Đặc biệt trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của nước ta hiện nay thì việc nghiên cứu các hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN có ý
Trang 1NGUYỄN THỊ THÙY YÊN
NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM
VỚI ASEAN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2NGUYỄN THỊ THÙY YÊN
NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM
VỚI ASEAN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Văn hóa học
Mã số: 62310640
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1, PGS.TS Nguyễn Văn Cương
2, PGS.TS Nguyễn Duy Bắc
HÀ NỘI - 2016
Trang 3kết quả nghiên cứu và kết luận trong luận án là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thùy Yên
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA VÀ KHÁI LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI ASEAN 21
1.1 Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa 21
1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án 51
1.3 Khái lược về mối quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN 56
Tiểu kết 64
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI ASEAN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 66
2.1 Những nhân tố tác động đến ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN 66
2.2 Các hình thức hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN 74
2.3 Đánh giá hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN 111
Tiểu kết 120
CHƯƠNG 3 XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI ASEAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 123
3.1 Xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN 123
3.2 Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN 131
Tiểu kết 157
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 163
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bức tranh toàn cảnh về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới có nhiều thay đổi Xu hướng chủ đạo của thế giới và khu vực là hòa bình, hợp tác và phát triển Sự phát triển của mỗi quốc gia, khu vực và cả thế giới đang có xu hướng phụ thuộc ngày càng nhiều vào môi trường quốc tế Những thành tựu của khoa học công nghệ và thông tin đã thúc đẩy kinh tế -
xã hội phát triển nhanh Các cuộc xung đột tôn giáo - sắc tộc, tranh chấp về lãnh thổ không chỉ ảnh hưởng đến một vài quốc gia mà còn lan rộng ra toàn khu vực, ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị, kinh tế quốc tế Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa trên tất cả các lĩnh vực là một xu hướng tất yếu Vì vậy mỗi quốc gia muốn tham gia vào quá trình toàn cầu hóa thì phải chủ động xác định chiến lược hội nhập
và xác định “vị thế” của mình trong quan hệ quốc tế, đặc biệt các quốc gia ngày càng chú trọng gia tăng sức mạnh mềm của mình trên trường quốc tế
Sự vận động và phát triển của ASEAN trong những năm qua cũng nằm trong quy luật đó và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy của khu vực và quốc tế
Do vậy việc Việt Nam hội nhập ASEAN (1995) là phù hợp với xu thế của thời đại
và điều kiện hoàn cảnh riêng của đất nước ASEAN mang lại cho đất nước ta nhiều lợi ích quan trọng và thiết thực, tạo thuận lợi và hỗ trợ rất lớn trong việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế của Đảng và Nhà nước ta Trong 20 năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của hiệp hội ASEAN như kinh tế, quốc phòng - an ninh và đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác văn hóa Tham gia hội nhập ASEAN, Việt Nam có điều kiện khai thác tối đa những thuận lợi để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển đất nước Thành tựu lớn nhất mà ASEAN đạt được là không chỉ tăng cường sự hiểu biết, tin cậy nhau và sẵn sàng hỗ trợ nhau khi cần thiết, mà còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết giữa nhân dân các nước ASEAN Trong xu thế quốc tế hóa
Trang 7và toàn cầu hóa như hiện nay, văn hóa là chiếc cầu nối quan trọng trong quan hệ quốc tế của mỗi nước
Vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa nói chung và ngoại giao văn hóa nói riêng đã được thừa nhận rộng rãi trong nghiên cứu và trong chính sách phát triển chung trên toàn thế giới Các quốc gia, ở mức độ khác nhau, đều sử dụng văn hóa như một công cụ trong hoạt động ngoại giao Vì đây là kênh ngoại giao hữu hiệu làm gia tăng sức mạnh mềm, xây dựng lòng tin, quảng bá giá trị văn hóa ra thế giới, tiếp thu văn hóa nhân loại để làm giàu cho nền văn hóa đất nước Từ đầu thế k XXI, khi toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, ngoại giao văn hóa càng được sử dụng rộng rãi với nhiều hình thức phong phú và có vai trò quan trọng hơn trong nền ngoại giao của mỗi quốc gia bởi sức lan toả mạnh mẽ của văn hóa có vai trò to lớn trong việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia, giúp làm sâu sắc và thắt chặt hơn các mối quan hệ chính trị và kinh tế Nhân tố văn hóa có ảnh hưởng, tác động đến quan hệ quốc tế và trong một số trường hợp mang tính quyết định Do đó, việc vận dụng yếu
tố văn hóa để nâng cao hiệu quả triển khai đường lối đối ngoại được các quốc gia ngày càng chú trọng Sự trân trọng các giá trị văn hóa trong công tác ngoại giao trở thành cầu nối để vượt qua những khác biệt, đưa các dân tộc xích lại gần nhau và cùng chung tay giải quyết các vấn đề toàn cầu Trong xu thế hòa bình, sự phân công lao động trên thế giới ngày càng sâu sắc sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng rõ nét và
xu thế hội nhập đang nắm giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế quốc tế thì ngoại giao văn hóa ngày càng trở nên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết
Như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam với sự kết hợp giữa nhận thức về vai trò của văn hóa và nhận thức về sự cần thiết đẩy mạnh hội nhập quốc tế đã đưa ngoại giao văn hóa thực sự trở thành một trong 3 trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã nêu chủ trương: "Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại"[26, tr.235], đồng thời đề cập trực tiếp đến vai trò của ngoại giao văn hóa: "Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa” [26, tr.238]
Trang 8Với vai trò ngày càng lớn của ngoại giao văn hóa, việc nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế, trước hết là quan hệ với các nước trong khu vực rất quan trọng Đặc biệt trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của nước ta hiện nay thì việc nghiên cứu các hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, giúp chúng ta nhận diện được tình hình thực tế, đánh giá hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN, nhận định xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN trong những năm tới, từ đó đưa ra những bàn luận nhằm thúc đẩy công tác ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn hiện nay
Xuất phát từ tình hình đó, nghiên cứu sinh (NCS) chọn đề tài: “Ngoại giao
văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời kỳ hội nhập” làm luận án Tiến sĩ chuyên
ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về ngoại giao văn hóa
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
* Những luận điểm làm tiền đề cho lý luận ngoại giao văn hóa
- Thuyết xung đột văn minh
Thuyết xung đột văn minh do Samuel P.Huntington đề ra, ông cho rằng, nhân tố văn hóa ngày càng có vai trò quan trọng trong quan hệ giao lưu quốc và thế
giới đang tiến vào một thời kỳ lịch sử của “Xung đột giữa các nền văn minh” Thời
kỳ sau chiến tranh lạnh, chính trị toàn cầu đang tiến hành tổ chức lại theo ranh giới văn minh Đặc tính chung và sự khác biệt của văn hóa ảnh hưởng tới các quốc gia, những dân tộc và quốc gia có nền văn hóa tương tự đang tụ hợp lại, những dân tộc
và quốc gia có nền văn hóa khác đang chia tách ra
Các tác phẩm của ông bao gồm: “Sự xung đột giữa các nền văn minh” và“Các
loại quy phạm của thế giới sau chiến tranh lạnh Nếu như không phải là văn minh thì
Trang 9sẽ là cái gì?” trên Tạp chí Ngoại giao, năm 1992; Năm 1996 ông xuất bản cuốn sách
“Xung đột của văn minh và việc xây dựng lại trật tự thế giới”; Năm 2003 ở Việt Nam cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh” của Samuel P.Huntington đã được dịch ra
tiếng Việt do Nxb Lao động, Hà Nội xuất bản
“Thuyết xung đột văn minh” của Huntington trong nhiều năm đã gây ra luận
chiến gay gắt trong giới học thuật quốc tế Học giả người Đức Harald Miluer, người
đại diện thuyết chủ trương “Cùng tồn tại văn minh” với tác phẩm tiêu biểu “Cùng
tồn tại văn minh” đã phê phán thuyết xung đột văn minh của Huntington (2001), cho
rằng Huntington thổi phồng quá đáng sự xung đột giữa các nền văn hóa Tuy nhiên
“Thuyết xung đột văn minh” cũng đã tác động đến mọi người về sự thay đổi của tình
hình thế giới từ góc nhìn văn hóa
- Sức mạnh mềm
Những thảo luận về sức mạnh mềm đã xuất hiện khá sớm trong đời sống học thuật phương Tây Sau đó khái niệm này được Joseph Nye - Nhà nghiên cứu chính trị học quốc tế Mỹ, giáo sư danh tiếng Đại học Havard định nghĩa và phát triển thành một luận thuyết Ông nêu quan điểm: cần chú ý đặc biệt khác nhau
