- Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp giáo viên có thể giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tế đời sống phong phú, ý
Trang 1THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến : Rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục Tiểu học – Môn Toán
3 Thời gian áp dụng sáng kiến :
Từ ngày 6 tháng 9 năm 2019 đến ngày 20 tháng 6 năm 2020
4 Tác giả:
Trang 2BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1 Cơ sở lí luận
Như chúng ta đã biết, bậc Tiểu học là bậc học rất quan trọng, là nền tảng đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn bộ nhân cách của học sinh Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được giáo dục
và học hành Nghị quyết Trung ương II của Đảng đã sáng suốt đưa nền giáo dục lên quốc sách hàng đầu Chính vì vậy, Đảng và nhân dân ta đã không ngừng quan tâm và từng bước đổi mới quá trình dạy học một cách rõ rệt, tạo tiền đề đưa đất nước ta vào thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Cùng với các môn khoa học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng quan trọng, nó giúp học sinh nhận biết số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Đồng thời, nó cũng góp phần hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu của nhân cách con người Các khái niệm, quy tắc, kiến thức, kĩ năng toán có nhiều ứng dụng trong cuộc sống thực tiễn, do đó nó là một môn học không thể thiếu trong tất cả các cấp học
Toán học có khả năng giáo dục nhiều mặt: Khả năng phát triển tư duy logic, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc rèn luyện các phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học, phát triển trí thông minh, hình thành các phẩm chất cần thiết cho con người như cần cù, cẩn thận, ý thức vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, nề nếp, tác phong khoa học Chính vì vậy, nó là một trong những môn học chính mà chúng
ta cần phải quan tâm và là công cụ cần thiết cho việc học tập các môn học khác
Toán có lời văn được xem như cầu nối liền giữa kiến thức toán học trong nhà trường và ứng dụng kiến thức toán học trong xã hội Thông qua việc dạy toán có lời văn giáo viên rèn cho học sinh biết tư duy logic và cách diễn đạt Bài toán có lời văn là dạng toán phối hợp nhiều kiến thức kĩ năng các môn học trong nhà trường như: Tiếng Việt, Tự nhiên – xã hội,… Nó góp phần xây dựng cơ sở ban đầu cho những ước mơ và niềm say mê khoa học
Trang 3Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Toán ở bậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng Đó cũng là cơ hội rất tốt để học sinh được tập dượt
và phát triển các tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng Một trong những hoạt động
để tiếp thu những tri thức Toán học là hoạt động giải toán, trong đó có giải toán
có lời văn được thể hiện ở các điểm sau:
- Các khái niệm và các quy tắc về Toán trong sách nói chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng kiến thức, rèn kĩ năng tính toán Đồng thời, thông qua việc giải toán, giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm và thiếu sót của các em về mặt kiến thức, kĩ năng, tư duy Từ đó, giúp các em phát huy tốt những mặt ưu điểm
và khắc phục những mặt thiếu sót Mặt khác, cũng thông qua hoạt động giải toán, học sinh tự rút ra những ưu điểm và hạn chế của bản thân để có cách khắc phục, góp phần nâng cao chất lượng dạy – học toán Có thể coi việc dạy học giải
toán có lời văn là “hòn đá thử vàng” của dạy học Toán
- Việc kết hợp giữa học và hành, kết hợp giữa giảng dạy với đời sống thực tiễn được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán Các bài toán có liên
hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kĩ năng đó vào trong cuộc sống
- Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp giáo viên có thể giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tế đời sống phong phú, ý thức bảo vệ môi trường, phát triển dân số
có kế hoạch,…
- Giải toán có lời văn là một trong năm mảng kiến thức quan trọng của chương trình Toán Tiểu học, nó có ngôn ngữ hỗ trợ do vậy nó gắn kết được giữa các kiến thức toán với thực tiễn đời sống Giải toán có lời văn còn tạo điều kiện
Trang 4cho học sinh có năng lực giải quyết các bài toán, tình huống toán học xảy ra trong thực tế đời sống
- Ngoài ra, nó còn góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới Giáo dục các
em có ý chí vượt khó khăn, ý chí nhẫn nại, đức tính cẩn thận, chu đáo, cần cù, tỉ
mỉ, chính xác, làm việc khoa học có kế hoạch, nề nếp, tác phong, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát triển tư duy, trí thông minh,…
