Ngoài nguồn sử liệu chính sử của Việt Nam chép về Quy Nhơn Hoài Nhơn, Hoài Nhân, Qui Ninh…, thì phầnlớn các tư liệu là của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây khi đến Đàng Trong củaĐại V
Trang 1ĐẤT BÌNH ĐỊNH TRONG TIẾN TRÌNH
LỊCH SỬ CHỮ QUỐC NGỮ
ThS Nguyễn Văn Biểu *
Sự ra đời và phát triển của chữ Quốc ngữ là cả một công trình tập thể của nhiềuLinh mục dòng Tên1 (Francisco de Pina, Christoforo Borri, Francesco Buzomi…), với
sự cộng tác âm thầm của một số thầy giảng Việt Nam vào thế kỷ XVII sáng tạo ra,nhưng người có công tập đại thành là Thừa sai Alexandre de Rhodes và được Pigneau
de Behaine, Taberd kế thừa Trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, thứ chữ này chủ yếuđược dùng trong giáo hội Công giáo Nhờ tính ưu việt của nó, chữ Quốc ngữ dần dầnchiếm ưu thế và qua nhiều lần cải tiến, đã được sử dụng phổ biến ở đầu thế kỷ XX Kể
từ khi ra đời ở Nước Mặn (Bình Định) tới nay đã 400 năm, để chữ Quốc ngữ đượchoàn chỉnh và sử dụng như ngày nay
1 Địa danh Quy Nhơn và Bình Định
Có nhiều nguồn sử liệu chép về địa danh Quy Nhơn2 Ngoài nguồn sử liệu chính
sử của Việt Nam chép về Quy Nhơn (Hoài Nhơn, Hoài Nhân, Qui Ninh…), thì phầnlớn các tư liệu là của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây khi đến Đàng Trong củaĐại Việt hồi thế kỉ XVI-XVII ghi chép lại; trong số đó có khá nhiều là những ghi chép
bằng chữ Quốc ngữ, chép tới địa danh “Nước Mặn”, “Thị Nại”, “Qui Nhơn”,… những
ghi chép này có giá trị rất quan trọng về vùng đất Đàng Trong, Quy Nhơn và nhất làquá trình phôi thai, ra đời của chữ Quốc ngữ
Tỉnh Bình Định ngày nay, khi xưa là đất “hai thành Chà Bàn và Thi Nại”3
(Chiêm Thành) Năm Bính Dần, Thái Hòa năm thứ 4 (1446), nhà Lê cho “Nhập nội đô
đốc bình chương Lê Thụ, Lê Khả, Nhập nội thiếu phó tham dự triều chính Lê Khắc Phục đem hơn 60 vạn quân đi đánh Chiêm Thành…thừa thắng đánh thẳng đến cửa
biển Thi Nại…tiến công thành Chà Bàn”4
Lịch sử vùng đất này gắn với sự kiện nổi tiếng khi vua Lê Thánh Tông thân chinh
đi đánh Chiêm Thành vào tháng 11 năm Canh Dần (1470), do Trà Toàn ở Thi Nạimang hơn 10 vạn quân đánh úp châu Hóa, quấy nhiễu vùng biên viễn5 Ngày 27 tháng
hai năm Tân Mão (1471), “vua tự mình đem đại quân đánh phá thành Thi Nại”6,
“Tháng 6, lấy đất Chiêm Thành đặt làm thừa Tuyên Quảng Nam”7, “chia đất này làm
3 huyện Bồng Sơn, Phù Li và Tuy Viễn, đặt phủ Hoài Nhân, lệ vào Quảng Nam thừa
tuyên”8
* Viện Sử học Việt Nam
1 Dòng Tên được thành lập năm 1534, được Tòa thánh công nhận năm 1540.
2 Các nguồn tiếng Pháp chép là “Qui Nhơn”, hay “Qui Nhon”.
3 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr 6.
Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép “Thi Nại” ở địa giới hai thôn Hương Mai và Chánh
Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định bây giờ.
4 Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư,tập II, Nxb Khoa học xã hội, tr.356-357.
5 Đại Việt sử ký toàn thư,tập II, Sđd, tr.440-441
6 Đại Việt sử ký toàn thư,tập II, Sđd, tr.449.
7 Đại Việt sử ký toàn thư,tập II, Sđd, tr.452.
8 Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Sđd, tr.6
Trang 2Năm 1602, chúa Nguyễn đặt dinh Quảng Nam, phủ Hoài nhân vẫn lệ thuộc vàodinh này9 Cũng trong năm này (1602), chúa Nguyễn cho “đổi phủ Hoài Nhân làm phủ
Qui Nhân (Nhơn)”10
Năm Tân Mão, Thái Tông thứ 3 (1651), đổi phủ Qui Nhơn làm phủ Qui Ninh11
Theo Đại Nam thực lục chép: “Tân Mão, năm thứ 3 (1651), đổi phủ Hoài Nhân làm
phủ Qui Ninh”12 Như vậy, cả 2 sách Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam thực lục đều
nhắc về sự kiện năm 1651, nhưng nội dung không hoàn toàn giống nhau
Năm Nhâm Tuất, Thế Tông thứ 4 (1742) “lại đổi phủ Qui Ninh làm Qui Nhơn”13.Đến năm Kỷ mùi, năm thứ 20 (1799), tháng 6, quân của chúa Nguyễn chiếm được
thành Qui Nhơn, Nguyễn Ánh cho đổi tên Qui Nhơn thành Bình Định14, sai ChưởngHậu quân là Võ Tánh và Lễ bộ Ngô Tòng Chu đóng giữ Năm Minh Mạng thứ 12 đổiphủ Qui Nhơn thành phủ Hoài Nhơn15
Như vậy trong chính sử triều Lê và triều Nguyễn sau đó nhắc nhiều đến địa danhlịch sử Quy Nhơn, gắn liền với quá trình ra đời của chữ Quốc ngữ Tên gọi Bình Địnhxuất hiện thời gian sau đó, khi mà Nguyễn Ánh chiếm được thành Quy Nhơn sau đó
đến năm 1832 vua Minh Mạng chia đặt các tỉnh phía Nam, sách Đại Nam thực lục chép “Tỉnh Bình Định: thống trị 2 phủ, An Nhân, Hoài Nhân và 5 huyện…”16, đặt chức
Tổng đốc Phú Bình thống hạt 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên Tỉnh Bình Định xuất hiện
từ đấy cho đến nay
Địa danh Thị Nại17 xuất hiện nhiều trong sử triều Nguyễn, nhất là giai đoạn giaotranh giữa quân Nguyễn và Tây Sơn Cửa biển Thị Nại là một trong những địa danhxuất hiện từ khá sớm, là một trong những thương cảng sầm uất sau Hội An hồi cuốithế kỉ XVI, đầu thế kỉ XVII Tuy nhiên, cái tên Thị Nại và Nước Mặn được ghi chépnhiều và phổ biến nhất trong thời kỳ đầu của sự ra đời của chữ Quốc ngữ, ở thư từ,tường trình ghi chép của các giáo sĩ
2 Quy Nhơn trong quá trình ra đời và phát triển của chữ Quốc ngữ
Khi các nhà truyền giáo phương Tây đến nước ta truyền đạo để thuận lợi cho việcrao giảng, trao đổi trong cuộc sống hàng ngày, họ đã La tinh chữ viết cho đơn giản, dễ
học, dễ sử dụng, với mục đích ban đầu “là giúp người ngoại quốc học tiếng Việt chứ
không phải là phổ biến chữ Quốc ngữ cho người Việt”18, “Các giáo sĩ không có ý đồ
9 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr.388.
10 Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Sđd, tr.7.
Theo Quách Tấn chép: Năm Ất Tỵ (1605) “Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đổi tên Hoài Nhơn làm Qui Nhơn” (Nước Non Bình Định, Nxb Thanh Niên, 1999, tr.6), có lẽ ở đây đã chép nhầm năm.
Sách Đại Nam thực lục chép sự kiện năm Nhâm Dần (1602): “Bấy giờ Khám lý phủ Hoài Nhân (nay thuộc
Bình Định) là Trần Đức Hòa đến Yết kiến, chúa đãi rất hậu”(Đại Nam thực lục, tập Một, Nxb Giáo dục, 2002,
tr.36)
11 Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Sđd, tr.7.
12 Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập Một, Nxb Giáo dục, 2002, tr.61).
13 Đại Nam thực lục, tập Một, Sđd, tr.150 Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Sđd, tr.7
14 Đại Nam thực lục, tập Một, Sđd, tr.388.
15 Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Sđd, tr.8.
16 Đại Nam thực lục, tập Ba, Nxb Giáo dục, 2004, tr.393.
17 Theo sách Đại Nam nhất thống chí nói về Tấn Sở của tỉnh Bình Định, có nói đến Tấn Thi Nại ở phía đông
huyện Tuy phước, rộng 197 trượng, thủ sở ở địa phận thôn Bình Chính, có bảo đất, chu vi 48 trượng 4 thước, cao
6 thước, mở một cửa.
18 GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, Báo cáo đề dẫn “Một số vấn đề về chữ Quốc ngữ” trong Hội thảo Quốc gia Chữ quốc ngữ: sự hình thành, phát triển và những đóng góp vào văn hóa Việt Nam, 10-2015.
Trang 3dùng chữ Quốc ngữ thay chữ Nôm Thực tế là sau khi có chữ Quốc ngữ, đến suốt thế
kỉ XIX, chữ Nôm và cả chữ Hán vẫn tiếp tục được dùng trong giáo hội ở Việt Nam”19.Một số tài liệu ghi chép, về quá trình đến Đàng Trong của các giáo sĩ phương Tây
từ cuối thế kỉ XVI Năm 1580, hai linh mục có tên là Luis Fonséca (người Bồ ĐàoNha), và Grégoire de la Motte20, người Pháp, lại sang truyền giáo ở Cao Miên Nhưng
một vài tác giả khác lại nói “họ truyền giáo ở Quảng Nam vào năm và trong một cuộc
giao tranh giữa quân Chiêm Thành và quân chúa Nguyễn, đã bị bắt đem về Qui Nhơn, rồi Fonséca bị hạ sát, còn De la Motte thì bị thương, trốn thoát về Malacca nhưng đã chết dọc đường”21
Quy Nhơn là một trong những tỉnh được đặt giáo phận, kiêm hạt mấy tỉnh(Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên), sớm nhất ở Đàng Trong Tới nay còn 3 di tích lịch
sử ghi lại quá trình truyền giáo, La-tinh hóa tiếng Việt, sáng tạo ra chữ Quốc ngữ củacác Linh Mục dòng Tên tại Đàng Trong vào thế kỷ XVII Các di tích nổi bật nhất lưugiữ dấu tích về quá trình này tại Giáo phận Quy Nhơn thuộc về 3 địa danh, đó là:
Cảng thị Nước Mặn, Chủng viện Làng Sông và nhà thờ Mằng Lăng.
Năm 1615, các tu sĩ đầu tiên của dòng Tên đã theo thuyền buôn Bồ Đào
Nha từ Ma Cao cập bến Đàng Trong tại cửa Hàn (Đà Nẵng) Linh mục Busomi(*) đượcchúa Nguyễn Phúc Nguyên (trị vì 1614-1635) tiếp đãi và việc truyền đạo khá thuậnlợi Các giáo sĩ xây dựng được giảng đường đầu tiên, sau đó đi tiếp vào Hội An - nơi
có nhiều người Bồ buôn bán
Năm 1617, các nhà truyền giáo Dòng Tên theo đường biển đến đặt cơ sở truyềngiáo ở Nước Mặn theo lời mời của Trần Đức Hòa22 Khám lý phủ Hoài Nhơn, “Năm
1618, Khám lý Trần Đức Hoà mời giáo sĩ Borri đến lập giáo xứ ở phố Nước Mặn để truyền đạo và cho xây dựng “một ngôi nhà thờ bằng gỗ khá tiện nghi tại thành phố Nước Mặn”23 Tháng 7 năm 1618, các giáo sĩ khác như: Buzomi, Pina, Augustin cũng được Trần Đức Hoà mời từ Hội An vào Nước Mặn để truyền giáo Các giáo sĩ này cho biết:“Quan trấn thủ cho xây một ngôi nhà bằng gỗ rộng rãi ở Nước Mặn Ông dùng voi đưa các linh mục tới nhà mới, từ đó các linh mục có cơ sở hoạt động và được dân chúng kính nể Cũng năm đó Thánh đường làm sẵn dựng lên ở phố Nước Mặn và ráp trong vòng 1 ngày trước sự bỡ ngỡ và thán phục của những nhà truyền giáo”24.Thời điểm các giáo sĩ dòng Tên tới truyền đạo, ngoài việc 1 số quan lại tạo điều kiện
thuận lợi, họ còn được cả chúa Nguyễn cho phép “Chúa Sãi tiếp các Linh Mục rất tử
19 Hoàng Tuệ, Về sự sáng chế chữ Quốc ngữ, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4 (1994), tr.20-24 Viện Ngôn ngữ, Hoàng Tuệ tuyển tập, Nxb Giáo dục, 2009, tr.214.
20 Louvet, Cochinchine Religieuse, Saigon, 1885, 2 tomes, tr.226; Hồng Lam, Lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, Huế 1944, tr.106; Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Sài Gòn, 1959, tr.39 Dẫn theo Trương
Bá Cần, Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập I, Nxb Tôn giáo, 2008, tr.26
21 Nguyễn Hồng, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, Sài Gòn, 1959, tr.39.
Marcos Gispert Op, Historia de las Misiones Dominicanas en TungKin, Avila 1928, tr.13, còn nói: “Đây là hai
vị tử đạo công giáo đầu tiên trên đất nước Việt Nam”
(*) Francesco Busomi là Linh mục dòng Tên thứ nhất được cử đến nước ta Từ năm 1615 đến năm 1639.
22 Theo sách Đại Nam thực lục chép Trần Đức Hòa làm khám lý phủ Hoài Nhân (nay thuộc Bình Định), bấy giờ
gọi là Cống quận công, là con Dương Đàm hầu Trần Ngọc Phân, phó tướng dinh Quảng Nam Cuối năm 1602 đến yết kiến chúa đãi rất hậu.
23 Bastali, Istons della compogne de Jesus, Magoli 1859 (Tài liệu của chủng viện Quy Nhơn), dẫn lại trong Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII của Đỗ Bang Thuận Hoá - Hội Khoa học Lịch sử Việt
Nam, 1996, tr.157.
24 UBND tỉnh Bình Định, Địa chí Bình Định, tập: Lịch sử, Nxb Đà Nẵng, 2006, tr.67
Trang 4tế và việc truyền đạo được triển khai khả quan, vì vậy tới giữa năm 1616, có thêm Linh Mục Andrea Fernadez, người Bồ Đào Nha sang thay Linh Mục Diego Carvalho, được gọi về, để tìm đường sang Nhật, làm phụ tá cho Busomi Đến Năm 1617, lại có hai Linh mục nữa là Francesco Barreto, người Bồ Đào Nha và Francisco de Pina người Ý, cùng đến đất thuộc quyền Chúa Nguyễn - Linh mục Francisco de Pina là người duy nhất trước Linh mục Alexandre de Rhodes, giảng cho dân chúng mà không cần thông ngôn, đồng thời là thầy dạy tiếng Việt Nam cho Linh mục De Rhodes sau này”25.
Các nhà truyền giáo Dòng Tên khi ở Nước Mặn đã có những đóng góp nhất định
vào quá trình La-tinh hóa tiếng Việt, đó là: Francesco Buzomi, Christoforo Borri,
Francisco de Pina Linh mục Christoforo Borri góp công khởi đầu chữ Quốc ngữ
trong thời gian này và là người viết cuốn “Xứ Đàng Trong” năm 1621, trong đó có giới thiệu nhiều về Nước Mặn, “trước ông phải kể các linh mục Francesco Buzomi và
Francisco de Pina, những người thật sự phụng sự ở Đàng Trong…chính ông và với những linh mục mà tôi vừa kể tên là những người đầu tiên cải đạo cho người Việt Nam theo Thiên Chúa giáo, nếu không ở Đà Nẵng, Hội An, Quảng Nam, thì ít nhất cũng ở Nước Mặn tỉnh Bình Định”26, “Tám ngày qua đi, chúng tôi cho ông(*) biết là chúng tôi thích ở trong thành để dễ bề rao giảng Phúc Âm hơn,…ông nghe theo điều chúng tôi sở nguyện và tức khắc truyền cho người ta chọn cho chúng tôi một địa điểm rất tiện để làm nhà cho chúng tôi ở, trong vùng gọi là Nước Mặn… Sau khi từ biệt, chúng tôi leo lên lưng voi để cùng đoàn tùy tùng đi tới Nước Mặn, một địa điểm dài chừng hai dặm và rộng tới một dặm rưỡi”27
Trong Lời tựa cuốn Những người bạn cố đô Huế, (tập XVIII), L.Cadière, có nói đến nội dung một bức thư nhắc đến địa danh Nước Mặn “…Bức thư thứ hai kể chuyện
cùng thời kỳ đó, nghĩa là vào cuối 1620 và năm 1621 ở Nước Mặn thuộc tỉnh Quy Nhơn hiện nay thời đó được gọi là Poulocambi”28 Về những đóng góp của Christofo
Borri cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ Cadière nói “Ông đã để cho chúng ta trong bản
tường trình của ông những tiêu bản quý báu về các phác thảo đầu tiên của chữ “Quốc ngữ”, một thứ “quốc ngữ tiền A.De Rhodes” Khi người ta dò tìm đến việc nghiên cứu
sự hình thành chữ “quốc ngữ”, những phác thảo của linh mục Christofo Borri sẽ là một lợi ích lớn lao”29
Linh mục Christofo Borri, người đã hoạt động ở Quảng Nam – Qui Nhơn (trongnhững năm 1618-1622), viết: “Trước khi các linh mục Dòng Tên chúng tôi tới ĐàngTrong, thói quen của người Bồ Đào Nha từ Malacca và Macao, của người Tây BanNha từ Manila, tới đây buôn bán là đem theo họ một vài tuyên úy để dâng thánh lễ và
cử hành các bí tích cho họ trong suốt thời gian họ ở đó, thường là ba, bốn tháng Cáclinh mục tuyên úy này không có trách nhiệm nào khác ngoài việc phục vụ người BồĐào Nha nên không quan tâm đến việc lo lợi ích thiêng liêng của dân địa phương, do
25 Phạm Văn Sơn (cb), Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), quân sử III, Bộ Tổng tham mưu (Sài
Gòn) xuất bản, 1971, tr.24.
26 “Những người Âu đã thấy Huế xưa: Cristoforo Borri”, Tựa của L.Cadière, trong cuốn Những người bạn cố đô Huế, tập XVIII, năm 1931 (Nguyễn Cửu Sà dịch), Nxb Thuận Hóa, 2003, tr.333
(*) Ý chỉ Trần Đức Hòa, quan Khám lý phủ Quy Nhơn.
27 Christoforo Borri, Xứ Đàng Trong, (Hồng Nhuệ - Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, chú thích), Nxb
Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2014, tr.99-100.
28 Những người bạn cố đô Huế, tập XVIII, Sđd, tr.335
29 Những người bạn cố đô Huế, tập XVIII, Sđd, tr.332.
Trang 5đó không tìm cách học tiếng của người bản xứ… Những người thông ngôn của cáctuyên úy thường chỉ biết một vài tiếng Bồ Đào Nha để mua bán và một vài câu vài lời
để hỏi xem người bản xứ là người có muốn theo đạo không Do đó mà họ có làm đượccho một vài người theo đạo, nhưng chỉ là mang danh có đạo, chứ không biết gì vềđạo30…”
Tới sau các linh mục Dòng Tên đi trước, giáo sĩ Alexandre de Rhodes cũngthường vào Nước Mặn (phủ Quy Nhơn) để giảng đạo và trở thành một trong những
nơi ra đời Từ điển tiếng Việt - Bồ - la đầu tiên ở Việt Nam Quy Nhơn là nơi góp phần
hình thành chữ Quốc ngữ dưới thời các giáo sĩ phương Tây mà tiêu biểu là
Alexandre de Rhodes31
Cuối năm 1624 đầu năm 1625 Alexandre de Rhodes(*) đến Đàng Trong cùng với
Linh mục Gabriel de Mattos, người Bồ Đào Nha, với 5 giáo sĩ dòng Tên khác, trong
đó có một người Nhật giỏi chữ Hán Tới Đàng Trong, sau 6 tháng Alexandre deRhodes đã thạo tiếng bản xứ để giảng kinh… Ông nhiều lần bị trục xuất khỏi cả ĐàngTrong và Đàng Ngoài, vì có những lúc cấm đạo, tới lần thứ 4 thì ông bị trục xuất hoàn
toàn khỏi Việt Nam (1645), “Trong suốt 17 năm ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, giáo
sỹ Alexandre de Rhodes tìm hiểu ngôn ngữ, phong tục và lịch sử nước ta và tỏ ra rất thông suốt”32 Sau khi bị trục xuất khỏi Đại Việt, ông đi Rô-ma để trình lên GiáoHoàng một dự định thành lập ở Việt Nam các Tòa Giám mục Pháp, tới 1649 thì ôngtới Va-ti-can Tuy nhiên, kế hoạch của ông không thành công, ông lại quay về Pháp.Sau đó, ông được cử đi Ba Tư truyền đạo và mất ở đấy vào năm 1660
Quá trình Alexandre de Rhodes ở Rô-ma và về Pháp, do có nhiều thời gian, nên
“Ông viết nhiều sách về nước ta và xuất bản ở châu Âu Ngoài những sách viết về
nước ta, ông còn cho in tại La Mã sách kinh bằng tiếng Việt Nam, để cho người Việt dùng, và một cuốn Tự điển Việt Nam - Bồ Đào Nha - Latinh cho các giáo sĩ dùng Ông
là người có công làm giàu cho chữ Quốc ngữ của chúng ta, sau các Linh Mục Francesco de Pina và Christoforo Borri là những người đã La Mã (La-tinh) hóa cuốn kinh đầu tiên bằng tiếng Việt vào năm 1621 - trước ngày Alexandre de Rhodes đến nước ta 4 năm Rất tiếc cuốn kinh nói trên hiện thất lạc chưa tìm ra, mà chỉ còn lại nhiều kinh sách của Alexandre de Rhodes nên người ta cho rằng Alexandre de Rhodes
là “thủy tổ chữ Quốc ngữ”, trong khi ông chỉ có công kế tục tu chỉnh và phong phú hóa chữ Quốc ngữ mà thôi”33 Như vậy có thể nói việc Nhà xuất bản của Thánh Bộ
Truyền giáo cho in các tác phẩm đầu tiên của Alexandre de Rhodes: một Relazioze
de’felici successi della fede nel regno di Tunchino (1650), một cuốn giáo lý bằng tiếng
La Tinh và tiếng Việt (chữ Quốc ngữ) * và nhất là cuốn Dictionarium annamiticum, lusitanum et latinum (Từ điển Việt-Bồ-La, 1651) Lần đầu tiên, chữ cái La Tinh được
30 Christofo Borri, Relation de la nouvelle mission des pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, Lille, 1631, tr.98.
