Nó gợi nhớ tới Đồ Sơn một vùng đất ven biển Hải Phòng, một mảnh đất thường được nhắc tới với tình cảm chân thành sâu sắc không chỉ bởi núi non đẹp đẽ thơ mộng mà đặc biệt hơn vùng đất ấy
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ VĂN HÓA – NGHỆ THUẬT
**********
LỄ HỘI CHỌI TRÂU Ở ĐỒ SƠN-
HẢI PHÒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : Th.s Nguyễn Thị Dậu Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích của đề tài 6
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của đề tài 6
6 Bố cục: 6
CHƯƠNG I 8
VÀI NÉT GIỚI THIỆU VỀ ĐỒ SƠN- VÙNG ĐẤT VEN BIỂN HẢI PHÒNG 8 1.1 Vài nét về đặc điểm địa lý 8
1.2 Khái quát dân cư và đời sống kinh tế của người dân Đồ Sơn 12
1.2.1 Giả thiết về lịch sử tụ cư ở Đồ Sơn 12
1.2.2 Đời sống kinh tế của cư dân Đồ Sơn 14
1.3 Vài nét về văn hoá vùng ven biển Đồ Sơn 15
1.3.1 Tín ngưỡng, phong tục 16
1.3.2 Dân ca văn hoá dân gian Đồ Sơn 16
1.3.3 Vài nét về tính cách của dân cư ven biển Đồ Sơn 18
CHƯƠNG II 22
LỄ HỘI CHỌI TRÂU Ở ĐỒ SƠN - HẢI PHÒNG 22
2.1 Khái niệm lễ hội, lễ hội cổ truyền 22
2.2 Nguồn gốc lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn-Hải Phòng 25
2.2.1 Lý giải nguồn gốc hội chọi trâu Đồ Sơn theo quan điểm của Lê Bá Căn - (Vạn Sơn - Đồ Sơn) 25
2.2.2 Những huyền tích liên quan đến sự hình thành lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn 27
2 3 Các bước chuẩn bị 30
2.3.1 Chọn trâu 30
2.3.2 Chăm sóc trâu chọi như thế nào 32
2.3.3 Tập luyên trước khi đưa trâu chọi vào sới đấu chính thức 33
2.4 Cách thức tiến hành lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn 35
2.5 Lễ hội chọi trâu những năm gần đây 42
2.5.1 Những đổi mới về cơ sỏ vật chất 42
Trang 42.5.3 Những đổi mới trong phần lễ và phần hội 47
CHƯƠNG III 53
GIẢI PHÁP NHẰM CẢI THIỆN HIỆU QUẢ QUẢN LÝ LỄ HỘI CHỌI TRÂU ĐỒ SƠN - HẢI PHÒNG 53
3.1 Những giá trị của lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn -Hải Phòng 53
3.1.1 Giá trị văn hoá 53
3.1.2 Giá trị về mặt lịch sử 58
3.1.3 Giá trị về kinh tế du lịch 59
3.2 Một số giải pháp và ý kiến góp phần phát triển hoàn thiện lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn - Hải Phòng 61
3.2.1.Thực hiện Quyết định Nhà nước 61
3.2.2.Phân công trách nhiệm trong quản lý lễ hội 61
3.2.3.Tổ chức và huấn luyện cán bộ 62
3.2.4.Quản lý dịch vụ 62
3.2.5 Đầu tư cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng cho lễ hội 63
3.2.6 Về phương diện quản lý 63
3.2.7 Về phương diện tổ chức 64
3.2.8 Một số kiến nghị khác 67
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 69
PHỤ LỤC……….71
Trang 5Câu thơ ấy đã lưu truyền trong dân gian và trở thành nếp sống sinh hoạt hội hè của không ít người dân đất Việt Nó gợi nhớ tới Đồ Sơn một vùng đất ven biển Hải Phòng, một mảnh đất thường được nhắc tới với tình cảm chân thành sâu sắc không chỉ bởi núi non đẹp đẽ thơ mộng mà đặc biệt hơn vùng đất ấy còn có hội chọi trâu một sinh hoạt văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Hội chọi trâu ở Đồ Sơn có nguồn gốc từ rất lâu đời, và cũng như nhiều lễ hội cổ truyền khác Hội chọi trâu ở Đồ Sơn cũng trải qua những thăng trầm và những biến cố của lịch sử Có một thời gian dài hàng mấy chục năm, lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn hầu như bị lãng quên Từ giữa những năm 80, cùng với đường lối đổi mới của nhà nước Việt Nam, nhiều lễ hội cổ truyền được khôi phục lại nhiều
ở địa phương trong cả nước nhằms thoả mãn nhu cầu văn hoá tinh thần đông đảo các tầng lớp nhân dân Trong xu thế đổi mới đó mấy năm qua Đồ Sơn đã khôi phục hội chọi trâu hôm nay thực sự vui tươi lành mạnh, hấp dẫn đông đảo nhân dân thành phố cảng, nhân dân nhiều tỉnh thành trong cả nước và khách nước ngoài đến tham dự Hội chọi trâu Đồ Sơn là một sinh hoạt văn hoá dân tộc cổ truyền
Đây là một lễ hội sinh ra bởi những lý do văn hoá tín ngưỡng của một vùng đất giàu truyền thống Hội độc đáo “có một không hai” trong cách thức tiến
Trang 6Việc đi sâu nghiên cứu tìm hiểu lễ hội này là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học cũng như đối với ý nghĩa thực tiễn văn hoá của thành phố cảng biển và
du lịch Hải Phòng
Đó cũng là lý do khiến người viết lựa chọn đề tài:
“Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn - Hải Phòng”
2 Mục đích của đề tài
Khảo cứu miêu tả chi tiết và tìm hiểu các giá trị, lịch sử, văn hoá, du lịch của lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn - Hải Phòng Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển hoàn thiện lễ hội chọi trâu phù hợp với nhu cầu xây dựng đời sống văn hoá – xã hội – kinh tế hiện nay của Hải Phòng
3 Đối tượng nghiên cứu
Diễn trình lễ hội chọi trâu Đồ Sơn và các khả năng củng cố phát triển hoàn thiện lễ hội này
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài tôi sử dụng các phương pháp như :
+ Phương pháp khảo cứu
Trang 7Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục 3 chương:
Chương 1- Vài nét giới thiệu về Đồ Sơn, vùng đất ven biển Hải Phòng Chương 2- Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn - Hải Phòng
Chương 3- Giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý lễ hội chọi trâu Đồ Sơn - Hải Phòng
Trang 8CHƯƠNG I VÀI NÉT GIỚI THIỆU VỀ ĐỒ SƠN- VÙNG ĐẤT VEN
BIỂN HẢI PHÒNG 1.1 Vài nét về đặc điểm địa lý
Mấy nghìn năm xưa khi các vua Hùng dựng nước, non nước Đồ Sơn là đất của bộ lạc Thang Tuyền, một trong mười lăm bộ lạc của nước Văn Lang xưa Theo các tác giả của sử biên niên nhà Nguyễn, đời Tần, Đồ Sơn thuộc lộ Hải Đông, thời thuộc Minh là đất của phủ Tân An, đến đời Lê Quang Thuận mới đặt
và phủ Kinh Môn thuộc trấn Hải Dương
Khi “Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ” dựng nên cờ đào đã đổi đất này thành “lộ Trấn Yên Quảng” Sang thời Nguyễn vào năm Gia Long thứ nhất (1802) Đồ Sơn lại trở về tên gọi của thời nhà Lê Mười tám năm sau cũng chính vua Gia Long lấy bốn huyện Nghi Dương, Kinh Thành, An Lão, An Dương đặt thành phố Kiến Thụy Trong phủ Kiến Thụy lúc ấy, Nghi Dương (tức vùng đất
Đồ Sơn và phụ cận) là một huyện lớn “Đông Tây rộng mười lăm dặm, Nam Bắc cách nhau hai mươi sáu dặm, phía đông giáp với biển đến địa giới huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên một dặm, phía tây đến địa giới An Lão mười bốn dặm Trong huyện Nghi Dương, thắng cảnh đẹp nhất là vùng đất phía Đông Nam mười lăm dặm sát với biển Đó là Đồ Sơn, tên Đồ Sơn xuất hiện lần đầu tiên trong thư tịch đời Trần, khi “Đại Việt sử lược” ghi lại sự kiện vua Lý ra Đồ Sơn xây tháp Tường Long Từ đó tới nay các đơn vị hành chính huyện và tỉnh có sự đổi thay còn tên Đồ Sơn vẫn được giữ như cũ
Theo “Đại nam nhất thống chí” Đồ Sơn có chu vi 30 dặm, cao 80 trượng,
ở giữa có chín ngọn núi nên gọi là núi cửu Long trong đó có một ngọn núi lớn hơn cả gọi là Mẫu Sơn Dưới núi là cư dân của ba xã “Đồ Hải, Đồ Sơn, Ngọc
Trang 9Xuyên” Hai ngọn núi thứ bảy và thứ tám có nước chảy quanh ôm lấy, tục gọi là Vụng Mát rộng hơn 100 trượng, thuỷ triều xuống sâu bảy thước, dưới chân núi
có nhiều mầm đá theo thuỷ triều khi ẩn khi hiện, thuyền không dám lại gần Một ngọn đằng sau về hữu đứng sững một mình nên gọi là Độc Sơn Các núi ở phía tản đối với song ngư ở đằng xa, tục gọi là Cồn Dừa
Trải qua bao tháng thăng trầm của thời gian, qua những biến cố của lịch
sử, Đồ Sơn còn đến nay là kết quả của bao cuộc vận động của tự nhiên và bao cuộc cải biến của con người
Đồ Sơn nằm cách 20 km về phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, đây là một bán đảo gồm một dải đất đồi 9 ngọn nhô ra biển 5 km, ngọn cao nhất 125m, ngọn thấp nhất là 25m tạo cho khu du lịch Đồ Sơn một quang cảnh thiên nhiên tươi đẹp Trong 9 ngọn núi vươn ra vịnh Bắc Bộ ấy có một ngọn tách ra đứng một mình là ngọn núi Độc Núi Độc đứng chênh vênh giữa bãi triều mênh mông cát và bên kia là biển rộng thẳm sâu suốt đêm ngày sóng vỗ dưới chân núi, kể mép nước có một ngôi đền cổ nổi tiếng linh thiêng nép mình bên vách đá Đó là đền bà Đế
