1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin vào việc phát huy giá trị di sản văn hóa ở bảo tàng hải phòng

114 31 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phát triển Bảo tàng Hải Phòng có tầm vóc luôn là vấn đề đặt ra đối với những nhà lãnh đạo thành phố, BGĐ và đối với cán bộ làm công việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Bả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

BÙI THỊ NGUYỆT NGA

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA Ở BẢO TÀNG

HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THẾ HÙNG

HÀ NỘI – 2009

Trang 2

Lời cảm ơn Với sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thế Hùng, đề tμi

"Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát huy giá trị di sản văn hoá tại Bảo tμng Hải phòng" được tác giả chọn lμm luận văn thạc sĩ khoa học của mình Tác giả xin bμy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người thầy đã tận tụy hết lòng vì học trò

Xin chân thμnh cảm ơn Giám đốc Bảo tμng Hải Phòng - Ông Nguyễn Phúc Thọ cùng các đồng nghiệp, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoμn thμnh tốt khóa học

Trong quá trình lμm bμi tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô PGS TS Nguyễn Thị Minh Nguyệt, PGS

TS Nguyễn Thị Huệ cùng các thầy cô khoa sau đại học, đồng chí Vũ Tiến Dũng - Chuyên viên Tin học Cục Di sản văn hóa

Tôi xin chân thμnh cảm ơn!

Hμ Nội, tháng 5 năm 2009

Trang 3

Mục lục

mở đầu 6

1 Lý do chọn đề tμi 6

2 Mục đích nghiên cứu 8

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu 8

3.1 Đối tượng nghiên cứu 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu 9

4 Tình hình nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Bố cục của luận văn 12

Chương 1 13

Bảo tμng Hải Phòng vμ quá trình 13

ứng dụng CNTT trong hoạt động bảo tμng 13

1.1 Vài nét về thành phố Hải Phòng 13

1.2 Khái quát về Bảo tàng Hải Phòng 16

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Hải Phòng 16

1.2.2 Cơ cấu tổ chức 23

1.2.3 Nguồn nhân lực 24

1.2.4 Vài nét về Di sản Văn hóa lưu giữ tại Bảo tàng Hải Phòng 26

1.3 Vai trò của Bảo tàng Hải Phòng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 29

1.4 Vai trò của CNTT đối với hoạt động bảo tàng 32

1.5 Yêu cầu của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động bảo tàng 34

1.5.1 Tình hình ứng dụng CNTT ở một số bảo tàng trên thế giới 34

1.5.2 Tình hình ứng dụng CNTT ở một số bảo tàng Việt Nam 41

1.5.3 Tình hình ứng dụng CNTT ở Bảo tàng Hải Phòng 45

Tiểu kết chương 1 48

Thực trạng ứng dụng CNTT trong việc 49

phát huy giá trị di sản văn hóa ở Bảo tμng Hải Phòng 49

2.1 Cơ sở hạ tầng CNTT ở Bảo tàng Hải Phòng 49

2.1.1 Trang thiết bị CNTT 49

2.1.2 Phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng 50

2.1.3 Trình độ CNTT của đội ngũ cán bộ 51

2.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu hiện vật Bảo tàng Hải Phòng 53

2.2.1 Vài nét về phần mềm quản lý thông tin hiện vật 53

2.2.2 Yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu hiện vật Bảo tàng Hải Phòng 56

2.2.3 Cơ sở dữ liệu hiện vật Bảo tàng Hải Phòng 58

2.3 Khai thác cơ sở dữ liệu hiện vật 61

2.3.1 Đối với công tác nghiên cứu 62

2.3.2 Đối với công tác kiểm kê- bảo quản 67

Trang 4

2.4 Nhận xét và đánh giá 70

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3 75

Giải pháp ứng dụng CNTT nhằm 75

phát huy giá trị di sản văn hóa tại BTHP 75

3.1 Định hướng ứng dụng CNTT tại Bảo tàng Hải Phòng 75

3.1.1 Trong công tác trưng bày và triển l∙m 75

3.1.2 Trong công tác kiểm kê hiện vật bảo tàng 77

3.1.3 Trong công tác bảo quản hiện vật bảo tàng 79

3.1.4 Trong công tác giáo dục - tuyên truyền 80

3.2 Một số giải pháp ứng dụng CNTT tại Bảo tàng Hải Phòng 82

3.2.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng 83

3.2.1.1 Thiết bị tin học 84

3.2.1.2 Mạng nội bộ trong bảo tàng (LAN) 84

3.2.1.3 Đường truyền Internet 85

3.2.1.4 Phần mềm hệ thống 86

3.2.2 Chuẩn hóa thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu 87

3.2.3 Xây dựng hệ thống các ứng dụng phần mềm tin học 88

3.2.3.1 Quản lý thông tin hiện vật 89

3.2.3.2 Quản lý tài liệu phim ảnh 92

3.2.3.3 Phần mềm màn hình cảm ứng giới thiệu trưng bày 95

3.2.3.4 Xây dựng đĩa CD-ROM 3D Bảo tàng Hải Phòng 98

3.2.3.5 Trang thông tin điện tử (Website) 99

3.2.4 Xây dựng trung tâm tích hợp và xử lý dữ liệu 100

3.2.5 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 102

Tiểu kết chương 3 104

Kết Luận 106

tμi liệu tham khảo 108

Phụ lục 114

Trang 5

TB - TT: Tr−ng bµy - tuyªn truyÒn

KK - BQ: KiÓm kª - b¶o qu¶n

Trang 6

mở đầu

1 Lý do chọn đề tμi

Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta

Di sản văn hoá hết sức phong phú, đặc sắc, bao gồm di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể Di sản văn hoá chứa đựng các giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc văn hoá cũng như sự đa dạng văn hoá của một dân tộc

Để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bẳn sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới, các bảo tàng cần tạo lập các điều kiện thuận lợi và thích hợp

để khuyến khích người sử dụng tự mình khám phá và khai thác các sản phẩm của bảo tàng

Thông qua những hoạt động đa dạng, ngày càng thể hiện rõ vai trò của một thiết chế văn hoá đặc thù, được xây dựng nhằm gắn kết hiện tại với quá khứ, đồng thời chuyển giao các giá trị văn hoá mà ông cha ta đã sáng tạo ra cho thế hệ tương lai Ngày nay, quan niệm về bảo tàng đã được thay đổi, bảo

tàng không phải là nơi "đóng băng", "giữ cho chặt, cất cho kín" các di sản

văn hoá Bởi vì, di sản văn hoá chỉ được bảo vệ và phát huy một cách tốt nhất khi nó được sống trong lòng cộng đồng, trở thành một bộ phận gắn bó với đời sống vật chất và đời sống tinh thần của cộng đồng

Sang thế kỷ XXI, thế giới đã bước qua ngưỡng cửa của thời kỳ quá độ,

từ xã hội "công nghiệp" sang xã hội "hậu công nghiệp", mà một trong các mô hình của xã hội này là "x∙ hội thông tin" Sự tiến bộ của ngành khoa học

Trang 7

- kỹ thuật này đã tạo ra sự thay đổi toàn diện bộ mặt của đời sống xã hội

Đồng thời những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại đã chi phối hầu hết các lĩnh vực hoạt động và được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn đã đáp ứng được với yêu cầu của thời đại thông tin - thời đại của nền kinh tế tri thức

và công nghệ tin học Vì vậy, vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tin học trong lĩnh vực bảo tàng là một vấn đề quan trọng không thể thiếu

được nhằm "hiện đại hóa" bảo tàng đáp ứng nhu cầu của công chúng

Quá trình máy tính hoá bảo tàng tại nước ngoài đã được bắt đầu từ thập

kỷ 60 của thế kỷ XX, những người đi tiên phong trong lĩnh vực này là các bảo

tàng Mỹ Đến năm 1996 UNESCO tiếp tục nghiên cứu vấn đề này: "Trong lĩnh vực văn hoá công nghệ truyền thông đa diện đ∙ mở ra những khả năng

to lớn để phổ cập hoá di sản văn hoá vật thể và phi vật thể và để trao đổi liên văn hoá Được phép sử dụng các sản phẩm văn hoá và các dịch vụ truyền thông đa dạng thông qua đại lộ thông tin đảm bảo cho từng người khả năng vô tận để giao tiếp nền văn hoá thế giới cùng với sự đa dạng của nó" [41: 503] UNESCO, cộng đồng châu Âu và các tổ chức quốc tế khác coi

vấn đề CNTT có ý nghĩa số một Trong khuôn khổ cuộc tiếp xúc quốc tế, một

tài liệu rất quan trọng có hiệu lực do cộng đồng châu Âu thông qua: "Mỗi cá nhân đều có quyền sử dụng di sản văn hoá thế giới; Để thực thi quyền này, nhất thiết phải áp dụng CNTT hiện đại" [41: 513]

Trong xu thế chung của sự nghiệp đổi mới đất nước, CNH - HĐH, Bảo tàng Hải Phòng là một trong những trung tâm văn hóa có vai trò quan trọng hàng đầu của thành phố Cảng, một thành phố với nét đặc thù là rộng mở giao lưu văn hóa, xã hội với bạn bè bốn phương Nét đặc thù đó của thành phố được phản ánh thông qua những di sản văn hóa đang được lưu giữ trong kho cơ sở, trên trưng bày và trong giáo dục truyền thống những vấn đề lịch sử, bản sắc riêng của quá trình xây dựng và phát triển thành phố Nhiệm vụ xây dựng và