L.Bonifacy, Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH), 1931, tr.338 Dẫn theo Trương Bá Cần, Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập I, Nxb Tôn giáo, 2008, tr.37.
31 Địa chí Bình Định, Sđd, tr.67
(*)Alexandre de Rhodes (tên tiếng Việt là A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ hay Cha Đắc Lộ; 1591-1660) là một nhà truyền giáo dòng Tên và được xem là nhà ngôn ngữ học, được gọi là “ông tổ của chữ Quốc ngữ” Alexandre de Rhodes
là một con người rất giỏi, thông minh và tài năng
32 Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Sđd, tr.26.
33 Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Sđd, tr.26.
* Được Chappoulie dịch sang tiếng Pháp, [Đầu đề tiếng Việt là Phép giảng tám ngày].
Trang 6sử dụng một cách có hệ thống chuyển tải âm ngữ của người Việt Thời điểm này đánh dấu sự khởi đầu chính thức của chữ Quốc ngữ”34
Cảng thị Nước Mặn xưa nay đã bị bồi lấp và lùi vào trong đất liền, không còn dấutích gì nữa(*), “Nước Mặn là tên gọi của một phố thị cảng sông nằm bên đầm Thị Nại
của phủ Qui Nhơn vào thế kỷ XVII-XVIII…là nơi đóng bản doanh của các tu sĩ Dòng Tên ở xứ Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII Cảng thị Nước Mặn xưa kia bao gồm các thôn: An Hòa, Lương Quang thuộc xã Phước Quang và thôn Kim Xuyên thuộc xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định ngày nay”35
Bình Định còn là nơi đặt Tiểu chủng viện Làng Sông(**) (nay thuộc huyện Tuy
Phước, tỉnh Bình Định), là một trong 3 xưởng in chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam(hai nhà in kia là nhà in Tân Định, Sài Gòn – nhà in của Giáo phận Tây Đàng Trong,nhà in Ninh Phú, Tây Đàng Ngoài, Hà Nội Nhà in của Giáo phận Đông Đàng Trongđược đặt ở Tiểu Chủng viện Làng Sông (thuộc thôn Quảng Vân, xã Phước Thuận,huyện Tuy Phước, Bình Định) Cho đến năm 1922 nhà in Làng Sông đã in được18.000 tời báo định kỳ, 1.000 bản sách các loại, 32.000 ấn phẩm khác Báo Lời Thămphát hành mỗi tháng hai lần, mỗi số ra 1.500 bản và phát hành cả Đông Dương, tổngcộng các ấn phẩm trong năm lên tới 63.100 ấn phẩm Ngoài sách tiếng La-tinh và tiếngPháp, nhà in Làng Sông đã in một số lượng lớn sách Quốc ngữ đa dạng về các thể loại.Tới năm 1932, nhà in Làng Sông bị bão đánh sập, sau đó được sáp nhập vào nhà inQui Nhơn Đến nay, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (tại Hà Nội) còn lưu giữ được
hàng trăm cuốn sách quý do Nhà in Làng Sông và Qui Nhơn xuất bản như: Đức Cha
Thể (Cuénot) xuất bản 1907; Tập đánh vần chữ quốc ngữ cho mau biết coi sách (Qui
Nhơn: Impr de Qui Nhơn, 1925); Sách địa dư: Có bản đồ (In lần thứ 7 Impr de Qui Nhơn, 1926); Sử ký nước Annam kể tắt (Impr de qui Nhơn, 1930); Địa dư nông học
tỉnh Bình Định (Tác giả: Bùi Văn Lăng, Qui Nhơn: Impr de Qui Nhơn, 1933),…
3 Một vài nhận xét
Qui Nhơn trước đây mà ngày nay là Bình Định là nơi chứng kiến sự ra đời củachữ Quốc ngữ thời kỳ phôi thai, thời kỳ hình thành, phát triển và hoàn tất Có thể xemđịa danh Nước Mặn thuộc Qui Nhơn hồi đầu thế kỷ XVII là một trong những nơi đầutiên ra đời chữ Quốc ngữ Thanh Chiêm và Nước Mặn hồi thế kỷ XVII là những đơn
vị hành chính thuộc dinh Quảng Nam Ngày nay cảng thị Nước Mặn khi xưa thuộchuyện Tuy Phước của tỉnh Bình Định là những nơi có điều kiện thuận lợi cho sự ra đờicủa chữ Quốc ngữ, và cùng với đó là sự du nhập của đạo Công giáo vào Việt Nam
34 Lê Thành Khôi, Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX , (Nguyễn Nghị dịch, Nguyễn Thừa Hỷ
hiệu đính), Nxb Nhã Nam - Thế giới, tr.337-338
(*) Cơ sở truyền giáo Nước Mặn ngày nay được xác định vị trí tại nhà ông Võ Cự Anh (thôn An Hòa, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước) Sau khi được gia đình ông Võ Cự Anh đồng ý, ngày 17-9-2009, UBND tỉnh Bình Định chấp thuận cho Tòa Giám mục Quy Nhơn được xây dựng một hòn Non bộ, có hình một cây đa bê tông 16 nhánh tượng trưng cho 16 cơ sở truyền đạo Xứ Đàng Trong Có tấm bia ghi kỷ niệm các Thừa sai Dòng Tên đầu tiên đến lập cơ sở truyền giáo Cây đa tưởng niệm, cùng với giếng nước ngọt có tuổi khoảng 300 năm ở vườn nhà ông Võ Cự Anh được coi là dấu tích một thời cho cảng thị Nước Mặn.
Theo Trương Bá Cần Chủng viện Làng Sông có từ thời Đức Giám mục Cuénot (Hay còn gọi là Ðức Cha Thể Etienne Théodore Cuénot, Sinh năm 1802 tại Belieu, Besancon, Pháp, Giám mục Hội Thừa Sai Paris, địa phận Ðông Ðàng Trong Mất năm 1861 tại Bình Định dưới thời vua Tự Đức cấm đạo) năm 1879 Tiểu chủng viện Làng Sông được trùng tu.
-35 Nguyễn Thanh Quang, Nước Mặn – Nơi phôi thai chữ Quốc ngữ, Tạp chí Xưa Nay, số 301+302, tháng 2-2008,
tr.27.
(**) Tòa Giám mục của địa phận Đông Đàng Trong cũng đặt cơ sở tại Làng Sông.
Trang 7Xét trên nhiều yếu chúng ta có thể phần nào đi đến những kết luận Bình Định làmột trong những cái nôi của chữ Quốc ngữ Điều đó được thể hiện qua việc các Linhmục Dòng Tên đến nước ta hồi nửa đầu thế kỉ XVII đã có thời gian lâu dài ở lại ĐàngTrong, am hiểu tình hình xã hội và sáng chế ra chữ Quốc ngữ, để cho người nướcngoài học tiếng Việt, mà trước tiên là các giáo sĩ không cần qua thông ngôn có thể nóichuyện và giảng đạo được Việc chữ Quốc ngữ ngày càng được phổ biến và thôngdụng, trở thành chữ viết của Việt Nam sau đó, nằm ngoài ý muốn ban đầu của cácLinh mục Dòng Tên, vì chữ viết phổ biến lúc bấy giờ là chữ Hán và chữ Nôm.
Các di tích lưu giữ dấu tích về quá trình ra đời và phát triển của chữ Quốc ngữ
như cảng thị Nước Mặn, Chủng viện Làng Sông, Giáo phận Đông Đàng Trong ở Qui
Nhơn trước đây mà ngày nay là Bình Định là những minh chứng còn lại của lớp bụithời gian của suốt 400 năm tiến trình lịch sử chữ Quốc ngữ cũng như lịch sử vùng đấtBình Định Từ những phôi thai ra đời đầu tiên cho đến việc chữ Quốc ngữ được phổbiến, sự ra đời của nhà in Làng Sông, sau đó là nhà in Qui Nhơn, là một trong 3 nhà inđầu tiên đã chứng tỏ Bình Định là một trong những trung tâm ra đời và phát triển nhấtcủa chữ Quốc ngữ
Từ chỗ kì thị khinh miệt thứ chữ của bọn Tây dương “ngoằn nghèo như rau
muống”, tới công nhận nó, lại còn nhận là chữ của mình “chữ Quốc ngữ” thì cũng thật
là sự biến chuyển rất lớn Thậm chí có ý kiến còn nói “Chữ Quốc ngữ là hồn của
nước”, “nước ta sau này hay hay dở đều ở chữ Quốc ngữ”,36 thì đó là thành công lớn,
mà công lao, đóng góp thuộc về nhiều người Điều đó, ít nhiều đã làm cho xã hội ViệtNam có những biến chuyển, diện mạo mới Nhìn lại lịch sử dân tộc, suốt một nghìnnăm phong kiến, và cũng có những lúc đạt được văn minh, tác giả Lương Đức Thiệp
trong cuốn Xã hội Việt Nam xuất bản cách nay 65 năm có viết rằng “… nước Việt Nam
ngàn năm văn hiến mà không sản xuất nổi một học thuyết mới lạ nào, một trào lưu tư tưởng hoặc nghệ thuật mạnh mẽ nào… đẳng cấp nho sỹ Việt Nam bị ý thức hệ Nho giáo bảo thủ lung lạc, bị chế độ thi cử chi phối không còn một chút hoạt lực nào, không có được một tính cách cấp tiến nào nữa!”37 Thì sự ra đời của chữ Quốc ngữđược sử dụng như ngày nay đã đóng góp vào văn hóa Việt Nam và Bình Định là một
trong những nơi góp phần vào văn hiến, văn minh ấy
-CHỮ QUỐC NGỮ VỚI BÌNH ĐỊNH NHƯ LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH
QUA BẢN TƯỜNG TRÌNH VỀ KHU TRUYỀN GIÁO ĐÀNG TRONG
PGS.TS Võ Xuân Hào, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Quy Nhơn
36 Nguyễn Văn Biểu, Vài nét về quá trình hình thành và phổ biến chữ Quốc ngữ ở Việt Nam (Từ đầu thế kỷ XIX
đến nửa đầu thế kỷ XX), tham luận Hội thảo khoa học Quốc gia “Chữ Quốc ngữ: Quá trình hình thành, phát triển
và những đóng góp vào văn hóa Việt Nam”, do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tp Hồ Chí Minh Trường Đại học Phú Yên và Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông phối hợp tổ chức ngày 03/10/2015.
Nguyễn Văn Biểu, Chữ Quốc ngữ góp phần quan trọng vào văn hiến, văn minh của lịch sử Việt Nam, Báo Phú
Yên số 2936 ra ngày Thứ Bảy (3-10-2015).
37 Lương Đức Thiệp, Xã hội Việt Nam, Nxb Liên hiệp (Sài Gòn), 1950, tr.410.
Trang 8Báo cáo khoa học này không tranh luận về công và tội của các giáo sĩ DòngTên trong công cuộc truyền giáo và sáng tạo chữ Quốc ngữ nhằm mục đích truyềngiáo của họ Người viết cũng không có điều kiện tiếp cận với nguồn ngữ liệu gốc vàvốn ngoại ngữ cũng không đủ để tham khảo các văn bản gốc ngõ hầu luận bàn mộtcách thấu suốt quá trình hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ Đó là chưa nóiđến việc nhiều văn bản sơ khai về sự hình thành chữ Quốc ngữ được các nhà nghiêncứu xác định là đã thất lạc từ lâu Dưới đây là những cảm nhận của người viết về chữQuốc ngữ với Bình Định như một định mệnh dựa trên những tài liệu đã được tham
khảo Đặc biệt là dựa vào bản Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong của
Christophoro Borri
1 Miền đất và con người được sinh ra từ nơi ấy gắn kết keo sơn như một địnhmệnh Vùng đất và con người Bình Định – một trong ba cư sở truyền giáo lớn của xứĐàng Trong đã có ảnh hưởng rất lớn nếu không muốn nói là quyết định đến công cuộctruyền giáo và việc sáng tạo chữ Quốc ngữ phục vụ cho công cuộc ấy Tại sao cư sởNước Mặn, Bình Định (1618) - một vùng đất tận cùng của phương nam xa xôi, cáchtrở thời bấy giờ được thành lập trước cư sở Thanh Chiêm, Quảng Nam (1623) đến 5năm, dẫu biết rằng Thanh Chiêm – trung tâm hành chính của Quảng Nam lúc đó gầnvới Cửa Hàn và Cửa Đại – nơi các giáo sĩ phương Tây đặt chân đến đầu tiên trongcông cuộc truyền giáo của mình? Tại sao Cư sở Hội An được thành lập đầu tiên(1615), vào năm 1920 các cha chỉ rửa tội được 82 người Việt Nam và 27 người Nhậtnhưng cũng trong năm 1620 các cha ở Nước Mặn rửa tội cho 180 người Việt? [3; 66,68] Câu trả lời chắc hẳn có liên quan đến vùng đất và con người nơi đây Cũng chính
vì lẽ đó, các giáo sĩ Dòng Tên đã dành nhiều trang viết giới thiệu về vùng đất và conngười mà ở đó họ sống và truyền giáo
1.1 Bản “Tường trình về Khu Truyền giáo Đàng Trong -1631”, được viết từ
những năm 1621 – 1622, khi Christophoro Borri hoạt động truyền giáo tại Nước Mặn(Bình Định) và được xuất bản năm 1631 tại Roma Christophoro Borri - một giáo sĩDòng Tên người Ý được cử đến truyền giáo tại xứ Đàng Trong từ năm 1618 đến năm
1621, đã miêu tả một vùng đất phương Nam có khí hậu bốn mùa nắng ấm, cây cốixanh tươi, đất đai trù phú, cảnh vật hữu tình, con người chân chất thân thiện, chan hòacùng nhau vui sống Với năm năm sống tại xứ Đàng Trong, Cha Christophoro đã cómột cái nhìn hết sức trìu mến về vùng đất và con người nơi đây Ông viết: “Xứ này vềhướng nam thì ở cạnh Chăm, vào vĩ tuyến 11, về hướng bắc xế về đông bắc, thì là xứĐàng Ngoài, về hướng Đông là biển Trung quốc và về hướng tây, xế về tây bắc thì lànước Lào… Xứ Đàng Trong rộng hơn một trăm dặm theo bờ biển, bắt đầu từ nướcChàm ở vĩ tuyến 11, cho tới vịnh Hải Nam vào khoảng vĩ tuyến 17 Bắt đầu là xứ củachúa Đàng Ngoài Về bề ngang thì không rộng, thu hẹp chỉ chừng hai mươi dặm Ý, đấtbằng, một bên là biển và một bên là dãy núi chạy dài có Kẻ Mọi ở, nghĩa là man di.Mặc dầu họ là người Đàng Trong, nhưng họ không nhận chúa cũng không thần phụcngài Họ đóng đô và chiếm giữ miền núi rất hiểm trở Xứ Đàng Trong chia làm nămtỉnh Tỉnh thứ nhất là nơi chúa ở ngay sát xứ Đàng Ngoài gọi là Thuận Hóa, thứ hai làQuảng Nam, nơi hoàng tử làm trấn thủ, thứ ba là Quảng Nghĩa, thứ tư là Quy Nhơnngười Bồ đặt tên là Pulucambis, thứ năm là ở sát nước Chàm gọi là Phú Yên” [2; 10 –11] Quy Nhơn thuộc xứ Đàng Trong và những ân tình của giáo xứ Đàng Trong được
Trang 9nhắc đến trong bản tường trình của giáo sĩ Dòng Tên khởi nguồn ở xứ Nước Mặn, QuyNhơn chắc hẳn in đậm bóng hình nước non Bình Định
Với bổn phận là người đi truyền giáo, C Borri viết tường trình tường tận gửi vềcho Cha bề trên Từ khí hậu, vùng lãnh thổ của xứ Đàng Trong ông đều tường trìnhkhá cặn kẽ dưới con mắt của người lần đầu đến với xứ sở này Ông tả mùa nước lụt ở
xứ sở Đàng Trong hết sức kì lạ: “Trước hết ở đây mọi người đều mong nước lũ, khôngnhững để được mát mẻ và dễ chịu, lại còn cho đồng ruộng được mầu mỡ Thế nên khitới mùa nước thì họ rất bằng lòng và rất vui mừng tỏ hẳn ra bề ngoài: họ thăm hỏinhau, chúc mừng nhau, ôm nhau hò hét vui vẻ nhắc đi nhắc lại: “đã đến lụt, đã đến lụt”
có nghĩa là đã bắt đầu mưa các nơi Nói tóm lại không có ai là không tỏ niềm vui, cả
kẻ có thế gia đến chúa cũng vậy” [2; 13] Nhờ hàng năm có mưa và nước lũ đem phù
sa về nên đất đai màu mỡ phì nhiêu, khí hậu ôn hòa nên vùng đất Đàng Trong đượcthiên nhiên ưu ái “mỗi năm có ba vụ lúa, mỗi năm đầy đủ và dồi dào đến nỗi không aiphải lam lũ vất vả để sinh sống, ai cũng sung túc” [2; 15] Theo C Borri xứ ĐàngTrong ngập tràn cây trái thơm ngon và tình người xứ này thấm đậm qua miếng trầucay: “Trước khi người khách đến thăm hay từ biệt ra về thì chủ nhà sai người têm trầucủa nhà mình đem ra một khay để mời khách đến thăm, như thể đáp lại sự lịch thiệpmình đã nhận được” [2; 18] Những năm tháng sống cùng dân bản địa đã cho C Borrinhững nhận xét chi tiết về cách sống của con người ở vùng đất này Họ sống chan hòavới đất trời thiên nhiên xung quanh họ Họ biết làm “balaciam” từ cá ướp với muốithành thứ sốt để ăn với cơm cho đỡ nhạt nhẽo Họ biết lấy một sản phẩm rất quý từ
“một loài chim be bé giống như chim én, nó làm tổ ở các cồn đá và hốc đá sóng biển
vỗ vào Con vật nhỏ này dùng mỏ lấy bọt biển và với chất từ dạ dày toát ra, cả hai thứtrộn lại làm thành một thứ tôi không biết là bùn hay nhựa để làm tổ Khi đã khô cứngthì trong suốt và có sắc vừa vàng vừa xanh” Người dân xứ này đi nhặt tổ của chúng vềchế biến thành món ăn mà theo ông không phải thêm một thứ gì khác thì nó đã có
“hương vị của hết các món thơm ngon nhất, chỉ khác một đàng là do công trình củamột con chim bé nhỏ và một đàng là do tay các Thiên thần của Thượng đế nhào nặn”[2; 20] Xứ Đàng Trong thực sự là xứ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” như cách nói củadân gian và cảm nhận của Christophoro Borri
1.2 Không phải vùng đất nào cũng được thiên nhiên ưu đãi như Bình Định và
xứ Đàng Trong để sản sinh ra những con người hào phóng, rộng lượng như quan trấnthủ Quy Nhơn Trần Đức Hòa Trần Đức Hòa người xã Bồ Đề, huyện Bồng Sơn, phủQuy Nhơn (nay là thôn Hy Văn, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định) Là
bề tôi trung tín của Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng, 1600 – 1613) và Chúa Sãi (NguyễnPhúc Nguyên, 1613 – 1635) Trong thời gian nhậm chức Tuần phủ khám lý phủ QuyNhơn, ông có công giữ yên trấn lị, tích trữ lương thực cung ứng cho nhu cầu “ĐịnhBắc” của Chúa Nguyễn Được Nhà Nguyễn phong Đệ nhất đẳng khai quốc công thần[7] Đọc những dòng dưới đây của Christophoro Borri ta hiểu thêm về một giai đoạncực kỳ khó khăn của các nhà truyền giáo Đàng Trong và việc gặp một tấm lòng nhân
ái như quan trấn Trần Đức Hòa thực sự là một định mệnh mà Chúa giao ban Địnhmệnh này quyết định sự tồn tại một cư sở truyền giáo Nước Mặn, quyết định sự ra đời
và phát triển của chữ Quốc ngữ ngày ấy và bây giờ: “Chúng tôi bỏ Hội An, chaBuzomi, cha Đơ Pina và tôi, để đi Quy Nhơn theo quan trấn thủ của tỉnh đó Suốt cuộchành trình, ông đối đãi với chúng tôi rất lịch sự và tỏ ra hết sức tử tế Ông luôn luôn để
Trang 10chúng tôi ở cùng nhà với ông và tiếp đãi chúng tôi rất đặc biệt Thực ra chúng tôichẳng có thể giá gì về mặt con người bắt ông phải xử như thế Cho nên rất rõ ràng vàhiển nhiên là những sự ông săn sóc phải coi như hiệu quả của Thiên Chúa quan phòng.Ông dành riêng cho chúng tôi một chiếc thuyền để phục dịch một mình chúng tôi vàcác người thông ngôn, không muốn cho chúng tôi để đồ đạc ở đó, đã có một thuyềnriêng dành cho việc này Chúng tôi trẩy đi suốt mười hai ngày với đầy đủ tiện nghi,sáng chiều đậu bến Thường thì những hải cảng ở những thành phố đẹp nhất thuộc tỉnhQuảng Nghĩa Nơi đây, ông cũng có quyền như ở Quy Nhơn, mọi người đều ra đón,chúc mừng và tỏ rõ lòng qui phục cùng nhận quyền với nhiều lễ vật quí và chúng tôicũng là những người thứ nhất được dự phần, do lệnh quan trấn thủ muốn thế…Tới đâuông cũng cho tổ chức trò chơi và hội vui công cộng, khi thì đấu chiến ghe thuyền, lúcthì đua chèo thuyền…cứ thế, rồi chúng tôi tới tỉnh Quy Nhơn, nhưng còn phải đi mấyngày đường trước khi về tới dinh quan trấn thủ…” [2; 72, 73] Đoạn trích trên giúpchúng ta biết thêm thông tin về quyền lực và uy tín của quan trấn thủ Trần Đức Hòakhông chỉ giới hạn ở địa phận Quy Nhơn Đoàn rời Hội An đến Nước Mặn trong cơnhoạn nạn, ngoài các cha còn có “các người thông ngôn” Không phải một mà nhiềuthông ngôn chứng tỏ các cha trước khi đến Bình Định chưa biết sử dụng tiếng Việt.
