1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến kinh nghiệm dự thi 05

76 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Ý Thức, Trách Nhiệm Chủ Quyền Biển Đảo Cho Học Sinh THPT Trong Môn Giáo Dục Công Dân
Tác giả Bùi Thị Hoa
Trường học Trường THPT Nguyễn Huệ
Chuyên ngành Giáo Dục Công Dân
Thể loại Báo Cáo Sáng Kiến
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 433,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, cho đến nay chưa có nhiều đề tài nghiên cứu cụ thể về việc tích hợp nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD cho HS THPT.. */ Thực trạng dạy và học tí

Trang 1

MỤC LỤC Thông tin chung về sáng kiến

I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến 2

II Mô tả giải pháp 1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 3

2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến 4

III Nội dung Chương 1 CƠ SỞ GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HS THPT TRONG MÔN GDCD 1.1 Tầm quan trọng của giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh THPT 5

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT ……… 16

Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM DẠY HỌC TÍCH HỢP NỘI DUNG GDCQBĐ TRONG MÔN GDCD Ở TRƯỜNG THPT 2.1 Kế hoạch thực nghiệm………33

2.2 Giải pháp……….60

IV Hiệu quả do sáng kiến đem lại 1 Hiệu quả kinh tế 65

2 Hiệu quả xã hội 65

V Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 2

Báo cáo sáng kiến GIÁO DỤC Ý THỨC, TRÁCH NHIỆM CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HỌC SINH THPT TRONG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

Giáo viên: Bùi Thị Hoa Tổ: NN-Địa-Gdcd, trường THPT Nguyễn Huệ

I Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:

Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây cũng là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước, tạo khoảng không gian cần thiết giúp kiểm soát việc tiếp cận lãnh thổ trên đất liền Biển đảo quê hương luôn là một phần máu thịt trong mỗi người con dân đất Việt, biển đảo Việt Nam nói riêng và biển Đông nói chung đã trở thành một hữu thể không tách rời Cuộc sống của nhân dân ta từ bao đời nay đã gắn bó với biển, đảo trên những con thuyền ra khơi đánh dấu chủ quyền và bảo vệ bờ cõi đất nước Vấn đề chủ quyền biển đảo luôn là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu trong các mục tiêu của quốc gia, bởi chủ quyền biển đảo cũng chính là chủ quyền lãnh thổ dân tộc, bảo vệ chủ quyền biển đảo là bảo vệ cuộc sống và tương lai của chúng ta

Từ bao đời nay, ông cha ta đã đổ bao công sức và máu xương để giữ gìn,

bảo vệ các vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Gần 500 năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dự báo chiến lược: “Biển Đông vạn dặm giăng tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình” Và khi về thăm lực lượng Hải quân năm

1961, Bác Hồ kính yêu cũng căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó” Những lời dạy đó luôn nhắc nhở chúng ta hôm nay phải luôn ghi nhớ, trong khi đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, không được một giây phút lơ là nhiệm vụ bảo

vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Bên cạnh thuận lợi cơ bản, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiện nay vẫn đang đứng trước những khó khăn, thách thức Tình hình quốc tế,

Trang 3

khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, những nhân tố mới xuất hiện tác động trực tiếp đến tình hình Biển Đông Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn và tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo giữa các nước trong khu vực diễn

ra gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ xung đột, mất ổn định

Do đó, giáo dục cho học sinh ý thức về chủ quyền biển đảo thiêng liêng của

Tổ quốc là nhiệm vụ mang nhiều ý nghĩa Hiện nay, vấn đề giáo dục chủ quyền biển đảo trong trường trung học phổ thông được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có vai trò quan trọng của môn GDCD

Với tâm huyết của một người làm nghề truyền đạt tri thức nhân loại, bản thân tôi luôn trăn trở làm thế nào để hun đúc, khơi dậy ý chí cách mạng đặc biệt là tình yêu đối với bờ cõi giang sơn của Tổ Quốc cho những người học trò của mình một cách hiệu quả nhất Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu đề tài : “ Giáo dục ý thức trách nhiệm chủ quyền biển đảo cho học sinh THPT trong môn GDCD”

II Mô tả giải pháp

1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:

* Nhiều học sinh ít hứng thú với môn GDCD Sở dĩ học sinh chưa tìm thấy niềm vui, sự hứng thú trong học tập GDCD là do chưa được rèn luyện những kĩ năng, cũng như khả năng vận dụng tri thức của GDCD vào trong đời sống hằng ngày

* Học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tuyên truyền giáo dục

về quần đảo Hoàng Sa ở học đường Tuy nhiên, việc chuyển hóa nhận thức đó thành những hành động cụ thể vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều học sinh còn mơ hồ khi được hỏi về những kiến thức liên quan đến quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa Thậm chí lúng túng không biết phân biệt khi xem được ở đâu đó (có thể là mạng

xã hội…) hay còn không biết phản ứng ra sao khi thấy tấm bản đồ Tổ quốc ở đâu

đó vẽ thiếu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

Trang 4

2 Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến:

Thông qua dạy học môn GDCD, GV tích hợp nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo (GDCQBĐ) trong dạy học chính khóa và hoạt động ngoại khóa Từ đó, hình thành ở học sinh kiến thức, kĩ năng thực hành, xây dựng thái độ, ý thức đấu tranh chống lại hành vi vi phạm Công ước Luật biển quốc tế, có thái độ đúng đắn

về tình yêu biển đảo và trách nhiệm công dân của mình (HS hiện tại và người công dân - cán bộ công chức, viên chức, người lao động) tương lai của đất nước

Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, xây dựng được thái độ, ý thức đấu tranh với những hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật về chủ quyền biển đảo trong xã hội cho HS trường THPT

Mặt khác, cho đến nay chưa có nhiều đề tài nghiên cứu cụ thể về việc tích hợp nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo (GDCQBĐ) trong dạy học môn GDCD cho HS THPT Do đó, sáng kiến sẽ cung cấp thêm các luận chứng khoa học cho việc đổi mới PPDH theo hướng hình thành và phát triển một số kĩ năng như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, năng lực khám phá và xử lý tình huống cho học sinh, do đó sẽ cung cấp thêm những tư liệu khoa học để GV dạy GDCD có thể tham khảo trong dạy học bộ môn này

3 Nội dung sáng kiến

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ GIÁO DỤC Ý THỨC TRÁCH NHIỆM CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CHO HS THPT TRONG MÔN GDCD

1.1 Tầm quan trọng của giáo dục chủ quyền biển đảo cho học sinh THPT

*/ KQ về biển đảo Việt Nam

Việt Nam có vị thế đặc biệt quan trọng ở Đông Nam Á nhờ có vùng lãnh thổ rộng lớn gồm phần đất liền rộng trên ba trăm ngàn kilomét vuông nằm dọc bờ Tây Biển Đông theo hướng á kinh tuyến và phần biển rộng trên một triệu kilomét vuông, gấp ba lần diện tích đất liền Biển Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có các sông lớn cỡ thế giới mà lưu vực nằm trên sáu nước đổ vào Biển Việt Nam giữ vai trò quan trọng về môi trường, sinh thái Biển Đông và khu vực, là vùng chuyển tiếp giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương về mặt địa lý sinh vật

và hàng hải Theo vị trí và hình thái, biển Việt Nam có thể được chia thành các vùng biển nửa kín (vùng biển Vịnh Bắc Bộ và vùng biển Vịnh Thái Lan), các vùng biển hở ven bờ (vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ, vùng biển ven bờ phía đông Nam Bộ) và vùng biển khơi (vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) Vùng

bờ biển Việt Nam dài trên 3.260 km với 114 cửa sông lớn nhỏ, hàng năm đổ ra biển khoảng 847 tỷ m3 nước và 250 triệu tấn bùn cát, chủ yếu từ sông Mê Công và sông Hồng lớn hàng thứ 9 và 14 trên thế giới Dọc bờ biển có 12 đầm phá ở miền Trung với tổng diện tích trên 400 km2 và 48 vũng vịnh với tổng diện tích trên 4.000 km2 Việt Nam có gần 3.000 hòn đảo ven bờ với diện tích hơn 1.700 km2, trong đó trên 70 đảo có khoảng 260 nghìn dân sinh sống, mang lại nhiều giá trị quý giá như đất sinh cư, du lịch sinh thái, xây dựng cơ sở hạ tầng khai thác biển Một

số đảo như Thổ Chu, Cồn Cỏ, v.v có giá trị nối đường cơ sở để tính lãnh hải Hai quần đảo xa bờ Hoàng Sa và Trường Sa mang lại lợi ích nhiều mặt và lâu dài cho đất nước Nhiều vũng vịnh, cửa sông và đầm phá là tâm điểm phát triển cơ sở hậu cần khai thác biển, các khu chế xuất, mậu dịch tự do, đặc biệt là các cảng biển Nhiều vùng cửa sông, đầm phá, vũng vịnh, đảo, bãi cát biển, v.v xứng đáng là các

kỳ quan thiên nhiên, có tiềm năng lớn phát triển du lịch-dịch vụ Các bãi đẹp nổi tiếng như Trà Cổ, Cửa Lò, Lăng Cô, Nha Trang, Bãi Dài (Phú Quốc), v.v và các