Trang 8

phát triển Bảo tàng Hải Phòng có tầm vóc luôn là vấn đề đặt ra đối với những nhà lãnh đạo thành phố, BGĐ và đối với cán bộ làm công việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa của Bảo tàng Hải Phòng, nhằm phát huy những giá trị di sản văn hóa vô giá mà Bảo tàng đang lưu giữ và trưng bày, để thu hút ngày càng nhiều khách tham quan trong nước và quốc tế Đó cũng là mục tiêu

mà Bảo tàng Hải Phòng phấn đấu, vươn tới

Là một cán bộ công tác tại Bảo tàng Hải Phòng, tôi chọn đề tài

"Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát huy giá trị di sản văn hoá tại Bảo tàng Hải phòng" làm luận văn thạc sỹ của mình, với mong

muốn góp phần vào đổi mới nội dung và hình thức của bảo tàng nhằm đem

đến cho công chúng trong và ngoài nước những thông tin có giá trị về kho tàng di sản vô giá của dân tộc nói chung và của thành phố Hải Phòng nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu quá trình hình thành, và phát triển của Bảo tàng Hải Phòng

- Tìm hiểu thực trạng ứng dụng CNTT tại Bảo tàng Hải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy tốt nhất giá trị

di sản văn hóa tại Bảo tàng Hải Phòng

3 Đối tượng vμ phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu Di sản văn hóa của Bảo tàng Hải Phòng

- Nghiên cứu vai trò của Bảo tàng Hải Phòng trong việc gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa

- Nghiên cứu vai trò của CNTT với việc phát huy giá trị di sản văn hóa

Trang 9

- Nghiên cứu những hoạt động của Bảo tàng Hải phòng trong việc phát huy giá trị di sản văn hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu công tác giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa qua việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Bảo tàng Hải Phòng

4 Tình hình nghiên cứu

Bảo tàng là nơi gặp gỡ, giao thoa giữa các di sản văn hóa và cũng là nơi

mà chúng ta học những bài học của lịch sử hay được học từ những hiện tượng sinh học và vật lý thú vị Rất nhiều người đã khám phá và nhận ra rằng bảo tàng là môi trường thứ ba có thể học tập và nghiên cứu đằng sau môi trường gia đình và trường học

Cho đến nay với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học - công nghệ hiện đại, chúng đã xâm nhập và được ứng dụng vào hầu hết các bảo tàng trên thế giới cũng như một số bảo tàng trong nước Những công trình nghiên cứu về sự ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ ngày càng được chú trọng nhiều hơn Một số cuốn sách viết về bảo tàng đều có đề cập đến vấn đề ứng dụng khoa học - kỹ thuật, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề ứng dụng CNTT

Cuốn "Sự nghiệp bảo tàng của nước Nga" của Kaulen M.E (chủ biên)

và Kossova L.M, Sundieva A.A do Cục Di sản Văn hóa dịch năm 2006 Trong cuốn sách này, tác giả đã đề cập đến vấn đề ứng dụng CNTT trong bảo tàng một cách rất cụ thể, tác giả đã dành một chương để nghiên cứu quá trình

ra đời và phát triển của khoa học - kỹ thuật, cùng với việc sử dụng những công nghệ thông tin mà thông qua nó là máy tính Tại cuốn sách này, tác giả đã nêu khái quát CNTT có vai trò như thế nào đối với hoạt động của bảo tàng

Trang 10

Trong cuốn "Bảo tàng học Trung Quốc" của tác giả Vương Hồng

Quân được Cục Di sản Văn hóa dịch năm 2008 cũng đã đề cập đến CNTT trong bảo tàng, tác giả cũng dành một phần (phần IV) trong cuốn sách để nói

về tin học hóa trong bảo tàng Cuốn sách này là cuốn giáo trình mà tác giả biên soạn nhằm giới thiệu cho các sinh viên đang theo học chuyên ngành bảo tàng, do vậy trong cuốn sách có đề chương mục rất rõ ràng và giới thiệu một

số bảo tàng đã số hóa hiện vật giúp người đọc hiểu rõ hơn những tiện ích của CNTT

Trong cuốn "Cơ sở bảo tàng học" (giáo trình dành cho sinh viên đại

học và cao đẳng ngành bảo tàng) của PGS TS Nguyễn Thị Huệ xuất bản năm

2008, đã đề cập đến ứng dụng khoa học - kỹ thuật Tác giả có nói: "Bảo tàng

của mọi thời đại lịch sử đều phải chú ý ứng dụng khoa học kỹ thuật trong mọi hoạt động của mình, nhất là trong thời đại ngày nay" [31: 45]

Trong cuốn "Lược sử sự nghiệp Bảo tồn Bảo tàng Việt Nam từ 1945

đến nay" của PGS TS Nguyễn Thị Huệ xuất bản năm 2005, có nói về "ứng

dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong hoạt động bảo tồn - bảo tàng" [30

:234] Trong phần này tác giả nghiên cứu đến sự thay đổi tích cực của công tác bảo tồn bảo tàng ở Việt Nam khi được ứng dụng những thành tựu khoa học

và công nghệ tin học Trong cuốn sách này tác giả có đưa ra một số phần mềm

đã được ứng dụng tại một số bảo tàng và di tích trên phạm vi cả nước

Ngoài những cuốn sách kể trên, còn có những công trình nghiên cứu khoa học của một số bảo tàng trung ương và địa phương Một trong những công trình phải kể đến đó là đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Bảo tàng

cách mạng Việt Nam "Quản lý và khai thác hiện vật kho Bảo tàng Cách mạng Việt Nam bằng máy vi tính" Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam "ứng dụng tin học quản lý và khai thác thông tin hiện vật bảo tàng" Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh của Bảo

Trang 11

tàng Phú Thọ "Nghiên cứu ứng dụng CNTT trong quản lý hiện vật tại Bảo tàng tỉnh Phú Thọ ",… Một điều đặc biệt là tất cả các đề tài nghiên cứu khoa

học của các bảo tàng trên chủ yếu nghiên cứu ứng dụng CNTT vào quản lý và khai thác hiện vật trong kho bảo tàng Tại Bảo tàng Hải Phòng năm 2006 cũng

đã hoàn thành đề án "ứng dụng CNTT trong công tác bảo tồn bảo tàng tại Bảo tàng Hải Phòng", tuy nhiên, đây chỉ là một đề án cụ thể, chưa mang tính

nghiên cứu toàn diện Mặt khác, đề án này mới dừng lại ở việc xây dựng các phần mềm ứng dụng cho công tác quản lý, lưu trữ tài liệu, hiện vật bảo tàng và

di tích

Như vậy, có thể khẳng định rằng cho đến nay chưa có một cuốn sách hay một bài viết nào nghiên cứu một cách cụ thể, toàn diện về ứng dụng CNTT tại Bảo tàng Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận văn thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của CNDV biện chứng và CNDV lịch sử

- Sử dụng phương pháp văn hóa học, bảo tàng học

- Sử dụng phương pháp liên ngành (phương pháp nghiên cứu tâm lý học, phương pháp xã hội học,…)

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học của ngành CNTT

- Sử dụng phương pháp trao đổi và tham khảo ý kiến với các chuyên gia

- Sử dụng phương pháp khảo sát, phân tích, đối chiếu và tổng hợp

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần xây dựng cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT vào hoạt

động bảo tàng và khẳng định vai trò của CNTT đối với hoạt động bảo tàng hiện nay

Trang 12

- Đề xuất một số ý kiến và giải pháp ứng dụng CNTT để phát huy giá trị di sản văn hóa của Bảo tàng Hải Phòng trong những năm tới

- Góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ bảo tàng về tầm quan trọng

và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong việc giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hoá

- Làm tài liệu tham khảo cho cán bộ Bảo tàng Hải Phòng trong việc gìn giữ và phát huy di sản văn hóa tại bảo tàng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

Định, Ninh Bình, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương,

Nền móng đầu tiên để từ đó Hải Phòng phát triển lên thành đô thị không phải là thành lũy trị sở phong kiến như Hà Nội, cũng không phải là thị trấn lớn như Hội An Nó xuất phát từ làng chài nhỏ gần cửa sông, ở đó có bến tàu thuyền, tiếp theo là chạm thuế quan và đồn canh cửa biển, với hai chức năng kinh tế và quốc phòng Sau khi ra đời, do vị trí địa lý thuận lợi và trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, Hải Phòng nhanh chóng trở thành thành phố - hải cảng có tầm quan trọng lớn cả về mặt kinh tế - chính trị lẫn quân sự trong phạm vi quốc gia và có tên trên thế giới

*Về điều kiện tự nhiên: Hải Phòng được tạo lập và phát triển thành một

thành phố Hải cảng, trước hết là nhờ vào vị trí của nó đối với biển và sông Trong vùng bờ biển vịnh Bắc bộ, kể từ phía nam đi lên, Cửa Cấm là cửa sông

đầu tiên khá rộng và sâu để tầu thuyền có thể ra vào được dễ dàng Có bờ biển dài 130 km với các con sông lớn như Bạch Đằng, Sông Cấm, Lạch Tray, Văn

úc, Thái Bình Vùng biển Hải Phòng nằm trong Vịnh Bắc bộ trên đường hàng hải quốc tế, là một vùng biển quan trọng ở Thái Bình Dương nối liền Đông Nam á với Đông Bắc á

Trang 14

Ngoài khơi, Hải Phòng có nhiều quần đảo lớn, nhỏ rải rác trên một vùng biển rộng nối liền với vùng đảo và quần đảo nổi tiếng Hạ Long - Quảng Ninh, trong đó lớn nhất có đảo Cát Bà, một khối đá vôi đồ sộ, chắc nịch trấn giữ biển khơi và xa nhất có Bạch Long Vĩ, một vị trí tiền tiêu, nơi đầu sóng ngọn gió trong vịnh Bắc Bộ, cách thành phố 136km về phía Tây Bắc

Hải Phòng là một thành phố kinh tế biển quan trọng của cả nước, là thành phố nối liền với vùng đồng bằng Bắc bộ rộng lớn, trù phú và đông dân, thông qua hệ thống giao thông đường sông thuận tiện - triền sông Thái Bình