giữa“sức mạnh cứng” (khả năng kinh tế, quân sự của một nước tiến hành mua chuộc và tập hợp) và “sức mạnh mềm” (khả năng cảm hóa và kêu gọi hình thái ý thức văn hóa để tiến hành thu hút) được thể hiện trong cuốn sách “Nước Mỹ định
một mình làm bá chủ thế giới chăng?” và luận văn “Xác định lại ranh giới lợi ích quốc gia” (1990)
Một tác phẩm vận dụng lý luận “sức mạnh mềm”, phân tích tường tận tác
dụng của sức mạnh mềm là cuốn sách: “Sức mạnh mềm: Sự thống trị toàn cầu của
phim ảnh, nhạc thịnh hành, truyền hình và quán ăn nhanh của Mỹ” (2005) của
Matthen Fraser, học giả Canada Trong cuốn sách đó, ông đã trình bày tường tận sự khởi nguồn, phát triển của “sức mạnh mềm” của Mỹ và sự ảnh hưởng của nó trong ngoại giao quốc tế từ bốn mặt: Phim ảnh, truyền hình, âm nhạc thịnh hành và quán
ăn nhanh
Trang 10Các nghiên cứu trên đã đi đến xác định: Sức hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng
chính trị và các chính sách quốc gia là ba nguồn lực chính tạo nên sức mạnh mềm
- Văn hóa trong quan hệ quốc tế
Vai trò văn hóa trong quan hệ quốc tế đã được các nhà nghiên cứu đề cập tới
rất nhiều và ngày càng đi vào chiều sâu Đã có rất nhiều tác phẩm bàn luận về vấn
đề này tiêu biểu như: “Chính trị học toàn cầu” do Herano Kenichiro; “Thay đổi lớn
toàn cầu” do David Held, giáo sư Đại học Mở Anh quốc; “Quan hệ văn hóa quốc
tế” của học giả văn hóa Pháp Louis Doro; “Ngoại giao nhiều quỹ đạo” của hai học
giả nổi tiếng người Mỹ Louise Diamond và John Mc Donald; “Nhân tố văn hóa
trong quan hệ quốc tế Đông Tây” của Tư Trung Quân; “Lý luận văn hóa của chính
trị thế giới” và trong luận văn cùng tên đã trình bày luận điểm: “Văn hóa có quan
hệ với quan hệ quốc tế như thế nào?” của Tần Á Thanh; “Bàn về mối quan hệ giữa
văn hóa và ngoại giao” của Phùng Thiệu Lôi; [61, tr.14-22]
Các tác phẩm trên đều đề cập tới vai trò của văn hóa trong quan hệ quốc tế từ
nhiều góc độ Tiêu biểu là luận điểm của ông Herano Kenichiro, giáo sư trường Đại
học Tokyo, chuyên gia về vấn đề quốc tế nổi tiếng của Nhật trong cuốn sách
“Chính trị học toàn cầu” cho rằng, trong giao lưu giữa các nước ngoài quan hệ
chính trị, quan hệ kinh tế và quan hệ pháp luật ra còn có quan hệ văn hóa, hơn nữa
quan hệ văn hóa không chỉ gián tiếp mà còn trực tiếp ảnh hưởng tới đời sống và lối
sống của mọi người Ông đề xuất, văn hóa trong quan hệ quốc tế bao gồm 4 mặt
sau: (1), quan hệ giữa văn hóa và văn hóa lạ; (2), ý trực diện văn hóa trong quan hệ
quốc tế; (3), quan hệ văn hóa có tính quốc tế; (4), văn hóa quốc tế [61, tr.16]
Luận điểm của học giả văn hóa Pháp Louis Doro đã phân tích một cách hệ
thống quan hệ văn hóa quốc tế, nhấn mạnh vị trí, vai trò của giao lưu văn hóa quốc
tế trong ngoại giao tổng thể trong cuốn sách “Quan hệ văn hóa quốc tế” Ông cho
rằng hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại ngày càng hướng tới trung tâm sân khấu
giao lưu quốc tế, lĩnh vực hoạt động ngoại giao nhà nước được mở rộng không còn
giới hạn ở lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự nữa mà đi sâu
Trang 11vào lĩnh vực văn hóa [61, tr.17] Những nghiên cứu về văn hóa trong quan hệ quốc
tế ở trên sẽ là cơ sở cho nghiên cứu ngoại giao văn hóa sau này
* Về ngoại giao văn hóa
Việc nghiên cứu của giới học giả về ngoại giao văn hóa bắt đầu tương đối muộn Khái niệm mới “ngoại giao văn hóa” do nhà sử học ngoại giao người Mỹ Ralph Tumer đưa ra sớm nhất từ những năm 40 của thế k XX Sau này, nhà sử học ngoại giao Mỹ Frank Ninkovich đã trình bày và phát triển một cách hệ thống quan niệm trên Ninkovich cho rằng: “Nhà chính trị có kiến thức sâu rộng luôn luôn thừa nhận ngoại giao cần suy tính kỹ quan niệm giá trị văn hóa, vì những quan niệm giá trị này có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành khả năng lập luận ngoại giao,
do đó mà càng có ý nghĩa hơn so với tín ngưỡng, hình thái ý thức hay quan niệm trừu tượng của nó Ở thế k XX, hầu như tất cả các nhà chính trị quan trọng của Mỹ đều cân nhắc coi nhân tố văn hóa là bộ phận để xử lý công việc ngoại giao của họ; quả thật văn hóa có tác dụng rõ ràng trong công việc ngoại giao của họ, thường là quyết định trong quyết sách đối ngoại của họ” [61, tr.21]
Bước vào thế k XXI, mang lại sự thay đổi có “tính cách mạng” cho nghiên
cứu ngoại giao văn hóa phải kể đến cuốn sách “Ngoại giao nhiều quỹ đạo” của hai
học giả nổi tiếng người Mỹ Louise Diamond và John Mc Donald Các tác giả chỉ ra rằng, muốn tìm hiểu ngoại giao toàn diện thì phải tiến hành nghiên cứu và phân tích ngoại giao từ những góc độ khác nhau Các tác giả nhận xét: chính phủ, phi chính phủ hay cơ quan chuyên môn, hoạt động thương vụ, cá nhân công dân, nghiên cứu/đào tạo và giáo dục, tôn giáo, tài trợ, thông tin và truyền thông đều có thể trở thành kênh quan trọng của trao đổi ngoại giao Trong 9 “Quỹ đạo” ngoại giao mà các tác giả nêu có 3 lĩnh vực (nghiên cứu/đào tạo và giáo dục, tôn giáo, truyền bá và truyền thông) là thuộc về phạm trù ngoại giao văn hóa [61, tr.17]
2.1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Trong giai đoạn hiện nay, quan hệ giữa Việt Nam với các nước ngày càng được gia tăng cả chiều sâu lẫn chiều rộng, trong đó văn hóa trở thành một lĩnh vực phát triển mạnh mẽ Ngoại giao văn hóa là một đề tài rất quan trọng, nhưng các
Trang 12công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở nước ta còn chưa nhiều và đây là lĩnh vực khá mới mẻ Tuy nhiên cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu chuyên sâu
về ngoại giao văn hóa ở dạng đề tài cấp Bộ, luận văn, sách, giáo trình và các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, hay trong k yếu của các hội thảo khoa học
Về sách giáo trình có một số cuốn tiêu biểu như: “Giáo trình quan hệ
công chúng chính phủ trong văn hóa đối ngoại” (2011) do Lê Thanh Bình chủ
biên; “Ngoại giao và công tác ngoại giao” (2009) của Vũ Dương Huân “Những
vấn đề quốc tế đương đại và quan hệ đối ngoại của Việt Nam” của Viện Quan hệ
Quốc tế (Học viện Ngoại giao); …
Trong đó đáng chú ý là cuốn sách“Ngoại giao văn hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm
quốc tế và ứng dụng” (2012) của Phạm Thái Việt Có thể khẳng định đây được xem là
một ấn phẩm đầu tiên của Việt Nam về ngoại giao văn hóa
Cuốn sách chia thành 10 chương đề cập tới nhiều vấn đề nhưng dung lượng dành cho ngoại giao văn hóa còn hạn chế, các vấn đề như vai trò, nội dung, hình thức… của ngoại giao văn hóa thì chưa được đề cập tới Tuy nhiên, khái niệm văn hóa, ngoại giao, đặc biệt về khái niệm ngoại giao văn hóa đã được tác giả nghiên cứu khá dày công
Ngoài ra phải kể đến một số bài viết, bài phát biểu của các nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu ngoại giao văn hóa trình bày trong các Hội thảo:
Hội thảo quốc gia: "Ngoại giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trên trường
quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững" (2008) do Bộ Ngoại
giao tổ chức Đáng chú ý là các bài viết của Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Khiêu, Phạm
Sanh Châu, Vũ Dương Huân, Trần Trọng Toàn đã nêu nên những ý kiến về ngoại giao văn hóa rất sâu sắc và bổ ích
Hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa trong thế giới hội nhập” (2010) do Trường
Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức K yếu Hội thảo có nhiều bài về ngoại giao văn hóa, các tác giả đã đề cập tới quan niệm về ngoại giao văn hóa và vai trò của ngoại giao văn hóa, sự khác nhau giữa ngoại giao văn hóa và giao lưu văn hóa…
Trang 13Hội thảo “Văn hóa đối ngoại trong thế giới hội nhập” (2011) do Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội tổ chức Hội thảo bàn về những vấn đề lý luận và thực tiễn của văn hóa đối ngoại trong giai đoạn hiện nay, trong đó có nhiều bài viết về ngoại giao tiêu biểu như các bài viết của Vũ Khoan, Phạm Sanh Châu, Lê Viết Duyên… Đáng
chú ý là bài “Ngoại giao văn hóa Việt Nam: Lý luận và thực tiễn trong thời kỳ hội
nhập” của Nguyễn Thái Yên Hương Tác giả cũng bàn luận về ngoại giao và đánh giá
thực trạng hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam trong thời gian qua Từ đó đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của ngoại giao văn hóa trong thời gian tới
Nghiên cứu chuyên sâu về ngoại giao văn hóa còn được thể hiện dưới dạng đề
tài Đặc biệt phải kể đến đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Hoạt động ngoại giao
văn hóa Việt Nam trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XXI” (2009) chủ nhiệm đề tài Phạm
Sanh Châu, Vụ trưởng Vụ Văn hóa Đối ngoại, UNESCO Đây là đề tài nghiên cứu cấp Bộ chuyên sâu đầu tiên bàn về ngoại giao văn hóa Một lợi thế thấy rõ là nhóm tác giả chính là những người đang thực thi nhiệm vụ ngoại giao văn hóa nên sẽ gặp rất nhiều thuận lợi trong việc triển khai nghiên cứu Thành công của đề tài là không chỉ đáp ứng được hiểu biết cơ bản ban đầu về ngoại giao văn hóa Việt Nam mà còn hiểu biết được ngoại giao văn hóa trên thế giới hiện nay được tổ chức như thế nào
