Đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam xuất hiện những nhóm, những tổ chức văn hoá tập hợp một lực lượng trí thức cùng chí hướng để hoạt động văn hoá như các nhóm Đông Dương tạp chí, Nam phong t
Trang 1Bộ giáo dục vμ đμo tạo Bộ văn hóa, thể thao vμ du lịch
Trường đại học văn hóa
**********
Nguyễn Phượng Hùng
Tự lực văn đoμn trong tiến trình lịch sử văn hóa việt nam
Chuyên nghành: Văn hóa học Mã số : 60 31 70
Luận văn thạc sĩ văn hóa học
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Lê Quý Đức
Hμ Nội- 2011
Trang 2Mục lục
mở đầu 1
Chương 1 bối cảnh x∙ hội Và VăN Hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 7
1.1 Xã hội Việt Nam trước năm 1945 7
1.1.1 Tình hình kinh tế 7
1.1.2 Tình hình chính trị 8
1.1.3 Tình hình xã hội 11
1.2 Tình hình văn hoá- v n ngh tr c n m 1945 14
1.2.1.Chớnh sỏch v n húa c a chớnh quy n b o h Phỏp 14
1.2.2.Cỏc phong trào canh tõn v n húa 16
1.2.3.S phỏt tri n c a bỏo chớ 17
1.2.4 Tình hình hoạt động văn h c 19
1.2.5 Sự hình thành và hoạt động của các nhóm văn hoá 15
Tiểu kết chương 1 27
Ch ng 2 S RA I C A T L C V N OÀN 29
2.1 Tự lực văn đoàn hình thành và cỏc thành viờn tham gia 29
2.1.1.T l c v n oàn hỡnh thành và tụn ch ho t ng 29
2.1.2 Các thành viên của Tự Lực văn đoàn 31
2.2.Tự lực văn đoàn-một tổ chức văn hoá kiểu mới 40
2.3 Tự lực văn đoàn – sự tiếp nối các hoạt động duy tân văn hóa 45
Tiểu kết chương 2 49
Chương 3 Tự lực văn đoàn trong đổi mới văn ChươNG 50
3.1 Hình thành loại tiểu thuyết luận đề 50
3.2 Đổi mới trong việc xây dựng cốt truyện và kết cấu tác phẩm 52
3.3 Đổi mới về mặt ngôn ngữ và giọng điệu 56
3.4 Góp phần vào sự thành công của thơ mới 60
Trang 33.5.D bỏo và phờ phỏn xó h i 64
Ti u k t ch ng 3 70
Ch ng 4 T L C V N OÀN TRONG I M I T T NG VÀ CÁC L NH V C V N HểA KHÁC 71
4.1 Tự lực văn đoàn trong việc đấu tranh và đổi mới tư tưởng xó h i 71
4.1.1 Chống t t ng và lễ giáo phong kiến 71
4.1.2 Đòi tự do cá nhân, quyền bình đẳng và ngợi ca tuổi trẻ, ngợi ca tình yêu 80
4.1.3 Chủ trương tự lực trong việc giải phóng con người và xã hội 85
4.2 Nh ng i m i trờn ho t ng xu t b n bỏo chớ 89
4.3.Nh ng sỏng t o trong sỏng tỏc h i h a 92
4.4 Nh ng cỏch tõn trong trang ph c 95
4.5 Tự lực văn đoàn đóng góp trên một số lĩnh vực văn hoá khác 99
Ti u k t ch ng 4 102
Kết luận 103
Tài liệu tham khảo 108
Trang 4B¶ng ch÷ viÕt t¾t
TLV§: Tù lùc v¨n ®oµn
NXB: Nhµ xuÊt b¶n
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành dưới sự tận tình hướng dẫn của
PGS.TS Lê Quý Đức Tôi xin gửi tới PGS lòng biết ơn sâu sắc Luận văn
cũng đánh dấu sự hoàn thành một quá trình nghuên cứu của tôi tại Khoa Sau Đại học Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tôi xin bày tỏ tại đay lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo đã ủng hộ giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thời gian thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Phượng Hùng
Trang 6mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mười năm đầu của thế kỉ 21 qua đi, Việt Nam ngày nay đang trong quá trình phát triển để xây dựng một xã hội văn minh, hiện đại, công bằng, dân chủ Quá trình phát triển ấy của Việt nam vừa đồng thời tiếp thu các thành tựu văn hóa văn minh thế giới vừa phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
để bước vào hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Từ thế kỉ 21, nhìn lại lịch sử đất nước trong thế kỉ 20 với không biết bao nhiêu những biến động dữ dội- một thế kỉ với những chiến công của các thế hệ cha anh trong các cuộc chiến giành độc lập và bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ,một thế kỉ với sự tiến bộ không ngừng nghỉ của quá trình kiến thiết quốc gia làm thay đổi cuộc sống vật chất cũng như tinh thần Một thế kỉ mà khi nghiên cứu lịch sử,
chúng ta phải luôn chú ý tới một xu hướng đó là “ Hóa” : dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa ( Đề cương văn hóa 1943) Bước vào cuộc kháng
chiến chống Pháp là: Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến Quá trình xây dựng kinh tế đất nước là: hợp tác hóa, điện khí hóa, công nghiệp hóa…
Thế kỉ 20 luôn diễn ra một xu hướng tiếp biến và hội nhập từ phạm vi khu vực đến phạm vi toàn thế giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Xu hướng ấy nói theo ngôn ngữ hiện đại là “ toàn cầu hóa”, nhưng vào nửa đầu thế kỉ 20 xu hướng ấy được biết đến là “Âu hoá” biến Việt Nam từ xã hội phương Đông Nho giáo chịu ảnh hưởng văn hoá Hán sang chịu ảnh hưởng văn hoá Pháp Quá trình tiếp biến và hội nhập diễn ra qua hai xu hướng: cưỡng bức
và tự nguyện để lại rất nhiều di sản quý báu Nếu quá trình tiếp biến văn hoá cưỡng bức là sự áp đặt từ phía chính quyền thuộc địa Pháp thì sự tiếp biến tự nguyện lại xuất phát từ một số đông trí thức có tâm huyết với sự nghiệp đổi mới đất nước
Trang 7Đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam xuất hiện những nhóm, những tổ chức văn hoá tập hợp một lực lượng trí thức cùng chí hướng để hoạt động văn hoá như các nhóm Đông Dương tạp chí, Nam phong tạp chí, Tân dân, Tri tân Các nhóm ấy phần lớn được hình thành trên cơ sở một tờ báo hay một nhà xuất bản Xét về lịch sử hình thành các nhóm có thời gian tồn tại khác nhau,
có điều kiện hoạt động khác nhau Trong số các nhóm văn hoá ấy tiêu biểu nhất phải kể đến TLVĐ
1.2 Tự lực văn đoàn là một nhóm trí thức, văn nghệ sĩ hoạt động văn hóa, văn học ra đời và tồn tại trong khoảng 10 năm (1932-1942) đã để lại nhiều thành tựu quan trọng TLVĐ hoạt động trên nhiều lĩnh vực văn hoá xã hội:
đấu tranh tư tưởng, văn học nghệ thuật…từ năm 1940 trở đi một số thành viên của TLVĐ tham gia hoạt động chính trị với những hoạt động đối lập với con
đường giải phóng dân tộc do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Đóng góp của TLVĐ về mặt văn hoá là đáng ghi nhận nhưng đánh giá những thành tựu
ấy lại vô cùng phức tạp Trong một thời gian dài sự nhìn nhận về TLVĐ có nhiều ý kiến khỏc nhau Từ thập niên 1950 khi ảnh hưởng của đường lối văn nghệ vô sản, cùng với việc chỉnh huấn trí thức là sự tự kiểm thảo của giới văn nghệ sỹ, TLVĐ bị phủ định một cách nghiệt ngã của chính những người trong cuộc Người ta yên trí rằng TLVĐ là đồi truỵ, là phản động, thậm trí sáng tác văn nghệ của TLVĐ còn bị cho là sách cấm Việc nghiên cứu TLVĐ chỉ nhằm nói đến sự đối lập có hại khi so sánh với các dòng văn học khác Sự phủ nhận
ấy bởi 2 nguyên nhân sau:
Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam trước năm 1945, khi dòng văn học cách mạng kêu gọi con người dấn thân chống lại đế quốc phong kiến, văn học hiện thực phê phán không đạt được đỉnh cao ấy nhưng cũng dám đối diện vạch trần tội ác của đế quốc phong kiến đã là một trợ lực cho văn học cách mạng Trong khi đó văn học lãng mạn lại khuyên con người thoát ly, quay lưng lại với thực tế như thế là có hại Văn học lãng mạn lại đề cao cái tôi cá nhân đối lập với cái cộng đồng
Trang 8Nguyên nhân thứ hai là những lý do chính trị, khi mà lý lịch gia đình, thành phần giai cấp được đề cao trong bối cảnh đối lập giữa hai thể chế chính trị, hai giai cấp, hai con đường đấu tranh ý thức hệ luôn dẫn đầu chi phối mọi
sự đánh giá con người
1.3 Suốt 10 năm tồn tại và hoạt động, TLVĐ có những đóng góp trên nhiều lĩnh vực văn hoá, nhưng sự đánh giá chủ yếu tập trung vào những hoạt
động văn học Xem xét về TLVĐ dưới góc độ văn học- nghệ thuật người ta cũng chỉ chú ý đến những thành công trong nghệ thuật còn về nội dung ngoài việc đánh giá TLVĐ có công trong việc đòi tự do cá nhân còn lại là sự bế tắc
về tư tưởng bởi sự nhầm lẫn giữa đối tượng miêu tả và tư tưởng của nhà văn Vài chục năm qua đi tốn nhiều giấy mực luận bàn, chịu nhiều đánh giá phán xét với những thành kiến khắt khe, nhưng rồi TLVĐ vẫn trở về với những giá trị thực vốn có Chúng ta thấy những sáng tác của TLVĐ trình bày khá toàn diện bộ mặt xã hội Việt Nam trước năm 1945 Cũng những sáng tác ấy góp
phần cải tạo xã hội hủ lậu chuyển sang xã hội hiện đại Hiệu lực của Nửa chừng xuân, Đoạt tuyệt… mạnh mẽ hơn hẳn các hình thức đấu tranh khác bởi
nó rọi thẳng vào lòng người làm mọi người phải suy nghĩ và thay đổi Người
được “phục hồi” sớm nhất là Thạch Lam khi ông được xếp vào những nhà văn
có tư tưởng bênh vực người nghèo Với các nhà văn khác không phải như vậy, người ta vẫn dè dặt khi nói về TLVĐ đặc biệt là các nhà văn Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo Không phải chỉ có TLVĐ nhưng rõ ràng nhóm văn hoá này
đi đầu trong cuộc canh tân văn hoá trước năm 1945 Không phải mọi hoạt