Trang 6

vịnh đẹp như Hạ Long, Nha Trang, Lăng Cô, v.v đã góp phần thu hút mỗi năm hàng triệu khách trong và ngoài nước đến du lịch biển, ước tính 70% tổng lượng khách của cả nước

Tài nguyên thiên nhiên biển truyền thống của Việt Nam được đánh giá khách quan là đa dạng nhưng kém phong phú và đang có nguy cơ cạn kiệt, điển hình là thuỷ sản và dầu khí mà sản lượng khai thác dự kiến trong những năm tới sẽ giảm Ngày nay, tài nguyên thiên nhiên không còn được hiểu theo tư duy truyền thống là những dạng vật chất lấy ra được và có giá trị sử dụng cho mục đích cụ thể nào đó, mà được hiểu là tất cả các yếu tố tự nhiên có thể sử dụng ở các hình thức khác nhau, hoặc không sử dụng nhưng sự tồn tại của nó mang lại lợi ích cho con người Để phát triển mạnh kinh tế biển theo hướng bền vững nhằm thực hiện chiến lược biển theo Nghị quyết TW 7, kỳ họp 4, Khoá X của Đảng, ngoài sử dụng hợp

lý và quản lý tài nguyên truyền thống, rất cần thiết điều tra, đánh giá để khai thác,

sử dụng hiệu quả các dạng tài nguyên mới hoặc còn ít hiểu biết, trong đó có tài nguyên vị thế, kỳ quan địa chất và sinh thái trên vùng biển đảo Đây là các dạng tài nguyên đặc biệt và có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế dịch

vụ ở vùng biển, ven biển và các đảo Việt Nam, mà việc khai thác sử dụng chúng có hiệu quả có thể tạo nên sự bứt phá về kinh tế biển Về khoa học, tài nguyên vị thế,

kỳ quan địa chất và sinh thái là vấn đề mới không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước trên thế giới Nhưng trên thực tế, việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên này đang đem lại những lợi ích to lớn, lớn hơn nhiều các tài nguyên truyền thống Đây là vấn đề rất quan trọng mà việc nhận thức đúng đắn sẽ tạo ra một cách nhìn mới về sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển bền vững và tổ chức không gian, quy hoạch phát triển kinh tế biển, trọng tâm là kinh tế dịch vụ, thành phần cơ bản của nền kinh tế thị trường Việc hiểu rõ bản chsất, giá trị và việc điều tra, đánh giá toàn diện và hệ thống các tài nguyên này có thể tạo ra bước đột phá đối với phát triển kinh tế, bảo tồn tự nhiên, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia vùng biển đảo; đồng thời còn phát huy được các giá trị văn hoá, khoa học và giáo dục, làm tăng thên niềm tự hào và tình yêu đất nước đối với mỗi người Việt Nam

Trang 7

*/ Về kinh tế, chính trị - xã hội:

Biển Đông là vùng biển có 1 trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất trên thế giới đi qua Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải) Hàng ngày có khoảng 200-300 tàu từ 5.000 tấn trở lên qua lại (không kể tàu dưới 5.000 tấn) chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới Là tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch mang tính chiến lược của các nước trong khu vực và thế giới; nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, Châu Âu, Trung Đông với châu Á và giữa các nước châu Á với nhau; chuyên chở sản lượng dầu thô và các sản phẩm toàn cầu Với Mỹ: Là tuyến hoạt động chính của Hạm đội

7, có 90% hàng hóa của Mỹ và đồng minh chuyên chở qua Biển Đông; Với Trung Quốc hàng năm nhập 160 triệu tấn dầu thì 50% dầu nhập và 70% hàng hóa qua Biển Đông Với Nhật Bản 70% lượng dầu nhập khẩu và 42% lượng hàng hóa xuất

Đối với Việt Nam, vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên con đường hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa Châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Ngoài ra sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đường xuyên Á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hàng hóa nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc một cách nhanh chóng và thuận lợi Cùng với đất liền, vùng biển nước ta là một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động, đó là nơi hấp dẫn các thế lực đế quốc bành trướng nhiều tham vọng và cũng là nơi rất nhạy cảm trước các biến chuyển trong đời sống chính trị thế giới

Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển vọng dầu khí và trữ lượng dự báo khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi, trong đó trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn, đặc biệt khí thiên nhiên có tiềm năng rất lớn Hiện

Trang 8

nay, chúng ta đã phát hiện hàng chục mỏ dầu khí có trữ lượng khai thác công nghiệp, trong đó đã đưa vào khai thác gần một chục mỏ, hàng năm cung cấp hàng triệu tấn dầu và hàng tỷ mét khối khí phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh Ngoài ra còn có các khoáng sản quan trọng và có tiềm năng lớn như than, sắt, titan, băng cháy, cát thủy tinh, muối và các loại vật liệu xây dựng khác Nguồn lợi hải sản nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Ngoài

cá biển là nguồn lợi chính còn có nhiều đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác

Các loại hải sản trong lòng biển nước ta được đánh giá vào loại phong phú

cả về số lượng và chất lượng trong khu vực nhau, trong đó có trên 100 loài có giá trị kinh tế cao Đến nay đã xác định có 15 bãi cá lớn quan trọng, trong đó có 12 bãi

cá phân bổ ở vùng ven bờ và 3 bãi cá ở các gò nổi ngoài khơi Dọc ven biển còn có hơn 80 vạn hét-ta bãi triều và các eo vịnh, đầm phá ven bờ rất thuận lợi để nuôi trồng hải sản có giá trị xuất khẩu cao như tôm, cua, ngọc trai, cá song, cá mú, rong câu… Với tiềm năng trên, trong tương lai chúng ta có thể phát triển ngành nuôi trồng hải sản ở biển và ven biển một cách toàn diện và hiện đại tao ra nguồn xuất khẩu có kim ngạch lớn và khả năng cạnh tranh cao Dọc bờ biển nước ta đã xác định nhiều khu vực có thể xây dựng cảng, trong đó một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu như: Cái Lân và một số điểm ở khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, Lạch Huyện, Đình Vũ, Cát Hải, Đồ Sơn, Nghi Sơn, Cửa Lò, Hòn La, Vũng Áng, Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh, Vũng Tàu, Thị Vải… Riêng khu Vũng Tàu đến Hà Tiên do biển nông, nhiều sình lầy nên ít có khả năng xây dựng cảng biển lớn, nhưng vẫn có thể xây dựng cảng quy mô vừa ở Hòn chông, Phú Quốc hoặc cảng sông Cần Thơ Hiện nay nước ta có trên 100 cảng biển và 10 khu chuyển tải hàng hóa, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống các cảng biển

Trang 9

*/ Về quốc phòng - an ninh:

Biển nước ta được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia; biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc Lịch sử dân tộc đã ghi nhận có tới 2/3 cuộc chiến tranh, kẻ thù đã sử dụng đường biển, đường sông để tấn công xâm lược nước ta Những chiến công hiển hách của cha ông ta trên chiến trường sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm

938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt 1077; chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 và những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ mờ phai trong lịch sử dân tộc

Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam

có vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển Do đặc điểm lãnh thổ đất liền nước ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vào Nam, chiều ngang hẹp (nơi rộng nhất khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50 km), nên chiều sâu phòng thủ đất nước bị hạn chế Hầu hết các trung tâm chính trị, kinh tế -

xã hội của ta đều nằm trong phạm vi cách bờ biển không lớn, nên rất dễ bị địch tấn công từ hướng biển Nếu chiến tranh xảy ra thì mọi mục tiêu trên đất liền đều nằm trong tầm hoạt động, bắn phá của vũ khí trang bị công nghệ cao xuất phát từ hướng biển Nếu các quần đảo xa bờ, gần bờ được củng cố xây dựng thành những căn cứ,

vị trí trú đậu, triển khai của lực lượng Hải quân Việt Nam và sự tham gia của các lực lượng khác thì biển đảo có vai trò quan trọng làm tăng chiều sâu phòng thủ hiệu quả cho đất nước

Từ nhiều năm nay, nhất là vào những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ

XX đến nay trên Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biển, đảo rất quyết liệt

và phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định, tác động đến quốc phòng và an ninh nước ta Trên Biển Đông, vùng biển nước ta tiếp giáp với vùng biển 7 nước

Trang 10

trong khu vực là: Trung Quốc (phía Bắc), Cam-pu-chia và Thái Lan (Tây Nam), Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Bru-nây (phía Đông, Đông Nam và Nam), nơi đây đang diễn ra những tranh chấp phức tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa các quốc gia, đẩy tới xu hướng tăng cường lực lượng quân sự, đặc biệt là hải quân của các nước trong khu vực, nhất là những nước có tiềm lực lớn về kinh tế, quân

sự tận dụng ưu thế của mình trên biển đe dọa chủ quyền trên vùng, biển, đảo, thềm lục địa của nước ta, gây ra những nhân tố khó lường về sự toàn vẹn chủ quyền lãnh

Vươn ra biển, làm giàu từ biển là định hướng đúng đắn phù hợp trong điều kiện hiện nay Việt Nam là một quốc gia có biển, một nhân tố mà thế giới luôn xem như một yếu tố đặc lợi, chúng ta cần tăng cường hơn nữa những khả năng quản lý, làm chủ vươn ra biển làm động lực thúc đẩy các vùng khác trong đất liền phát triển, chúng ta phải có quyết tâm cao, tập trung huy động mọi tiềm năng và lợi thế của biển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh trên biển để tạo ra môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và ngư dân các địa phương yên tâm làm ăn trên các vùng biển đảo, nhất là ở vùng biển xa Phải xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam và các lực lượng vững mạnh, theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và hiện đại, ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ để quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.Tuy nhiên hiện nay tình hình biển đảo của nước ta bị nhiều hành động của các nước chống phá

*/Những hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo

Xâm phạm là hành động quân sự của quân đội (hoặc lực lượng vũ trang)

một nước hay liên minh các nước vào một vị trí địa lý chính trị trọng yếu của nước khác

Theo Điều 1 của Nghị quyết 3314 nhằm định nghĩa về Xâm phạm chủ quyền của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, Xâm phạm là việc sử dụng lực

lượng vũ trang hoặc là bất kỳ hành động nào trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm chống lại chủ quyền, toàn vẹn

Trang 11

lãnh thổ hay sự độc lập về chính trị của một quốc gia khác hoặc của 1 liên minh các quốc gia khác Hành động xâm phạm có nhiều mục đích như mở rộng lãnh thổ, tạo ra điều kiện để mặc cả trên bàn đàm phán và để thực hiện các mục đích chính

trị khác nhau Theo Nghị quyết 3314, nhằm định nghĩa về Xâm phạm của Đại hội

đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, xâm phạm là một sự kiện diễn ra giữa các quốc gia với nhau, các cuộc chiến giữa các phe phái trong cùng một quốc gia không được coi là các hành động xâm phạm

Các bằng chứng khảo cổ học đã chỉ ra rằng việc xâm phạm đã thường xuyên xảy ra từ thời tiền sử Trong thời cổ, trước khi có các phương tiện giao tiếp bằng sóng vô tuyến và các phương tiện vận tải nhanh, cách duy nhất để bảo đảm bảo được sức mạnh cần thiết là di chuyển các đoàn người (đoàn quân) như một lực lượng lớn Do vậy, theo bản chất tự nhiên của nó đã dẫn tới chiến lược xâm chiếm Cùng với các cuộc xâm lược là việc mang đến những sự thay đổi văn hóa, thay đổi về tôn giáo, triết học, và công nghệ đã hình thành nhiều nền văn minh khác nhau của thế giới cổ

Để tiện phân biệt, Nghị quyết 3314 nhằm định nghĩa về Xâm phạm chủ quyền của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974 đã nêu khái quát về các hình

thức xâm phạm ở Điều 2 và các loại hình xâm lược một cách cụ thể ở Điều 3 Tuy nhiên hành động xâm phạm không chỉ bao gồm những hành động trong điều 3 mà còn những hành động khác

Điều 2: Việc sử dụng lực lượng vũ trang trước của một quốc gia hay của

một liên minh các quốc gia mà vi phạm Hiến chương Liên Hiệp Quốc sẽ được viện dẫn như một bằng chứng xác đáng của một hành vi xâm lược bất chấp Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, có thể kết luận là:

“việc xác định rằng một hành động xâm lược, mà hành động xâm lược đó đã được thừa nhận là vi phạm Hiến chương, sẽ không được bào chữa bởi việc nhận thấy những tình huống có liên quan, bao gồm thực tế rằng những hành động được quan tâm hay những hậu quả của những hành động động được quan tâm này không ở mức nghiêm trọng”

Điều 3: Chiếu theo và viện dẫn Điều 2, bất kỳ những hành động sau đây

Trang 12

sẽ bị coi là xâm lược dù cho không tuyên bố chiến tranh

Hành động xâm lấn hoặc tấn công được thực hiện bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm vào một quốc hoặc một liên minh các quốc gia khác hoặc là hành vi chiếm đóng quân, dù cho chỉ là tạm thời hoặc là sau khi thực hiện hành vi xâm lấn hoặc tấn công hay bất kỳ sự sáp nhập thông qua việc sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ hoặc một phần của lực lượng tại chỗ của một quốc hoặc một liên minh các quốc gia khác được nói ở trên

Hành vi bắn phá, pháo kích, cường kích hoặc ném bom được thực hiện bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia nhằm vào lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác hoặc việc sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia nhằm vào lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác

Hành vi phong tỏa các cảng hay bờ biển được của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia được thực hiện bởi lực lượng vũ trang của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác

Việc sử dụng lực lượng vũ trang của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia mà lực lượng vũ trang này ở trong lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh các quốc gia khác không dựa theo thỏa thuận của quốc gia hoặc liên minh quốc gia tiếp nhận, bao gồm việc sử dụng lực lượng vũ trang này vi phạm các điều khoản có trong thỏa thuận hoặc bất kỳ việc kéo dài sự hiện diện ở những khu vực như trên vượt quá thời hạn có trong thỏa thuận

Có thể thấy rằng xâm phạm chủ quyền lãnh thổ được thực hiện trên 3 góc

độ khác nhau Có thể là xâm phạm đất liền, biển, hoặc trên không Qua đó, có thể hiểu hành động được coi là xâm phạm chủ quyền biển đảo là những hành động diễn ra trên phạm vi biển đảo của một hay nhiều quốc gia Một cuộc tấn công trên

bờ, trên biển hoặc trên không của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia được thực hiện bởi lực lượng vũ trang hoặc lực lượng không quân hoặc lực lượng hải quân hoặc lực lượng không quân của hải quân của một quốc gia khác hoặc một liên minh các quốc gia khác.Theo quy định của Công ước Luật biển năm 1982, quốc gia ven biển có quyền xác định các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia (nội

Trang 13

thủy, lãnh hải) và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) Điều này thể

hiện rõ nội dung của nguyên tắc “đất thống trị biển”, theo đó lãnh thổ đất liền là

cơ sở để xác lập và mở rộng chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia trên biển Cần lưu ý rằng diện tích lãnh thổ không đóng vai trò quan trọng bởi chủ quyền trên lãnh thổ đó mới là nền tảng quyết định việc mở rộng quyền lực quốc gia ra phía biển