Từ Hải Phòng có thể dẫn đến những trung tâm kinh tế lớn trong nội địa mà không phải tiếp giáp với vùng đồi núi trung du đi lại khó khăn như các cửa biển khác Hải Phòng còn là hải cảng gần nhất nối liền với thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn nhất của cả nước Hải Phòng cũng là một tụ điểm trung chuyển trên tuyến giao thông đường biển dẫn đến các thị trường ở châu á - Thái Bình Dương và các bến cảng thế giới

Hải Phòng nhờ biển mà mở rộng giao tiếp với thế giới bên ngoài và nhờ sông để nối liền với mạch máu giao thông trong nước, trở thành cửa ngõ của

đồng bằng Bắc bộ Cũng chính nhờ biển và sông, Hải Phòng đã khẳng định

được vị trí xứng đáng của mình như một đồn tiền tiêu, có nhiệm vụ phát hiện

và ngăn chặn mọi hành động xâm nhập từ ngoài khơi vào đất liền, nhất là đối với những tuyến hành quân đường biển quen thuộc đã xảy ra trong lịch sử

Hiện nay Hải Phòng là một hải cảng quốc tế, một trung tâm kinh tế quan trọng và là thành phố lớn thứ ba của cả nước Hải Phòng có diện tích 1.503,4km2 bao gồm cả đất liền và hải đảo Hải Phòng hiện nay có 7 quận là Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An, Dương Kinh, Kiến An, Đồ Sơn; 7 huyện là An Dương, An Lão, Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Cát Hải và đảo Bạch Long Vĩ

Trang 15

Ngoài lợi thế của cảng, Hải Phòng còn có nhiều cơ sở công nghiệp quan trọng của nền kinh tế quốc dân mà mũi nhọn là ngành cơ khí đóng tàu phục vụ cho vận tải sông biển như: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, nhà máy đóng tàu Nam Triệu,…Về giao thông vận tải, Hải Phòng là đầu mối của đường biển,

đường sông, đường bộ, đường sắt, đường hàng không vươn tới các vùng trong

và ngoài nước Một học giả nước ngoài đã nhận xét: "Thủ đô hành chính đặt

tại Hà Nội… thủ đô kinh tế ở Sài Gòn - Chợ Lớn và Hải Phòng, bến cảng thứ hai ở Đông Dương Hầu như hàng hóa xuất nhập đều phải chuyển qua những nơi đây" [8: 18]

* Đặc điểm văn hóa - x∙ hội: Hải Phòng Là một thành phố trẻ nhưng

lại được sinh ra trên một miền đất cổ với một nền tảng lịch sử và văn hóa - xã hội lâu đời Vùng đảo ven biển của Hải Phòng là nơi cất giữ các di tích tiền sử

đại diện cho các giai đoạn phát triển quan trọng của đất nước; di tích Hang Ang Giữa, Hang Eo Bùa, rồi di chỉ ngoài trời Eo Cối, Cái Bèo sau đó đến nền văn hóa Hạ Long Trong đất liền, lòng đất Hải Phòng là nơi duy nhất bảo tồn một kho tàng chế tác đồ ngọc Nephrite nổi tiếng Tràng Kênh Nền văn hóa

Đông Sơn với các sưu tập dao găm cán hình người, loại hình mộ thuyền Việt Khê, An Sơn, rồi sau đó là đền đài, miếu mạo, đình chùa, liên quan đến chuỗi phát triển lịch sử liên tục của đất nước - trong đó có những sự kiện trọng

đại quyết định vận mệnh đất nước Truyền thuyết về nữ tướng Lê Chân gắn liền với sự ra đời của trang An Biên vào những năm đầu công nguyên, hạt nhân đầu tiên tạo lập nên đô thị Hải Phòng, là nơi chôn rau cắt rốn của vị vua cách tân sáng lập một triều đại (nhà Mạc) - là nơi có viên ngọc sáng, danh nhân đất nước Nguyễn Bỉnh Khiêm,… tất cả những mốc lịch sử đó nói lên

rằng thành phố Hải Phòng là một thành phố lịch sử - văn hóa cổ

Mang trong lòng những đặc thù của một thành phố cảng, thành phố biển, lại là một thành phố công nghiệp, nên tính chất Động (Hoạt động -

Trang 16

chuyển động - thay đổi) của thành phố là khá mạnh, nhất là trong thời kỳ mở cửa xây dựng và hợp tác kinh tế Chúng ta đã thấy ngay từ những năm cuối của thập kỷ 80, Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong khuynh hướng cải cách kinh tế theo tiến trình mở cửa trên cả nước Cho đến nay, thành phố đã và đang có hàng trăm dự án liên doanh kiên kết về kinh tế với bên ngoài (trong nước và quốc tế)

Chính sách mở cửa đã làm thay đổi bộ mặt thành phố, Bạn bè gần xa

đến với Hải Phòng để tìm hiểu vùng đất có bề dày lịch sử trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, đang quyết tâm vươn mình để hòa nhập với xu thế phát triển của cả nước và khu vực Để xứng đáng là đô thị loại I cấp quốc gia,

từ nay đến năm 2010 tầm nhìn 2020 Hải Phòng sẽ tập trung phát triển nông nghiệp và nông thôn, xây dựng các khu công nghiệp tập trung Mặt khác, khuyến khích việc đầu tư chiều sâu theo quy mô vừa và nhỏ vào các cơ sở sản xuất hiện có, nhằm tăng cường việc sử dụng tài nguyên và nguồn lao động của thành phố để sản xuất hàng xuất khẩu, chuyển giao công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, du lịch dịch vụ

1.2 Khái quát về Bảo tàng Hải Phòng

Bảo tàng ra đời là do nhu cầu của xã hội, nhu cầu xã hội ngày càng cao thì loại hình bảo tàng càng phong phú đa dạng Bảo tàng ra đời không chỉ thỏa mãn thị hiếu, sở thích cá nhân mà bảo tàng còn với vai trò là một cơ quan nghiên cứu khoa học và văn hóa, giáo dục Để đáp ứng được yêu cầu này, bảo tàng luôn phải tự đổi mới mình, tự hoàn thiện và nâng cao các hình thức hoạt

động trong công tác nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trong trưng bày

và giáo dục tuyên truyền

1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Bảo tàng Hải Phòng

Bảo tàng Hải Phòng là bảo tàng tỉnh, thành phố ra đời sớm nhất ở nước

ta Đây không chỉ là một công trình có kiến trúc đẹp mà còn là một trung tâm

Trang 17

văn hóa, nơi nghiên cứu sưu tầm tiếp nhận bảo quản, trưng bày, giới thiệu với công chúng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa của vùng đất, con người Hải Phòng trong tiến trình lịch sử Thông qua hệ thống trưng bày, Bảo tàng Hải Phòng tác động vào quá trình nâng cao dân trí, giáo dục truyền thống, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, hướng tới giá trị đích thực của Chân - Thiện - Mỹ và giao lưu văn hóa

Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu giữa các quốc gia, các dân tộc đang rất được quan tâm, thì việc tạo điều kiện cho mọi người hiểu biết về những giá trị di sản văn hóa dân tộc là một việc làm vô cùng cần thiết

Công trình xây dựng Bảo tàng Hải Phòng được chuẩn bị ngay sau ngày Hải Phòng giải phóng (13 tháng 5 năm 1955), điều đó được thể hiện bằng việc thành lập bộ phận Bảo tồn Bảo tàng trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin Sau khi thành lập, bộ phận này được sự quan tâm của các cơ quan trung

ương, các cơ quan ban ngành của thành phố đã tổ chức vận động quần chúng sưu tầm các tài liệu, hiện vật, đồng thời tiến hành trưng bày lưu động ở cơ sở, góp phần tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua đó, tiếp tục phát động phong trào sưu tầm, đóng góp hiện vật xây dựng Bảo tàng thành phố

Từ năm 1956 - 1959, Bảo tàng Hải Phòng đã sưu tầm được hơn 2000 hiện vật, và năm 1958 tổ chức trưng bày tại ngôi nhà số 12 phố Phan Bội Châu (nay là Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố) với 3 chủ đề chính: Truyền thống văn hóa, phong trào cách mạng (1930 - 1945) và thành tích kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1955)

Tháng 12 năm 1958 Thành uỷ Hải Phòng đã ra nghị quyết lấy ngôi nhà hiện nay (nguyên là Ngân hàng Pháp - Hoa, sau ngày giải phóng là Trường cán bộ ngân hàng trung ương) làm Bảo tàng thành phố

Trang 18

Sau gần một năm xây dựng, ngày 20 tháng 12 năm 1959, trước sự chứng kiến của đông đảo quần chúng nhân dân, các cấp các ngành, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị đã cắt băng khánh thành Bảo tàng Hải Phòng

Với nội lực của chính đội ngũ cán bộ bảo tàng cùng với sự giúp đỡ, phối kết hợp của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học ở trung ương cũng như các bảo tàng bạn, Bảo tàng Hải Phòng đã tổ chức nghiên cứu về vùng biển Hải Phòng, khí hậu, đất đai thổ nhưỡng, các di tích khảo cổ trên địa bàn Hải Phòng Bảo tàng Hải Phòng đã từng bước sử dụng những kết quả nghiên cứu