- Có thể nói giải toán có lời văn là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ ở học sinh Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực Các em biết tư duy logic, phân tích mối quan
hệ, xác định dữ liệu bài toán (cái đã cho, cái cần phải tìm); suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra; biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp giải toán, có kĩ năng đặt và giải phép tính đúng từ chỉ đơn vị Từ đó, giúp học sinh phát triển khả năng phân tích – tổng hợp tốt
Từ đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học là dễ nhớ nhưng nhanh quên, sự tập trung chú ý trong giờ học chưa cao, trí nhớ chưa bền vững, tư duy
cụ thể và tư duy ngôn ngữ trừu tượng còn non nớt, thích học nhưng cũng chóng chán Vì vậy giáo viên cần phải có biện pháp giúp học sinh khắc sâu kiến thức
và tạo ra không khí học tập sôi nổi để học sinh sẵn sàng, chủ động tích cực trong việc học tập, tiếp thu kiến thức, say mê và yêu thích môn học
Xuất phát từ cuộc sống thực tại có nhiều thay đổi về nền kinh tế, xã hội, văn hóa, thông tin,… đòi hỏi con người phải có bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, chủ động sáng tạo có khả năng giải quyết mọi vấn đề Để đáp ứng các yêu cầu trên trong giảng dạy nói chung và trong dạy học Toán nói riêng giáo viên cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức, vận dụng tốt kiến thức đã học vào cuộc sống
Trang 52 Cơ sở thực tiễn
Giải toán có lời văn là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp, hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ xảo tính vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học Giải toán có lời văn không chỉ nhớ mẫu rồi áp dụng mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc ý nghĩa các phép tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận của học sinh, đòi hỏi biết làm tính thông thạo Nội dung bài toán được thông qua những câu văn nói về những quan hệ tương quan và phụ thuộc có liên quan đến cuộc sống thường xảy ra hằng ngày Cái khó khăn của bài toán có lời văn là phải lược
bỏ những yếu tố có lời văn che đậy bản chất toán học của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán
và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài toán Đây chính là
điều kiện thúc đẩy tôi lựa chọn và nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm “Rèn kĩ
năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2” Vì khi các em được rèn kĩ năng
giải toán có lời văn một cách tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo ngay từ lớp
2 sẽ là bước tạo đà vững chắc để các em giải toán có lời văn ở các lớp tiếp theo được tốt hơn, đem lại niềm vui và hứng thú, say mê với môn học được coi là khô khan này
Qua một số năm thực nghiệm tại trường Tiểu học Đại An, có thể chưa là tối ưu Song, qua việc áp dụng thực nghiệm, tôi thấy học sinh có những kết quả
nhất định Vì vậy, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm “Rèn kĩ năng giải
toán có lời văn cho học sinh lớp 2” để chia sẻ với đồng nghiệp
Trang 6II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
- Học sinh có tương đối đầy đủ sách, vở, đồ dùng
- Các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập
1.2 Khó khăn
- Là một xã dân cư chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng như chất lượng học tập của các em
- Đồ dùng dạy học còn ít, chưa phong phú
- Việc phối kết hợp với cha mẹ học sinh còn khó khăn, gặp nhiều hạn chế khi liên lạc
- Nhiều gia đình bố mẹ đi làm ăn xa gửi con cho ông bà chăm sóc song do ông bà đã già yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu
- Một số học sinh gia đình chưa quan tâm, nhắc nhở không kịp thời còn khoán trắng cho cô giáo và nhà trường
- Do tâm lí chung của học sinh Tiểu học còn ham chơi, hiếu động, mau quên, chóng chán nên việc học hành của các em nếu không có sự giám sát chặt chẽ của gia đình thì khó có hiệu quả
- Trình độ nhận thức của học sinh không đồng đều Các em còn nhút nhát, chưa mạnh dạn phát biểu xây dựng bài trong giờ học
- Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài máy móc
Trang 7- Môn Toán là môn học khô khan, học sinh dễ nhàn chán
1.3 Thực trạng giải toán có lời văn của học sinh lớp 2
Học sinh Tiểu học có trí thông minh, khá nhạy bén sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú Đó là tiền đề tốt cho việc phát triển tư duy Toán học nhưng dễ
bị phân tán, rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng, quá tải Chính vì thế, nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, hình thức truyền tải, truyền đạt làm thế nào cho phù hợp với tâm lí lứa tuổi là điều kiện không thể xem nhẹ Đặc biệt với học sinh lớp 2, lớp mà các em vừa mới vượt qua những mới mẻ ban đầu chuyển