Thực ra núi Đồ Sơn không chỉ có 9 ngọn núi, ngoài núi Độc và Hòn Dấu, giải núi Rồng có 15 điểm cao từ 25 cho tới 129m (cao nhất là núi Đồn Cao), trên đỉnh non này vẫn còn những dãy tường thấp Tương truyền đó là luỹ của Phạm Đình Trọng, đắp đê đàn áp cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu ở thế kỷ 18 Còn trên đỉnh chòi Mòng có một tảng đá tự nhiên vuông vức như một chiếc bàn
cờ lớn Mưa gió làm mặt đá nhẵn bóng Các đạo sỹ bảo rằng đây là một bàn cờ tiên, họ đã từng gặp các lão tiên từ trên trời xuống đây đánh cờ
Với mười lăm cao điểm nối liền nhau tạo thành một dải dài quanh co bãi biển ven bờ Đồ Sơn trở thành các bãi tắm đẹp
Về vùng đất Đồ Sơn các nhà địa lý cho rằng đó là vùng chịu ảnh hưởng
Trang 10chất xếp địa hình Đồ Sơn thuộc loại 1 dãy đồi và dãy diệp thạch, thuộc trầm tích trung sinh Địa hình này nhờ có đảo và quần đảo ngăn tác động của sóng nên phù
sa do các sông, lạch mang tới để có điều kiện trầm lắng tạo thành loại bờ biển kiểu bồi tích phù sa Trên khu vực sú vẹt mọc nhiều, địa chất gọi đó là loại bờ biển có bãi sú, một kiểu địa hình riêng biệt của vùng nhiệt đới Hàng ngàn năm qua, bao thế hệ của Đồ Sơn đã bền bỉ ngăn nước mặn, rửa đất cho ngọt lành để trồng lúa, trồng khoai, khiến vùng đất hoang xưa trở thành khu vực đất đai có ích cho con người, Đồ Sơn là một miền đất cổ kính Sụ hiện hữu truyền thống văn hoá, của bước tiến văn minh trong quá khứ phát hiện được trên đất Đồ Sơn có niên đại xưa cũ nhất có lẽ thuộc về tháp Tường Long, tháp Tường Long được xây dựng trên đỉnh Ngọc Sơn (núi Tháp) trông tựa như cây bút đang vẽ lên nền trời xanh và biển rộng Qua thư tích cổ và dấu tích hiện tồn tại thì tháp Tường Long được thiết kế xây dựng như một khu tượng đài hoành tráng kỷ niệm là phật, đồng thời là một trạm quan sát tiền tiêu và hoàng cung dừng chân của các vua chúa trong các chuyến kinh kỳ lộ Hải Đông Tháp Tường Long đã từng được liệt vào hạng đại danh lam cùng với chùa Long Đọi (Duy Tiên-Hà Nam), chùa Một Cột, tháp Báo Thiên (Hà Nội)
Bên cạnh tháp Tường Long, Đồ Sơn còn có suối Rồng, một danh thắng cảnh tô điểm cho quần thể di tích và thắng cảnh Đồ Sơn, Suối Rồng nằm ở chân núi Rồng Đó là một dòng nước ngầm từ trong lòng núi tuôn ra tạo thành dòng suối lớn, bốn mùa không hết nước, nước suối Rồng lúc nào cũng mát lạnh và trong lành Thượng nguồn suối là rừng thông xanh tốt ngút ngàn, ngày ngày rì rào tiếng lá reo và hạ lưu là Đình Ngọc cổ kính giữa xóm thôn yên ấm tĩnh mịch Đình Ngọc là một công trình có kiến trúc có quy mô vừa phải, bố cục hình chữ Đinh có năm gian tiền đường và gian hậu cung Đền Ngọc là nơi tôn kính thờ thần Điểm Tước Đại Vương - vị thần phù hộ cho cư dân vùng ven biển Hải Phòng làm ăn sinh sống
Trang 11Một trong những đặc điểm địa lý của Đồ Sơn là có biển Đó là điều được nhiều người biết đến bởi hàng năm có hàng chục vạn người tới đây đón gió lành, nắng vàng và nước mát của biển Đông
Do có núi cao và biển cả, bãi biển Đồ Sơn có một vẻ đẹp riêng biệt.Bãi biển Đồ Sơn không có những dải cát dài phẳng trông ra đại dương xanh thẳm như Trà Cồ, Nha Trang cũng không có vẻ đẹp như núi đá nhấp nhô như những hòn non bộ của vịnh Hạ Long, nước biển Đồ Sơn hơi đục vì phù sa của nhiều cửa sông đổ ra biển
Cái đẹp của Đồ Sơn trước hết là sự kết hợp giữa mây trời, non nước, giữa cái bao la của trời rộng, đất dài với cái ngất ngây của núi non xanh thẳm, cảnh sắc Đồ Sơn luôn thay đổi theo từng thời điểm trong ngày Vì vậy đến Đồ Sơn trước hết là đến với một khu du lịch nghỉ mát, tắm biển Người Pháp khi đặt chân đến đây đã sớm phát hiện ra vẻ đẹp của một khu du lịch nghỉ dưỡng tắm biển nhiệt đới, nên đã xây dựng Đồ Sơn thành một trong những khu nghỉ mát đầu tiên của Việt Nam Theo cách phân chia hành chính lần lượt từ thành phố Đồ Sơn có 3 khu nghỉ mát Khu 1 rộng nhất có 3 bãi tắm, sức chứa hàng nghìn người, khu 2 có một bãi tắm trung bình, bãi cát nông và thoải chạy men theo nước được coi là bãi tắm đẹp nhất Đồ Sơn, khu 3 cảnh quan đẹp và ngay trên bãi tắm có một ngôi chùa cổ
Đồ Sơn đẹp một cách độc đáo không giống như các bãi biển miền Trung
và miền Nam nước ta bởi trên các triền đồi trồng được thông Thông mọc trải thảm thăm thẳm xanh ôn đới trên biển nhiệt đới Thêm vào đó bàn tay tạo dựng của con người trong một trăm năm qua đã làm cho Đồ Sơn thêm đẹp Đường nhựa uốn mình qua các triền núi, các biệt thự xinh xắn ẩn mình sau rặng thông ở khu 2, khu 3 cùng nhà hàng Vạn Hoa có mái hình tháp thêu dệt cho bức tranh Đồ Sơn một cái đẹp dịu dàng, huyền ảo tựa “Đà Lạt đặt trên bờ biển” Mảnh đất Đồ
Trang 12chuông đúc thời Trần (1296) của chùa Vân Bản Chuông có đường nét hoa văn thể hiện trình độ nghệ thuật điêu luyện hiện còn lưu giữ tại nhà bảo tàng Thành Phố
Đồ Sơn còn là đất của lễ hội vùng biển, lễ xuống nước bằng hội đua thuyền ngày tết và đặc biệt là hội chọi trâu diễn ra vào mùa thu tháng 8 hàng năm
1.2 Khái quát dân cư và đời sống kinh tế của người dân Đồ Sơn
1.2.1 Giả thiết về lịch sử tụ cư ở Đồ Sơn
*Huyền thoại hai anh em:
Chúng ta hãy ngược dòng lịch sử lần về những ngày tháng năm lùi sâu hơn nữa trong quá khứ, tìm hiểu của con người có mặt ở Đồ Sơn, có huyền thoại
về người Đồ Sơn như sau
Không rõ từ bao giờ có hai anh em nhà kia sống với nhau, cha mẹ họ đều mất sớm Một hôm hai anh em ra biển đánh cá chẳng may bị bão tố và trôi dạt vào Đồ Sơn Lúc ấy Đồ Sơn chưa có dấu chân người khai phá, đứng trước cảnh thiên nhiên hoang vu, người anh bi quan nói với người em
“ở đây ăn bổng lộc gì, lộc sim thì chát, lộc si thì già”
Người em nghe anh nói như vậy lòng không nản Tự tin vào sức lực của mình người em trả lời
“ở đây vui thú non tiên, sớm ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau”
Trước thái độ lạc quan của người em, người anh đã bị thuyết phục Thế
là họ ở lại Đồ Sơn khai sơn phá đất, dựng xóm lập làng Theo thời gian Đồ Sơn
từ chỗ hoang vu, nhờ sức người đã trở nên trù mật và giàu thịnh
*Thần tích tám vị thần khai sáng
Cùng với huyền thoại giàu chất thơ mộng về hai người con trai dũng cảm vừa kể, công cuộc khai phá Đồ Sơn còn được phản ánh trong thần tích được truyền ở đây Người Đồ Sơn xưa thờ tám vị thần khai sáng là Đông Hải Thần
Trang 13Vương, Hải Bộ Thần Vương, Thanh Sam Thần Vương, Cao Sơn Thần Vương, Tràng Ngõ Thần Vương, Đại Hùng Thần Vương, Đế Thích Thần Vương, Nam Đại Vương Theo Truyền tích tám vị thần này đều là những người có công lao giúp đỡ người Đồ Sơn khai phá đất này Theo đà phát triển cư dân Đồ Sơn ngày một phát triển đông hơn, đã đẻ ra những mụn cư dân mới Mỗi cụm lại phải tìm một vị thần bảo hộ cho họ Thế là ngoài vị thần chung, toàn Đồ Sơn lại có thêm một đội ngũ thần đông đảo và phức tạp
*Lịch sử về các dòng tộc ở Đồ Sơn
Theo cuốn gia phả duy nhất của dòng họ Hoàng Gia là một trong những dòng họ lớn nhất ở Đồ Sơn, họ Hoàng Gia quê gốc ở làng Chằm Mọc xã Mộ Trạch huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương Vào khoảng thế kỷ 11 theo lời chiêu
dụ dân khai hoang lập áp của nhà Lý, ông Hoàng Gia Màu đã dẫn con cháu tới vùng đất Đồ Sơn lập làng, dựng xóm Nhưng theo lời truyền lại của gia tộc này, ông Màu lúc dẫn con cháu tới đây sinh cơ lập nghiệp không phải trên khu đất hiện nay họ đang sinh sống mà chỉ ở tạm ngoại Vạn Thủ Sau đó sinh sôi nảy nở, đất chật người đông, xóm bãi đông đúc, cụ Màu bèn vào Vạn Sơn xin đất cho
mở làng Sau khi nghe cụ Màu trình bày, người già ở Vạn Sơn bàn bạc với nhau rồi đồng ý
Ngoài họ Hoàng Gia vừa kể, Đồ Sơn còn có một dòng họ khác là dân trốn sưu dịch từ các nơi tụ tập về Đồ Sơn vào thời Lê - Trịnh
Những thần tích, sự kiện trên cho ta thấy quá trình di chuyển một cách tự phát hoặc có tổ chức của con người đến Đồ Sơn Trong quá trình phát triển của lịch sử, cư dân ở đây ngày càng đông đúc hơn Họ khai khẩn đất hoang, lập ấp chinh phục biển, hình thành nên những phương thức sinh sống hết sức đa dạng, độc đáo mang nét đặc trưng của cư dân miền duyên hải
Trang 141.2.2 Đời sống kinh tế của cư dân Đồ Sơn
Cư dân dân chia làm 2 bộ phận Một bộ phận trồng lúa nước, một bộ phận làm nghề biển Bộ phận trồng lúa hiện nay bao gồm các thôn của xã Vạn Sơn trước đây (nay là tiểu khu Vạn Sơn) Bộ phận làm nghề biển trước kia tập trung