Hiện nay, Trung Quốc đang thực hiện một loạt những hành động xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam Có thể kể đến một số hoạt động như sau:

Một là, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại

quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc đánh chiếm trái phép từ năm

1974 đến nay Đây không còn là tranh chấp về mặt pháp lý nữa mà thực chất là sự xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam

Hai là, tranh chấp chủ quyền giữa các nước Việt Nam, Trung Quốc,

Philippin Đài Loan, Bru - Ney và Malaysia tại quần đảo Trường Sa

Ba là, yêu sách đường lưỡi bò (đường 9 đoạn) một cách phi lý, bất hợp

pháp của Trung Quốc trên toàn Biển Đông Với âm mưu, ý đồ độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc muốn biến vùng biển này thành ao nhà, thành sân sau của mình Là bàn đạp để tiến sâu vào Đông Nam Á và là cánh cửa để Bắc Kinh vươn

ra thế giới Đặc biệt là những lợi ích về mặt kinh tế, bởi nơi đây chứa hàm lượng dầu mỏ, khí đốt lớn thứ 2 trên thế giới, hơn nữa với sản lượng băng cháy chưa được khai thác sẽ giải quyết vấn đề năng lượng với một quốc gia khát nhiên liệu như Trung Quốc

Bốn là, các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông như: Xây dựng trái

phép căn cứ quân sự trên đảo Gạc Ma của Việt Nam mà Trung Quốc đã đánh chiếm trước đây; hay vụ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD – 981 vào vùng lãnh hãi Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa…

Trên đây là một vài vấn đề đang gây căng thẳng trên Biển Đông hiện nay

Có thể nhận thấy, phần lớn các vấn đề này đều có sự góp mặt của phía Trung Quốc

Trang 14

như một dấu hiệu cho chúng ta thấy được tham vọng độc chiếm Biển Đông của quốc gia này

Cùng với những sự việc manh động gần đây của chính quyền Bắc Kinh, chúng ta cần phải có những cách nhìn nhận đúng đắn, có những đánh giá chính xác

và những bước đi phù hợp với từng thời gian, hoàn cảnh đối với từng sự việc tại Biển Đông

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT

1.2.1 Sự cần thiết tích hợp GDCQBD trong dạy học GDCD ở trường THPT hiện nay

*/ Đặc điểm của môn GDCD ở trường THPT

Môn GDCD là một môn khoa học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội Các tri thức khoa học của bộ môn GDCD bao gồm phạm vi kiến thức rộng lớn, bao quát toàn

bộ đời sống xã hội có tính lý luận, tính khái quát cao về thuộc tính cơ bản của hiện thực Đó là các kiến thức về Triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học, Đạo đức học, pháp luật, mỹ học và các đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước dưới dạng phổ thông hóa, các kiến thức trên được sắp xếp phân bố theo chương trình học từ lớp 10 đến lớp 12 Sự phân bố này tuân theo một hệ thống tri thức khoa học, đảm bảo tính logic, hợp lý, vừa đảm bảo tính sư phạm, tính thực tiễn, đảm bảo hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Với vị trí, chức năng môn học, về phần mình môn GDCD trực tiếp giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, phong cách, chuẩn mực của con người lao động mới Đó

là những con người vừa có năng lực hoạt động thực tiễn, vừa có phẩm chất chính trị tư tưởng, vừa có ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, vừa có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và có ích đối với xã hội

Trang 15

*/ Thực trạng nhận thức về ý thức trách nhiệm của học sinh THPT với chủ quyền biển

Học sinh – thanh niên hiện nay được hưởng thành quả của gần 30 năm đổi mới, điều kiện sống ( cả vật chất lẫn tinh thần ) tốt hơn, cơ hội học hành nhiều hơn, được tiếp cận nhiều kênh thông tin Và đặc biệt là 10 năm gần đây cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, họ được tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại

Do vậy, họ có tri thức rộng, tư duy năng động, sáng tạo, ham mê tìm hiểu, khám phá

Tuy nhiên ,hiện nay ở nước ta đời sống xã hội có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh Đáng chú ý là, "tệ sùng bái” nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Ngoài xã hội đã xuất hiện những cách sống và lối sống xa lạ, trái với thuần phong

mỹ tục của dân tộc Một bộ phận trong các tầng lớp nhân dân, các thành phần xã hội khi mưu cầu lợi ích cá nhân đã chà đạp lên những khuôn mẫu, những giá trị đạo đức truyền thống Nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn

xã hội khác đang phát triển Đặc biệt, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đọa về đạo đức và lối sống Đặc biệt trong những năm gần đây, xã hội xuất hiện nguy cơ khủng hoảng tinh thần, mất phương hướng lựa chọn giá trị - niềm tin và lối sống ở thế hệ trẻ Họ đang lớn lên, đang vào đời và chuẩn bị vào đời (thanh, thiếu niên) mà không biết tìm những điểm tựa tinh thần, tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức và lối sống ở đâu, với những tấm gương nào để noi theo

Thực trạng của sự biến đổi giá trị đạo đức như đã nêu trên là vấn đề đáng lo ngại và cần báo động Nó không chỉ là mối quan tâm của một số người, một số cơ quan nghiên cứu, mà là vấn đề của toàn Đảng, toàn dân Nếu chúng ta không có sự quan tâm đúng mức, không có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết và ngăn chặn kịp thời những tiêu cực về mặt đạo đức đó, thì hậu quả của nó đối với đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước là hết sức nghiêm trọng, không thể lường

Trang 16

hết

Đặc biệt trong vấn đề biển đảo- chủ quyền lãnh thổ của dân tộc Có thể nói

Cả giáo viên, học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tuyên truyền giáo dục về quần đảo Hoàng Sa ở học đường Tuy nhiên, việc chuyển hóa nhận thức đó thành những hành động cụ thể vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều học sinh còn

mơ hồ khi được hỏi về những kiến thức liên quan đến quần đảo Trường Sa, Hoàng

Sa Ví dụ khi được hỏi những câu hỏi đơn giản như:

+ Em hãy cho biết vùng biển nước ta gồm mấy bộ phận?Kể tên

+ Bờ biển Việt Nam có chiều dài khoảng bao nhiêu km?Có bao nhiêu Tỉnh nước ta giáp biển

+ Việt Nam có chung biển Đông với bao nhiêu quốc gia? + Kể tên hai quần đảo xa bờ của nước ta và cho biết thuộc tỉnh nào? + Tại sao cần phải bảo vệ chủ quyền của một hòn đảo dù rất nhỏ của nước ta? + Nước ta có khoảng bao nhiêu đảo lớn, nhỏ trên biển? Bao nhiêu Huyện đảo?

+ Đảo lớn nhất trong hệ thống đảo của nước ta là? +Việt Nam chính thức tham gia và là thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (1982) vào năm nào?

