1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu sưu tập đèn cổ tại bảo tàng lịch sử quốc gia việt nam

123 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 3,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Nghiên cứu Sưu tập Đèn cổ gắn với niên đại thực tế của các hiện vật đèn, đồng thời quan tâm tới quá trình các hiện vật được sưu tầm, lưu giữ tại Bảo t

Trang 1

Tr−êng §¹i häc V¨n ho¸ Hμ Néi

Khoa DI S¶N V¡N HãA

-

TÌM HIỂU SƯU TẬP ĐÈN CỔ TẠI BẢO TÀNG

LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM

Kho¸ luËn tèt nghiÖp ngμnh B¶O

TμNG HäC

Mã số: 52320305

Người hướng dẫn: Th.S PHẠM THU HẰNG

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THU HƯƠNG

Hμ Néi – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Tìm hiểu Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng

Lịch sử Quốc gia Việt Nam”, em đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của cô

giáo - Ths Phạm Thu Hằng - Giảng viên khoa Di sản Văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Cô đã đóng góp những ý kiến quý báu và bổ ích giúp em hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các giảng viên khoa Di sản Văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức trong thời gian chúng em ngồi trên ghế nhà trường, cung cấp cho chúng em những nền tảng tri thức quan trọng và cần thiết là cơ sở để em thực hiện đề tài khóa luận này, cũng là hành trang cho em trong chặng đường sắp tới

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, thư viện trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã cung cấp cho em những tài liệu và thông tin trong quá trình làm khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu xót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và bạn bè để làm hoàn thiện hơn nữa công trình nghiên cứu này của em

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên Nguyễn Thu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Đối tượng nghiên cứu 5

3 Phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Bố cục khóa luận 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT BẢO TÀNG 7 1.1 Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam 7

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 7

1.1.2 Các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ 13

1.2 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam 19

1.2.1 Sưu tập hiện vật và ý nghĩa đối với hoạt động bảo tàng 19

1.2.2 Kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam 22

1.2.3 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật tại kho cơ sở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam 27

CHƯƠNG 2: PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP ĐÈN CỔ TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM 31

2.1 Vài nét về đèn trong cuộc sống của người Việt Nam 31

2.1.1 Nguồn gốc của đèn 31

2.1.2 Sự xuất hiện của đèn ở Việt Nam 32

Trang 4

2.2 Sự hình thành Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

34

2.3 Phân loại hiện vật trong Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam 36

2.3.1 Phân loại theo niên đại 36

2.3.1.1 Hiện vật đèn thời sơ sử 36

2.3.1.2 Hiện vật đèn từ thế kỷ I – X 38

2.3.1.3 Hiện vật đèn từ thế kỷ XI - đầu thế kỷ XX 38

2.3.2 Phân loại theo chất liệu 39

2.3.2.1 Hiện vật đèn chất liệu kim loại 40

2.3.2.2 Hiện vật đèn chất liệu gốm 41

2.3.2.3 Hiện vật đèn các chất liệu khác 43

2.4 Giá trị của Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam 44

2.4.1 Giá trị lịch sử 44

2.4.2 Giá trị văn hóa 47

2.4.3 Giá trị mỹ thuật 53

2.4.4 Giá trị kỹ thuật 55

2.4.5 Giá trị kinh tế 59

CHƯƠNG 3: BẢO QUẢN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ SƯU TẬP ĐÈN CỔ TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM 61

3.1 Thực trạng Sưu tập Đèn cổ 61

3.1.1 Thực trạng kiểm kê - bảo quản 61

3.1.2 Thực trạng khai thác phát huy giá trị 66

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo quản và phát huy giá trị của Sưu tập Đèn cổ 68

Trang 5

3.2.1 Tăng cường việc sưu tầm, nghiên cứu, hoàn thiện bổ sung hồ sơ cho Sưu tập 68 3.2.2 Đẩy mạnh quá trình số hóa việc quản lý Sưu tập 70 3.2.3 Tăng cường các hoạt động khai thác, phát huy giá trị của Sưu tập 72 3.2.4 Đẩy mạnh việc hợp tác với các bảo tàng, tổ chức, cá nhân trong quá trình nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị Sưu tập 74

KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 6

ấm, sức nóng và sự đốt cháy…

Lửa làm thay đổi cuộc sống con người, từ bóng tối bước ra ánh sáng, hoàn thiện hơn, văn minh hơn Con người phát hiện ra lửa và dần dần tự tạo ra những vật dụng để giữ lửa phù hợp với cuộc sống của mình Từ lửa tự nhiên đến lửa bằng các loại vật dẫn khác nhau để hình thành những vật giữ lửa, mà đầu tiên được biết đến là đèn

Sự xuất hiện của đèn là một dấu ấn quan trọng trong sự phát triển cuộc sống của con người tiền sử, là vật dụng thiết yếu đem lại ánh sáng cho con người

Đèn là một trong những phát minh lâu đời của nhân loại, nhờ có phát minh này, loài người đã dần kiểm soát, chế ngự được lửa không chỉ nhằm phục vụ lợi ích cuộc sống mà còn tạo cho đời sống tinh thần của mình ngày càng phong phú

và có ý nghĩa hơn Ở Việt Nam, qua tài liệu khoa học cho thấy, đèn được chế tác cách ngày nay hàng nghìn năm Đèn dùng để giữ lửa phục vụ đời sống sinh hoạt như thắp sáng, sưởi ấm… đồng thời đóng vai trò quan trọng trong nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, gắn bó với các không gian tâm linh của người Việt Tìm hiểu

Trang 7

về đèn cũng là một trong những cách thức tìm hiểu về lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc

Xã hội hiện đại, con người sống “vội”, sống “nhanh” hòa với xu thế toàn cầu hóa, đô thị hóa Những giá trị văn hóa theo đó cũng có nguy cơ mờ nhạt, mai một dần Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần tăng cường tìm hiểu, chú trọng hơn nữa việc nghiên cứu những giá trị truyền thống để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, góp phần gìn giữ tài sản văn hóa cho muôn đời, cũng như để quán triệt đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Là sinh viên ngành Bảo tàng học, với vốn kiến thức tích lũy được, tôi nhận thấy giá trị cũng như tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc thông qua các hiện vật bảo tàng - những cây đèn cổ

Chính vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu sưu tập đèn cổ tại Bảo tàng

Lịch sử Quốc gia Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp Đại học Tôi hi vọng, kết

quả nghiên cứu của khóa luận sẽ góp phần nhỏ bé vào việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa, di sản văn hóa dân tộc còn tiềm ẩn, đồng thời tôn vinh hình ảnh của văn hóa, đất nước, con người Việt Nam

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận là Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Nghiên cứu Sưu tập Đèn cổ gắn với niên đại thực tế của các hiện vật đèn, đồng thời quan tâm tới quá trình các hiện vật được sưu tầm, lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

- Về không gian: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

Trang 8

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Duy vật lịch sử

6 Bố cục của Khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, bố cục khóa luận gồm 3 chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam và hoạt

động xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng

Chương 2: Phân loại và giá trị của Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử

Quốc gia Việt Nam

Chương 3: Bảo quản và phát huy giá trị Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia Việt Nam

Trang 9

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM

VÀ HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG SƯU TẬP HIỆN VẬT BẢO TÀNG

1.1 Khái quát về Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam được thành lập trên cơ sở sáp nhập giữa Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam theo quyết định số 1647/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 26/9/2011 Đây là các bảo tàng thuộc hệ thống bảo tàng quốc gia Việt Nam được ra đời từ rất sớm

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một trong những bảo tàng được thành lập sớm nhất trên cơ sở kế thừa cơ sở vật chất của Bảo tàng Louis Finot - một bảo tàng thuộc Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, xây dựng năm 1926, khánh thành năm 1932 Thời thuộc Pháp, bảo tàng trưng bày chủ yếu các sưu tập hiện vật nghệ thuật của vùng Viễn Đông, đặc biệt là những di sản văn hóa - nghệ thuật của các nước Đông Dương thuộc Pháp trong đó có Việt Nam Đó là một bảo tàng không chỉ đẹp về kiểu dáng kiến trúc mà còn đẹp cả ở phong cách và nghệ thuật trưng bày cổ vật Do đó, đã có một thời, thiết chế này được xếp vào loại bảo tàng nghệ thuật hàng đầu ở Đông Nam Á Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Ngày 22 - 4 - 1958, Chính phủ Việt Nam chính thức tiếp quản công trình văn hóa này và xúc tiến nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu hiện vật, chuyển đổi nội dung từ Bảo tàng nghệ thuật châu Á thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Ngày 3 - 9 - 1958, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam chính thức mở cửa đón khách tham quan

Trang 10

Hệ thống trưng bày chính của bảo tàng là cuốn sử sống của dân tộc

Việt Nam từ thời Tiền sử (cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm) đến Cách

hiện vật, hệ thống trưng bày chính của bảo tàng được thể hiện theo nguyên tắc trưng bày niên biểu, lấy sự phong phú của sưu tập hiện vật làm ngôn ngữ biểu đạt chính, kết hợp giữa trưng bày phản ánh giai đoạn và sự kiện lịch sử với trưng bày sưu tập theo hướng trưng bày mở, tạo điều kiện để có thể cập nhật những tư liệu hiện vật mới do công tác nghiên cứu sưu tầm đem lại, làm cho "diện mạo" trưng bày luôn mới mẻ, hấp dẫn người xem Cùng mục đích ấy, bảo tàng thường xuyên tổ chức các cuộc trưng bày chuyên đề, với hệ thống màn hình ti vi, màn hình cảm ứng hiện đại, hình ảnh phong phú, sống động, những dữ liệu khoa học chân xác ngày càng thỏa mãn nhu cầu khách tham quan, các nhà nghiên cứu khi đến bảo tàng Nội dung trưng bày của bảo tàng gồm bốn phần trọng tâm:

