thuậncủa mọi người trong việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với ngườikhuyết tật ở cơ sở Năng lực của đội ngũ công chức, chủ thể thực hiện chínhsách làm công tác xã hội, bảo trợ xã hội, thiện nguyện cũng tác động lớn đếnđời sống, sinh hoạt của NKT và hiệu quả thực hiện chính sách này.
Trong những năm qua, Đảng ta tiến hành đổi mới phương thức lãnh đạotrên nhiều khía cạnh song có một điểm thống nhất, xuyên suốt đó là Đảng đề
ra chủ trương đường lối còn việc cụ thể hóa những ý tưởng đó thông qua cácvăn bản quy phạm pháp luật đó là công việc của Nhà nước Để thực hiệnđược vấn đề nêu trên một cách có hiệu quả thì chính sách trong nội bộ Đảngphải giải quyết được ba vấn đề:
Một là, có phương thức để thu thập ý kiến phù hợp để xác định vấn đềchính sách công cho đúng và trúng Thường những ý kiến có được từ nguồnthông tin và đánh giá tình hình của chính đội ngũ đảng viên làm việc trong bộmáy nhà nước
Hai là, đảm bảo cho các khâu tiếp theo của chính sách không đi trệchkhỏi vấn đề cần giải quyết được đặt ra ban đầu
Ba là, chính sách nội bộ của Đảng phải đồng bộ, phù hợp với chínhsách của Đảng như là công cụ để lãnh đạo đất nước nhằm giúp cho các đảngviên của đảng được cử tham gia vào bộ máy nhà nước có thể hoàn thànhđồng thời hai chức trách của mình
Tóm lại, Đảng Cộng sản Việt Nam, xét ở phạm vi quốc gia là chủ thểchính sách công ở Việt Nam hiện nay Với tư cách là chủ thể có vai trò quan
Trang 35trọng nhất, Đảng sẽ tham gia như thế nào trong quá trình thực hiện chínhsách sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự vận động và phát triển củađất nước ta trong tương lai [34].
1.3.3. Đối tượng chịu tác động của chính sách
Hầu hết các chính sách về bảo trợ xã hội đều liên quan đến đời sốngnhững người yếu thế, người khuyết tật, nhân dân ở các địa phương Nếuchính sách triển khai được sự đồng thuận, nhất trí cao của cán bộ, công chức,các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội và người dân thì quá trình thựchiện sẽ gặp nhiều thuận lợi, bảo đảm mọi chế độ, chính sách bảo trợ xã hộicho mọi đối tượng người khuyết tật được thực hiện đúng đối tượng, đáp ứngđược nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời góp phần triển khaithực hiện các Đề án, Dự án trợ giúp NKT đúng tiến độ, hiệu quả; triển khaithực hiện chính sách phù hợp với từng đối tượng, từng khu dân cư và hoạtđộng các tổ chức bảo trợ xã hội, cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng người khuyết tậttại các địa phương
Nếu cán bộ, công chức và cả cộng đồng xã hội có ý thức trách nhiệmtốt thì công tác này sẽ triển khai nhanh chóng, hiệu quả Ngược lại, nếu đốitượng chịu tác động của chính sách không hợp tác, không đáp ứng được yêucầu nguyện vọng của những người khuyết tật thì công tác xây dựng kế hoạch,triển khai chính sách bảo trợ xã hội sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn Chính vìvậy đối tượng chịu tác động của chính sách, có vai trò quyết định sự thànhbại trong quá trình triển khai thực hiện
1.3.4. Điều kiện tài chính và cơ sở vật chất để thực thi chính sách
Yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi chínhsách của nhà nước Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho thực thi chínhsách có đầy đủ hay không cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực
Trang 36thi chính sách Ngay cả khi chính sách được ban hành rất rõ ràng, cụ thể,nhưng nếu cơ quan thực thi chính sách thiếu nguồn lực cần thiết, thì kết quảcủa việc thực thi chính sách đó cũng không thể đạt được mục tiêu chính sáchnhư mong muốn Vì thế, bảo đảm nguồn lực cho thực thi chính sách là yếu tốkhông thể thiếu để thực thi chính sách có hiệu quả Nguồn lực cho thực thichính sách bao gồm: nguồn lực kinh phí, nguồn lực con người (nguồn nhânlực), nguồn lực thông tin, nguồn lực thiết bị Theo đó, cơ quan có thẩmquyền, chính quyền địa phương cần quan tâm phân bổ kinh phí để đáp ứngyêu cầu thực thi chính sách; đảm bảo nguồn nhân lực, chất lượng triển khaithực hiện chính sách.
