1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

bài giảng môn luật so sánh

97 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 220,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài giảng luật so sánh đầy đủ chi tiết nhất 2021,bài giảng luật so sánh đầy đủ chi tiết nhất 2021,bài giảng luật so sánh đầy đủ chi tiết nhất 2021,bài giảng luật so sánh đầy đủ chi tiết nhất 2021,bài giảng luật so sánh đầy đủ chi tiết nhất 2021,bài giảng luật so sánh đầy đủ chi tiết nhất 2021

Trang 1

Bài giảng Luật so sánh

(bài giảng Luật so sánh – VB 2, ĐH Luật Hà Nội, 2017)

BÀI GIẢNG LUẬT SO SÁNH

Thời lượng: 45 tiết

Mục lục

Chương 1: Nhập môn luật so sánh 2

1 Khái niệm luật so sánh 2

2 Định nghĩa luật so sánh 2

3 Đối tượng nghiên cứu của luật so sánh 3

4 Phương pháp nghiên cứu của luật so sánh 4

5 Sự hình thành và phát triển của luật so sánh 6

6 Sự hình thành và phát triển của luật so sánh trên thế giới 6

7 Sự phát triển của luật so sánh ở VN 8

III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luật so sánh 8

1 Sự phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới 9

2 Mục đích phân nhóm 9

3 Tính tương đối của việc phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới 9

4 Các tiêu chí để phân nhóm 10

5 Các cách phân nhóm điển hình 10

Chương 2: Dòng họ pháp luật châu Âu lục địa 10

1 Sự hình thành và phát triển của dòng họ Civil law 11

2 Sự hình thành và phát triển của dòng họ civil law ở châu Âu lục địa 11

3 Sự mở rộng của dòng họ civil law sang châu Âu lục địa 15

4 Cấu trúc pháp luật của dòng họ Civil law 16

5 Cách phân chia pháp luật 16

6 Quy phạm pháp luật và giải thích quy phạm pháp luật 17

Trang 2

7 Điểm yếu trong công pháp 18

III Nguồn của các hệ thống PL thuộc dòng họ Civil law 18

1 Pháp luật thành văn 18

2 Tập quán pháp 19

3 Các nguyên tắc chung của PL 19

4 Phán quyết của tòa án 20

5 Các học thuyết pháp lý 20

6 Hệ thống pháp luật một số nước thuộc dòng họ civil law 20

7 Hệ thống pháp luật Pháp 20

8 Hệ thống pháp luật Đức 25

Chương 3: Dòng họ common law 32

1 Sự hình thành và phát triển của dòng họ common law 32

2 Sự hình thành hệ thống common law ở Anh 32

3 Sự mở rộng của common law từ Anh ra các quốc gia khác 36

4 Một số hệ thống PL điển hình thuộc dòng họ common law 36

5 Hệ thống pháp luật vương quốc Anh 36

6 Hệ thống pháp luật Mỹ 43

Chương 5: Pháp luật Hồi giáo 49

1 Luật Hồi giáo 49

2 Khái niệm 49

3 Sự hình thành và phát triển của luật Hồi giáo 50

4 Nguồn của luật Hồi giáo 51

5 Sự thích ứng của luật hồi giáo với thế giới hiện đại 52

6 Pháp luật các quốc gia Hồi giáo 53

Ngày 15/08/2017

Trang 3

Giảng viên: cô Đặng Thị Hồng Tuyến (ThS)

Tài liệu:

• Giáo trình Luật so sánh – ĐH Luật Hà Nội

• Luật So sánh của Michael Bogdan

• Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại của Rene David

Chương 1: Nhập môn luật so sánh

I Khái niệm luật so sánh

1 Định nghĩa luật so sánh

a Luật so sánh là gì

– Luật so sánh : Comparative law

+ việc sử dụng thuật ngữ “Luật so sánh” vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi trong khoa học pháp lý

+ nếu đúng bản chất thì phải sử dụng thuật ngữ “so sánh luật” (Legal Comparison),tuy nhiên do “thói quen” sử dụng luật ngữ “luật so sánh” nên các học giả vẫn chủ yếu sử dụng thuật ngữ “luật so sánh”

– Có nhiều học giả đưa ra định nghĩa về luật so sánh:

+ “luật so sánh là so sánh các hệ thống PL khác nhau trên thế giới”

+ “luật so sánh là nghiên cứu có hệ thống các truyền thống PL và các quy phạm

PL nào đó trên cơ sở so sánh”

– ĐN luật so sánh theo 1 học giả VN: “Luật so sánh là phương pháp để xem xét,

nghiên cứu, tiếp cận PL trên bình diện của sự giao lưu quốc tế.”

Nhận xét về định nghĩa: ưu điểm là ngắn gọn; nhược điểm là cụm từ cuối “bình

diện của sự giao lưu quốc tế” khó hiểu, đi ngược lại với quan điểm của các học giả

trên thế giới

– ĐN luật so sánh theo Michael Bogdan: “Luật so sánh bao gồm:

+ So sánh các hệ thống PL khác nhau để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng;

Trang 4

+ Nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt đã được xác định, chẳng hạn, giải thích nguồn gốc của chúng, đánh giá những giải pháp được sử dụng trong các hệ thống PL khác nhau, phân nhóm các hệ thống PL thành các dòng họ

PL hoặc tìm kiếm những điểm cốt lõi chung của các hệ thống PL;

+ Làm rõ những vấn đề mang tính phương pháp luận nảy sinh có liên quan đến các nhiệm vụ trên, bao gồm cả những vấn đề có tính phương pháp luận liên quan đến việc nghiên cứu PL nước ngoài.”

Nhận xét về định nghĩa: ưu điểm là nêu được đầy đủ các nội dung của luật so sánh;nhược điểm là dài, phức tạp, mặc dù liệt kê chi tiết nội dung nhưng không nêu rõ được bản chất của luật so sánh

b Đặc điểm của luật so sánh

– Luật so sánh không phải là 1 ngành luật hay lĩnh vực PL thực định trong hệ

thống PL quốc gia: tức là luật so sánh không phải 1 hệ thống các quy phạm PL điềuchỉnh 1 lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội như luật dân sự, luật hình sự, luật hôn nhân gia đình

– Luật so sánh là 1 ngành khoa học độc lập: đây là bản chất của luật so sánh,

dựa trên các lập luận sau:

+ việc thường xuyên so sánh các hệ thống PL với nhau đã tạo ra một hệ thống tri thức độc lập với hệ thống tri thức của các ngành khoa học độc lập khác

+ tương tự với các ngành khoa học khác, nhất là khoa học xã hội, khi thực hiện so sánh có thể phát sinh ra ngành khoa học độc lập, ví dụ: bên cạnh ngành triết học cóngành triết học so sánh, bên cạnh ngành xã hội học có ngành xã hội học so sánh, ngôn ngữ học có ngôn ngữ học so sánh

+ các học giả đã chứng minh được “luật so sánh” và “phương pháp so sánh luật” làhoàn toàn khác nhau ==> không thể coi luật so sánh là 1 phương pháp nghiên cứu

mà phải coi đó là 1 ngành khoa học độc lập

– Phạm vi nghiên cứu của luật so sánh rất rộng: căn cứ vào định nghĩa luật so

sánh của Micheal Bogdan:

+ So sánh các hệ thống PL khác nhau để xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng: hiện nay trên thế giới có hàng trăm hệ thống PL (mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ đều có ít nhất 1 hệ thống PL, ở các quốc gia liên bang thì mỗi bang lại có 1 hệ thống PL riêng như Hoa Kỳ, Đức, Nga), mà không có 2 hệ thống

PL nào trùng hoàn toàn với nhau ==> số lượng đối tượng nghiên cứu là rất lớn

Trang 5

+ Nghiên cứu những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống PL: trong mỗi hệ thống PL đều có rất nhiều các chế định, các nguyên tắc, các quy phạm ==>

có rất nhiều nội dung để luật so sánh nghiên cứu

2 Đối tượng nghiên cứu của luật so sánh

– Mặc dù còn tranh luận về bản chất của luật so sánh nhưng các học giả đều thừa

nhận: “việc so sánh các hệ thống PL khác nhau nhằm tìm ra những điểm tương

đồng và khác biệt của chúng” là nội dung cơ bản, chủ đạo của các công trình luật

so sánh

a Khái quát các đối tượng nghiên cứu

– Hệ thống pháp luật (legal system): có 3 cách hiểu (cách sử dụng):

+ tổng thể các quy phạm PL của 1 quốc gia / vùng lãnh thổ: VD tổng thể các quy phạm PL của Trung Quốc

+ tổng thể quy phạm PL và thiết chế PL của 1 quốc gia / vùng lãnh thổ: ngoài các quy phạm PL còn có các vấn đề khác như mô hình tổ chức tòa án của quốc gia đó,

về hoạt động nghề nghiệp của luật sư, thẩm phán, công chứng viên, công tố viên,

…, về hoạt động đào tạo luật và đào tạo nghề luật

+ PL của 1 nhóm quốc gia / vùng lãnh thổ mà trong đó PL có điểm chung nhất định: VD nhóm hệ thống PL các nước XHCN, nhóm hệ thống PL các nước châu

Âu lục địa

==> trong môn học này, sẽ hiểu Hệ thống PL theo cách hiểu thứ 2, tức là Hệ thống

PL là tổng thể quy phạm PL và thiết chế PL của 1 quốc gia / vùng lãnh thổ

– Dòng họ PL (legal family): là hệ thống PL của 1 nhóm quốc gia / vùng lãnh thổ

mà có những điểm chung nhất định VD dòng họ PL common law, dòng họ PL các nước XHCN, …

+ thuật ngữ “dòng họ PL” do Montesquier sáng tạo ra khi nghiên cứu các hệ thống

PL, sau đó Rene David sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm của mình (nhiều đến mức công chúng lầm tưởng Rene David là người sáng tạo ra thuật ngữ “dòng họ PL”)