Và, sự cưu mang, cứu giúp của quan trấn thủ đối với đoàn truyền giáo trong việc đưa
họ đến xứ Quy Nhơn thực sự là một vận may mang tính định mệnh mà Christophoro Borri “coi như hiệu quả của Thiên Chúa quan phòng” Về đến Quy Nhơn, quan trấn
còn đáp ứng sở nguyện của các nhà truyền giáo: “Ông nghe theo điều chúng tôi sởnguyện và tức khắc truyền cho người ta chọn cho chúng tôi một điểm rất tiện để làmnhà cho chúng tôi ở, trong vùng gọi là Nước Nặn” Việc xây cất nhà thờ cũng đượctiến hành khẩn trương ngay sau đó: “tức thì chúng tôi phát giác ra trong cánh đồng kiamột đạo quân lớn hơn một nghìn người đi tới khuân vác các bộ phận của nhà thờ Mỗicột có ba mươi người lực lưỡng và khỏe mạnh khuân vác Còn những người khác thìvác xà, người đem ván đến lắp, người đem nóc, kẻ mang sàn, người khuân cái này kẻmang cái khác Tất cả đều trật tự mang đến, mỗi người một bộ phận Sân nhà chúng tôichật ních người […] Cứ thế tất cả đều làm có trật tự không nhầm lẫn Ai cũng làmđúng cách thức, tất cả khối lớn lao đó được dựng nội nhật trong một ngày, làm chochúng tôi rất mực sung sướng” [2; 77]
Về mặt tinh thần, quan trấn thủ Quy Nhơn còn có ý thức tạo uy tín cho các chatrong sự nghiệp truyền giáo bằng một phiên tòa: “Để tỏ lòng kính trọng chúng tôi vàcho chúng tôi được uy tín nơi mọi người, ông muốn một hôm ông lập phiên tòa trongsân nhà chúng tôi, theo cách thức chúng tôi đã nói về tục lệ xứ Đàng Trong Trongphiên tòa này ông xử mấy người trọng tội, mỗi người đều được xử theo phẩm chất củatội phạm Trong số đó có hai người bị xử tử bằng võ khí và phải chịu hình tên bắn.Nhưng trong khi người ta đang trói thì chúng tôi can thiệp xin ân xá Quan tòa liền thangay Ông tuyên bố lớn tiếng là chưa bao giờ ông ban ân xá này cho một người nào cả.Nhưng vì những vị nhân đức này, ông nói, những vị giảng đàng thật cứu rỗi linh hồn,
ta không thể khước từ được” [2; 75-76] Trong tình cảnh bị trục xuất ở một miền xa lạnhư vậy, trong tình cảnh khốn cùng, khốn khó, trong tình cảnh thể xác khó giữ, TinMừng sắp lụi tàn ấy không những các cha mà ngay cả Đức Thánh Cha và toàn thể giáogiới đều mừng vui, hạnh phúc với những ân tình của người con Bình Định.Christophoro Borri một lần nữa cảm tạ Chúa như chúng ta vẫn thường cảm ơn sốmệnh do một lực lượng huyền bí định sẵn - định mệnh tạo hóa ban cho: “Chúng tôi
Trang 11cảm tạ thiên chúa quan phòng vì trong khi giáo dân chểnh mảng việc phụng sự Ngườithì Người kích động lòng lương dân và thúc đẩy họ sốt sắng dựng nhà thờ để kính thờThiên Chúa cao cả” [2; 77] Niềm tin được thắp sáng, sự sáng tạo được nhân lên.Trong niềm tin ấy có niềm tin truyền giáo Trong ước mong sáng tạo ấy chắc hẳn cóước mong sáng tạo chữ Quốc ngữ làm phương tiện chuyển tải niềm tin, mang TinMừng đến với người bản xứ.
Theo tường trình của Christophoro Borri, sự sống còn của ông quan trấn tỉnhQuy Nhơn gắn liền với sự sống còn trong nghiệp truyền giáo Đàng Trong của các giáo
sĩ Dòng Tên ở xứ Nước Mặn Cũng có nghĩa là, gắn liền với sự tồn vong của chữ Quốcngữ buổi ban đầu Có lẽ vì thế C Borri đã dành chương đầu tiên và chương tiếp theocủa Phần II trong 18 chương của Bản tường trình viết về quan trấn thủ tỉnh này nhưmột sự hàm ơn của định mệnh dành cho ông và các cộng sự của ông Quan trấn thủtỉnh này là đại diện tiêu biểu cho tính cách người Đàng Trong, một người thuộc hàngngũ quý tộc theo cách nghĩ của người Âu châu Vậy mà qua câu chuyện kể của C.Borri chúng ta có thể hình dung ra một quan võ nhưng cử chỉ và tính tình hết sức nhonhã và ân tình Qua những con người cụ thể, qua thực tế đời sống, Christophoro Borrinhận xét khi so sánh người Đàng Trong với người Nhật: “Người Đàng Trong dịu dànghơn và lịch thiệp hơn khi đàm đạo, hơn tất cả các dân Đông Phương nào khác, tuy mộtđàng họ hiên ngang về giá trị của họ, nhưng đàng khác họ lại có cái tội là dễ nổi giận”.Khác với các dân tộc Đông phương khác là xa lánh người Âu châu và ghét mặt đến nỗikhi người Âu châu vào xứ sở của họ, họ đều bỏ trốn thì “ở xứ Đàng trong, họ đua nhauđến gần chúng ta, xin chúng ta trăm nghìn thứ, họ mời chúng ta dùng cơm với họ Tómlại họ rất xã giao, lịch sự và thân mật đối với chúng ta”… “Khi lần đầu tiên chúng tôivào xứ này, người ta đã coi chúng tôi như những người bạn rất thân và như thể người
ta đã quen biết chúng tôi từ lâu Đó là một cửa rất tốt đẹp mở ra cho các nhà truyềngiáo của Chúa Kito đến rao giảng Phúc âm người.” [2; 32] Tính cách con người gắnliền với điều kiện và môi trường sống Thiên nhiên ưu đãi, tính cách phóng khoáng,rộng lượng, bao dung của con người xứ sở này rất phù hợp với những con chiên ngoanđạo và mục đích truyền giáo của các nhà truyền giáo châu Âu Kết luận của C Borri:
“Đó là một cửa rất tốt đẹp mở ra cho các nhà truyền giáo của Chúa Kito đến rao giảngPhúc âm người” là một kết luận có cơ sở thực tiễn của đời sống Đàng Trong
2 Phố cổ Hội An vẫn còn in bóng nhà xưa với nhiều công trình kiến trúc phủbụi thời gian, gọi mời du khách Hội An vẫn là trung tâm văn hóa và du lịch của tỉnh
cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xãHội An, với 6.146,88 ha, 121.716 nhân khẩu và một phần nhỏ huyện Điện Bàn (nay làthị xã Điện Bàn) Hiện nay, mật độ dân số Hội An cao gấp 6 lần mật độ dân số cảnước Nước Mặn phồn hoa với nhà cửa liền kề, san sát của một bến cảng tấp nập ngàyxưa như trong các bản tường trình của Giáo xứ Đàng Trong chỉ còn là một vệt chấmtrên bản đồ truyền giáo Đàng Trong thế kỷ thứ XVII hay chỉ được nhắc đến trong cáchội thảo bàn về chữ Quốc ngữ Nhưng vào thế kỷ thứ XVII, Nước Mặn – một trongnhững cái nôi khởi sinh ra chữ Quốc ngữ là thủ phủ hành chính của phủ Quy Nhơn lúcbấy giờ, là thương cảng lớn thứ ba sau Hội An và Đà Nẵng ở xứ Đàng Trong.Christophoro đã nhận xét về các thương cảng ở xứ Đàng Trong “trong hơn một trămdặm một chút mà đếm được sáu mươi hải cảng, tất cả đều rất thuận tiện để cập bến và
Trang 12lên đất liền… Hải cảng đẹp nhất, tất cả người ngoại quốc đều tới đó và cũng là nơi cóhội chợ danh tiếng chúng tôi vừa nói, chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam Người
ta cập bến bằng hai cửa biển: một gọi là Đà Nẵng và một gọi là Hội An” [2; 56] Ngoài
ra, sau hai cảng kể trên còn một cảng có tên là Nước Mặn thuộc phủ Quy Nhơn Khiviết về cảng thị này, C Borri còn thiết tha xin với cha Bề trên rằng: “Tôi xin nói rằngngài nên ra lệnh cho người Bồ nhận lời đề nghị rất lịch thiệp chúa Đàng Trong đã đưa
ra và sớm xây cất ở đó một thành phố đẹp, làm nơi an toàn và cư trú, lại dùng đểnhanh chóng bảo vệ hết các thuyền tàu đi từ Trung Quốc Cũng có thể giữ một hạmđội hoàn toàn sẵn sàng chống lại người Hòa Lan đi Tàu đi Nhật, dù muốn dù không bóbuộc họ phải qua eo biển nằm trong bờ biển xứ này thuộc về các hoàng tử trấn thủ tỉnhPhú Yên và Quy Nhơn với những quần đảo Chàm” [2; 57]
Khi đoàn truyền giáo của các cha tới Nước Mặn thì đây đã là một thương cảngsầm uất trên bến dưới thuyền Theo C Borri thì Nước Mặn có diện tích dài chừng haidặm, rộng tới một dặm rưỡi, còn theo Giáo hội Công giáo Việt Nam thì nơi này códiện tích “dài 5 dặm, rộng 2,5 dặm” [5 ;113] mà người các nơi gọi là Pulucambi theogốc Chàm, nằm ở phía Bắc của Quy Nhơn ngày nay Nghiên cứu của Nguyễn XuânNhân về “Cảng thị Nước Mặn và Văn hóa cổ truyền”[6] cho rằng, cảng thị này nằm ở
bờ phía Nam sông Hà Bạc xưa, kéo dài từ thôn An Hòa tới thôn Nho Lâm, thuộcPhước Hưng trải qua thôn Lương Quang (Phước Quang), thôn Kim Xuyên (PhướcHòa) và chạy dài ra đến tận cửa sông Hà Bạc ghép vào với sông Nam phái tại thônTùng Giảng, Tuy Phước Vùng này vào thế kỉ thứ XVII là vùng trung tâm Nước Mặn
có nhiều cảng nhỏ dọc theo bờ tây của cửa Thử kéo dài tới cửa Quy Nhơn gồm cócảng lớn nhỏ như: An Lợi, Gò Bồi, Dương Thiện, Vinh Quang, Lòng Sông, các thịtrấn vùng hạ lưu sông Côn như Gò Bồi, Cảnh Hàng, Phú Đa, Đại An, Đập Đá, GòGăng, An Thái đều là vệ tinh của Nước Mặn Theo nhiều tài liệu, thưở phồn vinh ấy,dân số của Nước Mặn có thể lên đến vài ngàn người kể cả người nước ngoài Vì thế,theo chúng tôi cảng Nước Mặn là một địa danh gắn liền với văn hóa và lịch sử BìnhĐịnh Trong đó có lịch sử chữ Quốc ngữ Chúng ta không thể không nhắc đến bếncảng đã đi vào lịch sử này Chính nơi đây một thời đã là một trong những cái nôitruyền giáo, xây dựng và phổ biến chữ Quốc ngữ
Bản“Tường trình về Khu Truyền giáo Đàng Trong – 1631” xác nhận, xứ Đàng
Trong có nhiều thứ thuận lợi cho sinh hoạt con người cho nên người dân xứ này không
ưa và không có xu hướng đi đến các nơi khác để buôn bán, họ “chỉ đi gần gần để trôngthấy bờ biển và ven lãnh thổ thân yêu của mình” [2; 54] Nhưng người ngoại quốc vànhững xứ khác lại mong muốn đến xứ sở của họ để buôn bán và trao đổi những thứsẵn có ở Đàng Trong “Họ đem theo bạc để trao đổi hàng hóa, lúc cao lúc hạ tùy theolượng hàng hóa có sẵn như tơ lụa và những mặt hàng khác” [2; 55] Cho đến cuối thế
kỷ XVI, người Việt chủ động mở rộng địa bàn cư trú xuống phương Nam Dần dầnnhững thương cảng mới hình thành, trở thành những địa bàn giao thương mới chongười Việt với các dân tộc khác Sự ra đời và hưng thịnh của thương cảng quốc tế Hội
An thế kỷ thứ XVII là công cuộc tái sinh thần kỳ Người Tàu và người Nhật là nhữngngười làm thương mại chính yếu ở Đàng Trong Thời bấy giờ, người Đàng Trongkhông có đồ kĩ nghệ và thủ công, thêm nữa họ cũng là những người chuộng của lạ từnhững nơi khác đem tới cho nên việc trao đổi, mua bán trở nên rất sầm uất “Tôi nhớmột người Bồ đem từ Macao tới Đàng Trong một lọ đầy kim khâu, tất cả chỉ giá hơn
Trang 13ba mươi “êcu”, thế mà được lời tới hơn một ngàn, bán mỗi chiếc một đồng “rêan” ở xứĐàng Trong” [2; 55].
Đến giữa năm 1618, Nước Mặn là nơi nhóm họp Đại hội của các nhà truyềngiáo để hoạch định chương trình và phương pháp truyền đạo, cùng phân chia sứ vụtông đồ Cha Buzomi rất chú trọng đến bậc nho gia trí thức và cũng không xa rời quầnchúng “Một số họ đạo được thiết lập, ban đầu với con số năm sáu gia đình, rồi dầndần thêm lên ” [5 ;116] Mở đầu cho lớp trí thức công giáo ở Quy Nhơn chịu phép rửatội là một vị đại thần, sinh quán tại Nước Mặn, sứ giả triều Nguyễn sang cao Miên.Phu nhân của ông đại sứ là con gái của quan phủ Quy Nhơn, trước khi theo chống đi
sứ sang Cao Miên bà cũng xin được rửa tội Bà được cha Buzomi rửa tội tại nhà thờNước Mặn, có tên thánh là Ursula [5 ; 117] Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng ngay
từ những buổi gặp gỡ ban đầu đó, đất và người Quy Nhơn đã nặng ân tình với các chatruyền giáo Dòng Tên, để mọi người có thể gọi nơi này như cái nôi để manh nha rachữ Quốc ngữ Theo chúng tôi, Quy Nhơn với trung tâm truyền giáo Nước Mặn làmiền đất hứa cho những ý tưởng sáng tạo chữ Quốc ngữ của các nhà truyền giáo tâmhuyết đâm chồi nảy lộc, ra hoa kết quả và tỏa hạt giống ra xa
Cái nhìn lần đầu tiên từ phương xa, từ nửa phần trái đất bên kia đại dương củacác thừa sai không khỏi ngạc nhiên đầy thích thú về những ước mơ tốt đẹp pha lẫn mộtchút huyễn hoặc về tương lai sáng lạn khi đặt chân lên mảnh đất nắng ấm và đầy gióphương Nam này Những con mắt nhìn nhau xa lạ, e ngại dọ dẫm Những cử chỉ, radấu bằng đủ mọi cách để bước đầu làm quen Công việc truyền giáo bắt đầu Và hiểnnhiên, người đến trước, người gặp đầu tiên, người có cái cơ duyên như tiền định trongchuyến tao ngộ trở thành những người đồng hành, những người mở đầu cho kỷ nguyênThiên Chúa giáo vào Việt Nam là những dân thuyền chài ở ven biển này Họ có khácchi 12 môn đồ của Chúa lúc bắt đầu ngày Chúa đi rao giảng Tin Mừng Để rồi đến mộtngày các thừa sai nhận thấy cách nói chuyện bằng cử chỉ, ra dấu, hoặc phải nhờ thôngngôn khi rao giảng lời Chúa thật là bất tiện, và đôi khi còn có những sự nhầm lẫn chếtcười Cho nên họ bắt tay vào học tiếng nói của dân bản địa với sự giúp sức của nhữngngười dân bình dị nơi đây Sự manh nha hình thành một thứ chữ viết mới cũng bắt đầu
từ đây Sự trù phú của vùng đất Bình Định gắn liền với thương cảng Nước Mặn và sự
độ lượng, hào phóng của con người nơi đây mà tiêu biểu đó là những ân tình của quantrấn thủ Quy Nhơn dành cho các cha Dòng Tên như đã trình bày là cái nôi nuôi dưỡngnhững nhà truyền giáo với công cuộc sáng chế chữ Quốc ngữ nhằm mục đích truyềngiáo Sản phẩm chữ Quốc ngữ là một may mắn lịch sử gắn với vùng đất và con ngườinơi này như một định mệnh của tạo hóa giao ban
3 Gặp quan trấn thủ Quy Nhơn trong tình huống “nghìn cân treo đầu sợi tóc”,theo chúng tôi là một định mệnh đối với các nhà truyền giáo Hành trình truyền giáocủa các nhà truyền giáo Dòng Tên gắn liền với việc sáng tạo chữ Quốc ngữ có biết baođiều không thể giải thích khi đột nhiên “gió đổi chiều” nếu không quy về định mệnh?
