1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Danh nhân thời trần và những đóng góp của họ trong lịch sử văn hóa việt nam

159 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 10,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nhận thức về việc phát huy vai trò của giá trị di sản văn hóa danh nhân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, chúng tôi chọn nghi

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS HOÀNG VINH

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Hoàng Vinh Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công

bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường

về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyết

Trang 3

3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 6

Chương 1: NHẬN BIẾT DANH NHÂN TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ HỌC LỊCH SỬ 15

1.1 Các khái niệm công cụ 16

1.1.1 Khái niệm văn hoá 16

1.1.2 Khái niệm danh nhân 20

1.2 Danh nhân - bộ phận của di sản văn hoá dân tộc 26

1.3 Tôn vinh danh nhân như là phương thức bảo tồn và phát triển văn hoá 31

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2: DANH NHÂN ĐỜI TRẦN NGUỒN TƯ LIỆU ĐỂ NHẬN BIẾT NHỮNG NÉT VĂN HOÁ LỊCH SỬ THỜI THỊNH TRỊ CỦA VƯƠNG TRIỀU 37 2.1 Sơ lược giới thiệu sự phân chia các thời kỳ trong lịch sử văn hóa nước ta và sự ra đời của nhà Trần 38

2.1.1 Phân kỳ lịch sử 39

2.1.2 Nhà Trần thành lập 41

2.2 Xây dựng bảng thống kê tổng hợp danh nhân thời Trần 44

2.2.1 Xác định nguồn tư liệu 45

2.2.2 Bảng thống kê danh nhân thời Trần 47

2.3 Một số nhận biết về văn hóa - lịch sử thời thịnh của nhà Trần 50

2.3.1 Nhận biết về sự tiến bộ văn hiến thời Trần 50

2.3.2 Nhận biết về tên gọi chế độ chính trị của nhà Trần 54

2.3.3 Nhận biết về xu hướng vận động của vương triều Trần 58

2.3.4 Nhận biết về công việc lớn của nhà Trần thời thịnh trị 60

2.4 Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên vào thế kỷ XIII 65

Tiểu kết chương 2 67

Trang 4

4

Chương 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA DANH NHÂN THỜI TRẦN ĐỐI VỚI VĂN

HÓA VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 68

3.1 Những đóng góp của danh nhân thời Trần cho văn hóa Việt Nam 71

3.1.1 Đóng góp trong lĩnh vực tư tưởng chính trị - xã hội thời Trần 71

3.1.2 Đóng góp trong lĩnh vực văn hóa - tôn giáo thời Trần 76

3.1.3 Đóng góp trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục 79

3.1.4 Đóng góp về văn hoá – nghệ thuật 81

3.1.5 Đóng góp trong các lĩnh vực khác thời Trần 85

3.2 Giá trị của di sản danh nhân thời Trần trong văn hóa Việt Nam và những bài học cần phát huy 88

3.2.1 Di sản của các vua Trần 89

3.2.2 Di chúc của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn 91

3.2.3 Bài học về khoan thứ sức dân 92

3.2.4 Bài học về đoàn kết trong hoàng tộc 93

3.2.5 Bài học về ngoại giao mềm dẻo trong thái độ, nhưng cứng rắn về nguyên tắc bảo vệ chủ quyền dân tộc 94

3.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá danh nhân đời Trần - phương hướng và một số giải pháp 95

3.3.1 Vài nét về thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa danh nhân 95 3.3.2 Phương hướng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa danh nhân thời Trần 97

3.3.3 Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá danh nhân thời Trần 100

Tiểu kết chương 3 102

KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 111

Trang 5

5

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

UNESCO United Nations Education Scientific and

Cultural Organization

Trang 6

6

MỞ ĐẦU 1.! Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhân dân ta đang thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới Trong quá trình phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã xác định ngày càng rõ ràng rằng: văn hóa (trong đó có giá trị di sản danh nhân) không chỉ là động lực và mục tiêu của sự phát triển, mà còn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống xã hội trong giai đoạn phát triển mới Bài học kinh nghiệm từ nhiều thập kỷ qua trên thế giới đã chỉ ra rằng, những phương thức phát triển nào biết xem xét, coi trọng và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc thường có khả năng thành công cao và mang tính bền vững, ổn định

Nhà thơ Ra-xun Gam-da-tốp (1923-2003) người nước Cộng hoà tự trị Đa-ghét-stan (Liên bang Nga) có một nhận xét, đại ý nói rằng:

Trong sự giao lưu với thế giới rộng lớn ngày nay, muốn biết anh là người thế nào, thì anh phải trình tấm hộ chiếu ra, trên đó ghi các đặc điểm cần thiết về nhân thể, để anh không lẫn với người khác Còn như, khi có ai hỏi về một dân tộc, xem dân tộc đó thế nào thì dân tộc ấy cũng phải trình ra tờ giấy chứng minh nói

về các bậc hiền tài của dân tộc, như các nhà bác học, các văn nghệ sĩ, các nhà hoạt động chính trị lỗi lạc hay các vị tướng lĩnh, các doanh nhân tài giỏi Họ chính

là các vì sao danh nhân của đất nước, biểu hiện như các nhân cách văn hoá kiệt xuất, toả sáng trên bầu trời văn hoá của dân tộc mình Chính họ làm nên bản sắc văn hoá của dân tộc, có giá trị như tấm “giấy thông hành” để dân tộc hội nhập một cách tự tin vào thế giới toàn cầu đa bản sắc

Ngày nay, tại thủ đô các nước văn minh, người ta thường dựng tượng đài danh nhân ở các đền đài, cung điện văn hoá, trên các công viên, quảng trường,

Trang 7

thứ 3 (1442) đời vua Lê Thái Tông Văn bia viết: “Hiền tài là nguyên khí của

quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Bởi vậy các đấng đế vương chẳng ai lại không chăm lo việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên” [17, tr.5]

Nguyên khí nói ở đây chính là tiềm lực văn hoá tinh thần, kết tinh thành đội ngũ danh nhân hùng hậu của đất nước - nguồn lực quan trọng xây dựng nên nền thái bình thịnh trị, nói như ngày nay là tạo nên sự phát triển bền vững

Nhớ lại hồi đầu thế kỷ trước, cụ Phan Bội Châu - nhà cách mạng đầy nhiệt huyết ở thời cận đại nước ta Năm 1905 cụ đang bôn ba tại nước Nhật, nghe tin Lương Khải Siêu nhà hoạt động Duy Tân của Trung quốc đang sống lưu vong tại Nhật Cụ liền viết thư xin gặp Nhận thấy lời lẽ trong thư thống thiết, sục sôi tấm lòng cứu nước, Lương tiên sinh bèn nhận lời tiếp cụ Trong

một lần trò chuyện, Lương Khải Siêu đã nói với cụ Phan như sau: “Quý quốc

chớ lo không có ngày độc lập, mà chỉ nên lo quốc dân không đủ tư cách độc lập mà thôi! Thực lực của quốc gia phải là dân trí, dân khí và nhân tài”

Suy ngẫm ra, nhận thấy ý kiến của Lương Khải Siêu cho đến ngày hôm nay vẫn còn nguyên giá trị Bởi khi nước giành được độc lập mà dân trí thấp, thì cũng khó mà duy trì được cái chủ quyền thiêng liêng ấy Nước không đủ nhân tài thì lấy ai mà bồi dưỡng nên dân trí và hun đúc nên dân khí? Dân trí, dân khí và nhân tài là 3 thành tố nằm trong mối quan hệ tương tác, tương sinh,

Trang 8

8

cái nọ tác động, làm nên cái kia và ngược lại Tuy nhiên, với tư cách là chủ thể sáng tạo, nhân tài bất cứ thời nào cũng giữ vai trò quyết định Có nhân tài mới làm nên tất cả!

Bàn luận về mối quan hệ giữa “nhân tài” với nền độc lập quốc gia, cũng nên lắng nghe lại tiếng nói của một số chính khách nước ngoài cận kề với nước

ta

Ông Lê Dư - một nhân sĩ của phong trào Đông du hồi đầu thế kỷ trước,

đã thuật lại câu chuyện đăng trên báo Phụ nữ Tân văn số 107 ngày 5 tháng 11 năm 1931 Bài báo viết: “Nguyên khi nước Tàu mới phản chính (chỉ cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911), Tôn Văn nhường chức tổng thống cho Viên Thế Khải rồi sang du lịch Tokyo Nhật Bản Hạ viện Nhật mở bữa tiệc long trọng hoan nghênh Tôn thị Tiệc xong ngồi lại nói chuyện, ông Khuyển Dưỡng Nghị

- thủ lĩnh Đảng quốc dân Nhật Bản nguyên là bạn thân của họ Tôn hỏi rằng: Các ông nay đã thành công như vậy giỏi thật! Ông xem tình hình Việt Nam như

thế nào? Trong nước ấy có người nào tài giỏi không? Họ Tôn đáp lại rằng:

“Người An nam họ có căn tính nô lệ, tôi xem họ có cái gì là độc lập được đâu!”