Tuy nhiên một số nội dung trong đề tài mới chỉ được nêu khái quát, chưa phân tích kỹ, mới mang tính gợi mở như: Vai trò của ngoại giao văn hóa; nội dung của ngoại giao văn hóa; thực trạng của công tác ngoại giao văn hóa Việt Nam Các tác giả cũng chưa đề cập tới khái niệm cần thiết như: ngoại giao, văn hóa ngoại giao, xung đột văn hóa… đây là sự gợi mở cho hướng nghiên cứu tiếp theo
Đáng chú ý là các bài báo được đăng trên tạp chí chuyên ngành về ngoại giao
văn hóa như: “Thông tin truyền thông và đẩy mạnh ngoại giao văn hóa” của Đỗ Quí Doãn, Tạp chí Cộng sản số 797, 3/2009; “ngoại giao văn hóa và truyền thông văn
hóa đối ngoại trong bối cảnh hội nhập của quốc tế” của Đặng Thị Thu Hương, Tạp
chí Nghiên cứu Quốc tế số 1, 3/2009; ngoại giao văn hóa qua Festival tại Việt Nam” của Đỗ Thị Minh Thúy, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 335, 5/ 2012; “Quan hệ công
chúng và ngoại giao văn hóa” của Phạm Thái Việt, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3,
Trang 149/2009; “Ngoại giao văn hóa trong thời kỳ hội nhập” của Cao Vũ Huyền, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 336, 6/2012; “Ngoại giao văn hóa trong chiến lược phát triển hòa
bình của Trung Quốc” của Phạm Hồng Yến, Tạp chí Quốc tế số 2, 6/2011; “Ngoại
giao văn hóa: Trung Quốc quảng bá quốc gia như thế nào?” của Thạch Hà, Tạp chí
Nghiên cứu Quốc tế số 2, 6/2009; Ngoại giao văn hóa Trung Quốc và vai trò của nó
trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 8/2009
Có thể nói chỉ trong giới hạn của những bài viết, các tác giả dưới những lăng kính khác nhau đã khai thác, phân tích những vấn về liên quan đến ngoại giao văn hóa rất sâu sắc và đầy mới mẻ về các vấn đề như:
- Vai trò của thông tin và truyền thông trong việc đẩy mạnh ngoại giao văn hóa hiện nay
- Sự tiến triển Quan hệ công chúng (PR), những nội dung cơ bản của PR và khả năng ứng dụng PR trong ngoại giao văn hóa
- Việc tổ chức festival ở Việt Nam chính là một hoạt động ngoại giao văn hóa nhằm thúc đẩy sự quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam ra thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết văn hóa thế giới tại Việt Nam
- Muốn thực hiện thành công ngoại giao văn hóa, chúng ta phải chú trọng, tăng cường “khai thông” nhận thức, tư tưởng cho toàn xã hội về vai trò to lớn của ngoại giao văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa
- Vai trò của việc tôn vinh các giá trị bản sắc dân tộc, đưa ra một số việc cần làm ngay như: tổ chức lựa chọn Quốc phục, Quốc nhạc, Quốc tửu, các món ăn tiêu biểu của Việt Nam…
- Truyền thống ngoại giao văn hoá với những nét đẹp trong suốt thời kỳ lịch
sử với ba đặc trưng cơ bản đó là: ngoại giao gắn với chủ thể văn hóa; ngoại giao lấy tinh thần khoan hòa văn hóa làm phương châm; ngoại giao thông qua con đường
văn học nghệ thuật
Trang 152.2 Những nghiên cứu về mối quan hệ và ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN
* Về lịch sử, chính trị, văn hóa Việt Nam với ASEAN
Các cuốn sách viết về lịch sử, chính trị, văn hóa của Việt Nam với ASEAN
khá nhiều, tiêu biểu như: cuốn “Việt Nam - Đông Nam Á: Quan hệ lịch sử văn hóa”
(1995) của Phạm Đức Thành, Ngô Văn Doanh, Trần Thị Lý ; “Các nước Đông Nam
Á” (2010) của các tác giả Nguyễn Quốc Lộc, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Kim
Yến, Đào Ngọc Tú; “Việt Nam - ASEAN” (1995) do Phạm Đức Thành (chủ biên);
“Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN” (2009) của Đinh Xuân Lý; “Ngoại giao
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế” (2011) của Bùi Văn Hùng; “Một
Đông Nam Á vận mệnh chung, tương lai chung” (2013) của M.Rajaretnam và Thái
Quang Trung; “Quốc hội Việt Nam với AIPA trong tiến trình xây dựng cộng đồng
ASEAN” của Ngô Đức Mạnh; “Xây dựng Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN” (2013)
do Đức Ninh chủ biên; “Hiện thực hóa Cộng đồng ASEAN Bối cảnh tác động và
những vấn đề đặt ra” (2013) do Trương Duy Hòa chủ biên; “Đánh giá hiện thực các cam kết xây dựng Cộng đồng ASEAN” do Nguyễn Huy Hoàng chủ biên
Trong đó đáng chú ý là cuốn sách “Lịch sử Đông Nam Á tập VI: Đông Nam
Á trong thời kỳ hòa bình, phát triển và hội nhập (1991-2010)” (2012) do Nguyễn
Thu Mỹ, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á chủ biên
Cuốn sách đã dựng lại quá trình phấn đấu vì hòa bình, an ninh, phát triển và hội nhập của Đông Nam Á từ 1991- 2010, bàn về một số vấn đề khoa học và thực tiễn trong lịch sử Đông Nam Á đương đại như các vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng các giá trị văn hóa dân tộc, hiện đại và giữ gìn bản sắc khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa như: các chính sách về văn hóa của các nước Đông Nam Á; các thành tựu phát triển văn hóa, xã hội và những vấn đề đang đặt ra cho các nước Đông Nam
Á trong thời gian tới; tình hình xây dựng Cộng đồng ASEAN…
Công trình “ Xây dựng Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN” do GS TS Đức
Ninh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 2013 Công trình đã làm rõ cơ sở lịch
sử văn hóa và xã hội của sự hình thành cộng đồng văn hóa- xã hội; Tính khả thi của
Trang 16những nội dung ưu tiên; những vấn đề đặt ra và giải pháp thực hiện Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN; tác động qua lại của Cộng đồng văn hóa - xã hội với Cộng đồng kinh tế, Cộng đồng an ninh - chính trị trong sự phát triển bền vững của cộng đồng ASEAN
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Viện nghiên cứu Đông Nam Á “Hiện thực hóa
cộng đồng ASEAN Bối cảnh tác động và những vấn đề đặt ra”,2013 do TS.Trương
Duy Hòa (Chủ biên).Các tác giả đã phân tích và đánh giá bối cảnh khu vực và thế giới hiện nay cũng như những năm sắp tới; trong đó đặc biệt phân tích các tác động của chúng đối với việc hiện thực hóa cộng đồng ASEAN chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và những vấn đề cần giải quyết trong tiến trình hiện thực hóa AC vào năm 2015 Đồng thời đề xuất một số chính sách mà Việt Nam cần thực hiện trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện AC
Đề tài “Đánh giá hiện thực các cam kết xây dựng cộng đồng ASEAN” do TS
Nguyễn Huy Hoàng (Chủ biên).Đề tài giúp chúng ta có một cái nhìn chính xác đối với lộ trình thực hiện các cam kết xây dựng AC, cụ thể là các cam kết xây dựng ba cộng đồng trụ cột của AC mà ASEAN đã, đang và sẽ cam kết thực hiện thành công
AC vào năm 2015
Việc đánh giá thực hiện các cam kết sẽ giúp chúng ta xác định được những vướng mắc và những hạn chế mà ASEAN đang phải đối mặt Trên cơ sở đó ASEAN sẽ có những đối sách hợp lý để thực hiện thành công
* Về ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN
Có thể khẳng định là hiện chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu sâu
về NGVH Việt Nam với ASEAN Những tài liệu chủ yếu bàn về vấn đề có liên quan đến NGVH Việt Nam với ASEAN có thể kể đến:
Cuốn “Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về sự gia
tăng quyền lực mềm” (2013) do Hoàng Minh Lợi chủ biên đã bàn về sự gia tăng
quyền lực mềm tại khu vực Đông Bắc Á và tác động của nó tới nhiều quốc gia (trong
đó có Việt Nam) Các tác giả đề xuất, Việt Nam cần phải có những đối sách thích hợp
để biến những lợi thế, sức mạnh trở thành “quyền lực mềm phục vụ hữu hiệu cho
Trang 17việc xây dựng hình ảnh và vị thế quốc gia”; Cuốn "Sức mạnh mềm văn hóa Trung
Quốc - Tác động tới Việt Nam và một số nước Đông Á” (2015) do Nguyễn Thị Thu
Phương chủ biên nói về mức độ tác động của sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc một số nước Đông Á và đặc biệt các tác giả nhận định Việt Nam cần tỉnh táo, thận trọng trong việc tiếp nhận, hấp thu, tiếp biến có chọn lọc những tác động tích cực từ sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc, đồng thời tăng cường “nội lực” văn hóa nhằm chống đỡ, hóa giải được những tác động nguy hại gây xói mòn các giá trị nền tảng, làm giảm đi bản sắc văn hóa, chủ quyền văn hóa quốc gia Từ đó xây dựng “chiến lược nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam”
Hội thảo khoa học quốc tế “ASEAN:40 năm nhìn lại và hướng tới”, (2007)
do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo đã nhìn nhận thực tế 40 năm tồn tại và phát triển đã chứng tỏ rằng ASEAN đã tạo dựng được một bản sắc riêng, không hòa trộn, được các nước và cộng đồng quốc tế thừa nhận như là một “phong cách ASEAN” Sự hình thành bản sắc hay phong cách đó gắn liền với cội nguồn văn hóa Đông Nam Á từ hàng nghìn năm trước và trở thành tài sản chung của ASEAN hiện nay Hội thảo bàn về ba vấn
đề lớn: ASEAN: Những vấn đề chung; ASEAN: Những vấn đề an ninh- chính trị và kinh tế; ASEAN: Những vấn đề văn hóa- giáo dục và quan hệ quốc tế
Hội thảo “ Những vấn đề kinh tế - chính trị- xã hôi nổi bật của Đông Nam Á