Từ thế kỉ thứ XVI - XVII, công cuộc truyền giáo của các thừa sai dòng Đa minh vàPhanxico tại Đông Nam Á đã gặp nhiều trắc trở Đó không phải xuất phát từ nhữngngười bản địa, là những người hết sức dễ thương và trìu mến khi gặp người nướcngoài, mà do từ chính các cha không có sự chuẩn bị cho việc lưu lại dài ngày ở vùngđất mới Hoặc cũng có thể do sự khác biệt về khí hậu, về tập quán ăn uống và nhữngtrắc trở không mong đợi Thỉnh thoảng họ lại gặp sự đụng độ giữa chính những người
Trang 14ngoại quốc với nhau “giữa người Bồ Đào Nha và Tây ban Nha” Kể về chuyến đi củamình tới xứ Đàng Trong, cha Christophoro đã viết về sự xung đột kiểu như thế này:khi tới xứ Đàng Trong, trong lúc có hai người Bồ vì một lý do nào đó đánh nhau một
kẻ chết, một kẻ không muốn chìm xuống đáy biển sâu đã chạy đến thuyền của các chacầu cứu, cha Christophoro dưới hình dạng của một đày tớ đã xuất hiện “Thấy ngườikhốn nạn này gặp cảnh nguy hiểm thì tôi lấy hết sức bình sinh ra để giúp hắn” [2 ; 68].Cũng chính vì sự ra tay cứu giúp của C Borri mà ông đã gặp rắc rối Hành trình đếnvới Đàng Trong trải qua nhiều gian khó nhưng đó là hành trình mở tràn trề hy vọngkhi công cuộc truyền giáo ở Nhật gặp quá nhiều khó khăn
Năm 1613, phong trào bài ngoại nổi dậy ở Nhật Ngày 14/02/1614, Nhật HoàngDaifusana, tướng quân Tokugawa Ieyasu, ban lệnh cấm giảng đạo, trục xuất hết cácnhà truyền giáo ra khỏi xứ sở Nhật Nhưng 47 thừa sai đã lén lút ở lại, đợi chờ có ngàyquay trở lại Nhật Để khỏi lãng phí thời gian và sức người vì tình hình khó khăn ởNhật, trong khi các nhà truyền giáo bị trục xuất về Ma Cao quá đông, Dòng Tên cử 4thừa sai sang Đàng Trong (phía nam Việt Nam) gồm linh mục Francisco Buzomi(người Ý), Diego Carvalho người Bồ Đào Nha, hai trợ sĩ José và Paolo người NhậtBản Phái đoàn của Cha Buzomi tới Hải Phố (Hội An) ngày 18/01/1615 (gần tếtNguyên đán) sau 12 ngày ròng rã trên biển cả
Theo nhiều tài liệu, khi những cha Thừa sai Dòng Tên đầu tiên đến xứ ĐàngTrong, thưở ban đầu họ được tiếp đón trọng thị trong sự hân hoan của người dân bảnđịa do bản tính hiếu khách Lúc bấy giờ chúa Nguyễn ở Đàng Trong đang yếu thế cầncủng cố chính quyền để sau này có thể chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài nên họ tìmcách giao thương với người Bồ Đào Nha để mua súng ống đạn dược “Người Bồ còngiúp nhà chúa lập xưởng đúc súng ở Phú Xuân, nơi gọi là Phường Đúc hay Thợ Đúcngày nay” [5; 109] Chính vì vậy, các cha được tự do truyền đạo, lại còn được kính nể
“Bởi vì đối với chúa Nguyễn, sự có mặt của các nhà truyền giáo trong nước là sự bảođảm trở lại của tàu buôn người Bồ, và nếu cần nhà chúa rất có thể nhờ các ngài làmtrung gian điều đình”
Theo Linh mục Gioan Võ Đình Đệ: “Lúc bấy giờ việc truyền giáo trong vùngtam giác Đà Nẵng – Hội An – Thanh Chiêm có kết quả tốt Đầu năm 1617, từ Macaocha Pina đến Đàng Trong để tiếp sức với cha Buzomi Tưởng chừng công việc truyềngiáo như đang thuận buồm xuôi gió, nhưng gió đã đổi chiều Mùa thu năm 1617, trờihạn hán Dân không có nước làm mùa, nạn đói đe dọa Họ cho rằng thần phật nổi giận,không cho mưa vì mấy người ngoại quốc truyền bá một thứ đạo hoàn toàn trái ngượcvới việc thờ cúng thần phật Họ yêu cầu chúa Nguyễn phải trục xuất những ngườingoại quốc nầy Dù chúa Nguyễn nhận định được vấn đề, nhưng để hợp lòng dân tronglúc nầy, chúa Nguyễn đành ra lệnh trục xuất các thừa sai Các thừa sai xuống thuyềnnhưng trời ngược gió, không thể nhổ neo, đành lên bờ tá túc trên một cánh đồng xacách dân chúng Cũng theo Cha Christophoro Borri là không có gì tốt mãi được khi cómột sự cố không hay xảy ra do bị xúi giục của kẻ xấu mà người dân đốt nhà thờ ở ĐàNẵng “Đây là một sự rất đau lòng đối với các Cha Từ ở nơi đày ải, các cha nhìn thấycảnh tan tác mà không sao chữa chạy được” [2 ; 67] Lúc bấy giờ Christophoro theo
dự định được cắt cử đi Trung Quốc nhưng do sự cố kể trên nên cha được phái đến xứĐàng Trong “Tôi có cơ hội tự hiến thân cho Thiên Chúa vì xứ Đàng Trong và để an ủicác cha đang chịu khổ sở” Lúc bấy giờ các cha phải sống tạm bợ “ở một khu rừng
Trang 15hoang ven biển” Trong cảnh tạm bợ thiếu thốn mọi bề, cha Buzomi lâm bệnh sưngmàng phổi, kiệt sức Cha bề trên ở Ma Cao nắm được tình hình đã cắt cử hai cha khácđến thay cha Buzomi để cho cha về Macao chữa bệnh Đó chính là cha Pedro Marques(người Bồ lai Nhật và cha Christophoro Borri Trong cuộc hành trình từ Macao đến xứĐàng Trong đã nhắc tới ở trên, C Borri gặp rắc rối khi cứu giúp một trong hai kẻngười Bồ đang đánh nhau, ông đã lộ diện chính vì thế mà ông bị người dân phát giácrằng ông chả phải đày tớ, cũng chẳng phải thương gia như những người khác mà làmột trong những tu sĩ muốn cưỡng lại sắc lệnh của Chúa để ẩn nấp trong xứ này Maymắn làm sao, khi ông biết sự thể và cầm chắc cái chết trong tay thì ông đi đến mộtquyết định muốn chết cho mọi người biết ông là ai “Thế là tôi liền mặc áo trùng thâmtheo kiểu các cha Dòng Tên và mặc thêm áo dòng trắng với giây stola quàng cổ vàtrong phẩm phục này tôi bắt đầu công khai giảng đạo Kito, qua trung gian các ngườithông ngôn… Tôi chuẩn bị nhận tất cả những gì Thiên chúa gửi cho tôi thì bỗng dưngtrời đổ mưa như trút ngay đêm không ngừng, làm cho mọi người đều bắt tay vào việccày bừa và gieo mạ” [2 ; 69] Kể từ đó họ cho phép các cha hoàn toàn tự do đi lại trongtoàn cõi
Nhắc đến cha Buzomi, ân tình của xứ Đàng Trong với ngài chưa cạn, trước khitàu nhổ neo đi Macao thì ngài khỏi bệnh, thay vì đi Macao như dự tính thì Ngài đi vềNước Mặn, phủ Quy Nhơn đem theo hai cha De Pina và C Borri, bắt đầu một thời kìtruyền giáo mới Kể về chuyện này, C Borri viết sau khi nghe mọi người kể về bệnhtật của cha Buzomi và việc bị trục xuất của ngài vì việc trời hạn hán “quan trấn thủ bỡngỡ về tất cả câu chuyện, nhưng ông phải phì cười về việc người ta vu cáo cho một tu
sĩ ngoại quốc bần cùng về một việc không thuộc về quyền lực và không hệ chi đếnngài ” [2;70]
4 Lịch sử của chữ Quốc ngữ gắn liền với công cuộc truyền giáo của các tu sĩDòng Tên Những chứng cứ lịch sử cho thấy những dấu ấn còn sót lại trong các bảntường trình của các cha gửi về cho các cha Bề trên còn được lưu giữ tại Roma lànhững chữ cái phiên âm tiếng Việt theo kí tự kiểu Bồ Đào Nha hoặc Latinh, dù là rất ít
ỏi nhưng đó là những nỗ lực của các cha nhằm phiên âm các địa danh nơi bản địa Dầndần số lượng các từ xuất hiện nhiều hơn Ví dụ như trong bản viết tay của Cha Buzomicòn lưu tại Roma có từ Thienchu (Thiên chủ) hoặc có một vài từ được xem là phiên
âm tiếng Việt của J Baldinotti Mặc dù đến Việt Nam muộn hơn so với một số giáo sĩkhác, nhưng Francisco de Pina lại là giáo sĩ Châu Âu đầu tiên nói thành thạo tiếngViệt, điều này đã được các giáo sĩ đến sau như: Gaspar Luiz và Alexandre de Rhodesxác nhận Những bản dịch các văn bản Ki-tô giáo đầu tiên ra tiếng Việt có từ năm
1618, và công đầu thuộc về Francisco de Pina Trong công việc của mình, linh mụcPina nhờ đến sự giúp đỡ rất hữu hiệu của một văn nhân Việt Nam trẻ tuổi có tên thánh
là Phê-rô; kiến thức uyên bác về chữ Hán của người trẻ tuổi này rất hữu ích trong côngviệc của cha Francisco de Pina
Để phục vụ cho việc truyền giáo được thuận lợi, các cha đã dày công học tiếngViệt và soạn Phúc âm “Kinh bổn’ bằng chữ Nôm Cùng với Francisco de Pina, C.Borri có công sức trong việc ghi chép nhiều từ được cho là tiền thân của việc sáng chếchữ Quốc ngữ Theo Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam [8], người ta đã thống kêđược trong các văn bản viết tay của C Borri có 24 lượt trang có xuất hiện các từ đượccha phiên âm từ tiếng Việt Mặc dù lần đầu tiên cuốn sách của C Borri viết bằng tiếng
Trang 16Ý xuất bản năm 1931 tại La Mã và đã sơ khởi xuất hiện những từ tiếng Việt, nhưngnhững từ tiếng Việt này (chữ Quốc ngữ) là những thứ chữ ông viết trong khoảng nămnăm tại xứ Đàng Trong (1618 – 1621) Cụ thể như:
Anam (An Nam), Tunchim (Đông Kinh), Lai (Lào), Ainam (đảo Hải Nam), Kemoi (Kẻ Mọi), Quamguya (Quảng Nghĩa), Quignin (Qui Nhơn),Renran (Ren ran – sông Đà Rằng ở Phú Yên), Dà dèn Lùt, Dà dèn Lùt (đã đến lụt, đã đến lụt),Nayre(naì, nài voi), doij (đói), scin mocaij (xin một cái),chìa(trà, uống trà, cây trà), Sayc Kim (sách Kinh, tứ thư, Ngũ kinh), sayc Chiu (sách chữ), cò (có), con gno (con nhỏ), chiam (chăng) … Con gno muon bau tlam laom Hoalaom chiam (con nhỏ muốn vào trong lòng Hoa Lang chăng Theo Linh mục Đỗ Quang Chính, người thông ngôn đã
dùng lầm câu này để hỏi người khác có muốn gia nhập đạo Công giáo không thì lại gọinhầm sang đạo Hoa Lang, mà đạo Hoa Lang có nghĩa là đạo của người Bồ Đào Nha
Vì thời bấy giờ thương nhân Bồ Đào Nha thường bán một loại vải có in hoa to nhưHoa Lang (thiển nghĩ đây có thể là cách phát âm của người Đàng Trong về Hoa lan ?)
Theo Lịch sử Văn học Công giáo Việt Nam [8; 189 - 190], chúng ta có thể đưa
ra một vài nhận xét về cách thức phiên âm tiếng Việt trong buổi ban đầu ấy như sau:
1 Phiên âm tiên khởi của tiếng Việt theo giọng Ý hay giọng Bồ? Theo NguyễnKhắc Xuyên, C Borri là người Ý nên cách thức phiên âm có xu hướng theo tiếng Ý,
nh được viết thành gn (Quignin - Qui Nhơn), gnoo (nho, nhỏ), x – sc (xin –scin),ch –c( Chiêm – ciam) Ngược lại Thanh Lãng lại chỉ ra có nhiều từ C Borri lại phiên âm theo
kiểu Bồ Ông đưa ra một số dẫn chứng như Chiampa, chiu (chữ), chiuua (vua chúa),
chiam (chăng) Ông lý giải những từ kể trên đều đọc theo tiếng Bồ vì phụ âm kép ch
trong tiếng Ý đọc cứng như k của tiếng Việt, còn ch trong tiếng Bồ đọc như ch trongtiếng Pháp
2 Các kí hiệu ghi các thanh tiếng Việt chưa được đầy đủ Một số chữ được phụ
vào cuối chữ thay cho dấu giọng Ví dụ như j thay cho dấu hỏi và ngã (doij – đói,
onsaij – ông sãi), o thay cho dấu hỏi (gnoo – nhỏ khác với gno – nho) Hoặc có nhiều
chữ chưa có kí hiệu ghi thanh như lut (lút), da (đã).
3 Chữ Quốc ngữ thời C Borri còn thiếu một số nguyên âm như ă, â, ê, ô, ơ, ư
Cho nên mặn thì viết man, muốn – muon, biết – biet, nước – nuoec, ôn – on.
4 Chữ Quốc ngữ thời C Borri chưa đầy đủ phụ âm Cụ thể như đ – d (doij –
đói), x – sc (scin – xin), v-b (bũa – vua, bau – vào) Hoặc có nhiều phụ âm kép được
sử dụng và đã bị đào thải sau này như tl – tr, gn – nh, ngh.
5 Giọng tiếng Việt miền Trung đã được phiên âm trong văn bản của C Borri
với các từ như tui (tôi), gnin (nhơn) thể hiện rằng các cha đã chịu ảnh hưởng nhiều của
tiếng Việt ở xứ Đàng Trong
Chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ càng về phương ngữ Đàng Trong,đặc biệt là tiếng địa phương Bình Định trong các văn bản của các giáo sĩ Dòng Tên.Nhưng thiết nghĩ, đó là một công việc bổ ích và lý thú, góp phần xác định nguồn gốcchữ Quốc ngữ Với những gì trình bày trên, chúng ta có thể khẳng định, Bình Định làmột trong ba trung tâm truyền giáo lớn của xứ Đàng Trong Gắn liền với công cuộctruyền giáo là sự ra đời của chữ Quốc ngữ như một phương tiện hữu hiệu nhằm thựchiện mục đích truyền giáo của các giáo sĩ Dòng Tên Chúng ta chưa đủ nguồn ngữ liệu
Trang 17để chứng minh Bình Định là nơi đầu tiên hình thành chữ Quốc ngữ Nhưng theo chúngtôi, Bình Định với trung tâm truyền giáo Nước Mặn và những điều kiện thuận lợi như
đã trình bày, cùng với nỗ lực của tập thể các nhà truyền giáo giàu tâm huyết và uyênbác, thực sự là miền đất hứa cho những ý tưởng sáng tạo chữ Quốc ngữ Trải qua hơn
400 năm phôi thai và hình thành, rèn giũa và phát triển, vượt qua bao sự khó khăn giankhổ, ngày nay chúng ta có được một thứ chữ viết ghi âm vị - một loại hình chữ viếttiến bộ nhất trong quá trình sáng tạo chữ viết của nhân loại Hơn nữa, chúng ta tự hào
vì Bình Định là một trong những cái nôi hình thành nên chữ Quốc ngữ của dân tộc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Philipphee Bỉnh, Sách sổ sang chép các việc Nxb Viện Đại học Đà Lạt, 1968.
2 Christophoro Borri, Tường trình về Khu Truyền giáo Đàng Trong - 1631 NXB
Thăng Long (Bản dịch của Nguyễn Khắc Xuyên)
3 Đỗ Quang Chính, Sống trong xã hội con Rồng cháu Tiên 1615 - 1773.
4 Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620 -1659 In lại nguyên văn theo ấn
bản của Tủ sách Ra Khơi – Sài Gòn 1972
5 Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (Bản in roneo)
6 Nguyễn Xuân Nhân, Cảng thị Nước Mặn và văn hóa cổ truyền Nxb KHXH,
2010
7 Nguyễn Thanh Quang – Lê Vân Quan trấn thủ Quy Nhơn – Trần Đức Hòa qua
tư liệu truyền giáo Đàng Trong Bình Định Online Ngày 26/4/2012.
8 Võ Long Tê, Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam (cuốn 1) NXB Tư duy, Sài
Gòn 1965
9 Đoàn Thiện Thuật, Chữ Quốc ngữ thế kỉ XVIII NXB Giáo dục, 2008.