từ hoạt động chủ động chủ đạo là vui chơi sang hoạt động học tập Muốn giờ học đạt hiệu quả thì đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học
“Lấy học sinh làm trung tâm” hướng tập trung vào học sinh trên cơ sở hoạt
động của các em
Từ lớp 1, các em đã được làm quen với việc giải toán có lời văn nhưng chỉ là những bài toán hết sức đơn giản Lên lớp 2, các em bắt đầu gặp thêm nhiều dạng toán phức tạp hơn Do đó, các em gặp phải không ít những khó khăn trong việc giải những bài toán có lời văn
Qua thực tế khi mô tả quy trình giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2, ở khối lớp 2, tôi thấy phần giải toán có lời văn chiếm thời gian tương đối nhiều của môn Toán, nhưng thực tế việc dạy và học giải toán có lời văn vẫn chưa đạt được kết quả cao Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải hay loay hoay đi tìm phép tính,…
Việc đặt lời giải, tìm phép tính ngay từ lớp 1, lớp 2 sẽ là một khó khăn lớn đối với mỗi giáo viên trực tiếp giảng dạy ở lớp 1, 2 nhất là những tuần đầu dạy toán có lời văn, ngay ở việc giúp học sinh đọc đề, tìm hiểu đề bài Đọc một đề toán còn đang khó vậy mà các em còn phải: Tìm hiểu đề toán, tóm tắt đề, đặt câu lời giải, phép tính, đáp số Song nhận thức của học sinh không đồng đều có một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời được các câu hỏi giáo viên nêu dẫn đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng hoặc không có câu lời giải hoặc có một số em còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, dẫn tới
Trang 8thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính và
kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Các em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên chóng quên các dạng bài toán, vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức Giải toán có lời văn là hoạt động bao gồm những thao tác: Xác lập được mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho
và cái phải tìm, chọn được phép tính thích hợp, trả lời đúng câu hỏi của bài toán Đây là một hoạt động đầy trí tuệ tương đối phức tạp và khó đối với học sinh Tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 2 tư duy của các em còn nặng nề tư duy cụ thể, tư duy ngôn ngữ trừu tượng còn nghèo nàn và non nớt Các em chưa nắm được phương pháp giải kèm theo ngôn ngữ còn hạn chế nên việc hiểu nội dung, yêu cầu của bài toán có lời văn chưa được đầy đủ và chính xác Ngoài ra phải tiếp xúc với nhiều loại toán khác nhau mà khả năng suy luận của các em
còn kém, các thuật toán “hơn”, “kém”, “tăng”, “cao”, “thấp”,…các em hiểu
chậm và chưa sâu sắc nên việc giải toán gặp nhiều khó khăn dẫn đến việc các
em không thích học môn Toán
Ngay từ khi được bồi dưỡng để phục vụ yêu cầu dạy – học theo mô hình trường học mới VNNEN, tôi đã quan tâm đến khả năng giải toán có lời văn của học sinh Qua các giờ lên lớp, khi chưa áp dụng sáng kiến thì tôi thấy các em giải toán có lời văn còn lúng túng, nhiều em chưa biết cách giải một bài toán có lời văn hoàn chỉnh Có em làm sai lời giải mặc dù phép tính đúng hoặc có em lời giải đúng nhưng phép tính lại làm sai,…
Năm học 2019 – 2020, tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2D Lớp có 31 học sinh, trong đó có 6 em bố mẹ bỏ nhau, 4 em bố mẹ đi làm xa nên các em sống với ông bà Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy đa số kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, chưa có
kĩ năng giải toán có lời văn hoặc có thì bài giải chưa hoàn chỉnh, chưa chặt chẽ, chưa biết cách tự kiểm tra kết quả bài làm của mình xem đúng hay sai Nhiều học sinh chưa hiểu được bản chất của bài toán nên chưa sáng tạo trong việc tìm
Trang 9cách giải Đa số học sinh chưa biết cách tóm tắt bài toán hoặc khi giải các em ghi lời giải chưa chính xác, nhiều khi còn xác định sai đơn vị,…
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là:
+ Việc tiếp thu bài trên lớp và tự học ở nhà còn yếu
+ Giáo viên chưa có biện pháp hướng dẫn cụ thể phù hợp để các em phát triển năng lực tư duy của mình
+ Phụ huynh còn chưa quan tâm sát sao đến việc học của con em mình
Từ thực trạng và nguyên nhân đó, ngay từ đầu năm học, sau khi nhận lớp 2D, tôi đã tiến hành khảo sát thực tế giải toán có lời văn của lớp tôi
Kết quả khảo sát thực tế đầu năm 2019 – 2020 khi chưa áp dụng sáng kiến:
2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
2.1 Họp phụ huynh đầu năm – thống nhất biện pháp giáo dục
Chúng ta đều biết học sinh lớp 2 đến trường còn phụ thuộc hoàn toàn vào
sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Các em chưa có ý thức tự giác học tập, chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em học tốt hơn