năm 2009 và tác động đến Việt Nam” của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Hội thảo
bàn tới những vấn đề cơ bản như: Những vấn đề chung của khu vực ASEAN 2009; Những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa nổi bật của các các nước lớn và tác động của cuộc khủng hoảng đến ASEAN và Việt Nam; Những vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của các nước thành viên năm 2009 và tác động đến Việt Nam Trong đó
đáng chú ý là bài tham luận“Những sự kiện văn hóa nổi bật trong khu vực năm
2009” của Phạm Thị Mùi - Viện nghiên cứu Đông Nam Á đã nêu được vai trò của
văn hóa trong việc quảng bá hình ảnh ASEAN với cộng đồng trong khu vực và quốc tế thông qua các sự kiện văn hóa của các nước ASEAN như: tuần văn hóa
Trang 18ASEAN, liên hoan âm nhạc và văn hóa ASEAN, Đại hội thể thao Đông Nam Á, lễ hội văn hóa ASEAN, chương trình Duyên dáng truyền hình ASEAN…
Ngoài ra còn một số bài viết liên quan đến NGVH Việt Nam với ASEAN
như: "Hợp tác văn hóa, thông tin và giáo dục trong ASEAN trong thế kỷ XXI” (2009) của Đỗ Hương Giang, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á; “Quan hệ văn
hóa Việt Nam - ASEAN: một cách tiếp cận” của Lê Đình Tự; “Vài nét giao lưu văn hóa ASEAN - Trung Quốc và Việt Nam trong lĩnh vực thư viện” (2012) của Phan
Thị Kim Dung, Tạp chí Thư viện Việt Nam
Trong đó phải kể đến bài viết “Hợp tác văn hóa Việt Nam - ASEAN hướng
tới cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN” của Vũ Tuyết Loan, và bài “Tư duy đối ngoại của Việt Nam về văn hóa trong hợp tác ASEAN” của Lê Viết Duyên Theo
hai tác giả, hợp tác văn hoá giữa các nước ASEAN với nhau và giữa ASEAN với các nước đối thoại là một nhu cầu tất yếu và rất được coi trọng Các bài viết đã bàn
về hợp tác văn hoá Việt Nam - ASEAN trong những năm qua và triển vọng hợp tác văn hoá Việt Nam - ASEAN trong những năm sắp tới Tác giả nhận định văn hoá
đã, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng đề cao hình ảnh của ASEAN, không thể xây dựng một Cộng đồng ASEAN trong tương lai mà không gắn với việc giữ gìn và làm phong phú hơn những đặc trưng của văn hoá các dân tộc ASEAN, của con người ASEAN Văn hoá giúp tạo dựng tinh thần ASEAN, từ đó khiến cho nếp nghĩ và hành động của mỗi người dân trong từng quốc gia có tính khu vực hơn
* Nhận xét tổng quan tình hình nghiên cứu
Tóm lại, tổng quan tình hình nghiên cứu cả trong và ngoài nước cho thấy, đây là những tài liệu hữu ích để tham khảo về lý luận và thực tiễn của ngoại giao văn hóa Tuy nhiên những nghiên cứu liên quan đến ngoại giao văn hóa khó được như ý muốn con người, nghiên cứu của học giả phương Tây cũng tồn tại những thiếu sót rõ rệt, hoặc là thổi phổng phiến diện vai trò của nhân tố văn hóa trong chính trị quốc tế, hoặc là xuất phát từ chiến lược và lợi ích quốc gia phương Tây, đứng trên lập trường ưu thế văn hóa của họ để xây dựng lý luận của mình, quan điểm thiên lệch rõ ràng, mầu sắc biện hộ và giải thích cho chính sách ngoại giao
Trang 19trong nghiên cứu rất đậm, việc nghiên cứu của các học giả nước ta trong lĩnh vực ngoại giao văn hóa tuy có sự mở đầu tốt đẹp, đã xuất bản một loạt công trình có chiều sâu, có ảnh hưởng Đóng góp của các công trình là đã tìm ra khái niệm ngoại giao văn hóa ở nhiều góc độ khác nhau, tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế Nhiều công trình còn nghiên cứu và phân tích sâu về chính sách và thực tiễn ngoại giao văn hóa của một số quốc gia cụ thể, hoặc làm rõ những nhân tố tác động, những mục tiêu chiến lược mà chính sách ngoại giao văn hóa của quốc gia đó hướng tới Tuy nhiên, những nghiên cứu loại này còn tương đối phân tán, thành quả của phân tích chỉnh thể và nghiên cứu hệ thống vẫn còn tương đối thiếu Các công trình nghiên cứu đã được tổng quan ở trên chủ yếu là dưới cách tiếp cận chính trị học, ngoại giao học còn dưới góc độ văn hóa học vẫn còn thiếu hụt
Nhìn chung, các công trình liên quan đến ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN mới chỉ dừng lại ở các bài viết dưới dạng biểu hiện của ngoại giao văn hóa như sức mạnh mềm văn hóa, hoạt động giao lưu, hợp tác về văn hóa giữa Việt Nam với ASEAN… Có thể thấy rằng hiện nay các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngoại giao văn hóa của khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời kỳ hội nhập đang còn hạn chế, thiếu hụt
Việc mô tả, phân tích tương đối rõ ràng mức độ thành công của các công trình nghiên trong và ngoài nước và những kết quả mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của luận án đã đem đến nhiều gợi mở ở các cấp độ khác nhau như: quan điểm phân tích hệ thống lý luận về ngoại giao văn hóa, sức mạnh mềm văn hóa, nội dung, hình thức của ngoại giao văn hóa, vai trò của ngoại giao văn hóa, những nhân tố tác động đến ngoại giao văn hóa, hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN, xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế nói chung và Việt Nam với các nước ASEAN nói riêng
2.3 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
- Tại sao ngoại giao văn hóa lại được đề cao trong thời kỳ hội nhập quốc tế
và có vị trí ngang hàng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế?
Trang 20- Thực tiễn hoạt động của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời gian qua được thực hiện như thế nào?
- Ngoại giao văn hóa (một hoạt động văn hóa) có vai trò gì (đóng góp gì?) cho mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN?
- Ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN có xu hướng vận động như thế nào và những vấn đề cần đặt ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay?
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực tiễn và đánh giá hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN, đồng thời nhận định xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN và đưa ra những bàn luận nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với các nước ASEAN
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ hệ thống lý luận về ngoại giao văn hóa
- Nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam với ASEAN
- Nghiên cứu những nhân tố tác động đến ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN
- Khảo sát thực tiễn triển khai hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN
- Nghiên cứu xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời kỳ hội nhập
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với các nước ASEAN
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Trong không gian Đông Nam Á hiện đại
- Thời gian nghiên cứu: từ 1995 (khi Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN)
đến nay
Trang 21- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Ngoại giao văn hóa với cơ cấu hoạt động
hoạt động rất đa dạng và phong phú như phân loại theo nội dung hoạt động, hình thức hoạt động, chủ thể hoạt động, không gian hoạt đông… Trong khuôn khổ của luận án tác giả xin tập trung vào tiêu chí phân loại theo hình thức hoạt động của ngoại giao văn hóa
- Giới thuyết tên đề tài: Hiểu theo nghĩa đầy đủ tên đề tài của luận án là:
Hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam với các nước ASEAN trong thời kỳ hội nhập quốc tế
6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phương pháp luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và hợp tác quốc tế; các quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách văn hóa đối ngoại, ngoại giao văn hóa nói chung
và với ASEAN nói riêng
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
Được sử dụng để tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, giúp NCS sử dụng nhiều nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, dùng để đánh giá, phân loại tài liệu trong quá trình nghiên cứu nhằm phân tích, luận giải cơ sở lý luận liên quan đến ngoại giao văn hóa, hệ thống hóa quan điểm của điểm của Đảng và Nhà nước
về ngoại giao văn hóa, đồng thời phân tích hoạt động thực tiễn ngoại giao văn hóa Việt Nam với các nước ASEAN trong thời gian qua, những thành tựu và hạn chế cần khắc phục
- Phương pháp chuyên gia
Trên cơ sở nội dung của luận án, NCS lựa chọn các nhà khoa học, các chuyên gia, những người am hiểu về lý luận và thực tiễn về ngoại giao văn hóa làm việc tại các cơ quan nghiên cứu và các cục, vụ chức năng của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch (Bộ VHTTDL), Bộ Ngoại giao… để trao đổi, tham khảo những quan điểm, ý kiến đối với vấn đề nghiên cứu Nội dung phỏng vấn chủ yếu là quan điểm
Trang 22của các chuyên gia về các vấn đề liên quan đến hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN như: nhận thức của họ về vai trò của ngoại giao văn hóa, đánh giá của họ về thành công và hạn chế của hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN, về cơ chế phối hợp, về nguồn nhân lực, nguồn kinh phí cho hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN…
- Phương pháp liên ngành