10 Vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ - NXB Văn hóa – Viện Văn học, 1961.
PGS.TS Võ Xuân Hào, khoa Ngữ văn, Trường Đại học Quy Nhơn
Địa chỉ liên hệ: 2/35 An Dương Vương, Tp Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Chữ quốc ngữ đã được du nhập vào Bình Định từ khá sớm, nó trở thành thứ chữ
có vai trò quan trọng trong việc ghi chép các văn bản và được phát triển mạnh mẽtrong những năm đầu thế kỷ XX Có thể nói, trong giai đoạn giao thời cổ – kim ở nước
ta, chữ quốc ngữ đã góp phần đưa quốc gia dân tộc từ đêm trường trung cổ đến ánhsáng văn minh Chính sự xuất hiện chữ quốc ngữ đã đem lại những thay đổi kinh ngạctrong đời sống xã hội và trong nền học vấn Việt Nam Trong đó, việc chữ quốc ngữ
* TS Nguyễn Huy BỉnhViện Văn học, 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội Tel: 0982783132; huybinhvvh@gmail.com
Trang 18được sử dụng vào việc sáng tạo văn chương nghệ thuật đã mang lại giá trị to lớn chonền nghệ thuật dân tộc Minh chứng rõ nhất là giá trị của nó trong sáng tác của nhómthơ Bình Định đầu thế kỷ XX
Nhóm thơ Bình Định còn có tên gọi là Trường thơ loạn gồm 4 thành viên là bốnnhà thơ lớn: Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn và Yến Lan Nhóm này còn đượcngười đương thời còn gọi là Bàn thành tứ hữu Các nhà thơ thuộc nhóm thơ Bình Định
đã có tuyên ngôn nghệ thuật riêng, độc đáo; họ sáng tác theo tuyên ngôn ấy và để lạirất nhiều bài thơ kiệt xuất của phong trào thơ Mới ở nước ta Có thể nói, nằm trongmạch nguồn thơ đổi mới giai đoạn 1932-1945, trường thơ loạn Bình Định đã góp tiếngnói quan trọng trong việc cách tân thơ ca trên cả phương diện nội dung và nghệ thuậtthơ ca Tất cả các bài thơ của họ viết ra đều được truyền tải bằng phương tiện là chữquốc ngữ Có thể nói, chính chữ quốc ngữ đã trở thành phương tiện nghệ thuật ngôn từhữu hiệu và bộc lộ những khả năng ưu việt trong sáng tác của trường thơ loạn BìnhĐịnh, mặt khác cũng bắt nguồn từ các sáng tác thơ ca của họ đã góp phần đưa chữquốc ngữ đạt đến đỉnh cao nghệ thuật đương thời
Trước tiên là về mặt ngữ âm, với chữ quốc ngữ, sự linh hoạt của các kí tự latinh
đã phát huy tối đa về mặt ngữ âm, các hình thức ngữ âm của tiếng Việt đã được pháttriển lên mức cao nhất có thể qua chữ quốc ngữ Ở chữ quốc ngữ, mọi lời nói, suynghĩ và hành vi của con người đều được diễn đạt Bằng cách sử dụng chữ quốc ngữ,
âm thanh tiếng Việt đã lần đầu tiên được ghi chép như những gì mà bản thân nó tồntại, góp phần tạo sự thống nhất chữ viết trong toàn lãnh thổ Việt Nam
Trong sáng tác của nhóm thơ Bình Định đầu thế kỷ XX, các nhà thơ đã sử dụngchữ quốc ngữ một cách tài hoa và đạt đến đỉnh cao nghệ thuật trong lịch sử vănchương Việt Nam, riêng về mặt ngữ âm thì chữ quốc ngữ đã có đóng góp rất lớn trong
sự phát huy vai trò của âm tố, âm tiết, âm vị trong cấu tạo ngữ âm tiếng Việt Đây là
cách diễn đạt của nhà thơ Quách Tấn: Chim mang về tổ bóng hoàng hôn/Vàng lửng lơ
non biếc đọng cồn/Cành gió hương xao hoa tỷ muội/Đồi sương sóng lượn cỏ vương tôn/Khói mây quanh quẩn hồi chuông vọng/Trời biển nôn nao tiếng địch dồn/Thưởng cảnh ông câu tình tự quá/Thuyền con chở nguyệt đến cô thôn.(Chiều xuân) Bài thơ đã
miêu tả lại cả không gian thiên nhiên buổi chiều ở nơi cô thôn thật đẹp, với “chim bayvề”, “vàng lửng lơ”, “mây khói quẩn quanh”, “trời biển nôn nao”, “thuyền con chởnguyệt”… tất cả những suy tư và cảm nhận của nhà thơ đã được bộc lộ, có thể nói vớiviệc sử dụng chữ quốc ngữ, ở bài thơ đã ghi chép lại một cách chân thực mọi âm tiếtphát ra và nhằm biểu đạt trạng thái cảm xúc và khả năng nghệ thuật của Quách Tấn
Các ngữ âm thuộc phương ngữ của vùng đất Bình Định cũng được các tác giảnhóm thơ Bình Định sử dụng phổ biến trong sáng tác Đặc biệt là nhà thơ Hàn Mặc Tử
- người thường xuyên dùng phương ngữ diễn đạt thơ ca, ông viết: Bốn vách tường nan
sáng mập mờ./Một vài bức họa cảnh nên thơ./Rình nghe kinh – sữ hoa kề cữa./Trộm liếc văn nhơn nguyệt nép bờ Các từ như “sữ”, “cữa”, “nhơn” là từ ngữ địa phương của
vùng đất Bình Định Trong số bài thơ của Hàn Mặc Tử mới được tìm thấy và công bố,thì có khá nhiều bài thơ ông đã sử dụng phương ngữ để truyền đạt thông điệp nghệ
thuật của mình: Ai mua ta bán túi thơ đây/ Đỗi lấy tiền tiêu với tháng ngày./Vay mãi
non sông coi bĩ mặt,/Mượn hoài trời đất củng quen tay/Xuân về bố thí dăm ba chữ,/Tết lại tiêu pha sáu bãy bài…(Ai mua không?) Trong bài thơ này, các từ như
“bĩ”,“đỗi”, “bãy” là những từ vốn là phương ngữ của người Bình Định đã biểu đạt
Trang 19trạng thái tác giả muốn diễn đạt nhưng đồng thời cũng lưu giữ lại được từ ngữ củavùng đất mà ông gắn bó mật thiết
Trong sáng tác của thơ ca nhóm thơ Bình Định nói riêng và thơ ca hiện đại ViệtNam nói chung, việc sử dụng thể thơ tự do hình thức nghệ thuật đã góp phần làm thayđổi lớn các quy định chặt chẽ về liêm luật trong thơ ca truyền thống So với các loạichữ viết trước đây thì ở thơ Mới đã có một cuộc cách tân lớn về mặt thanh điệu Việcdùng các dấu hỏi, sắc, huyền, ngã, nặng trong chữ quốc ngữ đã mang lại hiệu quả nghệthuật tối ưu so với các loại chữ viết tồn tại trước đó trong lịch sử dân tộc Đây là sáng
tác của nhà thơ Yến Lan:Nàng từ tuổi sách hoa./Không hay chồng đã hỏi./Chàng liền
bữa đi qua/Yêu mà không dám nói./Trưa hào hoa mình lụa,/Thường trời ngơ ngẩn xanh./Từng nghe qua chuyến ngựa/Trên dải làng quanh quanh./Gặp thuở trời tháng bảy./Mưa ngâu dài trên sông,/Đường không xa gì mấy,/Lòng ơi cách chẳng cùng./Từ nàng ra bãi sậy,/Cỏ nghẹn sầu cố nhân./Cổng làng mù quạnh ấy,/Ngựa chàng đến mấy lần./Ừ, sao mà tương tư/Thương gì rêu vách giếng,/Nhớ gì góc sân thu,/Ngựa chàng sang hàng chuyến?/Đường vẫn nao dòng cũ/Ngựa lần bước chân xưa/Áo chàng xanh lam lũ,/Trời ơi,trời đừng mưa (Đường xưa).Trong sáng tác của mình, nhà thơ đã
tạo sử dụng kho từ vựng tiếng Việt với rất nhiều thanh điệu, tạo ra nhịp thơ hài hòa,cân đối, diễn tả được mọi cảm xúc và suy nghĩ của mình Cũng nằm trong mạch nguồncảm xúc thơ ca và sử dụng chữ quốc ngữ, nhà thơ Quách Tấn lại gửi gắm tâm trạng
của mình trong Đêm tình: Giấc thắm tình duyên non gối nước,/Mán sương để lọt ánh
sao băng./Hồn hoa chợp mộng thơm hồn gió;/Tóc liễu dừng thơ đón tóc trăng./Muôn điệu tơ lòng run sẽ sẽ,/Nửa vời sóng nhạc giợn lâng lâng./Phòng hương thương kẻ ngồi nương triện/Tình gởi mây xa lệ ngập ngừng Chính việc dùng thanh điệu của chữ
quốc ngữ đã làm cho ngôn ngữ thơ mang đầy tính nghệ thuật, cách gieo vần, hiệp vần
đã tạo nhạc điệu trong thơ Các nhà nghiên cứu ngữ văn còn căn cứ vào thanh điệu đểđịnh dạng vần bằng, vần trắc trong câu thơ
Với chữ quốc ngữ, hệ thống dấu câu trong tiếng Việt được biểu đạt một cáchrành mạch, các dấu như: dấu chấm dùng để kết thức câu; dấu hỏi chấm dùng kết thúccâu nghi vấn; dấu chấm cảm dùng để kết thúc một câu cầu khiến hoặc một câu cảmthán; dấu phẩy dùng để đánh dấu chỗ ngắt giữa các thành phần câu; dấu chấm phẩydùng đánh dấu chỗ ngắt quãng của các câu dài, giữa các vế câu, hoặc giữa các bộ phậnliệt kê nội dung câu dài; dấu hai gạch ngang được dùng ở những đoạn liệt kê trình bàynội dung ngang hàng nhau…Tất cả góp phần làm sống động nhịp thơ, câu thơ Chế
Lan Viên viết: Này chiếc sọ người kia, mi hỡi!/Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu
mi/Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?/Mi trông mong ao ước những điều chi?/Mi nhớ đến cảnh pháp trường ghê rợn/Sọ muôn người lần lượt đuổi nhau rơi?/Hay mi nhớ những đêm mờ rùng rợn/Hồn mi bay trong đốm lửa ma trơi?/Có tìm chăng, những chiều không tiếng gió/Của người mi thi thể rữa tan rồi?/Có tưởng lại mảnh hồn mi đau khổ/Đang lạc loài trong Cõi Chết xa xôi? (Cái sọ người) Trong bài thơ, tác giả đã
sử dụng hệ thống dấu câu một cách tài ba Nó tạo cho nhịp thơ, vần thơ, câu thơ những
điểm nhấn độc đáo, bộc lộ được những xúc cảm nội tâm của nhà thơ Ở bài thơ Những
sợi tơ lòng, Chế Lan Viên đã sử dụng dấu chấm than hết sức phổ biến, nó phổ biến đến
mức là khó có thể tìm thấy bài thơ nào trong thơ ca Việt Nam lại có mật độ dấu chấm
than nhiều đến như vậy: Tôi không muốn đất trời xoay chuyển nữa/Với tháng ngày
biền biệt đuổi nhau trôi/Xuân đừng về! Hè đừng gieo ánh lửa!/Thu thôi sang! Ðông
Trang 20thôi lại não lòng tôi!/Quả đất chuyển giây lòng tôi rung động /Nỗi sầu tư nhuần thấm cõi Hư Vô!/Tháng ngày qua, gạch Chàm đua nhau rụng /Tháp Chàm đua nhau đổ dưới trăng mờ!/Lửa hè đến! Nỗi căm hờn vang dậy! /Gió thu sang thấu lạnh cả hồn thơ!/Chiều đông tàn, như mai xuân lộng lẫy/Chỉ nói thêm sầu khổ với ưu tư!/Tạo hoá hỡi! Hãy trả tôi về Chiêm quốc!/Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian! /Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt!/Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn!/Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!/Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo! (Chế Lan Viên) Trong bài thơ này, Chế Lan Viên đã 17
lần sử dụng dấu chấm than, trong một số câu thậm chí ông còn dùng đến hai dấu chấmthan nhằm biểu đạt trạng thái, tình cảm của mình Bên cạnh các nhà thơ Chế Lan Viên,Yến Lan, Quách Tấn thì Hàn Mặc Tử cũng nằm trong số tác gia sử dụng một cách hiệu
quả công năng của hệ thống dấu câu trong chữ quốc ngữ: Lá nại - đông tơ gió đãi
chiều/Bướm vườn hạnh áo xinh đem trẻ/Nhà quan nao cốt cách ra vẻ/Xuân vô ra không biết bao nhiêu/Pháo nhân duyên nổ đã hơi nhiều/Trầu lịch sự têm mời hai họ/Đường trai thẹn nên không dám ngó/Nói chi Nường là gái đông lân/Buồng không
xa xiêm áo sượng sần/Ông mai mới cười như ngô nở/Người ta cưới cả xuân cả vợ/Nên
ân tình nổi máu trên môi/Còn em sao chưa biết hổ ngươi/Để mai mốt anh đi lễ hỏi./Còn em nữa, lòng chưa biết nói/Đôi mắt còn nguyên vẹn mùa thơ/Đứng không xa, sao ngó hững hờ/Anh sốt ruột muốn kêu: Em, quá (Cưới Xuân Cưới vợ) Các dấu câu
như: gạch ngang, hai chấm, dấu chấm, dấu phẩy…đã tạo ra cho bài thơ âm hưởng dudương khá độc đáo Có thể nói, nhóm thơ Bình Định đầu thế kỷ XX đã sử dụng dấucâu hết sức đa dạng, nó mang tính nghệ thuật đặc trưng của họ
Với việc sử dụng hệ thống chữ quốc ngữ, nhiều từ mới trong tiếng Việt đã đượcghi lại bằng kí hiệu là chữ viết Chính chữ quốc ngữ đã giúp tạo ra những từ mới nhằm
hỗ trợ việc diễn đạt tư duy trong chiều sâu của nó Đặc biệt là các từ tượng thanh vàtượng hình Trong các sáng tác của nhóm thơ Bình Định đầu thế kỷ XX, các tác giacủa nhóm thơ này đã vận dụng một cách tài tình các tượng thanh vốn vô cùng đa dạng
trong tiếng Việt, đây là cách nói của Hàn Mặc Tử: Trong làn nắng ửng khói mơ
tan/Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/Sột soạt gió trêu tà áo biếc/Trên giàn thiên lý bóng xuân sang (Mùa xuân chín) Trong câu thơ “sột soạt gió trêu tà áo biếc”, với hai
âm tiết “sột soạt” nhà thơ đã sử dụng hình thức âm thanh quen thuộc trong giao tiếphàng ngày, làm tăng thêm sức sống động trong hình ảnh thơ Sử dung các từ tượng
thanh, Chế Lan Viên là người đã để lại dấu ấn đặc biệt: Có đứa trẻ thơ không biết
khóc/ Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran (Xuân) Âm hưởng của câu thơ “tiếng cười ran”
đã tạo lên cảm giác gần gũi với niềm vui của con người; hay câu thơ: Pháo đã nổ đưa
xuân về vang động/Vườn đầy hoa ríu rít tiếng chim trong (Xuân về) Với câu thơ này,
hình thức ngữ âm chữ quốc ngữ được bộc lộ hết sức độc đáo “xuân về vang động”,
“ríu tít tiếng chim trong” Để diễn tả nỗi buồn của mình Chế Lan Viên viết: Trời xuân
vắng Cỏ cây rên xào xạc (Đêm xuân sầu) hay Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than
(Trên đường về) Có thể nói, việc sử dụng từ tượng thanh như “rên xào xạc”, “rỉ rênthan” trong sáng tác đã mang lại cho thơ ca Việt Nam những “âm thanh lạ”, nó vừadiễn đạt được tâm trạng của nhà thơ, vừa đưa âm thanh của lời nói trong giao tiếp hàngngày vào nghệ thuật thi ca một cách hiệu quả
Bên cạnh việc sử dụng các từ tượng thanh, khi đọc các tác phẩm của nhóm thơBình Định, chúng ta còn bắt gặp kho tàng ngôn từ tượng hình được sử dụng hết sức tài
Trang 21ba Nhà thơ Quách Tấn viết: Vườn thu óng ả nét thuỳ dương,/Đưa nhẹ đêm thu cánh
hải đường./Lóng lánh rẻo vàng gieo bến nguyệt,/Phất phơ tơ nhện tủa ngàn sương./Chim hồi hộp mộng cơn mưa lá,/Cúc vẩn vơ hồn ngọn gió hương./Say khướt hơi men thời Lý Bạch,/Non xa mây phới nếp nghê thường.(Đêm thu) Đọc bài thơ này
chúng ta sẽ cảm nhận được bức tranh thiên nhiên được nhà thơ họa lại bằng ngôn từhết sức độc đáo Chính ý nghĩa biểu đạt của tiếng Việt và việc sử dụng chữ quốc ngữtài hoa đã ghi lại được “vườn thu óng ả”, “lóng lánh vàng gieo”, “chim hồi hộp”, “cúcvẩn vơ”, “non xa mây phới”…Cũng nói về mùa thu, Quách Tấn lại có những câu thơ
giàu tính tượng hình khác:Gầy úa rừng sương đeo giọt sầu/Ðây lòng ta đó một trời
thu/Gió vàng cợt sóng, sông chau mặt,/Mây trắng vờn cây, núi bạc đầu./Dìu dặt tiếng
ve còn vẳng đấy./Vội vàng cánh nhạn rủ về đâu ?!/Hỡi người chinh phụ nương rèm liễu,/Sùi sụt chi thêm bận vó câu!(Cảm thu) Các nhà thơ lãng mạn đầu thế kỷ XX
thường dùng hình ảnh của mùa thơ để biểu lộ nỗi buồn của mình, cho nên những bàithơ về mùa thu đã chứa chất trong đó nỗi niềm riêng tư, buồn đau đến não nề Nókhiến cho cả không gian, cảnh vật trong thơ mang một màu u ám
Khác với Quách Tấn luôn miêu tả hình ảnh mùa thu để gửi gắm nỗi buồn, ChếLan Viên đã họa không gian trong tâm trạng u sầu của ngày xuân, ông viết như sau:
Trời xuân vắng./Cỏ cây rên xào xạc/Bóng đêm luôn hoảng hốt mãi không thôi/Gió xuân lạnh, ngàn sâu thôi ca hát/Trăng xuân sầu, sao héo, cũng thôi cười (Đêm xuân
sầu) Đúng là khi mang trong mình một nỗi buồn đau thì cả đất trời và vạn vật xungquanh cũng ủ rũ, đau buồn Nhà thơ đã họa lại không gian buồn đến tang thương ấyvới những từ tượng hình rất ấn tượng “trời xuân vắng”, “đêm đêm luôn hoảng hốt”,
“ngàn sâu thôi ca hát”, “trăng xuân sầu” “sao héo”… Còn trong bài Đêm sầu muộn, Chế Lan Viên đã sử dụng các từ tượng hình một cách rõ ràng hơn: Trên đồi lạnh, tháp
Chàm sao ủ rũ/Hay hận xưa muôn thuở vẫn chưa nguôi?/Hay lãnh đạm, Hời không về tháp cũ/Hay xuân sang Chiêm nữ chẳng vui cười?/Bên tháp vắng, còn người thi sĩ hỡi/Sao không lên tiếng hát đi, người ơi?/Mà buồn bã, âu sầu trong đêm tối/ Người vẫn nằm há miệng đớp sao rơi? Với những câu thơ giàu tính hình tượng như “tháp
Chàm ủ rũ”, “Chiêm nữ chẳng vui cười”, “bên tháp vắng”, “âu sầu trong đêm tối”, “hámiệng đớp sao rơi”…tác giả đã khắc họa được thiên nhiên và lòng người bằng mộtkho hình ảnh được vẽ bằng ngôn ngữ Có thể nói, trong hầu hết các sáng tác của ChếLan Viên những năm đầu thế kỷ XX mang theo nỗi u sầu, não nề đến bi thương
Khi nói về mùa xuân, ngày xuân, nhà thơ Hàn Mặc Tử lại họa không gian vô
cùng sống động, ông viết: Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời/Bao cô thôn nữ hát trên đồi;/
Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,/Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi./Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,/Hổn hển như lời của nước mây,/Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,/Nghe
ra ý vị và thơ ngây./Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,/Cảnh trí bâng khuâng sực nhớ làng:/ "Chị ấy, năm nay còn gánh thóc/Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?"(Mùa
xuân chín) Đọc những câu này, chúng ta như đang xem một thước phim về mùa xuâncủa Hàn Mặc Tử, đó là “sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời”, trong không gian ấy những
“cô thôn nữ hát trên đồi”…tất cả đã tạo cho một điểm nhấn hài hòa, đan bện vào nhaugiữa thiên nhiên và con người trong ngày xuân
Trong sáng tác của nhóm thơ Bình Định đầu thế kỷ XX, hệ thống từ láy được
sử dụng hết sức phổ biến và mang lại hiệu quả nghệ cao: Đôi bướm lượn, cánh vương
làn sương mỏng/Chập chờn bay đem phấn điểm muôn hoa hay trong câu thơ Hàng
Trang 22dừa cao say sưa ôm bóng ngủ/Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô… Đây tà áo chuối non bay phấp phới/Phơi màu xanh lấp loáng dưới sương mai/Đây, pháo đỏ lập lòe trong nắng chói/Đây hoa đào mỉm miệng đón xuân tươi (Xuân về - Chế Lan Viên) Ở
đây, nhà thơ đã sử dụng các từ láy phụ âm đầu như “chập chờn”, “hớ hênh”, “phấpphới”, “lấp loáng”, “lập lòe” vốn là những từ được sử dụng phổ biến trong giao tiếpcuộc sống thường nhật, nhằm mang lại hiệu quả và ấn tượng nghệ thuật Ngoài ra, cácnhà thơ sử dụng biện pháp điệp ngữ khá nhiều, tiêu biểu nhất có lẽ phải kể đến Hàn
Mặc Tử, trong bài Trăng vàng trăng ngọc ông viết đã dùng cách điệp từ hết sức độc đáo: Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng Trăng!/Ai mua trăng tôi bán trăng
cho /Không bán đoàn viên, ước hẹn hò /Bao giờ đậu trạng vinh quy đã /Anh lại đây tôi thối chữ thơ./Không, Không, Không! Tôi chẳng bán hồn Trăng /Tôi giả đò chơi, anh tưởng rằng /Tôi nói thiệt, là anh dại quá:/Trăng Vàng Trăng Ngọc bán sao đang./ Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!/Trăng sáng trăng sáng khắp mọi nơi / Tôi đang cầu nguyện cho trăng tôi/Tôi lần cho trăng một tràng chuỗi /Trăng mới là Trăng của Rạng Ngời /Trăng! Trăng! Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng! (Trăng vàng
trăng ngọc – Hàn Mặc Tử) Trong bài thơ của mình, Hàn Mặc Từ đã 28 lần sử dụng từ
“trăng”, trong số đó liên tục dùng biện pháp điệp ngữ Khảo sát thơ của Hàn Mặc Tử,
ta còn bắt gặp rất nhiều bài thơ dùng biện pháp nghệ thuật này, trong bài Những giọt
lệ, ông viết: Trời hỡi, bao giờ tôi chết đi?/Bao giờ tôi hết được yêu vì,/Bao giờ mặt nhật tan thành máu/Và khối lòng tôi cứng tựa si?/Họ đã xa rồi khôn níu lại,/Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa /Người đi, một nửa hồn tôi mất,/Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ Cách điệp từ được sử dụng trong những câu thơ trên mang hàm nghĩa
khác nhau, tuy nhiên một ý nghĩa biểu đạt chung đó là sự nhấn mạnh những yếu tố về
thời gian “bao giờ”, yếu tố tâm hồn “một nửa hồn tôi” Yến Lan trong bài Bến My
Lăng có đoạn viết: Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch/ Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao Ở bài thơ này, cách điệp ngữ đã làm rõ được khung cảnh “đìu hiu” của đất trời.
Xét dưới góc độ nghệ thuật sử dụng chữ quốc ngữ, các nhà thơ thuộc nhóm thơBình Định đã để lại những bài thơ rất độc đáo trong việc sử dụng các câu hỏi tu từ
Hàn Mặc Tử viết: Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?/Sao bông
phượng nở trong màu huyết,/Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?(Những giọt lệ) hay
trong câu thơ: Sao anh không về chơi thôn Vỹ?/Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên /Ở
đây sương khói mờ nhân ảnh/Ai biết tình ai có đậm đà? (Đây thôn Vỹ Dạ) Chế Lan
Viên cũng là một nhà thơ sử dụng phổ biến các câu hỏi tu từ: Tôi có chờ đâu, có đợi
đâu /Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?/(Xuân); Ai đâu trở lại mùa thu trước/Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? Ai biết hồn tôi say mộng ảo/Ý thu góp lại cản tình xuân? (Xuân), Thu đến đây! Chừ, mới nói răng?/Chừ đây, buồn giận biết sao ngăn?/Tìm cho những cánh hoa đang rụng/Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn! (Thu I); Trống cầm canh xa vang nơi cõi thế/Hồn yêu tinh chợt thấy động tơ lòng? (Xương
khô); Chiêm nương ơi, cười lên đi, em hỡi!/Cho lòng anh quên một phút buồn
lo! /Nhìn chi em chân trời xa vòi vọi /Nhớ chi em sầu hận nước Chàm ta? (Đêm tàn)
Cô không lụa? hãy cởi phăng mảnh áo!/Áo cũng không ? quăng tuốt cái làn da!(Vo
lụa); Một cô hồn về đây, theo gió lộng/Trên mộ tàn, tìm lại dấu ngày qua?/Trống cầm
canh xa vang nơi cõi thế/Hồn yêu tinh chợt thấy động tơ lòng?(Xương khô) Những
câu hỏi tu từ này đã biểu đạt nỗi niềm của nhà thơ đồng thời mang lại cho thơ ca sựrung động và da diết
Trang 23Bên cạnh, việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật chữ quốc ngữ như sosánh, nhân hóa cũng được các nhà thơ trong nhóm thơ Bình Định đầu thế kỷ XX sửdụng thuần thục và trở thành những biện pháp nghệ thuật gây ấn tượng mạnh với
người đọc Nhà thơ Hàn Mặc Tử đã so sánh “làn môi tươi” với “máu” trong câu: Làn
môi mong mỏng tươi như máu (Hàn Mặc Tử); hay “nỗi lòng” như “làn sóng” trong
câu: Lòng ta dào dạt như làn sóng (Hàn Mặc Tử); Thơ hay như gái đẹp (Chế Lan Viên); Anh cách em như đất liền xa cách bể.(Chế Lan Viên)… Các tác giả đã sử dụng
phổ biến biện pháp nghệ thuật so sánh bằng với liên từ “như” để biểu hiện sự ví von vàcách nhìn nghệ thuật của mình
Đối với biện pháp nghệ thuật nhân hóa, chữ quốc ngữ đã được các nhà thơthuộc nhóm thơ Bình Định đầu thế kỷ XX dùng phổ biến trong các bài thơ Hàn Mặc
Tử trong bài Bẽn lẽn viết:Trăng nằm sóng soải trên cành liễu/Đợi gió đông về để lả
lơi/Hoa lá ngây tình không muốn động/Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi./Trong khóm vi
vu rào rạt mãi/Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?/Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm/Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe./Vô tình để gió hôn lên má/Bẽn lẻn làm sao lúc nửa đêm/
Em sợ lang quân em biết được/Nghi ngờ tới cái tiết trinh em Trong bài thơ này, ánh
trăng được nhân hóa thành hình ảnh của cô gái Trăng vốn là vật thể vô tri vô giácnhưng khi đi vào thơ Hàn thì sống động và đầy khao khát với các biểu hiện như “nằmsóng soãi trên cành liễu”, “đợi gió đông về để lả lơi” Nhà thơ Quách Tấn cũng là
người đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa khá độc đáo, trong bài Bên sông có những câu thơ mang đậm dấu ấn nghệ thuật ấy: Gió rủ canh đi ngàn liễu khóc,/Sông
đưa lạnh tới bóng trăng run/Thuyền ai tiếng hát bên kia vẳng?/Ghé lại cho nhau gởi chút buồn; còn trong bài Lòng thuyền, Quách Tấn lại có câu thơ như: Anh buộc đời
em, bến buộc thuyền/Nước trồi thuyền trở, bến nằm yên/Một mai anh thả thuyền lơi bến:/Mây nước lòng em lạnh ước nguyền.