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều em chưa cao Để việc dạy – học đạt kết quả cao, tôi đã trao đổi với các phụ huynh nhất là những gia đình có cha mẹ đi làm ăn xa để con ở nhà với ông
bà về các chỉ tiêu phấn đấu và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng, cách hướng dẫn các em tự học ở nhà; hướng dẫn phụ huynh xem các kí hiệu, các lệnh, yêu cầu của sách và hướng dẫn phụ huynh cách đánh giá học sinh ở nhà
Mặt khác, hiện nay việc dạy học theo mô hình trường học mới VNEN, nhất là đối với môn Toán có hoạt động ứng dụng gắn với thực tế, đặc biệt là gắn
Trang 10với gia đình thì việc phụ huynh giúp đỡ, hướng dẫn con em mình học ở nhà là
vô cùng quan trọng, cần thiết
Ở hoạt động ứng dụng có bài tập hỏi về tuổi, cân nặng,… của người thân trong gia đình, để làm bài đúng các em rất cần đến sự phối hợp của các bậc phụ huynh Vì vậy, các bậc phụ huynh cần quan tâm sát sao hơn đến việc học ở nhà của các em
Trang 11Hoạt động ứng dụng bài 1 trang 7 vở Thực hành Toán tập 1A
Hoạt động ứng dụng bài 2 trang 52 vở Thực hành Toán tập 1A
Trang 12Hoạt động ứng dụng bài 2 trang 56 vở Thực hành Toán tập 1A
2.2 Chuẩn bị cho việc giải toán
Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán, chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần quan trọng đó là luyện kĩ năng nghe – nói – đọc – viết trong giờ Tiếng Việt
Chúng ta đã biết, học sinh lớp 2 còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp Chính vì vậy, để các em mạnh dạn, tự tin khi phát biểu, trả lời thì người giáo viên cần phải:
+ Luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, trao đổi, thảo luận với bạn bè Luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng Việt giúp các em có vốn từ ngữ phong phú, các em có thể nhận xét và trả lời một cách tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti
+ Phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh: Đọc lưu loát, đúng tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ để giúp cho học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà bài tập nêu ra
Tóm lại: Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, giáo viên luôn
luôn chú ý rèn luyện kĩ năng nghe – nói – đọc – viết cho học sinh trong các giờ
Trang 13Tiếng Việt bởi vì học sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học
sinh hiểu rõ vấn đề và tìm cách giải toán
Các em rất chăm chỉ luyện đọc trong tiết học Tiếng Việt
2.3 Hướng dẫn các bước giải toán có lời văn
Việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh là một việc làm rất cần thiết và không thể thiếu trong quá trình dạy – học Toán Làm tốt vấn đề này sẽ giúp các em tự tin hơn trước mọi khó khăn, biết suy nghĩ cân nhắc rồi mới đi đến kết luận chính xác, biết cách lập luận mọi vấn đề một cách logic, ngắn gọn, mạch lạc, đáp ứng yêu cầu phát triển tư duy, trí tuệ và hình thành nhân cách cho mỗi học sinh Và thông qua quá trình giải toán còn giúp giáo viên phát hiện được vùng kiến thức nào học sinh nắm vững, vùng kiến thức nào học sinh chưa nắm vững Từ đó giáo viên có kế hoạch bồi dưỡng, phát huy hoặc khắc phục những mặt còn yếu kém cho học sinh Trong giảng dạy giáo viên cần sự sáng tạo, tránh dập khuôn máy móc, giúp các em đi tới đích bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất
Đề bài của bài toán có lời văn bao giờ cũng có hai phần: Phần đã cho hay còn gọi là giả thiết của bài toán Phần phải tìm hay còn gọi là kết luận của bài toán Ngoài ra, trong đề toán có nêu mối quan hệ giữa phần đã cho và phần phải
Trang 14tìm hay thực chất là mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và kết luận của bài toán
Quy trình giải toán có lời văn:
- Nghiên cứu kĩ đầu bài
- Phân tích bài toán
- Tóm tắt bài toán
- Lập kế hoạch giải toán
+ Viết câu trả lời
+ Viết phép tính (viết tên đơn vị trong dấu ngoặc đơn)
+ Viết đáp số
- Thử lại kết quả
Mô tả quy trình giải toán có lời văn thường thông qua các bước sau:
- Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận đề toán, suy nghĩ về ý nghĩa bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán
- Phân tích bài toán: Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và cái phải tìm
- Tóm tắt bài toán: Diễn đạt nội dung bài toán bằng ngôn ngữ hoặc tóm tắt điều kiện bài toán, hoặc minh họa bằng sơ đồ hình vẽ
- Lập kế hoạch giải toán: Học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán phải thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì?, có thể làm tính gì?, phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không?, …
- Thử lại kết quả: Giải xong bài toán, cần thử xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không?