Phần 1: Việt Nam thời tiền sử: trưng bày những di tích thời tiền sử,

tương đương với giai đoạn từ thời đại đồ đá cũ đến hậu kỳ thời đại đá mới Tiến trình này cách ngày nay khoảng 30 - 40 vạn năm đến khoảng 4000 - 5000 năm

Phần 2: Việt Nam từ thời dựng nước đầu tiên đến triều Trần: Đây

là phần trưng bày với nhiều thời kỳ lịch sử:

- Thời kỳ dựng nước đầu tiên

- 10 thế kỷ đầu công nguyên

- Triều Ngô - Đinh - Tiền Lê đến triều Lý - Trần

Phần 3: Việt Nam từ triều Hồ đến Cách mạng tháng 8 - 1945: Phần

trưng bày gồm nhiều thời kỳ lịch sử:

- Triều Hồ

- Triều Lê sơ - Mạc - Lê Trung Hưng

- Triều Tây Sơn

Trang 11

- Triều Nguyễn

- Phong trào chống Pháp và Cách mạng tháng 8 - 1945

Phần 4: Phòng trưng bày sưu tập điêu khắc đá Chămpa: phòng

trưng bày được trưng bày theo niên đại, từ thế kỷ VII - XIII

Hệ thống trưng bày nói trên là kết quả sau ba năm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành chỉnh lý (1998 - 2000) Cùng với đó, bảo tàng cũng tiến hành triển khai nhiều dự án chỉnh lý, cải tạo, ứng dụng công nghệ thông tin… để

có thể phục vụ tốt hơn nhu cầu của các đối tượng khách tham quan

Bảo tàng Cách mạng Việt Nam

Ngay sau ngày miền Bắc được giải phóng, tháng 12 - 1954, phiên họp của Hội đồng Chính phủ dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thảo luận

và quyết định việc: Xây dựng một Viện Bảo tàng lấy tên là "Viện Bảo tàng Cách mạng" Đó là một khuôn viên rộng khoảng 1 ha nằm ở trung tâm Thủ đô giáp ba mặt phố: Trần Quang Khải, Tràng Tiền, Tông Đản Khi mới ra đời, tổng kho của Bảo tàng có trên 1 vạn hiện vật, hình ảnh, tài liệu văn bản Giờ đây, con số đó đã tăng lên đáng kể, gồm nhiều sưu tập và bộ sưu tập có giá trị cho việc nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn, cho việc tuyên truyền, giáo dục truyền thống, bồi dưỡng niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ công dân Việt Nam Các sưu tập hiện vật đó là nền tảng để bảo tàng tổ chức trưng bày về tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam thời kỳ cận - hiện đại (từ 1858 đến nay)

Ngôi nhà Bảo tàng Cách mạng trước năm 1954 là Sở Thương chính Đông Dương do người Pháp xây dựng năm 1917 Hệ thống trưng bày được các cán bộ bảo tàng đầu tiên của Việt Nam xây dựng và đi vào hoạt động phục vụ công chúng từ ngày 6 - 1 - 1959 Đây là nơi lưu giữ và trưng bày các tài liệu, hiện vật, hình ảnh và tư liệu về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

Trang 12

Hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam sử dụng trên 2.100 hiện vật, hình ảnh, tư liệu bày trong 29 phòng với tổng diện tích

Phần thứ nhất: Thời kỳ đấu tranh giành độc lập của nhân dân

Phần thứ hai: Cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược để bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc từ 1945 đến 1975

Phần trưng bày thứ hai của bảo tàng có nhiều nhóm hiện vật gây ấn tượng được sử dụng để làm vật chứng cho các sự kiện của 30 năm chiến đấu gian khổ, anh dũng Phần này thể hiện trong 14 phòng trưng bày tiếp theo từ phòng số

10 đến phòng số 24 Cuộc kháng chiến trường kỳ kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp (1945 - 1954) và 20 năm chống đế quốc Mỹ (1955 - 1975) của dân tộc Việt Nam là một cuộc trường chinh đầy gian khổ hy sinh, một bản hùng ca bi tráng của lịch sử dân tộc

Ngoài lịch sử kháng chiến là nội dung bao trùm, phần trưng bày này còn có một nội dung nữa được trưng bày xen kẽ, đó là cuộc sống lao động, xây dựng Từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, dù trong hoàn cảnh

Trang 13

chiến tranh, nhân dân Việt Nam vẫn cần cù, chịu đựng, vượt qua khó khăn để học tập, để cải tạo ruộng đồng, để xây dựng nhà máy, cầu đường, để bảo đảm sự tồn tại và chuẩn bị cơ sở vật chất cho sự phát triển của đất nước sau chiến tranh

Phần thứ ba: Việt Nam trên con đường xây dựng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh từ 1975 đến nay

Phần cuối cùng của Bảo tàng giới thiệu lịch sử đang tiếp diễn do đó ba phòng trưng bày của phần này không mang tính cố định

Nếu hai phần trước Bảo tàng sử dụng phương pháp trưng bày theo biên niên hoặc kết hợp trưng bày chuyên đề với biên niên, thì ở phần này bảo tàng kết hợp giới thiệu nội dung khái quát về lịch sử với trưng bày sưu tập Phòng số 25 sử dụng các hiện vật, hình ảnh, tư liệu và mô hình tĩnh để giới thiệu khái quát lịch sử 25 năm sau chiến tranh

Ngoài ba phần chính nói trên, Bảo tàng sử dụng hai phòng cuối cùng (phòng số 28 và 29) trưng bày Bộ sưu tập Tặng phẩm của nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam với gần 300 hiện vật nguyên gốc

Hiện nay, sau khi sáp nhập hai bảo tàng, hệ thống trưng bày mới cũng

với khoảng 10.000 tài liệu hiện vật, bảo tàng đang ngày một thực hiện tốt chức năng của mình, phục vụ nhu cầu tìm hiểu của đông đảo quần chúng nhân dân Đội ngũ cán bộ của hai bảo tàng cũng được sáp nhập và thống nhất thành một cơ cấu tổ chức chung, đảm bảo thực hiện tốt những nhiệm vụ mới, phù hợp với chức năng của một bảo tàng quốc gia Cơ cấu tổ chức của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam hiện nay gồm Ban Giám đốc và 16 phòng ban với tổng số viên chức, người lao động trên 240 người:

Trang 14

* Phòng Quản lý trưng bày ngoài trời và không gian tưởng niệm

** Ban xây nội dung và hình thức trưng bày Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

Ban Giám đốc Hội đồng khoa học

bộ

Phòng

Kế hoạch

Phòng Tài chính

Kế toán

Phòng

An ninh bảo

vệ

Phòng

Kỹ thuật công nghệ

Phòng Nghiên cứu Sưu tầm

Phòng Quản

lý hiện vật

Phòng Bảo quản

Phòng Trưng bày

Phòng Giáo dục công chúng

Phòng Truyền thông

Phòng

Tư liệu thư viện

Phòng Hợp tác quốc

tế

Phòng QLTB

QG VN**

Trang 15

1.1.2 Các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ

“Bảo tàng - theo nghĩa rộng nhất - là cơ quan được ủy thác giữ gìn các tài sản của con người và vì lợi ích trong tương lai của loài người Giá trị của nó là ở sự phục vụ xứng đáng cho đời sống cảm xúc và tinh thần của loài người Hoạt động của một bảo tàng… là vô cùng có ích” 1 Bảo tàng Lịch sử

Quốc gia Việt Nam là một trong những bảo tàng lớn nhất và hiện đại nhất ở Việt Nam hiện nay Bảo tàng đã và đang thực hiện các hoạt động nghiệp vụ đáp ứng các yêu cầu của một bảo tàng hiện đại trong nghiên cứu, bảo vệ, bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị các tài liệu, hiện vật về lịch sử dân tộc phục vụ nhu cầu văn hóa của cộng đồng

Công tác nghiên cứu khoa học:

Đối với Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, hoạt động nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng giữ vai trò quan trọng, nhằm mục đích phục vụ công tác trưng bày và bảo quản hiện vật Thông qua hệ thống trưng bày, bảo tàng

có nhiệm vụ tuyên truyền và phổ biến tri thức lịch sử cho khách tham quan Cùng với giới Sử học, giới Bảo tàng học và các cơ quan chuyên ngành khác, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đã góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề về giai đoạn tiền sử, sơ sử và lịch sử của dân tộc bằng các hình thức: tổ chức và đồng tổ chức các cuộc hội thảo khoa học; tham gia các cuộc Hội thảo, Hội nghị khoa học trong và ngoài nước; xây dựng các đề tài khoa học ngắn hạn và dài hạn cấp cơ quan và cấp Bộ; phối hợp với các cơ quan ở trong nước và quốc tế nghiên cứu các đề tài về lịch sử - văn hoá Việt Nam