đó vào việc trưng bày giới thiệu, quảng bá đến công chúng trong và ngoài nước những giá trị vô giá của di sản văn hóa Hải Phòng Thông tư số 01 ngày 5/1/1959 của Thành ủy Hải Phòng về việc xây dựng Bảo tàng Hải Phòng chỉ

rõ: "Thông qua những hiện vật, tài liệu, di tích lịch sử đấu tranh cách mạng kháng chiến và kiến thiết XHCN được sưu tầm Trưng bày, nhà bảo tàng sẽ giới thiệu đầy đủ lịch sử đấu tranh anh dũng, vai trò l∙nh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta qua các thời kỳ một cách toàn diện trên các lĩnh vực chính trị - quân sự - kinh tế, Giới thiệu lịch sử đấu tranh, vai trò của giai cấp công nhân từ trước đến nay, giới thiệu những thành tích, tinh thần cách mạng của nhân dân qua các thời kỳ dưới sự l∙nh đạo của Đảng nhằm: Giáo dục nhân dân nâng cao hơn nữa lòng yêu nước, chí căm thù

đế quốc, phong kiến, nâng cao lòng tin tưởng vào sự l∙nh đạo sáng suốt của Đảng, của giai cấp công nhân và tương lai xán lạn của dân tộc Đồng thời động viên tinh thần lao động xây dựng XHCN và đấu tranh thống nhất nước nhà" [3: 103]

Những ngày đầu mới thành lập (thời kỳ 1959), hệ thống trưng bày của Bảo tàng Hải Phòng được chia làm 4 phần lớn và những chuyên đề nhỏ, tuy còn sơ sài, thiếu tài liệu hiện vật gốc, nặng tính minh họa, nhưng đã tạo tiền

Trang 19

đề cho những năm tiếp theo có cơ sở để chỉnh lý, bổ sung những hiện vật có giá trị bảo tàng

Năm 1965, thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, để bảo

đảm an toàn cho hiện vật bảo tàng phải đưa hiện vật đi sơ tán Đến năm 1973 khi đưa hiện vật trở lại bảo tàng, Bảo tàng Hải Phòng đã tiến hành chỉnh lý nội dung trưng bày lần đầu tiên Đến năm 1975 bảo tàng tiếp tục chỉnh lý nội dung và điều chỉnh tỷ lệ các phần trưng bày cho hợp lý Năm 1979 Bảo tàng Hải Phòng đã cố gắng khắc phục sự mất cân đối giữa 3 phần trưng bày lớn: Thiên nhiên, lịch sử và xã hội, và bước đầu thể nghiệm phương pháp trưng bày theo chuyên đề cho thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao chất lượng

trưng bày phần thiên nhiên Kết quả phần trưng bày này đã được "Hội nghị

toàn quốc xây dựng bảo tàng và thành phố" tháng 9/1979 đánh giá Bảo tàng

Hải Phòng là bảo tàng mẫu cho các tỉnh học tập Nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng Hải Phòng (13/5/1955 - 13/5/1985), bảo tàng đã bổ sung tài liệu, hiện vật, hình ảnh vào 07 phòng trưng bày, và sử dụng phương pháp trưng bày theo chuyên đề phần trưng bày xây dựng CNXH để có thể thường xuyên bổ sung các tài liệu hiện vật vào các chuyên đề đó Đặc biêt, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, bảo tàng được sự giúp đỡ của ngành giao thông vận tải đã chỉnh lý

nâng cao chất lượng phần trưng bày về "giao thông vận tải của Hải Phòng"

Để kỷ niệm những ngày lễ lớn của cả nước và của thành phố, Bảo tàng Hải Phòng thường xuyên phối kết hợp với các bảo tàng tổ chức nhiều cuộc trưng bày có giá trị về lịch sử - văn hóa Năm 1994 Bảo tàng Hải Phòng phối

kết hợp với Bảo tàng Cách Mạng Việt Nam trưng bày chuyên đề "Những tặng

phẩm của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh" Năm 1998 bảo tàng phối kết hợp với bảo tàng Văn hóa các dân tộc

Việt Nam trưng bày chuyên đề "Một số đặc trưng văn hóa các dân tộc Việt

Nam" Năm 1999 bảo tàng kết hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố

Trang 20

Hồ Chí Minh trưng bày chuyên đề "Một số di vật khảo cổ Hải Phòng, một số

di vật khảo cổ thành phố Hồ Chí Minh"

Từ năm 2001 đến nay, Bảo tàng Hải Phòng có rất nhiều các đợt chỉnh

lý, bổ sung trưng bày đặc biệt là phối kết hợp trưng bày với một số bảo tàng trong và ngoài nước Đợt đổi mới trưng bày lớn nhất từ khi thành lập bảo tàng

đến nay là đổi mới trưng bày cả nội dung và hình thức phòng "Hải Phòng - 30

năm kháng chiến chống ngoại xâm và bảo vệ, xây dựng tổ quốc dưới sự lãnh

đạo của Đảng 1954 - 1975" triển khai xây dựng từ năm 2001 - 2005 Năm

2006 bảo tàng kết hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Cách mạng Việt

Nam trưng bày phòng "Bác Hồ với nhân dân Hải Phòng, nhân dân Hải Phòng

làm theo lời Bác" Năm 2007 Kết hợp với Bảo tàng Điện Biên Phủ trưng bày

chuyên đề "ấn tượng Điện Biên - Hải Phòng", đặc biệt năm 2007 Bảo tàng

Hải Phòng đưa hiện vật, hình ảnh về Hải Phòng sang trưng bày tại Inchoner - Hàn Quốc nhân kỷ niệm 10 năm kết nghĩa giữa hai thành phố Hải Phòng - Inchoner Đến năm 2008 bảo tàng tiến hành chỉnh lý, bổ sung trưng bày

phòng "thiên nhiên", "văn hóa cổ" đáp ứng nhu cầu tham quan, học tập của

Trang 21

thiện và khoa học hơn Cùng với hàng loạt sổ sách như: sổ kiểm kê bước đầu, phiếu hiện vật, hộ chiếu hiện vật, hệ thống kho cơ sở hiện vật cũng được sắp xếp, phân loại một cách khoa học, giúp cho việc kiểm kê - bảo quản được thuận tiện

Năm 1980, kho hiện vật được khang trang hơn, toàn bộ kho được sửa sang, các hệ thống cửa, báo cháy được lắp đặt bảo đảm an toàn cho hiện vật

Đến năm 1994 Bộ Văn hóa Thông tin đã hỗ trợ kinh phí, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho công tác bảo quản như: máy hút ẩm, máy điều hòa, quạt thông gió, máy hút bụi

Từ năm 1996, công tác kho của Bảo tàng Hải Phòng luôn được đổi mới

Hệ thống điện chiếu sáng nhiều lần được làm mới đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy Hệ thống kho ngày càng được mở rộng, hiện nay ba phần tư diện tích tầng hầm được dành làm kho cơ sở, hệ thống sổ sách, phích phiếu ngày càng hoàn thiện Công tác bảo quản hiện vật được thường xuyên, đảm bảo tuổi thọ cho hiện vật Hàng năm, Bảo tàng Hải Phòng dành kinh phí cho công tác kiểm kê - bảo quản hiện vật, tuy số kinh phí không lớn nhưng phần nào đã đáp ứng được yêu cầu của công tác kho, giúp cho công tác trưng bày, nghiên cứu khoa học của bảo tàng được tốt hơn

Đến nay, hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Hải Phòng được phân loại thành 6 kho chính phù hợp với từng chất liệu hiện vật để bảo quản, đó là: Kho hiện vật kim loại; kho hiện vật gốm đá; kho hiện vật vải, giấy; kho hiện vật gốm sứ (kho hiếm quý); kho hiện vật gỗ, mây tre; kho hiện vật tạm thời

Với nhiều hình thức sưu tầm và khai quật khảo cổ học, hiện nay Bảo tàng Hải Phòng lưu giữ một số lượng lớn di sản văn hóa với tổng số hiện vật là: 18.385 hiện vật; 2734 tài liệu; 11.516 phim ảnh Tất cả những hiện vật, tài liệu phim ảnh trên được bảo quản theo chất liệu và những chuyên đề cụ thể

Trang 22

Ngay từ ngày mới thành lập, công tác nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Hải Phòng cũng được đặc biệt quan tâm như; nghiên cứu hoàn thiện bổ sung nội dung cho từng hiện vật, đảm bảo cho hiện vật đầy đủ tính pháp lý Ngoài ra, Bảo tàng còn phát động phong trào nghiên cứu khoa học trong cơ quan, thông qua những đề tài, chuyên đề nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác chuyên môn nghiệp vụ, Công tác nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Hải phòng lấy hiện vật gốc làm trung tâm nghiên cứu, xây dựng những bộ sưu tập có giá trị về lịch sử - văn hóa

Những năm gần đây, công tác nghiên cứu khoa học của bảo tàng không còn mang tính phát động, với lòng nhiệt tình yêu nghề của mỗi cán bộ bảo tàng, công tác nghiên cứu khoa học ngày một phát triển với rất nhiều dự án, đề

án, đề tài nghiên cứu cấp sở và cấp thành phố được xây dựng và triển khai Đề

tài "Xây dựng mô hình Bảo tàng tổng hợp Hải Phòng" năm 1998 - đề tài nghiên cứu cấp thành phố Đề án "ứng dụng CNTT trong công tác bảo tồn bảo

tàng tại Bảo tàng Hải Phòng" đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố năm

2006, đề tài "Quy hoạch phát triển hệ thống bảo tồn bảo tàng đến năm 2010", chuyên đề "Đánh giá thực trạng, nghiên cứu đề xuất nhiệm vụ, giải pháp bảo

tồn, kế thừa phát huy di sản văn hóa; đẩy mạnh xã hội hóa trên lĩnh vực di sản văn hóa của thành phố Hải Phòng đến năm 2010, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố và đất nước"

thuộc chuyên đề khoa học cấp thành phố phục vụ triển khai nghị quyết Đại

hội XIII Đảng bộ thành phố Hải Phòng, đề án "Trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử

cách mạng, kháng chiến đã xếp hạng cấp thành phố Hải Phòng" Trong những

chuyên đề, đề án trên đã có những đề án được ứng dụng trong thực tiễn

Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của một bảo tàng cấp tỉnh, thành phố, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới của đất nước, trong những năm qua Bảo tàng Hải Phòng đã tiến hành những công việc khác nhau nhằm tận dụng