1.4. Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương về thực hiện chính sách đối với người khuyết tật
1.4.1. Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách dành cho NKT tại tỉnh Quảng Ngãi
Tỉnh Quảng Ngãi ban hành Kế hoạch số 66/KH-UBND về việc triểnkhai thực hiện Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trên địa bàntỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020 Theo đó, các cấp các ngành xác địnhtạo bước chuyển biến trong nhận thức của cộng đồng về các quyền của ngườikhuyết tật; đẩy mạnh hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý cho ngườikhuyết tật để đông đảo người khuyết tật biết về quyền được trợ giúp pháp lý
và tiếp cận với dịch vụ pháp lý miễn phí này; đồng thời, tăng cường năng lực
và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đối tượng là người khuyết tật, tậptrung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý (trong đó, chú trọng thực hiện vụviệc tham gia tố tụng, đại điện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật tiền tố tụng)cho người khuyết tật khi họ có yêu cầu
Thực hiện Công văn số 4068-CV/TU ngày 20/12/2019 của BanThường vụ Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW ngày
Trang 3701/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với côngtác người khuyết tật, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 20/02/2020 của UBND tỉnh Quảng Ngãi triển khai thực hiệnChỉ thị 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnhđạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.
Trên cơ sở đó giao cho các ngành Sở Lao động - Thương binh và Xãhội; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài chính; Sở Y tế; Sở Giáo dục và Đào tạo;
Sở Xây dựng; Sở Giao thông vận tải; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Nộivụ; Sở Tư pháp; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố; Các Hội:Người khuyết tật, Người mù, Chữ thập đỏ, Nạn nhân chất độc da cam/dioxintỉnh Phối hợp với chính quyền địa phương vận động các tổ chức, cá nhântrong và ngoài nước hỗ trợ và giúp đỡ người khuyết tật Thường xuyên giớithiệu, tuyên truyền để nhân rộng những tấm gương tiêu biểu vượt khó vươnlên của người khuyết tật, những tổ chức, cá nhân tích cực trong các hoạt độngtrợ giúp khuyết tật, những cách làm hay trong hoạt động của Hội Đồng thờichú trọng đầu tư các cơ sở hạ tầng, giao thông để người khuyết tật đượctiếp cận; đẩy mạnh phong trào người khuyết tật đến từng địa phương, giúpngười khuyết tật tự tin hòa nhập cộng đồng; khuyến khích hình thành cơ sởsản xuất kinh doanh có sử dụng lao động người khuyết tật; Phối hợp với các
tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm tổ chức thực hiện tốt công tác chăm sóc sứckhỏe, điều trị, phẫu thuật chỉnh hình, hỗ trợ máy trợ thính, hỗ trợ xe lăn, xelắc trợ giúp cho những người tàn tật; Quan tâm trong việc xây dựng mới cáccông trình công cộng, nâng cấp các công trình hiện có theo quy chuẩn xâydựng để người khuyết tật dễ tiếp cận và sử dụng [65]
Theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH, toàn tỉnh có hơn 59.000 NKT Đa
số NKT có trình độ học vấn thấp, hầu hết thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo,
Trang 38không có nghề nghiệp ổn định Để chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho NKTvượt qua mặc cảm để hòa nhập với cộng đồng, thời gian qua, các cấp ủy,chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh đã triển khai nhiềuchương trình, hoạt động vì NKT Ngoài các chính sách bảo trợ xã hội, nhiều
tổ chức xã hội, nhân đạo, từ thiện được thành lập, trở thành “chỗ dựa” củanhững phận đời kém may mắn, như Hội NKT, Hội Nạn nhân chất độc Dacam/Dioxin, Hội Người mù
Với phương châm xã hội hóa công tác chăm sóc và trợ giúp NKT, toàntỉnh đã vận động các tổ chức, cá nhân được hàng nghìn chiếc xe lăn; làmchân giả, nạn, nẹp cấp cho NKT vận động Nhiều NKT được phẫu thuật tim,phẫu thuật chỉnh hình; trợ giúp pháp lý, dạy nghề, tạo việc làm Năm 2018,Hội NKT tỉnh đã vận động, tổ chức trao quà, học bổng cho gần 1.300 giađình NKT, trẻ mồ côi và người nghèo, với tổng số tiền và hiện vật trị giá gần
xã hội, vươn lên trong cuộc sống