Trang 15Muốn làm được điều đó, trước hết giáo viên phải cho học sinh hiểu và nắm chắc quy trình giải một bài toán có lời văn gồm 5 bước như đã trình bày trên Đồng thời giáo viên phải đặc biệt coi trọng phương pháp luyện tập, thực hành Có như vậy học sinh mới hoạt động được nhiều và hoạt động thường xuyên, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong hoạt động học tập của học sinh
Bước 1: Tìm hiểu nội dung bài toán
Giáo viên yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề toán (2 – 3 lần) đọc để hiểu chứ không đọc suông Đọc song phải phân biệt được dữ kiện của bải – xác định được cái đã cho và cái phải tìm
Lưu ý khi đọc giáo viên cần giúp học sinh hiểu được một số từ khóa quan trọng nói lên tình huống toán học bị che lấp bởi cái vỏ ngôn ngữ thông thường
như: “ít hơn”, “nhiều hơn”, “tất cả”, “cả hai”, “hơn”, “kém”, … Khi đọc giáo
viên nên cho học sinh gạch chân dưới các từ đó để học sinh dễ nhìn thấy Nếu học sinh chưa hiểu thì giáo viên phân tích, giảng giải để các em hiểu được nghĩa của những từ đó (Về sau học sinh giải thành thạo rồi thì không cần gạch chân nữa)
Ví dụ: Lan có 17 cái kẹo, Huệ có 23 cái kẹo Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu cái
kẹo?
Bước 2: Phân tích bài toán
Sau khi học sinh đọc xong bài toán, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi gợi
mở để hướng dẫn học sinh hiểu được đề bài
+ Bài toán cho biết gì? (Lan có 17 cái kẹo, Huệ có 23 cái kẹo)
+ Bài toán hỏi điều gì? (cả hai bạn có bao nhiêu cái kẹo? cho học sinh gạch chân từ “cả hai” và giải thích hỏi “cả hai” tức là bài toán yêu cầu ta
gộp số kẹo của Lan và Huệ lại với nhau và tính xem tổng số kẹo của Lan và Huệ
có bao nhiêu cái?)
+ Làm cách nào để tìm được Tổng số kẹo của cả hai bạn? (Lấy số kẹo của Lan cộng với Số kẹo của Huệ, 17+ 23)
+ Nhìn vào bài ta có:
Trang 16Số kẹo của Lan + Số kẹo của Huệ = Tổng số kẹo của cả hai
17 + 23 = ? + Số kẹo của Lan được gọi là số gì? (Số hạng)
+ Số kẹo của Huệ được gọi là số gì? (Số hạng) + Số kẹo của cả hai được gọi là gì? (Tổng) + Biết Lan có 17 cái, Huệ có 23 cái Bài toán yêu cầu tìm Tổng? Vậy đây là dạng toán gì? (Tìm Tổng khi biết các số hạng)
+ Vậy muốn tìm Tổng ta chỉ cần áp dụng công thức:
Số hạng + Số hạng = Tổng
Đế tránh sự nhàm chán các câu hỏi lặp lại nhiều lần, giáo viên cần thay đổi câu hỏi để phát huy tư duy của học sinh Ta có thể hỏi bằng nhiều cách:
+ Ta biết điều gì ở bài toán?
+ Bài toán hỏi điều gì? Bài toán yêu cầu làm gì? Bài toán yêu cầu tìm gì?
Khi học sinh đã hiểu được bải toán, giáo viên hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán
Bước 3: Tóm tắt bài toán
Việc này giúp các em bỏ bớt được những câu, những chữ không thật quan trọng trong đề toán Biểu thị được bằng lời hoặc hình vẽ các mối quan hệ trong bài toán, làm cho bài toán được rút gọn lại, mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm hiện ra rõ hơn Các em nhìn tóm tắt có thể đọc lại bài toán một cách chính xác (học sinh sẽ giải bài toán dễ dàng hơn) Bước tóm tắt giúp các em nhận diện được bài toán, từ đây các em có cơ sở để đặt phép tính đúng cho bài toán Thông qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu nội dung giáo viên dẫn dắt học sinh cách tóm tắt cho phù hợp với bài toán
Với bài toán trên giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết có nhiều cách để tóm tắt
* Tóm tắt:
Cách 1:
Lan: 17 cái kẹo
Trang 17Huệ: 23 cái kẹo
Cả hai bạn: … cái kẹo?