Trang 23

Phòng

NV - DT

thế mạnh của mình là bảo tàng khảo cứu địa phương ra đời sớm nhất của cả nước, với hàng vạn tài liệu, hiện vật gốc có tính thuyết phục cao đối với khách tham quan Đồng thời trong quá trình hoạt động, Bảo tàng Hải Phòng đã thực hiện một số biện pháp nghiệp vụ có tính khoa học đối với các hiện vật và đã

đạt được những hiệu quả nhất định

Năm mươi năm xây dựng và trưởng thành, Bảo tàng Hải Phòng đã không ngừng phấn đấu vươn lên, đóng góp một phần quan trọng vào phục vụ nhiệm vụ chính trị, văn hóa - xã hội của thành phố, giới thiệu với nhân dân Hải Phòng, các tỉnh bạn và các đoàn khách quốc tế về truyền thống lịch sử - cách mạng, và bản sắc văn hóa của vùng đất và con người Hải Phòng

1.2.2 Cơ cấu tổ chức

Tất cả các bảo tàng đều phải có cán bộ, nhân viên làm công tác giữ gìn

và phát huy giá trị di sản văn hóa, cho dù đó là bảo tàng tư nhân, bảo tàng địa phương hay bảo tàng quốc gia, Do vậy, tổ chức hành chính đối với các cơ quan, đơn vị này là vô cùng quan trọng và cần thiết Nó thể hiện sự thống nhất

từ trên xuống dưới, từ lãnh đạo đến cán bộ nghiệp vụ, thể hiện sự đoàn kết gắn

bó trong một tập thể, cùng nhau phát triển

Mỗi một cơ quan, đơn vị có những cơ cấu tổ chức khác nhau, nhưng

đều có điểm chung là các phòng đều trực thuộc và dưới sự quản lý của Ban giám đốc Bảo tàng Hải Phòng cũng vậy, bao gồm có Ban Giám đốc và 4 phòng chức năng, nghiệp vụ:

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Hải Phòng

Trang 24

- Ban giám đốc : BGĐ của Bảo tàng Hải Phòng gồm có Giám đốc và 2

P Giám đốc, trong đó giám đốc phụ trách chung 2 P giám đốc phụ trách hai lĩnh vực khác nhau 1 P.giám đốc phụ trách chuyên môn bảo tàng, 1 P.giám

đốc phụ trách chuyên môn bảo tồn di tích lịch sử văn hóa

- Phòng hành chính - tổng hợp: Gồm 1 Trưởng phòng, 1 P.Trưởng

phòng, 7 cán bộ nghiệp vụ và lao động hợp đồng, có chức năng và nhiệm vụ quản lý về người và tài sản của cơ quan

- Phòng Trưng bày - Tuyên truyền: Gồm 1 Trưởng phòng, 1 P.Trưởng

phòng, 8 cán bộ nghiệp vụ và lao động hợp đồng, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức xây dựng và giáo dục - tuyên truyền các cuộc trưng bày cố định, trưng bày theo chuyên đề, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng

- Phòng Kiểm kê - bảo quản: Gồm 1 Trưởng phòng và 4 cán bộ nghiệp

vụ, có nhiệm vụ giữ gìn và bảo quản hiện vật Để phục vụ tốt cho công tác trưng bày - tuyên truyền và giáo dục khoa học, hiện vật bảo tàng phải được kiểm kê - bảo quản một cách khoa học, tỉ mỉ và chính xác

- Phòng nghiệp vụ di tích: Khác với các bảo tàng khác, Bảo tàng Hải

Phòng có phòng nghiệp vụ di tích, do chưa thành lập Ban quản lý di tích như những địa phương khác Phòng NV-DT gồm 1 Trưởng phòng, 11 cán bộ nghiệp vụ và lao động hợp đồng, có nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng hồ sơ xếp hạng di tích, quản lý các di tích trên địa bàn thành phố, theo dõi giám sát hoạt

động của các di tích

1.2.3 Nguồn nhân lực

Khi mới thành lập, Bảo tàng Hải Phòng chỉ có ít cán bộ nghiệp vụ, chủ yếu là lao động hợp đồng, công tác chuyên môn nghiệp vụ gặp rất nhiều khó khăn Bằng với sự nỗ lực của từng cán bộ bảo tàng, Bảo tàng Hải Phòng đã vượt qua những bước đi đầu tiên của mình với những khó khăn và thử thách

Trang 25

Đến những năm 1978, 1979 đội ngũ cán bộ bảo tàng ngày càng được bổ sung kịp thời, đại đa số là những sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp và sinh viên Đại học Văn hóa được điều động về Bảo tàng Hải Phòng công tác, do đó họ là những cán bộ có trình độ, có chuyên môn và hầu hết

được đào tạo chính quy

Đến nay, Bảo tàng Hải Phòng gồm có 40 người trong đó có 23 cán bộ công chức và 17 lao động hợp đồng 100% cán bộ làm công tác chuyên môn nghiệp vụ có trình độ đại học chuyên ngành bảo tàng, chuyên ngành sử, và một số chuyên ngành khác

Với một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm cao, Bảo tàng Hải Phòng luôn hoàn tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Là một đơn vị được đánh giá hàng đầu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng

Bảng 1: Bảng thống kê nguồn nhân lực của Bảo tàng Hải Phòng

Trang 26

1.2.4 Vài nét về Di sản Văn hóa lưu giữ tại Bảo tàng Hải Phòng

Trong xã hội hiện đại, di sản văn hóa được quan niệm không phải như những biểu tượng hoài niệm về quá khứ, mà như một nội lực cố kết cộng đồng trong cuộc đấu tranh vì sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Là kết tinh trí tuệ, ý chí tình cảm và công sức của mỗi cá nhân và tập thể, hình thành nên những chuẩn mực giá trị xã hội, phản ánh những sắc thái riêng biệt

và truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Luật Di sản văn

hoá có nêu: "Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta " [40:11] Để

xây dựng được một nền văn hoá Việt Nam như Đảng ta đã xác định, tất yếu phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề giữ gìn và phát huy kho tàng di sản văn hoá dân tộc Bởi vì di sản văn hoá dân tộc không chỉ là một bộ phận quan trọng, là nguồn lực phát triển to lớn của nền văn hoá Việt Nam hiện đại, mà nó còn chính là một trong những nền tảng có ý nghĩa quyết định nội dung và hình thức, đặc biệt là quyết định bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam mà chúng ta đã và đang xây dựng

Di sản văn hóa của bảo tàng là những hiện vật bảo tàng và sưu tập hiện vật bảo tàng, nó có vai trò quan trọng trong toàn bộ các hoạt động của mỗi bảo tàng Do vậy, nói tới bảo tàng mặc nhiên phải nói tới hiện vật bảo tàng không có hiện vật bảo tàng thì không có bảo tàng và dĩ nhiên sẽ không có các

hoạt động bảo tàng theo đúng nghĩa của nó

Hiện vật bảo tàng là những bằng chứng vật chất về sự phát triển của thế giới tự nhiên và sự phát triển của văn minh vật chất cũng như văn minh tinh thần của xã hội loài người được bảo tàng sưu tầm, bảo quản tùy theo tính chất của mình, nhằm mục đích giáo dục xã hội và nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, trong xã hội tồn tại và xuất hiện rất nhiều những bằng chứng vật chất, bảo tàng

Trang 27

chỉ có thể lựa chọn những tài liệu, hiện vật gốc tiêu biểu điển hình, quí, hiếm, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, lưu niệm, kỹ thuật,

ký ức, phù hợp với nội dung chủ đạo của bảo tàng và tiến hành xử lý theo các phương pháp khoa học của bảo tàng để chúng trở thành những hiện vật bảo tàng và sưu tập hiện vật bảo tàng

Là một bảo tàng khảo cứu địa phương, Bảo tàng Hải Phòng có nhiệm vụ bảo tồn và lưu giữ những hình ảnh, hiện vật có giá trị liên quan đến sự ra đời

và phát triển của thành phố Bằng rất nhiều hình thức khác nhau như: Sưu tầm, hiến tặng, khai quật và thu giữ, hiện nay Bảo tàng Hải Phòng có một số lượng lớn di sản văn hóa đa dạng về chất liệu, phong phú về nội dung Tại kho cơ sở của bảo tàng, gồm có:

+ Chất liệu kim loại: 2.825 hiện vật

+ Chất liệu gốm, đá: 12.586 hiện vật

+ Chất liệu hữu cơ: 2.974 hiện vật

Trong tổng số 2.974 hiện vật chất liệu hữu cơ thì:

Trang 28

hiện vật chưa xác định được lưu giữ tại kho tham khảo Những hiện vật trên phản ánh đầy đủ và trung thực về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của Hải Phòng, về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

Đối với thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tự chủ, xây dựng Nhà nước phong kiến, trong khảo cổ học gọi là khảo cổ học phong kiến tại Bảo tàng Hải Phòng có lưu giữ và trưng bày hàng loạt hình ảnh, hiện vật và sưu tập hiện vật

có liên quan tới thời kỳ này, tiêu biểu là: Khu vực Tràng Kênh - Bạch Đằng - Bãi Cọc, tháp Tường Long - Đồ Sơn,…

Ngoài ra, Bảo tàng Hải Phòng còn lưu giữ một khối lượng hiện vật và sưu tập hiện vật về khảo cổ học, đây là một loại hình di sản văn hóa đặc biệt của bảo tàng, rất nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã về đây nghiên cứu, tìm hiểu Gồm rất nhiều những sưu tập khác nhau như: Rìu có vai, bôn có nấc, cuốc đá, chì lưới của văn hóa Hạ Long - Tiền Hạ Long (khoảng 7000 đến