động của TLVĐ đều có giá trị, nhưng những đóng góp của nhóm là đáng ghi nhận Tinh thần cởi mở trong xu hướng đánh giá lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử nhằm rút ra những bài học bổ ích là một việc làm cần thiết cho sự phỏt triển trong xu thế toàn cầu húa, giao lưu văn húa hiện nay Chính vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Tự lực văn đoàn trong tiến trình lịch sử văn hoá Việt Nam” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp Cao học Văn hoá học của mình
Trang 92 Tình hình nghiên cứu
Ngay từ trước năm 1945 đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Tự lực
văn đoàn như: Dưới mắt tôi (của Trương Chính năm 1939), Nhà văn hiện đại (của Vũ Ngọc Phan năm 1942), Việt Nam văn học sử yếu ( Dương Quảng
Hàm năm 1942)… Sau Cách mạng tháng Tám do sự phức tạp của tình hình chính trị đất nước mà cách đánh giá về TLVĐ có sự khác nhau ở miền Nam các tác phẩm của TLVĐ vẫn tiếp tục được tái bản, được nghiên cứu và được coi là trọng tâm của chương trình giáo dục trung học và đại học Nhiều công
trình nghiên cứu về TLVĐ có thể kể như: Bình giảng về Tự lực văn đoàn (của Nguyễn Văn Xung năm 1958), Phê bình văn học Việt Nam thế hệ 1932 -
1945 (của Thanh Lãng 1972), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (của
Phạm Thế Ngũ năm 1965) Bên cạnh đó một số tạp chí chuyên về văn học cũng có những chuyên san về các tác giả trong nhóm TLVĐ như: tạp chí Văn học, Văn, Thời tập… ở miền Bắc, TLVĐ cũng được giới thiệu trong một số
sách, giáo trình về văn học Việt Nam như: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (nhóm Lê Quý Đôn 1957), Văn học Việt Nam 1930- 1945 (Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ năm 1961), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930- 1945
(Viện văn học 1964) Nhìn chung nghiên cứu TLVĐ thời kì này, có khác nhau
ở hai miền Trong khi miền Nam có xu hướng đề cao những giá trị của TLVĐ thì ở miền Bắc giới thiệu rất sơ lược và nói nhiều đến các hạn chế của nhóm Sau năm 1986 tình hình nghiên cứu về TLVĐ có khác Các tác phẩm của
TLVĐ được tái bản trở lại đáng kể như các bộ sách: Tuyển tập văn xuôi lãng mạn Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam, Văn chương Tự lực văn đoàn Nhiều công trình nghiên cứu TLVĐ như: TLVĐ con người và văn chương (Phan Cự Đệ 1990), TLVĐ trong tiến trình văn học dân tộc (Mai Hương
2000) Một sự kiện đáng kể là cuộc hội thảo về văn chương TLVĐ được tổ chức tháng 5 năm 1989 tại khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội như một dấu mốc quan trọng trong việc nhìn nhận lại TLVĐ TLVĐ cũng là một
Trang 10trong những đề tài nghiên cứu hấp dẫn của các luận án thạc sỹ, tiến sỹ Có hàng chục luận án ấy được lưu tại các trung tâm nghiên cứu như: viện Văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Ngữ văn Đại học Xã hội- Nhân văn Tuy nhiên, các công trình ấy chỉ nghiên cứu TLVĐ dưới góc
độ văn học còn các đóng góp khác dưới gúc độ văn húa núi chung của TLVĐ chưa có công trình nào đáng kể đề cập đến
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu các hoạt động văn hoá của nhóm TLVĐ qua đó thấy
được những đóng góp đối với văn hóa Việt Nam Tìm hiểu một giai đoạn phát triển của văn hoá Việt Nam qua đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng văn hoá Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
TLVĐ hoạt động trên nhiều lĩnh vực văn hoá- nghệ thuật, lĩnh vực chính trị xã hội Một số thành viên TLVĐ còn là những người hoạt động chính trị
đối lập với chính quyền cách mạng Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vào một số hoạt động trên lĩnh vực nghệ thuật- tư tưởng và các thành tựu của hoạt động ấy trong thời gian nhóm TLVĐ hình thành (1932) đến khi chấm dứt hoạt động (1942)
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng với các quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá Các phương pháp khoa học được luận văn sử dụng là: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp khảo cứu văn bản Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liờn nghành, đa ngành, sử dụng cỏc kết quả nghiờn cứu của các ngành khoa học: Sử học, Văn học, Ngôn ngữ học
Trang 116 Đóng góp của đề tài:
Đánh giá một cách khách quan các thành tựu hoạt động của nhóm TLVĐ
đối với văn hóa Việt Nam và việc kế thừa các thành tựu ấy trong công cuộc hội nhập quốc tế ngày nay
Luận văn sẽ đóng góp vào việc hệ thống hóa tài liệu cho việc nghiên cứu các hoạt động văn hóa của nhóm TLVĐ
7 Bố cục của luận văn:
Ngoài lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Bối cảnh xã hội và văn húa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương 2: Sự ra đời của Tự lực văn đoàn
Chương 3: Tự lực văn đoàn trong đổi mới văn chương
Chương 4: Tự lực văn đoàn trong đổi mới tư tưởng và cỏc lĩnh vực văn
húa khỏc
Trang 12Chương 1 bối cảnh x∙ hội VÀ VĂN HểA Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
Đầu thế kỷ XX, thế giới diễn ra những biến động chính trị, xã hội vô cùng lớn lao Hai cuộc đại thế chiến thế giới lần thứ Nhất (1914-1918) và lần thứ Hai (1939-1945) đã chi phối mọi hoạt động của loài người Việt Nam cũng không nằm ngoài những tác động ấy Giữa hai cuộc đại thế chiến là biết bao những sự kiện Trên toàn thế giới diễn ra cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp quyết liệt, phức tạp giữa Chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa phát xít với các lực lượng tiến bộ vì
độc lập dân tộc, dân chủ, dân quyền, dân sinh và tiến bộ xã hội Bên cạnh đó
là cuộc đấu tranh giữa nội bộ các nước đế quốc, thực dân nhằm chia lại ảnh hưởng,phạm vi thế lực và lập lại trật tự thế giới
Thời gian này cũng là thời gian tạo ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc hình thành và hoạt động của TLVĐ TLVĐ ra đời với rất nhiều yếu tố phức tạp của hoàn cảnh xã hội: Chính sách cai trị, cuộc sống và tâm lý của thị dân…Ngay sau cuộc đại thế chiến thứ nhất, chế độ thuộc địa của Pháp với những chính sách cai trị, những cuộc khai thác thuộc địa đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam về nhiều phương diện
1.1 Xã hội Việt Nam trước năm 1945
1.1.1 Tình hình kinh tế
Cuộc đại chiến Thế giới lần thứ nhất chấm dứt năm 1918, Việt Nam là thuộc địa của Pháp phải gánh chịu những phí tổn mà nước Pháp phải chi trong cuộc chiến vừa qua Năm 1919 Anbert Sarraurt sang làm Toàn quyền Đông Dương đã thực thi chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai biến nền kinh
tế Việt Nam từ nền sản xuất tiểu nông phong kiến lạc hậu sang nền sản xuất tư bản chủ nghĩa kết hợp với những tàn dư của phương thức sản xuất phong kiến
Trang 13Nền kinh tế ấy vẫn chỉ là một nền kinh tế thuộc địa hỗ trợ cho nền kinh tế chính quốc, không có kế hoạch phát triển theo khả năng tự có mà chỉ là nơi cung cấp nguyên- vật liệu chế biến thô cho chính quốc và là nơi tiêu thụ sản phẩm của chính quốc Nước Pháp độc quyền về thương mại, độc quyền bán thuốc phiện, rượu và muối Bên cạnh đó là việc tăng thế vô tội vạ Ruộng đất
bị tập trung và biến thành các đồn điền trồng lúa gạo, cao su, cà phê…Chỉ riêng Bắc kỳ đã có 155 đồn điền và 34 khu hầm lò Khai thác mỏ than đá tập trung ở Hòn Gai, Cẩm Phả nhưng 3/4 là để xuất khẩu Pháp cũng xây dựng một hệ thống giao thông vận tải cùng với những cầu vượt sông lớn đã biến thị trường Việt Nam thành một thị trường thống nhất Toàn bộ nền kinh tế Việt Nam nằm dưới sự chi phối của ngân hàng Đông Dương Với sự điều hành nền kinh tế như vậy, nền kinh tế cổ truyền, phõn tỏn đó hình thành một nền kinh tế thị trường thống nhất Tuy nhiên, người dân bị bần cùng, ruộng đất bị tước
đoạt, xã hội bị phân hoá nặng nề
Từ năm 1929 đến 1933 cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới diễn ra, tư sản, tiểu thương và nông dân Việt Nam bị phá sản, người lao động bị thất nghiệp do nền kinh tế Việt Nam phải gánh chịu những khó khăn cho kinh tế chính quốc Năm 1929 giá gạo ở Nam Kỳ là 11đ58/1tạ đến năm 1934 giá gạo chỉ còn 3đ26/1tạ Năm 1929 có 177 nhà buôn bị phá sản, đến năm 1933 con
số này là 209 Đời sống nhân dân vô cùng cơ cực
1.1.2 Tình hình chính trị
Kinh tế khó khăn, các phong trào yêu nước hoạt động mạnh mẽ, để đối phó với tình hình, Pháp vừa áp dụng chính sách đàn áp vừa áp dụng những chính sách cởi mở nửa vời Năm 1926, toàn quyền Đông Dương là A.Varenne cho phép thành lập Viện Dân biểu Trung Kỳ (ngày 24.2) và Viện Dân biểu Bắc kỳ (ngày 10.4) làm cơ quan tư vấn cho chính quyền thức dân Việc thành lập các cơ quan này mà thành phần tham gia chủ yếu là tư sản địa chủ, trí thức , Pháp cố tạo cho Việt Nam một bộ mặt dân chủ giả hiệu, nới rộng nền
Trang 14tảng xã hội nhằm đối phó với những biến động xảy ra Tuy nhiên, những lý tưởng Tự do- Bình đẳng- Bác ái không được thực thi ở Việt Nam