1 Gary Edison và David Pean (2000), Cẩm nang bảo tàng, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam dịch và xuất bản,

tr 24

Trang 16

Công tác sưu tầm hiện vật bảo tàng:

Công tác sưu tầm luôn được lãnh đạo bảo tàng quan tâm, chỉ đạo sâu sát, tập trung đầu tư để hoạt động này trở thành một trong những hoạt động mũi nhọn của bảo tàng Là một bảo tàng thuộc loại hình lịch sử xã hội, nghiên cứu lịch sử dân tộc từ thuở sơ khai cho đến ngày nay, bên cạnh các phương pháp sưu tầm thường xuyên, sưu tầm định kỳ hay phát động quần chúng nhân dân sưu tầm đóng góp hiện vật cho bảo tàng… thì công tác sưu tầm của bảo tàng tập trung

gia Việt Nam là một trong ba trung tâm nghiên cứu khảo cổ học lớn của cả nước Trong những năm qua, bảo tàng đã đóng góp tích cực vào việc phát hiện, khai quật các di tích thuộc nhiều thời đại lịch sử khác nhau đặc biệt là giai đoạn Đông Sơn và tiền Đông Sơn Các nhà khảo cổ học ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam là những người đi tiên phong trong nghiên cứu táng thức mộ thuyền văn hoá Đông Sơn Nhiều di tích hang động văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn đã được phúc tra, khai quật Những sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hoá này cũng được chỉnh lý, minh định lại và được xuất bản thành sách

Nhiều kỹ nghệ, văn hoá đã được các nhà khảo cổ học ở Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia Việt Nam phát hiện, làm sáng rõ hơn tiến trình phát triển thời tiền

sử Một trong những đóng góp quan trọng là việc phát hiện và nghiên cứu kỹ nghệ mảnh tước Ngườm (Thái Nguyên) thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ Phát hiện này được coi là một trong những thành tựu quan trọng trong việc nghiên cứu thời đại đá cũ nhiều thập niên cuối thế kỷ XX Các nền văn hoá nổi tiếng thuộc hậu

kỳ thời đại đồ đá mới - sơ kỳ kim khí như văn hoá Hoa Lộc (Thanh Hoá), văn hoá Xóm Cồn (Phú Yên - Khánh Hoà) cũng được xác lập và được đưa vào giảng dạy trong các giáo trình khảo cổ học

Trang 17

Nhiều sưu tập hiện vật đã được bổ sung cho kho bảo tàng và phát huy trưng bày thông qua những hoạt động khảo cổ học nói trên

Rất nhiều sưu tập hiện vật có giá trị đã thu được qua khai quật, bổ sung cho cả hệ thống trưng bày của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam và các bảo tàng tỉnh (thành phố)

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện là cơ quan duy nhất trong nước hoạt động khảo cổ học dưới nước Năm con tàu đắm đã được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam phối hợp với các chuyên gia và tổ chức trong và ngoài nước tiến hành khai quật Đó là tàu cổ Hòn Cau (Bà Rịa - Vũng Tàu) khai quật tháng 6/1990 chở gốm sứ thời Thanh có niên đại năm 1690, tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang) vận chuyển gốm Thái Lan thế kỷ XV, tàu cổ Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam) khai quật tháng 5/1997 vận chuyển gốm xuất khẩu Việt Nam thế kỷ XV, tàu cổ Cà Mau khai quật tháng 8/1998 chuyên chở gốm sứ Trung Quốc đầu thế

kỷ XVIII, tàu cổ Bình Thuận chở gốm Trung Quốc thế kỷ XVI - XVII v.v…

Công tác kiểm kê - bảo quản hiện vật bảo tàng:

Công tác kiểm kê - bảo quản luôn được bảo tàng quan tâm đặc biệt bởi

sau khi sáp nhập, Bảo tàng đã hoàn thành việc tổng kiểm kê hiện vật tại cơ sở 25 Tông Đản; kiểm kê, lập danh mục toàn bộ 50.000 đơn vị hiện vật; tổ chức giám định, xây dựng hồ sơ hiện vật cho 19 bản đồ, tư liệu về chủ quyền biển đảo Hoàng Sa và Trường Sa…

Công tác Bảo quản và phục chế hiện vật cũng được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam duy trì nhằm đảm bảo an toàn cho hiện vật Để kéo dài tuổi thọ của các loại chất liệu hiện vật, bảo tàng đã đầu tư xây dựng, cải tạo cơ bản hệ thống kho bảo quản hiện vật với các trang thiết bị cần thiết để kiểm soát môi trường theo đúng yêu cầu kỹ thuật Các kho bảo quản hiện vật không những

Trang 18

được phân chia theo theo chất liệu mà còn theo giai đoạn lịch sử, nguồn gốc xuất

xứ để vận hành các thiết bị máy móc, khống chế nhiệt độ, độ ẩm cho môi trường kho bảo quản theo đúng yêu cầu kỹ thuật, phù hợp với từng chất liệu cụ thể

Đối với các hiện vật đã có hiện tượng bị xuống cấp, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đã trang bị một phòng thí nghiệm chuyên về tu sửa bảo quản hiện vật tiên tiến, với nhiều trang thiết bị hiện đại cần thiết Nhờ đó, nhiều hiện vật với chất liệu khác nhau đã được bảo quản thành công tại bảo tàng Điển hình như các hiện vật chất liệu hữu cơ, các sưu tập tranh chất liệu giấy, vải đã được bảo vệ trong môi trường khí trơ cho kết quả tốt, được nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá cao Bảo tàng cũng đã phối hợp với một số nghệ nhân tu sửa bảo quản, phục dựng hiện vật gỗ sơn son thếp vàng, hiện vật gỗ khảm trai theo phương pháp truyền thống khá thành công Nhiều sưu tập hiện vật chất liệu kim loại như đồ đồng Đông Sơn, đồ đồng phong kiến đã được áp dụng quy trình

xử lý bảo quản tiên tiến Hàng loạt hiện vật chất liệu gốm, đất nung đã được gắn, chắp, phục dựng thành công, phục vụ kịp thời cho công tác nghiên cứu và trưng bày Chất liệu thạch cao, xi măng trước kia đã được thay thế bằng những vật liệu mới đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và thẩm mỹ, phù hợp với nguyên tắc bảo quản phục dựng hiện vật bảo tàng do Hiệp hội bảo tàng quốc tế quy định

Bên cạnh công tác bảo quản hiện vật tại bảo tàng, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam còn tham gia giúp đỡ một số bảo tàng địa phương và di tích,

xử lý bảo quản, phục dựng nhiều sưu tập hiện vật với các chất liệu khác nhau theo phương pháp truyền thống…

thực hiện tại bảo tàng Các dự án đã tổ chức nhiều khoá đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ về kỹ thuật bảo quản ở trong và ngoài nước Thông qua các dự án này, đội ngũ cán bộ bảo quản của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam và nhiều bảo

Trang 19

tàng trong cả nước đã tham gia các khoá tập huấn về bảo quản tu sửa hiện vật bảo tàng với chất liệu gốm, kim loại, giấy và bảo quản hiện vật ngay tại hiện trường khai quật… Một số hoá chất chuyên dụng và nhiều máy móc hiện đại đã được áp dụng trong công tác bảo quản hiện vật

thực hiện hoạt động giám định hiện vật và cũng giúp đỡ các bảo tàng địa phương giám định một số hiện vật trong các di tích lịch sử như đình, đền, chùa, hiện vật thuộc sưu tập tư nhân nếu có nhu cầu Nhiều nhà khảo cổ học trong bảo tàng là

uỷ viên Hội đồng giám định cổ vật của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Công tác trưng bày hiện vật bảo tàng:

Bảo tàng nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc từ thời Tiền sử đến ngày nay chủ yếu từ nguồn tư liệu, hiện vật bảo tàng Bảo tàng cũng thường xuyên cập nhật bổ sung thông tin, tư liệu hiện vật mới, hoàn thiện hệ thống trưng bày chính

và trưng bày ngoài trời cả nội dung khoa học và nghệ thuật trưng bày theo định hướng: hàn lâm - hiện đại - hấp dẫn Hệ thống trưng bày chính hiện nay là kết quả của nhiều lần chỉnh lý nâng cấp trưng bày sao cho phù hợp với sự phát triển của thời đại, ứng dụng nhiều phương tiện khoa học hiện đại nhằm đem lại hiệu ứng tốt nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách

nhiều tư liệu, tài liệu khoa học phụ có giá trị, hệ thống trưng bày chính của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã phản ánh sinh động những thời kỳ, những sự kiện nổi bật trong tiến trình lịch sử dân tộc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam được đông đảo các đồng nghiệp, khách tham quan trong nước và ngoài nước đánh giá

là một bảo tàng tầm cỡ trong khu vực

Hiện nay, bảo tàng đã hoàn thành dự án nâng cấp hệ thống chiếu sáng phòng trưng bày và tòa nhà bảo tàng tại số 1 Tràng Tiền Với những thiết bị

Trang 20

chiếu sáng hiện đại và nghệ thuật chiếu sáng tinh tế sẽ giúp người xem cảm thụ giá trị tiềm ẩn trong từng cổ vật, từng sưu tập hiện vật một cách hiệu quả hơn

Hàng năm bảo tàng phối hợp tổ chức từ 5 - 7 cuộc trưng bày chuyên

đề với các bảo tàng trong cả nước, các hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các nhà sưu tập tư nhân với chủ đề trưng bày ngày càng đa dạng