4000 năm cách ngày nay) tất cả những sưu tập đó nói lên sự xuất hiện của cư dân Cái Bèo trên đất Hải Phòng từ thời đại đá mới đã biết bắt sò điệp, đánh cá Họ là những thủy thủ đầu tiên của biển khơi, săn các loại thú biển và thú rừng ven biển Họ lặn giỏi, bơi tài và thạo dùng thuyền mảng Cuộc sống của các thế hệ người Hải Phòng trên mảnh đất ven biển và hải đảo đã tạo dựng nên truyền thống văn hóa vật chất và tinh thần độc đáo

Cùng với sưu tập của nền văn hóa Hạ Long thì kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở di chỉ Tràng Kênh (có niên đại khoảng 3400 năm cách ngày nay) cho thấy phấn hoa của những cây lúa nước Oryza, những cây thuộc họ hòa thảo, họ đậu, họ bầu bí, họ dâu tằm ở di chỉ Tiên Hội (núi Voi An Lão) tìm thấy xương răng trâu bò nhà, tượng trâu bò bằng đất nung Điều đó đã nói lên rằng người Hải Phòng thời ấy đã biết trồng lúa nước, dùng trâu bò làm sức kéo, vừa làm ruộng, vừa trồng vườn, tạo cho mình một đời sống vật chất khá phong phú Nghề ruộng kéo theo sự phát triển của các ngành nghề thủ công

Trang 29

Kỹ thuật làm đồ đá ở Tràng Kênh đã đạt trình độ hoàn thiện với những công

đoạn mài, cưa, khoan, tiện làm ra đục, rìu cho nghề mộc, vòng tay, hạt chuỗi cho trai gái làng

Đến văn hóa Việt Khê, công cụ, nghề mộc từ đồ đá chuyển dần sang

đồ đồng thau gồm các loại dìu, đục, dao khắc cùng với nguyên liệu gỗ của rừng nhiệt đới rất phong phú làm cho nghề mộc giữ một vai trò quan trọng trong đời sống Những quan tài hình thuyền độc mộc trong đó có cán dáo, mái chèo và đồ dùng bằng gỗ đã chứng minh điều đó Một số đồ gỗ được sơn màu nâu, màu đỏ và trang trí rất đẹp Đặc biệt có một pho tượng chàng trai bằng

đồng thau, chít khăn, búi tó ngồi trên mạn thuyền đuôi én thổi khèn chứng

tỏ người thời đó đã biết đến cái đẹp của họa, của nhạc Những sưu tập trên

được Bảo tàng Hải Phòng phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật vào những năm 1969 - 1970 Đầu năm 2009, Bảo tàng tiếp nhận và lưu giữ thêm một số lượng lớn hiện vật được khai quật tại Tháp Tường Long - Đồ Sơn

do Bảo tàng Hải Phòng phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật

Với một khối lượng lớn di sản văn hóa tiêu biểu và điển hình như vậy, Bảo tàng Hải Phòng luôn cố gắng để gìn giữ và phát huy một cách tốt nhất, nhằm đem đến cho công chúng những kiến thức về lịch sử, cũng như thưởng thức được những giá trị văn hóa mà ông cha ta đã để lại

1.3 Vai trò của Bảo tàng Hải Phòng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Nói đến bảo tàng là nói đến việc lưu giữ và trưng bày những di sản văn hóa của dân tộc Có thể nói, về mặt lý luận, mặc dầu vẫn còn nhiều những quan điểm khoa học chưa đồng nhất, nhưng đều khẳng định rằng: Bảo tàng là một thiết chế văn hóa đặc thù, với đầy đủ ý nghĩa của nó như một khoa học xã hội mang đặc thù văn hóa sâu rộng, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội trên mọi lĩnh vực Thực tế đã chứng minh rằng, bảo tàng có vai trò rất lớn

Trang 30

trong công tác văn hóa và giáo dục của xã hội Bảo tàng là một công cụ đắc lực trong sự nghiệp cách mạng nói chung và mặt trận tư tưởng văn hóa nói riêng Nói cách khác, bảo tàng là một lĩnh vực đặc biệt của ngành văn hóa mà thông qua đó người ta phát hiện ra quá khứ, hiểu hiện tại và định hướng tương

lai Theo định nghĩa của ICOM: "Bảo tàng là một cơ quan phi lợi nhuận, nhằm phục vụ x∙ hội và thúc đẩy x∙ hội phát triển, công chúng rộng r∙i

đều tiếp cận được, có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, bảo quản, phổ biến và trưng bày những minh chứng vật thể về con người và nơi cư trú của con người trong môi trường, nhằm nghiên cứu, giáo dục và thỏa m∙n nhu cầu tinh thần" Theo quan điểm triết học, bảo tàng được định nghĩa là "thể chế

đa chức năng được hình thành một cách lịch sử của ký ức x∙ hội, nhờ đó thực hiện được nhu cầu x∙ hội về tuyển chọn, bảo quản và miêu tả nhóm

đặc biệt các đối tượng văn hóa và tự nhiên, được x∙ hội công nhận là một giá trị được kế truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác" [12: 229] ở Việt Nam

khái niệm bảo tàng lần đầu tiên được khẳng định và ghi trong Luật Di sản văn

hóa như sau: "Bảo tàng là nơi bảo quản và trưng bày các sưu tập về lịch sử

tự nhiên và x∙ hội (sau đây gọi là sưu tập) nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân" [40: 33]

Các nhà bảo tàng học Việt Nam và thế giới về bản chất đều có sự nhìn nhận giống nhau khi nói về bảo tàng; đó là nơi giữ gìn và giúp công chúng khám phá, hiểu biết về bản sắc dân tộc, bản sắc vùng và địa phương; là nơi phản ánh một cách khách quan sự đổi thay và tính kế thừa của những giá trị văn hóa truyền thống cùng với sự phát triển của đất nước; là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại trên đường đi tới tương lai; là những di tích vĩ đại của dân tộc;

là những thành phần của ký ức đã được thu thập sắp xếp lại; là người giữ gìn

và bảo vệ ký ức, nếu không có ký ức con người không thể tiến lên phía trước

được

Trang 31

Với tư cách là một thiết chế văn hóa cơ sở, và là một trong những trung tâm văn hóa có vai trò quan trọng hàng đầu của thành phố Cảng, Bảo tàng Hải Phòng đã làm tốt nhiệm vụ của mình là sưu tầm, bảo quản hiện vật, tiến hành nghiên cứu khoa học, tổ chức các cuộc trưng bày triển lãm, nâng cao phẩm chất đạo đức tư tưởng và trình độ nhận thức về lịch sử - văn hóa của dân tộc

Sưu tầm và bảo quản các hiện vật và sưu tập hiện vật là nền tảng và cũng là chức năng cơ bản nhất của Bảo tàng Hải Phòng, là nơi bảo quản những bằng chứng vật chất chân thực nhất của hoạt động con người và sự phát triển của tự nhiên, đồng thời lưu truyền chúng mãi mãi cho thế hệ tương lai Đây là một nhiệm vụ xã hội đặc biệt mà không một cơ quan nào có thể thay thế hoàn toàn được Bên cạnh đó, Bảo tàng Hải Phòng còn có một vai trò quan trọng đó

là vai trò giáo dục, đối tượng giáo dục của bảo tàng là đông đảo quần chúng nhân dân, từ trẻ em mẫu giáo đến người già, từ quần chúng bình thường đến những người có địa vị cao trong xã hội, và những khách du lịch trong và ngoài nước Tất cả công chúng có thể đến tham quan tại phòng trưng bày của Bảo tàng Hải Phòng để tham gia vào các hoạt động giáo dục, hiểu biết thêm về lịch

sử, văn hóa, xã hội của đất nước và của thành phố Bằng rất nhiều các hình thức giáo dục khác nhau như; trưng bày tại bảo tàng, trưng bày lưu động đến những vùng xa nơi mà công chúng không có khả năng đến bảo tàng, thông qua các cuộc thi tìm hiểu về bảo tàng,

Cùng với sự phát triển của các bảo tàng trung ương và bảo tàng địa phương trên khắp cả nước, Bảo tàng Hải Phòng cũng đã tiến hành quản lý, bảo quản một cách khoa học và nghiên cứu chỉnh lý đối với hiện vật được cất giữ

Đó là những công việc mà bất kỳ một bảo tàng nào cũng cần phải đạt được:

"giám định chính xác, sổ sách rõ ràng, biên mục tỉ mỉ, bảo quản thỏa đáng, chế độ kiện toàn, tra cứu thuận tiện" [44: 82]

Trang 32

Để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam như Đảng ta đã xác định, tất

yếu phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề giữ gìn và phát huy kho tàng di sản văn hoá dân tộc Bởi vì di sản văn hoá dân tộc không chỉ là một bộ phận quan trọng, là nguồn lực phát triển to lớn của nền văn hoá Việt Nam hiện đại, mà

nó còn chính là một trong những nền tảng có ý nghĩa quyết định nội dung và hình thức, đặc biệt là quyết định bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam

mà chúng ta đã và đang xây dựng

Bảo vệ các hiện vật là bảo vệ các di sản văn hóa quý báu của dân tộc UBND thành phố Hải Phòng đã có chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa 11

"Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" Chương trình hành động của UBND thành phố nhấn mạnh, quan tâm

đến công tác: "Tổ chức việc sưu tầm, nghiên cứu và phát huy vốn văn hóa

cổ truyền của thành phố… giữ gìn bảo vệ và tôn tạo các di tích, nhất là các

di tích tiêu biểu của thành phố, làm cơ sở để phát huy tác dụng trong công tác giáo dục các tầng lớp nhân dân (nhất là đối với thanh thiếu nhi) những truyền thống tốt đẹp của các thế hệ cha ông, đồng thời góp phần đáp ứng yêu cầu của việc phát triển lĩnh vực du lịch…" [3: 89]