ở tám vạn chài là Vạn Lê, Vạn Bún, Vạn Hương, Van Hoa, Vạn Ngang, Vạn Tác, Vạn Thủ, tám vạn chài ấy nay là 2 tiểu khu là Ngọc Hải và Vạn Hương Từ khi khu Bằng La sát nhập vào thị xã Đồ Sơn có thêm một hợp tác xã làm nghề cá nữa là tiểu khu Đồng Tiến
Tuy có cả 2 nghề trồng lúa và nghề cá cùng tồn tại, nghề cá ở Đồ Sơn vẫn
là chính Điều này đã được ghi nhận từ buổi xã xưa Nghề biển ở Đồ Sơn chia làm 3 khu vực
Nghề biển ở khu vực bờ không được coi như nghề nghiệp vì nó không đòi hỏi công cụ phức tạp không mang lại sản lượng lớn và ai cũng làm được Đó là nhưng công việc, te, xiếc, kiếm hẩu, hà
Ra xa hơn một ít sải nước có 2 kiểu lưới bắt cá là lướt vùi và lưới cả Nghề biển của Đồ Sơn thực sự phát triển kể từ trong lộng Hình thức chủ yếu đồng thời là nghề nổi tiếng của Đồ Sơn là săm và đáy Về cấu tạo cơ bản săm và đáy giống nhau, chỉ khác ở chỗ mắt lưới đáy to hơn, có thể kiếm cá nhỏ hơn được Săm chủ yếu để bắt tôm, Săm là một kiểu lưới có hình thức như chiếc phễu, miệng rộng
và dài Khi đánh Săm người ta căng miệng ra để một mép ngang mặt nước Miệng Săm được giữ bằng những cọ tre Hàng năm vào tháng 3, tháng 5, tháng
6, tháng 7 những tháng tôm áp lộng nhiều đó là mùa Săm, mùa thu hoạch
Nhờ sự ưu đãi của thiên nhiên, cả một vùng duyên hải không chỗ nào tôm
áp lộng nhiều như vùng ven biển Đồ Sơn nên những người Đồ Sơn là những người quai Săm nhiều kinh nghiệm
Trang 15Vượt lông ra khơi là những đội thuyền của nghề cá đánh lưới Có nhiều kiểu đánh lưới, đánh lưới giá, lưới sủ và lưới rê trong đó người Đồ Sơn có kinh nghiệm về Giã Đôi hơn cả
Cùng với nghề cá, người Đồ Sơn còn chế biến cá và các loại hải sản khác, tôm, mực làm nước mắm, mắm tôm Nhờ sự đầu tư của nhà nước, nghề nuôi hải sản ở đây đã đạt được những thành tựu đáng kể Đồ Sơn đã nuôi nhiều loại hải sản xuất khẩu quý như tôm rảo, cá vược, cá bớp, cua…
Phương thức sinh sống cơ bản bằng nghề biển đã quy định nền văn hoá Đồ Sơn - Một nên văn hoá phong phú, độc đáo, mang đậm phong cách của cư dân miền duyên hải - Hải Phòng
1.3 Vài nét về văn hoá vùng ven biển Đồ Sơn
Một trong những nét đặc điểm nổi bật về mặt địa lý của Đồ Sơn là có biển Tính chất biển không chỉ quy định phương thức sinh hoạt kinh tế của dân cư nơi đây mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hoá Đồ Sơn Nó góp phần tạo nên diện mạo của văn hoá Đồ Sơn, một nền văn hoá phong phú, độc đáo, vừa mang đậm đà bản sắc dân tộc vừa mang những nét riêng biệt của vùng đất ven biển Đồ Sơn
Trước hết đó là tinh thần lạc quan, dũng cảm, can trường đè sóng, cưỡi gió trong công cuộc chinh phục biển cả cải biến tự nhiên
Đó là những tấm gương anh hùng xả thân vì nước như nữ tướng Lê Chân, Quận He Nguyễn Hữu Cần mà ngàn năm tên tuổi còn rạng rỡ trang sử đỏ của dân tộc
Hàng loạt các công trình văn hoá được xây dựng từ thời Lý - Trần (Đình Ngọc, tháp Tường Long) là những minh chứng hùng hồn về trình độ nghệ thuật điêu luyện của miền đất cổ kính Đồ Sơn
Trang 16phật tử dòng tiểu thưà đến nước ta làm ăn buôn bán và truyền đạo pháp, Đồ Sơn còn được coi là nơi xuất phát của những cộng đồng người tiến ra khai thác, chiếm lĩnh vùng ven biển giàu đẹp của tổ quốc Nét văn hoá biển đặc biệt thể hiện rõ nét trong hệ thống thần được thờ của người Đồ Sơn
1.3.1 Tín ngưỡng, phong tục
Người Đồ Sơn xưa thờ tám vị thần khai sáng Đây là những người có công giúp người Đồ Sơn khai phá đất này Theo đà phát triển, cư dân ngày một đông nên đã đẻ ra những cụm cư dân mới Mỗi một xóm mới, một vạn chài mới lại phải tìm một vị thần mới bảo hộ cho họ Thế là ngoài các vị thần chung của toàn
Đồ Sơn lại có thêm một đội ngũ thần đông đảo và phức tạp Sự phong phú về đối tượng được thờ đã dẫn tới sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng Nếu ta thống kê lại tất cả các thần trong lĩnh vực giúp người Đồ Sơn khai phá đất đai cũng đã đủ thấy bộ mặt tôn giáo và tín ngưỡng
Từ việc xây dựng hệ thông thần để thờ, dân cư Đồ Sơn cũng đã hình thành những tập tục để thực hiện việc thờ cúng, cầu mong sự may mắn, no đủ cho toàn
cư dân trong vùng Tiêu biểu phải kể đến tục hiến sinh Việc hiến sinh được thực hiện ỏ chân núi Độc với mục đích dâng lễ vật cho thuỷ thần để cầu xin sự phù trợ Trước kia vật hiến tế là một cô gái trẻ đẹp, trinh tiết Thời gian trôi đi, cuộc sống con người ngày một văn minh hơn Người ta nhận thức được tính chất man rợ của tập tục này Vật hiến không còn là con người nữa mà thay thế bằng con vật (con trâu)…Giờ đây tục hiến sinh đã hoàn toàn bước ra khỏi tập tục cư dân ven biển Đồ Sơn
1.3.2 Dân ca văn hoá dân gian Đồ Sơn
Nói tới văn hoá Đồ Sơn đặc biệt là văn hoá dân gian, không ai không nhớ đến Bà Đế - Bà Mẹ văn hoá và một kho những huyền thoại lung linh bao quanh
bà Theo huyền thoại, Bà Đế có diện mạo hoàn toàn giống các bà mẹ văn hoá ở nhiều vùng trên miền Bắc nước ta như Bà Chúa Cháy, Bà Chúa Mua, Bà Nhữ
Trang 17Nương… Các bà ấy đều có sự tích lên đồi cắt cỏ, cũng cất cao tiếng hát rồi lại cũng có cuộc trùng phùng với Vua Thuỷ Tề Các bà là sự huyền thoại hoá những chủ nhân đã sinh ra những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần ở địa phương Những giá trị văn hoá ấy đều mang đặc điểm phương thức sản xuất Trong nghi thức thờ các bà thường có tập tuc rước đèn, cầu vật, đánh phết liên quan tới những nghi thức nông nghiệp Còn Bà Đế tiêu biểu cho một vùng đánh cá Nhưng điều ta lưu tâm ở đây không chỉ là nghành sản xuất ngư nghiệp ở Đồ Sơn
mà còn là những sáng tạo về nghệ thuật dân gian Theo huyền thoại, Bà Đế là người sáng tạo lối hát đúm, một mình thức hát đối ở Đồ Sơn
Một sinh hoạt phổ biến của cư dân nông nghiệp xưa trong khu vực Đông Nam Á là hát đối đáp (nam - nữ) vào ngày hội mùa Ngày xưa người ta đã có đầy
đủ bằng chứng để khẳng định rằng “hội mùa” mới chính thức là ngày tết đầu năm của các dân tộc Đông Nam Á, hát đúm Đồ Sơn cũng là một hình thức hát đối đáp trong khung cảnh hát cổ truyền ấy, Đúm như nghĩa từ nguyên thuỷ của
nó là một tập hợp không có một số lượng chính xác, ví dụ “ Đúm Mạ”, “ Đàn Đúm” Đúm có liên hệ gần gũi với các từ túm, cúm, tụm Như vậy hát “ Đúm”
có nghĩa là hát từng đám, từng cụm con trai, con gái tập hợp nhau lại hát trao duyên Hát Đúm được gắn liền với sự tích bà Đế, có diện mạo như các bà mẹ sáng tạo ra hát quan họ, hát trong quân, hát đối đáp Vì vậy về cơ bản “ Đúm” cũng giống các hình thức hát giao duyên của nhiều vùng trên đất nước ta
Hát “ Đúm” thường tổ chức vào những ngày hội mùa Nhưng không chỉ chung nhau lại vá lưới, xe đay… Trên các sân nhà hoặc trên các bãi biển, cũng
có thể tổ chức ngay những cuộc hát say xưa, quyến rũ… Cuộc hát trong nhà tiến hành một cách đơn giản Những cuộc hát tổ chức trên bãi biển tú vị hơn cuộc hát trong nhà
Cũng giống như nhiều hình thức hát đối khác, lề lối hát Đúm gồm 3
Trang 18Biết bao thế kỷ đã trôi qua, cũng như hát quan họ, hát đối đáp, giao quyên, hát Đúm chưa bao giờ ngừng tiến Nó đi mãi cùng với dân tộc luôn lạc quan can đảm và giàu lòng nhân ái
Không chỉ là quê hương của làn điệu hát Đúm mượt mà, chan chứa tình yêu, Đồ Sơn còn là vùng đất của lễ hội chọi trâu diễn ra vào mùa thu tháng tám hàng năm
Có thể khẳng định lại rằng nền văn hoá Đồ Sơn là một nên văn hoá đặc sắc, đâm đặc tính chất biển Nó là kết tinh của sự sáng tạo của cư dân ven biển
Đồ Sơn, những con người đầy dũng cảm can trường đã “cưỡi sóng đè gió” trong suốt bao năm qua, bắt buộc thiên nhiên phải phục vụ cho cuộc sống của mình
1.3.3 Vài nét về tính cách của dân cư ven biển Đồ Sơn
* Người Đồ Sơn ăn sóng nói gió, dũng cảm, can trường
Làm chủ những phương tiện kỹ thuật của nghề đi biển một nghề đầy thử thách khó khăn, là những con người có một bản sắc tinh thần, thể chất đặc biệt kiểu Đồ Sơn
Người Đồ Sơn có vóc dáng cao lớn, da săn lại vì “nhuộm nắng vàng” và ngâm muối măn biển Đông Con người Đồ Sơn có dáng đi mạnh mẽ, hành động cương quyết, giọng nói có âm lượng lớn và tính tình bộc trực Vì vậy ngạn ngữ
Đồ Sơn có câu nói về đặc tính này như sau, “ăn sóng, nói gió” Cuộc sống vật lộn với biển khơi đã tạo cho con người lòng dũng cảm phi thường
Trang 19“Gặp giông tố chẳng rời tay lái Làn sóng dâng hăng hái vượt qua Mênh mông mặt nước bao la Cánh buồm không gió thì ra tay chèo.”