Nhiều học sinh THPT- chủ nhân tương lai của đất nước còn không biết về những vấn đề cơ bản này, thậm chí nguy hại hơn còn có những em không biết phản ứng, đôi khi thờ ơ khi nhìn thấy tấm bản đồ Tổ quốc ở đâu đó vẽ thiếu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

*/ Thực trạng dạy và học tích hợp nội dung chủ quyền biển đảo trong môn GDCD

Thực sự vấn đề nhận thức về trách nhiệm biển đảo là rất đang lo ngại, đặc biệt đối với thế hệ trẻ Tuy nhiên, trong thực tế GV lại rất ít đổi mới PPDH theo hướng tích cực vào dạy học môn GDCD nói chung và tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT cho HS nói riêng nhằm nâng

Trang 17

cao hiệu quả giáo dục cho HS

Đi sâu tìm hiểu tôi nhận thấy mặc dù có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung GDCQBĐ cho

HS Nhưng thực tế, GV lại chưa quan tâm đúng mức, đa số GV đều cho rằng họ phải làm sao truyền tải được một lượng kiến thức khá lớn tới HS, họ còn lối tư duy dạy sao cho đủ phân phối chương trình Vì vậy, dạy học tích hợp GDCQBĐ đang còn là vấn đề khó, nội dung nhạy cảm, phương pháp tích hợp nội dung này chưa thu hút được sự quan tâm đúng như tầm quan trọng của nó

Đối với GV dạy học môn GDCD của trường THPT đã nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD, đã thực hiện dạy học tích hợp theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT nhưng chưa thực sự hiệu quả Để tìm hiểu rõ hơn, tôi tiến hành điều tra thực trạng dạy và học ở trường THPT Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến, Nam Định trên các khía cạnh sau:

* Kết quả phân tích dữ liệu điều tra từ GV

Để tìm hiểu thực trạng về việc tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT tôi tiến hành điều tra HS và GV đang học tập và giảng dạy tại trường Qua khảo sát 4GV đang tham gia giảng dạy môn GDCD ở trườngTHPT Nguyễn Huệ và Nguyễn Khuyến, Nam Định và khảo sát 1050 HS khối 10,11, 12 trường THPT Nguyễn Huệ năm học 2018 – 2019, kết quả thu được như sau:

Qua tìm hiểu tôi thấy các PPDH như: phương pháp nêu vấn đề; phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp dự án; phương pháp đóng vai các GV rất ít hoặc sử dụng vẫn còn khá dè dặt Ngược lại, nhóm PPDH truyền thống như: phương pháp thuyết trình; đàm thoại thì GV sử dụng khá thường xuyên

Đối với HS: Qua thực tế khảo sát tôi thấy hiện nay nhận thức của một bộ phận

nhỏ HS chưa ý thức được trách nhiệm của bản thân trong đấu tranh, phê phán các hành vi xâm phạm CQBĐ, cũng như những hiểu biết cơ bản về biểu hiện của hành

vi đó

Trang 18

Qua các bài giảng trên lớp, bản thân tôi thấy HS có biết nhưng dành sự quan tâm rất ít đến các vấn đề về biển đảo, vi phạm biển đảo, hoặc có chăng thì HS suy nghĩ rất tiêu cực về các vấn đề đó, thậm chí có thái độ bàng quan với những vấn đề

đó Đây là một thực tế đáng buồn đòi hỏi phải có biện pháp góp phần tích cực trong việc giáo dục đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của HS hình thành thái độ ứng xử đúng đắn với hành vi vi phạm CQBĐ

* Kết quả phân tích dữ liệu về phía HS

Để tìm hiểu thực trạng về việc sử dụng PPDH môn GDCD ở THPT Nguyễn Huệ cũng như nhận thức về việc tích hợp nội dung GDCQBĐ cho HS Tôi đã tiến hành điều tra 1050 HS tại THPT Nguyễn Huệ như sau:

- Khi được hỏi những nguyên nhân sau, nguyên nhân nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn GDCD

Kết quả thu được như sau:

+ Nội dung môn học chưa hấp dẫn 972 HS = 92,6%

+ GV chưa đổi mới khâu kiểm tra đánh giá 596 HS = 56,8%

Đánh giá chung về thực trạng:

Qua khảo sát thực tế, có thể khẳng định rằng tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD theo PPDH truyền thống vẫn thường xuyên được GV sử dụng, chủ yếu mang tính chất truyền đạt, chuyển tải nội dung đã được quy định tích hợp, cung cấp những thông tin mang tính lý thuyết Mặt khác, việc đánh giá chủ yếu theo nội dung dạy học, theo cách dạy, khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức là chính Khả năng HS biết vận dụng thực tiễn, sáng tạo những nội dung đã học còn có những hạn chế nhất định

Trang 19

Nguyên nhân của thực trạng tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT chưa hiệu quả

Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là ở PPDH của GV, thể hiện ở một số nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, PPDH truyền thống như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm

thoại cũng có những ưu điểm nhất định Tuy nhiên, khi vận dụng vào trong thực tiễn bài dạy GV có sử dụng nhưng vận dụng khá đơn điệu mang tính hình thức vì thế chưa phát huy được hiệu quả của tích hợp nội dung GDCQBĐ

Thứ hai, thông qua việc khảo sát giáo án của một số GV dạy học tại trường, tôi

nhận thấy GV còn chuẩn bị PPDH nội dung tích hợp GDCQBĐ còn sơ sài, chưa đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết còn ít, mang tính lý luận chung chung, chưa có nhiều tình huống vận dụng thực hành, luyện tập cho học sinh rèn luyện kĩ năng tư duy và giải quyết vấn đề

Thứ ba, thông qua việc khảo sát dự giờ của một số GV về tích hợp nội dung

GDCQBĐ tôi nhận thấy: về cấu trúc của giờ học, đa số GV đều làm theo một khuôn khổ, trình tự đầy đủ các hoạt động nhất định Với PPDH như vậy, làm cho

HS trước khi vào giờ học đã có tâm lý thụ động, thiếu hứng thú học tập, vì các em không thấy điều gì mới lạ, mà điều mới lạ mới kích thích nhận thức, mới thu hút sự chú ý của các em, hiệu quả mang lại rất thấp

Những hạn chế nêu trên đã làm ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức và rèn luyện của HS Do đó, làm giảm chất lượng học tập bộ môn Như vậy, cần thiết phải có những thay đổi về PPDH môn GDCD theo hướng tích cực hóa, nhằm nâng cao hiệu qủa tích hợp nội dung GDCQBĐ cho HS

Thứ tư, GV còn gặp khó khăn trong việc sử dụng các trang mạng xã hội,

internet; hay việc tra cứu tìm địa chỉ tin cậy để tìm đúng các tranh ảnh, bảng biểu hay các thông tin sự kiện chính xác và khoa học Nếu phương pháp không khéo léo, các dẫn chứng không thời sự, chính xác có thể làm HS có cái nhìn tiêu cực vào đất nước, vào các đường lối lãnh đạo và chủ quyền quốc gia Nhất là các em HS mới trải qua tuổi dậy thì, tâm sinh lý chưa ổn định, trải nghiệm sống còn rất ít, chưa có cái nhìn đa chiều, chưa biết cách tiếp nhận và xử lý thông tin

Trang 20

Thứ năm, môn GDCD tích hợp rất nhiều nội dung, do đó thời gian dành cho nội

dung tích hợp GDCQBĐ còn có những hạn chế nhất định Hơn nữa, GV còn nặng

nề trong việc dạy đúng và đủ theo phân phối chương trình của Bộ GD & ĐT Với

tư tưởng đó, nên GV còn hời hợt, không quan tâm nhiều đến việc tích hợp các nội dung vào bài dạy

1.2.2 Yêu cầu khách quan của việc dạy học tích hợp GDCQBD trong dạy học GDCD ở trường THPT

Trước thực trạng “xuống cấp” về đạo đức của một bộ phận thanh, thiếu niên hiện nay, ngoài việc tìm ra nguyên nhân của thực trạng, thì điều quan trọng hơn cả

là phải tìm ra được cách chữa trị cho những vấn đề mà xã hội đang phải đối mặt Việc nhà trường tăng cường những biện pháp giáo dục tích cực như dạy học lồng ghép giữa các môn học với dạy đạo đức, dạy pháp luật, giáo dục giới tính cho HS…là một giải pháp quan trọng Trong đó cần đặc biệt quan tâm tới môn GDCD bởi xuất phát từ nhiệm vụ của môn học này Đặc biệt, việc dạy học môn GDCD không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà quan trọng hơn là phát triển năng lực thực hành cho HS, để HS biến những tri thức được học thành hành động cụ thể, phù hợp yêu cầu của xã hội Qua các bài học GDCD giúp các em hiểu được những chuẩn mực đạo đức của xã hội trong các mối quan hệ và hình thành nhu cầu thực hiện theo những chuẩn mực đạo đức đó ở HS Vì vậy, một định hướng đúng của

GV có ý nghĩa rất lớn đến hành vi của HS

Nghiên cứu công tác giáo dục đào tạo, biển đảo của một số quốc gia cho thấy, để nâng cao hiệu quả công tác GDCQBĐ nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã đưa nội dung GDCQBĐ vào giáo dục trong các nhà trường, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Mỹ, Philippin… Qua giáo dục đào tạo, biển đảo kiến thức về GDCQBĐ cho cán bộ, công chức, SV, HS nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu đáng kể trong đấu tranh chống lại những hành vi xuyên tạc sự thật, làm tổn hại đến an ninh và quốc phòng của quốc gia, nhất là cho công tác GDCQBĐ