Như vậy, thông qua các chức năng nhiệm vụ của bảo tàng, thông qua các hoạt động sưu tầm, bảo quản, trưng bày, giới thiệu các hiện vật, các sưu tập hiện vật, Bảo tàng Hải Phòng đã giữ một vai trò rất tích cực trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc và của thành phố

1.4 Vai trò của CNTT đối với hoạt động bảo tàng

CNTT được hiểu là quy trình xử lý thông tin tự động trên các phương pháp khoa học tiên tiến và các thiết bị hiện đại, trong đó máy tính điện tử

đóng vai trò nòng cốt CNTT có thể khởi tính từ khi máy tính điện tử đầu tiên

ra đời Luật Công nghệ thông tin của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ

Trang 33

nghĩa Việt Nam năm 2006 cũng đã giải thích "CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền

đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số"

Hiện nay, CNTT đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội ở một số ngành, CNTT quan trọng đến mức thiếu nó thì bản thân mọi hoạt động của ngành này lập tức bị đình trệ Có thể nói máy tính

là công cụ đặc biệt có thể giúp con người tra cứu, tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và tiện lợi Đặc biệt trong những năm gần đây sự phát triển nhanh của công nghệ sản xuất phần cứng, phần mềm và công nghệ mạng

đã làm tăng đáng kể sức mạnh của những máy tính, giúp cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật này vào hoạt động của mọi ngành khoa học - trong đó có ngành bảo tàng trở nên cấp thiết

Máy tính đã làm thay đổi phương pháp, cách thức làm việc của các bảo tàng hiện đại trên thế giới cũng như trong nước Máy tính được sử dụng trong bảo tàng với mục đích quản lý và trưng bày giới thiệu hiện vật và sưu tập hiện vật

Mục đích của việc quản lý hiện vật là sử dụng hiện vật tốt hơn, kịp thời cung cấp thông tin về một loại hiện vật hoặc một sưu tập hiện vật nào đó cho công tác nghiên cứu, trưng bày, giáo dục hoặc những thông tin theo yêu cầu của xã hội Công tác quản lý hiện vật của một bảo tàng, sau khi thực hiện máy tính hóa, thì lúc nào cũng có thể căn cứ vào những điều kiện tìm kiếm khác nhau, như: Tên gọi, niên đại, số kiểm kê hiện vật, vị trí, để tìm ra những thông tin phù hợp với yêu cầu, hiển thị và in ra tất cả những ghi chép cần thiết trong phiếu hiện vật Với tốc độ truy cập nhanh, máy tính giúp cho người quản

lý tìm kiếm đầy đủ, không bỏ sót một hiện vật nào Nếu được lắp đặt thêm thiết bị quản lý hình vẽ và ảnh, thì máy tính có thể hiển thị đồng thời cả thông tin, hình vẽ và ảnh hiện vật Như vậy, công tác nghiên cứu hiện vật sẽ có thể

Trang 34

không còn phải lấy ra những hiện vật to nặng nữa Từ đó mức độ an toàn trong quản lý hiện vật sẽ được nâng cao, đồng thời giải quyết được mâu thuẫn giữa việc quản lý và sử dụng hiện vật bảo tàng, tạo điều kiện cho bảo tàng và hiện vật phổ biến rộng rãi hơn nữa trong toàn xã hội Sau khi thực hiện máy tính hóa quản lý hiện vật, bảo tàng còn có thể căn cứ theo nhu cầu, in ra các báo cáo thống kê có liên quan đến hiện vật vào bất kỳ lúc nào, như: tổng số hiện vật, số hiện vật trong kho, số hiện vật trưng bày, số hiện vật cho mượn và điều chuyển, Tính chính xác và tính kịp thời của máy tính trong quản lý hiện vật

là điều mà công tác quản lý bằng phương pháp thủ công truyền thống khó có thể đạt được Điều này không những tiết kiệm được rất nhiều nhân lực, vật lực,

mà còn rất có lợi trong công tác sưu tầm, trong việc trao đổi thông tin, điều chuyển, cho mượn hiện vật giữa các bảo tàng trong và ngoài nước, đóng góp vào sự nghiệp phát triển của bảo tàng

Thông qua máy tính, bảo tàng có thể xây dựng những phần mềm ảo, song song với các tổ hợp trưng bày truyền thống tạo nên tính hấp dẫn, dễ dàng thu hút mọi lứa tuổi đặc biệt là lứa tuổi học sinh Đồng thời, CNTT giúp bảo tàng tiếp cận với công chúng ngay cả khi bảo tàng đã đóng cửa, thông qua các trang thông tin điện tử website, In ternet, công chúng có thể vui chơi, giải trí và thưởng thức những giá trị di sản văn hóa, đồng thời hiểu biết thêm về lịch sử, văn hóa, xã hội của một quốc gia, dân tộc

Với sự phát triển không ngừng của ngành khoa học kỹ thuật, CNTT sẽ

là cầu nối quan trọng giữa bảo tàng với công chúng trong việc phát huy giá trị

di sản văn hóa dân tộc, do vậy ứng dụng CNTT là xu thế phát triển tất yếu của mỗi bảo tàng

1.5 Yêu cầu của việc ứng dụng CNTT trong hoạt động bảo tàng

1.5.1 Tình hình ứng dụng CNTT ở một số bảo tàng trên thế giới

Trang 35

Tiến bộ khoa học - kỹ thuật tại tất cả các nước phát triển, sự phức tạp của các quá trình kinh tế, sản xuất và của toàn bộ cơ chế kinh tế, sự tăng cường vai trò của hoạt động văn hóa xã hội - tất cả đều dẫn tới việc tài nguyên lao động dần dần "được bơm" từ lĩnh vực sản xuất của cải vật chất sang lĩnh vực thông tin và nhịp độ của quá trình này không ngừng được tăng lên Lĩnh vực thông tin ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi càng nhiều nguồn lao

động, ngày càng nhiều chi phí vật chất - làm xuất hiện khủng hoảng thông tin

Để thoát khỏi tình trạng này, đòi hỏi phải sử dụng những công nghệ thông tin máy tính hoàn toàn mới

ở Mỹ, vào đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, nhà bác học David Vance

đã sử dụng dịch vụ máy tính, được lắp đặt tại một trường đại học, cho mục

đích xử lý dữ liệu về một bộ sưu tập nhỏ của bảo tàng Dữ liệu về hiện vật bảo tàng được chuyển qua phiếu đục lỗ, đưa vào máy tính, được phân loại theo tiêu chí và in ra giấy dưới hình thức mục lục; đó là mục lục bảo tàng đầu tiên được xuất bản nhờ máy tính

ở nước Nga các bảo tàng bắt đầu sử dụng máy tính để giải quyết những nhiệm vụ đặc trưng của mình từ giữa những năm 1970 Người đi tiên phong trong việc áp dụng máy tính trong các bảo tàng tại nước Nga là Ja.A.Sher, thời

kỳ này có thể gọi là thời kỳ đầu tiên Năm 1976 đã xây dựng tại Bảo tàng Quốc gia Ermitazh cơ sở dữ liệu về các tác phẩm của bộ sưu tập đồ đồng cổ

đại, cũng vào những năm này một nhóm chuyên gia của Bảo tàng Quốc gia Nga dưới sự chỉ đạo của Ju.A.Aseev bắt đầu công việc thành lập CSDL về bộ sưu tập hội họa của bảo tàng Những nét cơ bản của thời kỳ này là tính chất thử nghiệm, nghiên cứu của công việc, được một số người tự nguyện riêng lẻ thực hiện và sử dụng máy tính lớn thuộc các tổ chức khoa học và giảng dạy, sử dụng tổ hợp công nghệ - lập trình phức tạp, kết quả là đã thành lập được mục lục máy tính những tác phẩm của các bộ sưu tập riêng biệt Việc thành lập

Trang 36

những mục lục máy tính thử nghiệm đã đóng vai trò quan trọng và trở thành

điểm tựa cho những triển khai nghiêm túc trong tương lai

Đến những năm 1980 của thế kỷ XX, ở Nga bắt đầu thời kỳ xây dựng

có kế hoạch và áp dụng hệ thống máy tính trong các bảo tàng Kết quả là trong thời gian này đã tiến hành những nghiên cứu nghiêm túc hướng tới việc thành lập cơ sở dữ liệu máy tính về các di sản lịch sử và văn hóa

Vào nửa đầu những năm 1990 bắt đầu một giai đoạn mới thay thế cho các lập trình xử lý văn bản là công nghệ multimedia (truyền thông đa tuyến) cho phép không chỉ đọc được các số liệu văn bản mà còn thấy được hình ảnh,

âm thanh, những trích đoạn video, làm phim hoạt hình Để ứng dụng sức mạnh của công nghệ multimedia, các bảo tàng thường có chương trình riêng được viết cho từng bảo tàng Các bảo tàng lớn trên thế giới thường áp dụng công nghệ multimedia trong các phần trưng bày phục vụ khách tham quan Những thông tin về một bảo tàng hay một phần trưng bày của bảo tàng được nạp vào phần mềm ứng dụng, khách tham quan có thể sử dụng những công cụ của phần mềm để tìm hiểu về phần trưng bày, các hiện vật được trưng bày và những thông tin có liên quan bằng văn bản, ảnh, phim hay âm thanh

Tại Indianapolis Museum of Art (Bảo tàng nghệ thuật của Mỹ) rất quan tâm đến việc nghiên cứu, thiết kế những phần mềm cho bảo tàng, mà đặc biệt

là trưng bày trực tuyến Họ cho rằng trưng bày trực tuyến là một mảng của nghệ thuật, ở đó vẻ đẹp cũng như sự vui vẻ sẽ được tìm kiếm, khám phá