+ là nhóm hệ thống PL có đặc điểm chung nhất định

+ trong đó xuất hiện hệ thống PL gốc, hệ thống PL bố mẹ VD hệ thống PL của Anh được coi là hệ thống PL gốc của dòng họ PL common law, hệ thống PL của Pháp được coi là gốc của dòng họ PL civil law

Trang 6

+ thuật ngữ “truyền thống PL” (legal tradition) được sử dụng với nghĩa tương tự:

có thể dùng cả 2 thuật ngữ “dòng họ PL” và “truyền thống PL” với ý nghĩa tương đương

– Pháp luật quốc tế: hiện nay vẫn còn tranh cãi giữa các học giả xem PL quốc tế cóphải là đối tượng nghiên cứu của luật so sánh không Lý do vì PL quốc tế thường là

“đơn nhất”, không có 2 đối tượng PL quốc tế để so sánh, VD công ước luật biển quốc tế là duy nhất Tuy nhiên, vẫn có trường hợp khi 1 quốc gia gia nhập 1 điều ước quốc tế, thì quốc gia đó phải xem xét các quy định trong điều ước quốc tế đó

có phù hợp, có mâu thuẫn với luật quốc gia của mình không, tức là có sự so sánh

Lưu ý:

+ so sánh luật không phải là so sánh toàn bộ hệ thống PL với nhau mà có thể chỉ sosánh 1 vấn đề nhỏ hoặc rất nhỏ VD so sánh chế định bầu cử của VN với Pháp, so sánh chế định tài sản của VN với Thái Lan

+ chỉ là đối tượng của luật so sánh khi đặt chúng trong mối tương quan so sánh

b Cấp độ so sánh

– Chia hoạt động so sánh làm 2 cấp độ:

+ cấp độ so sánh vĩ mô: đối tượng so sánh là những vấn đề mang tính cốt lõi, chủ đạo, khái quát

+ cấp độ so sánh vi mô: đối tượng so sánh là những vấn đề chi tiết, cụ thể

– Việc phân chia này chỉ mang tính tương đối, thường phải kết hợp cả vĩ mô và vi

mô trong từng công trình nghiên cứu so sánh luật, VD ở công trình so sánh cấp độ

vĩ mô, thì cũng cần so sánh những đối tượng ở cấp độ vi mô để minh họa cho so sánh đó

VD: các hoạt động sau là so sánh vĩ mô hay so sánh vi mô:

+ so sánh hệ thống PL VN với hệ thống PL Lào ==> vĩ mô

+ so sánh PL hình sự Trung Quốc với PL hình sự Nhật ==> vi mô, vì sẽ phải so sánh từng chế định cụ thể

+ so sánh quy phạm PL định nghĩa bất động sản trong PL Thái Lan và PL Pháp

==> vi mô

+ so sánh dòng họ PL XHCN và dòng họ Civil law ==> vĩ mô

Trang 7

+ so sánh chế định hợp đồng của PL Anh và PL Đức ==> vi mô

——————

Ngày 17/08/2017

Giảng viên: cô Đặng Thị Hồng Tuyến (ThS)

(Tiếp bài trước)

3 Phương pháp nghiên cứu của luật so sánh

a Các phương pháp nghiên cứu mà luật so sánh sử dụng

– Có nhiều phương pháp nghiên cứu mà luật so sánh sử dụng: so sánh, lịch sử, phân tích, tổng hợp, logic, …

– Phương pháp so sánh là phương pháp nghiên cứu chủ đạo của ngành khoa học luật so sánh (đến mức nhiều người lầm tưởng luật so sánh là phương pháp so sánh)– Phân biệt Phương pháp so sánh luật với Luật so sánh:

Bản

chất

– Là ngành khoa học độc lập

– Sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có

phương pháp so sánh luật

– Là 1 phương pháp nghiên cứu luật

– Được áp dụng trong nhiềungành khoa học khác, trong

– Lý giải nguồn gốc của những điểm tương đồng và khác biệt đó

Trang 8

sánh VD khi so sánh chế định bầu cử của VN với Hoa Kỳ, sẽ

có phần đánh giá ưu,nhược điểm của mỗi chế định bầu cử, đánh giá xem liệu có thể áp dụng những ưu điểm của chế

độ bầu cử Hoa Kỳ vào VN không, …

Lưu ý:

+ để lý giải được, còn phải sử dụng phương pháp logic và phương pháp lịch sử+ để đánh giá được, có thể phải sử dụng phương pháp xã hội học

==> đây là sự khác biệt lớn nhất của luật so sánh với phương pháp so sánh luật

b Phương pháp so sánh trong luật so sánh

– Nguyên lý chung khi sử dụng phương pháp so sánh: các đối tượng so sánh phải tương đồng, tương ứng với nhau

– Trong luật so sánh phải tuân thủ nguyên lý đó ==> các đối tượng trong 1 công trình so sánh luật phải thực hiện cùng chức năng

c Các bước của quá trình so sánh luật

Gồm 06 bước:

– B1: Xây dựng giả thuyết nghiên cứu

+ xác định vấn đề dự kiến nghiên cứu: đưa ra câu hỏi để nghiên cứu

+ xây dựng giả thuyết nghiên cứu: để định hướng chương trình đi theo hướng nào– B2: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu: xác định cụ thể, rõ ràng đối tượng nghiên cứu, phải có thuộc tính pháp lý tương ứng để so sánh

– B3: Thu thập tài liệu tham khảo

+ mục đích:

• Để xem các học giả khác đã giải quyết vấn đề mình đặt ra như thế nào, từ đóđánh giá cách giải quyết của họ, đưa ra những điểm đồng tình / không đồng tình với họ ==> nhằm đưa ra quan điểm, cách giải quyết của mình

Trang 9

• Để xem vấn đề mình đặt ra đã được các học giả khác giải quyết đến đâu rồi, còn có những phần nào các học giả chưa giải quyết không ==> nhằm tập trung vào những phần chưa được giải quyết

==> mục đích của việc thu thập tài liệu là để xác định hướng đi cụ thể của công trình nghiên cứu

+ lưu ý: phải đánh giá độ tin cậy của tài liệu tham khảo dựa vào nguồn cung cấp tàiliệu, VD nhà xuất bản, tác giả, đơn vị chủ quản của website

– B4: Xây dựng hệ thống tiêu chí so sánh

+ mục đích: để công trình nghiên cứu được trọn vẹn hơn, rõ ràng hơn

+ lưu ý: tránh sử dụng thuật ngữ pháp lý không đồng nhất giữa các quốc gia, giữa các hệ thống PL

– B5: Viết báo cáo so sánh

+ chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng so sánh trên cơ sở những tiêu chí đã đặt ra ở Bước 4

+ lưu ý: cần trung thực, khách quan khi viết báo cáo, tránh áp đặt ý chí chủ quan của mình, và cũng tránh tuân theo “mù quáng” quan điểm, ý kiến của học giả khác,

dù cho học giả nó có uy tín và nổi tiếng như thế nào

– B6: Đánh giá có phê phán kết quả so sánh

+ giải thích nguồn gốc của những điểm tương đồng, điểm khác biệt

+ phân tích, đánh giá ưu, nhược của các giải pháp pháp lý

+ nhận xét về hiệu quả của các giải pháp pháp lý

Chú ý: khác với Bước 5 yêu cầu cần khách quan, thì ở Bước 6, nhà nghiên cứu

hoàn toàn có thể đưa ra ý kiến chủ quan của mình

Chú ý: không nhất thiết phải thực hiện tất cả các bước trên Tùy theo mục đích

nghiên cứu mà lựa chọn những bước thực hiện cho phù hợp

c Một số điều cần lưu ý khi nghiên cứu PL nước ngoài

– Phải là so sánh các đối tượng của PL trong nước với PL nước ngoài hoặc của PL nước ngoài với nhau chứ không phải đối tượng của PL trong nước với nhau vì nó không là đối tượng của luật so sánh

Trang 10

VD: so sánh Luật hình sự 1999 với Luật hình sự 2015: đây không phải là đối tượngcủa luật so sánh

– Cần có nguồn thông tin chính xác và đáng tin cậy về PL nước ngoài

– Phải có thông tin cập nhật về PL nước ngoài

– Nắm được các nguồn luật và sử dụng đúng các thuật ngữ pháp lý của nước ngoài

——————–

Ngày 18/08/2017

Giảng viên: cô Đặng Thị Hồng Tuyến (ThS)

(Tiếp bài trước)

e Cơ sở để lý giải những điểm tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống PL

– Hệ thống chính trị và tư tưởng: VD xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng Mác-Lê nin

đề cao sở hữu chung, sở hữu toàn dân; tư bản chủ nghĩa và hệ tư tưởng phương Tây đề cao sở hữu tư nhân

– Sự phát triển của nền kinh tế: VD hệ thống PL của nước phát triển khác với hệ thống PL của nước đang phát triển, hay nước chậm phát triển

– Tôn giáo: VD hệ thống PL của quốc gia hồi giáo khác với hệ thống PL của quốc gia không hồi giáo

Trang 11

1 Sự hình thành và phát triển của luật so sánh trên thế giới

a Giai đoạn trước thế kỷ 19

– Các tiểu giai đoạn:

+ cổ đại

+ nhà nước đế quốc La Mã

+ trung cổ

+ cận đại (thời ký ánh sáng và PL tự nhiên)

– Thời kỳ cổ đại (trước Công nguyên)

+ gồm Nhà nước Lưỡng Hà, Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại

+ theo Rene David: “Việc so sánh các hệ thống PL ở cạnh nhau về mặt địa lý là công việc đã có từ xa xưa như chính khoa học pháp lý”