Nghiên cứu hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời
kỳ hội nhập là sự thu thập, tổng hợp kết quả nghiên cứu nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành như lịch sử, xã hội học, ngoại giao học, chính trị học… Cho nên, các thao tác nghiên cứu của luận án được thực hiện thông qua sự kết hợp linh hoạt các phương pháp trên Sử dụng phương pháp liên ngành, đa ngành vào đề tài luận
án, giúp cho việc khai thác và xử lý hiệu quả các nguồn tư liệu khác nhau trong vấn đề nghiên cứu Phương pháp liên ngành/đa ngành còn nghiên cứu các lĩnh vực chồng lấn giữa các hoạt động văn hóa, chính trị, kinh tế của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN
7 Đóng góp của luận án
Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa
là một trong những trụ cột của nền ngoại giao hiện đại
Xác định khái niệm ngoại giao văn hóa, cơ cấu của ngoại giao văn hóa, vai trò của ngoại giao văn hóa trong quá trình hội nhập
Nâng cao nhận thức về ngoại giao văn hóa trong hoạt động ngoại giao tổng hợp
Về mặt thực tiễn: Khảo sát thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt
Nam với ASEAN
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp thêm nguồn tư liệu vào tìm hiểu ngoại giao văn hóa nói chung, ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN nói riêng cho những người làm ngoại giao, các tùy viên văn hóa, các nhà nghiên cứu và sinh viên các ngành Quan hệ quốc tế, ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học…Ngoài ra, cung
Trang 23cấp các kiến giải và luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chính sách văn hóa đối ngoại của Việt Nam với các nước ASEAN trong thời kỳ hội quốc tế
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình nghiên cứu của tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa và khái lược về mối quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN
Chương 2: Thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời kỳ hội nhập
Chương 3: Xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN
và những vấn đề đặt ra
Trang 24CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA
VÀ KHÁI LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI ASEAN 1.1 Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa
1.1.1 Khái niệm ngoại giao văn hóa và các khái niệm liên quan
1.1.1.1 Khái niệm ngoại giao văn hóa
Muốn nhận thức một cách khoa học định nghĩa ngoại giao văn hóa (NGVH), chúng ta phải làm rõ khái niệm ngoại giao và khái niệm văn hóa Hai khái niệm này
là cơ sở để hiểu rõ NGVH
* Khái niệm ngoại giao
Ngoại giao (diplomacy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (diplom) Mặc dù đã
xuất hiện từ rất lâu, song khái niệm ngoại giao đến nay được hiểu khá khác nhau
Loại định nghĩa thứ nhất, thiên về hình thức ngoại giao, cho rằng:
Ngoại giao chủ yếu là đàm phán Thực chất của ngoại giao chính là thông qua đàm phán để xử lý quan hệ quốc tế Học giả Đức Martens cũng từng chỉ ra một cách rõ ràng: Ngoại giao “trên nghĩa hẹp, là khoa học nghệ thuật đàm phán” Trong “Từ điển Webster” của Mỹ, ngoại giao được định nghĩa: “Là nghệ thuật điều khiển đàm phán quốc tế” Từ điển Anh ngữ Oxford chỉ ngoại giao là: (1) Thông qua đàm phán xử lý quan hệ quốc tế; (2) Phương pháp mà đại sứ hoặc các nhân viên ngoại giao điều chỉnh và xử lý những quan hệ này; (3) Nghiệp vụ hoặc kỹ thuật của nhà ngoại giao; (4) Kỹ năng hoặc cách ăn nói trong xử lý quan hệ giao lưu và đàm phán quốc tế [61 tr, 57-58]
Loại định nghĩa thứ hai, chủ yếu nhấn mạnh công năng của ngoại giao, cho rằng
công năng của ngoại giao chủ yếu là xử lý quan hệ quốc gia và công việc quốc tế Định
nghĩa mang tính đại diện như sau: Trong cuốn “Hướng dẫn thực tiễn ngoại giao”
E.M.Satow, quan chức ngoại giao Anh, đã chỉ ra: “Ngoại giao là sự vận dụng trí lực và
cơ trí để xử lý quan hệ chính thức giữa chính phủ các quốc gia độc lập và quốc gia phụ
Trang 25thuộc Hoặc nói một cách đơn giản, là chỉ dùng thủ đoạn hòa bình để xử lý công việc giữa các nước” [61, tr.58]
Loại định nghĩa thứ ba chủ yếu nhấn mạnh mặt bản chất của ngoại giao, cho
rằng ngoại giao là một loại hành vi đối ngoại quốc gia có chủ quyền
Ở Việt Nam theo Từ điển Tiếng Việt năm 1996 định nghĩa:
Theo nghĩa động từ: “Ngoại giao là sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền
lợi của quốc gia mình và góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung”
Theo nghĩa danh từ: “Ngoại giao là chỉ hoạt động của một nước về mặt quan
hệ quốc tế”
Trong từ điển Hán ngữ hiện đại (tái bản năm 2002), khái niệm ngoại giao được giải thích là: “Hoạt động của một nước trong phương diện quan hệ quốc tế, như tham gia tổ chức và hội nghị quốc tế, cử đại sứ, tiến hành đàm phán, ký kết
điều ước và hiệp định…” [61, tr.59]
Chúng ta có thể thấy trong mỗi định nghĩa đều cố gắng làm nổi bật những khía cạnh mà định nghĩa đó coi là chủ yếu và quan trọng nhất của khái niệm, có thể khái quát các khái niệm trên như sau:
Về mặt bản chất: Ngoại giao là sự giao thiệp của quốc gia chủ thể với quốc gia bên ngoài
Cách thức: Sử dụng phương pháp hòa bình, thủ đoạn hòa bình
Kỹ năng: nghệ thuật, phương pháp và nghiệp vụ của nhà ngoại giao trong giao lưu và đàm phán quốc tế
Hoạt động: mang tính tổng hợp
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, các chủ thể tham dự quan hệ quốc tế tăng lên không ngừng, kèm theo đó là sự gia tăng của các tác nhân mới trên trường quốc tế như: các tổ chức phi chính phủ (NGOs) các thể chế liên chính phủ, các tổ chức quốc tế Điều đó đã làm cho phương thức ngoại giao ngày càng đa dạng Hay nói cách khác ngoại diên khái niệm ngoại giao đã mở rộng ra rất
Trang 26nhiều, từ ngữ ngoại giao cũng rất phong phú, các từ ngữ, khái niệm mới liên tiếp xuất hiện như “ngoại giao môi trường”, “ngoại giao hoạt hình”, các khái niệm quen thuộc như “ngoại giao kinh tế”, “NGVH”, “ngoại giao thể dục”, “ngoại giao bóng bàn”… tần suất sử dụng ngày càng tăng cao, được giới học thuật sử dụng rộng rãi
* Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rất phong phú và đa dạng vì ở mỗi dân tộc, mỗi thời đại lịch sử cho ta định nghĩa khác nhau về văn hóa, và văn hóa gắn liền với xã hội (kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao…) mỗi sự thay đổi của nó cho ta quan niệm khác nhau về văn hóa…
Đầu thế k XXI, trong Tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hóa (tháng 11/2001) được tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) khẳng định:
Văn hóa là một tổng hợp các đặc điểm tinh thần, thể chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm xã hội, bao hàm không chỉ nghệ thuật và văn học mà còn cả lối sống, cách thức cùng chung sống, các
hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng Những đặc trưng của các yếu
tố cấu thành đó giúp ta phân biệt được một xã hội (hoặc một nhóm xã hội) với các xã hội (hoặc nhóm xã hội) khác [94]
Với định nghĩa này, UNESCO đã chỉ ra bản chất của văn hóa là tổng hợp đặc điểm tinh thần của một cộng đồng, trong đó cơ cấu của văn hóa là nghệ thuật, văn chương, lối sống, cách sống chung, giá trị, truyền thống, tín ngưỡng của một cộng đồng Định nghĩa trên cũng đã nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc giúp một xã hội khẳng định sự hiện diện của mình trên thế giới và đảm bảo sự tồn tại của xã hội
đó theo dòng thời gian Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác “đa dạng văn hóa” còn ẩn chứa một sức mạnh bên trong nó Bởi “đa dạng văn hóa” về bản chất chính là “sự khác biệt” giữa các nền văn hóa với nhau, và chính sự khác biệt này tạo nên sự hấp dẫn, sự thu hút của một nền văn hóa đối với thế giới bên ngoài
Vì vậy, trong luận án này tác giả sử dụng định nghĩa của UNESCO về văn hóa trong Tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hóa là nền tảng chính để phát triển luận điểm phục vụ cho nghiên cứu của luận án
Trang 27* Vai trò của văn hóa trong hoạt động ngoại giao
Văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có ngoại giao Từ thời cổ đại và cận đại, văn hóa cũng tham gia vào các hoạt động ngoại giao, tuy nhiên chỉ dừng ở dạng giao lưu mang tính tự phát thuần túy giữa các quốc gia dân tộc với nội dung, qui mô nhỏ Sang giai đoạn ngoại giao thời cận đại, sự trao đổi, giao lưu và kết nối văn hóa giữa các quốc gia mở rộng sang nhiều lĩnh vực như chính trị, luật pháp, kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự… cho thấy vai trò ngày càng trở nên
rõ nét trong hoạt động ngoại giao Và điều đó cũng đã ảnh hưởng tới việc chế định chính sách đối ngoại của quốc gia Chính vì vậy, các quốc gia dần ý thức được vai trò của văn hóa trong hoạt động ngoại giao
Từ thế k XX đến nay, tình hình thế giới đã có nhiều biến chuyển Trên cơ sở nhận thức sâu sắc và xác định rõ ràng vị trí, vai trò và tầm quan trọng của văn hóa trong quan hệ quốc tế, các nước coi việc thể hiện bản sắc văn hóa của mình thông qua các kênh khác nhau là hết sức cần thiết nhằm truyền bá quan niệm giá trị, nâng cao và