Người họ Hoàng ở Đồ Sơn thường hay kể rằng cha ông họ đã từng theo vua Trần đánh quân Nguyên Mông trên đất Bạch Đằng, theo ông He đánh giặc Trịnh tung hoành trên biển Bên cạnh đó là những truyền tích về cụ Nhạn cụ thể can đảm chống giặc cướp, phóng mũi lao xuyên qua khiến cắm phập vào bụng cướp, chèo một đợt mái lao được cả con thuyền trượt lên bãi cát hàng vài sải Truyền thống can trường được người Đồ Sơn gìn giữ nguyên vẹn người
Đồ Sơn thường kể về cơn bão số 7 (1968) xảy ra đột ngột với sức gió hơn 200km/giờ Con thuyền của ông Ngô Văn Để bị gió đưa như tên bắn không kịp
hạ buồm nữa, thuyền trưởng quyết định chặt cột buồm Thế là chỉ với 7 nhát dao cột buồm to bằng gỗ táu cực kỳ chắc dẻo đã gục xuống, cùng lúc đó gió lật úp thuyền xuống biển Mọi người đã vật lộn với sóng dữ suốt 20 ngày mới vào được đất liền Truyền thống gan dạ, kiên cường đó của người Đồ Sơn đã được phát huy cao độ trong những năm chống Mỹ cứu nước Bất chấp giặc Mỹ dùng máy bay, tàu biển hạm đội 7, thuỷ lôi dày đặc, người Đồ Sơn vẫn bám biển không rời Mọi chỉ tiêu đánh cá đều hoàn thành vượt mức
*Người Đồ Sơn hiểu biết về thiên nhiên phong phú, có tinh thần tập thể lạc quan yêu đời
Một trong những mối đe doạ đối với con người đi biển là sự thay đổi đột ngột của thời tiết Điều đó bắt buộc người đi biển nói chung, người dân Đồ Sơn nói riêng phải nắm được tính khí thất thường của đất trời để việc sản xuất đạt kết
Trang 20quả Người Đồ Sơn hiểu biết về thiên nhiên khá phong phú, đặc biệt là sự dự báo thời tiết
Nhìn ánh chớp từ phía núi Gôi có thể đoán trời có mưa Nhìn chớp đầu ngọn Độc biết trời vẫn nắng Những câu tục ngữ Đồ Sơn phần nào nói lên điều
đó
“Chớp núi Gôi bỏ nồi rang thóc Chớp đầu Độc bỏ thóc ra phơi”
Dũng cảm và thông minh hiểu biết về thiên nhiên là cần thiết nhưng chưa
đủ Khi đã lên thuyền điều cần thiết nhất là người có mặt ở đó phải là một tập thể cùng chung ý chí : “Chém nhau đằng mũi, hoà nhau đằng lái” Người Đồ Sơn cho là như vậy, cuộc sống vật lộn với biển khơi không phải là khó khăn gian khổ Nghề nghiệp của người dân luôn bị thiên tai đe doạ, thêm vào đó là sự kỳ thị của xã hội cũ đối với người dân đánh cá Xã hội cũ miệt thị họ, mặc dầu vậy ngưòi Đồ Sơn vẫn có những sáng tạo về văn học dân gian rất đặc sắc, và trong đời sống hàng ngày vẫn biểu hiện một lối cư xử rất văn hoá “Ăn trông nồi ngồi trông hướng”, và một tinh thần rất mực lạc quan, yêu đời
“Quanh năm đánh cá trăm nghề Đến lúc nước kém lại về vui chơi”
Ý chí ấy tinh thần ấy được người Đồ Sơn gửi gắm vào từng cặp sừng từng
sự dũng cảm của mỗi con trâu trong hội trọi trâu, một sinh hoạt văn hoá mang đậm đà bản sắc dân tộc, độc đáo, có một không hai của người dân ven biển Hải Phòng
Trang 21Hội trọi trâu được tổ chức hàng năm thực sự đã tôi luyện cho người dân
Đồ Sơn lòng dũng cảm, tinh thần thượng võ quyết chiến,quyết thắng, lưu truyền
từ đời này sang đời khác
Trang 22CHƯƠNG II
LỄ HỘI CHỌI TRÂU Ở ĐỒ SƠN - HẢI PHÒNG
Hội chọi trâu Đồ Sơn có từ bao giờ? Tại sao lại có hội chọi trâu? Hiện nay
có rất nhiều lập luận khác nhau về vấn đề này
Song trước khi đi tìm hiểu về nguồn gốc của lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn phải hiểu thế nào là lễ hội, lễ hội cổ truyền?