Trang 18Cách 4:
17 cái kẹo
Lan:
23 cái kẹo Huệ:
Cách 5:
Lan : 17 cái kẹo Huệ : 23 cái kẹo
Lưu ý: Đối với tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng giáo viên nhắc học sinh để
ý về số cái kẹo của hai bạn để vẽ cho chính xác (Ở đây Lan có 17 cái, Huệ có
23 cái, Huệ nhiều hơn Lan 6 cái Vậy khi vẽ đoạn thẳng của Huệ ta lưu ý sẽ vẽ dài hơn đoạn của Lan 1 ít)
Bước 4: Giải bài toán
Dựa vào câu hỏi của bài toán giáo viên sẽ hướng dẫn các em viết câu lời giải
Câu hỏi của bài toán: Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu cái kẹo?
Hướng dẫn các em trả lời bằng cách:
Hỏi cả hai bạn có bao nhiêu cái kẹo ?
Cả hai bạn có số cái kẹo là:
+ Trước tiên ta sẽ bỏ từ “Hỏi” đi thì ta được câu lời giải:“Cả hai
bạn có bao nhiêu cái kẹo?”
+ Tiếp theo ta sẽ thay từ “bao nhiêu” hoặc từ “mấy” bằng từ “số” thì ta được câu lời giải:“Cả hai bạn có số cái kẹo?”
+ Cuối cùng ta thay dấu chấm hỏi (?) bằng từ “là” thì ta sẽ được một câu lời giải đúng và hoàn chỉnh: “Cả hai bạn có số cái kẹo là:”
Ngoài cách trên, giáo viên hướng dẫn cho học sinh biết câu lời giải còn
có cách viết khác như: “Số cái kẹo cả hai bạn có là:”
Tóm lại: Tùy đối tượng, tùy trình độ học sinh mà hướng dẫn các em cách
lựa chọn, đặt lời giải cho phù hợp Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều
? cái kẹo
? cái kẹo
Trang 19cách viết lời giải khác nhau vì thế ở mỗi một dạng bài cụ thể, tôi cho các em tự suy nghĩ, thảo luận để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất sao cho phù hợp với câu hỏi của bài toán đó Song tôi sẽ hướng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất để ghi vào bài giải còn các cách kia tôi đều công nhận là đúng và phù hợp Trong giải toán có lời văn bước này là bước giúp học sinh phát huy sáng tạo đồng thời cũng rèn cho các em có kĩ năng giải toán tốt Qua đó cũng giúp giáo viên phát hiện và tìm ra học sinh có năng khiếu về môn Toán
* Hướng dẫn học sinh trình bày bài giải:
Như chúng ta đã biết, khi giải toán có lời văn là học sinh phải tự viết câu lời giải, phép tính, đáp số, thậm chí cả tóm tắt Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học, đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học Nó cũng là bước quan trọng vì nó giáo dục học sinh có tính cẩn thận, tính thẩm mĩ Muốn thực hiện tốt yêu cầu này, trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫn, quy định Đối với bước này giáo viên cần có quy định cụ thể từ ngay đầu năm đối với tất cả các bài giải toán có lời văn để học sinh có thói quen và trở thành kĩ năng khi trình bày bài giải toán,
cụ thể như sau:
+ Đầu tiên, viết tên bài có gạch chân
+ Tiếp theo, viết từ “bài giải” giữa vở
+ Sau đó, xuống dòng lùi 2 ô từ lề trái vở vào viết câu lời giải, chữ cái đầu tiên viết hoa, ở cuối câu có dấu hai chấm (:)
+ Xuống dòng lùi 3 ô từ lề trái vở vào viết phép tính, cuối phép tính
là đơn vị tính được viết trong dấu ngoặc đơn
nhiêu” hoặc từ “mấy” để viết cho đúng
+ Cuối cùng, xuống dòng lùi 5 ô từ lề trái vở vào viết đáp số và dấu hai chấm rồi mới viết kết quả và đơn vị tính (không phải viết dấu ngoặc đơn nữa)
Trang 20Bài làm của học sinh ở dạng tìm tổng
Trong các bài toán có lời văn người ta không yêu cầu cách trình bày bài giải cụ thể nhưng bản thân tôi thấy việc trình bày bài giải như thế nào cho đẹp cũng rất cần thiết Vì vậy qua kinh nghiệm bản thân và cách làm của đồng nghiệp tôi tự rút ra cách trình bày bài giải như thế là tối ưu nhất Tuy nhiên ngoài cách trình bày trên, tôi còn cho học sinh làm quen với nhiều cách trình bày khác, dựa vào câu lời giải các em tự lùi ô sao cho phù hợp, khoa học Tôi luôn luôn nhắc nhở, rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết chữ – viết số đúng mẫu – đẹp Việc kết hợp giữa chữ viết và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công trong vấn đề giải toán có lời văn của các em Tôi còn thường xuyên chấm bài và sửa lỗi cho những học sinh trình bày chưa đẹp; tuyên dương trước lớp những học sinh làm đúng, trình bày đẹp
Bước 5: Thử lại kết quả
Sau khi học sinh làm song bài thì yêu cầu học sinh kiểm tra lại xem chọn phép tính và tính đúng chưa? Lời giải đã chuẩn chưa? Đáp số và đơn vị đã đầy
đủ chưa?