mở rộng sức ảnh hưởng của quốc gia trên phạm vi rộng lớn Như vậy, hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại dần trở thành một mảng quan trọng không thể thiếu trên bình diện giao lưu quốc tế bên cạnh các lĩnh vực quan trọng khác như chính trị, kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật Và hành vi ngoại giao của lĩnh vực văn hóa, hay hoạt
động văn hóa trong lĩnh vực ngoại giao đã dần hình thành Tiêu biểu là “Công ước
quan hệ ngoại giao Vienna”năm 1961 đã nêu bật hành vi văn hóa trong ngoại giao,
mà thể hiện rõ nét nhất ở một trong những nhiệm vụ của đại sứ quán và lãnh sự quán các nước là thúc đẩy quan hệ tốt đẹp, phát triển quan hệ kinh tế, văn hóa và khoa học
kỹ thuật Điều đó cho thấy, giao lưu văn hóa là một phần quan trọng của công tác ngoại giao quốc tế, nhanh chóng được quốc tế hóa bằng luật pháp
Có thể sơ đồ hóa mối quan hệ giữa ngoại giao và văn hóa như sau:
Trang 28Ngoại giao văn hóa là điểm giao thoa, cộng hưởng từ hai lĩnh vực lớn là ngoại giao và văn hóa “Ngoại giao văn hóa” lúc này đề cập đến vai trò chính yếu của quốc gia thông qua cơ quan hành pháp cao nhất là chính phủ trong quan hệ văn hóa đối ngoại, chứ không còn là sự thể hiện tính tích cực cá nhân trước đây trong nội hàm “giao lưu văn hóa” “Rõ ràng văn hóa và ngoại giao có mối quan hệ tương tác qua lại và hỗ trợ lẫn nhau” [96, tr.69]
Ngày nay, văn hóa luôn giữ vai trò quyết định đối với sự hưng thịnh hoặc suy vong của một đất nước Do đó, mỗi nước khi tiến hành hoạt động đối ngoại với các đối tác đều xác định các giá trị văn hóa là sức mạnh tinh thần không thể thiếu nhằm góp phần vào việc thực hiện có hiệu quả các chính sách quốc gia trên nhiều lĩnh vực “Văn hóa ngày càng thể hiện rõ vai trò cầu nối gắn kết các dân tộc trên thế giới, là mục tiêu và động lực phát triển, là nền tảng gìn giữ và bảo vệ hòa bình, là nhân tố để thúc đẩy các lĩnh vực khác cùng phát triển” [2, tr 28] Sự giao lưu quốc tế
về các lĩnh vực văn hóa ngày càng mở rộng, mỗi nền văn hóa đều quảng bá những thành tựu của bản thân mình về đất nước, con người văn hóa và tiếp thu những thành tựu, những giá trị tiên tiến của các dân tộc khác phù hợp với mình NGVH ngày càng giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Hiện nay trên thế giới chỉ có một số ít các nước như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc… bằng bản sắc văn hóa của mình đã tạo ra một sức mạnh trong mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và thế giới
* Khái niệm ngoại giao văn hóa
Trên thế giới vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về ngoại giao văn hóa:
Các học giả nước ngoài:
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia, nhìn từ góc độ chính trị học
“Ngoại giao văn hóa là một khái niệm trong khoa học chính trị để chỉ việc sử dụng
và truyền bá những tư tưởng văn hóa giữa các nhóm người khác nhau nhằm đạt được mối quan hệ thiện cảm và sự hiểu biết lẫn nhau” [119]
Milton C Cummings Jr thuộc Trung tâm Nghệ thuật và Văn hóa Mỹ tại Washington định nghĩa nhìn từ góc độ văn hóa học: “ Ngoại giao văn hóa là sự giao
Trang 29lưu những tư tưởng, trao đổi thông tin, nghệ thuật, lối sống, hệ giá trị, truyền thống, tín ngưỡng và các phương diện khác của văn hóa nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia và dân tộc” [119]
Simeon Adebolu, thành viên Hiệp hội các nhà ngoại giao thương mại Anh (Associate of the Association of Certified Commercial Diplomats) nhìn từ góc độ văn hóa học và chính trị học thì cho rằng: “Ngoại giao văn hóa là một hình thức ngoại giao nhấn mạnh tới sự thừa nhận văn hóa và hiểu biết lẫn nhau như là một cơ sở của đối thoại” [119]
Harvey B Feigenbaum thuộc Đại học G Washington nhìn từ góc độ kinh tế cho rằng:
Đối với các quốc gia, họ thường sử dụng NGVH nhằm cải thiện quan
hệ quốc tế và đạt được những thỏa thuận trong các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, di trú và an ninh Văn hóa có thể là chất keo gắn kết các xã hội dân sự Hiểu biết văn hóa của các nước và các dân tộc khác là nhân tố thiết yếu đối với việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế và thương mại
một cách hiệu quả trên các thị trường ngày càng toàn cầu hóa [122]
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng đưa ra một số khái niệm về NGVH trong đó đáng chú ý là khái niệm của Bành Tân Lương trong cuốn “Ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm Trung Quốc: một góc nhìn toàn cầu hóa” nhìn từ góc độ chính trị học cho rằng:
Ngoại giao quốc gia ban đầu không có ý thức văn hóa, ngoại giao thể hiện phần nhiều ở trao đổi và giành giật hiện vật giữa các quốc gia Cùng với sự
tự giác của loài người đối với văn hóa của chính mình, từ “người ngoại giao
vì vật” sang “vật ngoại giao vì người” Đó là quá trình tiến hóa của NGVH
từ tầng nấc thấp đến tầng nấc cao, tác giả đã chia làm ba tầng nấc:
Thứ nhất: Hiểu biết ban đầu về NGVH: Bắt đầu nhận thức được ảnh
hưởng của văn hóa đối với ngoại giao, nhưng cũng chỉ coi văn hóa là bối
Trang 30cảnh của ngoại giao, bản thân văn hóa không tham gia vào hoạt động ngoại giao, vì vậy cũng có thể nói không có NGVH độc lập
Thứ hai: Hiểu biết truyền thống về NGVH: Sau chiến tranh thế giới thứ hai
cùng với việc xây dựng hệ thống ngoại giao học và hoạt động ngoại giao các nước không ngừng sôi động người ta coi văn hóa là một thủ đoạn thực hiện lợi ích quốc gia, địa vị của văn hóa trong sức mạnh quốc gia được xác nhận
và coi trọng Nhưng loại NGVH này được hiểu theo ý nghĩa thông thường, văn hóa chỉ là công cụ có tính thay thế cho nhân tố kinh tế, quân sự…
Thứ ba: Hiểu biết hiện đại về NGVH: Cùng với việc toàn cầu hóa diễn
ra nhanh chóng và khuynh hướng quyền lực hóa tri thức ngày càng rõ rệt, các nước trên thế giới ngày càng nhận thức được, văn hóa không chỉ
là quyền lực quốc gia, mà còn là một bộ phận cấu thành lợi ích quốc gia
Có thể nói ngoại giao và văn hóa là mục đích và thủ đoạn của nhau Đây
là NGVH với ý nghĩa đầy đủ [61, tr.486]
Các học giả trong nước:
Trong cuốn sách “Ngoại giao và công tác ngoại giao” (2009) của Vũ Dương
Huân cũng bàn tới khái niệm NGVH dưới góc nhìn chính trị học và văn hóa học:
Ngoại giao văn hóa là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc sử dụng văn hóa như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại của quốc gia, tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quảng bá văn hóa và ngôn ngữ quốc gia [43, tr.311]
Trong cuốn giáo trình “Ngoại giao văn hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc
tế và ứng dụng” (2012) của Phạm Thái Việt đã nêu ra quan niệm về NGVH dưới
góc nhìn văn hóa học:
Ngoại giao văn hóa có thể được hiểu khái quát là một hoạt động ngoại giao đặc thù, sử dụng công cụ văn hóa để đạt được mục tiêu của ngoại giao và sử dụng ngoại giao để tôn vinh vẻ đẹp của văn hóa Các hoạt động
Trang 31NGVH được thực hiện thông qua việc áp dụng các hình thức văn hóa, nghệ thuật bao gồm: nghệ thuật, lịch sử, tư tưởng, truyền thống văn hóa, thông tin, ẩm thực, các ấn phẩm văn học…[98, tr.77]
Quan niệm về NGVH của các học giả trên thế giới và trong nước dưới những góc độ khác nhau (văn hóa, chính trị, kinh tế…) đã đề cập ở trên có thể thấy nét chung nhất đó là các khái niệm đều nhấn mạnh đến mục đích của NGVH nhằm đạt được mối quan hệ và thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau; phương thức hoạt động của NGVH đó là sự giao lưu, trao đổi văn hóa nghệ thuật giữa một quốc gia với thế giới bên ngoài; coi NGVH vừa là mục đích vừa là phương tiện của ngoại giao
Như vậy, tổng hợp từ tất cả những quan điểm nêu trên, dưới cách tiếp cận Văn hóa học luận án đưa ra khái niệm về NGVH như sau:
Ngoại giao văn hóa là một lĩnh vực ngoại giao đặc thù liên quan đến việc thiết lập, phát triển và duy trì các mối quan hệ với các quốc gia khác trên lĩnh vực văn hóa nhằm quảng bá, trao đổi văn hóa và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa để thực hiện mục tiêu đối ngoại của quốc gia
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan
* Khái niệm văn hóa đối ngoại
Cho tới nay chưa có một khái niệm thống nhất về văn hóa đối ngoại Khái niệm này có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Thực tế cho thấy, văn hóa đối ngoại còn là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của một quốc gia, bên cạnh các trụ cột về chính trị, kinh tế, bảo hộ công dân ở nước ngoài…
Trong xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển của một thế giới toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa đối ngoại được xác định là một trong những phương cách góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, quảng bá hình ảnh đất nước, phục vụ tích cực cho phát triển kinh tế xã hội và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Trong “Chiến lược Văn hóa đối ngoại đến năm 2020” của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có nhận định:
Trang 32Văn hóa đối ngoại được xác định là tổng thể các hoạt động ứng xử, giao lưu, hợp tác về văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, khu vực cộng đồng này với khu vực cộng đồng khác nhằm giới thiệu những tinh hoa và giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú và lan tỏa giá trị văn hóa quốc gia trong cộng đồng quốc tế, hỗ trợ tích cực cho các loại hình đối ngoại khác (chính trị, kinh tế ) để quốc gia tăng cường hợp tác, phát triển [18]
Theo quan điểm của NCS thì văn hóa đối ngoại được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Văn hóa đối ngoại là hoạt động bao trùm lên các lĩnh vực đối ngoại về văn hóa trong đó bao hàm cả NGVH
Nghĩa hẹp: Văn hóa đối ngoại là hoạt động giao lưu, trao đổi với thế giới bên ngoài những tinh hoa và giá trị văn hóa của dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa văn hóa của thế giới để làm giàu thêm văn hóa quốc gia Cùng với đó, văn hóa đối ngoại góp phần nâng tầm văn hóa quốc gia trước cộng đồng quốc tế, đồng thời
hỗ trợ tích cực cho các loại hình đối ngoại khác (chính trị, kinh tế ) để quốc gia chủ thể tăng cường hợp tác, phát triển bền vững (Văn hóa đối ngoại lúc này tương đương với kinh tế đối ngoại)
- Sự khác nhau giữa ngoại giao văn hóa và văn hóa đối ngoại
Cho đến nay, nhiều ý kiến vẫn còn tương đối đồng nhất khái niệm NGVH và văn hóa đối ngoại, giữa chúng không có nhiều sự khác biệt Chính vì vậy, nhận diện
về NGVH và văn hóa đối ngoại dưới góc độ đặc thù riêng biệt cũng chưa hoàn toàn
rõ ràng Tuy nhiên, hai hoạt động này có khác nhau, mặc dù nếu xét trên bề nổi lý thuyết và thực tiễn thì có nhiều điểm tương đồng
Thứ nhất, theo cách hiểu Hán Việt:
Văn hóa đối ngoại: là một bộ phận trong đường lối, chính sách đối ngoại của một quốc gia, là văn hóa ứng xử với bên ngoài, chỉ hoạt động thực tiễn, bao trùm mọi hình thức, quy trình, cách thức, công cụ, hành động… liên quan đến văn hóa nhằm phục vụ mục tiêu đối ngoại của quốc gia
Trang 33Ngoại giao văn hóa: là ứng xử với bên ngoài trong lĩnh vực văn hóa và bằng văn hóa Người ta có thể sử dụng thủ pháp, con đường, biện pháp chuyên biệt bằng văn hóa - nghĩa là chỉ bằng NGVH, hay kết hợp với các loại hình ngoại giao khác như ngoại giao chính tri, ngoại giao kinh tế để đạt được mục tiêu đối ngoại quốc gia
Như vậy, theo cách hiểu này, phạm trù văn hóa đối ngoại có nội hàm rộng hơn phạm trù NGVH
Thứ ba, xét về quy mô
Phạm vi hoạt động văn hóa đối ngoại rộng hơn, mang tính chủ trương, định hướng,thúc đẩy truyền bá, xuất khẩu văn hóa ra thế giới, cũng như trong quản lý các hoạt động văn hóa mang yếu tố nước ngoài trên nước sở tại, văn hóa đối ngoại thường được tổ chức một cách rộng rãi, do nhiều thành phần tổ chức và hướng tới cả lợi nhuận Còn ở mức hẹp hơn, đó là tổ chức theo mục tiêu chính trị, kinh tế nhất định, và phần lớn trong các hình thức cụ thể như chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao, k niệm ngày thiết lập quan hệ và quảng bá hình ảnh lại thuộc về phạm vi điều chỉnh của NGVH
Như vậy, có thể thấy văn hóa đối ngoại rộng hơn NGVH NGVH là một bộ phận của văn hóa đối ngoại, thực dụng hơn, có mục đích, đối tượng cụ thể hơn so với văn hóa đối ngoại
* Khái niệm văn hóa ngoại giao
Văn hóa ngoại giao được thể hiện ra trong hoạt động ngoại giao, chính sách ngoại giao, nó giống như văn hóa xã hội, văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật Thông
Trang 34thường, định nghĩa văn hóa ngoại giao có thể khái quát là sự thể hiện hoặc phản ánh của đặc tính văn hóa của một nước trong lý luận ngoại giao và thực tiễn ngoại giao của nước đó Nó biểu hiện cụ thể thành ba mặt: Xu thế quan niệm giá trị của chiến lược ngoại giao nước đó; phong cách và đặc điểm truyền thống của ngoại giao nước đó; mô hình chủ yếu của hành vi ngoại giao nước đó
Trong công tác đối ngoại, văn hoá ngoại giao đóng vai trò như mở cửa khai thông hay gắn kết mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia với nhau Văn hóa ngoại giao nằm ngay ở hành vi ứng xử của các cá nhân trong quá trình giao tiếp, và nó tạo
ra ấn tượng đầu tiên với đối tượng tiếp xúc Những ấn tượng này tạo ra sự nhận diện
về hình ảnh quốc gia, dân tộc mà cá nhân đó là thành viên công dân Văn hoá ngoại giao cũng là chất kết dính để quan hệ giữa nhân dân với nhân dân, giữa các quốc gia dân tộc với nhau được bền chặt hơn Một phong cách ứng xử có “văn hoá” (ở đây có thể là một chính khách hoặc một người dân) của quốc gia này sẽ nâng cao hơn hình ảnh về quốc gia đó góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa hai nước Vậy, văn hoá ngoại giao góp phần vào sự phát triển công tác đối ngoại Thành công của công tác NGVH trong đó có sự đóng góp của văn hóa ngoại giao
Thực tế thì NGVH không phải lúc nào cũng dễ dàng thành công Nó đòi hỏi một trình độ cao của những người có trách nhiệm về NGVH Nói một cách khác, NGVH chỉ có thể thành công trên cơ sở của một trình độ cao về văn hóa Lịch sử Việt Nam đã để lại những bài học sâu sắc về và văn hóa ngoại giao Ví dụ như những nhà ngoại giao văn hóa lỗi lạc như Mạc Đĩnh Chi, Giang Văn Minh, Nguyễn Trãi,…Hồ Chí Minh…
Như vậy, văn hóa ngoại giao là trình độ, năng lực, kỹ năng và nghệ thuật của nhà ngoại giao
* Khái niệm thời kỳ hội nhập
Hội nhập quốc tế (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là
“intégration internationale”) là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế k XX ở châu
Trang 35Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức - Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về “hội nhập quốc tế”, nhưng tựu chung lại có hai cách hiểu chính: theo nghĩa hẹp, hội nhập quốc tế là sự tham gia của các quốc gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực; theo nghĩa rộng, đó là sự mở cửa và tham gia của các nước vào mọi mặt của đời sống quốc tế
Như vậy, hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế Quốc gia và các chủ thể khác, trong đó quốc gia là chủ thể chính trong quan hệ quốc tế, vì lợi ích của mình, thực hiện và đẩy mạnh sự giao lưu và cam kết với các quốc gia và các tổ chức khác trong khu vực, châu lục và thế giới theo các hình thức hợp tác song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực, toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị,
an ninh - quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội…
Hội nhập quốc tế luôn tác động lớn đến quan hệ quốc tế và nội tại của mỗi quốc gia Và sự tham gia mạnh mẽ của các nước và các tổ chức vào hội nhập quốc
tế góp phần thiết thực và tích cực cho một thế giới tốt đẹp đang phải đối mặt với nhiều vấn đề mang tính chất toàn cầu Thực tế, hội nhập quốc tế trở thành một xu thế lớn của thế giới ngày nay mà nhiều quốc gia xác định đó là sự lựa chọn cơ bản trong chính sách phát triển của mình
Đối với Việt Nam, có thể nói, từ năm 1976, khi trở thành thành viên Liên hợp quốc, thực tế nước ta đã bắt đầu quá trình hội nhập chính trị Nhưng quá trình phát triển tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế thực chất chỉ bắt đầu cùng với sự nghiệp Đổi mới được Đại hội Đảng VI (năm 1986) khởi xướng Cùng với công cuộc Đổi mới và mở rộng hợp tác với bên ngoài, gia nhập và tham gia các
tổ chức, thiết chế về chính trị, kinh tế, văn hóa… của khu vực và quốc tế, Đảng và
Trang 36Nhà nước ta luôn có quan điểm, nhìn nhận, đánh giá đa chiều, tích cực, khách quan
về hội nhập quốc tế; đồng thời, không ngừng đẩy mạnh các hoạt động hội nhập quốc
tế, lấy hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm Cho đến ngày nay, thuật ngữ “Hội nhập quốc tế” (hay ngắn gọn là “hội nhập”) với nội hàm rộng hơn ngày càng trở nên quen
thuộc và được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội ở Việt Nam
* Đặc điểm của thời kỳ hội nhập
- Toàn cầu hóa - căn cứ của hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa là một hiện tượng khách quan, xu thế của thế giới, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thế giới cũng như quan hệ quốc tế của các quốc gia Toàn cầu hóa mang lại cả cơ hội lẫn thách thức, nhưng không “cho phép” các nước lớn hay nhỏ với các thể chế chính trị khác nhau, đóng cửa, cô lập hoặc hạn chế giao lưu quốc tế mà đòi hỏi phải hội nhập để tranh thủ cho sự phát triển
- Hội nhập quốc tế - cơ hội đi kèm thách thức
Cơ hội: Tạo điều kiện mở rộng thị trường, phát triển thương mại và các quan
hệ kinh tế khác; Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội; chuyển giao công nghệ kỹ thuật tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận thị trường quốc tế; Tiếp thu giá trị văn hóa tiên tiến và ưu việt của văn minh nhân loại…
Thách thức: Cạnh tranh giữa các quốc gia tăng lên; Sự phụ thuộc vào môi
trường bên ngoài tăng lên, nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của tình hình quốc tế; Bản sắc văn hóa có thể bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài Chịu sự áp đặt văn hóa, tha hóa văn hóa (cả tư tưởng, lối sống, đạo đức) Nguy cơ vong bản về giá trị trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa
và xã hội; Gia tăng nguy cơ môi trường bị hủy hoại, khủng bố quốc tế, buôn lậu…
1.1.2 Cơ cấu của ngoại giao văn hóa
1.1.2.1 Nội dung hoạt động của ngoại giao văn hóa
Thứ nhất, truyền bá, quảng bá các giá trị văn hóa
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của NGVH là truyền bá, quảng bá các giá trị văn hóa ra thế giới, làm cho văn hóa của quốc gia dân tộc hòa nhập vào
Trang 37văn hóa chủ đạo của thế giới Đó chính là tạo dựng môi trường dư luận quốc tế tốt đẹp, tạo nên sự đồng thuận quốc tế, mà trong thời đại hiện nay việc xây dựng hình ảnh quốc gia ngày càng đóng vai trò quan trọng
Ngoại giao văn hóa là công cụ để thực hiện chính sách đối ngoại của đất nước, bản chất là hình thức ngoại giao nhưng phương thức thực hiện lại khác về cơ bản so với các hình thức ngoại giao khác Phương thức hoạt động của NGVH gắn kết chặt chẽ với các hoạt động truyền bá, quảng bá giá trị văn hóa quốc gia (nước chủ thể) ra thế giới, có thể đến một hoặc nhiều nước khác (nước tiếp nhận) Các giá trị văn hóa của quốc gia, bao gồm các giá trị vật chất (giá trị tự nhiên, như phong cảnh, tài nguyên, môi trường…), giá trị tinh thần (giá trị nhân văn, đạo đức, tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật, triển lãm, văn học, điện ảnh…) và giá trị con người (phẩm chất và năng lực của người dân, đặc biệt là vai trò của các vĩ nhân, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa tiêu biểu của đất nước,…) Những giá trị văn hóa này nếu biết phát huy tốt sẽ tạo nên thương hiệu quốc gia, có sức mời gọi đối với thế giới Truyền bá và giải thích làm rõ những giá trị văn hóa dân tộc cho các nước tiếp nhận; khuyến khích các loại hình hợp tác văn hóa giữa các chủ thể văn hóa của các quốc gia với các nước tiếp nhận
Như vậy, với vai trò đưa hình ảnh đất nước, con người và văn hóa ra thế giới NGVH hướng tới việc nâng cao sự hiểu biết đúng đắn, thu hút thiện cảm và sự ủng
hộ của bạn bè quốc tế, chống lại những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ an ninh quốc gia Bên cạnh đó, các hoạt động truyền bá,quảng bá các giá trị văn hóa cũng góp phần khơi dậy và phát triển lòng yêu quê hương, đất nước và tự hào dân tộc của người dân ở trong và ngoài nước, từ đó, khuyến khích việc gìn giữ
và phát huy các giá trị văn hóa và truyền thống dân tộc
Thứ hai, đàm phán ký kết, hợp tác về văn hóa
NGVH có nhiều phương thức hoạt động khác nhau, mỗi phương thức đòi hỏi
có hình thức và nội dung khác nhau mà mỗi chủ thể đều có sự lựa chọn, điều chỉnh, tiến hành sát với điều kiện, khả năng cùa mình Song có một điều rất rõ ràng, để bảo đảm quyền, trách nhiệm và lợi ích khi tham gia, các bên đều phải có sự cam kết mang
Trang 38tính ràng buộc về mặt pháp lý bằng việc tiến hành đàm phán, ký kết các hiệp định, thỏa thuận về hợp tác về văn hóa Đây là biểu hiện của một trong những phương thức hoạt động không kém phần quan trọng của NGVH “Việc triển khai thực hiện các hiệp định, thỏa thuận quốc tế này là một tiến trình hai chiều, có đi có lại” [2, tr.38]
Một trong những tiêu chí để đánh giá hoạt động NGVH của quốc gia là thông qua số lượng và chất lượng các văn bản ký kết hợp tác về văn hóa Thực tế, nhiều nước có văn bản ký kết hợp tác về văn hóa với quốc gia khác nhưng lại không triển khai tổ chức hoạt động hoặc có hoạt động nhưng không hiệu quả
Thứ ba, duy trì mối liên kết văn hóa
Khi thực hiện các cam kết về văn hóa mang tính pháp lý, các giá trị văn hóa của nước chủ thể với các kiều dân của họ ở nước tiếp nhận luôn được hỗ trợ và duy trì mối liên kết Biểu hiện ở chỗ, bản sắc văn hóa dân tộc trong cộng đồng kiều dân của nước chủ thể tại nước tiếp nhận đều được gìn giữ, duy trì và phát huy Hai mặt của NGVH thể hiện ở chỗ, bên cạnh việc quảng bá, giới thiệu những giá trị văn hóa của quốc gia dân tộc mình ra bên ngoài, nước chủ thể cũng phải tôn trọng các giá trị văn hóa của quốc gia dân tộc khác “Ở chiều đi đó là nỗ lực của quốc gia gửi đi trong quảng bá hình ảnh đất nước, những giá trị văn hóa của mình đến quốc gia tiếp nhận Và chiều ngược lại đó là hiểu sâu thêm về nền văn hóa, những giá trị văn hóa của quốc gia tiếp nhận để tìm ra những không gian văn hóa chung mà hai bên có thể cùng hợp tác và chia sẻ” [2, tr.39]
Thứ tư, tiếp nhận, tiếp biến văn hóa nước ngoài
Giao lưu, tiếp biến văn hóa nước ngoài là một quy luật, bất kỳ quốc gia nào
dù ít hay nhiều cũng đều trải qua quy luật này Giao lưu, tiếp biến văn hóa có vai trò
to lớn đối với quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc và văn hóa của toàn nhân loại Giao lưu, tiếp biến văn hóa tạo điều kiện cho các nền văn hóa có sự hiểu biết về văn hóa của nhau và nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn về văn hóa của mình qua sự đối chiếu, so sánh giữa các nền văn hóa Từ đó tạo ra một
Trang 39tinh thần khoan dung văn hóa (tôn trọng giá trị văn hóa của dân tộc khác để họ tôn trọng giá trị văn hóa của dân tộc mình) để cùng phát triển
Ngoài ra,thông qua hoạt động giao lưu, tiếp biến văn hóa để quảng bá hình ảnh, đất nước, con người và văn hóa đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá, tư tưởng nhân văn, giá trị đạo đức, tri thức, khoa học tiên tiến trên thế giới để làm phong phú hơn, hiện đại hơn, giàu đẹp hơn nền văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, cũng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiến tới định hướng phát triển cho một nền văn hoá
Với đặc tính của văn hóa là không tĩnh tại mà luôn tiếp biến, việc triển khai
NGVH có thể có 2 tác dụng chủ yếu sau đây
Một là, ngoại giao văn hóa có điều kiện phát hiện, phát huy và phát triển các
giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, mà nhiều giá trị trước đây còn là những “tài sản ẩn” (hidden assets) nhưng có điều kiện “thăng hoa” trong quá trình giao lưu với các nền văn hóa khác
Hai là, ngoại giao văn hóa đóng vai trò là “bộ lọc”, “bánh lái” tạo định
hướng phát triển cho nền văn hóa quốc gia
1.1.2.2 Hình thức của ngoại giao văn hóa
Thứ nhất: Tổ chức hoạt động truyền thông đối ngoại
Có thể coi NGVH như cách thức nhà nước sử dụng các phương thức bằng văn hóa đối với các quốc gia trên thế giới để thực hiện các mục tiêu chiến lược và chính sách đối ngoại Trong đó, phổ biến và nổi bật nhất là việc sử dụng các kênh “truyền thông đại chúng” để truyền tải các giá trị văn hóa của quốc gia ra thế giới
Việc tổ chức triển khai các hoạt động truyền thông đối ngoại khá đa dạng, dưới nhiều phương thức khác nhau như: bày tỏ lập trường, giải thích cho dư luận trong và ngoài nước, đấu tranh với những luận điệu sai trái… Nội dung thể hiện của các phương thức đó có thể là về tình hình đất nước, đường lối, chủ trương, chính sách, hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; các vấn đề toàn cầu; những diễn biến trên trường quốc tế được thông qua các hình thức như: tuyên truyền
Trang 40miệng, phỏng vấn, trả lời họp báo, ấn phẩm công khai trong nước xuất bản bằng tiếng nước ngoài…
Một thực tế rõ ràng là, với sự ứng dụng mạnh mẽ khoa học- công nghệ vào truyền thông, sự lan truyền thông tin nói chung và thông tin về các vấn đề thuộc NGVH nói riêng trên phạm vi toàn cầu qua các phương tiện truyền thông diễn ra nhanh chóng hơn bao giờ hết Đó vừa là cơ hội, nhưng cũng là thách thức cho mỗi quốc gia trong việc tìm kiếm cách thức truyền bá hình ảnh của mình ra với thế giới một cách tốt nhất nhằm đón nhận phản hồi, quan tâm, chia sẻ, hợp tác tích cực từ bên ngoài, góp phần thúc đẩy sự hội nhập và phát triển hiệu quả, có lợi cho đất nước trong phạm vi khu vực và thế giới
Thứ hai: Tổ chức hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật
Hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các quốc gia hiện nay chủ yếu thông qua loại hình nghệ thuật biểu diễn Nghệ thuật biểu diễn là sử dụng không gian của các loại hình sân khấu để thể hiện, truyền tải nội dung của các tác phẩm phi vật thể đến với công chúng Các tác phẩm sân khấu, điện ảnh, ca múa nhạc … ngoài đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần và giải trí đa dạng, nó còn góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống của công chúng
Để các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các quốc gia mang lại kết quả như mong muốn, cần chú ý đến một số điều kiện sau:
- Tính độc đáo, khác biệt nhưng thân thiện, dễ gần, dễ chấp nhận
- Đáp ứng sự kỳ vọng, sở thích và thị hiếu của một nhóm người các quốc gia đó
- Có đầy đủ các ấn phẩm các sản phẩm minh họa đi kèm và bằng ngôn ngữ bản địa hoặc ít nhất cũng là thứ ngôn ngữ thông dụng của các gia đó (sách, tạp chí, băng, đĩa ghi âm, ghi hình, trang web để tra cứu)
- Có cộng đồng người dân hoặc các nhà chuyên môn của quốc gia đó sẵn sàng trao đổi, chia sẻ kiến thức, hiểu biết về giá trị văn hóa đó, thậm chí kể cả hỗ trợ, giúp đỡ để họ có thể “thực hành” giá trị văn hóa đó Đây là cấp độ cao nhất khi truyền bá văn hóa ra nước ngoài “Trên thực tế, không phải tất cả các giá trị văn hóa