Tỉnh Thừa Thiên Huế còn huy động, vận động các nguồn lực để đảmbảo thực hiện các mục tiêu của kế hoạch như: huy động ngân sách Nhà nước,vận động các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức phi chính phủ, cá nhântrong và ngoài nước; Hỗ trợ, tạo điều kiện thành lập tổ chức "Tự lực" của
Trang 39người tàn tật và những hiệp hội phụ huynh và gia đình NKT; Trợ giúp phụ nữtàn tật; Phát hiện, can thiệp sớm và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng;lồng ghép hoạt động trợ giúp NKT vào các chương trình kinh tế - xã hội củađịa phương; tổ chức 12 lớp tập huấn về công tác khảo sát và phổ biển một sốvăn bản, chính sách mới về người khuyết tật cho 899 học viên là cán bộ địaphương, tổ/thôn trưởng, thân nhân người khuyết tật cùng với 50 học viên củacác cơ sở bảo trợ xã hội; Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ chủ chốt củaHội NKT các cấp trên địa bàn tỉnh về kỹ năng lãnh đạo và gây quỹ; giám sát,đánh giá; Tập huấn về quy chuẩn, tiêu chuẩn về nhà ở, công trình công cộngđảm bảo tiếp cận cho người khuyết tật…
Bằng nhiều hoạt động cụ thể, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo các cơquan, đơn vị liên quan triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm chăm sócsức khỏe cho NKT, với mục tiêu giúp NKT được thụ hưởng đầy đủ các chínhsách, dịch vụ chăm sóc, cải thiện sức khỏe, đủ khả năng lao động nuôi sốngbản thân và gia đình và đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội Côngtác xác định mức độ khuyết tật đã được triển khai thực hiện kịp thời, đảm bảocho NKT được thực hiện đầy đủ quyền lợi theo quy định của pháp luật
Phấn đấu100% người khuyết tật có nhu cầu cần xác định mức độkhuyết tật được Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã đánh giá và cấpgiấy xác nhận chứng nhận khuyết tật; 90% người khuyết tật được tiếp cận cácdịch vụ y tế dưới các hình thức khác nhau như: được phẫu thuật chỉnh hình,phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ trợ giúp phù hợp; 100% họcsinh, sinh viên bị khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo được hưởngcác chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ học bổng và phương tiện học tậptheo quy định; Ít nhất 70% công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhànước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục,
Trang 40dạy nghề, công trình văn hóa, thể dục thể thao; nhà chung cư bảo đảm điềukiện tiếp cận đối với người khuyết tật
Thừa Thiên Huế sẽ tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp, ngành,cộng đồng dân cư và toàn thể xã hội về vấn đề khuyết tật và NKT; phát hiện
và can thiệp sớm, phẫu thuật chỉnh hình và cung cấp dụng cụ trợ giúp choNKT; thường xuyên theo dõi, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách choNKT; chú trọng công tác chăm sóc, nuôi dưỡng NKT tại các cơ sở BTXH.Cùng với đó là nâng cao kỹ năng chăm sóc, trợ giúp, phục hồi cho NKT;khuyến khích các công ty, doanh nghiệp tiếp nhận cũng như sử dụng từ 30%lao động trở lên là NKT để được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước[31]
1.4.3. Kinh nghiệm về thực hiện chính sách BTXH đối với NKT tại tỉnh Quảng Nam
Hiện nay công tác thực hiện chính sách BTXH đối với NKT tại tỉnhQuảng Nam luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Nhiều đề án trợ giúpNKT được ban hành, đặc biệt là đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020,tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành địaphương thực hiện theo chức nảng, nhiệm vụ Ngành LĐTB&XH đã thực hiệnđầy đủ, kịp thời chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng cho NKT nặng, đặc biệtnặng tại cộng đồng và chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội Cónhiều chính sách hỗ trợ đối với NKT như giáo dục, dạy nghề, được vay vốngiải quyết việc làm…
Thường xuyên thanh kiểm tra đột xuất công tác thực hiện chính sáchBTXH đối với NKT nhằm đảm bảo mọi đối tượng khuyết tật được hưởng chế
độ kịp thời và đúng quy định Ngoài ra, tỉnh đã vận động được nhiều nguồnlực để hỗ trợ NKT như hỗ trợ sinh kế, cải thiện nhà ở, tạo điều kiện cho NKT
có việc làm, phát triển sản xuất, tăng thu nhập