Những năm gần đây, bảo tàng đã tổ chức thành công nhiều cuộc trưng bày được dư luận xã hội và các nhà nghiên cứu đánh giá cao: Báu vật Hoàng Cung, Rồng trên cổ vật, Di sản văn hóa biển Việt Nam, Cổ vật Việt Nam …

Mới đây nhất là trưng bày “Văn hóa trầu cau”, “Sưu tập Đèn cổ” và

“Văn hóa Phật giáo”

Đặc biệt, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam được đánh giá là một trong số ít các Bảo tàng quốc gia Việt Nam thực hiện nhiều cuộc trưng bày tại nước ngoài thành công vang dội, giúp cho cộng đồng quốc tế có được cái nhìn đúng và đầy đủ hơn về lịch sử - văn hóa Việt Nam

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam cũng thường xuyên hỗ trợ các bảo tàng tỉnh (thành phố), các bảo tàng chuyên ngành trong việc nghiên cứu xây dựng đề cương trưng bày, giải pháp và thiết kế mỹ thuật

Công tác giáo dục của bảo tàng:

Công tác giáo dục của bảo tàng luôn được trú trọng đặt lên hàng đầu

và không ngừng phấn đấu để trở thành một trung tâm văn hoá - khoa học lớn của đất nước Hàng chục triệu người ở khắp mọi miền đất nước và hàng trăm ngàn khách quốc tế từ mọi châu lục đã đến tham quan, trong đó có nhiều vị nguyên thủ quốc gia, các nhà lãnh đạo cao cấp đã ghi lại những tình cảm tốt đẹp của mình đối với lịch sử dân tộc Việt Nam trong những trang sổ vàng lưu niệm

Số lượng khách tham quan đến với bảo tàng ngày càng tăng: những năm trước đây khoảng 50 - 70 nghìn lượt người, những năm gần đây số lượng ấy

Trang 21

không ngừng tăng, trung bình mỗi năm từ 100 - 150 nghìn lượt người Bảo tàng thường xuyên kết hợp với các trường học tổ chức câu lạc bộ “Em yêu Lịch sử”,

“Giờ học Sử” nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử trong

hệ thống trường học, giúp các em học sinh thêm yêu mến môn lịch sử Những buổi sinh hoạt câu lạc bộ đã thực sự trở thành cầu nối để giáo viên và học sinh đến với bảo tàng

1.2 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam

1.2.1 Sưu tập hiện vật và ý nghĩa đối với hoạt động bảo tàng

“Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di

sản văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội” 2

Nội dung khái niệm sưu tập bao gồm các thành tố sau:

- Tập hợp các di vật, cổ vật… được thu thập, giữ gìn

- Sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung: hình thức, nội dung, chất liệu

- Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội

Từ nhận thức đó, những hiện vật đưa vào sưu tập phải là những hiện vật đã được đăng kí trong sổ kiểm kê bước đầu của bảo tàng, tức là thuộc quyền

sở hữu của bảo tàng

Sưu tập hiện vật chính là sự tập hợp của các hiện vật bảo tàng, chúng được liên kết với nhau bởi những thuộc tính đặc trưng về nội dung, hình thức, chất liệu, có khả năng phản ánh những chủ đề nhất định về lịch sử tự nhiên và xã hội

2 Luật di sản văn hóa năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009, Mục 9, Điều 4, (2010), Nxb Chính trị quốc gia, tr

Trang 22

Ngày nay, vai trò của sưu tập ngày càng được khẳng định trong hoạt động của Bảo tàng Sưu tập có tác dụng to lớn đối với các hoạt động bảo tàng, từ sưu tầm, kiểm kê bảo quản, tuyên truyền và nghiên cứu khoa học đến hoạt động trưng bày Đối với mỗi hoạt động, sưu tập có vai trò khác nhau

* Đối với hoạt động nghiên cứu khoa học:

Trong bảo tàng, các hiện vật bảo tàng là nguồn sử liệu chủ yếu, cơ bản nhất phục vụ cho nghiên cứu khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau phù hợp với nội dung chủ đạo của bảo tàng Một sưu tập đầy đủ, phong phú về số lượng và thông tin cần thiết sẽ là một trong những nguồn tri thức quan trọng, góp phần tích cực cho hoạt động nghiên cứu khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) Đồng thời, trong quá trình thực hiện nghiên cứu, cán bộ bảo tàng sẽ phát hiện được những ưu điểm cũng như hạn chế còn tồn tại trong sưu tập, từ đó bảo tàng có cơ sở để bổ sung, chỉnh lý hoàn thiện hơn nữa nội dung, thông tin cho sưu tập

* Đối với hoạt động sưu tầm:

Hiện vật được đưa về bảo tàng (phải có xuất xứ, nguồn gốc rõ ràng) sẽ tiến hành lựa chọn, phân loại và đưa vào sưu tập Khi sưu tập ra đời, bảo tàng sẽ phát hiện được sự thiếu hụt những hiện vật cần có trong sưu tập và tiến hành các hoạt động sưu tầm tiếp theo nhằm đem về bảo tàng những hiện vật đó hoàn thiện

và làm phong phú hơn sưu tập Chính sự phong phú của sưu tập lại tạo ra những nhận thức mới tác động đến hoạt động sưu tầm, thúc đẩy sưu tầm tìm kiếm, thu thập những hiện vật mới bổ sung cho sưu tập Mối quan hệ tạo ra sự vận động liên tục giữa hoạt động sưu tầm và sưu tập hiện vật Mặt khác khi một kho bảo tàng đã được thành lập bởi các sưu tập (bên cạnh những hiện vật đơn lẻ), bảo tàng sẽ có một cái nhìn đúng và chính xác về các nội dung, chủng loại hiện vật còn thiếu, cần được bổ sung cho kho… Như vậy, giữa hoạt động sưu tầm với các

Trang 23

sưu tập có một mối quan hệ tương hỗ làm cho kho bảo tàng ngày càng đa dạng, phong phú

* Đối với hoạt động kiểm kê bảo quản:

Sưu tập hiện vật bảo tàng bao gồm những hiện vật đã được đăng kí trong sổ kiểm kê bước đầu Do đặc điểm ra đời của các bảo tàng ở Việt Nam trong thời kì chiến tranh, phải đi sơ tán ở nhiều nơi, các hồ sơ, lý lịch, biên bản giao nhận được ghi chép quá sơ sài, thiếu thông tin tối thiểu Trong quá trình xây dựng sưu tập, kết quả sơ chọn và phân loại hồ sơ hiện vật sẽ giúp cho bảo tàng nhìn nhận kho của mình một cách toàn diện, chính xác Kết quả nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện hồ sơ sẽ làm tăng thêm số lượng hiện vật được kiểm kê và góp phần hiệu quả vào việc kiện toàn, nâng cao chất lượng khoa học của kho

* Đối với hoạt động trưng bày:

Sưu tập có vài trò và giá trị đặc biệt với hoạt động trưng bày của bảo tàng vì khi đã có sưu tập, bảo tàng sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm chủ đề cho trưng bày lưu động hay trưng bày cố định Cán bộ bảo tàng có cái nhìn bao quát hơn về sưu tập, hiểu rõ, tỉ mỉ để đưa ra những phương án trưng bày hấp dẫn, hiệu quả nhất thu hút công chúng Các phương pháp trưng bày mới - hiện đại cũng sẽ được áp dụng vào trưng bày của bảo tàng khi đã có sưu tập hiện vật được xây dựng hoặc tổ hợp hiện vật trưng bày đã đầy đủ

* Đối với hoạt động tuyên truyền, giáo dục:

Công chúng đến với bảo tàng một phần là để tiếp thu nguồn tri thức thông qua các hiện vật bảo tàng Như đã nêu trên, sưu tập đầy đủ, phong phú sẽ góp phần tích cực cho hoạt động nghiên cứu khoa học của bảo tàng Đối với khách tham quan cũng vậy Họ sẽ nắm bắt thông tin một cách trọn vẹn hơn so với khi tiếp xúc những sưu tập còn thiếu sót, chưa hoàn thiện thông tin hay với

Trang 24

những hiện vật đơn lẻ Thêm vào đó, cán bộ bảo tàng cũng sẽ không gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền

Đối với bảo tàng, sưu tập là vốn cố định và là tài sản của mỗi bảo tàng,

là sự biểu hiện bản sắc đặc trưng, giá trị đích thực của bảo tàng, tạo nên sắc thái riêng biệt cho từng bảo tàng và là nền tảng tạo nên vị thế xã hội của bảo tàng trong hiện tại và tương lai

Xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng là một vấn đề cấp thiết, đáp ứng cho các nhu cầu nghiên cứu, trưng bày, phục vụ công chúng, đặc biệt giúp định hướng công tác sưu tầm hiện tại và tương lai, giúp kho cơ sở của bảo tàng ngày càng thêm đa dạng và phong phú