[Tôn Văn qua thăm Hà Nội vào năm 1904, trọ số nhà 22 phố Hàng Buồm].Ông

chính khách Nhật cười mà nói: “Về điểm này tôi xin phép không đồng ý với tiên

sinh Lấy chỗ sở kiến của tôi, thì tôi cho người Việt Nam giỏi lắm, họ có cái đắc tính độc lập lắm chứ Ông không nhớ Quảng Đông, Quảng Tây của ông là thuộc dòng Bách Việt, đồng ở một khu đất Giao Chỉ hay sao? Thế mà Lưỡng Quảng phải mất với người Tàu từ bao giờ, ông nay mới trở thành người Tàu”

[Tôn Văn vốn sinh tại Quảng Đông, thuộc tộc A - Khách (Hakka) - một chi tộc

trong Bách Việt]

Người Việt Nam cũng dòng Bách Việt ấy, cũng ở khu đất Giao Chỉ

ấy, thế mà họ độc lập riêng thành một nước Trải Tống, Nguyên,

Trang 9

9

Minh, Thanh người Tàu không biết bao nhiêu lần sang đánh phá nước

họ, mà họ vẫn độc lập được vững vàng Không những vậy, họ còn

mở nước về phương Nam thành một bản đồ rộng rãi Ông nói họ không có cái đắc tính độc lập mà được như vậy hay sao? Ngày nay

họ thua Pháp vì không có khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch sử thì trong số Bách Việt chỉ có họ là thoát khỏi không bị Hán hoá Tôi tin rằng: một dân tộc biết tự bảo vệ một cách bền bỉ như vậy, thì thế nào sớm muộn cũng lấy lại được quyền tự chủ Tôn thị nghe xong, cười

mà không nói được gì! ” [56, tr.217]

Câu chuyện này xẩy ra đã ngót trăm năm Ý kiến nhận xét của hai chính khách Nhật và Trung Hoa đã được thực tiễn lịch sử nước ta soi sáng Điều nhận thấy đáng nói là: Ông chính khách Nhật Bản do am hiểu lịch sử nước ta, nên đưa ra một nhận xét khách quan và giàu thiện cảm, còn ông chính khách họ Tôn, xuất phát từ mặc cảm tự tôn nước lớn, và có lẽ ông không đọc lịch sử Việt Nam, hoặc chỉ đọc sử Việt do người nước ông soạn thảo, nên nhận xét của ông

có phần thiên kiến và đầy “ngộ nhận” Cách đây mười năm Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có cho ra đời cuốn sách “Chủ nghĩa tam dân” của Tôn Trung Sơn Sách giới thiệu 5 bài giảng chính trị của Tôn Văn tại trường quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu) vào thập niên 20 của thế kỷ trước Trong các bài giảng này, Tôn thị ba lần lên án triều đình Mãn Thanh “đã để mất An nam cho Pháp và mất Miến Điện cho Anh” trong thời cận đại Đây lại là một “ngộ nhận” nữa của Tôn tiên sinh, tuy nhiên nó không phải là hiện tượng đơn nhất Bởi phần đông những người lãnh đạo mang tâm thức của chủ nghĩa bá quyền đại Hán tộc ngày nay đều có quan niệm như thế! Chính vì vậy, chúng ta cần tập trung quảng bá những thành tựu nghiên cứu lịch sử văn hoá nước nhà để trả lại hiện thực lịch

sử chính đáng cho đất nước Đây cũng là lý do để chúng tôi thực hiện luận văn này

Trang 10

10

Nhà Trần có một vị trí lịch sử đặc biệt với những chiến công hiển hách, với những danh nhân đã đi vào ký ức của nhiều thế hệ như các vị vua anh minh sáng suốt: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… , những vị tướng quyết đoán tài ba đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược của đế quốc Nguyên Mông như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật… cùng với nhiều di tích liên quan đến thời Trần, phân bố trên phạm vi rộng ở các tỉnh: Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh Di sản văn hóa thời Trần là tài sản quý giá do cha ông để lại cho hậu thế Trong thời kỳ hiện tại với xu thế hiện đại hóa đất nước và hội nhập với bốn bể năm châu, chân giá trị của di sản văn hoá thời Trần vẫn tỏa sáng chói lọi và trường tồn cùng dân tộc

Xuất phát từ nhận thức về việc phát huy vai trò của giá trị di sản văn hóa danh nhân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà

bản sắc dân tộc, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Danh nhân thời Trần và

những đóng góp của họ trong lịch sử văn hóa Việt Nam” làm luận văn tốt

nghiệp, hệ đào tạo thạc sĩ chuyên ngành văn hóa học tại trường Đại học Văn hoá Hà Nội

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ở nước ta, vấn đề giá trị danh nhân được đặt ra từ lâu, đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy vậy, các nhà nghiên cứu, biên soạn thường mới tập trung vào hướng sưu tầm, chỉnh lý và công bố tư liệu về danh nhân

dưới dạng những cuốn từ điển như: Lược truyện các tác gia Việt Nam 1972) do cụ Trần Văn Giáp chủ biên; Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (năm 1992) của Nguyễn Q Thắng và Nguyễn Bá Thế; Từ điển nhân vật lịch sử Việt

(1971-Nam (2004) do GS Đinh Xuân Lâm và GS Trương Hữu Quýnh chủ biên; Nhân vật chí Việt Nam (2009) do PGS Vũ Ngọc Khánh chủ biên Ngoài ra còn có

sách Những vì sao đất nước của Nxb Thanh niên; Danh nhân Hà Nội (2004)

Trang 11

11

do GS Vũ Khiêu chủ biên, Danh nhân Việt Nam (1999) của tác giả Quỳnh Cư, Văn Lang và Nguyễn Anh; Danh nhân Hưng Yên (1997) do Hội văn học Nghệ thuật Hưng Yên xuất bản; Các nhà khoa bảng Việt Nam (1075 – 1919) (1993)

do tác giả Ngô Đức Thọ chủ biên; Danh nhân Kinh Bắc (1999) của tác giả Trần

Đình Luyện và Huy Cờ, v.v…

Riêng đối với lĩnh vực tôn vinh danh nhân, các nhà nghiên cứu nước

ta cũng đã có một số bài viết như: Về việc người xưa khen thưởng, GS.TS

Nguyễn Xuân Kính (Viện nghiên cứu Văn hóa),Tạp chí văn hoá nghệ thuật,

số 10 và 11 năm 1997; Từ chế độ đãi ngộ đối với tướng sĩ trận vong trong

lịch sử suy nghĩ về truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam,

Ngô Thế Long (Viện Hán Nôm), Tạp chí văn hoá dân gian, số 3, năm 1995;

Những hình thức tôn vinh danh nhân trong xã hội Việt Nam, Nguyễn Tiến

Thư, Tạp chí văn hoá nghệ thuật, số 6, năm 2008 Một số luận văn thạc sĩ

văn hoá học đã nghiên cứu về danh nhân như: Bảo tồn và phát huy giá trị

của danh nhân văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước

ta của Diêm Thị Đường - Giảng viên trường Đại học Văn hoá Hà Nội, bảo

vệ tại khoa Văn hoá xã hội chủ nghĩa, thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Viện văn hoá và Phát triển, Học viện Chính trị - quốc gia

Hồ Chí Minh) năm 1998; Bước đầu tìm hiểu nữ danh nhân trong lịch sử văn

hoá truyền thống Việt Nam của Nguyễn Thị Tuyết – Giám đốc Bảo tàng Phụ

nữ Việt Nam, bảo vệ tại khoa Sau đại học, trường Đại học Văn hoá Hà Nội

năm 2000; Những hình thức tôn vinh danh nhân ở nước ta thời kỳ trước cách

mạng tháng Tám năm 1945 của Nguyễn Tiến Thư, bảo vệ tại khoa văn hoá

xã hội chủ nghĩa - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005

Luận án Danh nhân và những hình thức tôn vinh danh nhân trong lịch sử xã

hội truyền thống Việt Nam của tiến sĩ Nguyễn Tiến Thư chuyên ngành văn

hóa học bảo vệ tại Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam năm 2012, đã lý giải

Trang 12

Hướng 2: chọn đối tượng nghiên cứu là những nhóm danh nhân Đây không phải là các nhóm xã hội theo nghĩa xã hội học mà là các nhóm danh nhân

ưu tú xuất hiện trong tiến trình lịch sử (như danh nhân trong lịch sử xã hội truyền thống, tức là xã hội tiền công nghiệp) hoặc tập hợp danh nhân theo giới tính (như tập hợp danh nhân nữ trong lịch sử xã hội truyền thống Việt Nam) hoặc tập hợp danh nhân quy tụ vào một vương triều nhất định (như danh nhân thời Lý ở Kinh Bắc) Theo hướng nghiên cứu này, danh nhân được quan niệm như là bộ phận của di sản văn hoá dân tộc, những thành tựu trong hoạt động sáng tạo của danh nhân được vận dụng như các dữ kiện văn hoá - lịch sử để nhận biết về lịch sử văn hoá nước ta; cuối cùng vấn đề đặt ra là cần tìm ra các giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của danh nhân, góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước

Đề tài luận văn này triển khai theo hướng thứ hai: “Danh nhân thời Trần

và những đóng góp của họ trong lịch sử văn hoá Việt Nam” Đề tài chủ yếu đi

sâu tìm tòi, phân tích, hệ thống hoá tư liệu về những đóng góp của danh nhân thời Trần trên các bình diện văn hoá dân tộc Tôn vinh danh nhân và giáo dục nhân cách văn hóa cho thế hệ trẻ trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là ý nghĩa thực tiễn mà luận văn hướng tới

Trang 13

3.2 Các nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát những đặc điểm về địa lý, lịch sử, xã hội - chính trị nước Đại Việt thời Trần

- Xây dựng cơ sở lý thuyết về danh nhân từ cách nhìn văn hoá học;

- Xây dựng bảng thống kê tổng hợp về danh nhân nước Đại Việt thời Trần;

- Khái quát về những thành tựu văn hoá của danh nhân đời Trần trong lịch sử nước Đại Việt

- Những bài học về văn hoá dựng nước và giữ nước từ kinh nghiệm nhà Trần

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những đóng góp của những nhân vật tiêu biểu (danh nhân) của vương triều Trần

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Danh nhân nước Đại Việt thuộc vương thất nhà Trần (1225-1400)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn vận dụng các nguyên lý lý luận về văn hoá, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá, trình bày danh nhân như một bộ phận của di sản văn hoá dân tộc, đồng thời phân tích các thành tựu

Trang 14

để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu

6 Những kết quả và đóng góp của đề tài

- Xây dựng hệ thống danh nhân thời Trần theo lịch đại và theo công trạng;

- Xây dựng hệ tiêu chí của danh nhân để đi tới nhận diện đặc điểm của danh nhân thời Trần, góp phần làm phong phú thêm hệ thống tri thức về danh nhân và tôn vinh danh nhân;

- Khẳng định những đóng góp to lớn của danh nhân thời Trần;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tôn vinh, giáo dục và phát huy giá trị danh nhân thời Trần trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận

văn được xây dựng thành 3 chương

Chương 1: Nhận biết danh nhân từ góc nhìn văn hóa học lịch sử Chương 2: Danh nhân thời Trần nguồn tư liệu lịch sử để nhận biết những nét văn hóa lịch sử thời thịnh trị của vương triều

Chương 3: Những đóng góp của danh nhân thời Trần đối với văn hóa Việt Nam và những vấn đề đặt ra

Trang 15

15

Chương 1 NHẬN BIẾT DANH NHÂN

TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ HỌC LỊCH SỬ

Trong lịch sử hào hùng của dân tộc, danh nhân nước ta đã có những cống hiến to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở mang bờ cõi Lúc sinh thời, bằng các hoạt động thực tiễn sáng tạo của mình, danh nhân biểu hiện như những con chim đầu đàn, những người đi tiên phong dẫn dắt quần chúng, cỗ vũ và phát huy tài năng cho mọi người, cùng phấn đấu cho tiến bộ xã hội và cho lợi ích chung Khi khuất đi, nhân cách và vốn kinh nghiệm của danh nhân hoá thành ký ức xã hội, tiềm nhập vào nguồn nội lực tinh thần, làm bệ đỡ vững chắc cho các thế hệ nối tiếp dự phóng về tương lai

Lần giở lại các trang sử cũ, nhận thấy trong thời kỳ có giặc ngoại xâm

đe doạ, ông cha ta thường nhắc lại những gương hy sinh lẫm liệt của các vị anh hùng, hào kiệt, để tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ Các vị tướng tài trong lịch

sử như: Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ … khi cầm quân vào trận đều lấy chiến công của tổ tiên để động viên quân sĩ Trên đường hành quân, các vị tướng lĩnh đều kính cẩn thắp hương tại các đền thờ danh nhân, nhận thêm sức “âm phù” “dương trợ” để giành chiến thắng

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời khi đến thăm bộ đội cũng thường lấy gương trung liệt của các vị anh hùng dân tộc để giáo dục cán bộ, chiến sĩ Người viết:

Chúng ta có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung … Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng [38, tr.171-172]

Trang 16

16

Danh nhân, có thể là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Chẳng hạn, có thể nghiên cứu tiểu sử danh nhân, rồi tập hợp lại xây dựng thành các bộ từ điển danh nhân tổng hợp hoặc chuyên ngành; danh nhân có thể nghiên cứu theo hướng tâm lý học sáng tạo, qua đó phục vụ cho việc đào tạo nhân tài đât nước; danh nhân có thể nghiên cứu theo hướng xã hội học, để xem cần phải xây dựng thể chế xã hội như thế nào thì thu phục được nhân tài và phát huy được tài năng của họ… Trong luận văn này, danh nhân được nghiên cứu theo cách tiếp cận văn hoá học lịch sử, xem danh nhân như những nhân cách văn hoá kiệt xuất, đã có những đóng góp sáng giá vào thời kỳ phục hưng văn hoá dân tộc

Để tiến hành nghiên cứu danh nhân theo hướng phân tích văn hoá học lịch sử, cần thống nhất quan niệm về một số khái niệm công cụ cơ bản được sử dụng trong luận văn

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm văn hoá

Trong đời sống xã hội, từ văn hoá được dùng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, vì thế nó trở thành đa nghĩa Cho nên, khi luận bàn các vấn đề liên quan đến văn hoá, người ta phải làm rõ nghĩa của thuật ngữ này

Trong hoạt động khoa học đã có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ văn hoá Tuy diễn đạt khác nhau, nhưng có một số điểm chung mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng: văn hoá là phương thức tồn tại (tức là hoạt động sáng tạo để kiếm sống) chỉ có ở loài người, khác về cơ bản với tổ chức đời sống của các quần thể sinh vật trên trái đất Văn hoá là cái do con người học được mà

có, chứ không phải cái bẩm sinh do di truyền sinh học

Bàn về cội nguồn của văn hoá, nhà triết học, cổ sinh vật học, linh mục

người Pháp Teilhard de Chardin (1881-1955) đã cho ra đời cuốn sách “Hiện

Trang 17

17

tượng con người” Sách vừa được Nhà xuất bản Tri thức in và phát hành tại

Hà Nội (2014) Trong cuốn sách này, Chardin đưa ra một nhận định, đại ý nói rằng: vũ trụ hình thành và phát triển đến một lúc nào đó thì xuất hiện sự sống, ông gọi đó là “sinh quyển” (Biosphère) Vũ trụ tiếp tục tiến hoá dẫn đến sự ra đời của “Tuệ quyển” (Noosphère) Đó là quyển về tư duy, ý thức, tinh thần, gọi chung là quyển tinh thần do con người tạo ra trong quá trình tiến hoá của hoạt động sống Tuệ quyển chính là văn hoá - thế giới tinh thần của con người xã hội - cái làm phân biệt giữa con người và động vật Quan niệm văn hoá là thế giới tinh thần của con người đã được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII (1998) chấp nhận (thể hiện ở quan điểm thứ 1 trong Nghị quyết: Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội…) Quan niệm văn hoá trên đây mới là nhận thức khái quát về nó, chưa thể vận dụng để phân tích văn bản Vì thế, văn hoá phải được xác định rõ ràng, làm chỗ dựa cho sự triển khai luận văn

Đã có rất nhiều định nghĩa văn hoá do các nhà nghiên cứu đề xuất Nhà mỹ học Nga M.X Ca-gan trong sách triết học văn hoá (St Peterbung 1996) cho

biết: “Hội nghị triết học quốc tế năm 1980, người ta thống kê được 250 định

nghĩa văn hoá, đến năm 1996 con số định nghĩa đã lên tới 500” [5, tr.6]

Trong luận văn này, chúng tôi chọn định nghĩa của ông Federico Mayor- nguyên Tổng thư ký UNESCO phát biểu nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hoá 1988 - 1997 ở nước ta, làm khái niệm công cụ Ông viết:

“Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy

đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [5, tr.23]

Định nghĩa trên đây nêu lên 4 ý tưởng chính như sau:

Trang 18

18

* Văn hoá là tống thể hoạt động sáng tạo, làm ra những sản phẩm mới

gọi là những vật thể nhân tạo (Artefactes), có người gọi là “ thiên nhiên thứ

hai” hay “thế giới nhân tạo”

* Hoạt động sáng tạo này diễn ra liên tục từ quá khứ đến hiện tại, nói lên tính chất lịch sử của văn hoá Điều này có nghĩa là thế giới nhân tạo đang hiện diện không phải tức khắc sinh thành mà nó được sáng tạo, sàng lọc qua thời gian tích luỹ từ quá khứ đến hiện tại Đó là tính chất kế thừa lịch sử của hoạt động văn hoá

* Hoạt động sáng tạo trong lịch sử đã hình thành nên một hệ thống các

giá trị, truyền thống và thị hiếu, gọi chung là “hệ thống các giá trị chuẩn mực

xã hội” Đây chính là nội dung tinh thần của khái niệm văn hoá

Lý luận văn hoá giải thích: Mỗi vật thể nhân tạo được xem như một hiện vật văn hoá, chứa đựng nhiều ý nghĩa Lấy ví dụ, chiếc rìu đá mài xuất hiện vào thời đại đá mới hậu kỳ cách đây vào khoảng 4.000 năm, có thể có những ý nghĩa gì?