+ nhà nước Hy Lạp cổ đại: Plato với tác phẩm “Các luật lệ”, Aristot với tác phẩm

“Chính trị”, Theo phrastus với tác phẩm “Về các luật lệ”, … trong đó so sánh PL của các thành bang Hy Lạp với nhau, từ đó rút ra những quy định PL tốt nhất, tối

ưu nhất

+ nhà nước La Mã cổ đại: các học giả La Mã cổ đại đã nghiên cứu và so sánh PL của các thành bang Hy Lạp cổ đại với nhau và so sánh với tập quán của La Mã, từ

đó rút ra những quy định được cho là tốt nhất, kết quả là Luật 12 bảng ra đời

==> ngay từ thời cổ đại đã xuất hiện những mầm mống của luật so sánh

Chú ý: mới chỉ ở mức độ “mầm mống” của luật so sánh chứ chưa phải là đã có luật

so sánh từ thời cổ đại Lý do là vì: những công trình so sánh luật không được đưa vào thực tiễn ứng dụng, ví dụ Aristot viết tác phẩm “Chính trị” rất nổi tiếng nhưng ông không đề nghị thành bang Hy Lạp cổ đại nào ứng dụng vào thực tiễn

– Thời kỳ nhà nước đế quốc La Mã (thế kỷ 1 trước CN – thế kỷ 6)

+ Do các luật gia, đặc biệt là các luật gia La Mã quan niệm Luật La Mã là luật pháttriển nhất và cho rằng PL nước ngoài là “rối rắm và ngớ ngẩn” ==> không cần phảinghiên cứu so sánh

Thực tế, tại thời điểm này thì hệ thống PL của nhà nước La Mã là phát triển nhất, tạo nền tảng xây dựng hệ thống PL của hầu hết các quốc gia sau này

Trang 12

+ Có 1 số học giả nghiên cứu so sánh Luật La Mã với luật nước ngoài, nhưng mục đích nghiên cứu của họ lại là để phân tích những “ngớ ngẩn” của luật nước ngoài

==> luật so sánh không có cơ hội phát triển ở nhà nước La Mã

– Thời kỳ cận đại (thế kỷ 17 – thế kỷ 18, là thời đại ánh sáng và PL tự nhiên)

+ các quốc gia đã dần ổn định, PL được quan tâm và phát triển

+ các luật gia chỉ tập trung nghiên cứu PL quốc gia, luật so sánh hầu như không phát triển

+ tuy nhiên, có 1 số học giả, đặc biệt là Montesquier đề xuất các học giả cần thoát khỏi khuôn khổ hệ thống PL quốc gia, để đánh giá được giá trị đúng của hệ thống

PL Montesquier đã sử dụng phương pháp so sánh để phát triển các bài giảng của mình ==> tạo nền móng cho luật so sánh phát triển mạnh mẽ sau này

b Từ thế kỷ 19 đến nay (một số học giả lấy mốc 1869 – nay, lấy mốc ra đời của

Trang 13

– Ngày càng nhiều học giả tập trung nghiên cứu luật so sánh, dần dần, với tri thức tích lũy được, các giả nhận ra rằng cần phải coi luật so sánh là 1 môn khoa học độclập

– Luật so sánh phát triển mạnh mẽ dưới 2 hình thức:

+ luật so sánh lập pháp: là quá trình theo dõi PL của nước ngoài được viện dẫn để soạn thảo các văn bản PL quốc gia

+ luật so sánh học thuật: là việc so sánh các hệ thống PL khác nhau, đơn giản chỉ lànhằm nâng cao hiểu biết về PL

c Sự phát triển của luật so sánh ở khối các nước XHCN trước đây

– Trước những năm 50 của thế kỷ 20, luật so sánh không có cơ hội phát triển

– Sau khi khối các nước XHCN hình thành, luật so sánh được thừa nhận và bắt đầuđược quan tâm, tuy nhiên luật so sánh có vị trí rất mờ nhạt, có rất ít công trình so sánh luật Nguyên nhân:

+ khách quan: bị cấm vận, mà nguồn luật thì chủ yếu ở các nước TBCN

+ chủ quan:

• Việc tìm hiểu về PL TBCN bị cấm đối với các luật gia XHCN

• Luật so sánh có phạm vi nghiên cứu chủ yếu là hệ thống PL của các nước XHCN, mà các nước XHCN chủ yếu sao chép luật của Liên bang Xô Viết

==> không có gì để so sánh

2 Sự phát triển của luật so sánh ở VN

– Thời kỳ phong kiến: rất mờ nhạt, mới chỉ có luật so sánh lập pháp, tức là tiếp thu luật từ nước khác (chủ yếu từ Trung Quốc) vào xây dựng luật, VD Quốc triều hình luật tiếp thu PL nhà Đường, Bộ luật Gia Long gần như sao chép hoàn toàn luật nhà Thanh

– Thời kỳ 1945-1975:

+ hầu như không có ở miền bắc

+ miền nam: luật so sánh rất phát triển

• xuất hiện các học giả nổi tiếng về luật so sánh như Tiến sỹ Ngô Bá Thành (tiến sỹ ở Pháp, là tiến sỹ về luật so sánh đầu tiên của VN), luật sư Vũ Văn Mẫu

Trang 14

• năm 1961 bộ Dân luật Nam kỳ được xây dựng trên cơ sở của luật so sánh

• miền nam VN là thành viên của Hiệp hội Luật so sánh thế giới

– Thời kỳ 1975 – 1986: hầu như không phát triển vì cả nước đang xây dựng XHCN– Thời kỳ 1986 – nay: đạt được nhiều thành tựu lớn

+ luật so sánh lập pháp: xây dựng PL trên cơ sở học hỏi luật nước ngoài, VD luật hình sự 1999, luật dân sự 2015

+ luật so sánh học thuật:

• xuất hiện nhiều học giả nghiên cứu luật so sánh như TS Nguyễn Kim Pháp,

TS Vũ Thị Ánh Vân, TS Võ Khánh Vinh, TS Nguyễn Thanh Tâm, …

• xuất hiện các đơn vị tổ chức nghiên cứu luật so sánh như Phòng luật so sánh của Viện Nhà nước và Pháp luật, Trung tâm luật so sánh của ĐH Quốc gia

Hà Nội, Viện Luật so sánh – ĐH Luật Hà Nội, …

• môn học luật so sánh được đưa vào giảng dạy tại tất cả các cơ sở đào tạo luật

III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luật so sánh

1 Trang bị kiến thức văn hóa chung cho người nghiên cứu: khi thực hiện

nghiên cứu luật so sánh, các học giả thường không chỉ nghiên cứu các quy phạm

PL, các thiết chế, … mà còn nghiên cứu vì sao các quy phạm PL, các thiết chế, … lại được xây dựng như thế, tức là biết được kiến thức về văn hóa của quốc gia đó

2 Nâng cao hiểu biết về PL quốc gia:

+ bằng việc nghiên cứu luật so sánh, các học giả có thể biết những quy định, thiết chế trong luật quốc gia mình có nguồn gốc từ đâu, từ đó nắm được sâu hơn bản chất PL quốc gia mình

+ bằng việc so sánh PL các quốc gia, nhà nghiên cứu sẽ có đánh giá khách quan về

PL của nước mình so với thế giới (chứ không bị tư tưởng chủ quan, coi PL nước mình là ưu việt hơn)

3 Hỗ trợ tìm kiếm mô hình PL lý tưởng: đánh giá được cái tốt, cái xấu, cái phù

hợp nhất, lý tưởng nhất cho hệ thống PL quốc gia mình

Đây là ý nghĩa chính, quan trọng nhất của luật so sánh

4 Hỗ trợ tiến trình hòa hợp và nhất thể hóa PL:

Trang 15

+ hài hòa hóa PL: là việc làm cho PL của các quốc gia dù khác nhau nhưng có thể

“sống chung” với nhau

+ nhất thể hóa PL: là việc đưa ra những quy định PL chung cho các quốc gia

==> nghiên cứu luật so sánh giúp cho việc xây dựng và áp dụng luật quốc tế (cả công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế), tức là giúp cho việc xử lý được những xungđột PL giữa các quốc gia

Giúp như thế nào ?

+ việc nghiên cứu luật so sánh giúp cho những nhà thương thuyết hiểu được sự tương đồng và khác biệt trong hệ thống PL của các nước liên quan ==> dễ dàng hơn cho việc xây dựng luật quốc tế

+ giúp cho việc đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên tham gia trong điều ước quốc tế

+ nghiên cứu luật so sánh giúp rất nhiều cho việc xây dựng các quy định của luật quốc tế, vì thường sẽ bắt nguồn từ 1 tập quán hay 1 quy định của 1 hay 1 số quốc gia cụ thể (chứ rất ít khi xây dựng từ đầu)

5 Hỗ trợ thực hiện và áp dụng PL: khi giải quyết các vụ việc có yếu tố nước

ngoài, việc hiểu biết luật so sánh (tức là hiểu biết PL nước ngoài trên cơ sở so sánh với luật nước mình) sẽ hỗ trợ rất nhiều cho những người xét xử và những người liên quan

——————–

Ngày 19/08/2017

Giảng viên: cô Đặng Thị Hồng Tuyến (ThS)

(Tiếp bài trước)

IV Sự phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới

Trang 16

tương đồng của các hệ thống PL và sắp xếp chúng vào cùng 1 nhóm ==> khi so sánh các hệ thống PL, chỉ cần chọn 1 hệ thống PL điển hình của nhóm đó (mà không cần tìm hiểu lần lượt từng hệ thống PL)

– Mục đích chủ yếu của việc phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới nhằm mục đích sư phạm

2 Tính tương đối của việc phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới

– Sử dụng những tiêu chí phân nhóm khác nhau sẽ cho ra kết quả phân nhóm khác nhau

+ Rene David dựa vào 2 tiêu chí là Hệ tư tưởng và Kỹ thuật lập pháp ==> cho ra 4 nhóm:

• nhóm PL Đức – La Mã (hay nhóm Rome – Giecmanh),

• nhóm PL xã hội chủ nghĩa,

• nhóm PL dựa trên tôn giáo và truyền thống (những nước Hồi giáo, Phật giáo

và một số nước châu Phi),

• nhóm PL Anh – Mỹ (common law)

+ Zwergert và Kotz sử dụng 5 tiêu chí ==> cho ra 8 nhóm PL

– Mặc dù sử dụng những tiêu chí phân nhóm giống nhau nhưng tiến hành tại thời điểm khác nhau, sẽ cho ra kết quả phân nhóm khác nhau

Chẳng hạn trường hợp phân nhóm theo 2 tiêu chí là Hệ tư tưởng và Kỹ thuật lập pháp của Rene David được thực hiện vào những năm 60 của thế kỷ 20, kết quả cho

ra 4 nhóm PL (như đã nêu trên)

Đến đầu thế kỷ 21, 1 học giả khác cũng sử dụng 2 tiêu chí là Hệ tư tưởng và Kỹ thuật lập pháp, nhưng lại cho ra kết quả khác, chỉ có 3 nhóm là nhóm civil law, nhóm common law, nhóm PL dựa trên tôn giáo và truyền thống ==> lý do là vì cuối thế kỷ 20 khối XHCN đã sụp đổ ==> không còn tạo thành 1 dòng họ PL riêng như trước đây

– Trong nhiều cách phân nhóm hệ thống PL phổ biến, có 1 số hệ thống PL khó xếp vào bất cứ nhóm nào trong số các nhóm được phân chia VD hệ thống PL của VN gồm các đặc điểm của cả Civil law và Common law; hệ thống PL của Malaixia là

sự pha trộn của luật Hồi Giáo và common law; ngoài ra hệ thống PL của Quebek, Lousiana, Nam Phi cũng rất khó để xếp vào nhóm nào

Trang 17

– Hệ quả: không thể khẳng định cách phân nhóm của học giả nào là chính xác nhất

và cách phân nhóm nào là không chính xác

3 Các tiêu chí để phân nhóm

a Sự thay đổi trong quan niệm sử dụng tiêu chí phân nhóm

– Trước đây, nhiều học giả luật so sánh đã cố tìm ra tiêu chí duy nhất để phân chia các hệ thống PL thành các nhóm VD tiêu chí hệ thống kinh tế, hay tiêu chí nguồn gốc lịch sử của hệ thống PL

Tuy nhiên, đã không thể tìm ra tiêu chí duy nhất đó

– Ngày nay, phần lớn các học giả đều cho rằng không thể có tiêu chí hoàn hảo, và

để việc phân nhóm có ý nghĩa, cần dựa trên 1 vài tiêu chí khác nhau

VD nếu dùng tiêu chí Hệ tư tưởng thì có thể phân chia Hệ thống PL XHCN và Hệ thống PL TBCN, nhưng trong hệ thống PLTBCN có nước Anh theo common law, nước Pháp theo civil law ==> mục đích không đạt

Trang 18

+ kỹ thuật lập pháp

+ nguồn luật+ kiểu tư duy pháp lý đặc thù+ cấu trúc PL

Sử dụng theo thứ tự ưu các tiêu chí, lần lượt sử dụng các tiêu chí

để tiến hành phân nhóm

Kết quả

phân nhóm

4 nhóm, mỗi nhóm là 1 dòng họPL

8 nhóm, mỗi nhóm là 1 dòng họ PL

Chương 2: Dòng họ pháp luật châu Âu lục địa

– Có 3 tên gọi:

+ dòng họ Civil law: dòng họ PL dân luật, dòng họ PL dân sự

Chú ý: mặc dù có thể “dịch nghĩa” của civil law là dân luật, hay dân sự, nhưng nếu

sử dụng thuật ngữ “dòng họ PL dân luật / sự” thì dễ gây hiểu nhầm rằng dòng họ

PL này chỉ có PL dân sự mà không có hình sự, không có hành chính, … ==> như

vậy là sai về bản chất, vì thực tế dòng họ PL civil law chỉ coi trọng PL dân sự, ưu

tiên pháp điển hóa PL dân sự trước, nhưng vẫn có đầy đủ PL hình sự, hành chính,

+ dòng họ PL châu Âu lục địa: vì ra đời đầu tiên ở các quốc gia thuộc châu Âu lục địa, sau đó lan rộng ra các quốc gia khác trên toàn thế giới

Chú ý: nói 1 quốc gia có hệ thống PL thuộc dòng họ PL châu Âu lục địa thì không

có nghĩa quốc gia đó thuộc châu Âu lục địa

+ dòng họ PL thành văn: coi trọng pháp điển hóa PL (tức là PL thành văn) và trungtâm là PL dân sự, có nguồn gốc từ thời La Mã

Chú ý: tên gọi này chủ yếu dùng để phân biệt với dòng họ PL common law (PL coi

trọng án lệ)

Trang 19

– Chế định PL đặc thù: luật nghĩa vụ, gồm 3 nội dung:

+ dòng họ civil law hình thành và phát triển ở châu Âu lục địa

+ dòng họ civil law mở rộng sang các châu lục khác

1 Sự hình thành và phát triển của dòng họ civil law ở châu Âu lục địa

– Chia làm 3 giai đoạn:

+ giai đoạn trước thế kỷ 11

+ giai đoạn từ thế kỷ 11 – thế kỷ 18

+ giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 – nay

a Giai đoạn trước thế kỷ 11

– PL các nước châu Âu lục địa trước thế kỷ 11 là sự tồn tại của nhiều loại PL khác nhau Có 3 loại chính:

+ PL thành văn: luật La Mã,

+ tập quán pháp: PL của các vùng, miền khác nhau

+ luật giáo hội: ra đời muộn hơn, xuất hiện vào thế kỷ 6, 7

– Thời kỳ này PL còn đơn giản, có sự khác biệt giữa 2 tiểu giai đoạn:

+ trước thế kỷ 7: gồm PL La Mã, tập quán địa phương

+ thế kỷ 7 – thế kỷ 10: tập quán địa phương, luật giáo hội (thời kỳ khủng hoảng toàn diện, gọi là “Đêm trường trung cổ” với sự thống trị của luật tôn giáo)

– Dòng họ civil law được cấu thành từ luật La Mã, tập quán địa phương, luật giáo hội, và tư tưởng về PL tự nhiên đã trải qua 1 quá trình phát triển lâu dài và phức tạp Nhưng nền tảng chính tạo nên dòng họ civil law là luật La Mã

* Về luật La Mã

Trang 20

– Có nhiều quan điểm về khái niệm luật La Mã:

+ là bộ tổng luật do Hoàng đế Justinian ban hành (gọi là Corpus Juris Civilis) (đây

là thời kỳ thịnh vượng của đế quốc La Mã): đây là bộ tổng luật đồ sộ nhất trong hơn 1000 năm tồn tại của nhà nước La Mã, là tập hợp toàn bộ các quy định PL của nhà nước La Mã Bộ tổng luật này không chỉ có hiệu lực trong thời hoàng đế

Justinian mà vẫn có hiệu lực trong các triều đại về sau của nhà nước La Mã Khôngnhững thế, bộ luật này có ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ các hệ thống PL của nhânloại, rất nhiều quy tắc pháp lý, rất nhiều quy định PL của các quốc gia sau này bắt nguồn từ bộ tổng luật này ==> chính vì tầm ảnh hưởng quá lớn của Corpus Juris Civilis mà nhiều học giả đồng nhất luật La Mã với bộ tổng luật này

+ là Corpus Juris Civilis và các biến tướng của Corpus Juris Civilis

+ là toàn bộ các bộ luật La Mã từ thế kỷ 5 trước CN đến thế kỷ 6, 7: tức là toàn bộ các sản phẩm PL của các triều đại La Mã Chú ý: mặc dù nhà nước La Mã tồn tại đến tận thế kỷ 15, tuy nhiên kể từ thế kỷ 6, 7 thì nhà nước La Mã đã suy yếu rất nhiều và không còn đưa ra được sản phẩm lập pháp nào đáng chú ý nữa

Nhận xét: cách hiểu 1 và 2 không chính xác Cách hiểu thứ 3 mới được công nhận rộng rãi

– Một số thành tố cơ bản của luật La Mã:

+ thuật ngữ “luật La Mã” được dùng để chỉ toàn bộ khối lượng PL La Mã được banhành trong hơn 1 thiên niên kỷ (kéo dài từ năm 450 trước CN đến thế kỷ 6, 7)+ 3 thành tố cơ bản của luật La Mã:

• Luật 12 bảng

• Tác phẩm Institutes của Gaias

• Corpus Juris Civilis

– Luật 12 bảng:

+ gọi là Luật 12 bảng vì sau khi ban hành, nhà nước La Mã đã khắc bộ luật này ra

12 tấm bảng và để ra nơi công cộng để người dân biết và tuân theo

+ ra đời khoảng năm 451 – 449 trước CN, trong quá trình xây dựng Luật 12 bảng, các nhà lập pháp La Mã đã sử dụng luật so sánh Vào thời điểm này thì nhà nước

Hy Lạp láng giềng đã có hệ thống PL tương đối hoàn chỉnh với những hệ thống PLriêng của mỗi thành bang Hy Lạp (khoảng 50 thành bang), để học hỏi thì nhà nước

Trang 21

La Mã đã thành lập Hội đồng pháp quan sang Hy Lạp học hỏi, những pháp quan này đã so sánh PL của mỗi thành bang Hy Lạp, đồng thời so sánh với tập quán La

Mã để xây dựng nên những quy định PL phù hợp nhất

+ đặc điểm:

• Chứa đựng nhiều tập quán la-tinh (tập quán của người La Mã cổ đại) và nhiều quy định giống PL Hy Lạp cổ đại