2.1 Khái niệm lễ hội, lễ hội cổ truyền
* Khái niệm lễ
Trong Tiếng Việt, lễ chính là khuôn mẫu của người xưa đã quyết định các phép tắc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan hệ xã hội Lễ hay lễ nghi trong thờ cúng là những nghi thức được con người tiến hành theo những quy tắc, luật tục nhất định mang tính biểu trưng nhằm đánh dấu một sự kiện nhân vật nào đó với mong muốn nhận được sự tốt lành, sự giúp đỡ từ những đối tượng siêu hình mà người ta thờ cúng Dưới góc độ nào đó, lễ hội được coi là bức thong điệp của hiện tại gửi quá khứ, là hoạt động biểu trưng của thế giới hiện tại gửi thế giới siêu hình Lễ không chỉ quyết định chi tiết về thái độ, cử chỉ bên ngoài mà còn tạo điều kiện hình thành một trạng thái tinh thần tương ứng trong mỗi con người Lễ cũng đồng thời trở thành phương tiện để tự sửa mình, điều chỉnh mình cho đúng mực Trong chiều dài lịch sử mỗi dân tộc, lễ còn được coi
là phong hóa của quốc gia, dân tộc đó, là những biểu hiện trong thuần phong mỹ tục, những tập tục truyền thống, lối sống nếp sống và tập quán sinh hoạt của một cộng đồng dân cư được hình thành và củng cố theo thời gian Lễ không chỉ là
lễ bái, cúng tế mà phải coi lễ là kỉ cương, phép tắc góp phần tôn vinh, củng cố và bảo vệ sự tồn tại và phát triển của gia đình xã hội
Trang 23Phần lễ bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng những đồ vật được sử dụng làm đồ tế lễ mang tính chất linh thiêng được chuẩn
bị rất chu đáo và nghiêm túc Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thánh thần ( thiên thần và các nhân thần ) do chính con người tưởng tượng ra và họ cầu mong thánh thần bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai, cuộc sống của mình
* Khái niệm hội
Trong Tiếng Việt, hội là danh từ để chỉ sự tập hợp một số các nhân vào trong một tổ chức nào đó tồn tại trong một không gian thời gian cụ thể Đôi khi, hội chỉ sự liên kết giữa các cá nhân tổ chức có chung mục đích hoặc có mục đích gần gũi Đặc điểm cơ bản, xuyên suốt của hội (trong lễ hội) là có sự tham gia của đông người và trong hội người ta được vui hơn thoải mái hơn Các hoạt động này thường được diễn ra thường niên theo phong tục tạp quán của các địa phương vùng miền hoặc tổ chức vào các dịp đặc biệt trong năm để hướng tới tôn vinh với mong muốn để đạt được những mục tiêu giá trị cụ thể trong đời sống cộng đồng Như vậy trong lễ hội lưu giữ một phần kho tàng di sản văn hóa đặc sắc của địa phương Trong các hoạt động của hội còn bao gồm các chương trình vui chơi giải trí hiện đại mang màu sắc thời gian, phán ánh và thể hiện trình độ phát triển của cộng đồng dân cư của một địa phương hay toàn xã hội vào thời gian mà nó ra đời và tồn tại Các hoạt động diễn ra trong hội bao gồm các trò chơi dân gian, các hình thức diễn xướng dân gian do người dân trực tiếp tham gia, các hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống và cả nước hoạt động mang tính hiện đại Trong hội có thể tìm thấy những biểu tượng điển hình của sự thể hiện tâm lý cộng đồng, những đặc trưng của văn hóa dân tộc, những quan niệm cách ứng xử với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của cộng đồng người Những hoạt động diễn ra trong hội luôn phán ánh và thể hiện một phần lịch sử
Trang 24một cộng đồng dân cư nhất định, là cuộc vui tổ chức cho đông đảo người dự theo phong tục tập quán Những hoạt động diễn ra trong hội phản ánh điều kiện khả năng trình độ phát triển của địa phương đất nước ở thời điểm diễn ra các sự kiện
đó Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của các tầng lớp, diễn ra trong các chu kì về không gian thời gian nhất định
để tiến hành những nghi thức mang tính biểu trưng về sự kiện và nhân vật được thờ cúng Những hoạt động này nhằm tỏ rõ những ước vọng, ước mơ nhân dân
gửi gắm
Phần hội bao gồm các trò vui chơi, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian mang tính chất vui nhộn, hài ước cho tất cả mọi người cùng tham gia Hay nói cách khác đó là cách thức giải phóng con người ra khỏi bức xúc hàng ngày trong cuộc sống đời thường bằng sự tự biểu hiện
Tuy nhìn ra 2 hệ thống như vậy song thực chất lễ hội không tách bạch ra từng phần và mức độ lễ, mức độ hội của từng lễ hội cụ thể cũng không giống nhau
Như vậy lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian xác định nhằm nhắc lại một sự kiện, một nhân vật lịch sử, đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa với tự nhiên, thần thánh và con người trong xã hội Điều đó đã phản ánh bản chất và những nội dung tư tưởng của dân tộc Việt Nam
Lễ hội nói chung, đặc biệt là lễ hội cổ truyền đều xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, thường diễn ra như một cơ hội để con người thể hiện tấm lòng sùng kính của mình với đức tin mà mình đã chọn Lễ hội cổ truyền là thời điểm thiêng liêng quan trọng của cộng đồng làng xã, vùng, liên vùng, miền, quốc gia, dân tộc Nếu trong cuộc sống đời thường con người chú ý đến văn hóa ăn, văn hóa mặc, văn hóa giao tiếp, văn hóa tâm linh.Như những yếu tố khá riêng rẽ
Trang 25và không phải ai ai cũng có điều kiện chú trọng mọi yếu tố trong rất nhiều yếu tố
kể trên, thì có thể thấy chúng xuất hiện đồng loạt trong lễ hội Đầy đủ và tinh túy, sang trọng và thành kính, tập hợp tất cả các nhu cầu văn hóa của người dân
có thể có được và thường tập chung vào dịp lễ hội của địa phương
Theo định nghĩa của UNESCO,Văn hoá truyền thống(Traditional) “Là các tập quán và biểu tượng xã hội mà theo quan niệm của một nhóm xã hội thì được lưu giữ từ quá khứ đến hiện tại thông qua việc lưu truyền giữa các thế hệ và có một tầm quan trọng đặc biệt(ngay cả trong trường hợp các tập quán và biểu tượng được hình thành trong khoảng thời gian không lâu)” [36-tr.5] Lễ hội thuộc phạm trù của văn hoá, do vậy khái niệm lễ hội truyền thống có thể bao trùm cả những lễ hội cổ truyền đã có từ xa xưa và cả những truyền thống lễ hội được xác lập mấy chục năm trở lại đây như lễ hội kỷ niệm ngày quốc khánh,lễ hội Làng Sen Tuy nhiên, ở nước ta khi sử dụng cụm từ lễ hội truyền thống thông thường được hiểu như lễ hội cổ truyền
Với bộ mặt cấu trúc như vậy, lễ hội cổ truyền đã trải qua các thời đại lịch
sử như thế nào? Nó có nguồn gốc ra sao? Đó là mối quan tâm của nhiều ngành, nhiều giới, đặc biệt là các nhà nghiên cứu văn hoá, dân tộc học và sử học
Ở đây tôi chỉ đề cập tới nguồn gốc lễ hội chọi Trâu ở Đồ Sơn, một di sản văn hoá đặc sắc của cư dân ven biển Hải Phòng
2.2 Nguồn gốc lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn-Hải Phòng
2.2.1 Lý giải nguồn gốc hội chọi trâu Đồ Sơn theo quan điểm của Lê Bá Căn - (Vạn Sơn - Đồ Sơn)
Ông Lê Bá Căn (Vạn Sơn - Đồ Sơn) thuộc dòng họ có lịch sử lâu đời ở Đồ Sơn, có kiến thức rộng về lịch sử cũng như lễ hội chọi trâu đã căn cứ vào thời điểm ra đời của 3 loại công trình kiến trúc cổ nhất ở Đồ Sơn (Đền Nghè ra đời
Trang 26được xây dựng từ thời Lý Thánh Tông năm thứ 4 và các ngôi đền mãi đến sau hội nghị Diên Hồng của nhà Trần mới có) để đi tới nhận định rằng:
Hội chọi trâu ở Đồ Sơn -Hải Phòng ra đời thời thành Hoàng làng và đền Nghè ở Đồ Sơn, ngay từ lúc quần thể dân cư ở đây chưa đủ điều kiện hình thành làng xã mà mới có cư dân các xóm bám sát chân núi chuyên cáy cấy dưới vùng
và trồng cây rau quả, rau màu trên các đồi xung quanh như, xóm Ngọc, xóm Chẽ, cầu Gầy cùng các vạn của những cư dân đánh bắt hải sản: Vạn Hương, Vạn Hoa, Vạn Bún, Vạn Lễ
Sau khi cư dân đông đúc, nhiều làng xã được hình thành, người ta vẫn thờ chung một thành hoàng và chung một lễ hội Thời điểm này cách đây trên dưới
1000 năm
Lê Bá Căn cũng khẳng định rằng
“Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn là một sáng tạo văn hoá của con người Đồ Sơn
để lại cho đời con cháu mai sau Đó là sự thực do tư duy của con người sáng tạo chứ không phải là chuyện thần thoại hoang đường”
Trên cơ sở lập luận đó, Lê Bá Căn đi tới lý giải nguồn gốc của lễ hội chọi trâu Đồ Sơn Theo ông con người xưa quan nịêm, khi một quần thể cư dân đạt tới mức đông đúc thì bên cạnh nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần cũng tăng lên Nhu cầu xã hội ấy là tìm được 1 vị thần, một vị thành Hoàng tôn thờ để cầu xin