Năm 1932, Bảo Đại về nước chấp chính Trong lễ tiễn Bảo Đại tại Marseille, A.Sarraut nói: “Ngài sẽ gánh một gánh rất nặng nề là phải làm một
vị đế vương tân thời, song phải tuân theo cổ tục Ngài phải làm cho một nước văn hoá cổ hoá ra kim” Trong diễn văn tại điện Cần Chánh, Bảo Đại nói: “Tôi quyết đem hết quyền lực giúp cho tiến hoá, cho mau bước lên con đường cải cách văn minh” Đáp lại, toàn quyền Pasquier nói “phong tục khiến cho phải thay đổi thì cũng không ngần ngại mà sửa đổi” Tinh thần theo mới, Âu hoá cũng nhờ đó mà phát triển theo
Hộ trợ cho chương trình khai thác thuộc địa, chính quyền thực dân phong kiến cũng áp dụng những biện pháp cai trị khủng bố nhằm đàn áp các phong trào yêu nước và củng cố chế độ thuộc địa Chính sách khủng bố này khiến cho không khí chính trị càng trở lên căng thẳng ngột ngạt, người dân càng thêm bất mãn
Năm 1926 nhóm Nam Đồng thư xã được thành lập chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam dân Ngày 24.12.1927, trên cơ sở nhóm này, Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài đã thành lập Việt Nam Quốc dân đảng với mục tiêu “làm cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến để lập một nước Việt Nam độc lập cộng hoà” Ngày 9.2.1930, Việt Nam quốc dân đảng tổ chức khởi nghĩa vũ trang tại Yên Bái, Hưng Hoá, Lâm Thao…Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp dã man, nhiều làng xóm bị ném bom triệt hạ, các nhà yêu nước bị bắt giam, đày đi biệt xứ, bị xử tử Ngày 13.6.1930, Nguyễn Thái Học và 13 đồng chí của ông bị xử tử
Năm 1925 hội Phục Việt do Trần Phú, Hà Huy Tập, Tôn Quang Phiệt thành lập Đến tháng 7.1928, hội đổi tên thành Tân Việt Cách mạng đảng Cùng trong thời gian này, các nhà yêu nước Việt Nam ở Quảng Châu- Trung Quốc như Nguyễn ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong… cải tổ Tâm
Trang 15Tâm xã thành Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, lựa chọn một con
đường đấu tranh khác là gắn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội, gắn cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới Từ những tổ chức yêu nước theo xu hướng vô sản này, ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam
ra đời Phong trào đấu tranh đầu tiên do Đảng Cộng sản lãnh đạo là Xô Viết Nghệ Tĩnh Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng nổ bắt đầu từ cuộc đấu tranh ngày 1.5.1930 của công nhân Bến Thuỷ và nông dân hai tỉnh Nghệ An- Hà Tĩnh Cuộc đấu tranh kết hợp giữa biểu tình thị uy với vũ trang tự vệ quy mô lớn, ra yêu sách chính trị chống khủng bố trắng, đòi bỏ thuế thân, giảm giờ làm làm tan rã và tê liệt chính quyền địa phương Ngày 12.9.1930 diễn ra một cuộc biểu tình lớn đã bị đàn áp khốc liệt 217 người bị chết và hơn 300 người bị thương Ngay sau đó là các đợt càn quét, khủng bố vào các làng xóm, bắt giam, lưu đày hàng trăm người Hàng trăm chiến sĩ cách mạng hy sinh như Trần Phú, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh, Lê Hồng Sơn…
Trên phạm vi cả nước, trong các năm 1929- 1932, không ngày nào báo chí không đưa tin về các vụ xử án của Hội đồng đề hình đưa đi lưu đày đến các nhà tù Côn đảo, Kon Tum, Lao Bảo, Sơn La Năm 1930-1931,toà đại hình Bắc Kỳ xử 1094 vụ án chính trị với 164 án tử hình, 114 án khổ sai chung thân,
420 án lưu đày Năm 1932 nhà giam Côn Đảo có 2584 tù nhân đến năm
1933 đã lên hơn 3000 người
Chính sách khủng bố của Pháp đối với các con đường đấu tranh cách mạng đã tạo ra một tâm lý buồn rầu u uất tràn ngập, một bộ phận thanh niên mất phương hướng và lý tưởng, từ đó họ muốn quên lãng vào tình yêu, vào thơ
ca lãng mạn Nhiều trí thức không dám đấu tranh chính trị quân sự chuyển hướng sang đấu tranh trên mặt trận văn hoá
Tuy nhiên, hiệu ứng của các cuộc đấu tranh cũng góp phần đánh thức ý thức dân tộc, xoay chiều chí hướng và hoạt động của cả một thế hệ
Trang 161.1.3 Tình hình x∙ hội
Chính sách phát triển kinh tế của chương trình khai thác thuộc địa đã tác
động sâu sắc tới tình hình xã hội Việt Nam qua việc biến đổi sâu sắc thành phần giai cấp trong xã hội Người dân bị chia thành ba hạng:
- Hạng công dân là những người Pháp và nhập quốc tịch Pháp Hạng công dân này được hưởng toàn bộ quyền lợi công dân, được pháp luật bảo vệ như ở chính quốc
- Hạng dân thuộc địa là người dân Nam kỳ và cư dân các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng Dân thuộc địa là những người được hưởng một số quyền lợi như hạng công dân
- Hạng dân bảo hộ là thành phần dân cư còn lại Dân bảo hộ là hạng dân
có vị trí xã hội thấp nhất Họ phải chịu sự quản lý của các luật pháp của chính quyền bảo hộ và luật pháp của Nam triều
Sự phát triển công nghiệp và hình thành nhiều nghề mới đã thu hút nhiều dân quê bị tước đoạt ruộng đất làm việc đã làm thay đổi thành phần dân cư Quá trình đô thị hoá làm cho thị dân phát triển Xã hội cũ cũng có đô thị nhưng cũng chỉ là những thủ phủ chính trị với những phủ đệ của quý tộc, cư dân chủ yếu là quan lại, cậu ấm, cô chiêu, thợ thủ công, phường hội Khi các
đô thị mới hình thành, những cư dân đầu tiên của đô thị là những thầy thông, thầy phán, me tây, nhà thầu khoán, học sinh…, về sau là những công nhân xưởng mỏ, những bồi bếp, xe, vú em, con sen, gái điếm và cả lưu manh… Chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp, đòi tự do cá nhân, nam nữ không còn chịu ép mình trước lễ giáo mà đòi canh tân từ nếp sống đến suy nghĩ Bảo Đại
là người đầu tiên xé rào trong lối sống Ông vua Tây học này đã dám bỏ cả những nghi lễ phiền toái để chống lại chế độ gia đình khi cưới một cô vợ không phải quý tộc, lại theo Thiên chúa giáo để tấn phong làm Hoàng hậu Rõ ràng Bảo Đại đã đi đầu trong việc tự do kết hôn và chống đa thê gần như một
sự kích thích cho việc đòi tự do cá nhân, tự do tình yêu Lối sống sinh hoạt văn minh đô thị (như ở nhà lầu, đi xe hơi, dùng đèn điện, nghe hoà nhạc, đi
Trang 17xem chớp bóng ở rạp, và những nhu cầu truỵ lạc khác…) càng ngày càng phổ biến Trí thức Nho giáo cũng quay ra cộng tác với Pháp, họ tranh cử vào Nghị viện, cầm ba toong, đội mũ dạ, mặc âu phục, bắt tay khi gặp nhau… Hàng hoá
từ đô thị tràn về nông thôn Những ngọn đèn nến, đèn dầu lạc được thay bằng
đèn măng sông, đèn hoa kỳ Những bộ sa lông, đồng hồ quả lắc dần chiến chỗ của những thư án, tràng kỷ Cái mới thay thế dần cái cũ ở ngay chính căn cứ của lực lượng bảo thủ nhất là nông thôn Những người bảo thủ dần phải làm quen, phải chấp nhận với những thú vui vật chất đã thành nhu cầu tự nhiên Người ta đua nhau đi học chữ Tây, uống rượu sâm banh, sữa bò như một sự thèm muốn bình thường Đi cùng với những cái mới, tiến bộ là những tệ nạn mới Báo Đông Pháp ngày 1.1.1931 cho biết Hà Nội có khoảng 10 vạn dân nhưng có tới hơn 100 nhà thổ công khai Báo chí công khai quảng cáo thuốc lậu của các hãng Hồng Khê, Từ Ngọc Liên…Năm nào Hà Nội, Hải Phòng cũng tổ chức thi sắc đẹp Đường phố xuất hiện nhiều hiệu trang điểm sắc đẹp
và tạo mốt Sinh hoạt thay đổi dẫn đến suy nghĩ và cảm xúc con người cũng thay đổi theo Cơ chế kinh tế thị trường khiến con người bước từ khuôn khổ chật hẹp trong quan hệ làng xã, dòng họ sang một một quan hệ lạnh lùng hơn
“tiền trao cháo múc” với một tình thế mới “khôn sống dại chết” Người ta phải
tự ý thức, phải sống, phải suy nghĩ cho riêng mình Người ta cần tính toán làm
ăn làm cho cuộc sống sôi động phức tạp hơn Xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn từ phong kiến sang xã hội tư bản què quặt
Bên cạnh sự xuất hiện của những đô thị phồn hoa đầy ánh sáng, xã hội Việt Nam vẫn phổ biến hình ảnh những vùng nông thôn trong cảnh bùn lầy nước đọng Tại những đô thị vẫn phần đông là những khu ổ chuột, với những dân lao động nghèo chạy ăn từng bữa
Giai cấp tư sản ra đời và xuất hiện đồng thời với giai cấp vô sản có thể kể
đến như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Nguyễn Hữu Thu, Trương Văn Bền, Phạm Lê Bổng… Tuy nhiên họ cũng bị tư bản nước ngoài chèn ép về
Trang 18kinh tế và chính trị dẫn đến phân hoá thành tư sản dân tộc, tư sản mại bản, tư sản kiêm địa chủ…
Tiểu tư sản ra đời sớm hơn nhờ sự phát triển của đô thị, nhờ bộ máy viên chức được hoàn chỉnh Họ bao gồm tiểu thương, tiểu chủ, viên chức, giáo viên, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do như: bác sỹ tư, nhà báo, nhà văn Theo thống kê năm 1922 Việt Nam có hơn 189.000 giáo viên, công chức, học sinh, sinh viên Đến năm 1933 con số này đã lên đến hơn 352.000 người Trí thức mới xuất hiện ngày càng đông thay thế dần cho lớp trí thức Nho giáo già thất thế Lớp trí thức mới này là những thanh niên được đào tạo từ các trường Pháp- Việt và không ít người học ở Pháp về Họ có thành phần xuất thân từ những gia đình công chức hay tư sản và tiểu tư sản thuộc địa Họ tách khỏi ruộng đồng và văn hoá cổ truyền và đòi hưởng thụ một nền văn hoá mới Những chữ tự do cá nhân, nam nữ bình quyền đã xô đẩy con người phá vỡ hàng rào luân lý cũ, đòi đổi mới từ nếp sống đến suy nghĩ Những trí thức học