• Phạm vi điều chỉnh hẹp (luật 12 bảng có rất ít quy định cụ thể mà phần lớn

là các quy định mang tính nguyên tắc, và chủ yếu chỉ quy định luật tư, cụ thể

là luật dân sự) ==> sau khi ra đời, nhà nước La Mã vẫn phải sử dụng tập quán pháp để điều chỉnh các quan hệ xã hội

• Mặc dù ra đời rất sớm, luật 12 bảng bên cạnh 1 số quy định còn lạc hậu, mang đậm tính chất của xã hội chiếm hữu nô lệ, còn có rất nhiều quy định được đánh giá là rất tiến bộ, như quy định về thừa kế, quy định về thủ tục tố tụng, …

+ ý nghĩa: luật 12 bảng có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với nhà nước La Mã mà còn đối với nhân loại:

• Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước La Mã, góp phần xây dựng nên nhà nước La Mã thịnh vượng

• Từ thành công của Luật 12 bảng, nhà nước La Mã đã rất quan tâm đến PL thành văn, và các nhà nước ở châu Âu lục địa sau này kế thừa tư duy xây dựng PL thành văn

– Tác phẩm Institutes của Gaias (các thiết chế pháp luật của Gaias):

+ là 1 tác phẩm khoa học luật, ra đời từ thế kỷ 3 trước CN, đến thế kỷ 2 trước CN mới được phát hiện, đến nay vẫn chưa rõ tác giả

+ đây không phải là văn bản quy phạm PL, mà là 1 tác phẩm khoa học luật

+ được coi là 1 thành tố của luật La Mã do:

• Đây là cuốn sách đầu tiên tập hợp đầy đủ, thống nhất luật La Mã trước đó

• Không chỉ sao chép luật cổ mà còn phân tích, giải thích phạm vi áp dụng củacác quy định, đồng thời hệ thống và phân chia các quy định thành các phần khác nhau ==> đây là nền tảng cho các chế định luật dân sự sau này:

Trang 22

• Nhóm quy định về người: làm tiền đề cho chế định địa vị pháp lý của

cá nhân

• Nhóm quy định về vật: làm tiền đề cho chế độ sở hữu

• Nhóm quy định về hành động: làm tiền đề cho chế định hợp đồng, bồithường dân sự ngoài hợp đồng

– Corpus Juris Civilis: tập hợp các chế định luật dân sự (hay Bộ tổng luật của

• Năm 528, hoàng đế Justinian I ra lệnh tập hợp, hệ thống hóa và củng cố, điểm chế hóa luật La Mã và tập hợp các chế định luật dân sự ==> Corpus Juris Civilis ra đời

+ Corpus Juris Civilis gồm 4 phần:

• Codex: là bộ được soạn thảo đầu tiên, chứa đựng những văn bản quy phạm

PL do các Hoàng đế tiền nhiệm của Justinian ban hành Khi biên soạn

Codex, những học giả được quyền đánh giá xem những quy phạm PL đó có còn phù hợp với thời Justinian nữa hay không, nếu còn phù hợp thì đưa vào, nếu thấy không phù hợp thì chỉnh sửa cho phù hợp, nếu không thể chỉnh sửa được thì loại bỏ Việc sắp xếp các văn bản quy phạm PL cũng rất khoa học: theo thứ tự thời gian ban hành văn bản, ở đầu mỗi văn bản đều ghi tên

Hoàng đế ban hành và cuối văn bản ghi rõ thời điểm ban hành ==> rất dễ tracứu

• Digesta: gồm 50 quyền, phải mất 3 năm (530 – 533) mới hoàn thành biên soạn, không chứa đựng quy phạm PL, mà chứa đựng những học thuyết pháp

lý uyên thâm về khoa học luật (tập hợp hơn 2000 bài viết, công trình nghiên cứu chứa đựng những học thuyết của các học giả La Mã) Bộ Digesta rất trừu tượng, không dành cho dân thường đọc, mà dành cho người phải có trình độ luật học nhất định

• Institutions: gồm 4 quyển, được soạn thảo đồng thời cùng với bộ Digesta, không chứa đựng các quy phạm PL, mà chứa đựng những kiến thức cơ bản

Trang 23

về khoa học luật, dành cho người bắt đầu nghiên cứu khoa học luật ==> được coi là sách giáo khoa cho người học luật Các nội dung trong

Institutions được phân nhóm giống với việc phân nhóm trong Tác phẩm Institutes của Gaias

• Novellae: được soạn thảo sau cùng, và hoàn thành sau khi Justinian qua đời, chứa đựng những quy định PL do chính Hoàng đế Justinian ban hành (122 văn bản) và một phần (khoảng 40 văn bản) những quy định do các hoàng đế

kế nhiệm Justinian ban hành

Lưu ý: mặc dù trong Bộ tổng luật này, có phần chứa văn bản quy phạm PL, có

phần chỉ chứa kiến thức về khoa học pháp lý, nhưng đối với người dân La Mã thì toàn bộ 4 phần của Corpus Juris Civilis đều mang ý nghĩa ràng buộc, tức là coi những kiến thức pháp lý là chuẩn mực và có giá trị giống như luật (do đó mới có tên gọi là Bộ tổng luật)

b Giai đoạn từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18

– Từ thế kỷ 11, nền kinh tế châu Âu lục địa bắt đầu hồi phục và đi vào ổn định, khoa học bắt đầu phát triển trở lại, trong đó có khoa học pháp lý Cùng với sự phát triển của thương mại giữa các quốc gia ==> nhu cầu xây dựng PL để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh ==> nhu cầu nghiên cứu PL phát triển, chủ yếu là

nghiên cứu luật La Mã

– Xuất hiện 5 trường phái nghiên cứu luật La Mã:

+ trường phái các nhà bình chú (Glossators)

+ trường phái các nhà bình luận (Commentators)

+ trường phái nhân văn pháp lý (Legal Humanists)

+ trường phái các nhà pháp điển hiện đại (Pandectist)

+ trường phái pháp luật tự nhiên (Natural Law shool)

– Mỗi trường phái sử dụng phương pháp nghiên cứu khác nhau, đặt ra mục đích khác nhau ==> kết quả khác nhau và đóng góp cho PL châu Âu lục địa cũng khác nhau

* Trường phái các nhà bình chú (Glossators)

– Ra đời vào thế kỷ 11 ở Ý

– Những học giả đầu tiên là các giáo sư luật của trường đại học Bologna, Ý

Trang 24

– Lựa chọn nghiên cứu về Digesta của Corpus Juris Civilis

– Mục đích: làm cho Digesta dễ hiểu hơn, bằng cách đưa ra những lời bình chú vàoDigesta

– Kết quả: đến thế kỷ 13, 1 học giả là Accurcius (1182-1236) tập hợp những lời bình chú này trong tác phẩm Great Gloss (Đại bình chú) có đến 96.000 lời chú giải

– Những học giả đầu tiên là các giáo sư luật của trường đại học Bologna, Ý

– Kế thừa phương pháp nghiên cứu của trường phái Glossators (nên còn được gọi

là các nhà hậu – bình chú – Post Glossators), tuy nhiên hoạt động nghiên cứu của trường phái này không dập khuôn theo trường phái Glossators, thể hiện:

• Đối tượng nghiên cứu mở rộng hơn: Digesta và luật giáo hội (vì thời điểm này Nhà thờ đã can thiệp rất sâu vào hoạt động của nhà nước)

• Khai thác tính thực dụng của PL La Mã ở xã hội đương thời, tức là xem xét việc áp dụng PL La Mã vào tực tiễn châu Âu lúc bấy giờ (chứ không chỉ nghiên cứu mang tính lý thuyết như ở trường phái Glossators)

* Chú ý:

+ đóng góp lớn nhất của 2 trường phái nghiên cứu đầu tiên là góp phần cho việc hình thành và phát triển luật chung châu Âu lục địa (Jus Commune – chú ý: không phải là luật của liên minh Châu Âu hiện tại): thông qua việc nghiên cứu của mình, các học giả của 2 trường phái này đã hình thành nên 1 tư duy pháp lý, và vì là các giáo sư luật ==> truyền lại tư duy pháp lý của mình cho các thế hệ học viên sau (không chỉ là học viên Ý mà từ khắp châu Âu) ==> tư duy pháp lý lan tỏa khắp châu Âu lục địa

+ Jus Commune chỉ tồn tại ở châu Âu lục địa từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16, là hệ tư duy pháp lý hình thành từ luật La Mã, luật giáo hội, được hầu hết các quốc gia ở châu Âu lục địa tiếp nhận nhưng thể hiện cụ thể linh hoạt ở từng nước (các quốc gia ở gần Ý tiếp nhận 1 cách dễ dàng, các quốc gia xa Ý, như các nước Bắc Âu, thìtầm ảnh hưởng hạn chế hơn)

Trang 25

+ Jus commune không giống luật Liên minh châu Âu – là các điều ước, hệ thống phán quyết của tòa công lý châu Âu.