Trên thực tế, chữ Quốc ngữ đã mang đến cho người dân Việt Nam những giá trị
to lớn ở nhiều phương diện khác nhau Đặc biệt trong sáng tác của các nhà thơ, nhàvăn – những người luôn coi con chữ là lẽ sống của mình thì chữ viết này đã góp phầntạo lên một cuộc “cách mạng” thơ ca thực sự ở nước ta trong những năm nửa đầu thế
kỷ XX Việc sử dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác thơ ca của nhóm thơ Bình Định đầuthế kỷ này đã đạt được giá trị nghệ thuật to lớn Về đại thể, chữ quốc ngữ đã đóng gópcho sáng tác của nhóm thơ Bình Định trên ba phương diện chủ đạo: thứ nhất là về mặtngữ âm, thứ hai là về mặt ngữ pháp, thứ ba là về mặt từ vựng Chữ quốc ngữ đã giúpdiễn đạt tư duy logic, thể hiện những tư tưởng cách trọn vẹn và hoàn hảo Nó có vaitrò hết sức quan trọng trong việc mở rộng chức năng của tiếng Việt, là cơ sở để tiếngViệt phát triển lên cao nhất khả năng vốn có của nó
Nhìn từ lịch sử sáng tác thơ ca ở nước ta, chúng ta có thể nhìn phân chia theocác giai đoạn sử dụng chữ viết khác nhau: Thứ nhất là giai đoạn chưa có chữ viết, ởgiai đoạn này sáng tác thơ ca dân gian chiếm vị trí chủ đạo, các bài thơ đồng thời làcác bài hát được sáng tác theo phương thức tập thể và được lưu truyền trong khônggian và thời gian bằng hình thức truyền miệng; thứ hai là giai đoạn sáng tác thơ cabằng chữ Hán; thứ ba là giai đoạn sáng tác thơ ca bằng chữ Nôm; thứ tư là giai đoạnsáng tác thơ ca bằng chữ Quốc ngữ Trong suốt tiến trình lịch sử thơ ca, có thể nóingôn ngữ dân gian và chữ quốc ngữ đã nói lên được tất cả các trạng thái cảm xúc khóbộc lộ nhất trong con người qua thơ ca Việc các nhà thơ thuộc nhóm thơ Bình Định
Trang 24sáng tạo nghệ thuật của mình qua chữ quốc ngữ đã cho thấy rất rõ những ưu điểmtuyệt đối đó.
Tài liệu tham khảo
1 Hoài Thanh, Hoài Chân : Thi nhân Việt Nam Nxb Văn học, H, 1999.
2 Hàn Mặc Tử: Đi tìm tác phẩm Lệ Thanh thi tập Nxb Hồng Đức, 2015.
3 Phan Cự Đệ (biên soạn): Về một cuộc cách mạng trong thi ca phong trào thơ
mới Nxb Giáo dục, H, 2007.
4 Cao Xuân Hạo: Tiếng Việt và mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa Nxb
Giáo dục, H, 2007
5 Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Cơ sở ngôn ngữ học và
tiếng Việt Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, H, 1991.
6 Trần Nhật Vy: Chữ quốc ngữ 130 năm thăng trầm Nxb Văn hóa – Văn nghệ,
2013
KHẢO SÁT MỤC TỪ KINH TẾ CỦA TỪ ĐIỂN VIỆT - BỒ - LA
TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHỮ QUỐC NGỮ
Bạch Hồng Việt
TS Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam
1 Bình Định - Một trong 5 tỉnh/thành của khu vực ven biển Nam Trung bộ, có
vị trí địa - chính trị quan trọng trong nước cũng như mở rộng hợp tác giao thương vớinước ngoài Đây vốn là vùng đất hoang sơ, nơi cư trú của các dân tộc bản địa, trongquá trình khai sơn phá thạch, đấu tranh với thiên nhiên đã xây dựng nên một nền vănhóa rực rỡ với những quần thể tháp đôi, tháp ba và những thành quách kì vĩ Từ xưađến nay, Bình Định không chỉ được biết đến bởi cảnh đẹp tự nhiên, sự thân thiện củacon người, mà còn được khẳng định thông qua bề dầy lịch sử của nền văn hóa SaHuỳnh ở Việt Nam
Bàn về vai trò của tỉnh Bình Định trong việc hình thành và phát triển chữ quốcngữ, nhiều tư liệu lịch sử cho thấy, thế kỷ XVI - XVII, các giáo sĩ phương Tây đã đếnViệt Nam truyền đạo, sử dụng mẫu tự La tinh để xây dựng chữ viết tiếng Việt và dùng
nó mô tả về đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương phục vụ công táctruyền giáo Đó chính là cơ sở hình thành nên chữ quốc ngữ ngày nay
Có thể khẳng định, sự phát triển của chữ quốc ngữ diễn ra trong một thời giandài, mà ở đó ngoài sự đóng góp chủ yếu của các giáo sĩ và học giả nước ngoài, còn có
sự đóng góp rất lớn của người Việt Trong khuôn khổ Hội thảo “Bình Định với sự
hình thành và phát triển chữ quốc ngữ”, báo cáo của chúng tôi tập trung khảo sát các
mục từ kinh tế theo ngành trong Từ điển Việt - Bồ-La (tác giả Alexander de Rhodes,xuất bản năm 1651 tại Roma) dưới góc độ kinh tế, mà không đi sâu phân tích theo
Trang 25ngôn ngữ hoặc cách viết Thông qua việc khảo sát các mục từ kinh tế trong từ điển, cóthể rút ra một số nhận định khái quát về bức tranh kinh tế của Việt Nam trong thế kỳXVI - XVII
2 Nói đến sự hình thành và phát triển chữ quốc ngữ ở Việt Nam, đến nay nhiềunghiên cứu đã khẳng định, việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ ở thế kỷ XVI - XVII nhằmmục đích truyền giáo ở các giáo đường là chủ yếu Điều đó đã được chứng minh, trongnhiều thế kỷ, chữ viết này chỉ lưu hành bên trong nhà thờ giáo đường, ít phổ biến rộng
ra ngoài cộng đồng và xã hội (hơn 2 thế kỷ chữ quốc ngữ chỉ được phổ biến giữa cácgiáo sĩ và một số giáo dân) Cho đến thế kỷ XIX, sau khi Pháp chiếm ba tỉnh Gia Định,Định Tường và Biên Hòa, chữ quốc ngữ mới bắt đầu được đưa vào dạy ở trườngThông ngôn (Collège des Interprètes) Sài Gòn (năm 1864) Theo đó, việc tuyên truyền,
sử dụng chữ quốc ngữ được mở rộng ra trong cộng đồng và xã hội, với sự khẳng định
của tờ báo "Gia Định báo" Đây là tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, xuất bản
ngày 15/4/1865
Trở lại với cuốn Từ điển Việt - Bồ - La, chúng ta thấy, công trình được biênsoạn nghiêm túc, công phu Có thể coi công trình này là dấu mốc quan trọng cho sựhình thành và phát triển của chữ quốc ngữ ở Việt Nam Chữ viết trong từ điển đượccấu tạo theo mẫu tự Latinh, dễ học, dễ sử dụng hơn so với các dạng chữ viết khác thờibấy giờ (chữ Nôm và chữ Nho) Từ điển Việt - Bồ - La (bản mềm pdf) dầy 521 trang,phần nội dung chính không đánh số trang, mà đánh số cột, mỗi trang 2 cột, tất cả có
900 cột, bắt đầu từ chữ A (cột 1) và kết thúc bằng chữ X (cột 900) Cuối sách có phụlục đính chính lỗi, cùng với mục lục tra cứu chữ Latinh xếp theo vần A, B, C, bắt đầu
từ AB và kết thúc là ZA Toàn bộ nội dung của từ điển đã phản ánh khá rõ đời sốngvật chất và tinh thần của người dân như: ăn, mặc, ở, tổ chức gia đình, hôn nhân, sinh
đẻ, tử vong, kỹ thuật canh tác, công cụ sản xuất đến phát triển tiểu thủ công nghiệp,thương mại và dịch vụ
Việt Nam là quốc gia nông nghiệp, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của cưdân thời đó chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, với đặc trưng nổi bật
là trồng lúa, do vậy các hoạt động kinh tế khác đều gắn với sản xuất nông nghiệp.Khảo sát và phân tích các mục từ của từ điển cho thấy, từ điển có khoảng 9.000 mục
từ, trong đó gần 100 mục từ phản ánh về đời sống kinh tế và hoạt động sản xuất kinhdoanh của người dân Số mục từ chuyên sâu về kinh tế không nhiều, chủ yếu liên quanđến đời sống sinh hoạt hơn là hoạt động sản xuất, kinh doanh Xét theo ngành kinh tế(nông - lâm - thủy sản, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ),
có khoảng 70 mục từ, trong đó trên 30 mục từ liên quan đến nông nghiệp, 23 mục từphản ánh hoạt động tiểu thủ công nghiệp và 13 mục từ gắn với hoạt động thương mại
và dịch vụ, cụ thể như sau:
Về nông - lâm - thủy sản, có 02 mục từ phản ánh hoạt động kinh tế liên quanđến ngành lâm nghiệp là rừng rậm (cột 635), gỗ tạp (cột 725) và 02 mục từ liên quanđến hoạt động đánh bắt thủy sản tự nhiên là lưỡi câu (cột 433), mổ cá (cột 474) Điềunày cho thấy sự chậm phát triển của mảng từ ngữ trong hoạt động kinh tế lâm nghiệp
và thủy sản, ngay cả việc săn bắt, hái lượm cũng không được đề cập, mặc dù trên thực
tế con người đã biết khai thác các sản phẩm tự nhiên từ lâm nghiệp và thủy sản đểphục vụ đời sống Có thể lý giải rằng, ở thời kỳ đó, với đặc thù "đất rộng, người thưa",chỉ cần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp là đảm bảo đủ nhu cầu về đời sống của người
Trang 26dân, do vậy hoạt động khai thác lâm nghiệp và thủy sản chưa phát triển Các mục từ:cấy lúa (cột 433), ruộng nương (cột 577) đã mô tả về hoạt động sản xuất nông nghiệpvới sản phẩm là thóc (cột 773) Tuy nhiên, mục từ tát nước (cột 727), máng nước (cột453), đại hạn (cột 194) cho thấy con người phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên để sảnxuất nông nghiệp Phân tích cơ cấu các loại lúa canh tác thời đó, trong từ điển khôngthấy xuất hiện mục từ “lúa tẻ”, nhưng lại có mục từ “lúa lếp” (cột 411), điều nàykhẳng định, thời đó con người đã cấy trồng cả hai loại lúa tẻ và lúa nếp Có lẽ, lúa tẻ ởđây được người dân coi như một loại cây trồng phổ biến và vì thế không cần nhắc đến.
Về hình thức canh tác trong nông nghiệp, mục từ "độc canh" (cột 86) cho thấy ngoàicây lúa các cây trồng khác chưa phát triển hoặc phát triển kém, chưa thấy có sự chuyêncanh cây trồng hoặc mức độ chuyên canh chưa cao Các mục từ: cấy lúa, gặt lúa, đậplúa, xay lúa (cột 428), lượm lúa (cột 433) đã mô tả và phản ánh hoạt động sản xuấtnông nghiệp mang tính thủ công, dựa vào lao động giản đơn của con người, chưa có sựtham gia và hỗ trợ của khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, một số
mục từ diễn tả quá trình sản xuất lúa theo mùa, như: mùa chiêm (cột 105), lúa muộn(cột 493) cho chúng ta thấy tính chất mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp của ngườixưa, 02 vụ/năm (vụ mùa và vụ chiêm), và khẳng định người dân đã biết vận dụng linhhoạt về thời tiết trong sản xuất nông nghiệp (lúa sớm, lúa muộn) sao cho hiệu quả nhất
để có kết quả sản xuất tốt
Đối với công cụ sản xuất, các công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp rất giảnđơn và thô sơ, thể hiện qua mục từ cái cày (cột 80), lưỡi cày (cột 433), hái gặt lúa (cột307), tát nước (cột 727) Hầu hết các nông cụ trong sản xuất nông nghiệp thời đó đềuđược làm một cách thủ công, thông qua các nghề thủ công như rèn, tiện …
Về chăn nuôi, sự phát triển của ngành chăn nuôi theo như các mục từ trong từ
điển chỉ dừng lại ở một vài loài động vật gần gũi với đời sống hàng ngày và phục vụtrực tiếp nhu cầu sinh hoạt của người dân như: nuôi lợn (cột 424) và nuôi gà (cột 253,
254, 446), không thấy xuất hiện các mục từ phản ánh việc chăn nuôi các động vật khácnhư: trâu, bò, dê, chó, mèo Tuy nhiên, với các mục từ như cái cày, lưỡi cày đã biếtcon người thời đó có thể sử dụng trâu, bò hoặc loài động vật lớn nào đó để phục vụviệc làm đất và canh tác lúa Với các mục từ máng ngựa, máng lừa (cột 453) có thểnhận định rằng, đã có sự chăn nuôi hai loại động vật trên để phục vụ việc vận chuyểnhàng hóa và đi lại
Bảng 1: Bảng mục từ ngành nông, lâm, thủy sản
(Xếp theo A, B, C)
3 Cấy lúa, gặt lúa, đập lúa, xay lúa, 428
Trang 27Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, hầu như không xuất hiện mục
từ phản ánh quá trình sản xuất công nghiệp, nhưng các mục từ phản ánh hoạt động tiểuthủ công nghiệp khá rõ như: thợ rèn (cột 159), thợ tiện (cột 796), thợ bạc, thợ máy sắt(cột 772) Qua các mục từ về tiểu thủ công nghiệp cho thấy, người dân lúc đó đã pháttriển khá nhiều nghề như mây tre đan (nan nứa, làm nan - cột 503), làm nón (làm nón -cột 570), trồng dâu, nuôi tằm dệt vải (dệt cửi - cột 773), may mặc (may mặc - cột 447),mía đường (mật mía - cột 459), nấu rượu (rượu - cột 657), xây dựng (xây dựng - cột886), xẻ đá (cột 886), Thông qua các mục từ trên, một lần nữa có thể khẳng định,tiểu thủ công nghiệp trong giai đoạn này phát triển rất mạnh, không chỉ đáp ứng nhucầu tiêu dùng tại chỗ mà còn phục vụ việc buôn bán, trao đổi hàng hóa
Bảng 2: Bảng mục từ ngành thương mai, dịch vụ
(Xếp theo A, B, C)
TT Mục từ ngành thương mại, dịch vụ Cột trang
Trang 287 Tiền, một đấu tiền, hai đấu tiền, một quan tiền 793
13 Thuyền, đi thuyền, buộc thuyền, tháo thuyền 784
Về thương mại, dịch vụ, từ điển cho thấy một số mục từ phản ánh hoạt độngthương mại như: bán hàng, bán họ (cột 327), đi chợ đi búa (cột 57), bán hàng (cột313), mua, tậu thuyền (cột 728), đếm tiền (cột 215), tiền lẻ (cột 406), một quan, mườiquan (cột 620) Mặc dù số mục từ nói về thương mại, dịch vụ không nhiều, nhưng đãcho thấy sự tấp nập trong giao thương (ví dụ: đi chợ đi búa, bán hàng bán họ) Vớinhững giao dịch nhỏ, người dân sử dụng tiền lẻ, tính bằng "quan tiền" để đếm, nhưng
ở các giao dịch lớn, người dân đã sử dụng đơn vị đo đếm tiền lớn hơn "đấu tiền" Khithương mại phát triển, các phương thức giao dịch và thanh toán sẽ đa dạng hơn Ngoàiviệc sử dụng tiền trong giao dịch, thời kỳ này cũng cho thấy phần nào sự phức tạp vềmặt xã hội, thông qua việc mua bán chịu, hình thành nên các nhóm chủ nợ, con nợ (có
nợ, chịu nợ, đòi nợ - cột 564) Đây có thể là những cơ sở đầu tiên cho sự hình thành vàphân biệt giai cấp, tầng lớp trong xã hội sau này
Bảng 3: Bảng mục từ ngành công nghiệp và xây dựng
(Xếp theo A, B, C)
TT Mục từ ngành công nghiệp và xây dựng Cột trang
11 Nón, cái nón, đội nón, quai nón, cất nón 570
Trang 293 Từ điển Việt - Bồ - La của giáo sĩ Alexandre de Rhodes là một trong nhữngtài liệu quan trọng góp phần hình thành và phát triển chữ quốc ngữ ở Việt Nam, đồngthời phản ánh khá rõ bức tranh kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVI - XVII
Xét về mặt ngôn ngữ học, đây được coi là tài liệu quý về chữ quốc ngữ của Việt
Nam, đặc biệt là các dấu tích của tiếng Việt cổ Công trình Từ điển Việt - Bồ - La
không chỉ cung cấp tài liệu về chữ quốc ngữ ở thế kỷ XVI - XVII, mà còn là cơ sởnghiên cứu để từ đó cho thấy được sự phát triển của tiếng Việt sau ba thế kỷ Nhờ đó,chúng ta biết được sự phát triển và sự thay đổi ý nghĩa của tiếng Việt và chữ viết đếnnay
Xét về kinh tế, ảnh hưởng của sự tranh giành quyền lực giữa các tập đoàn phong
kiến cầm quyền: Mạc - Trịnh, Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVI-XVII và đầu thế kỷ XVIII),
đã tác động mạnh đến phát triển kinh tế trong đó có sản xuất nông nghiệp (đặc trưng lànghề trồng lúa có rất sớm) Với ruộng đất phì nhiêu, bằng sức lao động cần cù vàthông minh, người dân Bình Định hằng năm đã làm ra lúa không chỉ đáp ứng nhu cầutiêu dùng trong tỉnh mà còn cung cấp cho các địa phương khác Ngoài lúa là cây lươngthực chủ yếu, các cây hoa màu, cây công nghiệp cũng rất phong phú như khoai, sắn,lạc, đậu, mía đường, dâu tằm … Mặc dù ngành công nghiệp chưa phát triển và sảnxuất nông nghiệp vẫn chủ yếu theo hướng tự cung tự cấp, nhưng tiểu thủ công nghiệp
và hoạt động thương mại khá phát triển đã cho thấy sự hội nhập của Việt Nam với thếgiới lúc bấy giờ
Đối với nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes, có thể ông không phải là ngườiđầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ, nhưng công lao của ông trong việc biên soạn, in ấn
và phát hành cuốn Từ điển Việt - Bồ - La là rất lớn Các mục từ về lĩnh vực kinh tếđược thu thập và giải thích trong Từ điển Việt - Bồ - La đã phản ánh bức tranh kinh tếkhá rõ thời đó, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên và canh tác nông nghiệp Sự pháttriển của các ngành kinh tế khác sẽ dần phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loàingười và sự giao lưu, trao đổi hàng hóa trong nước và quốc tế
Tài liệu tham khảo
1 Alexander de Rhodes, Từ điển Việt - Bồ-La, Roma 1651
Trang 302 Hoàng Xuân Việt (biên soạn) và Nguyễn Minh Tiến (hiệu đính): Tìm hiểu lịch
sử chữ quốc ngữ Nxb Văn hóa Thông tin H 2006.