ở Pháp về phần lớn có bằng cấp cao như tiến sỹ luật, tiến sỹ y khoa, cử nhân văn chương, cử nhân sử, triết, khoa học… Nhưng khi về nước họ chỉ là người giúp việc cho các đồng sự người Pháp, đời sống thì bị chèn ép không có cơ hội phát triển, họ bất mãn, một số không ít bị bần cùng hóa rơi vào thất nghiệp Nhiều người tiếp thu những tư tưởng cách mạng và phân hoá thành hai xu hướng: Làm cách mạng dân chủ tư sản và làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Cuộc đấu tranh của giới trí thức thể hiện những khát vọng dân tộc dân chủ của nhân dân Việt Nam Văn hoá cũng vì đó mà chịu sự tác động của nhiều xu hướng tiến bộ, tiêu cực, bảo thủ và cả suy đồi, làm cho cục diện chính trị xã hội Việt Nam vô cùng phức tạp
ảnh hưởng của sự khó khăn về kinh tế, sự khủng bố về chính trị cũng làm cho không khí xã hội cực kỳ u ám Thanh niên thời kỳ này nhiễm một căn bệnh thời đại là “tự tử” chỉ trong 2 tháng (5 đến 7) năm 1931 có tới 10 thiếu nữ tự tử Vụ cô Đinh Tuyết Hồng- một cụ gỏi mới Âu hoỏ, lấy chồng được
Trang 19một tuần tự tử tại hồ Trúc Bạch đã gây xôn xao dư luận một thời Tình hình ấy khiến chính quyền phải nới lỏng, thi hành một số thủ đoạn đưa con người vào truỵ lạc Toàn quyền Varenne đưa ra khẩu hiệu: “Pháp Việt đề huề” Thống sứ Chatel tổ chức các cuộc thi sắc đẹp và chợ phiên Các phong trào vui vẻ trẻ trung đi liền với chủ nghĩa lãng mạn trong văn hoá và tác động mạnh đến sinh hoạt xã hội Việt Nam Trường Chinh nói “Sau cơn khủng bố trắng 1930-1931
sự buồn rầu u uất tràn ngập tâm hồn nhân dân Việt Nam Văn chương lãng mạn của Tự lực văn đoàn ra đời Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa bèn chuyển ra đấu tranh bằng văn hoá chống phong kiến quan liêu”[2.247] Thế Lữ trước năm 1930 tham gia đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu, Vũ Đình Liên tham gia Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội nhưng sau đó đều trở nên hoang mang Lưu Trọng Lư bỏ trường Quốc học đến với Phan Bội Châu rồi tham gia Quốc dân Đảng, khi bị bắt tạm giam cũng bỏ hoạt động đi hẳn sang văn học Con
đường văn hoá với tiểu tư sản trí thức là nơi gửi gắm nỗi niềm tâm sự Họ tìm thấy “trong chủ nghĩa lãng mạng một tiếng thở dài chống chế độ thuộc địa”
1.2 Tình hình văn hoá- văn nghệ trước năm 1945
1.2.1.Chớnh sỏch văn húa của chớnh quyền bảo hộ Phỏp
Văn hoá Việt Nam thời kỳ này diễn ra quá trình tiếp biến văn hoá Tây trên cả hai xu hướng cưỡng bức và tự nguyện
Đông-Sự tiếp biến cưỡng bức do những kẻ thắng thế quyết định bắt đầu bằng việc xoá bỏ ảnh hưởng của Nho giáo và trí thức Nho học- là lực lượng chống Pháp ngoan cố nhất Năm 1867 khoa cử Nho giáo bị xoá bỏ ở Nam kỳ Năm
1904 chính quyền thực dân đưa ra chương trình giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc
kỳ và sau đó là ở Trung kỳ (1906) nhằm hạn chế Nho hoc Năm 1909 nhà nước bảo hộ bắt buộc phải thi chữ Quốc ngữ trong các trường thi Hương Năm
1915 kỳ thi Hương cuối cùng được tổ chức ở Bắc kỳ Năm 1919 thi cử Nho giáo chính thức chấm dứt trên toàn quốc
Trang 20Ngày 21 tháng 12 năm 1917 toàn quyền Đông Dương ban hành “Quy chế chung về giáo dục ở Đông Dương” với mục đích hạn chế chữ Nho như: Đưa tiếng Pháp vào giảng dạy Chữ Nho không còn là môn học bắt buộc, nhất thiết phải có người giám sát trong giờ dạy chữ Nho, giáo trình dạy chữ Nho phải
được Tổng Thanh tra học chính Đông Dương duyệt Tất cả các trường chữ Nho kể cả Quốc Tử Giám bị coi là trường tư Đến năm 1924 quy chế này được sửa đổi bằng việc tăng cường dạy chữ Quốc ngữ
Hạn chế khoa cử Nho giáo, nhà nước Pháp cũng cho thành lập nhiều trường mới để đào tạo quan lại cho chính quyền như: trường Sỹ hoạn Hà Nội (1903), trường Hậu bổ Huế (1911), trường Pháp chính Đông Dương (1917) Sau này tiếp tục thành lập các trường đào tạo cấp Đại học, Cao đẳng nhằm tạo
vỏ bọc nâng cao dân trí nhưng thực chất là chuyển hướng tư duy của người dân như: Đại học Y khoa (1904), Cao đẳng Công chính (1918), Cao đẳng Thú
y, Cao đẳng Sư phạm (1917), Cao đẳng Nông lâm (1918), Cao đẳng Thương mại (1920), Cao đẳng Mỹ thuật (1924), Đại học Luật (1931) Cùng với các cơ
sở đào tạo, một số cơ sở nghiên cứu được thành lập như: Viện Pasteur (1890), Viện Viễn Đông bác cổ (1900), Nha địa chất (1918), Viện Canh nông thuộc
địa (1918), Viện Hải dương học (1922) Khoa cử là nền móng của chế độ phong kiến Việt Nam bị xoá bỏ, vào học tại các trường Tây là con đường duy nhất được thanh niên Việt Nam lựa chọn
Tại các trường học người ta được tiếp xúc với văn học thế giới đặc biệt là văn học Pháp như: V.Hugo, H.Balzac, Baudelaire, A.Musset, Lamartine, Chateaubriand… đem đến những rung cảm mới thay thế cho những thơ văn sáo mòn cũ rích Rồi từ văn học nhà trường lan sang báo chí tạo ra một trào lưu sáng tác ảnh hưởng tới văn chương và tâm hồn người Chịu ảnh hưởng của phương Tây, người ta nói tới nhu cầu tự do cá nhân, tình yêu nam nữ và hạnh phúc lứa đôi Người ta thích đọc những câu thơ buồn, những tiểu thuyết tình
đẫm lệ…Mẫu hình con người trong sáng tác văn nghệ thời đó là những người
đa cảm, lý trí hoàn toàn thuộc về con tim
Trang 211.2.2.Cỏc phong trào canh tõn văn húa
ảnh hưởng của tình hình chính trị thế giới cũng tác động không nhỏ đến văn hoá Việt Nam Chiến thắng của nước Nhật trước đế quốc Nga năm 1905
đã làm cho phương Đông bừng tỉnh ban đầu ở Trung Quốc Người ta du học
và tuyên truyền tư tưởng của Voltaire, Rousseau, Motesquieu và Tân thư của Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu Cựng với những ảnh hưởng từ bờn ngoài
là ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật phương Tây (thông qua việc xây dựng các công trình lớn như xây cầu Long Biên vượt sông Hồng năm 1902), những trí thức Việt Nam thấy rằng cần phải canh tân và làm cuộc đổi mới đất nước Những nhà nho mới cú điều kiện mở mang tầm nhỡn, họ thấy cỏi yếu của dõn tộc, họ đi trước giai cấp tư sản nhờ uy tớn xó hội, nhờ khả năng văn húa, lại đúng vai trũ nhà tư tưởng của giai cấp mới
Những trí thức tiến bộ ở Quảng Nam như: Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp…đã tuyên truyền và tổ chức phong trào Duy tân Phong trào duy tõn diễn ra từ năm 1906 đến 1908 là cuộc cải cỏch ụn hũa theo hướng dõn chủ tư sản với ba nội dung chớnh:
-Khai dõn trớ: bỏ lối học tầm chương, trớch cỳ, mở lớp học quốc ngữ, phổ biến khoa học, bài trừ hủ tục
-Chấn dõn khớ: làm mọi người thức tỉnh tinh thần tự cường, hiểu được quyền lợi của mỡnh, dỏm đấu tranh chống búc lột của bọn quan lại cường hào -Hậu dõn sinh: khuyến khớch dõn học nghề nghiệp, khai hoang, lập hội buụn, sản xuất hàng nội húa
Tại Hà Nội, Lương Văn Can và các nhà nho yêu nước như: Nguyễn Quyền, Dương Bỏ Trạc, Hoàng Tăng Bớ, Lờ Đại sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục để truyền bá các tư tưởng tiến bộ Đụng Kinh Nghĩa Thục mở tại
Hà Nội vào thỏng 3 1907 về sau lan ra cỏc tỉnh Hà Đụng, Hải Dương, Hưng Yờn, Thỏi Bỡnh…Mục đớch cũng là khai trớ cho dõn Đụng Kinh Nghĩa Thục
mở lớp dạy học khụng đúng tiền, tổ chức diễn thuyết trao đổi tư tưởng, trấn
Trang 22hưng thực nghiệp, mở tiệm buụn phỏt triển cụng thương Về mặt văn húa, Đụng Kinh Nghĩa Thục chủ trương phổ biến dựng chữ quốc ngữ, phế bỏ Khổng giỏo và du nhập cỏc tư tưởng mới thụng qua việc dịch sỏch, in sỏch
giỏo khoa, viết bài trờn cỏc tờ bỏo: Đăng cổ tựng bỏo, Đại Việt tõn bỏo
Thỏng 11.1907 chớnh quyền thuộc địa đó giải tỏn trường
Nhiều nhà Nho yêu nước khác đi vào con đường kinh doanh, khuyến khích hàng nội hoá như một hành động khơi gợi tinh thần dân tộc đồng thời
hỗ trợ cho các phong trào cách mạng như: Ngô Đức Kế sáng lập Triêu Dương thương quán ở Vinh Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội…sáng lập Liên Thành công ty ở Bình Thuận Phan Thỳc Duyệt lập Hợp thương phong thứ ở Quảng Nam Nguyễn Quyền làm chủ hiệu thuốc Đồng Lợi Tế, Hoàng Tăng Bớ mở hóng buụn Đụng Thành Xương ở Hà Nội Gilbert Trần Chỏnh Chiếu lập Minh Tõn khỏch sạn ở Sài Gũn…Việc cỏc nhà nho tham gia kinh doanh đó làm xuất hiện một nhõn vật phi truyền thống trong xó hội Việt Nam Buụn bỏn khụng chỉ làm giàu cho cỏ nhõn, cho đất nước mà cũn phỏ vỡ quan niệm truyền thống của nho giỏo hẹp hũi coi thương nghiệp như một nghề trục mạt
Phong trào Duy dân do liên quan đến một số hoạt động bạo lực đấu tranh như: chống sưu thuế ở Trung kỳ (thỏng 3 1908), Hà thành đầu độc (thỏng 6.1908)…đã bị thực dân Pháp đàn áp Cỏc hội buụn bị giải tỏn, bỏo chớ sỏch bỏo tiến bộ bị cấm lưu hành Nhiều nhà lãnh đạo phong trào bị bắt giam lưu