* Trường phái nhân văn pháp lý (Legal Humanists)

* Trường phái các nhà pháp điển hiện đại (Pandectist)

– Ra đời ở Đức, thế kỷ 16

– Sử dụng phương pháp nghiên cứu hiện đại: nghiên cứu luật La Mã gắn với điều kiện thực tiễn lúc bấy giờ, tuy nhiên lại chỉ “gắn” với điều kiện, hoàn cảnh của nước Đức, chứ không phải của toàn châu Âu

==> kết quả nghiên cứu có ý nghĩa nhiều hơn đối với hệ thống PL Đức, không có ảnh hưởng lớn với châu Âu

——————–

Ngày 22/08/2017

Giảng viên: cô Đặng Thị Hồng Tuyến (ThS)

(Tiếp bài trước)

* Trường phái pháp luật tự nhiên (Natural Law shool)

– Ra đời ở Hà Lan, Đức, thế kỷ 17 (muộn hơn so với các trường phái khác)

– Có đối tượng nghiên cứu và quan niệm khác nhất trong số 5 trường phái nghiên cứu PL: ngoài PL do nhà nước ban hành còn có PL tự nhiên

Pháp luật tự nhiên: được coi là do đấng tối cao ban tặng, là bất khả xâm phạm– Đóng góp:

Trang 26

+ kêu gọi chủ nghĩa dân tộc pháp lý: mỗi học giả luôn đặt lợi ích dân tộc mình về pháp lý lên trước tiên ==> áp dụng PL phù hợp với quốc gia mình, xây dựng PL riêng cho quốc gia mình

+ khởi xướng phong trào pháp điển hóa PL không chỉ ở Đức mà ở toàn châu Âu lục địa: tức là xây dựng PL thành văn (ngoài Đức, còn có rất nhiều nước pháp điển hóa PL thành công)

+ đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển các chế định PL thuộc lĩnh vực công pháp: đặc biệt đặt nền móng cho xây dựng các chế định quyền con người, quyền của cá nhân

c Giai đoạn từ cuối thế kỷ 18 đến nay

– Ở châu Âu từ cuối thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 là cuộc Đại pháp điển hóa PL:

+ bắt đầu với Bản tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789, đã đặt nền móng cho luật Hiến pháp của Pháp và của tất cả các quốc gia trên thế giới sau này

+ nước Pháp đã pháp điển hóa thành khoảng 40 bộ luật, trong đó nổi bật là Bộ luật dân sự Napoleon 1804, Bộ luật TTDS 1806, Bộ luật thương mại 1807, Bộ luật TTHS 1808, Bộ luật hình sự 1810, …

+ nước Đức cũng đã pháp điển hóa những bộ luật quan trọng, như Bộ luật thương mại 1866, Bộ luật hình sự 1871, Bộ luật TTHS 1877, Bộ luật TTDS 1877, Bộ luật dân sự 1896, …

+ ảnh hưởng của cuộc Đại pháp điển này là rất lớn đối với các thuộc địa của Pháp, Đức, và của các quốc gia khác như Nhật, Hàn, Thái Lan, Hi Lạp, …

– So sánh cuộc pháp điển hóa này với các cuộc pháp điển hóa trước đó:

+ bộ tổng luật Corpus Juris Civilis của Hoàng đế Justinian cũng là pháp điển hóa quy mô lớn, nhưng nó vẫn chưa được coi là Đại pháp điển hóa PL, vì quy mô chỉ trong phạm vi La Mã, so với quy mô với châu Âu thì vẫn còn nhỏ bé Về nội dung thì mới pháp điển hóa chủ yếu luật dân sự (luật tư), nếu có hình sự thì vẫn cho là luật tư vì bảo vệ con người

+ còn cuộc Đại pháp điển hóa PL ở châu Âu thì việc pháp điển hóa PL diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: dân sự, hình sự, hành chính, hành pháp, … và trên phạm vi rộng lớn (toàn bộ châu Âu)

Trang 27

– Tuy nhiên không phải tất cả các quốc gia đều thành công trong cuộc đại pháp điển hóa này, VD ở Phổ thì PL về ruộng đất đã không thể được pháp điển

– Nguyên nhân: để pháp điển hóa PL thành công:

+ phải ở quốc gia lớn

+ phải được thực hiện bởi nhà cầm quyền anh minh, coi trọng luật pháp (ở Phổ, nhà vua Phổ đã đặt quá nhiều lợi ích của nhà vua vào việc pháp điển ==> pháp điển thất bại)

– Ý nghĩa: đóng góp tích cực cho PL ở châu Âu lục địa: văn bản PL thành văn, tạo

ra được đặc trưng riêng cho PL châu Âu lục địa, tạo ra được tiếng vang, hình mẫu cho các quốc gia trên thế giới

– Hạn chế: chính vì thành công quá lớn đó dẫn đến tạo ra tư duy không tích cực, tưduy quá tôn thờ PL thành văn, vì dù kỹ thuật lập pháp có cao đến đâu thì cũng vẫn

sẽ có thiếu sót hay lỗ hổng khi cho rằng nguồn của PL chỉ có PL thành văn; ngoài

ra việc coi thẩm phán chỉ là người áp dụng PL đã có sẵn đã làm mất đi sự sáng tạo, chủ động của thẩm phán (khác hẳn với vai trò rất lớn của thẩm phán ở dòng họ common law)

2 Sự mở rộng của dòng họ civil law sang châu Âu lục địa

a Lý do mở rộng

– Có 2 lý do: cưỡng bức, và tự nguyện

– Lý do cưỡng bức:

+ thông qua quá trình mở rộng thuộc địa của các cường quốc ở châu Âu ==> áp đặt

hệ thống PL civil law cho thuộc địa

+ các quốc gia thuộc địa dù đã được giải phóng nhưng tư duy làm luật đã ăn sâu vào tiềm thức, nên đã xây dựng hệ thống PL giống với châu Âu lục địa Điển hình

là các quốc gia châu Phi, Nam Mỹ, Indonexia, …

+ VN dù từng là thuộc địa nhưng không rơi vào trường hợp này, vì sau khi giải phóng VN đi theo CNXH, chỉ vài năm sau giải phóng còn cho phép sử dụng 1 số điểm của luật châu Âu lục địa, và sau đó đã thay thế gần như toàn bộ Về sau này (kể từ khi đổi mới) mới học hỏi từ tất cả các nước trên thế giới

– Lý do tự nguyện:

Trang 28

+ tự nguyện học hỏi văn minh pháp lý ở châu Âu lục địa: vì coi châu Âu lục địa là

mô hình lý tưởng

+ VD điển hình: Nhật Bản, hệ thống PL Nhật Bản thuộc nhóm hỗn hợp, chịu ảnh hưởng của civil law từ cuối thế kỷ 19, trong cuộc cải cách Minh trị, theo đó cải tổ toàn bộ hệ thống PL theo hệ thống PL của châu Âu lục địa, chủ yếu từ Đức ==> hệ thống PL của Nhật hoàn toàn mới (trước đó hệ thống PL của Nhật chịu ảnh hưởng

từ Trung Quốc) Ví dụ như Hiến pháp, bộ luật dân sự của Nhật Bản học hỏi từ BLDS Đức (có tham khảo BLDS Pháp, Anh), dù được ban hành từ 1898 đến nay vẫn còn hiệu lực

+ VD các quốc gia Ả rập cũng có hệ thống PL là hỗn hợp luật hồi giáo và civil law,

lý do không phải vì đã từng là thuộc địa, mà là trong quá trình giao thương với châu Âu, civil law dần ảnh hưởng sang (sự tương đồng trong hệ thống PL có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giao thương giữa các quốc gia)

b Quy mô mở rộng

– Châu Mỹ:

+ có sự khác biệt giữa Bắc Mỹ và Nam Mỹ

+ Bắc Mỹ đa phần là thuộc địa của Anh (chỉ có bang Lousiana, Quibek là thuộc địacủa Pháp), đến nay: Mỹ, Canada theo dòng common law, tuy nhiên PL của bang Lousiana, Quibek vẫn theo civil law (bằng chứng là vẫn có BLDS đồ sộ như ở châu Âu lục địa)

+ Nam Mỹ chủ yếu là thuộc địa của Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ==> đều theo civil law

– Châu Phi:

+ Bắc Phi: là thuộc địa của Pháp nên theo civil law, nhưng trước đó đã có luật hồi giáo ==> duy trì cả luật hồi giáo + civil law (hỗn hợp)

+ Trung Phi: chưa có nền pháp lý nào ==> theo civil law

+ Nam Phi: chịu sự ảnh hưởng của cả Anh và Pháp ==> hỗn hợp civil law và common law

– Châu Á:

Trang 29

+ hầu hết là hỗn hợp: như hỗn hợp giữa civil law với PL XHCN (Trung Quốc, VN), hỗn hợp giữa civil law với common law (Philippin), hỗn hợp civil law với truyền thống Á Đông (Nhật Bản)

+ riêng Indonexia là sự hỗn hợp của luật hồi giáo và civil law

II Cấu trúc pháp luật của dòng họ Civil law

1 Cách phân chia pháp luật

– Nói chung, civil law đều chia thành công pháp và tư pháp Đây là 1 đặc trưng củadòng họ civil law (các dòng họ PL khác không có)

(Ở VN thì chia thành các ngành luật, không có sự phân chia rõ ràng thành công pháp và tư pháp)

a Nguồn gốc và mục đích phân chia công pháp – tư pháp

– Nguồn gốc: từ luật La Mã, quan niệm các quan hệ tư và quan hệ công không thể đặt trên cùng 1 bàn cân

– Mục đích: khác với luật La Mã là bỏ quan hệ công ra khỏi hệ thống PL, dòng họ civil law đã tách riêng quan hệ công ra khỏi quan hệ tư

Câu hỏi: Tại sao luật La Mã lại muốn loại bỏ quan hệ công ra khỏi hệ thống PL ?

Trả lời: Vì phạm vi áp dụng của luật công là chính quyền, tức là nếu ban hành thì

sẽ ràng buộc chính mình ==> không muốn có những quy định ràng buộc chính mình

Câu hỏi: Tại sao civil law tách riêng quan hệ công ra khỏi quan hệ tư ?