1.2.2 Kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

Hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam hiện tại gồm hai hệ thống kho ở hai bảo tàng thành phần Kho cơ sở của bảo tàng tại số 1 Phạm Ngũ Lão lưu giữ hơn 100.000 đơn vị hiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập hiện vật quý hiếm: sưu tập hiện vật thuộc các nền văn hóa Núi Đọ, Hòa Bình - Bắc Sơn, sưu tập văn hóa Đông Sơn, sưu tập gốm men cổ Việt Nam, sưu tập điêu khắc đá Chămpa, sưu tập đồ đồng thời Lê - Nguyễn… Kho cơ sở của bảo tàng luôn được bổ sung nhiều sưu tập mới có giá trị, đặc biệt từ khu vực miền Trung, Tây Nguyên, Nam Bộ, ngoài biển Đông và từ các con tàu đắm cổ Hiện vật trong hệ thống kho được chia thành 12 kho, mỗi kho là một sưu tập lớn được sắp xếp theo khung niên đại hoặc chất liệu để dễ dàng quản lý, bảo quản, trong mỗi kho có nhiều sưu tập nhỏ, có sưu tập số lượng lên đến hàng nghìn, có sưu tập chỉ gồm mấy chục hiện vật Hệ thống kho cơ sở này như sau:

1 Kho đá nguyên thủy: trên 42.000 hiện vật, bao gồm các sưu tập có niên

đại từ thời kỳ đồ đá cũ đến sơ kỳ đồ sắt

Trang 25

2 Kho đồng cổ đại: trên 10.000 hiện vật, các sưu tập hiện vật thuộc thời đại

kim khí đến thời kỳ 10 thế kỷ đầu công nguyên

3 Kho gốm Việt Nam: trên 10.000 hiện vật, niên đại từ 10 thế kỷ đầu công

nguyên đến thời Nguyễn

4 Kho cổ vật nước ngoài (kho Đông Nam Á): trên 6.000 hiện vật, gồm các

sưu tập hiện vật của các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia…

5 Kho hữu cơ: gần 3.000 hiện vật, niên đại từ thời sơ sử đến thời Nguyễn

6 Kho đồng phong kiến: số lượng tương đối, niên đại từ thời Trần đến thời

Nguyễn

7 Kho đá nước ngoài: số lượng không nhiều, niên đại từ thế kỷ II đến XX,

gồm các hiện vật Việt Nam và các nước khác: Campuchia, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Lào…

8 Kho Cù Lao Chàm Đây là kho chuyên biệt của bảo tàng, lưu giữ hiện

vật độc bản và hiện vật được phân chia từ tàu cổ Cù Lao Chàm gồm trên 5.000 hiện vật, niên đại thế kỷ XV

9 Kho gỗ Việt Nam: gồm các đồ thờ bằng gỗ chạm, sơn son thếp vàng

thuộc thời Lê - Nguyễn, thế kỷXVII - XX

10 Kho mộ táng: số lượng ít, gồm một số mộ thuyền, xác ướp…

11 Kho đặc biệt: lưu giữ sưu tập bảo vật triều Nguyễn gồm trên 3.000 hiện

vật, đồ dùng trong hoàng cung triều Nguyễn

12 Kho gốm tham khảo: lưu giữ các hiện vật gốm sứ vỡ, mảnh, chủ yếu của

Việt Nam và một số ít của Trung Quốc, Thái Lan…

Hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam cơ sở 25 Tông Đản lưu giữ các tài liệu, hiện vật, hình ảnh về lịch sử cách mạng Việt Nam

từ năm 1858 đến nay, được phân chia thành 9 kho, bao gồm:

Trang 26

1 Kho giấy (văn bản): trên 28.000 hiện vật

2 Kho thể khối tổng hợp (gỗ, ngà, xương, sừng, thủy tinh, gốm…): trên

2.700 hiện vật

3 Kho đồ dệt: trên 2.100 hiện vật

4 Kho kim loại: trên 3.000 hiện vật

5 Kho tặng phẩm: trên 5.000 hiện vật

6 Kho tạm thời: trên 1.000 hiện vật

7 Kho trao đổi: gần 3.000 hiện vật

8 Kho hoạt động viện: gần 200 hiện vật

9 Kho hiện vật thống kê: trên 2.000 hiện vật

Kho cơ sở của Bảo tàng Cách mạng Việt Nam trước đây còn có kho tư liệu hiện vật, kho phim ảnh và kho tài liệu khoa học phụ Nhưng sau khi sáp nhập, tài liệu, hiện vật của những kho này thuộc quyền quản lý của Phòng tư liệu thư viện

Như vậy, sau khi sáp nhập, hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đang lưu giữ hơn 150.000 tài liệu, hiện vật, gồm nhiều chất liệu, nhiều sưu tập, hiện vật quý hiếm Tên gọi cũng có một số thay đổi cho phù hợp Kho cơ sở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam có vị trí trọng yếu, là cơ sở của mọi hoạt động bảo tàng

Trong những năm qua, hệ thống kho hiện vật của bảo tàng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đầu tư nâng cấp như: cải tạo môi trường ổn định phù hợp với từng chất liệu bảo quản; tăng cường thiết bị, tủ bục thiết kế theo yêu cầu của mỗi chủng loại và chất liệu hiện vật; trang bị hệ thống máy điều hòa và các phương tiện hút ẩm, thông gió, báo cháy, báo động, ánh sáng hợp lý Để làm tốt công tác quản lý và phát huy một cách cao nhất tài sản quốc gia, công tác đăng ký nhập hiện vật đã được thực hiện theo một quy trình thống nhất, khoa

Trang 27

học Hệ thống phiếu, sổ sách đã được sắp xếp và bổ sung thông tin Đặc biệt bảo tàng đã áp dụng công nghệ tin học vào việc quản lý hiện vật Nhìn chung, hiện vật bảo quản trong kho của bảo tàng đã được kiểm kê, xác định giá trị và phân loại thành những sưu tập một cách khoa học Từ hệ thống kho cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, nếu xem xét theo nguồn gốc chất liệu, chúng ta

sẽ nhận ra một số sưu tập cơ bản sau:

Sưu tập hiện vật đồ đá bao gồm các di tích thời đại đá cũ cho đến hậu

kỳ đá mới, sơ kỳ đồ sắt, từ những chiếc rìu tay ghè đẽo đến những rìu, bôn mài toàn thân, những chiếc vòng tay, hoa tai phản ánh các kỹ thuật chế tác đạt trình

độ tinh xảo của kỹ thuật chế tạo đồ đá Sưu tập này còn bao gồm cả các loại tượng nghệ thuật, vật liệu kiến trúc của các triều đại phong kiến kế tiếp nhau Trong đó có nhiều hiện vật độc bản như những tượng đầu người mình chim ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh); tượng hổ đá, chim đá lăng Trần Thủ Độ (Thái Bình)…

Sưu tập điêu khắc đá và bi ký cổ Chămpa bao gồm hàng trăm hiện

vật mang các phong cách nghệ thuật đặc trưng của mỗi giai đoạn đã thể hiện lịch

sử phát triển của nghệ thuật cổ Chămpa, thế kỉ VII - XIII

Sưu tập đồ đồng trong đó có đồ đồng cổ phong phú về loại hình,

chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử dựng nước của dân tộc Việt Nam Trống đồng cùng với công cụ, vũ khí bằng đồng tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn, đã phản ánh trình độ kỹ thuật đúc đồng của cư dân Việt cổ và góp phần chứng minh sự ra đời của nhà nước sớm ở khu vực Đông Nam Á Đồ đồng thuộc triều đại phong kiến bao gồm cả các loại tượng, khánh, chuông, trống, ấm, bát, đĩa, chén, quả cân, tiền kim loại, ấn, triện

Trang 28

Sưu tập đồ sắt gồm các loại công cụ vũ khí như mai, cuốc, rìu, giáo,

gươm, mũi tên mà trong đó, đáng chú ý những công cụ bằng sắt ở các di tích văn hóa Sa Huỳnh, miền trung Trung bộ Việt Nam

Sưu tập hiện vật bằng xương, sừng, ngà gồm những dấu tích hóa

thạch về con người và động vật cổ được phát hiện qua khảo sát, khai quật các di tích khảo cổ học Bên cạnh đó, có cả những công cụ làm bằng xương như dùi, đục trong các di tích tiền sơ sử

Sưu tập đồ gốm sứ rất phong phú gồm đồ đất nung của các di tích văn

hóa thời Tiền - Sơ sử và gốm men sản xuất trong các thời đại phong kiến Đa số

đồ gốm men trong giai đoạn 10 thế kỷ đầu công nguyên do những học giả Pháp phát hiện trong quá trình khai quật các di tích lò nung gốm và những ngôi mộ phong cách Hán Phần lớn đồ gốm men thuộc các triều đại phong kiến từ thời Lý cho đến thời Nguyễn là các dòng gốm men ngọc, gốm men trắng, gốm hoa lam, gốm hoa nâu, gốm men lam xám, gốm men nhiều màu, gốm men rạn Sự có mặt của hầu hết dòng gốm không những phác hoạ tổng quan lịch sử nghề gốm Việt Nam mà còn cung cấp nhiều thông tin quan trọng về lịch sử nghệ thuật, kinh tế hàng hóa, sự phát triển của Phật giáo trong nhiều thế kỷ Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia Việt Nam còn lưu giữ các sưu tập hiện vật gốm Trung Quốc (tập trung dưới 2 triều Minh và Thanh), gốm sứ Nhật Bản (nổi bật là gốm Hizen), gốm sứ Thái Lan (với các loại gốm men ngọc, vẽ nâu và vẽ nhiều màu )