3 Nguyễn Thanh Nhã (Nguyễn Nghị, dịch): Bức tranh kinh tế Việt Nam thế kỷ
XVII - XVIII Nhà xuất bản tri thức, 2010
4 Tạ Ngọc Liễn (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 3, từ thế kỷ XV đến thế kỷ
XVI Nxb Khoa học xã hội, 2013
5 Trần Thị Vinh (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập 4, từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ
XVIII Nxb Khoa học xã hội, 2013
6 http://skhdt.binhdinh.gov.vn/
7 www.binhdinh.gov.vn/
Phụ lục:
BẢNG TỔNG HỢP MỤC TỪ KINH TẾ
TRONG TỪ ĐIỂN VIỆT - BỒ LA
Tác giả: Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) Xuất bản tại Roma 1651
Trang 3148 Nón, cái nón, đội nón, quai nón, cất nón 570
53 Rau, rau thươm, rau mùi, rau diếp, rau cải 643
64 Thuyền, đi thuyền, buộc thuyền, tháo thuyền 784
65 Tiền, một đấu tiền, hai đấu tiền, một quan tiền 793
Trang 32Thật hết sức đáng mừng, và cũng rất cảm kích, hôm nay đây, ngày 13.01.2016 (?),lần đầu tiên, tại TP cảng Quy Nhơn, tỉnh lỵ của Bình Định, Hội thảo khoa học quốc gia
về chữ Quốc ngữ được UBND tỉnh Bình Định phối hợp với các cơ quan liên quan tổchức Đáng mừng, bởi đây là việc “nhìn lại” dù muộn màng gốc nguồn của loại chữviết vô cùng tiện dụng, có cấu trúc âm vận rất khoa học, là tài sản vô giá trong lịch đạivăn minh dân tộc, được đường đường xuất hiện trên bản đồ chữ viết thế giới, thay thếhẳn cho loại chữ Hán và chữ Hán Nôm được dùng một thời dài nhưng không tiệndụng Cảm kích, ấy là bởi hơn ở đâu hết, tỉnh Bình Định, với những liên quan và đónggóp nhất định cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ, dù rất bận rộn với những công việcthời phát triển như vẫn thường được nói nhưng đã tự thân xướng xuất và nhận lãnhtrách nhiệm tổ chức hội thảo khoa học này
Tính ra đã gần trót 400 năm từ khi “ngôi nhà” Quốc ngữ được đặt móng nền và 40năm từ khi đất nước yên hòa, khoảng thời gian đã khá dài, một hội thảo quốc gia tìmhiểu về nguồn cội và tiến trình phát triển, hoàn thiện cho loại chữ viết đươc coi là niềm
tự hào chữ nghĩa của dân tộc được tổ chức Muộn, nhưng vẫn còn hơn là tiếp tục đểvấn đề trôi tuột theo thời gian
Từ hội thảo này, thử nhìn lại bước khởi đầu với ngàn vạn khó khăn của những ngườitiên phong trong việc chế tác ra chữ Quốc ngữ bằng mẫu tự La tinh du nhập như làmột sáng tạo văn hóa lớn Cũng là vấn đề chờ trông các nhà nghiên cứu xác định : ai làngười có công đầu, đâu là nơi ở nước ta mở ra sự hình thành chữ Quốc ngữ, về việctrông chờ một Ngày Quốc ngữ là những điều đang được nhiều người đặt ra
BƯỚC ĐẦU GIAN KHÓ
Làm nên chữ Quốc ngữ từ mẫu tự La tinh là một kỳ công khi tiếng Việt từ lâu được
ký âm bằng chữ Hán và tiếp theo là chữ Hán Nôm Từ nhu cầu cần thiết cho công việc,các giáo sĩ Dòng Tên (1) đạo Công giáo từ phương Tây sang nước ta truyền đạo hồi đầuthế kỷ thứ 17 đã nghĩ đến việc dùng mẫu tự La tinh ký âm tiếng Việt để tiện cho đôi
bên học hỏi ngôn ngữ của nhau
Theo linh mục (Lm) Đỗ Quang Chính, S.J - tác giả sách Lịch sử chữ Quốc ngữ
(1620-1659), từ đầu thế kỷ thứ 17 các giáo sĩ Dòng Tên đến Nhật Bản truyền đạo đã
thành công trong việc dùng mẫu tự La tinh để ký âm và làm nên chữ Nhật mới romaji chữ Nhật La tinh hóa - hồi cuối thế kỷ thứ 16 Bởi vậy, khi đến Việt Nam, các giáo sĩDòng Tên đã vận dụng cách làm này để ký âm tiếng Việt và làm nên chữ Việt mới để
Trang 33-thuận lợi cho sứ vụ truyền giáo của mình Nhưng các giáo sĩ đến đây dù tất cả đều amhiểu một số ngôn ngữ châu Âu, với họ lúc đầu tiếng Việt quả là rất khó học, vì đã đơn
âm lại có thanh dấu, rất khó trong việc phát âm, một âm chỉ cần đọc nặng-nhẹ một tí là
sẽ có nghĩa hoàn toàn khác nhau “Khi vừa đến Đàng Trong, nghe người Việt nóichuyện với nhau, nhất là giữa nữ giới, tôi có cảm tưởng như mình nghe chim hót và tôiđâm thất vọng vì nghĩ rằng không bao giờ học được tiếng Việt”, giáo sĩ Alexandre deRhodes (gọi tắt là Đắc Lộ) - người đến Hội An (Quảng Nam) và ở lại cư sở (2) ThanhChiêm (cách cảng thị Hội An chừng 7 km về hướng tây) vào cuối năm 1624 để truyềnđạo, kể lại Nghe cũng như nói trọn một câu tiếng Việt có nhiều từ hẳn là khó, nhưngvới câu chỉ vài từ vẫn không dễ vì cách phát âm theo đúng với thanh dấu rất tế nhị.Vẫn giáo sĩ Đắc Lộ kể, một giáo sĩ ở cùng với ông đã nhờ người giúp việc đi chợ mua
cá về dùng bữa Nhưng vì cách phát âm của vị giáo sĩ không chuẩn, bà giúp việc thay
vì mua cá lại mua về một thúng cà Biết mình đã đọc sai từ cá thành từ cà, vị giáo sĩ
liền xin lỗi người giúp việc Còn một vị giáo sĩ khác thì lại làm đám trẻ trong nhà mình
hoảng sợ và bỏ chạy tán loạn khi ông nhờ người trong nhà mình đi chém (chặt, đốn)
tre nhưng ông lại đọc là đi chém trẻ!
Cũng khó khăn không ít với các giáo sĩ Dòng Tên thời ấy trong việc học tiếng Việt
là vấn đề ngữ pháp tiếng Việt khác hẳn với những ngôn ngữ châu Âu của họ về cúpháp, về số ít/số nhiều, về giống đực/giống cái, về việc không chia động từ chính trongcâu Bởi vậy giáo sĩ G Philippo de Marini cho rằng lúc mới học tiếng Việt thì mọiđiều đều lạ thường, khiến người học thấy rối trí, lẩn quẩn trong việc đặt sao cho đúngtiếng trong mỗi câu và phân biệt âm thanh để hiểu được ý nghĩa
Nhưng, vượt qua khó khăn bước đầu, rồi khám phá ra sự “du dương hòa điệu”,
“giống như bản nhạc liên hồi” của tiếng Việt - như các giáo sĩ Cristophoro Borri vàĐắc Lộ nhận xét, ai có khiếu âm nhạc thì việc học tiếng Việt không khó Nhờ vậy, quamiệt mài học hỏi, luyện tập, nhiều giáo sĩ - trong đó có Francisco de Pina (người BồĐào Nha), C Borri (người Ý) và Đắc Lộ (người Pháp) - đã nhanh học được tiếng Việt Vạn sự khởi đầu nan Và sự khởi đầu của một công trình, một cuộc cách mạng ngônngữ càng rất khó khăn Lm Đỗ Quang Chính đã trân trọng chia lịch sử buổi đầu củaviệc hình thành chữ Quốc ngữ 1620-1648 thành hai giai đoạn : 1620-1626 và 1631-
1648
Quả là khá nhanh và sớm khi từ năm 1620 đến 1626 nền móng “ngôi nhà” Quốcngữ đã đặt được những viên đá tảng cơ bản, bởi các giáo sĩ Dòng Tên chỉ mới đặt chânđến đất Quảng Nam (thuộc xứ Đàng Trong) vào đầu năm 1615, trải nhiều lao đaotrong việc lập cư sở truyền đạo Từ cư sở Hội An - 1615, rồi đến cư sở Nước Mặn(tỉnh Bình Định) - 1618 và cư sở Thanh Chiêm (Quảng Nam) - 1623, với nỗ lực họctiếng Việt bền bĩ, các giáo sĩ ở đây đã từng bước La tinh hóa được một số từ tiếng Việt
về tên đất, tên người cùng những từ ngữ bản xứ với chiều hướng ngày càng tiến bộ Bằng chứng của tiến trình này được rút ra từ những báo cáo thường niên của cácgiáo sĩ ở các cư sở Hội An, Nước Mặn, Thanh Chiêm gửi về vị giám mục Bề trên CảDòng Tên ở La Mã, tất cả hiện còn được lưu giữ ở các thư viện, văn khố các nướcchâu Âu liên quan Đọc qua các từ Quốc ngữ được Lm Đỗ Quang Chính rút ra từ bảybản báo cáo thường niên (1620-1626), thật xúc động trước công lao khó nhọc của
những người tiên phong làm ra loại chữ cực kỳ thông dụng và khoa học này Annam (An Nam), Sinoa, Sinuua (Xứ Hóa/ tức Thuận Hóa), Cacham, Cacciam (Ca Chàm/tức
Kẻ Chàm hay Thanh Chiêm), Unsai (ông sãi), Ungue, Ungué (ông nghè), Ontrũ (ông
Trang 34trùm), Oundelin (ơng Đề lĩnh), Banco, Bancơ, Bancị (Bàn Cổ), Nuocman (Nước Mặn), Ainam (Hải Nam), Quanghia, Quamnguya (Quảng Nghĩa), Quignhin,(Qui Nhơn), Bafu (Bà Phủ/tức vợ quan phủ) những địa danh, những danh từ Việt được La
tinh hĩa tiên khởi ở những năm 1620-1621 Dễ nhận thấy là các từ luơn được viết liền,hầu hết khơng cĩ dấu thanh, thi thoảng các thanh dấu huyền, sắc, ngã, ơ được sử dụng Cũng ở những năm tháng xây nền đặt mĩng này, việc viết rời các từ cũng đã lác đác
xuất hiện Sayc Kim (sách kinh), Sayc Chiu (sách chữ); Da, an, nua (đã ăn nửa), Da,
an, het (đã ăn hết) - nĩi về hiện tượng nguyện thực; scin mocaij (xin một cái); Dàdèn, Lùt, Dàdèn Lùt (đã đến lụt), Tuijciam, Biet (tui/tơi chẳng biết), Onsaij di Lay (ơng sãi
đi lại/tức đi đi lại lại); Muon bau dau christiam chiam (muốn vào đạo Christiang
chăng?) được giáo sĩ C Borri viết trong bản tường trình về khu truyền giáo ĐàngTrong (1621-1622) - một báo cáo tựa như một quyển sách nĩi về xứ Đàng Trong - đệlên Đức Giáo hồng Urbanơ VII là những bước tiến quan trọng trong tạo lập chữ Quốc
ngữ bởi đây là bước khởi đầu việc viết rời các từ.
Từ tiến bộ này, ở giai đoạn hai (1631-1648) trong các bản văn và sách của mình,giáo sĩ Đắc Lộ đã viết rời các từ và nhĩm từ Việt, đa phần vẫn chưa cĩ dấu, nhưng thithoảng ơng lại cũng viết liền các từ về địa danh, nhân danh cũng như đánh dấu thanhcho một vài từ Đáng nĩi là việc đưa các thanh dấu Hy Lạp (huyền, sắc, ngã) vào đểtạo dần sự hồn chỉnh âm vận cũng như thêm chữ “đ” vào bộ mẫu tự La tinh cho Quốc
ngữ của giáo sĩ Gaspar d’Amaral (người Bồ Đào Nha) Đàng tlã (Đàng Trong),
Đàng ngồy (Đàng Ngồi), Đàng tlên (Đàng Trên), nhà thượng đày (nhà thượng đài), nhà huỵen (nhà huyện), oũ Khỏũ (ơng Khổng/Khổng tử), đức vương (đức vương), tế
kỳ đạo (tế kỳ đạo), chuá tũ, chuá dũ, chuá quành (Chúa Tung, Chúa Dũng, Chúa
Quỳnh/tên các chúa Trịnh ở Đàng Ngồi), Thíc ca (Thích Ca), chợ thũi (chợ Thủy),
bà đơ đốc hạ (bà đơ đốc Hạ), Sãy (sãi/sư sãi), thầy (thầy/thầy giảng), sướng ( thầy
giảng Sướng), đơủ thành (Đơng Thành/tên một tu sinh) đàng ngồi (Đàng Ngồi) là
một ít trong số những từ được Lm Đỗ Quang Chính trích từ các tường trình về hoạtđộng truyền giáo ở Đàng Ngồi của giáo sĩ G d’Amaral viết vào những năm 1632,
1637 cho thấy vị giáo sĩ này đã đưa việc chế tác chữ Quốc ngữ tiến một bước rất dàichỉ trong thời gian rất ngắn
HAI SÁCH QUỐC NGỮ XUẤT BẢN ĐẦU TIÊN
Nĩi đến cơng trình tạo tác chữ Quốc ngữ, những ai biết được ít nhiều lai lịch củaloại chữ này xưa nay cũng nghĩ ngay đến giáo sĩ Đắc Lộ Cơng trạng ơng gắn liền với
hai sách chữ Quốc ngữ đầu tiên được xuất bản là Tự điển An Nam-Bồ Đào Nha-La
tinh và Phép giảng tám ngày, qua đĩ nĩi lên sự hiện hữu của chữ Việt được La tinh
hĩa một cách chính thức, là bước mở đầu sự gĩp mặt cuả chữ Việt trên trường quốctế
Nĩi về cơng lao của giáo sĩ Đắc Lộ trong việc hình thành chữ Quốc ngữ, Lm Đỗ
Quang Chính đã khơng quên nhắc lại quá trình học hỏi tiếng Việt của vị giáo sĩ thoạtđầu đã ngỡ rằng mình sẽ khơng bao giờ học được ngơn ngữ này
Dường như là một chuẩn duyệt đầy ơn phước cho mình, ngay sau khi đáp tàu đến cư
sở Hội An (12.1624) giáo sĩ Đắc Lộ được phân đến cư sở Thanh Chiêm mới đượcthành lập - nơi cĩ giáo sĩ Francisco de Pina làm Bề trên, là một người đã nĩi thạo tiếngViệt Đến cư sở Hội An vào năm 1617, qua nỗ lực học tiếng Việt, đến năm 1620, giáo
sĩ F de Pina đã thơng thạo tiếng Việt, trở nên là người thạo Việt ngữ nhất lúc bấy giờ
Trang 35trong số các giáo sĩ ở Đàng Trong (gồm các cư sở Hội An, Nước Mặn, Thanh Chiêm).Đến thời điểm 1624, để giảng đạo, một ít giáo sĩ ở các cư sở này vẫn còn nhờ đếnthông ngôn Nhưng những thông ngôn tiếng Việt lúc bấy giờ đa phần là những Nhậtkiều thương nhân ở Hội An, vốn tiếng Việt của họ còn hết sức hạn chế
Ngoài việc học với người thầy đồng môn - giáo sĩ Pina, Đắc Lộ còn học tiếng Việtvới các tân tòng - người mới tòng đạo (Công giáo) Đắc Lộ kể, như thêm một may mắnnữa cho ông : một thiếu niên người địa phương 13 tuổi đã giúp ông nhanh học đượctiếng Việt Thật kỳ diệu, như lời ông kể lại, ấy là chỉ trong ba tuần cậu bé này đã giúpông vượt qua được phần khó khăn trong phân biệt được các dấu thanh tiếng Việt vàcách phát âm mỗi tiếng Tuy hai người không biết tiếng nhau, nhưng vẫn hiểu nhauđược, cũng trong ba tuần này, người thiếu niên thông minh hiểu được rất nhanh những
gì ông nói, cả Pháp ngữ và La tinh ngữ Theo ghi chép của Đắc Lộ, thiếu niên này sauđược ông làm phép cho vào đạo, và vì yêu quý ông nên em đã lấy tên ông đặt kề tên
thánh của mình, Raphael Rhodes Trở thành thầy giảng, Raphael Rhodes đi truyền đạo
ở Lào năm 1642, đến năm 1655 về lại Đàng Ngoài, thôi làm tu sĩ và lập gia đình, có cơ
sở kinh doanh ở Thăng Long và Phố Hiến
Có lẽ giáo sĩ Đắc Lộ sẽ khó mà soạn được Tự điển An Nam-Bồ Đào Nha-La tinh
(Dictionarivm Annamiticvm, Livsitanvm et Latinvm) - gọi tắt là Tự điển Việt-Bồ-La,
và Phép giảng tám ngày (Cathechismvs pro iis, qui volunt suscipere Baptismvm, in
Octo dies diuisus) ở thời điểm sớm hơn và ông chỉ giới hạn việc học hỏi tiếng Việt ởvài cư sở ở Quảng Nam Với niềm phấn kích khi đã tự giảng đạo bằng tiếng Việt chỉsau sáu tháng học tập, khi được điều đến Đàng Ngoài (miền Bắc) từ 3.1627 đến5.1630, bên cạnh các mối quan tâm khác, ông cố thu thập, học hỏi những dữ liệu vềtiếng Việt Cũng vậy, sau 10 năm ở lại giảng dạy Thần học ở trường dòng Macao - tức
Áo Môn - (1630-1640), trong những lần đến lại Đàng Trong từ 1640 đến 1645, lạicũng vượt qua nhiều khó khăn, bất trắc trong việc truyền đạo, ông cũng thu nhận đượcthêm những hiểu biết cho hai quyển sách Quốc ngữ nền tảng của mình
Được in và xuất bản tại La Mã năm 1651, Tự điển Việt-Bồ-La và Phép giảng támngày, theo Lm Đỗ Quang Chính, được giáo sĩ Đắc Lộ viết ở Áo Môn khoảng từ năm
1637 đến 1645 Là bởi, theo vị linh mục dày công nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữnày, từ năm 1636 về trước, Đắc Lộ viết Quốc ngữ còn sai về dấu, viết các từ liền nhautrong khi hai quyển sách này được viết khá đúng so với cách viết ngày nay Chínhtrong những khoản thời gian ở lại Áo Môn (xen kẽ với thời gian đến và ở lại ĐàngTrong truyền đạo) từ năm 1640 đến 1645 Đắc Lộ đã biên soạn hai quyển sách này Nhận thấy ý nghĩa và giá trị của hai quyển sách cho sứ vụ truyền đạo ở một đấtnước có vị trí to lớn trên bản đồ truyền giáo của giáo hội - đặc biệt là qua tường trìnhcủa giáo sĩ C Borri hồi năm 1631, Tòa Thánh La Mã đã cho phép Bộ Truyền giáo -vốn mới được thành lập từ giữa năm 1622 - in ấn và xuất bản ngay Ấn loát sách chữViệt lần đầu là một việc làm tốn nhiều công sức Với các thanh dấu mới, cách ghépvần khác hẳn với chữ viết của các nước dùng mẫu tự La tinh trong vùng vốn đã quenthuộc, để có thể in được chữ Quốc ngữ, xưởng in của Bộ Truyền giáo đã phải đúckhuôn chữ in mới Và điều chắc chắn là Đắc Lộ phải nhọc nhằn tham gia hầu hết cáccông đoạn vốn có trong ấn loát cùng với người của xưởng in để cho ra bản in như ýmuốn cho hai quyển sách
Trang 36Với gần 500 trang, Tự điển Việt-Bồ-La, lúc đầu giáo sĩ Đắc Lộ chỉ soạn bằng hailoại chữ Quốc ngữ và Bồ Đào Nha Về sau, theo ý các vị bề trên ở La Mã, ông soạnthêm phần chữ La tinh vào để tiện cho người Việt học tiếng La tinh Về chữ Bồ, vì từcuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17, đây là ngôn ngữ châu Âu quan trọng, được phổ dụng
ở các nước Ba Tây, Ấn Độ, Mã Lai, Thái Lan, Cam Bốt, Việt Nam, Trung Hoa, NhậtBản - là những nơi có thương nhân Bồ, các giáo sĩ phương Tây đến buôn bán, truyềnđạo; nhà vua Bồ Đào Nha được hưởng quyền bảo trợ cho những giáo đoàn truyềngiáo ở những nơi này
Để tiện cho người Âu châu học tiếng Việt, Đắc Lộ đã dụng công viết riêng phần ngữpháp tiếng Việt bằng tiếng La tinh đặt ở đầu sách Dẫn giải về chữ và vần, dấu nhấn vàcác dấu, về danh từ, đại danh từ, động từ, và cả đến cú pháp, phần ngữ phápViệt ngữđặt ở Tự điển Việt-Bồ-La chắc chắn đã tốn nhiều công sức của vị giáo sĩ này
Phép giảng tám ngày - công trình về giảng dạy giáo lý - được Đắc Lộ viết bằng haithứ chữ Quốc ngữ-La tinh Nhà nghiên cứu Võ Long Tê dẫn theo Lm Nguyễn KhắcXuyên, quyển sách nổi danh về truyền dạy giáo lý này được Đắc Lộ biên soạn haykhởi thảo từ những năm 1627-1629 Điều có thể tin được là sách này được soạn thảotrong kinh nghiệm truyền giáo, được sao chép tay bằng chữ Quốc ngữ hay chữ Nôm đểthông dụng trong các giáo đoàn, sau này được Đắc Lộ bổ túc trước khi được in ấn
“Với Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép giảng tám ngày, chữ Quốcngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác Một nền văn học công giáobằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes” - nhà nghiêncứu Võ Long Tê nhận định
HAI TÁC PHẨM QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT
Người Việt Nam đã sử dụng được chữ Quốc ngữ sớm nhất ở thời điểm nào và tiến
bộ ra sao? Thật không dễ có đáp án chính xác cho câu hỏi có vẻ đơn giản này nếukhông có những bản văn viết tay của hai người Việt được lưu lại đến ngày nay Đâyđược coi là những sản phẩm đầu tiên mà người Việt gieo trồng và thu hoạch được trêncánh đồng Quốc ngữ mới vừa được khai mở
Trong bài viết “Một vài văn kiện bằng quốc âm tàng trữ ở Âu Châu” đăng ở Tậpsan Đại học số 10, tháng 7.1959 tại Sài Gòn, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết về việcViện Bảo tàng Dòng Tên ở La Mã (Ý) còn giữ được bức thư và tập lịch sử của BentôThiện gửi cho giáo sĩ G Philippo de Marini đề ngày 25.10.1659 và bức thư của
Igesico Văn Tín cũng gửi cho vị giáo sĩ này, đề ngày “mươy hay thánh chính D.C.J.