Trả lời: Vì không thể gộp chung luật công và luật tư, hơn nữa là để xác định tòa án

có thẩm quyền giải quyết vụ việc cụ thể, trong các nước theo civil law tồn tại hệ thống tòa hành chính (giải quyết quan hệ công) và hệ thống tòa tư pháp (giải quyết quan hệ tư)

Chú ý: trong lịch sử, nước Anh cũng có giai đoạn phân chia thành công pháp và tư

pháp, nhưng chỉ với mục đích để xác định được thủ tục tương ứng (và giai đoạn này cũng chỉ tồn tại rất ngắn)

b Phân biệt công pháp và tư pháp

Trang 30

Quan hệ giữa người dân với nhau

Mục đích Bảo vệ lợi ích công

Bảo vệ lợi ích tư nhân

Phương

pháp điều

chỉnh Phương pháp mệnh lệnh

Phương pháp tự do thỏa thuận ý chí của các các bên tham gia

Tính chất

Thể hiện tính bất bình đẳng giữa các chủ thể PL, trong đó cơ quan

NN (hoặc người có thẩm quyền) thường ra các quyết định mang tính mệnh lệnh và bên chủ thể khác phải thi hành

Thể hiện sự bình đẳng của các chủ thể tham gia quan hệ PL

Các

ngành

luật

Hiến pháp, Hành chính, Hình sự, Cán bộ công chức viên chức, …

Dân sự, Thương mại, Lao động, Hôn nhân gia đình, …

Quy

phạm PL Thường mang tính tổng quát cao

Thường mang tính cụthể, chi tiết

Quá trình

phát triển

Đến thế kỷ 17 mới phát triển (khixuất hiện trường phái PL tự nhiên trong đó đề cao quyền con người, và cách mạng tư sản liên tiếp thành công)

Xuất hiện từ thời cổ đại (Hy Lạp cổ đại,

La Mã cổ đại)

Câu hỏi: Vì sao chưa có quốc gia nào ban hành được bộ luật hành chính ở mức độ

đồ sộ như BLDS ?

Trang 31

Trả lời: Vì đối tượng điều chỉnh của luật hành chính sẽ là quan hệ giữa cơ quan

nhà nước với nhau, quan hệ giữa cơ quan nhà nước với người dân ==> tức là có liên quan mật thiết đến mô hình bộ máy nhà nước và hoạt động quản lý nhà nước, mặc dù hiện nay tình hình các quốc gia hầu hết có sự ổn định, tuy nhiên vẫn tiềm

ẩn rất nhiều biến động, chưa thể có đươc sự ổn định giống như quan hệ tư ==> các quốc gia chưa thể ban hành được bộ luật hành chính giống như BLDS

2 Quy phạm pháp luật và giải thích quy phạm pháp luật

– Quy phạm PL trong civil law:

+ nguồn: chủ yếu là PL thành văn (trong common law chủ yếu là án lệ)

+ chủ thể ban hành: nhà lập pháp (trong common law là thẩm phán)

– Việc giải thích PL là thẩm quyền của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, và Tòa án (trong đó chủ yếu thẩm quyền giải thích PL là của tòa án)

Ở VN thì việc giải thích PL được giao cho rất nhiều cơ quan: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan của chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát

——————–

Ngày 24/08/2017

Giảng viên: cô Bùi Thị Minh Trang (ThS)

(Tiếp bài trước)

3 Điểm yếu trong công pháp

Trang 32

– Trong luật La Mã, công pháp không được chú trọng phát triển, mới chỉ có luật Hình sự, tuy nhiên ở chỉ ở khía cạnh trừng phạt người dân.

– Công pháp ở các nước thuộc dòng họ civil law có mức độ phát triển không đồng đều và có mức độ hoàn thiện thấp hơn tư pháp Vì sao ? Vì:

+ vì tư pháp trong các nước thuộc dòng họ civil law phát triển dựa trên sự kế thừa luật La Mã, mà tư pháp của La Mã rất phát triển và đã đạt đến mức hoàn thiện, còncông pháp thì phải phát triển gần như từ đầu

+ công pháp phát triển dựa trên các quyền tự nhiên của con người, mà quyền con người mới chỉ bắt đầu được chú trọng nghiên cứu từ thế kỷ 17 ở Hà Lan ở trường pháp nghiên cứu PL tự nhiên Mà quyền con người lại được quan niệm khác nhau

ở mỗi quốc gia ==> công pháp có mức độ hoàn thiện khác nhau ở mỗi nước, VD ở Pháp có hệ thống công pháp hoàn thiện hơn so với các nước civil law khác

III Nguồn của các hệ thống PL thuộc dòng họ Civil law

– Nguồn sơ cấp: là nguồn đóng vai trò chính

Câu hỏi: Phân chia các nguồn thành sơ cấp, thứ cấp là dựa trên cơ sở nào ?

Trả lời: Nguồn luật được xác định là cơ sở để các thẩm phán dựa vào đó đưa ra

phán quyết khi giải quyết vụ việc, mà có nguồn luật ==> dựa trên tính ràng buộc của các nguồn luật (thứ tự ưu tiên sử dụng) được các thẩm phán sử dụng trong giải quyết tranh chấp

1 Pháp luật thành văn

a Quy phạm PL

Trang 33

– Quan niệm về quy phạm PL trong dòng họ civil law: quy phạm PL được coi là thành công khi nó được áp dụng để giải quyết vụ việc trong thực tế

– Tầm quan trọng của các quy phạm PL: sau cuộc Đại pháp điển rất thành công, các quốc gia thuộc dòng họ civil law đa tuyệt đối hóa, “thần thánh hóa” vai trò của

PL thành văn, cho rằng chỉ cần sử dụng PL thành văn là đủ để giải quyết tất cả các

vụ việc trong xã hội Tuy nhiên, càng về sau thì phát phát sinh những vụ việc mà

PL thành văn chưa kịp ban hành quy phạm PL để điều chỉnh ==> cần phải sử dụng đến tập quán, các nguyên tắc chung của PL, và thậm chí phải sử dụng đến cả các nguồn luật thứ cấp

Câu hỏi: Vì sao PL thành văn không thể giải quyết được tất cả các vấn đề phát sinh

trong thực tế ?

Trả lời: Vì các quan hệ xã hội luôn phát sinh trước khi có PL thành văn điều chỉnh

==> cần phải sử dụng các nguồn luật khác để điều chỉnh

b Hệ thống các văn bản PL

– Hiến pháp: thuộc về luật công trong dòng họ civil law, có vị trí, vai trò khác nhautại mỗi quốc gia Khi mới xuất hiện (thế kỷ 19), có quốc gia coi Hiến pháp là 1 đạoluật thông thường; có quốc gia coi hiến pháp là đạo luật có vị trí cao hơn các đạo luật khác

Đến nay, hầu hết các quốc gia civil law đều coi Hiến pháp là luật gốc, có vị trí cao hơn các luật thông thường ==> phải có cơ chế bảo hiến Chú ý: bảo hiến chỉ đặt ra

ở quốc gia coi Hiến pháp có vị trí cao hơn các dạo luật thông thường; còn ở những quốc gia không có hiến pháp, hoặc coi hiến pháp có vị trí như các đạo luật thông thường thì sẽ không đặt ra vấn đề bảo hiến)

Có 2 kiểu cơ chế bảo hiến:

+ lập riêng 1 cơ quan để bảo vệ hiến pháp ==> gọi là bảo hiến tập trung VD Tòa

án hiến pháp (Đức), Hội đồng bảo hiến (Pháp)

+ trao cho 1 số cơ quan quyền bảo vệ hiến pháp ==> bảo hiến phi tập trung VD trao việc bảo vệ hiến pháp cho toàn bộ hệ thống tòa án (Mỹ)

+ ở VN thì bảo hiến được thực hiện nửa tập trung và nửa phi tập trung: thường vụ Quốc hội xem xét tính hợp hiến của các văn bản PL, ngoài ra còn có các Cục trong các Bộ cũng có chức năng kiểm tra tính hợp hiến của văn bản PL, thậm chí cơ quan báo chí cũng có quyền “tuýt còi” văn bản PL vi hiến

Trang 34

– Điều ước quốc tế:

+ hầu hết các nước civil law đều đặt điều ước quốc tế ở vị trí thấp hơn hiến pháp nhưng cao hơn các đạo luật khác

+ nếu mâu thuẫn với Hiến pháp: thực hiện bảo lưu điều ước quốc tế (tức là không thực hiện ĐƯQT), nếu không thể bảo lưu thì không tham gia ĐƯQT đó

+ nếu mâu thuẫn với luật quốc gia: sẽ thực hiện sửa đổi luật quốc gia

– Luật, bộ luật (Chú ý: về giá trị pháp lý thì Luật và Bộ luật là 1, nhưng thông thường phạm vi điều chỉnh của Bộ luật là lớn hơn so với Luật; Bộ luật thường điềuchỉnh nhiều quan hệ xã hội, VD Bộ luật dân sự, còn Luật thường điều chỉnh 1 quan

hệ xã hội VD Luật hôn nhân gia đình, Luật lao động)

– Các loại văn bản PL khác: nghị định, thông tư Chú ý: trên thế giới không có kháiniệm “văn bản dưới luật” (under law), mà dùng khái niệm Văn bản ủy quyền (luật

là do Quốc hội / Nghị viện xây dựng và ban hành, nhưng có những vấn đề cần chi tiết, cần chuyên môn sâu thì phải chuyển cho bộ, ngành chuyên môn thực hiện ==>gọi là văn bản ủy quyền)

2 Tập quán pháp

– Mức độ áp dụng tập quán pháp khác nhau giữa các nước: ví dụ

+ Pháp: coi tập quán pháp là lỗi thời nên phạm vi áp dụng rất hạn chế, thường chỉ được sử dụng khi có sự dẫn chiếu; hoặc 1 số trường hợp tập quán pháp được áp dụng đương nhiên (có thể trái PL)

+ Tây Ban Nha: nếu vấn đề nào đó đã có trong tập quán pháp thì sẽ không được quy định trong luật dân sự

+ Đức: coi trọng tập quán pháp

– Vai trò của tập quán pháp: thông thường không vượt quá vai trò của PL thành văn(tức là chỉ sử dụng tập quán pháp khi PL thành văn không quy định), trừ các trườnghợp đặc biệt (là các trường hợp PL chủ động không ban hành quy phạm PL điều chỉnh, mà yêu cầu sử dụng tập quán pháp để điều chỉnh)