sự may mắn và thịnh vượng và tổ chức 1 lễ hội cho dân chúng vui chơi sau những ngày lao động vất vả Người xưa quan niệm thần thánh là linh thiêng, là
uy lực chế ngự Sau khi biết thành Hoàng báo mộng mọi người thống nhất lấy ngày hội chọi trâu làm lễ hội hàng năm của mình
Lê Bá Căn lý giải “Thành Hoàng báo mộng” là do sự khôn khéo của người xưa đã biết dựa vào uy lực của thần quyền để tranh thủ sự nhất trí cao của dân chúng
Trang 272.2.2 Những huyền tích liên quan đến sự hình thành lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn
*Thần tích cá Kình
Nhiều lão làng kể lại rằng “Cư dân làm nghề mò cua bắt cá ở Đồ Sơn thường bị cá Kình ăn thịt” Trước sự hung tợn của quái vật, con người chỉ biết cầu nguyện thần linh phù hộ, vào thượng tuần tháng 6 các cụ già làng sắm lễ vật, lập đàn cầu nguyện tại đền Nghè (nay thuộc phường Vạn Hương) Tại lễ cầu nguyện mợi người khấn với thần linh mong diệt được quái vật và hứa hàng năm dân làng sẽ mổ trâu để tạ lễ Quả nhiên sau 2 tháng, trong một đêm mưa giông, sấm chớp ầm ầm, sáng ra bên bãi biển mọi người đều thấy con cá Kình hung dữ chết trôi vào phía Tây đảo Trên hầu cá có vết chim câu mổ nên người ta cho rằng có loài chim thần giáng thế độ dân Nơi cá chết này thành địa danh là dốc
Mả Cá Cũng từ đó dân bắt cá không còn bị cá Kình hung dữ ăn thịt nữa
Để giữ lời hứa với thần linh, họ đi mua trâu về mổ để tế thần, qua đình hai con trâu quay vào chọi nhau quyết liệt Người dân cho rằng thần thích xem trâu chọi nên hàng năm tổ chức chọi trâu để tế thần và hội chọi trâu bắt đầu từ đó
*Huyền tích Bà Đế
Trên mỏm núi Độc cô đơn một nếp chùa nhỏ rêu phong bốn tàu mái lợp ngói mũi hài với bốn đao cong trong chùa có tượng một người đàn bà được tôn kính trên chiếc ngai sơn son thiếp vàng, Người đàn bà ấy nhân dân kính cẩn gọi
là bà Đế Câu chuyện về bà được kể như sau : Ngày xưa ở Đồ Sơn có cô thôn nữ rất xinh đẹp, hát hay tên là Đế ở với cha mẹ già, ngày ngày cô cùng bạn bè lên núi nuôi trâu Một hôm vừa cắt cỏ Đế vừa cất cao giọng hát
“Tay cầm bán nguyệt xênh xang Muôn vàn cây cỏ lai hàng theo ta”
Trang 28Thì thuyền của vua Thuỷ Tề đi qua Nghe có tiếng hát vua vội lên núi tìm người, vua thấy một cô gái xinh đẹp đang cắt cỏ có mây vàng che chở trên đầu, biết cô gái không phải người thường vua liền đón xuống thuyền Hai người ân ái với nhau suốt ngày hôm đó mãi tới tối mới chia tay Đế trở về nhà, một thời gian sau
có mang, bụng mỗi ngày một to Không biết cuộc tình duyên của Đế với Thuỷ Thần, những kẻ độc ác trong làng muốn được ăn uống bèn tìm cách phạt vạ Đế rồi mang nàng ra biển dìm Dìm mãi vẫn thấy Đế nổi lên,bọn sát nhân sợ hãi bỏ chạy Đế không chết nhưng cũng không bao giờ trở về quê hương nữa Nàng được vua Thuỷ Tề -chồng của nàng đón về cung Chỗ Đề bị dìm có rất nhiều cá Thuyền của các vạn chài tranh nhau đánh Vì thế người ta tổ chức chọi trâu, đem con trâu thắng cuộc đưa xuống chỗ Đề bị dìm cầu thuỷ thần ban lộc và đồng thời giao quyền độc chiếm bãi cá cho các giáp có trâu thắng
*Thần tích Điểm Tước Đại Vương
Thần tích về Điểm Tước Đại Vương được kể như sau:
Cách đây 18 thế kỷ, khi con người mới đặt chân lên đất Đồ Sơn cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn, trắc trở, thiên nhiên khắc nghiệt, bão tố hạn hán luôn
đe doạ, không trồng được lúa Người Đồ Sơn lúc ấy chỉ biết ngửa mặt kêu trời mong thần linh phù hộ Cho tới một hôm trời yên biển lặng, dưới ánh trăng dằm tháng 8 người ta rủ nhau ra bãi biển đón gió, thưởng trăng, bỗng nhiên họ thấy một vầng hào quang, mây đang tạnh bỗng ập xuống một cơn mưa mát đất Sau buổi tối hôm đó người Đồ Sơn cho rằng thần linh đã giáng hạ báo cho họ biết để thờ phụng Nhưng sau khi người ta chuẩn bi đầy đủ mọi nghi thức thờ thần mà vẫn không biết hậu duệ của thần là gì để cầu khẩn Vì vậy mọi người tiến hành cúng tế suốt một tuần trăng cầu xin thần cho biết hậu duệ Vào ngày cuối cùng cuộc lễ, người ta đặt trong đền thờ một mâm bột gạo cùng toàn thể dân đi lễ rút
ra khỏi đền Vài ngày sau khi mọi người trở lại đền thấy những vết chân chim in trên mâm bột họ đã hiểu được hậu duệ của thần là Điểm Tước Đại Vương Vì
Trang 29vậy trong cảnh ra mắt của thần có cuộc chọi trâu nên hàng năm nhân dân tổ chức chọi trâu cho đẹp lòng thần Trên đây là cách giải lý về nguồn gốc lễ hội chọi trâu nhuộm đầy màu sắc huyền bí kỳ lạ của nhân dân Đồ Sơn xưa
Dựa vào câu chuyện lịch sử về vị thủ lĩnh của phong trào nông dân thế kỷ
18, Nguyễn Hữu Cầu người ta lại đưa ra một cách giải thích hết sức mới mẻ về nguồn gốc lễ hội chọi trâu Đồ Sơn
Sau khi hợp số quân còn lại cuộc đàn áp của chiều đình 1771 Nguyễn Hữu Cầu kéo quân về Đồ Sơn xây dựng lực lượng Từ đây đây ông trở thành một lãnh
tụ mới của phong trào khời nghĩa nông dân nổi tiếng nhất đàng ngoài Mỗi khi đánh trận thắng lợi ông đều sai người đi mua trâu về khao quân Những con trâu
bị trói chờ mổ bụng dứt thừng lao vào chọi nhau rất quyết liệt Quân sỹ thấy vậy hứng khởi reo hò vang dội Kể từ đó hàng năm Nguyễn Hữu Cầu cho mở hội chọi trâu để cổ vũ động viên tinh thần quân sĩ Cách lý giải này có thể coi là muộn của lễ hội chọi trâu Đồ Sơn Vì theo cuốn “lịch sử người Hà Nội” của nhà xuất bản Văn hoá có ghi
“Hưng Nhượng Vương đến xem hội chọi trâu Đồ Sơn gặp Kỳ Vĩ là người cứu Hưng Nhượng Vương thoát khỏi băng cướp đã kết nghĩa làm huynh đệ” Như vậy theo cuốn sách này, hội chọi trâu ở Đồ Sơn đã có từ rất lâu trước thời Trần
Có thật nhiều cách lý giải khác nhau về nguồn gốc của lễ hội chọi trâu ở
Đồ Sơn - Hải Phòng Có cách mang đầy màu sắc huyền bí, cách mang phong thái của lịch sử, có cách lại rất thực như cuộc sống đời thường Điều đó cho thấy
lễ hội choi trâu ở Đồ Sơn độc đáo, phong phú biết nhường nào và càng khẳng định thêm “Việc đi sâu nghiên cứu lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là rất cần thiết và vô cùng thú vị”
Trang 302 3 Các bước chuẩn bị
2.3.1 Chọn trâu
Năm nào cũng vậy cứ đến sáng mồng 1 tết Nguyên Đán, các cụ kỳ nào 3
xã (Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyến lại ra lễ ở thần đình Công rồi bàn chọi trâu Số trâu dự chọn được chia như sau
Đồ Sơn 6 con, Đồ Hải 4 con, Ngọc Xuyến 2 con Tại sao việc chọn tuyển trâu lại quy định như vậy Một số người cho rằng quyền ưu tiên đó được dành cho người Đồ Sơn bởi họ là chủ nhân đầu tiên của đất này Lại có người cho rằng số đinh tráng của Đồ Sơn đông hơn, phe giáp họ mạnh hơn nên có đặc quyền ấy (Đồ Sơn 800 xuất, Đồ Hải 600 xuất và Ngọc Xuyến 200 xuất)
Khi về đến từng xã, mỗi xã lại chia số trâu dư chọi ra theo giáp, mỗi giáp
1 con và tự bỏ tiền ra đóng góp chi phí cho việc mua và nuôi trâu chọi Người đóng tiền nuôi trâu là nam giới, tuổi từ 18 đến 60 còn nữ giới chỉ người đã nộp cheo
Khi các giáp đã có đủ tiền liền cử 2 vị “sắc sảo nhất đem tiền khăn gói lên đường đi tìm mua trâu Trước nhất đây là việc thờ cúng linh thiêng nên người đi mua trâu phải là người thanh khiết”, gia đình hoà thuận, con cháu đông vui, năm
đó gia đình không mắc vào việc “tang chế” Hơn thế nữa, đó còn phải là người
có kinh nghiệm xem tướng trâu, phải tận tâm, tận lực với phe làng mình Đây là công việc có ý nghĩa quyết định được thua, liên quan tới uy tín phe giáp của làng, tới sức khoẻ và công việc làm ăn của những người sinh sống bằng nghề biển
Trước khi đi mua trâu, các cụ chọn ngày tốt làm lễ ở đình công rồi mới lên đường Hai tư vị chia làm 12 đoàn, mỗi đoàn đi 1 ngả Có đoàn được phân công
đi mua ở gần, có đoàn đi xa, có đoàn chỉ sang xã bạn như Tú Sơn, Đại Hợp đã mua được trâu dắt về Nhưng có đoàn phải đi Thuỷ Nguyên -Hải Phòng rồi ra Tiên Yên Móng Cái, cũng có đoàn thì đi tận Thanh Hoá, Bắc Cạn, Tuyên Quang
Trang 31Dù xa xôi đến đâu các cụ vẫn đi, đến đâu các cụ vẫn tìm mua trâu đực mộng và nói rõ là mua trâu về chọi, thế nên nhiều người biết Đồ Sơn có mở hội chọi trâu
mà về dự hội
Dân Đồ Sơn đã tổng kết qua nhiều năm thi đấu cho biết Trâu mua được ở chợ Gôi (Nam Định) và Thuỷ Nguyên, Thuỷ Đường (Hải Phòng) Thôi Tiết, Thanh Hà (Hải Hưng) thường hay giật giải