ra đờy một nghìn sáu tram nam muoy chinh (mười hai tháng chín Đức Chúa Jesus ra
đời một nghìn sáu trăm năm mươi chín)
Trong sách Lịch sử chữ Quốc ngữ (1620-1659), Lm Đỗ Quang Chính - người tiếp
cận nhiều tư liệu gốc cho việc nghiên cứu sự hình thành chữ Quốc ngữ ngay tại cácbảo tàng, văn khố ở Âu châu - đã chụp lại toàn văn các văn bản của Igesico Văn Tín vàBentô Thiện để người đọc có thể thấy chữ Quốc ngữ ở thời khởi nguyên được viết thếnào
Có thể nói những người học và sử dụng chữ Quốc ngữ sớm nhất ở nước ta là một số
những tân tòng - người mới tòng đạo (Công giáo) - trẻ tuổi và ham học hỏi bởi họ gần
gũi, tiếp xúc thường xuyên với các vị giáo sĩ truyền đạo vốn là những người đang sửdụng chữ Quốc ngữ buổi đầu Igesico Văn Tín và Bentô Thiện đều là tân tòng rồi dầntrở thành thầy giảng (đạo) Bức thư của Igesico Văn Tín được viết ở vùng Kẻ Vó(Đàng Ngoài/tức miền Bắc) gửi cho giáo sĩ G P de Marini - người từng ở địa phận Kẻ
Trang 37Vĩ khá lâu - khi đĩ đã rời Áo Mơn (Macao) để đến La Mã Cịn bức thư của BentơThiện gửi giáo sĩ Marini được viết tại Kẻ Chợ (tức Thăng Long, cũng thuộc ĐàngNgồi), lúc ơng đang sống cùng giáo sĩ Onuphre Borgès
Bức thư của Igesico Văn Tín gồm hai trang, trang nhất viết trong khổ 17 x 25cm, cĩ
27 dịng chữ cở trung bình, trang hai trong khổ 16 x 9cm cĩ 11 dịng Thư của BentơThiện cũng gồm hai trang, cở chữ nhỏ, viết trong khổ 21 x 31cm Cả hai bức thư đều
là những lời thăm hỏi, kể về tình hình của những tân tịng, cơng việc truyền đạo trong
vùng cũng như bày tỏ lịng tơn kính, nhớ mong của họ với giáo sĩ Marini “Ơn đức
Chúa Blờy blả’ cã cho thầi đờy đờy Bấi nhieu mlờy tơy chép tháng mươy ĩ Igreja
mà thư nầi thi ngài Lễ Bà Thánh Daria cũ õn Thánh Chrisanto tử vì đạo, tơy lại ơn thầi là cha vì thương đến con cũ tơy xin cha chớ quên làm chi Từ Đức Chúa Jesu ra đờy cho đến rài một nghìn sáu trăm năm mươy chín năm Bentơ Thiên tơy tá nhà Thầi
(Ơn đức Chúa Trời trả cơng cho Thầy đời đời Bấy nhiêu lời tơi chép tháng mườiIgreja (3), mà thư này thì ngày lễ Bà thánh Daria cùng Ơng thánh Chrisanto tử vì đạo.Tơi lạy ơn Thầy là Cha thì thương đến con cùng Tơi xin Cha chớ quên làm chi TừĐức Chúa Jêsu ra đời cho đến rày một nghìn sáu trăm năm mươi chín năm BentơThiện tơi tá nhà Thầy) - những câu cuối thư của Bentơ Thiện Và câu cuối thư của
Igesico Văn Tín “D C Blờy blả’ cõn cho Thài đờy nài và đờy sau (4) (Đức Chúa Trờitrả cơng cho Thầy đời này và đời sau) Hai đoạn cuổi ở hai bức thư này cho thấy phầnnào cách dùng từ, văn phong và cách viết Quốc ngữ ở giai đoạn tiên khởi
Ngồi bức thư gởi giáo sĩ G P de Marini, thầy giảng Bentơ Thiện cịn viết một tập
Lịch sử nước An Nam (LSNAN) (5)gửi cho vị giáo sĩ này Qua lời trong thư của BentơThiện gởi giáo sĩ Marini, rõ là tập LSNAN được Bentơ Thiện viết gửi cho giáo sĩMarini theo đề xuất của vị giáo sĩ này Căn cứ từ những dữ liệu xác tín, Lm Đỗ QuangChính khẳng định tập tư liệu này được Bentơ Thiện viết ở khoảng đầu năm hoặc giữanăm 1659 Nhờ đích thân Bentơ Thiện viết cho một tư liệu lịch sử, giáo sĩ Marinikhơng chỉ nhắm đến năng lực chữ Quốc ngữ mà cịn ở vốn kiến thức của người thầygiảng mà giáo sĩ đã từng biết qua thời gian truyền đạo ở vùng Kẻ Vĩ
Với 6 tờ giấy viết chữ cở nhỏ ở hai mặt - tức 12 trang, phần nhiều được viết trongkhổ 20 x 29cm, cĩ thể nĩi, tập LSNAN là văn bản Quốc ngữ “dài hơi” đầu tiên củangười Việt được lưu lại Nhận thức rằng đây là “cơng trình” cĩ giá trị với người nướcngồi, mà cụ thể là với vị giáo sĩ mình yêu kính, Bentơ Thiện đã viết thành hai bản đểgửi đến giáo sĩ Marini qua hai chuyến tàu - mỗi chuyến tàu một bản để phịng rủi bịthất lạc ở chuyến tàu này thì cịn cĩ bản gửi ở chuyến tàu kia Bản gửi cho chuyến tàu
thứ nhất được tác giả ghi ở đầu thư là 1a via, cịn bản gửi ở chuyến tàu thứ hai được ghi là 2a via, tính chu đáo, thận trọng của tác giả thật đáng cảm kích Và may mắn cho
bảo tàng chữ Quốc ngữ, cả hai bản sử lược này (cùng với bức thư của Bentơ Thiện vàbức thư của Igesico Văn Tín) đều đến tay giáo sĩ Marini, tất cả đều cịn được lưu giữtrọn vẹn ở văn khố Dịng Tên tại La Mã
Chỉ với 12 trang viết, LSNAN được viết hết sức đại lược Tuy vậy những sự kiệnchính yếu diễn ra ở các triều đại đều được tác giả kể ra, cả các chuyện Sơn Tinh -Thủy Tinh, Trọng Thủy - Mỵ Châu, Thánh Giĩng cũng được ghi lại với những tình tiếthấp dẫn Ngồi phần lược sử các triều đại, cây bút “viết quốc sử bằng chữ Quốc ngữđầu tiên” này cịn dành phần nĩi về văn hĩa : phong tục tập quán, việc hành chính, địa
lý, điểm qua một số chùa chiền, nhà thờ (Cơng giáo)
Trang 38“Họ nhà Mạc thì trốn lên Cao Bằng hết, còn có ai ở đâu thì Chúa (tức Chúa Trịnh)
lại bắt Nước Annam đã an hết về làm một nhà Lê mà thôi Còn ông Đoan là cha ông Thụy ở trong Hóa xưa, thì Chúa Tiên đòi ra ở làm tôi, mà ông ấy thấy chúa chẳng yêu đãi cho đủ bao nhiêu, thì ông ấy lại trốn vào ở Quảng, thì Đức Chúa ngờ là về Thanh Hóa; chẳng ngờ ông ấy đã vào Hóa, thì Đức Chúa theo Song le chẳng theo kịp, thì lại trở ra Kẻ Chợ mà trị cho đến con cháu bây giờ Rày lại đánh nhau cùng Kẻ Quảng Song le chửa biết đời trị loạn, thì chửa có tra vào sách”- đoạn cuối cùng trong phần
lược sử các triều đại của LSNAN
Trong thời hoàng kim của chữ Việt - Quốc ngữ hôm nay, đọc hai bức thư của haithầy giảng Igesico Văn Tín và Bentô Thiện, nhất là bản LSNAN – sẽ giúp chúng tathấy được phần nào tiến trình cùng tài năng, công sức lao nhọc của những người dựngxây ngôi nhà Quốc ngữ buổi đầu
AI CÓ CÔNG ĐẦU VỚI CHỮ QUỐC NGỮ : ĐẮC LỘ HAY FRANCISCO DEPINA?
Đây là vấn đề được đặt ra từ vài chục năm nay bởi một số nhà nghiên cứu cùngnhững người quan tâm đến lịch sử buổi đầu chữ Quốc ngữ Tập thể hay một cá nhân
đã tiên khởi mở ra việc tạo lập chữ Quốc ngữ? Đây đó đã có những câu trả lời nhưngcũng chỉ là những ý kiến, những quan điểm riêng rẻ cần sớm được đúc kết, nhìn nhận
một cách công tâm, khoa học
Với hai quyển sách Tự điển An Nam-Bồ Đào Nha-La tinh (gọi tắt Tự điển La) và Phép giảng tám ngày bằng Quốc ngữ được Tòa Thánh La Mã cho xuất bản năm
Việt-Bồ-1651, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) từ lâu được coi là người có công lớntrong việc chế tác ra chữ Quốc ngữ Để tưởng nhớ công lao của Đắc Lộ, năm 1941một bia kỷ niệm khắc tên ông đã được dựng bên hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội; và ở SàiGòn vào năm 1955 người ta đã lấy tên Alexandre de Rhodes đặt cho một con đườngngay trung tâm thành phố này, còn mãi đến nay
Nhà nghiên cứu Võ Long Tê nhận xét : “Đành rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodeskhông phải là người duy nhất đã sáng chế và làm cho chữ Quốc ngữ trở nên hoàn hảo,
nhưng lịch sử vẫn xem vị giáo sĩ này là thủy tổ chữ Quốc ngữ vì đã có công thử thách
chữ Quốc ngữ trong các lãnh vực soạn sách tự điển, văn phạm, giáo lý, và nhất là phổbiến rộng rãi chữ Quốc ngữ bằng những tác phẩm ấn loát tại nhà in của Thánh bộTruyền giáo tại La Mã” - những quyển sách được coi là công cụ bước đầu trong việcphổ truyền việc dạy-học chữ Việt, mở ra sự xuất hiện chữ Việt trên bản đồ chữ viết
của thế giới Thủy tổ chữ Quốc ngữ là cụm từ do nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm
dành cho giáo sĩ Đắc Lộ trong đó có một số luận chứng giống như tác giả Võ Long Tê
đã trích dẫn
Quan điểm cho rằng giáo sĩ Đắc Lộ là người có công đầu, có công nhiều nhất trongviệc làm ra chữ Quốc ngữ cũng đã được nhà nghiên cứu Hoàng Tiến nhắc lại trong đềtài nghiên cứu “Chữ Quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20” của mìnhđược xuất bản năm 1994 : “ Và nhất là cha cố người Pháp Alexandre de Rhodes làmột nhà bác học rất giỏi về khoa ngôn ngữ đã tới Việt Nam và giảng đạo bằng tiếngViệt Tất nhiên việc này có công sức đóng góp của nhiều người, nhưng ông là đại diện
và giữ công đầu”
Tuy nhiên, mãi đến gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương đã phản bácquan điểm tồn tại lâu nay, ông cho rằng Đắc Lộ không phải là người có công đầu trongviệc tạo tác chữ Quốc ngữ Trong tham luận “Hội An-Thanh Chiêm và sự ra đời chữ
Trang 39Quốc ngữ” tại tọa đàm khoa học “Danh xưng Quảng Nam” tại Tam Kỳ hồi tháng9.2001 của mình, tác giả Nguyễn Phước Tương nhấn mạnh rằng Francisco de Pina mới
là nhà tiên phong sáng tạo chữ Quốc ngữ
Luận cứ mang tính khẳng định của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương(6) trướchết dựa vào tự bạch của giáo sĩ Đắc Lộ trong “Lời nói đầu” ở Tự điển Việt-Bồ-La rằngông học tiếng Việt lúc đầu với giáo sĩ F de Pina, rằng ông đã sử dụng các công trình
tự điển viết tay An Nam-Bồ, Bồ-An Nam của các giáo sĩ Gaspar d’Amaral và AntonioBarbosa - những điều mà bất cứ ai tiếp cận Tự điển Việt-Bồ-La đều biết rõ Bên cạnhmột số luận cứ khác nữa, đặc biệt, nhà nghiên cứu này còn dựa vào phát hiện mới vềcông trình chữ Quốc ngữ của F de Pina của nhà ngôn ngữ học Pháp Roland Jacques
Đó là bức thư viết dở dài 7 trang cùng cuốn Nhập môn tiếng Đàng Ngoài dài 22 trang
dạy cho người mới học tiếng Việt của giáo sĩ F de Pina được R Jacquecs tìm thấy ởThư viện Quốc gia tại Lisbon (Bồ Đào Nha) Từ những tư liệu mới tìm thấy này, R.Jacquecs đã viết chuyên luận “Công trình của một số nhà tiên phong Bồ Đào Nhatrong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt Nam” được ấn hành tại Paris năm 1995 Tác giả nàyviết : “Qua sự so sánh có hệ thống việc mô tả bộ chữ cái Việt Nam thực hiện bởi vănbản này và văn bản kia, như vậy sẽ trở nên có thể nhận định được rõ ràng hơn rằngAlexandre de Rhodes đã chịu ơn các vị tiền bối của mình và ngược lại, có sự đóng góptài năng của bản thân ông”
Trong khi đó, một quan điểm phổ quát hơn, từng được nhiều nhà nghiên cứu cùngchấp nhận hơn là : chữ Quốc ngữ được hình thành bước đầu từ công lao của một sốgiáo sĩ Dòng Tên Năm 1955, trong cuốn sách về “Công trạng của nước Pháp ở ĐôngDương” của mình, tác giả Pháp Georges Taboulet cũng đã đưa luận điểm như trên khiông viết : “Việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ La tinh điểm thêm các dấu quy ước, là
một công lao tập thể mà sự đóng góp chủ yếu của các linh mục Francisco de Pina,
Cristophoro Borri, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, còn linh mục Alexandre deRhodes thì có công hệ thống hóa, chỉnh lý và phổ biến văn tự này ” Tác giả Võ Long
Tê cũng cho rằng : “ Căn cứ vào những sử liệu chắc chắn, và những suy luận hợp lý,
chúng ta có thể quyết đoán rằng công cuộc sáng chế chữ Quốc ngữ là một công trình
tập thể, nằm trong một khuôn khổ những nỗ lực phiên âm các thứ tiếng có chữ tượng
hình ở Viễn Đông do các thừa sai Âu châu khởi xướng từ thế kỷ thứ 16” Cũng nhắm
vào công lao tập thể trong việc tạo lập chữ Quốc ngữ, LmĐỗ Quang Chính đã dùng từ
“những ông tổ” để chỉ những giáo sĩ có công trong việc La tinh hóa tiếng Việt buổi
đầu Dẫu vậy, vị linh mục sớm đi vào nghiên cứu lịch sử chữ Quốc ngữ này cho rằng
“ai là ngươi có công nhất trong việc sáng tác chữ Quốc ngữ” vẫn còn là điều thắc mắccần được làm sáng tỏ
Về đóng góp của người Việt, theo nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn(6), có lẽ vì đặt nặngvai trò chủ động của các giáo sĩ Dòng Tên trong việc tạo tác nên chữ Việt mới từ mẫu
tự La tinh do họ “mang tới” vốn hoàn toàn xa lạ với người Việt, các nhà nghiên cứu cóphần chậm trễ khi nói đến vai trò của người Việt Trong một số tác phẩm được xuấtbản từ những năm 1960-1970 của mình, các tác giả Đỗ Quang Chính, Võ Long Tê đều
đã đề cập đến sự đóng góp của người Việt cho sự ra đời của chữ Quốc ngữ Đó lànhững nho sĩ, những sư sãi, những tân tòng - người mới tòng đạo (Công giáo), mà đặcbiệt là những tân tòng trở thành thầy giảng (đạo) Nhưng tiếc rằng đó đều là nhữngđóng góp lặng thầm, chìm khuất, ít được các giáo sĩ thời đó nêu danh tính hay ghi lại
cụ thể, ngoại trừ những ghi chép của các giáo sĩ F.de Pina, Đắc Lộ, C Borri về công
Trang 40lao của người Việt trong việc bày vẽ cho họ học tiếng bản xứ “Các thầy giảng IgesicoVăn Tín, Bentô Thiện với những tác phẩm Quốc ngữ xuất sắc được lưu lại từ năm
1659, đương nhiên họ đã cùng với các vị giáo sĩ ở cư sở của mình cùng nhau miệt màiluyện tập chữ Quốc ngữ cũng như học hỏi ngôn ngữ của nhau” - nhiều nhà nghiên cứu
đã nói Và, ngoài tên tuổi của môt ít các thầy giảng (đạo) người Việt được nói đến,chắc chắn còn một một số người Việt khác đã cộng tác đắc lực với các linh mục DòngTên trong công cuộc kiến tạo chữ Quốc ngữ buổi đầu Đây cũng là yêu cầu cần đượclàm sáng tỏ cùng với việc xác định ai là người có công đầu với chữ Quốc ngữ
ĐÂU LÀ “CHIẾC NÔI” CHỮ QUỐC NGỮ?
HỘI AN, THANH CHIÊM HAY NƯỚC MẶN?
Giữa lúc chữ Quốc ngữ đi đến tận cùng nấc thang phát triển, một số nhà nghiên cứucũng như các bậc nhân sĩ, thức giả đã đặt vấn đề về nơi khai sinh ra loại chữ viết này.Những luận cứ khác nhau bước đầu đã được đưa ra, nhưng câu trả lời xác đáng vẫncòn ở phía trước
Người lên tiếng rằng Hội An và Thanh Chiêm là nơi ra đời của chữ Quốc ngữ là nhànghiên cứu Nguyễn Phước Tương Bản tham luận mang tên “Hội An-Thanh Chiêm và
sự ra đời của chữ Quốc ngữ” của ông ở tọa đàm khoa học về Danh xưng Quảng Namhồi năm 2001 mặc nhiên nói lên điều đó Với luận cứ rằng giáo sĩ Francisco de Pina làngười mở đầu việc La tinh hóa tiếng Việt tại hai cư sở Hội An (thành lập năm 1615)
và Thanh Chiêm (1623), nhà nghiên cứu này đã cho rằng đây chính là nơi chữ Quốcngữ được làm ra Giáo sĩ F de Pina đến Đàng Trong - mà cụ thể là Hội An - vào năm
1617, rồi đến Thanh Chiêm năm 1623, nhưng vẫn thường đi lại giữa hai nơi bởi hai
cư sở nay cách nhau chưa đầy mươi cây số, theo tác giả Nguyễn Phước Tương, đây lànhững nơi có nhiều thuận lợi để học hỏi, nghiên cứu tiếng Việt cho các nhà truyềngiáo lúc ấy Ông dẫn lời của giáo sĩ F de Pina viết trong bức thư viết dở của mình :
“Đối với tôi,việc nghiên cứu tiếng nói Kẻ Chiêm (tức Thanh Chiêm) vẫn là nơi tốtnhất với tư cách là trung tâm của triều đình : ở đây, người ta nói rất hay, có sự đổ dồnnhững người trẻ tuổi đến mà họ là những cống sinh và bên cạnh họ, những ai bắt đầuhọc tiếng có thể tìm thấy sự giúp đỡ”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thiếu Dũng lại đặt nặng vai trò của Thanh Chiêm trong sự
ra đời của chữ Quốc ngữ bởi đây là đô lỵ của dinh trấn Quảng Nam thời đó “Đây lànơi hội đủ điều kiện để các giáo sĩ học hỏi ngôn ngữ bản xứ, văn hóa bản xứ, tâm lýngười bản xứ để từ đó sáng chế ra chữ Quốc ngữ theo mẫu tự La tinh Chính F dePina bậc tiên khởi có công khai sinh ra chữ Quốc ngữ đã cho biết vì sao ông chọnThanh Chiêm là nơi nghiên cứu chữ Quốc ngữ chỉ vì một lý do đơn giản ở đây quy tụnhiều văn nhân thức giả có thể giúp ông nhiều hơn ở nơi khác, đô thành thì bao giờcũng có người học thức hơn là nơi thị tứ chỉ có thương nhân ” - nhà nghiên cứuNguyễn Thiếu Dũng viết
Và tác giả Nguyễn Phước Tương đúc kết : “Rõ ràng là ở nước ta trước hết là cảngthị Hội An rồi tiếp đến là dinh trấn Thanh Chiêm là cái nôi ra đời sớm nhất và quantrọng nhất của chữ Quốc ngữ so với Nước Mặn - Quy Nhơn và một địa điểm nào đó ởNghệ An mà đến nay chưa được xác định cụ thể ”
Với người Bình Định, có lẽ ý niệm về “chiếc nôi” của chữ Quốc ngữ đến với họsớm hơn Cũng căn cứ vào những dữ liệu được họ coi là xác tín từ các thư tịch, nhữngbáo cáo mang tính biên niên của các giáo sĩ Dòng Tên ở Đàng Trong vào giai đoạn sơkhai đầy ấn tượng của chữ Quốc ngữ, từ những năm 1969-1970, một số nhân sĩ, trí