đày và bị xử tử như Trần Quý Cỏp, Lờ Khiết Tuy nhiên, phong trào cũng để lại tiếng vang rất lớn và có ảnh hưởng lâu dài tới giai đoạn sau này, khi khẳng định được sức hỳt mạnh mẽ của cỏc tư tưởng duy tõn Phong trào cũng thể hiện được vai trũ của những sỹ phu tiến bộ trong việc tỏc động đến tinh thần nhõn dõn
1.2.3.Sự phỏt triển của bỏo chớ
Để đối phó với những hoạt động yêu nước, chính quyền Pháp một mặt tăng cường đàn áp, mặt khác có những nới lỏng trong đời sống xã hội Đi liền
Trang 23với súng ống để đàn áp sự phản kháng của người dân Việt Nam, Pháp đã phải dựa vào văn hoá mà ban đầu là báo chí nhằm phổ biến các chính sách hỗ trợ cho chính sách cai trị của người Pháp Việc phỏt triển bỏo chớ cú ý nghĩa trọng đại hơn cả Xó hội Việt Nam cổ truyền là một xó hội khộp kớn về thụng tin do khụng cú cỏc phương tiện truyền tin Một phần là do quyền được biết tin tức phụ thuộc vào việc người đú cú vị trớ gỡ trong xó hội và việc đa số dõn bị mự chữ mà chữ Hỏn lại là tử ngữ của nước ngoài Việc canh tõn xó hội đũi hỏi phỏ vỡ sự bế tỏa của thụng tin mới khai thụng được dõn trớ Mà khai dõn trớ phải phổ biến chữ quốc ngữ Để phổ biến chữ quốc ngữ khụng gỡ hiệu quả hơn là làm bỏo chớ Việc làm bỏo cũn cú vai trũ là phỏt triển quốc văn Nguyễn Văn Vĩnh là nhà bỏo mạnh mẽ nhất của thời kỳ này ễng liờn tục làm
bỏo và làm chủ bỳt cỏc bỏo: Đăng cổ tựng bỏo (1907) Notre Journal (1908), Notre Revue (1909), Đụng Dương tạp chớ (1913- 1916), Học bỏo (1915) và sau cựng là L Annam Nouveau (1931) Trờn bỏo chớ, người ta khụng chỉ bàn
đến những vấn đề đạo đức Tam giỏo hay tỡnh cảm mơ hồ mà cũn trỡnh bày, phõn tớch, giải đỏp cỏc vấn đề thời cuộc Trờn cơ sở bỏo chớ, văn chương cũng theo đú mà đổi mới cả về ngữ phỏp, ngụn từ và quan niệm thẩm mỹ Cú thể núi hoạt động của cỏc trớ thức qua bỏo chớ thời kỳ này đó tiếp tục của phong
trào Duy tõn trước đú Sự phát triển của báo chí như một cố gắng xây dựng
một nhu cầu cần thiết cho quyền ngôn luận của người dân, vừa tạo dựng môi trường thuận lợi cho sự nảy nở và phát triển các ngành nghề văn học nghệ thuật khác (như thơ ca, văn xuôi, biên khảo, phóng sự…) Báo chí thời kỳ này
có cả nhật báo, có cả tuần báo, nguyệt san Về thể loại có báo (là cơ quan ngôn luận coi trọng thông tin, xem nhẹ sáng tác nghệ thuật), có tạp chí (chủ yếu là phổ biến học thuật theo chuyên đề hoặc bách khoa và chỉ đưa những tin thật quan trọng
Báo chí xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1862 ban đầu đều do những người
Pháp lãnh đạo hoặc được chính quyền hỗ trợ như: Gia Định báo do E.Potteaux
Trang 24làm chủ bút, Đại Nam đồng văn nhật báo do Nha kinh lược Bắc kỳ chủ
trương…Người Việt Nam sau thất bại chính trị quân sự cũng bắt đầu đấu tranh
ôn hoà trên báo chí nhằm truyền bá tư tưởng cách mạng khơi gợi lòng yêu nước Dần dần có nhiều người Việt đứng ra làm báo như: Sương Nguyệt Anh
với tờ Nữ giới chung (1919), Nguyễn Hữu Thu với tờ Thực nghiệp dân báo (1920), Tản Đà với tờ An Nam tạp chí (1926), Huỳnh Thúc Kháng với tờ Tiếng dân (1927)
1.2.4 Tình hình hoạt động văn học
Hoạt động văn hóa bắt đầu từ văn học như tuyên bố của những người làm
báo Văn học tạp chí: “là cơ quan cho tất cả nhà văn có tài, có học thức trong
nước cùng đóng góp Mỗi người một phần tâm lực trau dồi cho, sửa sang cho, sắp đặt cho, gom góp cho, chỉnh đốn cho cái tiếng nói của mình thành một
áng văn chương có khuôn phép phân minh, có thể thức đàng hoàng, có lời lẽ tốt đẹp mà dần dà gây dựng thành một nền văn hoá xứng đáng sau này”
Văn chương thời kỳ này có sự chuyển biến trong sáng tác từ văn vần sang văn xuôi, từ chữ Hán Nôm sang chữ Quốc ngữ Tác phẩm văn học đầu tiên
viết bằng Quốc ngữ là Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản ra đời năm
1887 Nhưng phải đến các sáng tác của Hồ Biểu Chánh và đặc biệt là tiểu
thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách năm 1925 thì tiểu thuyết hiện đại mới
coi như được hình thành khi các nhà văn bỏ lối viết chương hồi, thay những câu văn biền ngẫu và đưa hư cấu vào sáng tác
Một đặc điểm của văn chương thời kỳ này là quan niệm của người sáng tác coi văn chương là một sản phẩm hàng hoá Văn học cổ không coi là một nghề mà chỉ là một kỹ xảo để đi thi, để giao tiếp Nhà văn không phải là nghệ
sĩ và càng không phải viết để bán Họ viết cho mình và cho những người thân Báo chí và chữ quốc ngữ ra đời đã làm xuất hiện nghề viết báo Trước đó người ta chưa có thói quen viết sách hay xuất bản mà chỉ là viết văn trên báo Người đọc bỏ tiền ra mua báo, quyết định sự sống còn của tờ báo Người sáng
Trang 25tác phải vì cơm áo và phải tuân theo thị hiếu của người đọc Văn học vì thế trở thành hàng hoá Văn học Việt Nam từ một nền văn học gắn với giáo dục thi cử
đã chuyển sang một nền văn học gắn với thị trường
Tâm trạng của thanh niên thời kỳ này mang nặng sự sầu cảm uỷ mị đã
chi phối sâu sắc các sáng tác của nhiều tác giả như: Đông Hồ trong Tục huyền cảm tác: “Chim linh phượng bay chẳng lại Nhà độc thê mực chảy lệ sầu Gió
mưa hai độ xuân thu Khắp trong non nước toàn mầu thê lương” Đoàn Như
Khuê viết trong Bể thảm: “Bể thảm mênh mông sóng lụt trời Khách trần chèo
một lá thuyền chơi Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió Coi lại cũng trong bể thảm thôi…Mới lọt lòng ra đã khóc rồi Kiếp trần ngán lắm chị em ơi Một lần mình khóc lần người khóc Sống thác đôi lần giọt lệ rơi”
Người đi đầu cho lối thơ văn thê lương ảo não là Tương Phố: “Trời thu
ảm đạm một mầu Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em Trăng thu hiu hắt bên thềm Tình thu ai để duyên em bẽ bàng” Sau này báo Phong Hoá số 29 đã
làm bài thống kê bài Giọt lệ thu của Tương Phố với độ dài 4 trang mà có tới 29
chữ than ôi, 18 chữ ôi, 14 chữ lệ
Nếu như văn chương phản ánh bộ mặt xã hội thì trước năm 1930, Nam Phong tạp chí giữ vai trò này Muốn tìm hiểu văn hoá chỉ cần tìm hiểu Nam Phong tạp chí Nam Phong tạp chí là cơ quan ngôn luận tập hợp những cây
bút lớn thời đó Điều gì Nam Phong tạp chí viết đều hay, văn đều đẹp, chữ nghĩ ra được dùng, ý kiến Nam Phong tạp chí bàn được tôn trọng Sự ngự trị của Nam Phong tạp chí với những quan điểm bảo thủ tư tưởng đã như một sức nặng đè xuống học thuật Những cảm hứng uỷ mị của thơ cũ cũng trở lên lạc hậu trước xu hướng âu hoá Đời sống văn nghệ cần một sự canh tân triệt để cả
về nội dung và hình thức- một thứ bình mới để đựng rượu mới
Sinh hoạt văn nghệ diễn ra sôi động nhờ các cuộc luận chiến giữa hai phe cũ- mới và các quan điểm duy tâm hay duy vật, nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh đã làm phân hoá đội ngũ sáng tác
Trang 26Cuôc tranh luận mới- cũ có nhiều quan điểm và chủ yếu diễn ra trên
những vấn đề về đạo đức Nho giáo Có quan điểm đề cao như: Danh tiết của Nguyễn Công Hoan, Nhà nho của Chu Thiên Có quan điểm dung hoà như các tạp chí Đông Dương Tạp chí và Nam Phong tạp chí Năm 1931, Phan Khôi trên tờ Phụ Nữ tân văn bắt đầu công kích Nho giáo và chế độ đại gia đình phong kiến Tản Đà trên tờ An Nam tạp chí ra sức bảo vệ cái hay, cái đẹp của
đạo đức phương Đông Nhưng phải đến khi TLVĐ ra mặt tranh luận trực tiếp
trên báo Phong Hoá thì cuộc tranh luận quyết liệt với quyết tâm hạ bệ nền cựu
học mới đi vào thắng lợi Người ta không chỉ tranh luận bằng lý luận mà còn bằng tranh hý hoạ và thơ trào phúng
Ngày 8.8.1933 Phan Khôi trên tờ Phụ Nữ thời đàm đăng bài Văn minh vật chất và văn minh tinh thần Ngày 20.10.1933 Hải Triều đăng trên báo
Đông Phương bài Ông Phan Khôi không phải là một học giả duy vật để công
kích lại Cuộc luận chiến lôi kéo nhiều trí thức khác như Phan Văn Hùm, Bùi Công Trừng… Rồi từ những vấn đề triết học người ta chuyển sang tranh luận
về vấn đề Việt Nam có chế độ phong kiến không và Khổng Tử là duy tâm hay duy vật
Cùng với cuộc tranh luận duy tâm và duy vật là cuộc tranh luận về nghệ
thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh Trên Tiểu thuyết thứ bảy số 38 (tháng 2.1935) Thiếu Sơn đăng bài Hai quan niệm về văn học Hải Triều trên báo Đời Nay ngày 24.3.1935 trả lời lại bằng bài Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh Từ đây văn nghệ sĩ phân ra làm 2 phe: Thiếu Sơn, Lê
Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh… chống lại Hải Triều, Hồ Xanh, Hải Thanh, Hải Khách…trên các quan điểm khác nhau Nếu phe duy vật cho rằng con người luôn phải thay đổi theo thời đại, văn nghệ là để phục vụ và tài năng
là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và đáp ứng nhu cầu xã hội thì phe duy tâm lại cho rằng con người là bất biến, nghệ thuật phải tự do hoàn toàn và vì cái