- Thứ nhất, so với đồ đá đẽo thì rìu đá mài được chế tác theo công nghệ tinh vi hơn, nhờ đó mà hiệu quả sử dụng cao hơn, đôi khi nó trở thành “vật thiêng” được cả bộ lạc tôn thờ Đó là ý nghĩa tâm linh của công cụ sản xuất

- Thứ hai, nhờ quan sát trực tiếp, người ta có thể phân ra nhiều loại đá khác nhau để chế tạo ra các loại công cụ và vũ khí khác nhau, thích hợp với công năng của chúng và với nhu cầu của hoạt động sống của con người Điều này nói lên ý nghĩa tiến bộ về nhận thức biểu thị trong công nghệ học

- Thứ ba, công cụ được chế tác cân xứng, đôi khi có trang trí hoa văn, nói lên ý nghĩa thẩm mĩ mà chủ nhân của nó đạt được …

Trang 19

19

Xem như vậy, thì thế giới vật thể nhân tạo, xét về mặt tinh thần, chính là thế giới ý nghĩa của văn hoá

GS người Nga A.X Ca-rơ-min, trong cuốn sách giáo khoa “Văn hoá

học” của mình đã hình dung “thế giới ý nghĩa của văn hoá” được cấu tạo thành

ba bình diện, có quan hệ “tương liên” và “tương tác” qua lại với nhau trong

một không gian văn hoá:

- Thứ nhất, bình diện nhận thức nói về trình độ hiểu biết của thành viên trong xã hội;

- Thứ hai, bình diện giá trị nói về hệ thống giá trị mà xã hội theo đuổi;

- Thứ ba, bình diện điều tiết nói về luật pháp và các phong tục, tập quán được vận hành để điều chỉnh các hành vi xã hội

Ba bình diện trên là những trục cơ bản xác định không gian văn hoá của một cộng đồng xã hội

* Cuối cùng, hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội được xem là cái tạo nên bản sắc văn hoá của một cộng đồng người

Trong việc nghiên cứu văn hoá, các nhà khoa học còn chia thành hai dạng: văn hoá cá nhân và văn hoá cộng đồng

- Văn hoá cá nhân nhấn mạnh vào tài năng sáng tạo của cá nhân, gồm toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm tích luỹ vào một con người, biểu hiện ra ở định hướng giá trị (lý tưởng) và toàn bộ phương thức hành xử của người ấy trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với bản thân người ấy Văn hoá

cá nhân phát triển đến đỉnh cao, thì trở thành danh nhân

- Văn hoá cộng đồng là văn hoá của một nhóm xã hội, nó không phải là

số cộng giản đơn của những văn hoá cá nhân - thành viên của cộng đồng, mà

là toàn bộ hệ giá trị và chuẩn mực xã hội và các phương thức hành xử được các

Trang 20

1.1.2 Khái niệm danh nhân

Theo nghĩa thông thường thì danh nhân là người có danh tiếng, được nhiều người biết đến Danh tiếng ở đây phải là tiếng thơm, gắn với phẩm chất cao quý cả về tài năng và đức độ, được số đông các thành viên trong cộng đồng ngưỡng mộ

Tuy vậy, không phải mọi người nổi tiếng đều được gọi là danh nhân, bởi trong xã hội có một bộ phận người muốn “nổi danh” bằng bất cứ giá nào thậm chí có người còn cố ý gây “tai tiếng” (xì - căng - đan) để mọi người biết tên

Đó là những người nổi danh bằng động cơ “bất chính”

Trong lịch sử thường có hai loại nhân vật: Chính diện là những người yêu nước, thương dân, suốt đời phấn đấu, hy sinh mưu hạnh phúc cho dân tộc Phản diện là những kẻ bán nước, buôn dân, làm việc gì cũng nhằm vào lợi ích vị kỷ Hai loại nhân vật trên đều nổi tiếng, nhưng anh hùng thì lưu danh muôn đời, còn gian hùng thì lưu xú (tiếng xấu) vạn niên Đó là lẽ công bằng của tạo hóa

Tóm lại, danh nhân là danh xưng chỉ chung các người nổi tiếng, có những đóng góp to lớn, xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học, giáo dục nghệ thuật, xã hội v.v , góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, có đạo đức trong sáng, được nhà nước tôn vinh và tưởng lệ công trạng, được nhân dân suy tôn thành biểu tượng, treo gương cho hậu thế noi theo

Trang 21

21

Từ cách nhìn văn hóa học có thể nhìn nhận danh nhân trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào cũng có thể xem như một cá nhân có nhân cách văn hóa kiệt xuất, thể hiện ở ba tiêu chí sau:

- Tài năng xuất chúng thể hiện ở những cống hiến quan trọng, đóng góp vào tiến bộ xã hội;

- Đạo đức cao cả, biểu hiện ở tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, nêu gương sáng cho đời sau;

- Do có tài đức vẹn toàn, nên danh nhân thường được nhà nước vinh danh

và ban thưởng công trạng, nhân dân suy tôn thành biểu tượng, mãi mãi đáng tự hào

1.1.2.1 Danh nhân - một nhân cách văn hóa kiệt xuất

Như phần trên đã phân tích, danh nhân thuộc dạng văn hóa cá nhân - tức văn hóa của một con người Trong lịch sử hình thành và phát triển, con người không ngừng sáng tạo ra các giá trị văn hóa Một trong giá trị ấy chính là nhân cách của nó

Cũng giống như văn hóa, nhân cách là một thuật ngữ có hàm lượng nghĩa phong phú và phức tạp Khái niệm nhân cách lần đầu tiên được hai nhà tâm lý người Đức là Dilthey và Spranger đưa ra vào khoảng cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, để nói về con người đã phát triển toàn diện Điều ấy có nghĩa là: Người ta không thể nói đến nhân cách của loài vượn, cũng không thể có nhân cách kẻ sơ sinh

GS tâm lý học Xô viết A.N Lê-ôn-chi-ép quan niệm:

Thông qua hoạt động mà chủ yếu là lao động, mỗi người tự sinh thành, tạo dựng và phát triển ý thức của mình, nhờ đó mà cá thể người trở thành nhân cách Nhân cách là một cấu trúc tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân, do hoạt động của người

đó cải biến đi mà thành [31, tr.197-198]

Trang 22

22

Nhà nghiên cứu văn hóa Xô viết E.V.Xô-cô-lốp trong cuốn sách “Văn

hóa và nhân cách” [56] đưa ra một quan niệm cho rằng: khái niệm nhân cách

không chỉ đóng khung trong tâm lý học, mà nó được sử dụng rộng rãi trong các khoa học xã hội và nhân văn Mỗi khoa học nghiên cứu con người khi xem xét về nhân cách thường tập trung chú ý vào tổ hợp các thuộc tính đặc trưng, cho tính toàn vẹn cá nhân, nhấn vào tính tự quyết và tính chủ động, tích cực của nó Chẳng hạn, nhà đạo đức học quan tâm đến con người như một chủ thể đạo đức, có ý thức về tự do, nghĩa vụ, lương tâm, biết giữ gìn danh dự và phẩm chất., có biểu thị tình cảm trước các hành động chính nghĩa và phi nghĩa

Đó là nhân cách đạo đức Theo quan điểm xã hội học thì nhân cách xã hội vừa là sản phẩm của tổng thể các mối quan hệ xã hội, vừa là chủ thể của đời sống xã hội Đó là thành viên của một cộng đồng xã hội nhất định, nắm vững

và tự giác thực thi hệ thống các giá trị và chuẩn mực xã hội của cộng đồng ấy

Dựa vào sự phân tích trên đây, xuất phát từ góc nhìn văn hóa học, thì nhân cách văn hóa biểu hiện ra như là diện mạo người sáng tạo, người đại biểu chuyên chở hệ giá trị và chuẩn mực của một cộng đồng xã hội nhất định Ở đây, đặc điểm trội nhất của nhân cách văn hóa biểu hiện ở năng lực sáng tạo của nó Sáng tạo văn hóa chính là hình thức tự khẳng định, tự bộc lộ nhằm phát huy các lực lượng bản chất người của nhân cách văn hóa Trong lịch sử thế giới, mỗi nền văn hóa lớn thường sản sinh ra các mẫu nhân cách văn hóa tiêu biểu Chẳng hạn người ta nói: Tăng lữ là mẫu nhân cách văn hóa của nền văn hóa Ấn

Độ cổ đại; quân tử là mẫu nhân cách văn hóa của nền văn hóa Nho Giáo Trung Hoa cổ - trung đại; triết gia và nghệ sĩ là hai mẫu nhân cách văn hóa của văn hóa Hy Lạp cổ điển; xa-mu-rai (võ sĩ) là mẫu nhân cách văn hóa của Nhật Bản thời trung đại v.v