Người mua phải có kinh nghiệm và am hiểu hết sức tường tận về con vật Đầu tiên người mua thường có những cài nhìn tổng quát về con vật chọn thể hiện
ở các đặc điểm sau: thân trắng, ức rộng, háng to, cổ cò, đuôi chai, đít nhót, lưng tôm bà, sừng cánh cung, trường đùi, ngắn đoản, vén đùi nai Hay nói cụ thể đó là một con trâu to lớn, ức rộng nở, háng to Con trâu có một chiếc cổ tròn, khỏe dài nhưng không đều hơi thu nhỏ về phía đầu con vật Lưng trâu cong dày,loại trâu
mà người ta nói để bát nước đầy lên lưng không đổ Điều quan trọng bậc nhất là tìm và nuôi trâu, chọn trâu là một công viêc cầu kì và tỉ mỉ Háng trâu phải rộng nhưng thu nhỏ về phía hậu môn Đuôi trâu tròn chắc,phía hậu môn to rồi thu nhỏ dần về phía cuối đuôi.Đặc điểm cổ cò là một trong những điểm quan trọng vì trâu loại này chịu cúi không biết mệt mỏi
Qua bước nhìn bao quát là tới bước chọn tỉ mỉ,kĩ càng hơn Người mua trâu lấy thước đo từ nách đến gáy trâu Nếu thấy bốn thước rưỡi là trâu trường Phần đầu trâu được đăc biệt lưu ý Sừng trâu phải đen như mun,hai đầu giao nhau như cánh cung hoặc sừng lệch Trâu phải có túm tóc hình chóp.Trâu trên đỉnh có một khoáy tròn ,giữa hai thùy có hai khoáy là trâu có “khoáy tam tinh” Mắt trâu phải đen tròng đỏ
Tiêu chuẩn tiếp theo là tiêu chuẩn về hàm và răng trâu Trâu hàm nghiên hoặc hàm son, răng đều đặn không bị sứt gãy là trâu tốt Phần thân trâu,đăc điểm được chọn dựa vào các khoang trên mình nó Trâu có bốn khoang hoặc hai
Trang 32Xem xét xong phần đầu, phần thân, người mua trâu tiến hành chọn phần chân trâu Trâu tốt chân phải ngắn và mập, đầu gối phải có lông như trâu rừng, móng chân tròn lặng như móng sò
Tiêu chuẩn cuối cùng được chọn là bộ phận sinh dục trâu Nếu trâu “thâm cu” “chéo dái” là hoàn hảo
Về số tuổi trâu phải từ 5-6 tuổi trở lên mới đủ sức chịu đựng cuộc đấu, tốt nhất là chọn trâu ở độ tuổi từ 8-10 năm tuổi Cẩn thận hơn người mua trâu còn phải chú ý đến cả tiếng thở của trâu Con trâu phì càng ít là trâu kín hơi có nhiều khả năng đạt giải
Trên đây là tất cả các tiêu chuẩn của một con trâu tốt (trâu chọi) Nhưng thường thì rất khó có thể chọn được một con trâu có đầy đủ các tiêu chuẩn trên Người mua có thể bỏ qua những tiêu chuẩn không quan trọng hoặc là trong khi nuôi trâu người ta có thể tạo ra một số tiêu chuẩn của con vật trước đây chưa có theo ý muốn
Nếu được con trâu ưng ý mà giá rẻ, thì dù thưa tiền giáp cũng tặng luôn cho người mua, người nuôi như thể động viên
Mua được con trâu chọi vừa ý là một điều đáng mừng Nhưng để con trâu phe mình giành chiến thắng trên sới chọi thì còn phải phụ thuộc vào nhiều điều khác nữa, nhất là khâu chăm sóc và luyện tập cho trâu
2.3.2 Chăm sóc trâu chọi như thế nào
Sau khi đã mua trâu về, các giáp cắt đặt người nuôi trâu Đây là loại trâu chọi, trâu tế thần nên không phải ai chăn ắt cũng được, ai chăm sóc cũng xong Người được giáp giao nuôi trâu phải là người khá giả, được làng tin cậy, không mắc tang chế, có kinh nghiệm nuôi trâu Thường thì ông trưởng giáp chọn 2 thanh niên khoẻ, nhanh nhẹn giao để nuôi trâu với một số nội dung được cả giáp bàn soạn khá chặt chẽ, không để trâu khác biết hình thù trâu mình ra sao, cấm mang trâu chọi đi cày bừa Nếu phạm phải điều nào đó thì người nuôi trâu phải
Trang 33bồi thường, bị phạt vạ khá nặng Người chăm sóc trâu chọi phải “sáng dắt trâu đi chăn, chiều tắm rửa sạch sẽ cho trâu Khi về kèm theo một bó cỏ non không được cưỡi lên mình trâu”
Trâu chọi phải nuôi ở chuồng riêng, chuồng nuôi trâu phải thoáng mát, không được để tanh hôi, không bao giờ nhốt chung với trâu nhà Để phục hồi tính đơn độc, hoang dã của nó, trâu chọi được chăn riêng và tránh nhìn thấy trâu cày
Hàng ngày trâu được ăn cỏ tươi non, tắm rửa sạch sẽ không chấy rận Người ta lấy nước ở suối Rồng về cho châu uống một ngày 2 lần Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn của trâu sẽ được nâng cao dần cho tới khi trâu bước sới chọi chính thức
Người được giao nhiệm vụ nuôi trâu chọi coi đó là một vinh dự và trách nhiệm lớn đối với làng xã nên hết sức tận tâm nuôi trâu béo khoẻ Tối giao trâu, ông trưởng giáp xem xét kỹ và đồng ý nhận thì 2 thanh niên chăn dắt trâu mới được về Lúc đó các cụ lên đèn đánh tổ tôm còn trai trẻ đến tập luyện cho trâu chọi
2.3.3 Tập luyên trước khi đưa trâu chọi vào sới đấu chính thức
Từ khoảng tháng 5 trở đi người ta tiến hành luyện tập và lựa chọn trâu chọi Ngày đầu tập cho trâu chọi, người ta sẽ giữ thừng sát mũi trâu rồi reo hò nhốn nháo làm cho trâu chọi hoang mang sợ sệt,họ tập khoảng 10 giờ đêm thì nghỉ, uống với nhau chén rượu suông
Năm mười ngày sau khi trâu đã quen thì tháo mũi trâu, tìm đủ mọi cách làm cho trâu bạo dạn hơn, nhanh nhẹ hơn Con trâu to lớn nhưng lại nhát người
và sợ ồn ào Mọi người có mặt ở nơi tập phải hò hét inh ỏi Người ta còn phủ vải
đỏ lên mình trâu và đầu trâu, ghé trống chiêng vào sát tai trâu đánh với mục đích làm cho trâu quen dần với không khí ngày hội, thậm chí gây cho trâu sự thay đổi
Trang 34châu khác tới cho trâu tập đánh Cứ thế đến ngày mồng 1 tháng 6 âm lịch, các làng đưa trâu ra tập công khai và bắt đầu vót sừng trâu Có nhiều kiểu vót sừng, vót sừng múi khế nếu là trâu hay rập, vót sừng hình tam giác nếu là trâu hay đánh ngang, vót nhọn như đinh nếu là trâu hay cáng sừng (Xưa do cay cú được thua, người ta vót nhọn sừng trâu, cho trâu chọi gây thương tích đến chết, ngày nay tục lệ này bị cấm hoàn toàn)
Sau nhiều ngày tháng được chăn dắt cẩn thận, tập luyện chu đáo tới ngày mồng 8 tháng 6 âm lịch trâu được tham dự vòng đấu loại
Trước cách mạng tháng 8, theo đơn vị hành chính lúc bấy giờ ,tổng Đồ Sơn chia làm 3 xã: Đồ Sơn,Đồ Hải,Ngọc Xuyên Mỗi xã có các giáp và số trâu chọi được chia đều cho mỗi giáp chỉ có 6 con được vào dự chọi Vì vậy phải tiến hành đấu loại từ trước Viêc quy định mỗi giáp góp một trâu không chỉ nhằm mục đích tuyển chọn trâu tốt tham gia thi đấu mà còn vì sau khi thi đấu,mỗi giáp đều có số thịt trâu chia cho mọi người trong giáp
Cuộc đấu loại ngày mồng 8 tháng 6 chỉ có trâu làng nào chọi với trâu làng
ấy để chọn trâu dự hội ngày mồng 8 tháng 6 nên nhiều người quan niệm là chọi thử ít chú ý nhưng thực ra thì chọi này rất hấp dẫn và sôi động Mở đầu cuộc chọi trâu mồng 8 tháng 6 cửa Đình Công mở rộng, khói hương bay nghi ngút Sáu trâu của Đồ Sơn dắt ra trước không cho nhìn thấy nhau, sau đó gép thánh 3 đôi để chọi tranh giải nhất, nhì ba, Đồ Sơn Tiếp sau trâu Đồ Sơn, trâu Đồ Hải cũng ghép 4 con thành 2 đôi với nhau cho chọi để phân bậc nhất nhì Sau Đồ Hải đến Ngọc Xuyến ghép 2 con làm 1 đôi để chọn lấy 1 tham gia vòng chung kết Khi vào trận đấu chính thức, trâu nhất, nhì, ba của Đồ Sơn sẽ đấu với trâu nhất, nhì của Đồ Hải và Ngọc Xuyến Tức là chỉ có 6 con trâu chọi chia làm 3 kháp tham gia vòng đấu chính thức
Những con trâu bị loại vẫn được nuôi dưỡng bình thường còn 6 con thắng
ở trận này được chăm sóc ưu tiên hơn để chờ đấu giải vào ngày 9 tháng 8
Trang 35Lần tuyển chọn trâu vào tháng 6 được tiến hành gần đúng như thể thức ngày hội Các giáp cũng phải rước Long Đình, cũng trống phách, cờ quạt ra đình tiến lễ xin thần Bãi đấu loại cũng chính là bãi đấu thực sự của ngày hội Điều đó
có lẽ nhằm làm cho trâu chọi quen với không khí thi đấu của buổi thi chính thức sau này
Sau đợt sơ kết, sáu con trâu thắng cuộc ở vòng loại được bồi dưỡng tối đa, đồng thời người ta cũng ra sức tập luyện trâu chọi Làng nào làng ấy rộn ràng tiếng chiêng trống, tiếng reo hò chẳng kém các cuộc hội làng
*Vài điều cấm kỵ trong quá trình huấn luyện trâu chọi
- Trong quá trình nuôi và huấn luyện trâu chọi, người ta có một số tục lệ kiêng khem cho loài trâu tế thần này
+ Trâu chọi không được mang đi cày, cấm không được ngồi lên lưng trâu chọi, cấm nhốt chung với trâu nhà, cấm được để cho trâu khác biết
+ Phải tránh cho trâu gặp đám ma Khi trâu biếng ăn, mệt mỏi thì người nuôi trâu phải sắm đèn nhang khấn thần phù hộ cho trâu chóng bình phục
+ Mọi công việc mua bán, chăm sóc trâu do nam giới đảm nhận Người phụ nữ chẳng những không được phép gần trâu (kể cả người phự nữ trong các gia đình được chăn dắt trâu) mà còn phải ý tứ lảng tránh nếu gặp trâu ở ngoài đường