Bảo tàng Civilisation (Bảo tàng văn minh) ở Canada đã thiết kế riêng cho thế hệ trẻ những kiến thức lịch sử, thông qua một kịch bản tương tác mang tính viễn tưởng vui nhộn hay qua những chuyến thăm quan ảo Đây là một kịch bản, một bảo tàng ảo, mà bảo tàng Civilisation đã tạo nên nhằm kích thích tính hiếu kỳ của khách tham quan Những con ma từ tầng trên đi xuống

và vì một vài lý do nào đó đã làm biến mất cuộc triển lãm ảo, ông giám đốc

Trang 37

bảo tàng trong sự thất vọng tột độ đã kêu gọi sự giúp đỡ của khách tham quan Những người tham quan bảo tàng phải trả lời câu hỏi của những con ma liên quan tới sự bí ẩn của những hiện vật hay những vị trí trên bảo tàng Khi câu trả lời đúng, thì những con ma sẽ trả lại các đồ vật theo đúng vị trí của chúng trong cuộc triển lãm Và chỉ đến khi tất cả những bí ẩn được giải đáp thì cuộc triển lãm mới sẵn sàng được mở cho tất cả mọi người cùng thưởng thức Ngoài

ra còn có những cuộc tham quan ảo tới ba địa điểm lịch sử của Canada, trên mỗi một con đường đi tới các địa điểm thì sẽ có những nơi mang chứng tích lịch sử của Canada trong nửa cuối thế kỷ 19 Tại những địa điểm nhất định trong trò chơi này, nơi mà con ma trú ngụ, thì con ma yêu cầu người chơi tìm những hiện vật đã được dấu đi trong tòa nhà Bởi vậy, trong chuyến tham quan này có khả năng giới thiệu những hiện vật trong môi trường vật chất hay trong những cuốn sách giáo khoa lịch sử Được sắp xếp để giải quyết các vấn đề này, người chơi sẽ có những máy tính sách tay ảo, cùng những từ ngữ chuyên môn ngắn gọn, dễ hiểu, những ngôn từ này được hỗ trợ từ những văn bản chuyên môn Máy tính ảo cũng có khả năng tạo nên những file khác nhau mà

ở đó người chơi có thể cất giữ những bảng chứa các hiện vật mà họ đã tập hợp

được trên đường đi của mình Bên cạnh đó, người chơi có thể sử dụng các phím trên bàn phím để tìm kiếm những dữ liệu trên bảng chứa cho tất cả các hiện vật và tài liệu được hiển thị Chương trình này cũng được kết nối cho các giáo viên trong quá trình dạy học Các bảo tàng hiện đại rất tin tưởng vào cách tiếp cận này để tạo nên sự hấp dẫn cho công chúng, đặc biệt là công chúng ở lứa tuổi từ 10 đến 12

Tại Pháp, những phần mềm, dữ liệu của hệ thống trưng bày đã được thương mại hóa bằng cách xuất bản những đĩa CD-Rom để bán cho khách tham quan, đĩa CD-Rom của Bảo tàng Lu-vơ-rơ bán được hàng triệu bản mỗi năm đem lại nguồn thu không nhỏ cho bảo tàng

Trang 38

ở Trung Quốc, CNTT cũng được quan tâm từ rất sớm Bảo tàng Hà Nam của Trung Quốc khi chuẩn bị xây mới bảo tàng vào tháng 9 năm 1994

đã coi hệ thống quản lý thông tin trên máy tính là một trong những hạng mục quan trọng của việc xây dựng nghiệp vụ và bắt đầu xây dựng chương trình ứng dụng quản lý hiện vật, sách báo và tư liệu trên máy vi tính Tháng 6 năm 1995, bảo tàng đã hoàn thành chương trình ứng dụng (bản thử nghiệm), bắt đầu lắp

đặt chạy thử nghiệm trên mạng cục bộ quy mô nhỏ Đến tháng 3 năm 1997, bảo tàng đã đăng tải được hơn 40.000 thông tin nghiệp vụ, trong đó có 20.000 bản ghi hiện vật Đến tháng 10/1997 chương trình ứng dụng của bảo tàng chính thức được đưa vào sử dụng, cuối năm 1997 thì bảo tàng kết nối với Internet Tháng 8/1998 website của bảo tàng ra đời, được ICOM chính thức

đưa vào website bảo tàng thế giới Hiện nay thì hệ thống máy tính của bảo tàng rất lớn và được vận dụng vào các hoạt động của bảo tàng Ngoài ra, còn rất nhiều các bảo tàng khác của Trung Quốc áp dụng CNTT hiện đại vào công tác quản lý hiện vật bảo tàng như: Cục Văn vật Bắc Kinh, Bảo tàng Cố Cung Bắc Kinh được bắt đầu từ năm 1989, Bảo tàng Khổng Tử ở Khúc Phụ, Bảo tàng tỉnh Quảng Đông, cũng được ứng dụng vào những năm 90

Trong lĩnh vực trưng bày - giáo dục, rất nhiều bảo tàng của Trung Quốc cũng đã sử dụng những thiết bị âm thanh kỹ thuật số cho việc hướng dẫn khách tham quan, ví dụ như: Bảo tàng Quảng Châu - Trung Quốc hiện sử dụng phương pháp trưng bày, giới thiệu rất khác với những bảo tàng truyền thống, khách tham quan khi vào bảo tàng được phát một thiết bị có hình thức tương

tự máy điện thoại di động, người dùng chỉ việc lựa chọn ngôn ngữ cần nghe, bấm phím số tương ứng với số được ghi trên hiện vật trưng bày, hệ thống máy tính sẽ cung cấp những âm thanh cần thiết, giới thiệu về nội dung có liên quan

đến hiện vật Chi phí cho một hệ thống như vậy không quá tốn kém, nhưng hiệu quả đem lại thật to lớn; hệ thống trưng bày hoàn toàn tĩnh lặng dù đông khách tham quan, khách tham quan có thể chủ động tiếp nhận nội dung về

Trang 39

hiện vật theo sở thích, điều đó làm tăng đáng kể sự thích thú của họ đối với bảo tàng

Từ giữa những năm 1990, các chuyên gia bảo tàng ngày càng chú ý nhiều đến vấn đề giao tiếp máy tính Các bảo tàng có thể truy nhập Internet, cùng với việc xuất hiện những phương tiện giao tiếp mới, đã mở ra những khả năng mới mà trước đây không thể đạt được như: thư điện tử, đặt chỗ chuyển phát, các phần tin tức của các site, bảng thông tin điện tử,

Đến cuối những năm 1990 trong lĩnh vực bảo tàng đã hình thành những quan hệ chiến lược mới giữa bảo tàng với các đơn vị khác như: Các trường đại học đào tạo chuyên gia chuyên ngành, các trung tâm phân tích do vậy xuất hiện nhu cầu quản lý mở, trước hết là công nghệ mạng, mà cơ sở là mối quan

hệ đối tác giữa các thành viên, cơ sở tham gia Bản chất tổ chức mối quan hệ

đối tác là làm sao liên kết hoạt động nhiều chiều của các thành viên tham gia quá trình để thực hiện mục tiêu chung Mục tiêu cơ bản là tác động để hình thành nguồn thông tin về di sản văn hóa, xây dựng cơ chế để công dân có thể tiếp cận và sử dụng có hiệu quả những nguồn này, tác động tạo dựng ngành du lịch văn hóa

Bảo tàng ở các nước phát triển trên thế giới hầu hết đều có trang Web của riêng mình Những website có giao diện trực quan hấp dẫn và những lời giới thiệu đầy quyến rũ sẽ cung cấp cho người dùng đầy đủ những ngôn từ, hình ảnh và những liên kết động ở những phần chú ý đặc biệt thì thường có những đường link mà người dùng có thể click vào để xem Những hình ảnh đồ họa đẹp làm tăng thêm sức hấp dẫn cho phần nội dung và những tùy chọn có sẵn dành cho người dùng

Sau đây là một số địa chỉ Website của một số bảo tàng và cơ quan bảo tàng phổ biến trên thế giới:

Trang 40

- Internationnal Council of Museums (ICOM)

Đây là trang Web của Hội đồng Bảo tàng Thế giới, mục đích của hội

đồng này là thúc đẩy, phát triển hoạt động bảo tàng và nghiệp vụ bảo tàng ở tầm cỡ thế giới Được thành lập vào năm 1946, hiện có trên 25.000 thành viên thuộc hơn 160 quốc gia khác nhau

Gopher://gopher.icom.org/11/pub/ICOM

Http://www.icom.org/ICOM

- Consortium for the Computer Interchange of Museum

Information (CIMI - trao đổi tông tin về bảo tàng trên máy tính)

Trang Web ở trên mạng diện rộng này bao gồm những thông tin mới nhất về hoạt động của CIMI cùng những tư liệu về hiện vật được tìm kiếm và cùng có các hình ảnh trong catalo triển lãm được truy nhập theo chuẩn ngôn ngữ đã được khái quát hóa

Http: //www.cimi.org/cimi

- Museum Informatics Project (University of California, Berkeley)

Dự án thông tin bảo tàng là một dự án phối hợp được tiến hành tại trường đại học California nhằm mục đích phối hợp ứng dụng CNTT ở các bảo tàng và các sưu tập hiện vật đã được xây dựng nhưng chưa được xuất bản thành ấn phẩm Trang Web này cho phép tiếp cận với các dữ liệu của các sưu tập trên mạng Một trang chủ theo kết cấu siêu văn bản dựa trên một thư mục siêu văn bản của ngành bảo tàng và các sưu tập chưa được xuất bản thành ấn phẩm, miêu tả chi tiết về các dự án thuộc dự án thông tin bảo tàng đang được thực hiện

Http://www.mip.berkeley.edu

Ngày đăng: 06/06/2021, 00:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w