1.1.2.2 Vấn đề phân loại và phân cấp danh nhân

Trang 23

23

Phân loại là vấn đề khoa học, nhưng ở nước ta chính thức chưa có một khoa học về danh nhân Vì vậy, ở đây nói phân loại danh nhân là phân chia danh nhân theo tiêu chí nghề nghiệp, để tiện cho việc miêu tả danh nhân của một vương triều Việc phân loại này dẫu sao vấn mang tính quy ước Các nhà

sử học thời xưa không dùng thuật ngữ danh nhân mà gọi là nhân vật lịch sử ghi trong các liệt truyện Theo quan niệm của chúng tôi, thì danh nhân và nhân vật lịch sử vừa giống nhau lại vừa khác nhau Họ giống nhau ở chỗ đều là những người nổi tiếng, được nhiều người biết, nhưng khác nhau là: nhân vật lịch sử

có chính diện và phản diện, còn danh nhân thì luôn là những nhân vật tích cực, được người đời noi gương

Trong sách “Lịch triều hiến chương loại chí”, nhà sử học Phan Huy Chú

đã chia các nhân vật lịch sử thành 5 loại là:

- Dòng chính thống các đế vương

- Người phò tá có công lao, tài đức

- Tướng có tiếng và tài giỏi

- Nhà nho có đức nghiệp

- Bề tôi tiết nghĩa [7, tr.153]

Hoặc như, sách “Nam hải di nhân liệt truyện” của cụ Phan Kế Bính chia thành tám chương, mỗi chương là một loại nhân vật:

- Các Bậc đại anh kiệt,

Trang 24

24

Nhìn chung, các nhà nho xưa chưa quan tâm đến khoa học, nên phân loại chưa được rành mạnh Sự kiện này đã được nhà văn Phan Khôi phân tích trong bài “Người Việt Nam với óc khoa học” (Về sự phân loại) Bài viết đã đăng trên báo Tao Đàn số 3 ngày 1/4/1939 [35, tr 309-322]

Nhìn chung, các dân tộc có quá trình lịch sử lâu đời thường hình thành hai nhóm danh nhân: danh nhân huyền thoại và danh nhân lịch sử

- Danh nhân huyền thoại là các nhân vật mà truyện kể về họ gắn liền với quá trình hình thành dân tộc đó, diễn ra từ thời hồng hoang của lịch sử Truyện được dân gian kể lại theo lối truyền khẩu từ thế hệ trước sang thế hệ sau Trong lịch sử nước ta, các nhân vật văn hoá như: cha Lạc Long quân, mẹ Âu Cơ, các Vua Hùng, Sơn tinh, Thuỷ tinh, Thánh Gióng, Lang Liêu làm ra bánh chưng, bánh dày, Mai An Tiêm tìm ra dưa hấu v.v … là những danh nhân huyền thoại

- Danh nhân lịch sử là những nhân vật lịch sử hiện thực, xuất hiện vào thời kỳ xã hội đã phân tầng sâu sắc, có thể đã có nhà nước và văn tự Danh nhân lịch sử nước ta có thể bao gồm các vị anh hùng dân tộc như: Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn và nhiều vị anh hùng khác

Khi xã hội đã phân hoá sâu sắc, thì đồng thời xuất hiện sự phân công giữa lao động chân tay và lao động trí óc Trong điều kiện ấy danh nhân được phân chia ra các dạng, tương ứng với các hoạt động xã hội - nghề nghiệp chính yếu, đã được chuyên môn hoá, như: chính trị, quân sự, kinh tế, giáo dục, khoa học, y dược, đạo đức, tôn giáo, văn nghệ, giải trí, thể thao v.v …

Các hoạt động xã hội - nghề nghiệp như chính trị, quân sự, kinh tế … thì đã

rõ, riêng có các hoạt động đạo đức và tôn giáo, thì xin giải thích như sau:

Danh nhân nêu gương đạo đức có thể là những người dân bình thường nhưng có hành vi cao cả, như: quên mình cứu nước, dám xả thân vì nghĩa lớn

Trang 25

25

như trường hợp Trần Bình Trọng tỏ thái độ bất khuất trước quân thù hay như

“Lê Lai liều mình cứu chúa” Còn danh nhân tôn giáo là các vị tu hành có tấm lòng cao cả, tham gia các tổ chức từ thiện, cứu giúp dồng loại Sự phân loại trên đây dù sao vẫn mang tính quy ước, tuỳ theo tình hình thực tế, mỗi địa phương

có thể bổ sung thêm cho thích hợp

Danh nhân là thuộc dạng tài sản văn hoá phi vật thể, mang giá trị tiêu biểu của cộng đồng, vì thế cũng cần phân ra cấp bậc khác nhau để thuận tiện cho việc quản lý Thời xưa đã phân chia danh lam (di tích, kiến trúc) thành 3 cấp: Đại danh lam, Trung danh lam và Tiểu danh lam Đối với các đấng thần linh, nhà nước quân chủ Đại Việt cũng chia thành ba cấp: thượng đẳng thần, trung đẳng thần và hạ đẳng thần Danh nhân cũng nên phân hạng như vậy

Dựa vào tình hình cơ cấu của xã hội truyền thống nước ta, chúng tôi quan niệm: có thể phân chia danh nhân thành 4 cấp như sau:

+ Danh nhân làng xã - đó là những người đầu tiên tập hợp dân cư, tổ chức khai phá đất đai lập nên làng xã; những người khai sinh ra nghề mới, đem lại nghề nghiệp kiếm sống cho dân làng; những người tổ chức xây dựng các công trình công cộng, mang lại phúc lợi cho làng như: đào giếng nước, dựng chợ, xây đình, chùa, đền, miếu; những người có thành tích bảo vệ làng như chống trộm cướp, trừ dịch bệnh, trừ thú dữ v.v… Người tiêu biểu nhất được tôn là “phúc thần” hàng năm dân làng có mở lễ hội tưởng niệm

+ Danh nhân cấp vùng (gồm nhiều làng) là những vị thần, những anh hùng chiến đấu chống ngoại xâm hoặc chống thiên tai, mà ảnh hưởng của họ

đã vượt ra khỏi phạm vi một làng Các vị thần ấy được nhân dân của nhiều làng thuộc 2 - 3 tỉnh cùng lập đền thờ, cùng tổ chức lễ hội hàng năm vào những ngày nhất định Ví dụ: thần Tản Viên được thờ ở một số làng thuộc các tỉnh như Hà Nội, Vĩnh Phú, Phú Thọ

Trang 26

26

+ Danh nhân quốc gia là các nhân vật văn hoá - lịch sử đã có công cứu nước, mở nước và trị nước Đó là các vị anh hùng dân tộc như: Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ v…v đã viết nên những trang sử vẻ vang của kỷ nguyên Đại Việt

+ Danh nhân thế giới là những nhân vật văn hoá của nước ta được các tổ chức thế giới vinh danh hoặc kỷ niệm:

Vào thế kỷ XIX, nước ta có nhà bác học Trương Vĩnh Ký (1837- 1898) thông thạo nhiều ngoại ngữ, ông có nhiều công trình biên khảo, góp phần thúc đẩy sự hình thành nền văn chương quốc ngữ

Thế kỷ XX nước ta có ba danh nhân được thế giới kỷ niệm là:

- Nhà thơ Nguyễn Du (1765 - 1820) Nhân dịp 200 năm ngày sinh, năm

1965 ông được Hội đồng Hoà bình thế giới kỷ niệm

- Nguyễn Trãi (1380 -1442) Nhân dịp 600 năm ngày sinh, năm 1980 ông được UNESCO kỷ niệm

- Hồ Chí Minh (1890 - 1969) Nhân dịp 100 năm ngày sinh, năm 1990 ông được UNESCO ra nghị quyết kỷ niệm

1.2 Danh nhân - bộ phận của di sản văn hoá dân tộc

Theo cách hiểu thông thường, thì di sản là tài sản của thế hệ (thời đại) trước truyền lại cho thế hệ (hoặc thời đại) sau, làm nên sự liền mạch văn hoá, vận động theo hướng tích luỹ làm cho vốn văn hoá của cộng đồng người ngày một giàu có thêm lên

Ngay từ khi hình thành về mặt giống loài trong buổi bình minh của lịch

sử, con người đã có sở thích bản năng là thu giữ những kỷ vật của quá khứ, bảo

Trang 27

27

tồn những kỷ niệm như là vốn kinh nghiệm sống trao truyền cho đời sau Các bức tranh vẽ trên vách hang động, xuất hiện vào thời đại đồ đá cũ hậu kỳ cách đây 5 - 6 vạn năm, nói về cảnh chiến tranh giữa các thị tộc, cảnh săn bắn thú rừng, hoặc cảnh lễ hội, liên hoan xung quanh đống lửa được xem như là các bản thông điệp của quá khứ Các ngôi mộ vua, chúa, thủ lĩnh thời cổ đại thường

có chôn theo các đồ tuỳ táng, gắn với đời sống xa hoa và quyền lực của chủ nhân, cũng nói lên ý nghĩa bảo tồn kỷ vật Sự ra đời của kho báu, các nhà sưu tập cổ vật, các nhà chép sử … đều xuất phát từ ý niệm đó