đẹp, tài năng là thiên tài độc lập sáng tạo ra tất cả, làm thay đổi và chỉ đạo xã hội
Trang 271.2.5 Sự hình thành và hoạt động của các nhóm văn hoá
Những hội đoàn đầu tiờn được thành lập do sự đồng ý của chớnh quyền thuộc địa nhằm mục đớch quảng bỏ cho văn húa Phỏp Đầu tiờn phải kể đến là
hội Trớ Tri (nghĩa là biết tường tận) được thành lập từ năm 1892
Hội Khai trớ tiến đức được thành lập ngày 2.5.1919 chủ trương giao lưu
văn húa giữa văn húa phương Tây và văn hóa truyền thống Việt Nam Hội cú trụ sở tại phố Hàng Trống do Hoàng Huõn Trung làm hội trưởng, Phạm Quỳnh làm thư ký Cỏc thành viờn tham gia phải kể đến như: Tổng đốc Hoàng Trọng Phu, Thượng thư Thõn Trọng Huề, Chỏnh liờm phúng Nha chớnh trị Đụng Dương L Marty Hoạt động của hội chủ yếu là tổ chức hội thảo diễn thuyết về quốc học và trao giải thưởng văn học
Thời kỳ này, cỏc hội đoàn văn nghệ được lập ra chủ yếu cho giới quan lại trớ thức cao cấp Sau này bắt đầu xuất hiện cỏc nhúm hoạt động văn húa xung quanh việc điều hành một tờ bỏo hay tạp chớ
Nhúm Đụng Dương tạp chớ là nhúm trớ thức hoạt động cho tờ tạp chớ Đụng Dương ra vào ngày thứ năm hàng tuần bắt đầu từ ngày 15.5.1913 và
chấm dứt ngày 15.9.1919 Chủ nhiệm bỏo là Francois Schneider, Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là chủ bỳt Bắt đầu từ đõy xuất hiện nhúm cỏc nhà văn chuyờn viết cho một tờ bỏo Những người làm bỏo bao gồm : Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn thuộc phỏi Tõn học và Phan Kế Bớnh, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Bỏ Trạc thuộc phỏi cựu học Những tỏc phẩm của cỏc nhà văn này đều được đăng trờn tạp chớ trước khi in thành sỏch và tạo ra một tinh thần riờng, một lối văn riờng Từ số 1 đến số 85 của tạp chớ chuyờn bàn về thời sự Cỏc số sau đú mới bàn về giỏo dục, văn húa Tạp chớ cú cỏc chuyờn mục : Lịch sử, phong tục, cổ văn, cổ học, dịch thuật … Tạp chớ chủ trương ngợi ca cụng lao nước Phỏp “coi thực dõn khụng hại bằng phong kiến”, ca tụng sự hợp tỏc với Phỏp, đả kớch những người khụng thức thời “đem văn chương học thuật, đem
õn huệ văn minh của nhà nước Lang Sa mà khua sỏo cho lấp được những lời
Trang 28gõy loạn” Tuy nhiờn những người hoạt động bỏo cũng gúp phần phổ biến chữ quốc ngữ trong mọi tầng lớp Họ tiờn phong trong việc dựng văn xuụi ngắn gọn thay cho văn vần, văn biền ngẫu Họ cũng dịch cỏc tỏc phẩm văn học nhằm truyền bỏ tư tưởng Âu Chõu Qua đú họ lợi dụng việc làm bỏo để tuyờn truyền duy tõn đất nước xõy dựng nền văn hóa mới
Nhúm Nam phong tạp chớ cũng được hỡnh thành như Đụng Dương tạp
chớ Tạp chớ Nam Phong ra đời từ 1.7.1917, tạp chớ ra hàng thỏng vào ngày đầu thỏng do Phạm Quỳnh (1892-1945) người chủ chương “bảo tồn quốc tuý,
lý tưởng hiền nhân quân tử, học phong sỹ khí nhà Nho, tinh thần gia tộc” làm chủ nhiệm kiờm chủ biờn phần quốc ngữ, Nguyễn Bỏ Trỏc chủ biờn phần chữ Nho Sau lưng tũa bỏo là sự tham gia chi phối của trưởng tũa chớnh trị phủ toàn quyền Đụng Dương L.Marty Tạp chớ cũng dịch thuật nhưng khảo về văn minh học thuật và đó chỳ ý đến sỏng tỏc thơ (khỏc với Đụng Dương tạp chớ gần như bỏ phần thơ ca) Từ 1917 tạp chớ thiờn về dịch thuật và sao lục Năm
1922 tạp chớ chủ trương giỏo huấn và khai húa Năm 1925 tạp chớ bàn nhiều đến chớnh trị, chủ thuyết đường lối quõn chủ lập hiến Từ 1932 tạp chớ đi dần vào sự suy sụp và chớnh thức đỡnh bản vào thỏng 12.1934 với tổng cộng 210
số bỏo
Nam Phong tạp chớ là tờ bỏo đầu tiờn đỳng thể thức, bài bản và cú giỏ trị
về tư tưởng, tri thức Bỏo cú cỏc chuyờn mục: lý thuyết, văn húa bỡnh luận, khoa học bỡnh luận, triết học bỡnh luận, văn uyển, tạp văn, thời đàn, tiểu thuyết… Chớnh quyền thực dõn Phỏp đã chu cấp toàn bộ kinh phớ hoạt động
và sử dụng tạp chớ này nhằm tuyờn truyền cho chế độ thuộc địa Tuy nhiờn những người làm bỏo cũng gúp phần truyền bỏ tư tưởng học thuật (qua việc dịch văn học và sưu tầm thơ văn cổ) luyện cho quốc văn thờm hoàn thiện và làm cho tiếng Việt thờm phong phỳ (qua việc đăng cỏc sỏng tỏc truyện ngắn, tựy bỳt, du ký) Những người hoạt động cho bỏo phải kể đến như: Phạm
Trang 29Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật…
Sang thập kỷ 30- 40 các nhóm hoạt động văn nghệ tuy vẫn hình thành trên cơ sở một cơ quan xuất bản nhưng có khác với tình hình trước đó là đều
tự lập, không được chính quyền hỗ trợ
Nhóm Tri Tân là một nhóm trí thức được hình thành trên cơ sở tuần san
Tri Tân (lấy từ chữ “ôn cố tri tân” trong s¸ch LuËn ng÷ cña Nho gi¸o nghĩa là xét cũ để biết mới) Báo do Dương Tụ Quán làm quản lý, Nguyễn Tường Phượng làm chủ nhiệm, Hoa Bằng làm chủ bút Số đầu tiên ra ngày 3.6.1941 trụ sở đóng tại phố Hàng Bông Hà Nội Tuần san chủ trương “Ôn cũ để biết mới Nhằm cái đích ấy, Tri Tân đi riêng vào con đường văn hóa với cặp kính khảo cứu… Tri Tân đứng vào hàng ngũ công binh xây dựng lâu đài văn hóa Việt Nam” Những người tham gia của nhóm gồm các nhà Nho cũ như: Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Tố… và lớp Tân học nhưng chịu ảnh hưởng của tinh thần của văn hóa cổ truyền như Hoa Bằng, Trúc Khê, Chu Thiên, Thiếu Sơn Nhóm chủ trương đăng các biên khảo, dịch thuật, phóng sự về văn hóa, lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ Nhóm tìm tòi, giám định, giới thiệu những tư liệu lịch sử qua đó bồi dưỡng lòng yêu nước thương nòi và niềm tự hào lịch
sử Tri Tân cũng phản biện cách nhìn lệch lạc của các học giả nước ngoài khi tìm hiểu về văn hóa Việt Nam Về mặt văn chương, Tri Tân có đăng tiểu
thuyết kịch nhưng vẫn bám vào đề tài lịch sử như: Vũ Như Tô (1943), Đêm hội long trì (1942), An Tư công chúa (1944)… cña NguyÔn Huy T−ëng Bởi
lẽ, họ cho rằng “văn chương phải là một lợi khí làm sống lại tinh thần dân tộc” Sau 212 số báo, Tri Tân ngừng hoạt động vào ngày 22.11.1945
Nhóm Thanh Nghị là một nhóm trí thức được hình thành trên cơ sở
nguyệt san Thanh Nghị chuyên về nghị luận văn chương và khảo cứu Nguyệt san có trụ sở tại 102 Hàng Bông Hà Nội do Vò Đình Hòe làm chủ bút được thành lập từ tháng 6.1941 Từ tháng 5.1942 tập san trở thành bán nguyệt san
Trang 30và từ năm 1944 trở thành tuần báo Những người tham gia nhóm Thanh Nghị phần lớn là những tri thức có bằng cấp cao (tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư…) như: Vũ Văn Hiền, Phan Anh, Nghiêm Xuân Yêm, Vũ Văn Cẩn, Hoàng Xuân Hãn, Đặng Thai Mai, Vũ Đình Hòe, Vũ Đ×nh Liên, Nguyễn Văn Huyên… Họ không ra tuyên ngôn, khuynh hướng hoạt động thay đổi theo thời cuộc, tuy nhiên mục đích hoạt động vẫn là “thông hiểu sự vật và tư tưởng” Họ không chủ trương Âu hóa như đầu những năm ba mươi mà đi một đường lối phối hợp Á – Âu, dung hòa truyền thống với tiến bộ, học hỏi tích cực khoa học phương Tây nhưng vẫn bảo tồn cái gốc truyền thống Họ muốn đứng ra “thu nhặt tài liệu để gióp vào sù giải quyết những vấn đề quan hệ đến cuéc sinh ho¹t của dân tộc Việt Nam” Trên tạp chí của họ có nhiều chuyên mục mang tính tạp chí bách khoa như: chính trị, kinh tế, luật pháp, khoa học, lịch sử, giáo dục, văn chương… Về mặt chính trị họ bàn nhiều đến chính thể đại nghị, quyền lập hiến Về mặt văn chương, Thanh Nghị đăng c¸c sáng tác trên nhiều khuynh hướng: thơ mới của Xuân Diệu, Huy Cận, văn xuôi của Nguyễn Tuân, văn học Trung Quốc dịch của Đặng Thai Mai… và gần như là diễn đàn của nhóm Xuân Thu nhã tập Là một nhóm trí thức yêu nước nổi tiếng, sau cách mạng 1945 phần lớn các thành viên đều tham gia kháng chiến
Nhóm Hàn Thuyên là một nhóm hoạt động xung quanh nhà xuất bản Hàn
Thuyên được thành lập 1941 do Nguyễn Xuân Tái là giám đốc điều hành, Trương Tửu là giám đốc văn chương, trụ sở tại phố Hàng Gà Với chủ trương
“đi tìm một triết lý mới về nhân sinh, có lợi ích thiết thực cho cuộc sống của quốc dân Việt Nam” họ còn lấy tên là nhóm Tân văn hóa để mong kiến thiết được một hệ thống văn hóa mới làm định hướng cho sự hoạt động Họ không xem quá khứ bằng con mắt kính cẩn, không chấp nhận tư tưởng chính thống của nhà nước thuộc địa mà đi theo triết lý duy vật Họ nghiên cứu trên lập trường duy vật, có cái nhìn giai cấp, sáng tác văn nghệ theo đường lối hiện thực xã hội Nhà xuất bản Hàn Thuyên cho in nhiều sáng tác văn chương của
Trang 31Đồ Phồn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đức Quỳnh, Chu Thiên, Nguyễn Đình Lạp… Hàn Thuyên in cả kịch, sách khảo luận văn chương nghiên cứu lịch sử, triết học, khoa học, kinh tế Năm 1942 Hàn Thuyên cho ra mắt tạp chí Văn mới với phụ đề “Tạp chí phổ thông giáo dục” do Nguyễn Xuân Lương làm chủ nhiệm, Nguyễn Đức Quỳnh làm chủ bút Không phải những người tham gia Hàn Thuyên đều có liên hệ mật thiết với nhóm (ví dụ Đặng Thai Mai, Nguyễn Đổng Chi chỉ gửi sách để in ở đây) Tuy nhiên họ có cái nhìn thống nhất về văn hóa là lấy duy vật quan làm phương pháp luận vì vậy nhận định của họ thường máy móc