2.4 Cách thức tiến hành lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn
Lễ hội chọi trâu xưa là một liên làng trong đó chọi trâu chỉ là một tiết mục được tổ chức trong hội làng kéo dài hơn 10 ngày ở Đồ Sơn, nhưng đó lại là tiết mục chủ yếu, độc đáo, trung tâm của hội làng ở Đồ Sơn
Từ mồng 1 tháng 8 âm lịch, các cụ già làng quần áo chỉnh tề ra Đình Công làm lễ tế thần và khai hội chọi trâu Các ông lão mặc quần sồi áo lụa, thanh niên
Trang 36lão bà, người cái thúng, người cái mẹt bày bán quả ổi, qua na, bát nước vối Các ông xẩm gò lưng kéo nhị, gẩy đàn bầu còn các cô đào thì trầm bổng nỉ non đào kép và người làm trò về hát đến hết ngày mồng 8 Các trò chơi khác như thi vật, chọi gà cũng được tổ chức và trao giải theo từng ngày Riêng giải cờ tướng đến hết ngày mồng 8 mới trao giải
Ngày chính hội (9/8 âm lịch) là ngày mà trong tâm thức người Đồ Sơn thực sự háo hức và mong đợi Bà con ở Trà Cổ, Móng Cái “cùng tổ tông” với dân Đồ Sơn ở xã 3 ngày thuyền dong buồm, ngược nước kéo về, Người từ các vùng lân cận đi bộ, đi xe kéo tay thậm chí đi bộ qua đêm hàng chục cây số cùng
nô nức về dự hội
Đêm trước ngày hội cả thị xã Đồ Sơn không ngủ Người ta đốt pháo thắp hương, rầm rì bàn tán về cuộc chọi trâu ngày mai Những chủ trâu thì thầm tâm sự, căn dặn con trâu của mình như với một người bạn tri âm Tất cả nô nức chuẩn bị để ngày mai ra trình làng trước sới đấu
Theo truyền thuyết và thần tích thì lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn là lễ hội cầu thịnh vượng và hạnh phúc cho người dân địa phương có từ thế kỷ thứ 18 Qua các truyền thuyết và thần tích ở Đồ Sơn thì những vị tổ đầu tiên lập nghiệp đã chọn nghề đánh cá Trong cuộc đấu tranh sinh tồn thủa sơ khai, con người tự tìm một đấng quyền uy linh thiêng làm chỗ dựa Người dân Đồ Sơn vẫn truyền nhau sự tích lễ hội chọi trâu: Một đêm rằm tháng 8, dân miền biển Đồ Sơn nhìn thấy một tiên ông đang say sưa ngắm hai chú trâu chọi nhau trên những con sóng bạc
Giấc mơ gặp tiên ông xem cặp trâu chọi nhau trên bãi biển và vết tích
"Điểm tước đại vương" là điềm lành cho các vạn chài ở đây Họ tôn vinh thần chim biển trừ diệt loại cá kình hung dữ, giúp dân yên ổn làm ăn là thành hoàng Người dân đã thờ thần ở đền Nghè và gọi ngài là thần Điểm Tước - vị thành hoàng của ngư dân Đồ Sơn Khi làm lễ tế thần, bỗng có hai chú trâu đến
Trang 37chọi những pha đấu đẹp mắt trước cửa đền Người dân tin rằng thần thích xem chọi trâu, bèn duy trì việc chọi trâu hằng năm và nâng lên thành lễ hội
Cũng giống như bao lễ hội cổ truyền khác trên đất nước Việt Nam, hội chọi trâu ở Đồ Sơn gồm 2 phần lễ hội đan xen với nhau Phần lễ chủ yếu diễn ra sau hậu trường, trước ngày chính hội một vài ngày Phần lễ mang tính thiêng liêng, nơi sân đình thờ tụ với không khí trang nghiêm, náo nức cầu những gì tốt lành mà không mang màu sắc dị đoan Phần lễ vẫn giữ nguyên những nghi thức truyền thống với các nghi lễ trang trọng
Mở đầu là lễ tế thần Điểm Tước, sau đó là lễ rước kiệu bát cống, long đình
cờ thần bay phấp phới, rộn rã trong tiếng nhạc bát âm dẫn trâu đi trình thành hoàng làng Lễ tế thần được tiến hành ở tất cả các giáp của tổng Đồ Sơn Việc tế thần được tiến hành vào lúc nửa đêm Các cụ già làng thắp nén hương khấn xin khí thiêng sông núi, đất trời với vùng biển này phù hộ, độ trì cho con cháu khoẻ mạnh yên ấm, phù hộ các ông trâu được phần thắng trong cuộc chiến ngày mai
Đó cũng như lời xin phép tổ tiên cho con cháu trở lại với hội chọi trâu, một hội làng đã trải qua bao nhiêu biến cố thăng trầm của lịch sử nay vẫn là một ngày hội đông vui nhất của người Đồ Sơn
Ngày 07/8 âm lịch hàng năm, diễn ra lễ rước nước Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn theo nghi thức truyền thống tại đền Nghè -phường Vạn Hương, nơi thờ Thành hoàng làng của vùng đất Đồ Sơn, nơi có nguồn nước tinh khiết, mát lành không bao giờ cạn Lễ rước nước là linh hồn của phần lễ trong lễ hội chọi trâu truyền thống Các phường rước xin nước từ đền Nghè, rước nước “chân sơn” về thờ tại đình làng để đêm 08/8 âm lịch mở hội tế lễ, mùng 09/8 âm lịch mở hội chọi trâu Lễ rước nước là nghi lễ tỏ lòng biết ơn và tôn kính đối với vị thủy thần
hộ mệnh cùng các bậc tổ tiên đã khai phá, mở mang vùng đất.Đây là nghi thức bắt buộc trong Hội chọi trâu truyền thống Đồ Sơn để làm lễ tế trời đất, thành
Trang 38hoàng làng mong cho hội thành công tốt đẹp, người đi biển gặp nhiều may mắn, mang về nhiều tôm cá
Lễ rước nước diễn ra theo nghi thức truyền thống Đại diện các phường lấy nước rồi đưa vào vị trí trang trọng tại đền Nghè, tiếp đó là màn tấu trống chiêng, mời chủ tế ra đọc bản tấu rồi làm lễ dâng hương Sau đó nước được đưa
về thờ tại đình ở các phường và việc thờ nước sẽ diễn ra sau khi kết thúc hội chọi trâu
Từ sáng sớm ngày 9 tháng tám âm lịch, sân đình cả 3 xã Đồ Sơn, Đồ Hải, Ngọc Xuyến đã đầy ắp người cùng kiệu bát công, lonh đình,bát bửu,tàn lọng,cờ xí,đèn nhang,để chuẩn bị rước kiệu về đền chung, rước trâu về sới đấu chính thức
Sới chọi trâu là một bãi đất rộng và bằng phẳng trước cửa đình Công ước khoảng sáu mẫu (20.000 m2) Trên khu đất ấy người ta căng dây, đóng cọc giới Trước cửa đình nơi trang trọng nhất, người ta dựng các xáng có mái che, quây màn trang chí đẹp dành cho những người có chức vị trong tổng hay thượng khách ngồi Hai bên sới chọi người ta dựng các xáng cho trâu chọi đứng chờ xuất hiện Hai lá cờ hội cắm đầu sới tung bay trong gió biển
Khoảng 7 đến 8 giờ sáng các xã lần lượt rước trâu từ đình riêng của từng
xã ra đình chung ( Đình Công) Dẫn đầu là 10 lá cờ hội, tiếp đến là bộ bát bửu, bát âm, sêng tiền, bộ kiểu bát cống cho lọng vàng do các trai làn vạm vỡ khiêng Theo sau đó là những ông trâu Sáu “ông trâu” được tắm rửa sạch sẽ bằng nước thơm, lưng chùm vải đỏ sừng thắt dải lụa hồng, người ta xiên vào mũi trâu một đoan mây nước vót nhẵn đốt để rút ra cho trơn, khỏi đau trâu, mỗi trâu có 2 chàng trai đi kèm Họ đeo trống và mặc trang phục rực lên một màu đỏ Một vị trung niên đầu đội khăn đỏ, áo lương đen quần trắng, tay cầm hương dắt trâu vào miệng hô vang “a ha cụ rập” Hai chàng trai gõ trống hô theo, tất cả mọi người bên ngoài hô theo Đám rước tới cửa Đình Công thì dừng lại Bát hương được
Trang 39rước vào đình còn kiệu để ở ngoài sân Mỗi ông trâu trước khi vào thi đấu phải dừng lại một thoáng trước đền như để trình thần linh rồi sau đó các ông lần lượt được đưa vào các xáng Việc đưa vào xáng phải theo trình tự, trâu nhất vào trước, trâu nhì ba dắt ra xa để tránh chọi nhau Ở đây có 3 chiếc xáng, mỗi xáng quay ra một hướng song đều phải tránh hướng tây là hướng cửa đình
Xáng của Đồ Sơn quay mặt ra hướng Bắc treo bức minh môn thêu kim tuyến “Đệ Nhất Đồ Sơn” Xáng Đồ Hải quay hướng Nam cũng thêu minh môn
“Đệ Nhất Hải Đồ” Xáng Ngọc Xuyến cúng trei minh môn “Đệ Nhất Ngọc Xuyến” Các Xáng được quyấn bằng vải đỏ ghim bằng 4 cọc vải đỏ
Tới gần trưa cuộc tế xong người ta mới cho trâu ra sới chọi Trâu trước khi chọi được chủ trâu cho ăn thêm chuối và cam Vào trận đấu chính thức, sau tiếng trống hiệu nổi lên, 24 thanh niên của 2 bên ăn mặc như vỡ tướng, tay cầm cờ đều múa nhịp nhàng tiến ra sân bãi theo điệu múa mở hội Hàng ngày tiến 3 bước thì hàng kia lùi 3 bước và ngược lại
Hai hàng đan chéo nhau như gài thế trận biểu trưng cho tả xung hữu đột Trong khi múa, những lá cờ được vung mạnh quanh người Cứ thế nhịp nhàng ba lượt theo tiếng trống rồi cùng lùi ra đúng lối đã vào Điệu múa mở trận hùng mạnh vừa kết thúc, người “dịch loa” cầm chiếc loa đài, miệng loa loa rộng rao quanh sới ba lần “loa, loa, loa, Nhất Đồ Sơn và Nhất Đồ Hải hai bên muốn đấu cho đều dắt trâu vào chọi Loa, loa,loa”
Tiếng người dịch loa vừa rứt lần gọi thứ 3 thì từ trong 2 cửa sới, trai Đồ Sơn và trai Đồ Hải cùng vận y phục đỏ dẫn trâu nhất vào sới Khi 2 bên cách nhanh chừng 20m họ dừng lại Người dẫn trâu nhanh chóng rút thừng mũi trâu rồi cùng đồng nghiệp chạy ra ngoài vòng đấu Lúc này trên sới chỉ còn lại 2 “ông trâu” đứng như cắm cẳng ở đúng vị trí mà người ta đã đưa các ông vào Không khí đấu trường bỗng im phăng phắc, không gian như dừng lắng Hai “ông trâu”