Nói khác đi là, con người thuộc loài động vật duy nhất trên hành tinh không chỉ sống bằng hiện tại, mà họ còn say mê tích luỹ quá khứ, nhờ đó mà

có khát vọng dự tính mạnh mẽ về tương lai Khi hiện tại trở thành quá khứ, những tài sản do con người tích luỹ được sẽ trở thành vốn di sản văn hoá

Di sản văn hoá chính là cơ sở tảng nền của môi trường văn hoá - cái nôi hình thành và hun đúc nên nhân cách con người Trẻ em vừa ra đời là được nuôi dưỡng trong môi trường văn hoá Đó là vốn tài sản văn hoá mà thế hệ trước đã giành sẵn cho chúng Trẻ có nhiệm vụ học tập, tiếp nhận tiến tới chiếm lĩnh toàn bộ vốn văn hóa cộng đồng, để trở thành thành viên mang bản sắc văn hóa của cộng động ấy

Thế giới nhân tạo ấy vô cùng phong phú về loại hình Có những vật thể

do thiên nhiên tạo ra như dòng sông, trái núi, thú dữ, cây rừng, biển đảo v.v Nhưng khi con người qua tìm tòi và trải nghiệm trong hoạt động sống đã thức nhận ra các vật thế ấy có thể mang lại lợi ích cho mình, bèn đặt tên cho các vật thể ấy Đặt tên cho sự vật được xem là hành động đánh dấu, biến các vật thể của tự nhiên thành vật thể thuộc quyền sở hữu của con người Tên họ, tên làng, tên núi, tên sông… đọc lên bao giờ cũng gây xúc động “thiêng liêng”, bởi chúng

Trang 28

Mỗi con người là một cá thể tinh thần độc đáo, vì thế chúng tôi xếp riêng

ra một hình thái Nhưng khi cần hòa chung vào hai hình thái: vật thể/ phi vật thể, thì bản thân danh nhân cũng bao gồm đủ hai hình thái: danh nhân đang sống thuộc hình thái vật thể, danh nhân đã khuất để lại tấm gương nhân cách thuộc hình thái phi vật thể

Mỗi tài sản văn hóa dù là vật thể hay phi vật thể đều hàm chứa trong đó một tổ hợp giá trị văn hóa

Giống như vậy, danh nhân một mặt là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa, mặt khác danh nhân còn là đại biểu mang vác các giá trị văn hóa do cộng động sáng tạo ra Đó là mẫu nhân cách - sản phẩm của cộng đồng văn hóa ấy Nhân cách là một giá trị tức một tài sản văn hóa Vì thế các nhà tâm lý học

Trang 29

là tài sản văn hóa của dân tộc Xét về mặt lý thuyết, quan niệm danh nhân là bộ phận của di sản văn hóa dân tộc, đã trở thành chân lý hiển nhiên

Tuy vậy, trong thực tiễn phân công lao động xã hội hiện nay ở nước ta, ngành quản lý di sản văn hóa mới chỉ quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy hai dạng di sản văn hóa: vật thể và phi vật thể Luật di sản văn hóa, được Quốc hội nước ta thông qua năm 2001, sửa đổi và bổ sung năm 2009, vẫn chưa xem danh nhân như một dạng tài sản văn hóa đặc biệt, đây là điều đáng tiếc, nhưng chúng ta cần chờ đợi

Để phân biệt một tài sản văn hóa khác với một vật phẩm thông thường (cũng giống như phân biệt một danh nhân với một người bình thường) chúng tôi xin nêu lên một số điểm như sau:

Thứ nhất, đặc trưng quan trọng của tài sản văn hóa (cũng như của danh nhân) là ở phẩm chất sáng tạo độc đáo, biểu hiện bằng sự tích lũy thông tin, nói lên kỹ năng hoạt động, kinh nghiệm sống, tri thức về tự nhiên, xã hội và con người mà chủ thể sáng tạo đã đạt được

Ví dụ: Giả định các hình khắc trên mặt và thân trống đồng được xem như một thứ bia ký, ghi chép các chữ cổ nói về các hình thái sinh hoạt của cư dân văn hóa Đông Sơn Nếu nhà nghiên cứu tìm ra được ngữ pháp (code) để đọc các loại chữ cổ này Thì hoàn toàn có thể phục dựng lại diện mạo văn hóa - lịch

sử của cư dân chủ nhân của nền văn hóa này

Hoặc giả, Thánh Gióng là một danh nhân huyền thoại Truyện kể về ông

là một sáng tạo của sức tưởng tượng dân gian, nói về người nông dân vùng châu

Trang 30

30

thổ Bắc bộ, vốn hiền lành ít nói nhưng khi có giặc ngoại xâm thì bỗng lớn vụt lên như một thiên thần, cưỡi ngựa sắt cầm roi sắt xung trận với tinh thần bất khả chiến bại Dẹp xong giặc ông lại hồn nhiên bay về trời

Thứ hai, tài sản văn hóa phải mang tính biểu tượng, bộc lộ ra ở hình thái biểu hiện đặc sắc và cô đọng của nó, có khả năng gây xúc động tình cảm và lý trí đối với người tiếp cận Ví dụ: Chùa Một cột còn gọi là chùa Diên Hựu xây dựng vào thời Lý Xét về quy mô hình thái thì chùa không phải là một công trình kiến trúc hoành tráng, mà chỉ nhỏ như ngôi miếu xinh xắn, có hình dáng giống như một bông sen khiêm nhường ngoi lên từ hồ nước Điều đặc biệt là công trình kiến trúc này là đã miêu tả được giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028- 1054) thấy Phật bà Quan Âm hiện trên tòa sen

Mỗi danh nhân thường được xem như một tượng đài văn hóa Vì thế, đến tham quan thủ đô các nước văn minh, chỉ cần tiếp xúc với những tượng đài kỷ niệm, người ta đã có thể hình dung một cách khái quát về lịch sử văn hóa nước này

Thứ ba, mỗi tài sản văn hóa cũng như cuộc đời của mỗi danh nhân có thể chứa đựng nhiều giá trị Ví dụ: chiếc trống đồng vừa giới thiệu ở trên có thể có giá trị thông tin về nhận thức, nói lên người đương thời đã làm chủ về kỹ thuật đúc đồng đến mức nào; lại có thể có giá trị về đạo đức - tín ngưỡng, biểu thị ở việc tôn thờ các hiện tượng tự nhiên như thờ mặt trời, sấm sét; có giá trị thẩm

mỹ biểu thị ở bức tranh “hội mùa” trên mặt trống, trong đó có sự phối hợp giữa cảnh đánh trống, thổi khèn, tốp vũ công nhảy múa và cảnh giã gạo chày tay, cùng hoạt động nhịp nhàng vây quanh ngôi mặt trời ở giữa mặt trống

Thứ tư, bất cứ tài sản văn hóa hoặc danh nhân nào cũng sinh ra trong một tọa độ lịch sử nhất định, vì vậy các tài sản văn hóa và danh nhân trở thành những đại biểu mang giá trị lịch sử mà thời đại đã hiện hữu

Trang 31

31

Tóm lại, danh nhân là tài sản văn hóa vô giá của dân tộc, các giá trị thông tin - nhận thức, đạo đức - tín ngưỡng, thẩm mỹ, lịch sử … khai thác từ vốn di sản văn hóa danh nhân là nguồn sử liệu vô cùng phong phú, giúp các nhà sử học có thể phục dựng lại diện mạo lịch sử của dân tộc, giúp cho các thế hệ hậu sinh có thể tiếp cận với quá khử hào hùng của tiền nhân, tiếp nối cha ông tiến

Lật giở những trang sử nhận thấy: Từ thời các vua Hùng dựng nước đến nay, ở bất cứ nơi nào, những người lập được công lao to lớn cho đất nước cho dân tộc đều được người đời sau vinh danh, tưởng niệm Trong các loại hình tôn vinh xưa, hình thức lập đền miếu thờ phụng là tương đối phổ biến Khói hương nghi ngút thường hướng về danh nhân Hàng năm, dân làng tổ chức lễ hội để tôn vinh và tưởng nhớ công ơn của các vị đó Trong lễ hội, người ta tổ chức những nghi thức giới thiệu thần phả, trình bày tiểu sử và công trạng của danh nhân Hoặc có những lễ hội, trình diễn lại những nét đặc sắc nhất trong cuộc đời của danh nhân, như những cảnh diễn về một trận đánh, những động tác lao

Trang 32

32

động trong các lễ hội “trình nghề”, v.v… Cùng với những nghi lễ tôn vinh, tưởng niệm danh nhân là các cuộc vui của hội làng, đã làm sống động đời sống văn hoá của cộng đồng và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ và giao lưu văn hoá ở địa phương Như vậy, sự nghiệp của danh nhân như được làm sống lại, và trở thành điểm trung tâm của văn hoá hội làng, góp phần bảo lưu và phát triển vốn văn hoá dân tộc trong dân gian, đồng thời phát huy tác dụng trong đời sống kinh tế, chính trị ở địa phương

Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ, chúng ta có lúc đã quan niệm: di sản văn hoá của quá khứ như là tàn dư của chế độ phong kiến lạc hậu, xem các trò diễn xướng dân gian, các sinh hoạt lễ hội bao gồm cả lễ hội tôn vinh danh nhân là mê tín dị đoan, không phù hợp với đời sống mới, nên cần phải loại bỏ

Hệ quả là nhiều tài sản văn hoá quý bị phá hoại, đền chùa, miếu mạo bị xuống cấp, bia, tượng bị mất mát, hoặc sử dụng sai mục đích, làm hư hỏng nghiêm trọng, nhiều công trình đã không thể phục hồi được Một số tài sản văn hoá phi vật thể về danh nhân có nguy cơ bị quên lãng

Bước vào thời kỳ đổi mới, những quan niệm lệch lạc đã được chấn chỉnh lại, trong đó có việc khôi phục và bảo tồn các di tích liên quan đến danh nhân Đặc biệt, gần đây nhà nước đã đầu tư phục hồi và xây dựng, tôn tạo nhiều di tích và lễ hội liên quan đến danh nhân Ví dụ: khu di tích lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ), Đền Đô (Bắc Ninh), Đền Kiếp Bạc (Hải Dương), Đền Trần (Nam Định), các quần thể di tích liên quan đến cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh

ở Pắc Bó (Cao Bằng), Tân Trào (Tuyên Quang), Khu di tích Phủ Chủ tịch (Hà Nội), khu di tích lưu niệm ở Kim Liên (Nghệ An), ở Huế, ở bến cảng nhà Rồng (thành phố Hồ Chí Minh), dựng tượng danh nhân tại quê hương hoặc địa danh gắn liền với thành tích của danh nhân (tượng Thánh Gióng - Sóc Sơn, Hà Nội, tượng Lý Công Uẩn - Hà Nội và Bắc Ninh, tượng Trần Hưng Đạo - Nam Định, tượng Nguyễn Du - Hà Tĩnh …) Đặc biệt, vừa qua Bộ Văn hoá, Thể thao và

Trang 33

và phát huy bản sắc độc đáo của văn hoá dân tộc

Trong công tác giáo dục, truyền thống tôn vinh danh nhân phát huy ngay trong từng gia đình, họ tộc Việc thờ cúng tổ tiên không chỉ biểu lộ lòng biết

ơn đối với các thế hệ lớp trước, mà còn có ý nghĩa rất lớn về giáo dục, làm cho các thành viên trong gia đình tự hào về ông cha mình và học tập những phẩm chất, hành vi tốt đẹp của tổ tiên Mọi người quan tâm tu dưỡng đạo đức, khuyến khích làm điều thiện, tránh điều ác, để không hổ thẹn trước thanh danh của tổ tiên, dòng họ và gia đình Ngày nay, ở một số địa phương, nhiều dòng họ đã tiến hành phục dựng lại nhà thờ tổ và tổ chức các hoạt động sinh hoạt như: khuyến học, bảo trợ nghề nghiệp, chăm sóc người cao tuổi, v.v… những hoạt động như vậy đã phát huy được truyền thống tốt đẹp trong từng gia đình, dòng

họ Tuy vậy, bên cạnh mặt tích cực của việc khôi phục dòng họ là nêu gương tinh thần hiếu học, ca ngợi tấm lòng hiếu thuận giữa những người cùng họ, người ta nhận thấy còn bộc lộ ra một số hiện tượng tiêu cực, như: xu hướng chạy theo “hư danh”, xây dựng nhà thờ to quá, tổ chức ăn mừng rầm rộ, nặng

về phô trương hình thức, hoặc tự đặt ra thể lệ quyên góp phiền hà, làm giảm đi cái “mỹ tục” của sự tôn vinh

Trong nhà trường và xã hội, danh nhân là những tấm gương sinh động đối với các thế hệ trẻ, thể hiện ở nội dung các bài giảng môn lịch sử, các hoạt động văn nghệ và những buổi học ngoại khoá Trước hết, những danh nhân tiêu biểu được đưa vào sách giáo khoa, ghi chép thành tiểu sử; được sáng tác thành

Trang 34

34

các tác phẩm âm nhạc, sân khấu, điện ảnh; được viết thành truyện dưới dạng tiểu thuyết hay truyện tranh; được tạc tượng, được đặt tên đường, phố, trường học, bệnh viện hay các công trình văn hoá lớn

Có thể nói, phát huy giá trị văn hoá danh nhân trong công tác giáo dục, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Đến lượt nó, việc giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trên nền tảng nhân cách văn hoá Việt Nam, nhằm mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện cững chính là phương thức làm giàu có, đậm đà thêm bản sắc văn hoá dân tộc

Trong sự vận hành kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, việc phát huy truyền thống tôn vinh danh nhân cũng đã có những tác động tích cực, nhằm tạo

ra môi trường kinh doanh lành mạnh, vừa có tính đạo đức, vừa đạt hiệu quả kinh tế cao Nếu như trước đây, người buôn bán chỉ được xem là hạng cuối cùng của “tứ dân”: Nhất sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương, thậm chí thương nhân còn bị gọi một cách miệt thị là “con buôn” Nói đến buôn bán, người ta nghĩ ngay đến những thủ đoạn đầu cơ, trục lợi, buôn gian bán lận của những gian thương Ít ai nghĩ buôn bán là một nghề đứng đắn Ngày nay, doanh nhân được xã hội nhìn nhận lại hoàn toàn khác trước Họ có vị thế quan trọng trong công cuộc xây dựng nền kinh tế nước nhà Nhà kinh tế học nổi tiếng người Áo J.Schumpeter nói rằng: kẻ đóng vai trò chủ yếu trong kinh tế thị trường hiện đại là tầng lớp doanh nhân Ý kiến của ông rất đáng được suy ngẫm giờ đây người ta nói: Phi thương bất phú Từ Phú ở đây có nghĩa là giàu có, vừa có nghĩa là sang trọng Đặc biệt, bắt đầu từ năm 2004, nhà nước ta lấy ngày 13 tháng 10 hàng năm (ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho giới công thương) làm ngày doanh nhân Việt Nam, nhờ đó hoạt động kinh doanh nói chung, doanh nhân nói riêng ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình đối với sự phát triển kinh tế của xã hội Như thế, hoạt dộng tôn vinh doanh nhân không

Trang 35

Cuối cùng, tôn vinh danh nhân cùng với di tích văn hoá danh nhân đã và đang trở thành những tài nguyên du lịch đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhân dân cả nước và du khách quốc tế Các di tích văn hoá danh nhân như: Đền Hùng (Phú Thọ), đền Gióng (Hà Nội), đền vua Đinh, Lê (Ninh Bình), đền Đô (Bắc Ninh), đền Kiếp Bạc (Hải Dương), đền Trần (Nam Định), khu di tích Nguyễn

Du (Hà Tĩnh), v.v… đã hiện diện như các điểm du lịch hấp dẫn

Như vậy, truyền thống tôn vinh danh nhân đã trực tiếp góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước, xây dựng và hoàn thiện con người Việt Nam Vì thế, tôn vinh danh nhân là phương thức hữu hiệu để bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Tiểu kết chương 1

Chương 1 trình bày thành 3 tiết:

+ Khái niệm công cụ: Văn hoá và danh nhân;

+ Danh nhân - bộ phận của di sản văn hoá;

+ Tôn vinh danh nhân như là phương thức bảo tồn và phát triển văn hoá Trong luận văn này, người viết đã vận dụng định nghĩa văn hoá của nguyên tổng thư ký UNESCO Federico Mayor, xem “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của cá nhân và cộng đồng) trong quá khứ và trong

Trang 36

Danh nhân trong bất cứ lĩnh vực nào cũng được xem như một cá nhân có nhân cách văn hoá kiệt xuất, thể hiện ở ba tiêu chí: tài năng xuất chúng, đạo đức cao cả, được nhà nước và nhân dân tôn vinh

Trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ, khi các hoạt động xã hội còn mang tính nguyên hợp, chưa có sự phân hoá rõ ràng, thì người có thành tích xuất sắc

ở bất cứ phương diện nào đều được suy tôn là nhân vật văn hoá Khi xã hội phát triển, công việc sản xuất ngày càng được chuyên môn hoá sâu sắc, thì danh nhân cũng được phân chia ra các dạng, tương ứng với các dạng hoạt động chính yếu của xã hội

Là tài sản văn hoá phi vật thể mang giá trị của cộng đồng, nên danh nhân cũng cần được phân ra các cấp độ khác nhau Dựa vào thực trạng cơ cấu xã hội truyền thống nước ta, chúng tôi nêu lên 4 cấp độ để phân loại danh nhân thời xưa, đó là: danh nhân làng xã, danh nhân vùng, danh nhân quốc gia và danh nhân thế giới