Nhóm Tân Dân là nhóm văn nghệ sỹ trí thức tham gia xung quanh nhà
xuất bản Tân Dân do Vũ Đình Long thành lập tại 93 phố Hàng Bông Tân Dân vốn là một nhà sách sau chuyển thành nhà in và cuối cùng là nhà xuất bản Thực chất nhóm Tân Dân chỉ là một cơ sở kinh doanh văn chương không phải là nhóm văn nghệ Tham gia nhóm này có Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Vũ Bằng, Ngọc Giao, Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan….Tân Dân không phải là một văn đoàn, những người tham gia không hề hội họp để định ra tôn chỉ hay tuyên ngôn hoạt động Họ chỉ là một nhóm có tính chất tương cận trong sáng tác, các nhà văn chỉ là những người làm thuê theo hợp đồng Về căn bản họ xuất thân từ tÇng líp trung lưu, họ trở thành một nhóm khi đặt trong mối tương quan đối lập với TLVĐ Tân Dân ra nhiều báo và tạp chí như:
Bán nguyệt san Tao đàn ra ngày 1.3.1939 do Vũ Đình Long làm chủ
nhiệm, Lan Khai làm thư ký với chủ trương “không thuộc văn phái nào…đặc biệt chú trọng vào những công trình sáng tạo nhằm ươm trồng hạt giống tài hoa của chủng tộc để cho mọi cá tính được phát triển đầy đủ về mọi phương diện văn chương và tư tưởng” Tao đàn có nội dung gồm ba phần: Nghị luận
và khảo cứu- nghệ thuật- t¹p ký Tao đàn ngừng xuất bản năm 1940
Trang 32Tiểu thuyết thứ bảy là một tờ bỏo khụng cú chức năng thụng tin thời sự,
xó thuyết mà chuyờn đăng về văn xuụi với mục đớch “hiến cho bạn đọc một mún quà giỏ trị, vài ba truyện ngắn, hai thiờn tiểu thuyết hoặc tự chỳng tụi soạn ra, hoặc dịch theo sỏch Tõy sỏch Tàu” Bỏo phỏt hành ngày 2.6.1934 và đỡnh bản vào năm 1943
Tuần bỏo Ích hữu ra ngày thứ ba hàng tuần bắt đầu từ 25.2.1936 do Lờ
Văn Chương làm chủ bỳt Ích hữu là một tờ bỏo cú bàn đến thụng tin nghị luận thời sự nhưng phần sỏng tỏc văn học vẫn trờn hết, bỏo đỡnh bản năm 1938
Phổ thụng bỏn nguyệt san ra ngày 1.12.1936 là một tờ bỏo chuyờn đăng
về văn học, hỗ trợ cho tờ tiểu thuyết thứ bảy Bỏo đỡnh bản năm 1941
Nhúm Tõn Dõn là một cơ sở kinh doanh chạy theo thị hiếu của thị trường Văn của họ dễ dàng, nụng cạn vỡ sinh kế Những chủ bỏo thường sử dụng cỏc ngún nghề kinh doanh để bắt chẹt những người mới vào nghề Mặc
dự vậy, nhưng trong thời buổi khú khăn, Tõn Dõn đó tạo điều kiện tập hợp lực lượng sỏng tỏc, giới thiệu và quảng bỏ nhiều tỏc phẩm văn học
Chúng ta có thể thấy, đầu thế kỷ XX ở Việt Nam xuất hiện các nhóm, phái văn nghệ như một hiện tượng của sinh hoạt văn nghệ Các nhóm, phái
được hình thành trên cơ sở một cơ quan ngôn luận (thường là một nhà xuất bản hay một tờ báo) Nhưng các nhóm, phái không có liên hệ chặt về mặt tổ chức Có rất nhiều nhà văn tham gia viết bài cho nhiều nhóm vì thế rất khó có thể căn cứ vào đây để xác định khuynh hướng lập trường hoạt động văn hóa của họ Ngoài các nhóm kể trên, chúng ta còn thấy xuất hiện một số nhóm văn nghệ khác, nhưng hoạt động của họ gần như những salon văn nghệ như các nhóm: Sông Thương, Bình Định…
Trang 33Tiểu kết chương 1
Nửa đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam với những biến động chính trị- xã hội đã chuyển mình từ một xã hội phong kiến khép kín dần bước sang một xã hội hiện đại Sự thay đổi ấy là hệ quả của hai xu hướng trong quá trình tiếp biến văn hóa: Xu hướng cưỡng bức và xu hướng tự nguyện Những thay đổi về kinh tế - chính trị đã kéo theo những thay đổi về văn hóa - xã hội trong những thay đổi ấy, một loạt các hiện tượng văn hóa mới chưa từng có trong lịch sử đã xuất hiện và dần thay thế cho văn hóa cũ Bắt đầu từ việc hình thành các đô thị
và những lớp thị dân mới đã làm nảy sinh những nhu cầu hưởng thụ mới cả về vật chất và tinh thần Báo chí ra đời đã đưa đến sự hình thành cùng với việc thay đổi những hoạt động văn hóa văn nghệ từ loại hình, phương pháp, quan
điểm thẩm mỹ cho đến đối tượng phục vụ…Trong bối cảnh văn hóa ấy, xuất hiện rất nhiều nhóm phái văn hóa- văn nghệ như một hiện tượng phổ biến
Trang 34Chương 2
SỰ RA ĐỜI CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
2.1 Tự lực văn đoàn hình thành và cỏc thành viờn tham gia
2.1.1.Tự lực văn đoàn hỡnh thành và tụn chỉ hoạt động
Cho đến nay, giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về thời gian chính thức cho việc thành lập TLVĐ bởi những tôn chỉ hoạt động, dấu hiệu của nhóm; sự thành lập và điều hành một cơ quan ngôn luận của nhóm đều không cùng thời gian với nhau
Ngày 22.09.1932 báo Phong hoá số 14 và tuyên bố là Phong hoá bộ mới
dưới sự điều hành của một nhóm trí thức thuộc TLVĐ Tuy nhiên, tờ báo này lại được thành lập từ trước đó ba tháng
Ngày 2.3.1934 báo Phong hoá số 87 công bố Tuyên ngôn hoạt động của
nhóm TLVĐ Nhưng thực chất những nội dung của Tuyên ngôn này đã được các thành viên thực hiện trước đó Nội dung của tuyên ngôn bao gồm 10 tôn chỉ sau:
1 Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: Mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước
2 Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho người và xã hội ngày một hay hơn lên
3 Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính chất bình dân
và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân
4 Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ Nho, một lối văn thật có tính cách An Nam
5 Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ
6 Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lũng yêu nước một cách bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái
Trang 357 Trọng tự do cá nhân
8 Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa
9 Đem phương pháp khoa học thái Tây áp dụng và văn chương An Nam
10 Theo một trong chín điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác
Cũng trong tuyên ngôn, TLVĐ nói rõ là họp những đồng chí trong văn giới cùng nhau theo đuổi tôn chỉ trong công cuộc có tính cách văn chương
“Người trong văn đoàn có quyền đề dưới tên mình chữ Tự Lực Văn Đoàn và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được văn đoàn nhận và đóng dấu hiệu Sách của người khác đã xuất bản hay bản thảo gửi đến văn đoàn nếu 2/3 số người văn đoàn có mặt xét có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của văn đoàn TLVĐ không phải là hội buôn xuất bản sách Sau này nếu có thể, văn đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là giải thưởng TLVĐ để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của văn đoàn”
Tuyên ngôn của TLVĐ được ban ra ngay lập tức có ý nghĩa đối trọng với hiện trạng văn hoá và thực trạng xã hội đương thời Mười tôn chỉ hoạt động
được công bố ở trên trừ điều số 10 thì nội dung của bản tôn chỉ có thể được hiểu như sau:
- Về mặt văn hoá: Tạo nên một phong trào sáng tác văn chương mới (điều 1), xây dựng một nền văn chương tiếng Việt (điều 4), tiếp thu phương pháp sáng tác hiện đại (điều 9) Điều số 9 nói về phương pháp khoa học thái Tây phải được hiểu là những tư duy khoa học duy lý để đối lập với sự sáng tạo của những tình tiết truyện kiếm hiệp, hoang đường được bịa đặt đôi khi là vô lý của truyện Nôm xưa
- Về mặt xã hội: Đề cao chủ nghĩa bình dân, bồi đắp tinh thần yêu nước trên cơ sở lấy bình dân làm nền tảng (điều 6), vạch trần tính chất lỗi thời của Nho giáo đang ngự trị trong xã hội (điều 8) Lấy việc giải phóng cá nhân làm trung tâm điểm của mọi sáng tác (điều 7)
Trang 36Về dấu hiệu của nhóm không được biết xuất hiện vào lúc nào và do ai sáng tác Ta chỉ có thể tìm được dấu hiệu ấy được xuất hiện trên các ấn phẩm của TLVĐ Dấu hiệu được thể hiện là một hình tròn đóng khung với hai chữ
TL cách điệu và tạo hình con ó đang tung cánh trên sóng nước
TLVĐ lấy cơ quan ngôn luận là tờ báo Phong hoá (từ 9.1932 đến 3.1936)
và tờ Ngày nay (từ 1.1935 đến 1940) cùng với hai tờ báo này là nhà xuất bản
Đời này
Cùng với việc xác định thời gian thành lập thì giới nghiên cứu cũng không thống nhất được thời gian chấm dứt của TLVĐ Năm 1940 khi cơ quan
ngôn luận của nhóm là báo Ngày nay bị đình bản do một số thành viên của
nhóm tham gia hoạt động chính trị nhưng các thành viên này vẫn tiếp tục sáng tác văn chương và điều hành nhà xuất bản Đời nay Đến năm 1942 khi Thạch Lam qua đời, Nhất Linh vì hoạt động chính trị phải lưu vong sang Trung Quốc Khái Hưng, Hoàng Đạo bị bắt giam tại Vụ Bản (Hoà Bình), TLVĐ không tuyên bố giải thể nhưng coi như chấm dứt hoạt động
2.1.2 Các thành viên của Tự Lực văn đoàn
Số lượng thành viên chính thức tham gia TLVĐ cũng không được xác
định một cách chính xác Tất cả đều khẳng định có bảy người là thành viên chính thức về sau thêm một người để nhóm tám thành viên Chắc chắn có sáu