Sưu tập đồ đất nung bao gồm các loại hiện vật kiến trúc như gạch,

ngói; trang trí kiến trúc như các đầu đao hình rồng, phượng, những lá đề in nổi rồng, phượng chỉ riêng sưu tập gạch đã có rất nhiều mẫu tiêu biểu cho các thời đại: gạch xây mộ có hoa văn ô trám lồng, chữ S; gạch vuông lát nền ở sân điện Hoa Lư (Ninh Bình) với 2 phượng bay, bông hoa sen nở; gạch chữ nhật hình ngựa có cánh, voi lồng, phượng múa (thời Mạc)

Trang 29

Sưu tập đồ gỗ bao gồm những mộ quan tài thuyền: Việt Khê, (Hải

Phòng), Châu Can (Hà Tây)…; những tượng gỗ thờ: tượng Phật nhập niết bàn, tượng Adiđà, tượng Thích ca sơ sinh ; tượng thú: tượng nghê, tượng hạc ; những mảng chạm trang trí kiến trúc, hoành phi, câu đối, bài vị, ngai thờ gỗ sơn son thếp vàng và gỗ khảm trai…

Sưu tập đồ vải bao gồm áo rước, áo triều phục, tranh thêu, cờ, trướng,

sớm nhất là đồ trang phục trong mộ vua Lê Dụ Tôn (đầu thế kỷ XVIII)

Sưu tập đồ giấy gồm các loại sắc phong, tranh giấy, văn tự lịch sử: bộ

tranh ở Đền Độc Lôi, Bút tích của Vua Quang Trung, lệnh chỉ thời Tây Sơn…

Sưu tập cờ

Sưu tập bưu thiếp

Sưu tập báo chí cách mạng Việt Nam trước năm 1945 với 72 đầu

báo là một sưu tập lớn trong bộ sưu tập báo chí hiện đang lưu giữ tại bảo tàng Sưu tập gồm các tờ báo của Đảng Cộng Sản, của các tổ chức quần chúng của Đảng, của Mặt trận dân tộc thống nhất được xuất bản và lưu hành ở hầu khắp các địa phương trong toàn quốc trước 1945 Hầu hết những tờ báo này được xuất bản

và phát hành bí mật, không hợp pháp (trừ một số tờ báo trong thời kỳ vận động

Dân chủ 1936 - 1939)

1.2.3 Hoạt động xây dựng sưu tập hiện vật tại kho cơ sở Bảo tàng Lịch

sử Quốc gia Việt Nam

Xây dựng sưu tập là một hoạt động nghiệp vụ mang tính khoa học trong công tác bổ sung, kiện toàn kho cơ sở của bảo tàng

Xây dựng sưu tập hiện vật bảo tàng nhằm khai thác, phát huy và quản

lý triệt để các giá trị lịch sử hàm chứa trong hiện vật Nếu những hiện vật đơn lẻ đem lại cho chúng ta những tri thức ban đầu mang tính cá thể thì sưu tập hiện vật lại có khả năng cung cấp một khối lượng tri thức lớn hơn, tổng quát hơn

Trang 30

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam thuộc loại hình bảo tàng lịch sử

xã hội với nhiệm vụ lưu giữ, giới thiệu tới công chúng tất cả những tài liệu hiện vật liên quan đến lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam từ thời tiền sơ sử cho đến ngày nay, lịch sử đấu tranh cách mạng, xây dựng đất nước của giai cấp nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản Do đó Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đã xây dựng những bộ sưu tập về các nền văn hóa tiền sơ sử, những sưu tập đồ dùng sinh hoạt, vũ khí, tiền tệ, đồ gốm sứ, văn bản… phản ánh mọi mặt đời sống của con người, sự phát triển của xã hội Việt Nam Nhưng để xây dựng những sưu tập đó, bảo tàng đã phải tiến hành nghiên cứu xây dựng dựa trên những dấu hiệu, tiêu chí cơ bản chứa đựng trong mỗi hiện vật ở kho cơ sở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam chú ý đến những yếu tố sau đây:

Tính nguồn gốc của hiện vật: Các hiện vật đưa vào sưu tập phải là những hiện vật gốc vì hiện vật gốc là cơ sở để nghiên cứu và phát huy tác dụng của mỗi bảo tàng Hiện vật có nội dung lịch sử rõ ràng

Tính pháp lý của hiện vật: hiện vật lựa chọn cho sưu tập phải là những hiện vật được đăng kí trong sổ kiểm kê, có đánh số kiểm kê và sổ phân loại Hiện vật phải được xác minh, có hồ sơ và đảm bảo đầy đủ thông tin

Khi tiến hành xây dựng sưu tập, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam căn cứ vào thực tế số lượng hiện vật có trong kho, đồng thời cũng tuân thủ một

số nguyên tắc chung khi phân loại Với thực tế công tác xây dựng sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam, có thể khái quát những công đoạn thực hiện cụ thể sau:

Bước 1: Tiến hành nghiên cứu, xác định mục tiêu xây dựng sưu tập

hiện vật, nội dung sưu tập hiện vật

Cán bộ chuyên môn cần nghiên cứu kĩ những sự kiện, quá trình diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử xã hội, lịch sử cách mạng Việt Nam để tiến hành xây

Trang 31

dựng những sưu tập nhỏ, tránh trùng lặp, phù hợp với nội dung chủ đạo của bảo tàng, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, công tác trưng bày, phát huy được giá trị lớn nhất của hiện vật

Bước 2: Xác định tên sưu tập

Công việc này sẽ chi phối toàn bộ quá trình xây dựng sưu tập hiện vật của bảo tàng Xác định tên cho sưu tập đồng thời cũng là xác định quy mô và khả năng thực hiện của sưu tập đó Tên sưu tập phản ánh vắn tắt nội dung của sưu tập, được hình thành dựa trên những dấu hiệu chung của các hiện vật thành phần

Bước 3: Lựa chọn hiện vật đưa vào sưu tập

Đây là công việc tập hợp đầy đủ hiện vật hiện có trong bảo tàng Nội dung bước này chính là việc tiếp cận các loại sổ sách của bảo tàng Tiến hành rà soát và nghiên cứu hồ sơ các hiện vật đã được đăng kí trong sổ kiểm kê bước đầu đáp ứng các yêu cầu về dấu hiệu chung sau đó xem xét xem chúng đã thỏa mãn các dấu hiệu chung đó hay chưa Sau khi lựa chọn được tên các hiện vật cần đưa vào sưu tập thì tiến hành lập bảng thống kê giản lược cho các hiện vật đó để dễ dàng nghiên cứu hồ sơ và bổ sung thông tin cần thiết

Bước 4: Hoàn thiện hồ sơ cho các hiện vật đưa vào sưu tập

Trên cơ sở thống kê những hiện vật có thể đưa vào sưu tập ở bước 3, cán bộ bảo tàng sẽ tiếp xúc trực tiếp với hồ sơ của từng hiện vật, xem xét, nghiên cứu và hoàn thiện những văn bản cần thiết nếu còn thiếu Đồng thời, những hiện vật còn nhiều nghi vấn cũng cần xác minh lại thông tin

Bước 5: Thẩm định, bổ sung thông tin cho hiện vật thuộc sưu tập

Công việc này thực chất là cán bộ bảo tàng sẽ nghiên cứu lại tất cả những hiện vật đã hoàn thiện ở bước 4 với nội dung cụ thể như sau: xác định nội dung đã có, thay thế những thông tin không chính xác, bổ sung thông tin mới

Trang 32

Kết thúc bước này, cán bộ bảo tàng sẽ tập hợp được những hiện vật bảo tàng có những thuộc tính chung Vì vậy, công việc xây dựng sưu tập bảo tàng đến bước này cơ bản đã xong

Bước 6: Lập hồ sơ sưu tập

Kết thúc bước 5, cán bộ bảo tàng đã chọn được hiện vật đưa vào sưu tập Lúc này, sưu tập sẽ được lập hồ sơ để thuận tiện cho các hoạt động của bảo tàng

Sưu tập sau khi xây dựng được Hội đồng khoa học của bảo tàng thẩm định, xét bộ duyệt, đảm bảo tính pháp lý, từ đó tiến hành công tác bảo quản và quản lý với tư cách là phận của di sản văn hóa phục vụ công tác nghiên cứu khoa học trong và ngoài bảo tàng, công tác trưng bày và tuyên truyền giáo dục, phổ biến kiến thức cho mọi tầng lớp công chúng đến tham quan và học tập nghiên cứu tại bảo tàng

Hiện nay, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đã xây dựng được hàng chục sưu tập lớn nhỏ theo các chuyên đề, chủ đề, niên đại, các nền văn hóa, văn minh… Công tác xây dựng, phân loại sưu tập hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đã và đang được triển khai ngày một hoàn thiện, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu về lịch sử dân tộc và phục vụ nhu cầu thưởng thức, tìm hiểu của công chúng trong và ngoài nước

Trang 33

Chương 2 PHÂN LOẠI VÀ GIÁ TRỊ CỦA SƯU TẬP ĐÈN CỔ TẠI BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA VIỆT NAM