Môn GDCD tích hợp rất nhiều nội dung như: giáo dục kĩ năng sống, an toàn giao thông, giáo dục pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư duy phê phán, tư duy

Trang 21

sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…, đặc biệt là nội dung tích hợp về GDCQBĐ

là nội dung mới và khó, nhạy cảm Thông qua việc tích hợp nội dung GDCQBĐ nhằm xây dựng đạo đức xã hội, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho cán

bộ, công chức, sinh viên, HS về GDCQBĐ, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống lại những hành vi gây mất đoàn kết dân tộc, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia trong thời gian tới là hết sức cần thiết

Tìm hiểu nhận thức của GV về sự cần thiết của việc tăng cường tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT cho HS thông qua đổi mới PPDH, chúng tôi đã khảo sát 4 GV kết quả thu được như sau:

Bảng 1.3 Sự cần thiết của tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT cho HS thông qua đổi mới PPDH

1.2.3 Tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong dạy học môn

GDCD ở trường THPT

Hiện nay, dạy học tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đang được quan tâm Thực hiện tích hợp trong dạy học sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho việc góp phần hình thành và phát triển các năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn

đề cho học sinh

*/ Mục đích của việc tích hợp

- Trang bị cho HS những hiểu biết cần thiết, cơ bản về chủ quyền biển đảo Vệt Nam

- Giáo dục ý thức quan tâm tới việc học tập, làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh và thế hệ cha anh ; trở thành thói quen và nếp sống của HS

Trang 22

- Phát triển kĩ năng thực hành, kĩ năng phát hiện và ứng xử tích cực trong việc học tập và nhận thức trách nhiệm bảo vệ biển đảo

- Góp phần giáo dục cho HS trở thành người công dân tốt, biết sống và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và có trách nhiệm đối với đất nước

*/ Nguyên tắc dạy học tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT

Để dạy học tích hợp nội dung GDCQBĐ có hiệu quả, đòi hỏi phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

- Đảm bảo mục tiêu môn học, hình thành và phát triển các năng lực cần thiết cho người học

- Đảm bảo được nguyên tắc tính Đảng

Một là: giữ vững và phát triển các quan điểm khoa học của học thuyết Mác-

Lênin trong quá trình dạy học

Hai là: đảm bảo tính chiến đấu của học thuyết Mác – Lênin trong dạy học

- Đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, mang tính thiết thực, có ý nghĩa với người học

- Đảm bảo nguyên tắc tính khoa học và tiếp cận những thành tựu của khoa học

kĩ thuật, đồng thời vừa sức với học sinh

- Đảm bảo tính giáo dục và giáo dục vì sự phát triển bền vững

- Tăng cường tính thực tiễn, quan tâm tới các vấn đề mang tính xã hội của địa phương

- Đảm bảo nguyên tắc phát huy tính tích cực của học sinh

*/ Nội dung tích hợp GDCQBĐ trong môn GDCD cấp THPT

Cần phải thấy rõ rằng không phải bài nào trong chương trình môn GDCD cấp THPT cũng tích hợp được nội dung GDCQBĐ mà nội dung đó cần được đưa vào khéo léo, hợp lý ở một số bài cụ thể Theo Tài liệu giáo dục nội dung CQBĐ trong môn GDCD cấp THPT ban hành kèm theo Tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung giáo dục tài nguyên và môi trường biển, đảo cho học sinh Trung học phổ thông của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo năm 2011 Bộ trưởng yêu cầu các

Trang 23

cơ quan ban ngành, đoàn thể, các trường THPT, tổ chuyên môn phối hợp với nhau để xây dựng nên các nội dung tích hợp GDCQBĐ cho phù hợp Theo đó, nội dung tích hợp GDCQBĐ có thể giảng dạy ở các bài sau đây:

Lớp Tên bài

Địa chỉ tích hợp Nội dung tích hợp Ghi chú

Về kĩ năng:

Phân biệt đúng đắn hành vi xâm phạm chủ quyền biển đảo và hành vi bảo vệ chủ quyền biển đảo

Về thái độ:

Đấu tranh chống lại những hành động vi phạm chủ quyền biển đảo

Ví dụ:

Những hành vi biểu tình thị uy

về chủ quyền biển đảo gây kích động

Những hành vi này là sai trái và làm tổn hại đến chủ quyền quốc gia

“Nghĩa vụ”

Về kiến thức:

Hiểu được nghĩa vụ của công dân, của thanh niên là gì đối với sự nghiệp chính trị

Ví dụ:

Một số hành vi không quan tâm đến chủ quyền biển đảo Sống

Trang 24

nước nhà

Về kĩ năng:

Phân biệt và xác định đúng đắn những việc được làm và không được làm đối với chủ quyền lãnh thổ

Về thái độ:

Thực hiện đúng nghĩa

vụ và trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc

theo kiểu “Đèn nhà ai nhà nấy rạng”

Ví dụ:

Hậu quả của việc không nắm rõ trách nhiệm của học sinh đối với vấn đề chủ quyền biển đảo như (dễ

bị dụ dỗ lôi kéo,

bị kích động, hay xuyên tạc sự thật) gây ra những sai lầm trong cuộc sống

Về kiến thức:

Hiểu được trách nhiệm đạo đức của công dân trong mối quan hệ với các chiến sĩ, các cán bộ

và đồng bào đang hoạt động trên biển đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

họ

Trang 25

bào vùng biển đảo quốc gia

“Lòng yêu nước là gì?”

và phần 3 :

“Trách nhiệm bảo

vệ Tổ quốc”

Về kiến thức:

Biết được lòng yêu nước là gì? Biểu hiện của lòng yêu nước đối với chủ quyền biển đảo là gì?

Về kĩ năng:

Hiểu được trách nhiệm của công dân, đặc biệt là của học sinh đối với vấn đề CQBĐ

Về thái độ:

Yêu quý, quê hương đất nước, biển đảo

Có ý thức, trách nhiệm trong công cuộc xây dựng

và bảo vệ CQBĐ

Ví dụ: Cần phải

đấu tranh với những hành vi đi ngược lại với lợi ích quốc gia, vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam

Ví dụ: Cảnh giác

trước những hành

vi âm mưu chia

rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch, những việc làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ

Trang 26

“Trách nhiệm của công dân đối với chính sách quốc phòng và an ninh”

Về kiến thức:

Hiểu được trách nhiệm của công dân đối với chính sách quốc phòng và an ninh Đặc biệt là

CQBĐ Về kĩ năng:

Biết tham gia tuyên truyền và thực hiện tốt pháp luật, chính sách của nhà nước về vấn

đề CQBĐ Về thái độ:

Tin tưởng, ủng hộ đường lối, chính sách

của nhà nước

Hành vi vi phạm chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia Chấp hành pháp luật về quốc phòng an ninh, giữ gìn trật

tự, an toàn quốc gia

Trang 27

“Nguyên tắc của chính sách đối ngoại” và phần 4:

“Trách nhiệm của công dân đối với chính sách đối ngoại”

Về kiến thức:

Hiểu được nguyên tắc và những phương hướng cơ bản của chính sách đối ngoại với vấn đề biển Đông

Về kĩ năng:

Biết vận dụng chính sách đối ngoại trong hoạt động của mình, nhất là trong ứng xử với vấn đề biển đảo

Về thái độ:

Xác định được trách nhiệm của công dân đối với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

Ví dụ: Trước tình

hình phức tạp của vấn đề biển Đông, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ

XI, Đảng ta đã có đường lối đối ngoại khôn khéo,

nhưng kiên quyết, lấy độc lập, tự chủ là yếu

tố hàng đầu để giải quyết mọi vấn đề

Ví dụ: Cần phải

ứng phó một cách kiên quyết, bền bỉ, linh hoạt, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhằm

Trang 28

TIỀU KẾT CHƯƠNG 1

Giáo dục, bồi đắp tình yêu Tổ quốc, tình yêu biển, đảo Việt Nam cho thế hệ trẻ là việc làm rất cần thiết Nhận thức được điều đó, các cấp chính quyền thành phố Hà Nội đã đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho Đoàn viên thanh niên về vị trí, vai trò của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việc giáo dục, nuôi dưỡng tình yêu biển, đảo cho thế hệ trẻ cần chú trọng ngay từ khi các em mới chập chững đến trường Đối với độ tuổi mẫu giáo, tiểu học, rất cần những câu chuyện về biển của ông bà, cha mẹ để các

em sớm hình thành những khát khao khám phá, tạo điều kiện để các em sớm làm quen với tiềm năng giàu đẹp của biển, tham gia các cuộc thi tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam

Như vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng

Trang 29

Trong nghiên cứu đề tài này, thực nghiệm sư phạm nhằm mục đích kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học: nếu tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Huệ , Nam Định sẽ góp phần nâng cao được hứng thú học tập của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Qua việc tích hợp sẽ giúp các em HS có ý thức trách nhiệm trong đấu tranh và lên

án, phê phán những hành vi xâm phạm đến lợi ích và chủ quyền quốc gia Từ đó, các em đóng góp công sức nhỏ bé của mình để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp

Kết quả TN sư phạm sẽ giúp cho người nghiên cứu có điều kiện so sánh, điều chỉnh nội dung nghiên cứu cho phù hợp với thực tiễn Đồng thời thực nghiệm sư phạm cũng là tài liệu tham khảo cho các GV dạy học môn GDCD ở trường THPT

Qua thực nghiệm “Tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Huệ , Nam Định ” sẽ giáo dục được ý thức, trách nhiệm,

tình yêu quê hương đất nước, tình yêu biển đảo, thấu hiểu biển, đảo quê hương; pháp luật về quốc phòng, an ninh; đấu tranh phê phán những hành vi xâm phạm lãnh thổ và thể hiện trách nhiệm công dân cho phù hợp Góp phần xây dựng quê hương giàu từ biển, mạnh từ biển, vững mạnh

Trang 30

Giả thuyết thực nghiệm

Giả thuyết thực nghiệm được thực hiện như sau: muốn giáo dục nội dung GDCQBĐ cho HS trường THPT GV tích hợp thông qua chương trình chính khóa (tích hợp ở 8 bài, chương trình GDCD cấp THPT và hoạt động ngoại khóa Qua

đó, HS nhận biết được những hành vi nên làm, không nên làm, có ý thức, trách nhiệm và phê phán với hành vi sai lầm

Địa điểm, đối tượng và thời gian thực nghiệm

Địa điểm TN: Tác giả tiến hành thực nghiệm tại trường THPT Nguyễn Huệ , Nam Định

Đối tượng TN: HS lớp 10, 11, của trường THPT Nguyễn Huệ , Nam Định Thời gian TN: năm học 2018 – 2019

* Thứ nhất, đối với HS lớp 10, 11 trường THPT Nguyễn Huệ, Tác giả tiến hành

TN ở 4 lớp bao gồm:

+ Hai lớp TN: lớp 10A8 (44HS), 11A8 (43HS)

+ Hai lớp ĐC: lớp 10A2 (41HS), 11A2 (42HS)

Các lớp TN và ĐC được chọn theo nguyên tắc sau: trình độ ban đầu của hai lớp

TN và ĐC là tương đối đồng đều nhau trên một số tiêu chí sau: có sĩ số tương đối bằng nhau, kết quả học tập và trình độ nhận thức không có sự chênh lệch đáng kể

về kiểm tra đầu vào cũng như trong suốt quá trình học tập và do GV bộ môn GDCD trực tiếp giảng dạy Điểm khác biệt của ba lớp là ở lớp TN, GV thực hiện giáo án TN còn ở lớp ĐC thì GV vẫn dạy theo giáo án không tích hợp nội dung GDCQBĐ, và sử dụng chủ yếu là các PPDH truyền thống

* Thứ hai, đội ngũ GV dạy học môn GDCD của trường THPT Nguyễn Huệ Thời gian TN: năm học 2018 – 2019

Tham gia các buổi họp giao ban, họp trao đổi chuyên môn về tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD ở trường THPT, các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa Đồng thời, tổ chức cho GV tập huấn viết bài thu hoạch, tính

Trang 31

điểm và tính vào điểm chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên GV làm căn cứ để đánh giá, xếp loại thi đua cuối năm học

Phương pháp thực nghiệm

Khảo sát lớp TN và lớp ĐC:

- Kiếm tra trước khi thực nghiệm

- Phân tích số liệu

- Công tác thực nghiệm được tiến hành cụ thể như sau:

+ Ở lớp TN bài giảng được tiến hành theo cách thức và quy trình tích hợp nội dung GDCQBĐ vào trong bài học môn GDCD

+ Ở lớp ĐC, GV vẫn tiến hành dạy như bình thường tức là theo cách mà GV vẫn dạy hàng ngày không tích hợp nội dung GDCQBĐ vào trong bài học môn GDCD

*/ Nội dung thực nghiệm

Những nội dung khoa học cần thực nghiệm trong lớp và trải nghiệm sáng tạo

Trong phạm vi đề tài “ Giáo dục ý thức, trách nhiệm chủ quyền biển đảo trong dạy học môn GDCD ở trường THPT ” tác giả lựa chọn những kiến thức trong

chương trình môn GDCD cấp THPT hiện đang được giảng dạy ở trường THPT để tiến hành thực nghiệm

Nội dung tích hợp GDCQBĐ cho HS được thiết kế ở 8 bài trong chương trình môn GDCD đó là:

Lớp 10 : Bài 14 Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Lớp 11 : Bài 15 Chính sách đối ngoại

Để tiến hành dạy học TN tác giả tiến hành soạn bài cho ba lớp TN và ĐC có trình

độ nhận thức tương đương nhau và cùng một bài Hai giáo án này khi thiết kế phải đảm bảo các yêu cầu:

* Nguyên tắc chung:

Một là, không làm thay đổi chương trình, kế hoạch và nội dung kiến thức trong

chương trình môn GDCD cấp THPT

Trang 32

Hai là, tuân thủ các bước lên lớp

Ba là, phù hợp với điều kiện cơ ở vật chất của nhà trường

* Quy trình thực nghiệm:

Bước thứ nhất, soạn giáo án thực nghiệm ( TN) có nội dung tích hợp GDCQBĐ

Sau khi chọn được bài TN, tác giả đã tiến hành thiết kế giáo án có nội dung tích hợp GDCQBĐ như quy trình đã đề xuất ở trên Giáo án TN được thiết kế tương đối chi tiết so với giáo án thông thường nhằm phục vụ tốt nhất cho mục tiêu tích hợp Bên cạnh đó khi tiến hành thiết kế giáo án tác giả cũng đã tính tới khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo của GV trong quá trình lên lớp cũng như khả năng tiếp thu của HS, phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Bước thứ hai, tiến hành TN

Một là, GV trực tiếp tiến hành TN dạy ở các lớp ĐC và lớp TN

Hai là, khi kết thúc buổi học GV trực tiếp giảng dạy rút kinh nghiệm về việc sử dụng PPDH như trên vào bài học đã phù hợp hay chưa phù hợp và khả năng lĩnh hội tri thức của HS trong lớp có đạt hiệu quả cao không? Từ đó điều chỉnh PPDH phù hợp cho những giờ dạy sau

Ba là, để đánh giá kết quả thực nghiệm tác giả dựa vào các tiêu chí sau:

Về mặt định lượng: sau khi tiết dạy ở các lớp kết thúc tác giả đưa ra bài kiểm tra nhận thức nhằm kiểm tra nhận thức của HS về giáo dục nội dung GDCQBĐ

Về mặt định tính: quan sát, đánh giá kết quả học tập của HS trên các mặt chủ yếu sau: tự giác, tích cực trong học tập, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, nêu lên suy nghĩ của cá nhân mình, say mê học tập, kết hợp hài hòa giữa hoạt động dạy của

GV với hoạt động học của HS nhằm tạo không khí sôi nổi trong các giờ học

Sau đó, tôi tiến hành kiểm tra kết quả học tập của HS ở cả lớp TN và ĐC, tiến hành chấm bài, xử lý kết quả thu được theo công thức toán học thống kê để rút ra kết luận sư phạm