3 Các nguyên tắc chung của PL

– Khái niệm: nguyên tắc chung của PL là những nguyên tắc pháp lý (có thể thành văn hoặc không thành văn) được chấp nhận trong luật quốc gia của hầu hết các nước

Trang 35

– Nguồn gốc: Các nguyên tắc chung của PL có thể nằm ở bất kỳ đâu: trong văn bản

PL quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán, phán quyết của tòa án, học thuyết pháp lý,

… miễn là nó được thừa nhận và được áp dụng rộng rãi

– Các nguyên tắc chung của PL có sự ổn định nhất định Một số nguyên tắc được

áp dụng phổ biến trong hầu hết các hệ thống PL trên thế giới, VD nguyên tắc 1 hành vi phạm tội không bị xét xử 2 lần, 1 vi phạm hành chính không được xử phạt

2 lần, nguyên tắc 1 người chỉ coi là có tội khi có bản án có hiệu lực của tòa án, nguyên tắc ai khẳng định người đó phải chứng minh, nguyên tắc không ai bị bắt buộc phải kết tội chính mình, …

4 Phán quyết của tòa án

– Về phương diện lý thuyết, các hệ thống PL thuộc dòng họ civil law không thừa nhận học thuyết Stare Decisis (nguyên tắc tiền lệ pháp)

– Trên thực tế, đây vẫn là 1 nguồn luật bổ sung hữu hiệu và được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên vẫn có nhiều giới hạn về áp dụng tiền lệ pháp (so với các nước thuộc dòng họ Common law)

Chú ý: ở VN, nghị quyết của Hội đồng thẩm phán cũng nhằm để giải thích việc áp

dụng PL, cũng có vai trò gần giống như “án lệ”

5 Các học thuyết pháp lý

– Trong quá khứ, các học thuyết pháp lý đã từng là nguồn chính của các hệ thống

PL ở châu Âu lục địa

– Lý do coi học thuyết pháp lý là nguồn luật:

+ các học thuyết sáng tạo ra các thuật ngữ pháp lý và những ý tưởng mà các nhà làm luật sử dụng

+ các học thuyết tạo ra phương pháp mà nhờ đó luật được hiểu và được giải thích– Vai trò của các học thuyết pháp lý tại các nước civil law hiện nay: rất mờ nhạt

———————

Ngày 25/08/2017

Giảng viên: cô Phạm Minh Trang (ThS)

(Tiếp bài trước)

Trang 36

IV Hệ thống pháp luật một số nước thuộc dòng họ civil law

+ sau năm 1789: thực hiện pháp điển hóa để thống nhất PL trên toàn nước Pháp Thành quả lớn nhất là ra đời Bộ luật dân sự Napoleon 1804 (đến nay vẫn còn hiệu lực)

– Hoàn cảnh ra đời Bộ luật dân sự Napoleon 1804: được các các nhà thực hành luật(3 thẩm phán + 1 luật sư) soạn thảo từ năm 1800, có hiệu lực từ 1804

– Đặc điểm của Bộ luật dân sự Napoleon 1804:

+ gắn liền với tên tuổi của Napoleon Bonaparte

+ có tính ổn định và hiệu lực lâu dài: có khoảng hơn 2000 điều, đến nay vẫn còn hơn 1000 điều còn hiệu lực

+ đánh dấu sự phát triển của kỹ thuật lập pháp rất cao: logic, ngôn ngữ dễ hiểu, gầngũi, quy phạm PL chi tiết nhưng mềm dẻo, linh hoạt

+ chứa đựng 1 số quy định lạc hậu ngay từ khi ban hành VD coi người phụ nữ khi lấy chồng thì bị coi là mất năng lực hành vi dân sự ; con ngoài giá thú bị hạn chế quyền

+ mang tính Đức nhiều hơn cả bộ luật dân sự Đức

+ không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện

+ phản ánh tư tưởng của cách mạng tư sản

+ xây dựng dựa trên nguyên tắc phi tôn giáo

+ thống nhất được các quan hệ từ dân sự cho đến chính trị

Câu hỏi: Thời gian soạn thảo của Bộ luật dân sự Napoleon chỉ trong 4 năm là rất

ngắn ?

Trang 37

Trả lời: Ngắn là vì khi soạn luật kế thừa được rất nhiều từ những quy định cũ

Khác với Bộ luật dân sự Đức có thời gian soạn thảo đến 22 năm là do người Đức nghĩ ra những quy định hoàn toàn mới

Câu hỏi: Tại sao nói Bộ luật dân sự Pháp lại có “tính Đức” hơn cả Bộ luật dân sự

Đức ?

Trả lời: Vì bộ luật dân sự Pháp lấy rất nhiều tập quán Giec-manh của Đức vào, nên

mang đậm tính Đức Còn trong Bộ luật dân sự Đức lại không đưa các tập quán Giec-manh vào nên có ít tính Đức

– Nội dung của Bộ luật dân sự Napoleon: gồm 3 phần

+ thiên mở đầu:

+ 3 quyển về Người, Tài sản và Thay đổi về sở hữu, Các phương thức xác lập quyền sở hữu

– Ý nghĩa của Bộ luật dân sự Napoleon:

+ đối với Pháp: không chỉ có ý nghĩa về mặt PL mà còn có ý nghĩa về mặt văn hóa,được coi là bản “Hiến pháp dân sự” của người Pháp ; ngoài ra bộ luật rất gần gũi với người dân, được coi là “sách gối đầu giường” của mỗi người dân Pháp, thậm chí nhiều nhà văn còn học cách hành văn của bộ luật này

+ đối với thế giới: ảnh hưởng lớn đến PL nhiều quốc gia, như Bỉ, Hà Lan, Tây Ban Nha, các nước Đông Phi, Bắc Phi, … Đặc biệt các nước Mỹ La-tin chịu ảnh hưởngrất lớn Cá biệt có Thụy Sỹ bê nguyên thành luật nước mình Bộ luật dân sự

Napoleon 1804 được coi là bộ luật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới

b Nguồn luật

– PL thành văn

– Tập quán pháp

– Các nguyên tắc chung của PL

– Phán quyết của tòa án

– Các học thuyết pháp lý

c Hệ thống tòa án Pháp

Trang 38

– Mô hình tòa án Pháp thường được gọi là mô hình kim tự tháp đôi Đây là mô hình tòa án điển hình của việc phân chia hệ thống PL thành luật công và luật tư.

– Tòa dân sự sơ thẩm thẩm quyền hẹp:

+ xử những vụ việc dân sự có giá trị tranh chấp tối đa 10.000 Eur Đối với những

vụ việc dân sự có giá trị tranh chấp dưới 4000 Eur thì tòa này sẽ xét xử sơ thẩm và đồng thời là chung thẩm (tức là không có phúc thẩm)

+ thẩm phán không chuyên: tức là không được đào tạo bài bản về nghề thẩm phán, không có chứng chỉ hành nghề thẩm phán, chỉ cần hiểu biết PL và lĩnh vực xét xử– Tòa địa phương:

+ được sinh ra nhằm giảm tải công việc cho Tòa dân sự sơ thẩm thẩm quyền hẹp

Trang 39

+ có chức năng tương tự với Tòa dân sự sơ thẩm thẩm quyền hẹp

+ thẩm phán không chuyên

+ xét xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm

– Tòa dân sự sơ thẩm thẩm quyền rộng:

+ xử những vụ việc dân sự có giá trị tranh chấp lớn hơn 10.000 Eur

+ thẩm phán chuyên nghiệp: được đào tạo bài bản, có chứng chỉ hành nghề thẩm phán

– Tòa dân sự chuyên biệt:

+ chuyên xét xử một số tranh chấp đặc biệt

+ gồm 3 tòa:

• Tòa thương mại

• Tòa lao động

• Tòa xét xử hợp đồng nông nghiệp

+ thẩm phán: cả chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp VD với tòa thương mại thì thẩm phán có thể chỉ là thương nhân có hiểu biết PL; hoặc với tòa lao động thì thẩm phán có thể là chủ tịch 1 tập đoàn

Trang 40

• Tòa an ninh quốc gia

+ thẩm phán chuyên nghiệp

– Tòa đại hình:

+ là dạng tòa ad-hoc (không thường trực), tổ chức 3 tháng 1 lần

+ chuyên xét xử sơ thẩm những vụ án đặc biệt nghiêm trọng

Câu hỏi: Tất cả các bản án sơ thẩm về vụ việc dân sự, vụ án hình sự ở Pháp đều

phải chuyển qua Tòa tư pháp phúc thẩm trước khi lên Tòa phá án

Trả lời: Khẳng định là Sai Vì bản án của Tòa đại hình có thể kháng cáo, kháng

nghị lên thẳng Tòa phá án mà không cần phải qua Tòa tư pháp phúc thẩm

– Tòa phá án: là tòa án cấp cao nhất của tư pháp (tương đương với Tòa án tối cao ởVN)

+ “phá án” không phải là khám phá vụ án, mà là “phá bỏ, phá hủy” bản án

+ tòa phá án không trực tiếp xét xử vụ việc, mà chỉ xem xét các tòa án cấp dưới áp dụng luật nội dung, luật hình thức có sai sót không, nếu phát hiện sai sót thì “phá hủy” bản án đó và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cho 1 tòa án khác cùng cấp để xét

xử lại

* Nhánh tòa hành chính:

– Tòa hành chính sơ thẩm:

+ xét xử sơ thẩm các vụ việc hành chính theo phạm vi lãnh thổ

+ nếu có kháng cáo, kháng nghị sẽ chuyển lên cho Tòa hành chính phúc thẩm– Tòa hành chính chuyên biệt:

+ gồm 4 tòa:

• Tòa kiểm toán

Ngày đăng: 12/06/2021, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w