thành viên chính thức tham gia từ đầu là những người điều hành báo Phong hoá bao gồm: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú
Mỡ Hồi ký của Tú Mỡ được đăng trên tạp chí Văn học số 5-6.1988 và số 1.1989 cùng với bài viết Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức của TLVĐ của Lê Thị Đức Hạnh đăng trên tạp chí Văn học số 5.1990 khẳng định:
Trần Tiêu là thành viên thứ bảy
Phạm Thế Ngũ không xác định thành phần của TLVĐ cụ thể là ai, nhưng
cho rằng là những người làm báo Phong Hoá gồm bảy thành viên là sáu người
kể trên cùng với Nguyễn Gia Trí Còn lại Trần Tiêu, Xuân Diệu, Thanh Tịnh,
Trang 37Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Cát Tường chỉ là cộng tác viên Trương Chính lại cho rằng nhóm TLVĐ gồm tám thành viên, gồm sáu người kể từ đầu và Trần Tiêu, Xuân Diệu
Việc xác định thành viên TLVĐ còn bị chi phối bởi lý do chính trị Sau năm 1945, trừ Thạch Lam mất sớm, các thành viên còn lại một phần tham gia kháng chiến phần kia tham gia phe đối lập Vì vậy, giới nghiên cứu miền Nam khi viết về TLVĐ ít khi nhắc đến ba thành viên tham gia kháng chiến là: Tú
Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu Giới nghiên cứu miền Bắc khi coi TLVĐ là nhóm sáng tác văn học mang nội dung tiêu cực lại nhắc đến các thành viên đối lập, cũng không nhắc thới các nhà thơ vì e ngại làm giảm đi giá trị của các nhà thơ này Căn cứ vào những hoạt động của các thành viên có thể kể đến một số văn nghệ sỹ trí thức chủ chốt trong nhóm TLVĐ như sau:
Nhất Linh (25.7.1906- 7.7.1963) tên thật là Nguyễn Tường Tam các bút
danh khác: Bảo Sơn, Đông Sơn, Tân Việt ông sinh trong một gia đình công chức tại Cẩm Giàng-Hải Dương nhưng quê gốc ở Hội An-Quảng Nam Thuở nhỏ ông theo học ở Hải Dương và Hà Nội Khi làm nhân viên ở Sở tài chính
Đông Dương, Nhất Linh đã có những sáng tác đầu tay của mình Năm 1925
ông theo học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương Năm 1927 ông sang Pháp học đến năm 1930, Nhất Linh nhận bằng cử nhân khoa học và về nước dậy học tại trường tư thục Thăng Long Năm 1932 Nhất Linh cùng các đồng
sự làm báo Phong hoá Năm 1933 TLVĐ được thành lập, Nhất Linh vừa điều khiển nhóm vừa điều hành hoạt động của báo vừa sáng tác văn nghệ
Năm 1940 Nhất Linh ngừng sáng tác chuyển sang hoạt động chính trị, bí mật thành lập đảng Hưng Việt rồi làm tổng thư ký đảng Đại Việt dân chính Năm 1942 vì bị Pháp khủng bố Nhất Linh sang Trung Quốc hoạt động trong các tổ chức chính trị Sau năm 1945 Nhất Linh trở về nước tranh quyền lãnh
đạo với chính quyền cách mạng mới thành lập Nhất Linh tham gia chính phủ liên hiệp và giữ chức Bộ trưỏng Ngoại giao Được cử làm trưởng phái đoàn
Trang 38Việt Nam đi dự Hội nghị Đà Lạt và hội nghị Fontainebleau tại Pháp nhưng
ông đã từ nhiệm và sang Trung Quốc Năm 1951 Nhất Linh trở về nước tuyên
bố không làm chính trị Sau 1954 Nhất Linh vào sống ở Sài Gòn và Đà Lạt
Ông thành lập Nhà xuất bản Phượng Giang, ra Tạp chí Văn hoá ngày nay cố gắng khôi phục hoạt động văn nghệ như thời TLVĐ Năm 1963 vì liên quan vào một âm mưu đảo chính Nhất Linh đã tự sát khi bị gọi ra trình diện
Là một nhà văn Nhất Linh có các sáng tác như: Nho phong (1926), Người quay tơ (1927), Anh phải sống (1933), Gánh hàng hoa (1934), Đời mưa gió (1935), Đoạn tuyệt (1935), Sống (1936), Tối tăm (1936), Lạnh lùng (1937), Hai buổi chiều vàng (1937), Đôi bạn (1939), Bướm trắng (1941)…
Tên tuổi của Nhất Linh gắn liền với nhóm TLVĐ và có ảnh hưởng rất lớn trong một thời gian dài trước 1945, phản ánh một thái độ lập trường của một
bộ phận trí thức đương thời: đề cao chủ nghĩa cải lương, đòi tự do cá nhân
Khái Hưng (1896- 2.1.1947) tên thật là Trần Giư Ông còn bút danh
khác là Nhị Linh, Nhát Dạo Cạo, Bán Than Khái Hưng sinh tại Cổ Am-Hải Phòng trong một gia đình quan lại (cha đẻ là tuần phủ) Ông đỗ tú tài triết học tại trường Albert Sarraut và làm giáo viên tại trường tư thục Thăng Long ông bắt đầu viết văn viết báo trong thời gian này Tham gia TLVĐ, ông là cây bút
chủ lục của nhóm Hồn bướm mơ tiên là tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng và
cũng là tiểu thuyết đầu tiên của TLVĐ Năm 1942 do tham gia hoạt động chính trị Khái Hưng bị bắt giam Tháng 3.1945 Khái Hưng được tự do về phụ trách mục Tiếng vang trên báo Ngày nay kỉ nguyên mới Sau Cách mạng tháng Tám, Khái Hưng viết tuyên truyền chống cách mạng trên các báo Việt Nam, Chính nghĩa của Quốc dân đảng ông mất tại huyện Xuân Trường-Nam
Định
Các sáng tác của ông: Hồn buớm mơ tiên (1933), Anh phải sống (viết chung với Nhất Linh 1934), Nửa chừng xuân (1934), Tục luỵ (kịch 1935), Đời mưa gió (viết chung với Nhất Linh 1935), Trống mái (1936), Dọc đường gió
Trang 39bụi (tập truyện 1936), Tiếng suối reo (tập truyện 1937), Gia đình (1937), Thoát ly (1937), Tiêu Sơn tráng sĩ (1937), Thừa tự (1940), Đợi chờ (tập truyện 1939), Hạnh (tập truyện 1940), Cái ấm đất (tập truyện 1940), Cóc tía (1940),
Đẹp (1941), Đội mũ lệch (tập truyện 1941), Những ngày vui (1941), Đồng bệnh (kịch 1942), Băn khoăn (1943), Cái ve (1944)…
Là nhà văn chủ lực và có tài nhất của TLVĐ, Khái Hưng có nhiều đóng góp cho sự đổi mới và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Khái Hưng là nhà tiểu thuyết có biệt tài, ông xem xét tâm lý phụ nữ rất đúng, ông lại để tâm đến việc cải cách những hủ tục trong gia đình Việt Nam nên những tiểu thuyết của ông đều là những tiểu thuyết có giá trị”
Hoàng Đạo (16.11.1907- 22.7.1948) tên thật là Nguyễn Tường Long, là
em trai của nhà văn Nhất Linh Ông có các bút danh khác như: Tứ Ly, Tường Minh Năm 1927 ông đỗ cử nhân luật và làm tham tá lục sự toà án Đà Nẵng
và Hà Nội Năm 1933 ông tham gia TLVĐ và là cây bút chính luận chuyên
viết các mục: Trước vành móng ngựa, Bùn lầy nước đọng, Vấn đề thuộc địa, Vấn đề cần lao Năm 1942 vì hoạt động chính trị ông bị Pháp bắt giam một
thời gian Sau Cách mạng tháng tám ông tham gia chính phủ liên hiệp và giữ chức Bộ trưởng Kinh tế Năm 1946 Hoàng Đạo từ nhiệm sang lưu vong ở Trung Quốc và chết tại ga Thạch Long-một ga xép nhỏ tại Quảng Đông
Hoàng Đạo chuyên về nghị luận và luận đề, có một bộ óc phán đoán tinh
tế, lí luận chặt chẽ Ông chủ chương một cuộc cải cách toàn diện: phổ biến pháp luật phế bỏ hủ tục, bãi bỏ thuế thân, bãi trừ cho vay lãi nặng, bãi bỏ độc quyền nhà nước, phát triển công nghệ, giáo dục phổ thông Các sáng tác văn học của ông chủ yếu là những bài đăng báo trước đó:
Trước vành móng ngựa (phóng sự 1938) Mười điều tâm niệm (luận thuyết 1939) bùn lầy nước đọng (phóng sự 1939) Con đường sáng (tiểu thuyết 1940) Tiếng đàn (tập truyện 1941)
Trang 40Thạch Lam (7.7.1910- 28.6.1942) tên thật là Nguyễn Tường Vinh sau
đổi là Nguyễn Tường Lân, có bút danh khác là Việt Sinh Ông là em ruột 2 nhà văn Nhất Linh và Hoàng Đạo Tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học, ông theo học trường Cao đẳng Canh nông một thời gian sau đó bỏ học và thi đỗ tú tài phần thứ nhất tại trường Albert Sarraut Sau đó ông tham gia viết báo cùng với các anh của mình trong TLVĐ Là nhà văn Thạch Lam có bút pháp nhẹ nhàng tươi tắn nhưng vẫn nói được những điều sâu thẳm trong tâm hồn con người Phần lớn các nhà phê bình đều cho Thạch Lam là cây bút sáng giá và sắc nét nhất trong số các nhà viết truyện ngắn Việt Nam Các sáng tác của Thạch Lam
là: Gió đầu mùa (tập truyện 1937) Nắng trong vườn (tập truyện 1938) Ngày mới (tiểu thuyết 1939) Sợi tóc (tập truyện 1942), Hà Nội băm sáu phố phường
(bút ký 1943)
Tú Mỡ (14.3.1900-13.7.1976) tên thật là Hồ Trọng Hiếu sinh tại Hà Nội
trong một gia đình thị dân nghèo Năm 1918 ông đỗ thành chung và làm thơ
ký ở sở tài chính Tú Mỡ làm thơ trào phúng từ rất sớm ngay khi còn học tại trường Bưởi Năm 1926 ông đã đăng thơ trên báo Việt Nam thanh niên và Tứ dân tạp chí Tham gia TLVĐ ông chuyên viết mục Dòng nước ngược, sau năm
1945 ông dùng bút danh Bút chiến đấu Thời kỳ này thơ ông vẫn giữ được cái giọng hóm hỉnh nhưng không còn trào phúng mà chân thật, hiền lành Tú Mỡ từng là đại biểu quốc hội và là Phó Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam Tú Mỡ được trao giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000
Các sáng tác của ông là: Dòng nước ngược (3 tập: 1934, 1941, 1946) Nụ cười kháng chiến (1952) Nụ cười chính nghĩa (1958) Bút chiến đấu (1960)
Đòn bút (1961, 1962) Ông và cháu (1970) Vũ Ngọc Phan nhận xét về ông:
“Tú Mỡ có giọng bình dân rất trong sáng chúng ta vốn ưa thích xưa nay Giọng đùa cợt lẳng lơ của Hồ Xuân Hương, giọng nhạo đời của Trần Tế Xương, giọng thù ứng ý nhị của Nguyễn Khắc Hiếu, giọng giao duyên tình tứ của Trần Tuấn Khải…Thơ Tú Mỡ hơi giống những bài châm biếm trong một