Để thiết kế một bài học phải tuân thủ theo các bước cơ bản sau đây:

Bước thứ nhất: xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của bài học bao gồm cả nội dung

Trang 33

kiến thức, kĩ năng và thái độ

Bước thứ hai: xác định phương pháp, phương tiện dạy học

Bước thứ ba: xây dựng tiến trình bài học gồm các bước: ổn định tổ chức lớp, kiểm

tra bài cũ, giảng bài mới, củng cố, dặn dò

Bước thứ tư: đánh giá kết quả thực nghiệm

Thiết kế giáo án thực nghiệm trong lớp và hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Thiết kế giáo án thực nghiệm trong lớp học

Để tiến hành tích hợp nội dung GDCQBĐ trong dạy học môn GDCD cấp THPT tôi lựa chọn 3 bài đó là bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc (Chương trình GDCD lớp 10); bài 15: Chính sách đối ngoại (Chương trình GDCD lớp 11

Biết được thế nào là lòng yêu nước, truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

và các biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước Việt Nam

Hiểu được trách nhiệm của công dân, đặc biệt là học sinh với sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Trang 34

Có thái độ tích cực học tập, rèn luyện để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ quê hương đất nước

II Kiến thức trọng tâm

- Khái niệm lòng yêu nước

- Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam Trách nhiệm xây dựng và bảo vệ

tổ quốc

III Các nội dung tích hợp

Tích hợp nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về tư tưởng yêu nước Giáo dục tư duy phê phán, tư duy sáng tạo

GDCQBĐ (Tích hợp vào 2 phần 1 Lòng yêu nước và phần 3 Trách nhiệm bảo vệ

Tổ quốc)

IV Phương pháp và phương tiện dạy học

Phương pháp dạy học: Sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ đạo Ngoài ra còn phối kết hợp với một số phương pháp khác như: đàm thoại, trực quan, nêu vấn đề, giảng giải, trò chơi, nghiên cứu trường hợp, phỏng vấn

Phương tiện dạy học: Sử dụng bảng, phấn trắng, hình ảnh, số liệu, sách giáo khoa…

Sử dụng tài liệu hỗ trợ:

+ Sách giáo viên GDCD lớp 10

+ Thiết kế bài giảng môn GDCD lớp 10

+ Luật giáo dục năm 2005

+ Luật khoa học và công nghệ

V Tiến trình dạy học

1.Ổn định trật tự lớp

2 Dạy bài mới

Trang 35

Ngay từ khi nhỏ, chúng ta đã được dạy những bài học đầu đời về lòng yêu nước, về lòng tự hào dân tộc, sự hiếu thuận với cha mẹ và lòng kính yêu với Bác Hồ vĩ đại Chắc hẳn, ai trong chúng ta đã từng được nghe câu thơ:

“Quê hương là gì hở mẹ? Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ? Ai đi

xa cũng nhớ nhiều ”

Mỗi chúng ta cần có một cái nhìn chính xác về lòng yêu nước và thể hiện lòng yêu nước như thế nào cho đúng? Là một công dân Việt Nam cần có trách nhiệm gì đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua bài học hôm nay cô và trò chúng

ta sẽ cùng giải đáp thắc mắc đó

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung kiến thức cần đạt

Hoạt động 1: Hoạt động tìm hiểu lòng

yêu nước là gì?

Mục tiêu chung: HS hiểu được thế nào

là lòng yêu nước

Mục tiêu GDCQBĐ:

+ Về kiến thức: HS hiểu được những

hành vi nào là bảo vệ chủ quyền biển

đảo và ngược lại

+ Về kĩ năng: Phân biệt được những

hành vi được làm và không được làm

đối với chủ quyền biển đảo

+ Về thái độ: Có ý thức thể hiện tình

yêu biển đảo, chủ quyền đúng mực

Cách tiến hành:

Giáo viên cho học sinh nghe bài hát

“Việt Nam quê hương tôi” và “Tổ quốc

gọi tên mình” Sau đó đặt ra câu hỏi:

GV hỏi: Em có cảm xúc gì khi nghe

những bài hát trên Nội dung bài hát

1 Lòng yêu nước

a Lòng yêu nước

Trang 36

được thể hiện là gì? Qua đó, em hiểu

lòng yêu nước là gì?

HS trả lời cá nhân

GV nhận xét và kết luận

GV mở rộng và nêu vấn đề: Nhà văn

Vôn te đã nói: “Mọi dòng suối đổ về

sống Sông đổ vào đại trường giang Von

ga, con sông Von ga ấy đi ra biển Sống

yêu nhà, yêu quê hương, yêu gia đình,

yêu con người… Đó là tình yêu Tổ

quốc Vậy lòng yêu nước bắt nguồn từ

đâu?”

HS trả lời cá nhân

GV nhận xét và kết luận

GV sử dụng phương pháp phỏng vấn:

giáo viên tiến hành phỏng vấn 6 học

sinh bất kì trong trường thuộc cả 3 khối

(10, 11 và 12) về cách thể hiện trách

nhiệm của bản thân khi đất nước đang

đối diện với vấn đề biển Đông rất gay

gắt Giáo viên quay lại đoạn phỏng vấn

đó và trình chiếu trong giờ học

GV nêu vấn đề: Em nghĩ như thế nào về

cách thể hiện lòng yêu nước của người

Lòng yêu nước là tình yêu quê hương, đất nước và tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng của mình phục vụ lợi ích Tổ quốc

Lòng yêu nước bắt nguồn từ những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất

Trang 37

dân trên các trang mạng xã hội và những

hiện tượng thể hiện lòng yêu nước quá

khích

HS trả lời cá nhân

GV nhận xét và kết luận: Từ tình yêu

gia đình, làng xóm, yêu những người

xung quanh đó chính là lòng yêu nước

Lòng yêu nước được thể hiện qua những

việc làm cụ thể chứ không phải việc hô

khẩu hiệu, lý thuyết suông Lòng yêu

nước là cơ sở, động lực để thực hiện tốt

trách nhiệm xây dựng và bảo vệ tổ

quốc Hơn nữa lòng yêu nước còn là

một truyền thống quý báu của dân tộc ta

Hoạt động 2: Hoạt động tìm hiểu

truyền thống yêu nước của dân tộc

Việt Nam

Cách tiến hành:

GV đặt câu hỏi: Theo em, lòng yêu

nước mỗi người được thể hiện rõ nhất

khi nào?

HS trả lời cá nhân

GV nhận xét và kết luận: Lòng yêu nước

của mỗi người chỉ có thể nảy nở và phát

triển qua mỗi biến cố thử thách Trong

khó khăn, gian khổ, người người xích lại

gần nhau Biến cố ấy là chiến tranh loạn

lạc, là thiên tai, địch họa

GV đặt câu hỏi: Em hãy cho biết về

b Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam

Trang 38

truyền thống yêu nước của dân tộc ta?

HS trả lời cá nhân

GV nhận xét và chốt ý: Yêu nước là

truyền thống đạo đức, quý báu và thiêng liêng của dân tộc Việt Nam Bài học chống giặc ngoại xâm là min h chứng hùng hồn cho nhận định trên

Giáo viên dùng phương pháp thuyết trình, đàm thoại, kể chuyện, nêu vấn đề

để giúp học sinh tìm hiểu về biểu hiện của lòng yêu nước

GV đặt câu hỏi: Em hiểu như thế nào về

câu thơ “Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nổi thành người”

Qua đó em hiểu tình cảm gắn bó với quê hương đất nước được thể hiện như thế nào?

HS trả lời cá nhân

GV nhận xét và kết luận: Người Việt

Nam yêu nước luôn hướng về nguồn cội, về ông bà, tổ tiên và quê hương (Dù

ai đi ngược về xuôi, Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba)

GV đặt câu hỏi: Nước ta thường xuyên

xảy ra bão lũ Trước tình hình đó, chúng

ta đã có hoạt động gì giúp đỡ anh em đồng bào miền bão lũ? Việc làm đó nói lên điều gì?

Ngày đăng: 21/06/2021, 14:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w