Một tài sản văn hoá dù là vật thể hay phi vật thể đều hàm chứa trong đó một giá trị văn hoá cụ thể Cũng như vậy, danh nhân là tài sản văn hoá vô giá của dân tộc, những giá trị nhận thức khai thác từ vốn di sản văn hoá cũng như các bộ tiểu sử danh nhân là nguồn tư liệu phong phú để nhận biết về lịch sử văn hoá truyền thống nước ta

Trang 37

37

Chương 2 DANH NHÂN ĐỜI TRẦN - NGUỒN TƯ LIỆU LỊCH SỬ ĐỂ NHẬN BIẾT NHỮNG NÉT VĂN HOÁ LỊCH SỬ THỜI THỊNH TRỊ CỦA

VƯƠNG TRIỀU

Tháng 12 năm Nguyên Phong thứ 7 (1257) quân Mông Cổ do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy từ Vân Nam tràn xuống cánh đồng Bình Lệ (phía Nam huyện Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ) Vua Trần Thái Tông đứng ra chỉ huy cuộc

chiến đấu chống giặc Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua tự làm tướng,

đốc chiến, xông pha tên đạn” [11, tr.467-468]

Cuối tháng 12 năm ấy, vua Thái Tông cùng với thái tử Hoảng (tức vua Trần Thánh Tông) đã phá tan quân Mông Cổ ở Đông bộ đầu, giải phóng kinh

đô Thăng Long, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông Cổ lần thứ nhất

Để ghi nhớ chiến công này, về sau vua Trần Nhân Tông đã có thơ ca ngợi:

Bạch đầu quân sĩ tại Vãng vãng thuyết Nguyên Phong

Dịch:

Người lính già đầu bạc,

Kể mãi chuyện Nguyên Phong

Hai câu thơ của “Phật Hoàng” Trần Nhân Tông là một khúc vinh danh tưởng thưởng cho những người lính còn sống sau cuộc kháng chiến giữ nước

vĩ đại Họ đã trở về các miền quê với cuộc sống đời thường cùng với những

ký ức hào hùng của một thời oanh liệt Họ có quyền tự hào kể mãi về những chiến công rực rỡ cho những người đương thời và con cháu họ nghe, chia sẻ với họ về những phút thăng hoa ngây ngất mỗi khi nhắc đến hào khí “Đông A”

Trang 38

38

(Đông A là triết tự: chữ A + chữ Đông = chữ Trần)

Sau một cuộc hỗn chiến, đất nước trở lại cảnh thanh bình, vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho thái tử Hoảng (tức vua Trần Thánh Tông), rời “bỏ ngôi báu như trút đôi giầy rách” (Lời phiểm bình của sử gia Ngô Thì Sĩ (1726-1780), chép trong sách “Việt sử tiêu án”) Vua lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi

Vĩ Lâm thuộc Hoa Lư (Ninh Bình) để an dân, lập ấp, viết sách và tu Phật

Có thể xem sự lựa chọn của vua Trần Thái Tông là một biểu hiện khác của khí chất anh hùng - triết gia - những người đã làm nên văn hóa Đông A tỏa sáng một thời

Để nhận biết diện mạo của văn hóa Đông A, trong chương 2 này, chúng tôi sẽ tìm tòi, tập hợp những thông tin về danh nhân đời Trần, qua đó nêu lên những nhận biết về văn hoá - lịch sử giai đoạn thịnh trị của vương triều Trần Chương này gồm một số tiết như sau:

- Sơ lược giới thiệu bộ khung phân loại lịch sử - văn hoá Việt Nam và sự

ra đời của nhà Trần

- Nguồn tư liệu về danh nhân thời Trần

- Xây dựng Bản tổng hợp danh nhân thời Trần

- Một số nhận biết về văn hoá - lịch sử thời thịnh trị của vương triều Trần

2.1 Sơ lược giới thiệu sự phân chia các thời kỳ trong lịch sử văn hóa nước ta và sự ra đời của nhà Trần

Luận văn có một phần bàn về những đóng góp của danh nhân thời Trần đối với văn hóa Đại Việt Vì vậy, chúng tôi thấy cần giới thiệu sơ lược về khung phân kỳ của lịch sử văn hóa nước ta để tiện theo dõi

Nhìn bao quát, lịch sử văn hóa nước ta có thể chia ra hai kỷ nguyên lớn:

Trang 39

39

- Kỷ nguyên văn hóa của xã hội truyền thống khởi lên từ thời các vua Hùng mở nước và kết thúc vào khoảng cuối thế kỷ XIX, trước khi có sự giao thoa và tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa nước ta và thế giới phương Tây;

- Kỷ nguyên văn hóa của xã hội hiện đại, đánh dấu bằng việc các nhà nho cấp tiến mở trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội và tiếp theo đó là phong trào “Duy Tân” phát triển trong cả nước vào đầu thế kỷ XX

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ liên quan đến một phần kỷ nguyên thứ nhất, nằm trong khuôn khổ của lịch sử xã hội truyền thống

Dựa vào những thành tựu nghiên cứu của giới sử học văn hóa của nước

ta trong vài chục năm gần đây, chúng tôi trình bày khung phân kỳ lịch sử văn hóa truyền thống theo một lược đồ như sau

2.1.1 Phân kỳ lịch sử

Lịch sử văn hóa truyền thống Việt Nam chia thành 3 thời kỳ lớn:

- Thời kỳ dựng nước (còn gọi là thời huyền sử)

Sử cũ gọi thời này là thời kỳ ra đời của nước Văn Lang - Âu Lạc Dựa theo quan niệm của nhà sử học Lê Văn Hưu (đời vua Trần Thánh Tông) chúng tôi đặt nước Việt Nam của nhà Triệu vào hệ thống lịch sử người Việt

- Thời kỳ đấu tranh chống lại sự đồng hóa của các đế chế phương Bắc (từ Hán đến Đường)

Thời kỳ này diễn ra vào khoảng thiên niên kỷ I SCN, khởi đầu từ sự suy vong của nhà nước Nam Việt, bao gồm cả lãnh thổ nước Âu Lạc vào năm 111 TCN và kết thúc với chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền chỉ huy vào năm

938, lập lại nền tự trị của người Việt

Sử cũ thường gọi thời kỳ này là thời “Bắc thuộc” Chúng tôi nhận thấy: Cách gọi như trên là không thỏa đáng Vì rằng, đúng là vào thiên niên kỷ I SCN

có sự cai trị không liên tục của các viên thái thú phương Bắc Đây là lối cai trị ràng buộc (Kimi) lỏng lẻo, và đấy cũng chỉ là nhìn văn hóa ở khía cạnh chính

Trang 40

40

trị đơn thuần Còn xét trên văn hóa toàn diện thì văn hóa người Việt ở Bắc bộ

và Bắc Trung bộ vào lúc này vẫn thuộc phạm trù của xã hội Đông Nam Á, mà các đặc trưng của nó là: nông dân, nông nghiệp, xóm làng, thờ cúng tổ tiên, ca hát giao duyên, có tục giã gạo chày tay, tục đánh trống đồng, người phụ nữ vẫn

có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Ảnh hưởng của văn hóa trên mặt

ý thức còn rất hạn chế, cụ thể là Nho giáo rất mờ nhạt, giới trí thức đóng vai trò sản xuất tinh thần chính của thời kỳ này là lớp tăng sĩ Phật giáo, chứ không phải là Nho sĩ Khổng học Hơn nữa, gọi là thời “Bắc thuộc” dễ gây ngộ nhận đối với những người mang tâm thức “vị chủng” (Ethnocentrism) đại Hán tộc chủ nghĩa (Nhớ lại cách đây vài năm, một viên chức ngoại giao của Bắc Kinh

đã phát biểu tại Hội thảo khoa học về biển Đông ở thành phố Hồ Chí Minh, rằng: chẳng phải Việt Nam là thuộc quốc của Trung Hoa đến 2.000 năm đấy sao?)

Như vậy, đứng ở lập trường chủ thể văn hóa mà xem xét, chúng tôi xác định đây là thời kỳ đấu tranh chống lại sự đồng hóa đến từ phương Bắc, là phù hợp với thực tiễn lịch sử văn hóa Việt

- Thời kỳ phục hưng văn hóa Đại Việt (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX) Thời kỳ này có ba giai đoạn nhỏ:

+ Thế kỷ X: Giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ thủ lĩnh địa phương (Chiefdom) sang chế độ quân chủ tập quyền (monarchie centralisée) Giai đoạn này có 3 vương triều: Ngô, Đinh và Tiền Lê

+ Giai đoạn theo chế độ quân chủ gia tộc (Monarchie patrimoniale), từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV; hoặc dựa vào tôn giáo, thì gọi là chế độ quân chủ gia tộc dung hòa tam giáo Giai đoạn này có ba triều đại: Nhà Lý (TK XI-XII), nhà Trần - Hồ (TK XIII-XIV)

+ Giai đoạn theo chế độ quân chủ quan lại tập quyền (Mandarinale centralisée)]; dựa vào ý thức hệ thì gọi là “Chế độ quân chủ quan lại” Nho

Ngày đăng: 06/06/2021, 01:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w