2.1 Vài nét về đèn trong cuộc sống của người Việt Nam

2.1.1 Nguồn gốc của đèn

Trước kỷ nguyên của bóng đèn điện là đèn dầu Kỷ nguyên đèn dầu dài lâu đến hơn 2000 năm, tức là gấp gần 200 lần quãng thời gian đèn điện có mặt Vượt lên khỏi ánh sáng của những bếp lửa hồng vạn dặm, con người đã biết chế ngự ánh sáng theo ý mình, không còn phải lo cái sự bập bùng cũng như nạn hỏa tặc dễ xảy ra quanh ông đầu rau và củi lửa Đó là thời điểm con người biết làm đèn từ dầu thực vật Bằng chứng là một số cây đèn bằng gốm, bằng đồng tìm được trong các di chỉ khảo cổ cách đây khoảng 2500 năm

Nguồn gốc của đèn dầu đến nay vẫn chưa thực sự được rõ ràng Chiếc đèn dầu đầu tiên được ghi chép lại do al-Razi (Rhazes) ở Baghdad thế kỉ IX mô

tả trong cuốn Kitab al-Asrar (Sách về các điều bí mật), ông gọi nó là "naffatah"

Trước khi phát hiện ra lửa, loài người chỉ có thể lấy được ánh sáng và sức nóng

từ mặt trời Nhưng vì không thể điều khiển được ánh mặt trời, nên khi trời lạnh hoặc tối thì không có cách nào lấy được ánh sáng và sức nóng Đến khi con người sử dụng lửa để chiếu sáng và làm chín thức ăn, có lẽ đó cũng là lúc họ biết cách giữ lửa Họ chú ý hơn đến các vật liệu dễ cháy Cũng có thể trong lúc nướng thịt, người ta thấy các giọt mỡ rơi xuống thì lửa bùng sáng hơn Và như vậy, con người dần dần biết cách chọn lấy những vật liệu khi cháy có thể cho ngọn lửa sáng hơn Một số mảnh gỗ cháy rất chậm, có thể treo lên tường làm đuốc thắp sáng Các mẩu gỗ thông cũng có thể dùng làm đuốc Hoặc đựng mỡ động vật vào một vật lõm và dùng rêu hoặc vỏ cây làm bấc, rồi châm lửa vào

Trang 34

bấc, như vậy đã xuất hiện ngọn đèn dầu đầu tiên của nhân loại Song lúc đó loài người chưa có sử sách ghi chép, nên phát minh ấy ra đời vào thời gian nào chúng

ta vẫn chưa xác định được chính xác

Ngọn nến đầu tiên cũng là dùng mỡ động vật đã nấu chảy như mỡ lợn,

mỡ bò Rót mỡ vào ống tre, chính giữa ống đặt một sợi dây làm bấc, khi mỡ nguội sẽ đông lại thành một ngọn nến có cả bấc Nến xuất hiện rất lâu trước khi chúa Jesus ra đời

Năm 1820, người New Zealand bắt đầu dùng mỡ lợn để làm đèn thắp sáng Về sau, họ lại tách được dầu từ mỡ cá voi và dùng dầu này làm nến Thực

ra, hễ kiếm được loại dầu mỡ nào thì dùng loại đó để thắp sáng Vùng ven biển Địa Trung Hải có nhiều cây ôliu nên dân xứ này dùng dầu ôliu thắp đèn Người Nhật và Trung Quốc ép các quả cứng lấy dầu thắp đèn Mới đây, người Esquimau (E - xki - mô) ở Bắc Cực vẫn còn sử dụng đèn dầu đốt bằng mỡ hải cẩu đựng trong đĩa với một mẩu mút xốp làm bấc Bấc cứ cháy cho tới khi nào toàn bộ nhiêu liệu đựng trong đĩa bị hút hết Nếu sau này không phát hiện ra dầu

mỏ thì có lẽ chúng ta ngày nay vẫn dùng dầu lạc để thắp đèn Dầu mỏ được phát hiện năm 1859 ở Hoa Kỳ, chưng cất dầu mỏ đựng trong nồi kín sẽ được một chất lỏng nhớt không màu, loãng gọi là dầu hỏa Nó trở thành loại dầu dùng phổ biến

để thắp đèn Ngày nay, tất cả đã thay đổi với những chiếc đèn khí và sau đó là đèn điện

2.1.2 Sự xuất hiện của đèn ở Việt Nam

“Sống dầu đèn, chết kèn trống”, dân gian Việt Nam đã có câu thành ngữ có ý chỉ vai trò quan trọng của chiếc đèn dầu (đèn Hoa Kỳ, đèn hột vịt) trong đời sống hàng ngày Nhiều thập kỷ qua, khi cả nước đã được điện khí hóa, những chiếc đèn dầu với ánh sáng leo lét là vật bất ly thân trong cuộc sống mỗi nhà đã trở thành ký ức chỉ còn tồn tại trong những người hoài cổ

Trang 35

Ở Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những chiếc đèn có từ hàng ngàn năm trước, được sáng tạo, chế tác từ nhiều chất liệu khác nhau Như

đã nêu ở trên, đó là những cây đèn bằng gốm, bằng đồng có niên đại cách ngày nay khoảng 2500 năm Suốt chiều dài lịch sử, mà sớm nhất tìm thấy được là cây đèn hình người quỳ, lịch sử đèn ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều thay đổi về hình dáng, kích thước, chất liệu cũng như vai trò, tác dụng của nó trong đời sống con người Việt cổ Những chiếc đèn đầu tiên mà tiền nhân ta sử dụng chủ yếu dùng nhiên liệu từ các loại cây lá ép ra như dầu lạc, hột mù u, mỡ động vật và khí đá… Mãi cho đến những năm cuối thế kỉ XIX đầu XX, đèn dùng dầu hỏa mới xuất hiện ở Việt Nam khi những nhà truyền giáo Pháp đến nước ta Tuy nhiên, lúc này vẫn chưa phổ biến, chỉ những nhà giàu mới có đủ tiền dùng đèn dầu Ít năm sau đó, hãng dầu “Con sò” (nay là hãng dầu Shell của Mỹ) mang dầu hỏa sang bán ở Việt Nam Nhưng dân ta quen dùng dầu lạc hay nến (bạch lạp)… nên dầu hỏa không được ưa chuộng lắm Những người bán dầu hỏa đã nghĩ ra một "chiêu" tiếp thị độc đáo: mua dầu được tặng đèn Thấy việc đốt một cây đèn dầu dễ dàng hơn phải vun tro than để "giữ lửa" trong bếp nên dần dà người Việt hầu như ai cũng biết đến chiếc đèn mà sau này gọi là "đèn Hoa Kỳ"

và loại dầu dùng để đốt mà họ gọi là "dầu hôi" Đèn dầu phổ biến từ ngày ấy, và cái tên đèn Hoa Kỳ cũng ra đời từ nguyên cớ này Còn ở miền Nam, người dân gọi đèn dầu là đèn hột vịt, theo lý giải của một số người là do bóng đèn (thông phong) giống như hột vịt (quả trứng) Ngày ấy dầu thường được đựng trong một cái thùng thiếc (còn gọi là "thùng sắt tây") có hiệu "con gà", và các bà hàng xén trong hẻm đong ra từng chai để bán lẻ cho người mua Cái thùng thiếc ấy sau khi bán hết dầu còn được đóng thanh gỗ ngang để biến thành thùng gánh nước Bóng đèn thì khác, thay vì được bày trên kệ, thì lại được xâu thành chuỗi, đủ loại, ngắn dài, to bé treo lủng lẳng sát vách để tránh đổ vỡ Người miền Bắc gọi bóng đèn

Trang 36

dầu là "thông phong đèn", để phân biệt với bóng đèn điện, còn người miền Nam thì vẫn gọi chung là "bóng đèn" mà chẳng cần phải dùng chữ bóng bẩy, văn hoa

Với sự ra đời của đèn điện, ngày nay, đèn dầu không còn là loại phương tiện chiếu sáng thông dụng ở Việt Nam Tuy nhiên, ở những vùng sâu vùng xa, khi ánh đèn điện chưa đến được thì đèn dầu vẫn là vật dụng được sử dụng rộng rãi, bên cạnh đó, đèn dầu vẫn còn được đặt trên bàn thờ ở các gia đình hoặc đình, chùa để "giữ lửa" và để lấy lửa thắp hương trong các kì cúng lễ hay giỗ chạp

2.2 Sự hình thành Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam là tập hợp hiện vật gồm những cây đèn, chân đèn có niên đại từ văn hóa Đông Sơn đến đầu thế kỉ XX Quá trình xây dựng sưu tập đèn cổ cũng trải qua các công đoạn như đối với một sưu tập hiện vật bất kì tại bảo tàng

Với mục đích giúp khách tham quan trong và ngoài nước có thêm hiểu biết về cấu tạo, kỹ thuật chế tác, cách thức, chức năng sử dụng đèn dầu ở Việt Nam cùng những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật ẩn chứa trong sưu tập, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam đã tiến hành xây dựng và trưng bày chuyên đề

“Đèn cổ Việt Nam" Như đã nêu trên, sau khi xác định được tên sưu tập, cán bộ

bảo tàng sẽ tiến hành lựa chọn hiện vật cho sưu tập Tên sưu tập dựa trên các dấu hiệu chung, dấu hiệu chung ở đây là yếu tố “đèn”, “cổ” và có nguồn gốc của Việt Nam