Đối với bài toán này, giáo viên hướng dẫn các em thử lại bằng cách: Lấy Tổng số kẹo của cả hai bạn vừa tìm được (40 cái) – số kẹo của một trong hai bạn
+ Nếu trừ đi số kẹo của Lan (17 cái) mà kết quả ra 23 cái kẹo là bài làm đúng (40 – 17 = 23)
Trang 21+ Nếu trừ đi số kẹo của Huệ (23 cái) mà kết quả ra 17 cái kẹo là bài làm đúng (40 – 23 = 17)
Trong 5 bước trên thì học sinh làm vào vở bước 4 còn các bước khác các
em chỉ suy nghĩ và làm miệng hoặc làm vào nháp
Khi giải song giáo viên cần chốt cho học sinh những điều cơ bản cần ghi nhớ: Đọc thật kĩ đề bài, phân tích xem bài toán ở dạng nào để áp dụng công
thức Cụ thể bài toán ở ví dụ trên có dạng tìm Tổng khi biết các số hạng thì
chúng ta chỉ cần áp dụng công thức:
Số hạng + Số hạng = Tổng 2.4 Hướng dẫn phân loại và cách giải các dạng toán có lời văn ở lớp 2
CHIA THÀNH PHẦN BẰNG NHAU
CHIA THEO NHÓM
2.4.1 Các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ
2.4.1.1 Dạng “Tìm Tổng” đã trình bày bên trên
2.4.1.2 Dạng “Bài toán về nhiều hơn”
Khi dạy “Bài toán về nhiều hơn” giáo viên giúp học sinh biết cách xác
định: Số lớn, số bé, phần “nhiều hơn” để khi làm dạng toán này học sinh chỉ cần
vận dụng công thức: Số lớn = số bé + phần “nhiều hơn”
Lưu ý: Đối với dạng toán này, khi tóm tắt giáo viên cần định hướng cho
học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng để học sinh dễ nhận biết yêu cầu cần tìm
và giải quyết vấn đề dựa vào sơ đồ
Trang 224 quả cam
Ví dụ 1:
Hàng trên có 5 quả cam, hàng dưới có nhiều hơn hàng trên 4 quả cam Hỏi hàng dưới có bao nhiêu quả cam?
Giáo viên cho học sinh đọc kĩ đề, phân tích đề và tóm tắt
Hướng dẫn tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng:
+ Bài toán cho biết hàng trên có mấy quả cam? (5 quả cam)
Ta vẽ một đoạn thẳng biểu thị cho 5 quả cam của hàng trên
+ Số quả cam ở hàng dưới thế nào với hàng trên? (Số quả cam của hàng
dưới nhiều hơn hàng trên 4 quả) Yêu cầu học sinh gạch chân từ “hàng
dưới” và từ “ nhiều hơn”
Vì hàng dưới nhiều hơn hàng trên 4 quả cam nên ta vẽ một đoạn thẳng biểu thị cho số quả cam ở hàng dưới sẽ dài hơn so với đoạn thẳng biểu thị
5 quả cam của hàng trên
+ Để tìm được đoạn thẳng biểu thị phần “nhiều hơn” ở chỗ nào của
đoạn hàng dưới ta chỉ cần dóng từ điểm mút cuối của đoạn hàng trên xuống thẳng với đoạn hàng dưới rồi ta vạch một điểm mút tại đấy Lúc này đoạn thẳng hàng dưới được chia thành 2 đoạn: 1 đoạn bằng với đoạn hàng trên và 1 đoạn dài hơn so với đoạn hàng trên, chính đoạn dài hơn đó
là đoạn biểu thị phần “nhiều hơn” (4 quả cam)
+ Bài toán hỏi gì? (Hàng dưới có bao nhiêu quả cam, ta điền dấu chấm
hỏi (?) quả cam vào hàng dưới)
Lưu ý: Khi vẽ điểm mút đầu của 2 đoạn phải dóng thẳng nhau và lưu ý
về số lượng bài toán cho để vẽ cho chính xác (hàng trên có 5 quả, hàng dưới nhiều hơn 4 quả, khi vẽ đoạn hàng dưới và phần nhiều hơn cần tương xứng với 5 quả hàng trên)
5 quả cam
Hàng trên:
Hàng dưới:
? quả cam
Trang 23Giáo viên hướng dẫn học sinh giải toán bằng cách nhìn tóm tắt sơ đồ đoạn thẳng và trả lời một số câu hỏi:
+ Đoạn thẳng ngắn biểu thị cho 5 quả cam của hàng trên
5 quả cam của hàng trên được gọi là số gì? (Số bé) + Đoạn thẳng dài biểu thị cho số quả cam của hàng dưới
Số quả cam của hàng dưới được gọi số gì? (Số lớn) + Bài toán yêu cầu ta làm gì? (Tìm số quả cam ở hàng dưới? (số
lớn) gạch chân từ “hàng dưới”)
+ Mà số quả cam ở hàng dưới như thế nào với hàng trên? (Hàng dưới nhiều hơn 4 quả) Vậy đây là dạng toán gì? (“Bài toán về nhiều hơn” dạng xuôi)
Muốn biết hàng dưới (số lớn) có bao nhiêu quả cam, em cần làm gì? (Số lớn = Số bé + Phần “nhiều hơn” = 5 + 4)
Sau khi giải xong, giáo viên cho học sinh thử lại bằng cách lấy số quả cam của hàng dưới vừa tìm được (9 quả) – 4 quả cam mà kết quả ra 5 bằng số quả cam của hàng trên thì bài toán giải đúng
Bài làm của học sinh về dạng toán “ nhiều hơn”
Gặp bài toán nhiều hơn dạng xuôi chúng ta chỉ cần áp dụng công thức:
Số lớn = số bé + phần “nhiều hơn”
Tuy nhiên không phải lúc nào bài toán có dữ liệu “nhiều hơn” chúng ta cũng áp dụng được công thức đó Vì thế để tránh cho học sinh không dập khuôn
Trang 24máy móc cứ “nhiều hơn” làm phép tính cộng thì buổi chiều có tiết hướng dẫn tôi
lại luyện thêm cho học sinh về dạng toán ngược của “nhiều hơn”
Ví dụ 2:
Bạn Hùng có 15 viên bi, bạn Hùng có nhiều hơn bạn Bình 6 viên bi Hỏi bạn Bình có mấy viên bi?
Giáo viên cho học sinh đọc đề, phân tích và hướng dẫn tóm tắt:
+ Hùng có mấy viên bi? (15 viên bi)
Vẽ 1 đoạn thẳng biểu thị 15 viên bi của Hùng + Hùng và Bình ai có số viên bi nhiều hơn? (Hùng nhiều hơn, cho
học sinh gạch chân từ “Hùng” và “nhiều hơn”)
+ Hùng có số bi nhiều hơn Bình tức là Bình có số bi như thế nào so với Hùng? (Bình ít hơn)
Do Bình có số bi ít hơn so với Hùng nên ta sẽ vẽ 1 đoạn thẳng biểu thị số bi của Bình ngắn hơn đoạn thẳng của Hùng
+ Bình ít hơn Hùng mấy viên bi? (6 viên)
+ Để tìm phần “ít hơn” ta chỉ cần dóng từ điểm mút cuối của đoạn
biểu thị số bi của Bình thẳng lên trên đoạn biểu thị số bi của Hùng
ta vạch một điểm mút tại đấy Lúc này đoạn biểu thị cho số bi của Hùng được chia làm 2 đoạn: 1 đoạn bằng với đoạn của Bình và 1
đoạn dài hơn Chính đoạn dài hơn đó biểu thị cho phần “ít hơn”
của Bình
+ Bài toán hỏi gì? (Bình có mấy viên bi?) ta viết dấu chấm hỏi (?) viên bi vào đoạn của Bình
Lưu ý: Khi vẽ điểm mút đầu của 2 đoạn phải dóng thẳng nhau và lưu ý
về số lượng bài toán cho để vẽ cho chính xác