 Trước tiên là yếu tố “đèn” Cán bộ bảo tàng sẽ rà soát tất cả các hiện vật đèn có trong kho cơ sở của bảo tàng thông qua việc tiếp cận với sổ kiểm

kê bước đầu

Trang 37

 Tiếp theo là yếu tố “cổ” “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị

tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên” 3

Như vậy, căn cứ vào niên đại, cán bộ bảo tàng sẽ lựa chọn trong số những hiện vật đèn phù hợp với yêu cầu của sưu tập

 Và cuối cùng là nguồn gốc, xuất xứ của những cây đèn cổ Những hiện vật đèn, có niên đại từ 100 năm trở lên và có nguồn gốc của Việt Nam là những hiện vật phù hợp với yêu cầu của sưu tập “Đèn cổ Việt Nam”

Sưu tập Đèn cổ là tập hợp hiện vật từ nhiều kho cơ sở khác nhau tại bảo tàng: kho đồng cổ đại, kho gốm Việt Nam, kho hữu cơ, kho đồng đá phong kiến Mỗi hiện vật trước khi được đưa vào Sưu tập Đèn cổ, đã được bảo tàng sưu tầm về trong những thời điểm khác nhau Một số hiện vật, do những điều kiện xã hội nhất định mà thông tin vẫn còn chưa được đầy đủ Sớm nhất trong sưu tập là những hiện vật chân đèn đế hình nghê, sưu tầm năm 1911 tại Bát Tràng (danh mục hiện vật trưng bày chuyên đề Đèn cổ - phụ lục) Ngày nay, khi điều kiện kinh tế, xã hội phát triển hơn, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Bảo tàng được đầu tư nâng cấp, các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đi vào chiều sâu nên công tác tìm kiếm, bổ sung hoàn thiện thông tin cho những hiện vật còn thiếu sót

có điều kiện thực hiện hơn Những hiện vật thuộc Sưu tập Đèn cổ đã và đang được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam lưu giữ, bảo quản ở điều kiện tốt nhất

và đang được sử dụng phục vụ trưng bày Trong thời gian tiếp theo, chúng cũng

sẽ được bảo tàng áp dụng các biện pháp phù hợp để có thể phát huy hơn nữa giá trị vốn có của mình cũng như của cả Sưu tập

3

Trang 38

2.3 Phân loại Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

2.3.1 Phân loại theo niên đại

Sưu tập đèn cổ trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam có thể được coi là một trong những sưu tập cổ vật của bảo tàng Sưu tập gồm hơn

50 hiện vật đặc sắc, có niên đại cách ngày nay khoảng 2500 năm đến đầu thế kỉ

XX, được chế tác công phu, tinh tế chứa đựng giá trị về nhiều mặt

Nếu lấy niên đại làm tiêu chí thì Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam có thể chia thành 3 nhóm:

2.3.1.1 Hiện vật đèn thời sơ sử

Tập hợp gồm 10 cây đèn có niên đại từ khoảng thế kỷ V TCN đến thế

kỷ IV SCN Đây là những hiện vật đèn có niên đại sớm nhất ở Việt Nam, thuộc các nền văn hóa khác nhau với những đặc trưng riêng Đèn văn hóa Đông Sơn chủ yếu đúc bằng chất liệu đồng như một biểu tượng về cây vũ trụ với rất nhiều hình tượng người, tượng các con vật (voi, hươu, bò…); Đèn văn hóa Sa Huỳnh gắn liền với tập quán sinh hoạt và phương thức lao động của cư dân vùng sông nước

Chân đèn đất nung ở Hòa Diêm còn có thể sử dụng trên thuyền đánh

cá Đèn được người xưa nặn khá công phu, có tạo dáng như một cái khay hình cầu đựng dầu thực vật, phần thân cao trang trí hoa văn tam giác và đường cong đẹp mắt, lại có cả chân đế hình vuông vững chãi, được trổ lỗ thủng cầu kỳ Có thể thấy người xưa đã rất chú ý tập trung vào trang trí đèn dầu như một tác phẩm

mỹ thuật gần gũi đêm đêm với họ (A12 - phụ lục)

Các loại đèn gốm trong thời điểm hơn 2000 năm tương tự còn thấy ở trong một số làng cổ thuộc văn hóa Đông Sơn Cây đèn hình người quỳ tìm thấy

ở Lạch Trường (Thanh Hóa) thuộc giai đoạn của văn hóa Đông Sơn là một trong những bằng chứng về sự giao lưu văn hóa và trình độ đúc đồng tuyệt hảo Cùng

Trang 39

với những hiện vật như trống đồng Ngọc Lũ thì đèn dầu lúc đó là một tác phẩm nghệ thuật đáng được chú ý Cây đèn Lạch Trường (A6b - phụ lục) có dáng là một người đàn ông đang quỳ, hai tay dâng lên một đĩa đèn Đĩa đèn hình trụ tròn, vốn đựng dầu thực vật để đốt Loại đèn dùng dầu thực vật như vậy còn tồn tại hàng chục thế kỷ sau này trong các triều đại phong kiến Nét lạ của tượng là không mang vóc dáng người Việt, mà lại giống với người Trung Á hay Ấn Độ với đặc điểm dễ nhận như râu quai nón, tóc quăn tít, sống mũi nổi cao Có thể chiếc đèn này người xưa muốn nói đến quyền lực Những gia nô “ngoại tộc” với dáng quỳ, tay dâng đèn đã tôn thêm vị thế của người quý tộc được dâng đèn?

Một dòng tượng đèn nữa, có niên đại từ thời Đông Sơn cho đến hàng ngàn năm sau, lấy chủ đề là tượng động vật Trên dáng động vật, người xưa đã khéo “gắn” vào lưng chúng những cột đựng đĩa đèn hay chỉ đơn giản là khoét một lỗ giữa lưng để bấc đèn nhô ra Mô típ này khá quen thuộc, người xưa chế tạo một vật như muôi múc canh, ấm rót nước hay như đĩa đèn dầu cũng đều gắn một bức tượng tạo hình nào đó, khá nhuần nhuyễn và lãng mạn

Ta có thể nhìn hình một cây đèn đồng tượng voi (A9 - phụ lục) Voi có dáng tự nhiên, vòi dài, bốn chân, có cả tai, mắt và đuôi Ngồi trên đầu voi là người quản tượng Giữa lưng voi có dựng một cột khá cao, có người đàn ông đang ôm cột Trên các nhánh cột còn ghép nhiều đĩa đèn và tượng người, tượng thú Đây có lẽ là một trong những cây đèn đồng được chế tạo công phu nhất và

có cả một tổ hợp đĩa đèn trong một khối tượng voi, có thể xem đây như biểu tượng về cây vũ trụ của cư dân Đông Sơn

Một cây đèn khác lại có dáng hươu (A8 - phụ lục) Hươu có sừng

đồng, trên đỉnh cột đặt đĩa đèn Một dạng đèn khác là đèn có ba chân, đôi khi lại

có quai treo (A10, A11 - phụ lục) Người xưa đã trang trí nhiều tượng người,

Trang 40

tượng chim ở phần quai đèn Đèn loại có quai này tìm được khá nhiều trong các ngôi mộ hậu Đông Sơn

2.3.1.2 Hiện vật đèn thế kỷ I – X

Sưu tập Đèn cổ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam có 4 hiện vật thuộc giai đoạn này Đèn giai đoạn này được chế tác bằng chất liệu đồng và gốm, với đặc điểm thể hiện sự giao lưu, ảnh hưởng với văn hóa phương Bắc khá rõ nét, chủ yếu tìm được trong các ngôi mộ gạch cổ Bao gồm: Đĩa đèn gốm, đèn gốm hình Tích tà, đèn đồng hình Tích tà (A13 - phụ lục), đèn đồng hình người thuộc văn hóa Óc Eo (A14- phụ lục) (“Tích tà”, đây là chú thích của phòng trưng bày của bảo tàng để mô tả một loại thú lạ “Tích tà” có thể coi như một danh từ riêng để chỉ một con thú thời kì này Do đó, tên gọi này cần phải có thời gian để tìm hiểu, nghiên cứu thêm)

2.3.1.3 Hiện vật đèn từ thế kỷ XI - đầu thế kỷ XX

Với số lượng nhiều nhất so với hai giai đoạn trước (46 hiện vật), đây là những hiện vật đèn thuộc thời kì phong kiến Đại Việt độc lập tự chủ, cho thấy sự phát triển cao cả về kỹ thuật chế tác lẫn nghệ thuật trang trí, bằng các chất liệu khác nhau như gốm, đồng, sắt, gỗ… Đặc biệt, từ cuối thời Trần về sau, nhiều loại chân đèn có kích thước lớn, vừa phong phú về kiểu dáng, vừa đa dạng về hoa văn trang trí, được chế tác qua nhiều công đoạn và bằng nhiều kỹ thuật phức tạp, tỉ mỉ, khiến cho chúng không còn là một vật dụng thông thường mà đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật có giá trị

Đèn giai đoạn này thường có thân thon, trang trí hình rồng nổi đang nhả ngọc, có vảy, móng, râu Xen với hình rồng là hoa văn mây, lá, hoa, cây cỏ Nhiều đèn còn có các dòng chữ Hán Điển hình là chiếc đèn được ghi niên hiệu Diên Thành thứ ba thời Mạc (năm 1580) còn hoàn chỉnh làm bằng gốm màu lam (A24 - phụ lục) Đèn thời Lê - Mạc không chỉ mang công dụng thắp sáng mà còn

Ngày đăng: 04/06/2021, 23:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w